LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 28.4.2016

PDF.InEmail

 

Những ngày này, thú thật, không muốn viết gì nữa. Muốn khép lại trang Nhật ký. Viết, phải suy nghĩ. Mệt quá. Nghĩ nhiều nhất vẫn là câu hỏi luôn thường trực ở trong đầu: “Tại sao?”. Tại làm sao đất nước mình khốn khổ, khốn nạn đến thế này? Những ngày này, trong câu chuyện với nhau, dù bàn đến đề tài gì đi nữa, cuối cùng vẫn bật ra câu hỏi nhói lòng: “Thế thì, chúng ta ăn gì?”. Ăn cái gì đây hả trời cao đất dày? Sống ở một đất nước mà ăn bất kỳ cái gì cũng sợ ngộ độc, có là sự bình thường?

Có người nói một điều rất thật: "Khi biết thịt heo có chất tạo nạc salbutamol, tôi nghĩ mình sẽ chuyển sang ăn thịt bò. Khi biết thịt bò có thể hô biến từ thịt heo tẩm hoá chất, tôi nghĩ mình sẽ chuyển sang ăn thịt gà. Khi biết gà cũ, gà chết được nhuộm hoá chất thành thịt gà mới vàng rụm, tôi nghĩ sẽ bỏ thịt, ăn cá. Khi biết cá bị nhiễm độc thuỷ ngân, tôi nghĩ mình sẽ chuyển sang ăn tôm. Khi biết tôm bị bơm thuốc kháng sinh gây độc, tôi nghĩ mình sẽ phải chuyển sang ăn... chay. Khi biết rau được tưới dầu nhớt, đậu hũ trộn với cao xây nhà, tôi nghĩ ăn cơm trắng chan nước mắm qua ngày cho lành. Khi biết gạo mốc được tẩy trắng thành gạo và nước mắm được làm từ cá ươn cá thối, tôi dằn lòng sẽ sang ăn bún, phở, mì. Khi biết bún, mì, phở cũng được tắm trắng, tôi nghĩ mình sẽ ăn trái cây sống qua ngày. Khi biết trái cây cũng được tiêm chất bảo quản và nguồn gốc Trung Quốc... Giờ em phải ăn gì đây?"

Có người nói một điều rất thật: "Sau 1975, người Việt chủ yếu "tị nạn chính trị" và sau 1990 thì "tị nạn giáo dục", tiếp theo sẽ là "tị nạn môi trường". Đất nước thời bình mà tị nạn như có chiến tranh, buồn khiếp".

Báo chí liên tục thông tin về thực phẩm bẩn, những mặt hàng thực phẩm vật tươi sống đã sử dụng chất salbutamol, vàng ô… Sự việc nghiêm trọng đến nổi sáng 27.4.2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn quốc về tăng cường công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Chưa hết, cả nước đang chấn động, kinh hoàng trước thông tin: Khoảng 80 tấn hải sản chết bất thường, dạt vào bờ biển miền Trung, lan rộng từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng. Theo những phán đoán ban đầu, phải có một loại độc tố cực mạnh trong nước biển mới khiến cá chết nhiều đến thế. Từ kết quả phân tích mẫu nước, mẫu cá chết, nguyên nhân bước đầu được xác định là do nguồn nước bị ô nhiễm, có yếu tố gây độc. Cụ thể, nước biển bị ô nhiễm tại khu công nghiệp Vũng Áng (Hà Tĩnh) do Tập đoàn Formosa đầu tư. Theo dòng hải lưu Bắc cực - Xích đạo, nguồn nước ô nhiễm ở Hà Tĩnh bị đẩy về phía nam lan vào tận Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế và các tỉnh phía Nam.

Chủ đầu tư tại Vũng Áng là Tập đoàn Formosa, lai lịch của nói như thế nào? Báo Phụ Nữ TP.HCM số ra ngày 27.4.2016 có bài Hồ sơ “đen” của Formosa. Tổng hợp tài liệu từ: archive.ban.org, Plastics News, AP, nhà báo Anh Thông viết như sau: “Tập đoàn Formosa Plastics Group (FPG) là một tổ hợp công nghiệp đa ngành gồm hóa dầu, chất dẻo, công nghệ sinh học, thiết bị điện tử, công nghiệp ô tô… hoạt động từ năm 1958 ở Đài Loan. Gần 60 năm hoạt động, Formosa đã vướng không ít rắc rối vì bê bối đạo đức kinh doanh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến không chỉ môi trường mà cả sức khỏe con người.

Năm 1998, Formosa âm thầm đổ một lượng rác thải chứa chất độc hại vào Campuchia, tại một bãi đất cách thị trấn du lịch Sihanoukville, nơi có khoảng 3.000 người sinh sống. Nhiều người dân đã vô tư bới nhựa từ đống rác này về nhà dùng. Vài ngày sau, nhiều người trong số đó phải nhập viện với triệu chứng ban đầu là sốt cao, tiêu chảy. Một người nhặt rác và một người ngủ trên đống rác đã tử vong. Các cuộc điều tra sau đó kết luận, các nạn nhân đã nhiễm độc thủy ngân có trong rác thải mà Formosa chẳng thể tiêu hủy được. Chính phủ Campuchia phát hiện một công ty của nước này ký hợp đồng nhập khẩu số rác trên và Formosa đã hối lộ ba triệu USD để vận chuyển thành công số rác thải đến Campuchia. Có ít nhất 1.300 người dân sống ở khu vực gần bãi rác bị xác định nhiễm độc thủy ngân từ bãi rác. Nồng độ thủy ngân có trong đống rác này gấp 20.000 mức an toàn cho phép. Trước sức ép của chính quyền và dư luận, Formosa phải xin lỗi, bồi thường và vận chuyển số rác độc hại trên trở về Đài Loan.

Năm 2009, Formosa nhận giải Hành tinh đen, là một giải do tổ chức bảo vệ môi trường ở Đức Ethecon khởi xướng nhằm trao cho những cá nhân hoặc tổ chức "góp tay" vào việc hủy hoại môi trường.

Năm 2013, Cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ đã phạt Formosa 1,5 triệu USD vì vi phạm các quy định bảo đảm môi trường. Trước đó, năm 2009, cơ quan trên cũng đã phạt Formosa 2,8 triệu USD vì lý do tương tự. Hồ sơ của Formosa là một trong những hồ sơ bị chú ý kỹ ở Mỹ vì mức độ nguy hại gây ra cho môi trường mà Formosa từng “ghi dấu” trong quá khứ.

Năm 2014, báo chí Đài Loan trích dẫn kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học tại đây chỉ ra, công nghệ sản xuất dầu mỏ của Formosa đã thải ra chất gây ung thư, phá hủy mô gan ở người. Người dân Đài Loan vô cùng bức xúc về hoạt động xâm phạm an toàn môi trường của Formosa”.

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Chọn bạn mà chơi”, xét ra vẫn còn có tính thời sự. Trước sự kiện cá chết tại Vũng Áng, trả lời báo chí, ông Chu Xuân Phàm - trưởng văn phòng Formosa tại Hà Nội nói thẳng thừng, không thèm quanh co, nói một câu cực sốc: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi. Nếu chọn cả hai thì làm thủ tướng cũng không giải quyết được”.

Thế là rõ.

Trên mạng xã hội, đã xuất hiện nhiều ý kiến "chọn cá", nhưng rồi lại có sự “phản tỉnh” rất đúng và kịp thời, chẳng hạn: “Tôi vừa gỡ cái avatar có cái biểu tượng con cá và dòng slogan; "Tôi là người Việt Nam - Tôi chọn cá". Lúc đầu thấy cũng hay hay nên tôi hưởng ứng... Nhưng sau đó suy nghĩ kỹ và nhận thấy đây là một sự vô lý rất vô tình và hơi 'ngây thơ" của cộng đồng mạng. Biển của mình, trời của mình, đất của mình mà một thằng nói tiếng Việt lơ lớ ở đâu nhảy vô đặt điều kiện: " Chọn cá hay chọn nhà máy ?" Chuyện quái gì đã xảy ra vậy? Này nhé, tao không cần chọn cái nào cả vì tất cả là của quê hương tao, đất nước tao. Tao chọn là mày (Formosa) phải cút khỏi Vũng Áng ngay!”.

Quan chức Việt Nam lại khác. Theo tường thuật của Báo Tuổi Trẻ: “Lúc 20g ngày 27.4.2016, tại cuộc họp báo, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường Võ Tuấn Nhân cho hay có hai nhóm nguyên nhân chính có thể gây hiện tượng cá chết hàng loạt là: do tác động của các độc tố hóa học thải ra từ hoạt động của con người trên đất liền và trên biển; do hiện tượng bất thường của tự nhiên kết hợp với tác động của con người, tạo nên hiện tượng “tảo nở hoa” hay thủy triều đỏ. Theo ông Nhân, đến thời điểm này chưa có bằng chứng về mối liên hệ giữa hoạt động của Công ty Formosa và các nhà máy với hiện tượng cá chết hàng loạt. Ngay cả các thông số về môi trường cũng đều nằm trong “quy chuẩn quy định”. Như vậy, những câu hỏi vì sao cá chết, nước biển có độc hay không, ăn cá có độc hại gì không... đều chưa có câu trả lời. Ngoài thông tin do ông Nhân đưa ra trên, không có phóng viên nào kịp đặt câu hỏi phỏng vấn tại cuộc họp báo này”. Cuộc họp báo này chỉ diễn ra trong vòng 10 phút, Báo Tuổi Trẻ rút tít chính xác: “Họp báo về cá chết: Vẫn nợ người dân câu trả lời xác đáng”. Không còn một từ nào tồi tệ hơn sự tồi tệ mà cư dân mạng xã hội đã phản ứng gay gắt đối với quan chức này. Bia miệng ngàn đời. Không rõ bản thân ông Nhân cùng gia đình ông ta khi đọc những dòng nguyền rủa ấy sẽ nghĩ gì?

Đã xuất hiện nhiều bài thơ trên các facebook cá nhân, chẳng hạn, Ở chính nhà mình sao không được tự do?:

Đàn bà tôi đái không qua ngọn cỏ
Làm được gì để bảo vệ đàn con?
Đất của tôi ơi, người mất hay còn
Khi loang lổ trong những thớ thịt sâu ngàn muôn vết loét
Biển của tôi ơi, cái mặn ngàn năm đã thành đắng ngắt
Những con mắm người đang rã dưới vực sâu
Đất của tôi đâu, biển của tôi đâu
Những đứa trẻ thơ hôm nay có lớn lên thành người vong quốc
Sáng nay cài cho con chiếc khăn quàng đỏ
Tay mẹ run run, bất lực lắm rồi
Này hồng suối, xanh đồi
Này vàng rừng, bạc biển
Này địa này thiên
Đất không còn là đất
Trời chẳng thể còn trời
Mẹ, đàn bà đái không qua ngọn cỏ
Biết lấy gì để che chở cho con?
Biết dạy con thế nào về hai chữ nước non
Khi chính mẹ cũng hoang mang liệu nơi đây có hóa thành cố quốc
Khi tận đáy tâm can cứ trào lên ngàn lời nhức buốt
Sao ở chính nhà mình ta chẳng được tự do?
Sao ở chính nhà mình mà mẹ cứ mãi miết lo
Gói ghém hành trang cho những đứa con thơ lớn lên rồi xa mẹ
Đời mẹ rồi có như đời sông đời bể
Chất độc đớn hèn nào đã ngấm vào tim
Lạy đất trời này cho con của mẹ bình yên
Bình yên làm người vong quốc
Bởi mẹ - đàn bà đái không qua ngọn cỏ
Nhiễm nặng lắm rồi…
Căn bệnh của nước non.

(La Mai Thi Gia, 25.4.2016)

Đất nước mình ngộ quá không anh?

Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi...
Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay...
Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa...
Đất nước mình thương quá phải không anh
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu...
Đất nước mình rồi sẽ về đâu
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu...

(Trần Thị Lam -25.4.2016)

Đọc những bài thơ này, y cảm thấy xấu hổ cho cho chính y. Đã hội viên Hội Nhà văn Việt Nam được cấp thẻ đàng hoàng, ấy thế, trước sự việc liên quan đến sự sống còn của đồng bào máu đỏ da vàng, y đã đứng ở đâu? Trả lời đi? Sáng nay,  Báo Tuổi Trẻ cười số 546 đã phát hành. Dừng lại với trang 28 với bài viết Nếu không là đồ đá của Điếu Quan. Sau khi nêu một loạt câu hỏi “tại sao?”, tác giả kết luận: “Nếu cứ hỏi tại sao và cố tình đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi như thế này thì nhiều khả năng tôi trở thành kẻ thần kinh hoang tưởng mất”. Nghĩ mà buồn. Nhìn đâu cũng thấy buồn não ruột. Đã có người bi quan nghĩ đến Bắc thuộc lần thứ 3. Y không nghĩ thế, chỉ nghĩ rằng: “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng”?

L.M.Q

ly-do-ca-chet-TTC-2016-1ly-do-ca-chet-TTC-2016-2

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 17.4.2016

PDF.InEmail

hung-vuong-co-ticjh-ngiopha-c-trueyn


Hôm qua, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương. Được nghĩ vào ngày. Đường phố vắng hơn. Đọc trên báo mới biết thông tin: Sáng ngày 16.4.2016, Công viên văn hóa Đầm Sen đã dâng lên bàn thờ Quốc tổ trên sân khấu quảng trường Âu Lạc trong công viên cái bánh chưng khổng lồ: cao 0,6 mét, diện tích bề mặt 2,5 mét vuông, nặng 2,5 tấn được làm từ 1.200 kg gạo nếp, 300 kg đậu xanh, 200 kg thịt heo, 300 kg lá chuối, 50 kg lá dong. Để hoàn thành chiếc bánh này, 50 công nhân đã được huy động để gói và canh trực liên tục trong suốt hơn 70 giờ để nấu cho đến khi chín. Sau lễ, theo dự kiến chiếc bánh “khủng” này đuộc cắt cho khoảng 1.000 người ăn. Nhìn chung, dư luận không đồng tình việc làm có tính chất phô trương này. Trong tâm thức người Việt, lễ giỗ là tự lòng thành, chứ không phải mâm cao cổ đầy.

Ngày hôm qua, nghĩ rằng, dịp Giỗ Tổ Hùng Vương chính là dịp cần ôn lại sức mạnh, tinh hoa của văn hóa Việt nằm trong bốn thần thoại rất đáng ghi nhớ, chứ không phải những lễ vật hoành tráng, các hoạt động "nặng phần trình diễn":

1.Ý thức giữ nước, thông qua câu chuyện Thánh Gióng. Giặc đến nhà, ngay cả đứa trẻ năm nôi cũng hăng hái ra trận, không có vũ khí, nhổ tre mà đánh giặc. Sau khi đất nước ca khúc khải hoàn, người anh hùng có công đánh giặc giữ nước “bay về trời”, đó là một khái niệm để nêu rõ phẩm chất có công nhưng không không kể công, không đòi quyền lực; 2. Khắc phục thiên nhiên, ách trời nạn nước để có cuộc sống tốt đẹp hơn, thông qua câu chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh; 3. Dám làm giàu, nỗ lực làm giàu, có sự sáng tạo để đạt đến mục đích, thông qua chuyện An Tiêm; 4. Ý thức xây dựng hạnh phúc lứa đôi, dám vượt lên trên quan niệm thông thường, thông qua chuyện Chử Đồng Tử.

Nhìn qua báo chí, hình ảnh, youtube… đã thấy cả hàng ngàn người có mặt tại Đền Hùng. Năm 1968, Trung tâm học liệu của Bộ Giáo dục miền Nam có in quyển Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyền. Trong đó có chép bài Bài Chúc phúc Hội Đền Hùng:

Cõi Nam riêng một góc trời
Hùng Vương gầy dựng đời đời nghiệp vua
Phong Châu là chốn kinh đô
Chia mười lăm bộ bản đồ mênh mông
Trứng Rồng lại nở ra Rồng
Ngàn con muôn cháu vốn dòng Lạc Long
Cây kia ăn quả ai trồng
Sông kia nước uống hỏi dòng từ đâu?
Quân thần hai chữ trên đầu
Hiếu trung hai chữ dãi dầu lòng son
Ba tòa chót vót đầu non
Ngàn thu sùng bái vẫn còn khói hương
Bụi hồng mấy cuộc tang thương
Bia xanh còn đó, khoán vàng còn đây
Trời cao bể rộng đất dày
Sông Thao, núi Tản chốn này còn ghi
Bốn bề cây cỏ xanh rì
Nhìn xem phong cảnh khác gì Đào Nguyên
Đường mây sẵn bực bước lên
Rõ ràng lăng miếu mẹ Tiên, cha Rồng
Năm năm mở hội Đền Hùng
Tiếng thơm lừng lẫy nức lòng mẹ cha
Nước non vẫn nước non nhà
Dân hai nhăm triệu vẫn là anh em
(Vô Danh)

Câu cuối cho biết, bài này ra đời trong những năm đầu thế kỷ XX. “Năm năm mở hội Đền Hùng” là chuyện trước kia. Ngày 2.4.2007, Quốc Hội đã phê chuẩn sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Luật Lao động cho người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch). Kể từ đây, ngày 10/3 âm lịch hàng năm đã trở thành ngày lễ lớn: Quốc lễ. Sáng nay, đọc Status trên trang Facebook cá nhân của nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân, nguyên văn như sau:

“Cần xây dựng cái gì? Ý thức công dân hay ý thức  chủng tộc?

Quang cảnh hàng chục ngàn người kéo lên đồi Hy Cương núi Nghĩa Lĩnh (Phú Thọ) trong ngày gọi là "giỗ tổ" hôm nay, thêm một lần, buộc những ai biết suy nghĩ phải nghĩ lại: Lâu nay dân Việt, công chúng ở VN được bồi đắp tinh thần gì? ý thức gì? - Ý thức công dân hay ý thức chủng tộc mù quáng?

Việc nâng cấp một lễ hội địa phương lên mức độ lễ hội quốc gia - lễ hội "giỗ tổ" ngày 10/3 hàng năm là trường hợp như vậy - đã thành hình và tồn tại từ trước 1945, trước khi những người cộng sản cướp chính quyền và cai trị dân Việt. Nhưng chỉ sau những năm 1990, sau khi "phe XHCN" đã tan rã, lễ hội này mới dần dần được khôi phục. Chừng như chỉ khi cái thiên đường XHCN trở nên mù mịt hẳn, nhà cầm quyền mới tạm dựa vào các biểu tượng dân tộc để thay thế, nhưng lại thiếu năng lực định hướng, nên đã để cho nó tự phát tăng tiến theo hướng một tâm lý dân tộc, một tâm lý chủng tộc nữa, ngày càng cuồng tín, ngày càng dại dột.

Cái thời làm ăn để tăng phúc lợi con người, cái thời cần hội nhập với toàn nhân loại này, lẽ ra những điều hàng đầu cần bồi bổ cho mọi thành viên xã hội phải là ý thức về quyền con người, ý thức về quyền và trách nhiệm của công dân, ý thức và trách nhiệm một công dân của thế giới. Lẽ ra phải thấy, những ông Lạc Long, Hùng Vương của truyền thuyết, của dã sử, dù sao vốn chỉ gắn với dân Kinh (=Việt), chứ không đủ đại diện cho trên 50 tộc người trên đất này; chưa kể là khi những anh những chị từ Phi Châu, từ Brazil, từ các xứ khác tới đây, hoặc để làm ăn, hoặc để đá bóng, nếu lai có nguyện vọng "Việt hóa" (lấy chồng hoặc vợ Việt, sông lâu trên đất Việt, vào quốc tịch Việt), thì cái quốc tịch VN phải nằm ngoài tiêu chí "có là con cháu vua Hùng hay không".

Thế nhưng cái tôn giáo Hùng Vương lại đang được nhân lên, lấy kinh phí ngân sách để hỗ trợ, lấy ý chí quan chức để tác động, khiến nơi nơi xây đền thờ Hùng Vương, như ngụ cái ý kiêu căng ngạo mạn rất vô lối, đặt tín ngưỡng người Kinh cao hơn tín ngưỡng các tộc người còn lại trên đất này.

Bây giờ cơn cuồng giỗ tổ đang gây ra những chen lấn suýt chết người; liệu đã đủ để người ta nghĩ lại tất cả những chuyện này?”.

Nhà nghiên cứu văn học Đoàn Lê Giang comment: “Chắc anh Lại Nguyên Ân muốn dùng khái niệm "ý thức dân tộc" chứ không phải "ý thức chủng tộc" (chủng tộc da đen, da vàng, da trắng...)?”. Vâng, “ý thức dân tộc” thì đúng hơn. Status cực đoan của anh Lại Nguyên Ân rất đáng lưu tâm  trong bối cảnh hiện nay. Mỗi một người đều có cái quyền bất di bất dịch, đó là sự phản biện không ngoài mục đích thúc đẩy cuộc sống tốt đẹp hơn. Chưa có dịp tranh luận, chỉ xin phát biểu rằng, y rất tán thành với ý kiến: “Cái thời làm ăn để tăng phúc lợi con người, cái thời cần hội nhập với toàn nhân loại này, lẽ ra những điều hàng đầu cần bồi bổ cho mọi thành viên xã hội phải là ý thức về quyền con người, ý thức về quyền và trách nhiệm của công dân, ý thức và trách nhiệm một công dân của thế giới”.

Sau vụ diễn viên hài Minh Béo bị bắt tại Mỹ ngày 24.3.2016, nhiều tờ báo trong nước có loạt bài nói về tính xấu của người Việt khi ra nước ngoài. Nói cách khác, các bài viết đã phân tích vì các thói xấu nào đã khiến người Việt chưa trưởng thành, chưa thể trở thành “công dân của thế giới”. Diễn viên hài này bị cơ quan chức năng của Mỹ đã truy tố truy tố 3 tội danh: Quan hệ tình dục bằng đường miệng (oral copulation) với trẻ vị thành niên, cố gắng thực hiện hành vi khiêu dâm với trẻ dưới 14 tuổi và định gặp trẻ vị thành niên cho mục đích dâm ô. Hôm qua cà phê ở ngoài Sài Gòn, nàng bảo: “Này anh, ông luật sư bào chữa cho Minh Béo có nói câu này, đại khái, ở Mỹ khi ra tòa, chính phủ phải chứng minh người đó có tội; ngược lại ở xứ mình, khi ra tòa, người đó phải chứng minh mình vô tội”.

Cho đến thời điểm này, phân tích về tính cách người Việt tốt lẫn xấu, đáng chú ý nhất là công trình khoa học cấp Nhà nước: Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai (NXB Văn hóa Văn nghệ) của GS - TSKH Trần Ngọc Thêm. Đây là công trình GS-TS Đinh Xuân Dũng - Phó Chủ tịch Hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Tung ương đánh giá: “Đề tài có cách nhìn hệ thống chặt chẽ, nhất quán trong tư duy nghiên cứu, thể hiện bản lĩnh của người nghiên cứu về giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại”.

Thử nêu một chi tiết nhỏ, đâu là những biến động gần đây trong các giá trị phổ biến?

Theo GS-TSKH Trần Ngọc Thêm: “Trong thời gian gần đây niềm tin của người dân ở Việt Nam vào nhiều lãnh vực trong cuộc sống đang bị giảm sút nghiêm trọng” (tr.305); “Theo báo cáo điều tra về “Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chánh cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2012” có 25,38% người dân chủ trương không bao giờ tố cáo dù bị vòi vĩnh ở bất kể lãnh vực nào; chỉ có 1,63% chủ trương sẽ tố cáo nếu bị vòi vĩnh từ 100 triệu đồng trở lên (PAPI 2012:31). Điều này phản ánh sự thờ ơ của người dân: họ thà chấp nhận mất tiền theo yêu cầu và cố gắng làm việc để bù vào còn hơn là đi đòi chính nghĩa vừa mất thời gian vừa rối rắm nhiêu khê, không những không hiệu quả mà thường là còn bị trù úm nữa” (tr.307-308). Đọc đến đây tự nhiên, chúng ta sực nhớ đến câu thành ngữ cũ rích: “Cái kiến mà kiện củ khoai”. Vậy hóa ra, bộ máy công quyền trong xã hội ngày nay chẳng có thay đổi gì?

Tệ nạn trầm trọng nhất là gì?

Ông Thêm có đưa ra biểu đồ 7 tệ nạn trầm trọng nhất từ 15 lựa chọn, theo thứ tự từ cao đến thấp như sau: Nạn tham nhũng; nạn quan liêu, cửa quyền; nạn hối lộ; nạn bạo hành, cướp giật; nạn cờ bạc, số đề; nạn mại dâm. Từ các số liệu, chỉ số ông đã thống kê ở 5 lãnh vực: Phải đưa tiền “lót tay” để xin được việc làm ở cơ quan nhà nước; Phải chi thêm đề được quan tâm hơn khi đi khám, chữa bệnh; Phải chi thêm tiền để được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Phụ huynh phải chi thêm tiền con em, được quan tâm hơn; Phải chi thêm tiền để nhận được giấy phép xây dựng – để dẫn đến kết luận: “Thứ nhất tình trạng tham nhũng - hối lộ ở cả 5 lãnh vực đều không giảm đi mà có chiều hướng tăng lên. Thứ hai, việc xin việc ở cơ quan nhà nước phải “lót tay” nhiều nhất, mặc dù lương cán bộ là thấp nhất, làm việc thì nhàn nhã nhất, chứng tỏ mức độ tham nhũng ở khu vực này là cao nhất” (tr.310-311).

Tất nhiên, để có những số liệu này, là còn những mẫu biểu thăm dò, khảo sát từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, có chứng cứ khoa học chứ không cảm tính phán xét.

Đứng ở góc độ của nhà nghiên cứu đã có nhiều công trình nghiên cứu được giảng dạy trong các trường đại học như Cơ sở văn hóa Việt Nam,  Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Văn hóa người Việt vùng Tây Nam bộ…, ông Thêm còn liệt kê 11 thói hư tật xấu đã nẩy sinh: (1) Thói dựa dẫm, ỷ lại; (2) Thói cào bằng, đố k; (3) Bệnh hẹp hòi, ích kỷ, bè phái; (4) Bệnh sĩ diện, háo danh; (5) Bệnh thành tích; (6) Bệnh phong trào; (7) Bệnh hình thức; (8) Bệnh nói xấu sau lưng; (9) Bệnh vô cảm, chém chặt; (10) Tật ham vui, thích “tám”; (11) Bệnh triệt tiêu cá nhân (tr.311).

Tác động nào đã khiến tính cách người Việt ngày càng xấu đi?

GS-TSKH Trần Ngọc Thêm đã trình bày thấu đáo qua hơn 600 trang sách, thiết nghĩ đây là một trong những tài liệu cần thiết cho để tìm về hệ giá trị văn hóa Việt Nam. Và qua đó, điểm nhấn của công trình này như tác giả cho biết: “Vẫn là xây dựng một hệ giá trị mới phù hợp hơn, giúp cho quốc gia và dân tộc có khả năng miễn dịch để dảm bảo sự phát triển kinh tế  phải đi đôi với văn hóa - con người đã trở thành một nhu cầu bức thiết”.Đọc đi, để thấy GS-TSKH Trần Ngọc Thêm đã phân tích ra làm sao. Đôi khi y tự hỏi, tác động nào đã khiến tính cách người Việt ngày càng xấu đi? Tất nhiên, nhiều người đã tìm ra câu trả lời nhưng vẫn "im thin thít như thịt nấu đông"? Tại sao? “Ngậm miệng ăn tiền” vẫn là sự khôn ngoan đấy chứ? Khôn ngoan hay thói xấu, y tự vấn y đó thôi.

Lại nhớ câu thơ của Tản Đà: “Đời đáng chán hay không đáng chán/ Cất chén quỳnh riêng hỏi bạn tri âm?”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 8.4.2016

PDF.InEmail

wpid-mua-tinh-ai-63585154107017153RRRR.jpg

 

Ngày nào cũng là ngày. Buồn, vui tự lòng mình. Với y, lại không thế. Ngày tháng đã lập trình. Khó có thể chệch hướng một chút nào. Sáng thức dậy, việc trước nhất, pha một ly cà phê. Rồi, gõ bàn phím. Đêm, chong đèn đọc sách. Cứ thế, đi qua môt ngày. Bây giờ lại khác. Đã có thay đổi một chút. Những ngày này, đã có sự lo lắng, về mẹ. Bà cụ cứ than mệt, ăn không ngon, ngủ không yên. Ông anh đã đưa đi khám tổng quát, xem bệnh tình bà cụ thế nào, vẫn không phát hiện ra điều gì đáng lo ngại. Dù vậy, mỗi sáng, phải dậy sớm hơn, hỏi han sức khỏe, an ủi bà cụ đôi câu.

Trước kia, đi chơi về khuya còn nghe tiếng gọi: “Q về đó hả?”, nay thì không? Mẹ đã ngủ mê mệt. Phải nhìn sang phòng bên cạnh, xem bà cụ đã ngủ nghỉ thế nào. Khoảng khắc thời gian này còn kéo dài đến bao lâu nữa? Chẳng ai có thể biết trước. “Mẹ già như trái chín cây”. Sẽ chắc chắn rồi cũng đến một lúc những ngày đi công tác xa nhà, sẽ không còn thắc thỏm nghĩ về nhà như mọi lần. Bởi, nhà còn có mẹ, đi chơi xa nơi đâu cũng không yên tâm.

Mấy hôm trước đã lên Tây Ninh, vài người bạn văn nghệ có lời mời tham dự Festival Bánh tráng phơi sương Trảng Bàng, nhưng rồi đến cận ngày lại từ chối. Cứ theo thông tin báo chí: Festival Bánh tráng phơi sương Trảng Bàng kéo dài từ ngày 6.4 đến ngày 12.4.2016 với khoảng 180 gian hàng giới thiệu về ẩm thực, thương mại và du lịch đã đăng ký tham gia. Bên cạnh mặt hàng chính là bánh tráng phơi sương, còn có hàng chục loại bánh tráng khác, như bánh tráng thường, bánh tráng xuất khẩu, bánh tráng nướng, bánh tráng sữa, bánh tráng muối ớt, bánh tráng mè, bánh tráng vụn... và nhiều món ăn đã làm nên thương hiệu đặc sản của tỉnh Tây Ninh. Dịp này, UBND tỉnh Tây Ninh cũng chính thức công bố quyết định của Bộ VH-TT-DL công nhận nghề bánh tráng phơi sương Trảng Bàng là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Ẩm thực Tây Ninh nổi tiếng nhất vẫn là bánh canh Trảng Bàng, bánh tráng phơi sương cuốn thịt heo. Hai món nay, y đã ăn mòn răng. Thích nhất vẫn là rau, đủ các loại. Anh bạn Vương Công Đức có lần cho biết, cái ngon của bánh tráng cuốn thịt heo chính là rau. Đĩa rau rừng sành điệu, đúng cataloge, đúng bài bản nhất định phải là sự hài hòa đủ năm vị: chát, ngọt, chua, béo, thơm. Anh liệt kê như sau: rau diếp cá, tía tô, lá hẹ, lá cóc, lá săng mào, lá bứa (bứa rừng, bứa sông), lá tràm ổi, húng quế, húng lủi, cần nước, lá mặt trăng, lá săng dẻ, quế vị, ngò tàu, rau nhái, cải kiệu... Bên cạnh đó còn thêm những lát dưa leo xắt dài, dưa chua và giá sống... Nghe kể một lèo, phát khiếp. Mà nó ngon thật. Thỉnh thoảng mỗi chiều, thường ra ngoài Thanh Đa thưởng thức món đặc sản này.

Nhân vừa diễn ra sự kiện trên, bèn lật quyển Trảng Bàng phương chí (NXB Tri Thức) của Vương Công Đức đọc lại xem sao. Xem người Tây Ninh đã viết gì về cách làm bánh tráng phơi sương Tây Ninh. “Nguyên liệu làm bột bánh tráng phải là loại gạo mùa, đem vo sạch ngâm kỹ và thay nước liên tục trong 2, 3 ngày. Gạo xay nhuyễn sền sệt, tráng mỏng lên tấm vải căng tựa cái trống trên mặt nồi hấp, đậy kín khoảng độ một phút cho chín rồi dùng cây gạt bằng trúc nhỏ nhanh tay trải trên một cái phên tre rồi phơi nắng. Khi bánh khô được gỡ ra đem nướng trên than riu riu cho phồng rộp. Muốn có được cái bánh phơi sương mềm dẻo, khi trời gần sáng, người ta mang bánh tráng đã nướng để ngoài trời hứng sương sớm, độ 15 đến 20 phút là vừa rồi xếp vào bao kín. Khi ăn lấy ra từng xấp, nếu còn thừa thì bọc kín để tránh không khí vào nhiều sẽ làm bánh tráng hỏng hoặc bị đơ không ăn được” (SĐD, tr. 558).

Có 2 chi tiết cực hay mà Đức không nhắc đến, có lẽ do anh quên: lá chuối khô và vỏ đậu phộng. Đọc đâu đó, có nhớ rằng, bánh tráng sau khi phơi khô, nướng trên một chiếc lò được sử dụng nhiên liệu đốt bằng "vỏ đậu phộng"; phơi sương xong, phải đem bọc kín bánh tráng trong lá chuối tươi. Bí kíp làm nên bánh tráng phơi sương Trảng Bàng còn là ở những chi tiết ấy nữa, phải không?

Xem ra cách làm bánh tráng không khác gì ngoài Quảng Nam. Có khác chăng là cách chọn gạo, cách phơi bánh. Ở ngoài quê của y, tất nhiên, cũng có bánh tráng cuốn thịt heo. Khác nhau ở dĩa rau ăn kèm: chuối chát, khế chua xắt lát mỏng, rau cải, rau tần ô, rau ngổ, cải tần ô, húng, lá hành, tía tô… Ở Đà Nẵng chừng mươi năm trước, có ông Mậu, ba Mãn ở Khuê Trung “sáng chế” ra món thịt hai hai đầu da - miếng thịt heo đó phần nạc ở giữa, còn hai đầu của miếng thịt lại là mỡ và có cả bì.

Còn có thể kể thêm, ở Hội An nổi tiếng với “bánh tráng đập”. Hãy nghe bạn thơ của y, ông Hoàng Hương Việt, một trong ba người chủ biên bộ sách Ẩm thực đất Quảng (NXB Đà Nẵng), năm kia đã tròm trèm gần 80 xuân cho biết: “Bánh tráng đập gồm bánh tráng (có mè hoặc không) không mỏng hoặc dày quá, đem nướng vàng, giữ cho thật giòn tan, và chiếc bánh ướt chín mượt trên khuôn bốc hơi ngùn ngụt, dùng que bánh tráng vớt ngay phủ lên chiếc bánh tráng để sẵn trên mẹt, trên mâm. Chập (để) sao cho khít, vừa vẹn hai chiếc bánh khô giòn và ướt mềm với nhau” (SĐD, tập 5, tr. 340). Loại bánh này, cái phần ngon ngoài bánh khô và ướt đó, phải kể đến nước chấm là mắm cái.

Cái bánh tráng, tự nó, đủ chất liệu, cảm hứng để viết nên người ta có thể viết thành một quyển sách đầy đặn. Công trình nghiên cứu này, tầm thường quá, ắt có người nghĩ thế. Nghĩ thế là sai lầm. Do chưa có ai làm một quyển sách chuyên đề đầy đủ về bánh tráng, vì thế, đừng gì ngạc nhiên, mới đây thôi, anh bạn của y, giám đốc công ty du lịch nọ viết sờ sờ Chào bánh tráng Trảng Bàng trên một tờ báo lớn, nguyên văn như sau: “Bánh tráng, có nguồn gốc từ Nam bộ, hàng mấy trăm năm”.

Ngạc nhiên quá.

Trước đây, trong chuyên luận Người Quảng Nam (NXB Trẻ), y đã viết: “Tuy nhiên, với người xứ Quảng, vai trò của cái bánh tráng mới là nét đặc biệt trong nghệ thuật ẩm thực. Nói như thế cũng cũng chưa đúng hẳn. Thật ra, trên dãy đất miền Trung, từ Huế vào đến Phú Yên hầu như ai ai cũng thích bánh tráng, mê bánh tráng và (có người) còn cho rằng chiếc bánh tráng là sản phẩm độc đáo trong nghệ thuật ẩm thực của riêng địa phương mình. Bởi thế mấy mươi năm trước mới có những cuộc tranh luận thú vị trên báo chí miền Nam. Nay xin được kể lan man trong lúc đang ăn bánh tráng vậy.

Chuyện rằng, trước đây nhà nghiên cứu Hồ Hữu Tường cho rằng chính vua Quang Trung là người “sáng chế” ra nhạc võ Tây Sơn, đại khái đó là kiểu đánh trống cùng một lúc của mười mấy chiếc, nhằm tạo ra âm thanh dữ dội đốc thúc ba quân xông trận. Thế nhưng nhà văn Nguyễn Văn Xuân không đồng ý. Trên báo Bách Khoa (số 277 ra ngày 15.7.1968) ông phân tích đó chỉ là kiểu đánh trống Diễu hay trống ông Ninh ông Xá quen thuộc trên sân khấu mà thôi, không riêng gì ở Bình Định mới có và cũng chẳng liên quan gì đến vua Quang Trung cả. Lập luận của ông Xuân đã khiến một người Bình Định cũng “xiêu lòng” là nhà văn Võ Phiến. Ông nhà văn này bùi ngùi bảo: “Nếu quả Bình Định mất đi một điệu trống, phải được đền một cái gì chứ? Chiếc bánh tráng nhé?” (Đất nước quê hương - Lửa Thiêng XB năm 1973). Tưởng đòi cái gì, chứ đòi chiếc bánh tráng thì thông minh quá đi thôi.

Đành rằng, chiếc bánh tráng là của dân tộc, không địa phương nào có thể “độc quyền” được, nhưng nhà văn Võ Phiến phát hiện ra loại… “bánh tráng thuần túy” chỉ riêng ở Bình Định mà không nơi nào có được! Ông đã viết thân mật, viết hào hứng những dòng đầy tình cảm: “Nhưng đặc biệt ở Bình Định là lối ăn bánh tráng cuốn mà không cuốn gì cả, không có nội dung. Tức bánh táng thuần túy. Ăn như thế, người ta ăn rất nhiều bánh tráng, lấy bánh tráng thay cơm. Nông dân mỗi sáng trước khi ra đồng, nếu không kịp thổi cơm sớm, có thể dùng mấy bánh tráng thay bữa cơm sáng. Học trò ở trọ xa nhà, thường mang theo một chồng bánh tráng, trăm cái, mỗi sáng nhúng nước vài chiếc, cuốn ăn điểm tâm. Những gia đình có nghề thủ công riêng, đêm đêm thức khuya dệt vải, đập xơ dừa, chắp trân dệt chiếu v.v… thường xúm xít tổ chức bữa ăn khuya: lại vẫn bánh tráng nhúng nước rồi cuốn. Cuốn như thế, nếu nhà có sẵn rau, sẵn thịt cá v.v… mà cho vào càng tốt; nếu không sẵn (như trường hợp những cậu học trò ở trọ) thì cũng chẳng sao. Bánh tráng mà dùng “thuần túy” như vậy có vẻ phi nghệ thuật, khó mê. Vậy mà người dân Bình Định đã đâm nghiện món ăn ấy”.

Có phải chỉ riêng người Bình Định nghiện “bánh tráng thuần túy”? Không! Ngay cả người Quảng Nam  cũng thế! Người Huế cũng thế thôi. Tôi còn nhớ thuở nhỏ, vào kỳ nghỉ hè thường vào sống nhà ông cậu ở Quảng Ngãi. Bà mợ, vợ của cậu tôi là người Huế, mỗi sáng bà cũng thường cho chúng tôi ăn món “bánh tráng thuần túy” như nhà văn Võ Phiến đã viết. Hoặc thuở ấy, lúc vừa ngủ dậy, nắng còn hanh hoi trên vòm cây trước ngõ, thấy trong bụng lưng lửng đói và đòi quà bánh thì thế nào mẹ tôi cũng cho vài cái bánh tráng. Và cũng chỉ nhúng nước để ngồi ăn ngon lành. Vậy sự “phát minh” ra “bánh tráng thuần túy” nào phải “bản quyền” của người Bình Định” (SĐD, tr. 341-343)

Đấy, chỉ mỗi cái bánh tráng thôi. Đã có bao nhiêu chuyện để bàn luận rồi. Lý thú quá đi chứ? Anh em bầu bạn với nhau, lúc ăn nhậu lai rai, bàn tán rôm rã về… cái bánh tráng có phải vui không? Vui quá đi chứ. Chẳng hạn, theo anh bạn của y, sở dĩ cái bánh tráng “Sau này, dân Đàng Ngoài phải gọi bánh đa để tránh kỵ húy với chúa Trịnh Tráng". Chẳng rõ, anh đã căn cứ vào nguồn tài liệu nào. Thoạt nghe, qua đã ngờ ngợ vì nó đậm chất suy diễn. Gọi bánh tráng, đơn giản chỉ là do tráng bột rồi hấp chín, phơi khô. Tại sao, từ “tráng” lại nhảy cái vèo qua “đa” chẳng hề theo một nguyên tắc nào về sự biến âm?

Nếu có thời gian, thử sát trong ca dao, tục ngữ, cái bánh tráng đã xuất hiện với tần số thế nào? Chà, đã qua cái thời hăm hở ấy rồi. Giờ chỉ muốn có những buổi chiều mát trời, mẹ khỏe mạnh mà yên tâm phóng xe ra Thanh Đa ăn bánh tráng phơi sương cuốn thịt heo. Vậy là đã lấy làm hài lòng lắm rồi. Xem ra khi đã già, người ta dễ dàng hài lòng với những việc nhỏ nhặt, đơn giản lắm.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 4.4.2016

PDF.InEmail

nddg061a

 

Trong các chuỗi sự kiện đang diễn ra, với y, quan tâm đến điều gì nhất. Sáng nay, đang đi làm nhận được tin nhắn của người bạn văn nghệ; cùng lúc, kiểm chứng lại một vài nguồn tin, vâng, đúng là thế. Chuyện thật bất ngờ. “Chuyện gì vậy Q?”. À, chuyện này:

Theo nguồn tin từ Bộ Ngoại Giao, ngày ngày 2.4, tại Trung tâm EXPO City Osaka đã diễn ra lễ công bố và trao giấy chứng nhận ngày 4.4 hàng năm sẽ là “Ngày của phở” tại Nhật Bản. Đây là sự kiện nhằm tôn vinh món phở truyền thống của Việt Nam, đồng thời giới thiệu món ăn độc đáo này đến gần hơn với người Nhật Bản, góp phần làm đa dạng, phát triển thêm nền ẩm thực vốn đã rất tinh tế ở xứ sở Hoa Anh Đào. Như vậy, ngoài các ngày được Hiệp hội Ngày kỷ niệm Nhật Bản quy định như Ngày của Nước, Ngày của Nữ sinh, Ngày của Tokyo, Ngày của An toàn quốc dân, Ngày của người già, Ngày của Bầu trời… nay, có thêm “Ngày của phở”. Sở dĩ chọn ngày 4.4 được chọn vì số 4 trong tiếng Anh khi phát âm giống âm “phở” để giúp mọi người dễ nhớ.

Với người Việt, đến nay, không ít chuyên gia ẩm thực, nhà nghiên cứu nhăn mày, nhíu mặt, mặt mày bí rị khi đi tìm câu trả lời nguồn gốc của phở. Về phở, có thể tìm ra cả hàng ngàn bài viết khác nhau, nhưng thật lạ vì sao món ăn “quốc hồn quốc túy” đó không đi vào ca dao, tục ngữ? Bài thơ viết về phở thuộc loại “thần sầu quỷ khốc” vẫn chính là Phở đức tụng của thi sĩ trào phúng Tú Mỡ viết năm 1934. Còn nhớ, ngày 29.11.2002 tại Khách sạn Sofitel Metropole Hanoi, nhiều nhà văn hóa, nhà báo được mời đến xem gánh phở rong Nam Định đầu thế kỷ XX.

Một câu hỏi quan trọng đã được đặt ra trong thời điểm ấy: “nguồn gốc của phở”?  Cứ theo các tài liệu đã công bố, có thể liệt kê ra các giả thuyết như sau:

- Phở là soupe Chinois (súp tàu). Người Tàu có món ngầu nhục phấn - làm từ bún và thịt bò, khi gánh đi bán họ rao “ngầu nhục phấn ơ…” nghe trầm bổng kéo dài; rao mãi cũng khàn giọng, có lúc nghe ra “ngầu phớn ơ”, rồi cuối cùng chỉ rao gọn lại “phớ ơ…”. Nói tắt lại, nó chính là cái gốc của từ phở. “Lý luận” này không ít ai đồng tình; thoạt nghe qua đã thấy sai đứt đuôi con nòng nọc rồi chứ gì?

- Từ món pot au feu của Pháp. Thử hỏi món này, gồm có những thứ gì? Nhà báo Doãn Phương căn cứ vào tài liệu của nhà khoa học Nguyễn Xiển, cho biết nó còn có cả: cà rốt, hành tây, đậu Hà Lan… Rõ ràng, không thể là nguồn gốc của phở.

- Phở do Feu (ánh lửa) từ tiếng Pháp mà ra. Theo ông Nguyễn Đình Rao -  bấy giờ là chủ tịch CLB UNESCO ẩm thực Việt Nam: “Hãy tưởng tượng đến một giả cảnh như thế này, khi những gánh phở rong đi trên phố trong buổi sáng sớm hay buổi đêm, cái “hỏa lò” trên đó hắt ra thứ ánh sáng đủ để khách trông thấy. Người Pháp muốn mua, chưa biết gọi là gì, tất nhiên sẽ gọi đại cái mà họ nhìn thấy, tức họ sẽ gọi “feu, feu…”, chữ này phát âm là pho (nghĩa tiếng Việt là lửa). Ông gánh phở, theo phản xạ tự nhiên cũng sẽ vội vàng “phơ đây, phơ đây” thế là thành tên rồi thành phở”.

Cũng là một cách suy diễn lúc trà dư tửu hậu, thoạt nghe qua thấy ngồ ngộ, tựa như có người bông đùa rằng, địa danh Nha Trang ra đời là do khi khám phá ra vùng đất này, cảnh vật mà người Pháp trông thấy đầu tiên là cái nhà màu trắng, Và gọi lơ lớ không dấu nên thành ra “chết tên” Nha Trang. Nhân đây nói luôn, về địa danh Đà Lạt có người cho rằng Đà Lạt là viết tắt cả câu châm ngôn tiếng La Tinh, từng ghi trên chợ Đà Lạt trước năm 1945: “Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem” (Cho người này nguồn vui, cho kẻ khác sức khỏe). Thật ra người ta chỉ dựa vào địa danh Đà Lạt đã có sẳn để chiết lấy những mẫu tự D, A, L, A, T rồi khéo léo ghép thành câu nêu trên.

Đi tìm nguồn gốc địa danh là điều cực khó. Cũng tựa như nguồn gốc của phở cho đến nay, câu trả lời vẫn chưa ngã ngũ. Nếu chọn từ điển là tập sách trước nhất ghi nhận sự ra đời của một sự vật, thì từ phở xuất hiện lúc nào? Có lẽ, phở xuất hiện sớm nhất là trong quyển Việt Nam tự điển do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo, NXB Trung Bắc Tân Văn in năm 1931: “Phở: Do chữ phấn mà ra. Món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò: Phở xào, phở tái” (trang 443). Quyển tự điển này, hầu như tuyệt bản, trước năm 1975 ở miền Nam, NXB Mặc Lâm có tái bản. Hôm nọ đi chơi ngoài đường sách Nguyễn Văn Bình, thấy có bán độc nhất 1 bản, giá chừng vài triệu đồng, nhưng vẫn không còn mới, đẹp như quyển mà y đang sở hữu.

Rõ ràng, phở mới ra đời gần đây thôi. Thế nhưng, ta vẫn chưa xác định được “lý lịch” của nó. Thật đáng tiếc. Trong khi đó, ở Sài Gòn này, nhiều món ăn Âu, Á năm châu bốn biển đã du nhập, cái hay của thiên hạ là họ đã chuẩn bị cho nó một “hồ sơ” rõ ràng, đâu ra đó. Còn nhớ lúc đi dự buổi tiệc khai trương nhà hàng pizza trên ngay gần Hồ Con Rùa, nhận được tập hồ sơ dày cộm về món ăn này, mới biết rằng pizza ra đời sớm nhất vào năm 1660 tại Ý rồi có cải tiến dần v.v… Tự dưng có cảm tình với pizza và ăn cũng thấy ngon hơn.

Có phải phở xuất phát đầu tiên là từ Nam Định?

Thông tin này ghi nhận từ cuộc tọa đàm về nghề phở diễn ra tại một nơi được xem là “cái nôi” ra đời của phở: làng Vân Cù, xã Đông Sơn, Nam Trực (Nam Định) - có sự tham gia của CLB UNESCO ẩm thực Việt Nam, ông D.Coulou, bếp trưởng khách sạn Sofitel Metropole Hanoi v.v… Hãy nghe ông Cổ Kiềm hơn 70 xuân, phát biểu:

“Bấy giờ ở làng tôi, ngoài nghề làm ruộng còn có nghề làm bánh đa, khi thì nấu thành canh bánh đa với bún để bán. Trước hết cho cua ốc, rau mùng, rau hẹ; tết nhất thì cho thêm thịt, thêm xương vào ninh, thấy ngon hơn, bán ở chợ người ta thích lắm, nhất là các chợ Viềng đầu năm. Ngày mồng 7 bán ở chợ Viềng dưới (thuộc Nghĩa Hưng), mồng 8 bán ở chợ Viềng Chùa (Nam Trực), đó là những ngày kiếm ăn rôm rả nhất. Từ món canh bánh đa đã trở thành phở như thế nào thì khó nói, nhưng hai món này gần nhau lắm. Thật thế, vì làm bánh đa với làm bánh phở không khác nhau mấy.

Người làng tôi chỉ biết người đầu tiên mở lò bánh phở là cụ Lý Vặng nên có nhẽ, cụ là ông tổ của nghề phở chăng? Vào quãng năm 1920, cụ Lý Vặng thuê nhà ở phố Hàng Chỉ, Hàng Hòm mở lò rất to làm bánh phở. Lò bánh phở của cụ Lý Vặng cũng gần giống như lò tráng bánh đa, nhưng tráng trên 4 cái thùng như thùng gánh nước. Nếu như bánh đa phải tráng 2 lượt cho dày, thì bánh phở chỉ tráng 1 lượt, mỏng hơn, tay bánh cũng ngắn hơn. Khi bán, không bán cân mà bán từng chiếc một, nên còn gọi là bánh trăm. Cụ Lý Vặng còn kéo dân Vân Cù lên Hà Nội làm, trong đó có bố tôi, và từ lò bánh của cụ, sáng sáng những gánh phở rong tỏa ra khắp ngõ ngách của phố phường Hà Nội” (Báo Thể thao & Văn hóa ngày 11.4.2003).

Thông tin này rất đáng lưu ý, cần được ghi nhận.

Tuy nhiên, cách tráng bánh theo kỹ thuật của cụ Lý Vặng, còn gọi “bánh trăm” tại sao lại gọi sang bánh phở? Có lẽ chẳng một ai trả lời nổi. Người Việt mình không có thói quen ghi chép mỗi ngày, dạng như ghi nhật ký, vì thế khi ngoái lui nhìn lại quá khứ chẳng biết căn cứ vào đâu. Chẳng hạn, gần đây đã nghe quen những câu nói cửa miệng như: “Đất nước lắm Hòa Thân, nhân dân nhiều chị Dậu”; “Con đường dài nhất Việt Nam là từ lời nói đến việc làm”; “Nỏ thần chớ để sa tay giặc/ Mất cả đất liền, cả biển sâu”… Nếu những câu này có sức sống lâu dài, trở thành một loại thành ngữ ngữ mới, liệu chừng sau này có còn ai nhớ đến hoàn cảnh ra đời của nó, tác giả câu nói đó?

Thế thì, sự ghi chép mỗi ngày cần thiết lắm chứ. Mà thôi, đó là chuyện của các nhà làm sử, các nhà ngôn ngữ học, còn y chỉ là kẻ phàm ăn tục uống đâu có khả năng đó. Mỗi ngày vẫn phở. Mà này, quán phở Dậu nổi tiếng ở Sài Gòn cũng chính là của người gốc Nam Định. Tô phở không có các loại rau như húng, quế, giá… như sau khi đã “nhập cư” theo gu người Sài Gòn, chỉ có hành tây. Vâng, chỉ có chanh ớt và hành tây cắt lát. Mà tô phở từ lúc nó mới ra đời, sau năm thập niên 1920 thì căn bản là thế. Không tin à? Xin cứ đọc lại tùy bút Quà Hà Nội của Thạch Lam: “Nếu là gánh phở ngon cả Hà Nội không có đâu làm nhiều, thì nuớc dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu giòn chứ không dai, chanh ớt, và hành tây đủ cả. Chả còn gì ngon hơn bát phở như thế nữa”. Đủ chưa? Chưa à? Vậy thêm một chứng cứ nữa. Đọc đoạn mở đầu Phở đức tụng của Tú Mỡ xem sao, liệu có nhắc đến hành tây không?

Trong các món ăn "quân tử vị",
Phở là quà đáng quý trên đời.
Một vài xu, nào đắt đỏ mấy mươi,
Mà đủ vị: ngọt, bùi, thơm, béo, bổ.
Náy bánh cuốn, này thịt bò, này nước dùng sao nhánh mỡ,
Ngọn rau thơm, hành củ thái trên.
Nước mắm, hồ tiêu, cùng dấm, ớt điểm thêm,
Khói nghi ngút đưa lên thơm ngát mủi…

Nhất trí. Xin tâm phục khẩu phục, có điều ngạc nhiên ở chỗ tại sao người Bắc gọi ăn phở là “ăn quà”? Lần đầu tiên biết phở Dậu là do nhà báo Phan Kim Thịnh - chủ bút báo Văn Học tại miền Nam trước năm 1975: “Sáng nay, tôi đưa Q đi ăn quà. Phở nơi này, ngon lắm”. Quà có nhiều nghĩa, trong đó, như Việt Nam tự điển giải thích: “Quà: Món ăn ở hàng bán sẵn để ăn tạm, không phải bữa chính”, trong khi đó, với nhiều người lại khác, ăn phở là để no, có thể thay cho bữa chính kia mà? Ăn thiệt, no thiệt, chứ nào phải đến với phở bằng tâm thế “ăn quà”. Hôm nào hỏi anh Thịnh, xem giải thích ra làm sao.

L.M.Q

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 31.3.2016

PDF.InEmail

THO-TANG-DOAN-TUAN

 

Cách đây dăm ngày, có việc cần đến quyển Muối của đất.

Ở nhà có quyển này. Sách nhiều quá, tìm kiếm bở hơi tai. Cũng không tài nào tìm ra. Đố biết nó nằm ở xó xỉnh nào. Chịu chết. Để cho chắc ăn, truy cận internet, xem lại hình bìa của nó. Đúng chóc rồi. Có quyển này trong tủ sách. Nhưng không thể tìm nổi. Có sách nhiều quá cũng khổ. Lúc cần tìm, chẳng khác gì mò kim đáy biển. Mà nhớ thế, mới ngạc nhiên khi biết rằng: “Ơ hay, ủa, thì ra mình cũng có những quyển sách này à? Lâu nay không hề biết”. Tự dưng bao nhiêu mệt nhọc tan biến. Lại tiếp tục tìm Muối của đất. Cuối cùng, chào thua. Bèn nhắn tin cầu cứu bạn bè. Người giúp được, không ai khác, chính là nhà sưu tập Trần Thanh Phương.

Sáng sớm ghé nhà anh, mượn sách. Uống trà. Và bàn những công việc cũng liên quan đến viết lách. Anh khoe tập bản thảo dày cộm. Cầm đọc và ngạc nhiên. Đó là các bài điếu văn tiễn đưa nhà văn Việt Nam lúc về chín suối.  Anh đã kỳ công thu thập được tư liệu từ nhiều nguồn, tất nhiên không thể thiếu tờ Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam. Đã tìm được diếu văn của hơn 100 người. Anh đang loay hoay sẽ đặt tựa là gì. Xem qua mục lục, may quá, có dịp cám ơn anh đã cho mượn sách bằng cách photo tặng anh điếu văn về nhà thơ Tản Đà, Vũ Trọng Phụng. Cả hai bài này đều in trên tạp chí Tao Đàn năm 1939, lúc hai nhân vật lừng danh này qua đời. Xem qua bản thảo do anh Phương sưu tập, sắp xếp có thể nhận ra rằng, trước đây điếu văn thường được đọc tại mộ, ngay sau lúc hạ huyệt; bây giờ, đọc trước linh cữu, trước lúc đưa quan tài ra mộ. Mỗi thời mỗi khác. Khác một chút, nhưng cùng là một cách bày tỏ sự thương tiếc dành cho người vừa khuất. Chắc chắn tập sách này của anh Phương hữu ích cho nhiều người. .

Về Tản Đà, ông Đinh Gia Trinh - chủ nhiệm tờ báo Le Monême, cơ quan của Tổng hội trường Cao đẳng đọc trước huyệt, có câu: “Chúng tôi không muốn dài lời nữa. Một giọt lệ và một lặng yên hùng biện bằng mấy nhời hoa mỹ ca tụng tiên sinh. Chúng tôi sẽ tự coi như một bổn phận là không quên sự nghiệp của tiên sinh, không quên gia cảnh hiện tại của tiên sinh. Với lòng hăng hái nhiệt thành của tuổi trẻ, chúng tôi sẽ xin gắng sức giúp ích cho tiên sinh để tỏ ra chúng tôi, thanh niên trí thức của xứ sở, bao giờ cũng biết cảm ơn tha thiết nhưng danh nhân của xứ sở”. Tản Đà chết trong nghèo túng. Theo nhà văn Nguyễn Tuân: “Ở đầu giường bệnh, vẫn bên chồng sách cũ nát trên cái ghế mọt thay làm án thư và bên chồng sách bừa bãi đây đó mấy trang bản thảo. Tập di cảo! Trời! Và lẻ loi ở góc bàn, vẫn cái hũ rượu cáp giới ngày nọ. Tất cả, chỉ có thế thôi. Với một đoàn thê tử yếu và đuối!”.

Về Vũ Trọng Phụng, nhà thơ Lưu Trọng Lư và Nguyễn Vỹ đọc điếu văn trước huyệt. Vũ Trọng Phụng cũng chết trong nghèo túng. Kẻ sĩ lớp trước thường nghèo túng. Đọc La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp của học giả Hoàng Xuân Hãn ngẫm nghĩ với chi tiết này: Lúc sinh thời, Nguyễn Thiếp đã từng “thấy vàng không thèm ngoảnh cổ lại nhìn”, từ chối biết bao nhiêu báu vật của triều đình dâng tặng nên khi nằm xuống gia đình rất túng quẫn. Nhà thờ ông rất sơ sài, đến đời Duy Tân có sắc thần ban cho, nhưng tộc trưởng trong họ không có đủ hai đồng bạc để lãnh sắc! Bọn lính đem sắc thần về từ đường Nguyễn Thiếp, vì không được nhận tiền nên chúng ra ruộng xiết cả cái cày của ông tộc trưởng. Oái oăm thay, ông này phải đem cái chuông treo trong nhà thờ đem bán cho người đàn bà giàu có trong làng để chuộc cái cày về!.

Trong sáng tạo nghệ thuật, giá trị của tác phẩm không do tác giả giàu hoặc nghèo. Phải là tài năng và thêm nhiều yếu tố khác nữa. Đêm hôm qua, lai rai cùng bạn bè văn nghệ. Câu chuyện linh tinh lang tang, không đầu không cuối. Lại nhớ, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn “thiêng” quá, ông chọn đúng ngày 1.4 Ngày Cá tháng Tư để giã từ cõi tạm. Ngày đó, dễ nhớ. Từ nhiều năm nay hễ đến ngày đó lại có những chương trình tưởng nhớ Trịnh Công Sơn.“Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người ca thơ (Chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ”. Nhận định này của Văn Cao về Trịnh Công Sơn, chắc chắn nhiều người đồng tình. Cả hai đều nổi tiếng và có nhiều đóng góp cho văn hóa nước nhà. Họ làm thơ và viết nhạc. Khó có thể phân định thể loại nào nổi trội hơn.

Với trường hợp của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nếu tách riêng giai điệu và ca từ, chỉ đọc văn bản ắt công chúng có cảm giác như đang đọc một bài thơ. Đã có nhiều, quá nhiều lý luận nói về vai trò của thơ, sứ mệnh nhà thơ xin không nhắc lại, riêng y tâm đắc với quan niệm cho rằng, đã nhà thơ ắt phải góp phần thúc đẩy nhiều hơn nữa về sự trong sáng, uyển chuyển, phong phú, đa dạng của tiếng Việt. Đọc kỹ ca từ của Trịnh Công Sơn nhiều người đã phát hiện ra điều đó.

“Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô”.

Có cách nói nào “lạ đời” thế không? Cọng cỏ này, do khô nên buồn? Không phải, ở đây là “cọng buồn”. Chưa ai nói như thế. Từ lâu nay, với từ “cọng”, ta hiểu “thân cành của loài cây mềm” như từ điển tiếng Việt giải thích, chẳng hạn cọng rau, cọng cỏ, cọng rơm… Thế nhưng khi nó đứng chung với “buồn” - từ chỉ về tâm trạng, cảm giác thì quả nhiên cái buồn này đã có một sắc thái mới hẳn, lạ, trước đó chưa ai sử dụng. Qua đó, ca từ trên đã khắc họa được tâm cảnh khác của tác giả. Tâm cảnh ấy, chỉ là “cọng buồn” lẻ loi như cọng cỏ khô chứ không là nỗi buồn theo nghĩa thông thường.

Nghe một ca từ như thế, ban đầu thấy ngồ ngộ nhưng suy ngẫm kỹ lại phát hiện ra đôi điều thú vị lắm.

Với Diễm xưa, nhiều người thích câu: “Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ”. Và dĩ nhiên, trong trí nhớ của họ lập tức liên tưởng đến tháp cổ của người Chăm dọc dài trên mảnh đất miền Trung. Còn nhớ, nhà thơ Văn Cao đã nhìn và đã viết mấy câu thơ long lanh như ngọc: “Từ trời xanh/ Rơi/ Vài giọt Tháp Chàm”. Sự liên tưởng ấy là hợp lý. Tuy nhiên, sao lại không nghĩ rằng, “tháp cổ” ấy, chẳng phải là cái tháp cụ thể vừa nêu trên mà chính là… Bình tĩnh đi, vì nghe xong không ít người gân cổ lên cãi ngay, nhưng biết đâu Trịnh Công Sơn đã miêu tả… cổ ba ngấn của người thiếu nữ? Nếu không thể, làm sao có: Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao…/ Trên bước chân em âm thầm lá đổ”? Diện mạo người phụ nữ có nhan sắc còn là “cổ ba ngấn”, sao không nghĩ “tầng tháp cổ” là một cách diễn đạt sáng tạo của Trịnh Công Sơn? Với một tác phẩm, xin thưa rằng, “đồng tác giả” với người sáng tạo còn là người đọc/nghe/xem nữa. Mỗi người có một cách cảm thụ, tùy theo nhận thức, tâm trang của họ trong lúc thưởng ngoạn. Mà muốn như thế, tác giả phải có khả năng làm chủ, diễn đạt ngôn từ như thế nào để tạo ra sự đồng cảm ấy.

Lại nữa, khi đọc câu thơ Kiều: “Trăm năm trong cõi người ta”, y dám quả quyết rằng, thiên tài Nguyễn Du không chỉ sử dụng “trăm năm” như một cách nói gói gọn về “đời người” mà còn là sự khái quát về thời gian, về “xưa nay”. Có cảm nhận như thế, câu thơ mới có sức ngân vang đến ngàn sau. Với Trịnh Công Sơn, “Gọi buốt/suốt trăm năm một cõi đi về” - xin nhấn mạnh, “trăm năm” ở đây chỉ mang một ý nghĩa về một kiếp người/phận người/đời người. Thế nhưng ca từ trên, Trịnh Công Sơn đã chọn từ nào? “Buốt” hay “suốt”?

Không ai có thể “Gọi suốt trăm năm”. Có mà điên. Nếu ca từ cụ thể, rành mạch đến thể, không còn là Trịnh Công Sơn nữa. Ông chọn “buốt”/“gọi buốt” vì còn hàm nghĩa nhấn mạnh cảm giác của tiếng gọi ấy, chứ không chỉ đơn thuần miêu tả hành động “gọi”. Cũng nên nhớ rằng, với ông, một cuộc tình đi qua hoặc ở lại: “Ôi mênh mông tháng ngày vắng em / Tình như lá bỗng vàng bỗng xanh / Em ra đi như thoáng gió thầm”. Chỉ là một thoáng gió nhẹ nhàng của dư hương ngày cũ còn đọng lại trong tâm tưởng, chứ không phải là tâm thế của một người lộ liểu “gọi suốt”. Biết đâu, ông có gọi thì sao chứ? Đúng thế, nhưng “gọi buốt” mới là nỗi đau chỉ mỗi mình tác giả nhận biết, nó không lên tiếng, không âm vang thốt ra lời mà chính là tiếng réo gọi âm thầm ngay từ trong tiềm thức.

Đã từng “chấn động” với ca từ: “Yêu phố vui, nhà gạch ngon” của nhạc sĩ Phạm Duy. Thì bây giờ, cảm giác ấy lại quay về với Trịnh Công Sơn: “Chim non cười tình nhìn diều lên ngon”. Từ “ngon” của tiếng Việt đã có thêm một sắc mới, chấp nhận được vì sự tài tình của cách dùng chữ, dù mới, dù lạ nhưng vẫn không “chỏi”. Thì ra, đó là “ma lực” của tiếng Việt đấy chứ!

Về từ “tình” trong tiếng Việt, ta nhớ đến cuộc tình, người tình, mối tình v.v… nhằm diễn tả tâm lý, cảm xúc, thái độ, sự yêu mến giữa hai người. Kỳ diệu thay, với Trịnh Công Sơn cách chọn từ của ông đã cho thấy rằng, có thể cầm trên tay các cảm giác ấy qua các động tác như: Treo tình trên chiếc đinh không”/ “phơi tình cho nắng khô mau”. Chưa hết, câu này mới ghê gớm, các nhà thơ thứ thiệt phải ngả mũ chào: “Vết buồn khắc trên da”.  Những câu ấy, tách riêng ra khỏi giai điệu, tự nó đã có sức nặng như một câu thơ. Nó tạo ra sự liên tưởng khác ngoài phạm vi của ngữ nghĩa, cũng tựa như câu thơ của Đoàn Phú Tứ đã tạo ra một nhận thức mới: “Hương thời gian thanh thanh/ Màu thời gian tím ngát”…

Trịnh Công Sơn cũng có lúc nhân cách hóa mà nghe qua một lần ắt khó quên: “Một sớm lên đường/ Mẹ ra sau vườn/ Hỏi thăm trái bí / Trên giàn còn xanh/ Một sớm bên hè/ Vườn sau vắng vẻ/ Này thôi bí nhé/ Lên đường cùng me…”. Chỉ đọc thôi mà đã nghe ngân vang của nhịp đi của thể thơ bốn chữ. Mà nhịp thơ ấy, còn có thể tìm thấy ở Ngụ ngôn mùa đông,  Lặng lẽ nơi này, Xa dấu mặt trời…; hoặc thể thơ năm chữ với Một ngày như mọi ngày, Ru ta ngậm ngùi, Biết đâu nguồn cội, Những con mắt trần gian… Và không chỉ có thế, ngay cả lục bát lại có thêm một bài thơ hoàn chỉnh Ở trọ v.v…  Nghe nhạc Trịnh Công Sơn đôi lúc có cảm giác như đang sống trong không gian của thơ Đường. Từ hình ảnh trong thơ đến nhịp đi của thể thất ngôn quyện nhau chặt chẽ. Chẳng hạn, ca khúc Vườn xưa mở đầu: “Ngoài hiên vắng giọt thầm cuối đông/ Trời chợt nắng vườn đầy lá non/ Người lên tiếng hỏi người có không/ Người đi vắng về nơi bế bồng”. Câu thơ cuối gợi lên sự hoang mang đến nao lòng bởi sự bâng khuâng về một nơi không định hướng:  “Nơi bế bồng” - một cách nói mới về người tình đã có chồng, có con.

Thoáng nghĩ rằng, Trịnh Công Sơn đã “chuyển hóa” tài tình một triết lý nhà Phật qua ca từ: “Bao nhiêu năm làm kiếp con người (sinh)/ Chợt một chiều tóc trắng như vôi (lão)/ Lá úa trên cao rụng đầy (bệnh)/ Cho trăm năm vào chết một ngày (tử)”. Ai ai cũng đi trong vòng quay đó, đố mà thoát khỏi.

Vậy còn ham hố sân si lục tặc tam bành làm gì nữa, hả Q?
Dạ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 28.3.2016

PDF.InEmail



10649477_960783670707574_4744794136132751118_n(nguồn: Facebook Nguyễn Đông Thức)

 

Tuần lễ Hội sách lần thứ IX, chù đề Sách - văn hóa và phát triển từ ngày 21.3.2016 đến ngày 27.3.2016 vừa kết thúc. Cả một rừng người đã có mặt trong công viên Lê Văn Tám. Có cả thẩy 167 đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, phát hành sách trong và ngoài nước tham gia với hơn 720 gian hàng. Ngày nào cũng đông nghìn nghịt người. Các mặt đường Điện Biên Phủ, Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng và tận dụng cả ngay trong công viên, tại nhà dân cũng không đủ sức chứa các xe gắn máy của người đi mua sách. Khiếp quá. Khiếp nhất là ngày cuối cùng, sáng đó cùng nàng đi mua sách. Bở hơi tai. Mệt như phải tả xung hữu đột với người người lớp lớp. Sáng ngày 26.3.2016, có cuộc giao lưu Lê Minh Quốc - Yêu và viết, y mời bạn bè nhưng nhiều người không thể có mặt, chỉ vì không thể tìm ra nơi gửi xe. Những ngày đó, thỉnh thoảng đến với Hội sách, mua sách à? Tất nhiên, nhưng điều quan trọng hơn nữa là có mặt trong buổi giao lưu, ra mắt sách của đồng nghiệp. Một quyển sách của bạn vừa ấn hành, mình có mặt, cũng là một cách chia sẻ, động viên nhau.

Trong hành trình trình đơn độc, nhọc nhằn có những lúc một mình đơn độc. Một mình viết. Một mình khóc cười cùng bàn phím. Ai là người chia sẻ? Chẳng một ai, ngoài chính nhà văn. Anh ta viết và sống trong một thế giới khác. Thế giới của chữ nghĩa. Của từng mẫu tự. Của con chữ. Thế giới ấy thăm thẳm chân mây. Hun hút đường hầm. Thế giới của một hành trình mải mê, lầm lũi một mình đi qua sa mạc. Rồi tập sách ra đời. Một hành trình vừa khép lại. Tác phẩm ấy, không thuộc về họ nữa. Thuộc về đám đông. Như con gái đã bước chân về nhà chồng. Ngày mai, ai còn nhớ? Liệu có còn ai nhớ hay nó đã lãng quên khi vừa ráo khô giọt mực in? Nào ai biết. Dù không biết, chẳng ảo tưởng gì, họ cứ tiếp tục công việc đã chọn.

Chiều ngày 25.3.2016, nhà văn Nguyễn Đông Thức có cuộc giao lưu cùng bạn đọc nhân vừa phát hành tập truyện ngắn Vĩnh biệt Facebook, tái bản tiểu thuyết Ngọc trong đá. Ngồi nghe và ngẫm nghĩ rằng: Chắc chắn một điều, lực lượng TNXP dù đã hình thành từ năm tháng chiến tranh nhưng chỉ sau 1975, ngay tại Sài Gòn mới hình thành một lực lượng viết xuất thân từ TNXP. Không những thế, ma lực hấp dẫn của TNXP cũng đã lôi cuốn theo cảm hứng của nhiều văn nghệ sĩ khác. Nói cách khác, chính TNXP đã khơi dậy và cưu mang; là chất liệu và kinh nghiệm sống để có nhiều văn nghệ sĩ tìm đến hoặc “thâm canh”; hoặc “cỡi ngựa xem hoa”. Và tất nhiên, họ đã có những sáng tác vừa phục vụ TNXP và cũng vừa phục vụ đại chúng. Mà dù tài năng thế nào, họ vẫn là “người ngoài cuộc”, liệu chừng có thể phản ánh hết được từ chân tơ đến kẻ tóc trong đời sống của anh em TNXP?

Y quả quyết rằng, không thể. Phải là những con người trưởng thành từ môi trường ấy. Nguyễn Đông Thức là một trong những người viết xuất thân từ “lò” TNXP. Dám nói rằng, Ngọc trong đá của anh là tiểu thuyết hay nhất viết về TNXP của năm tháng đó. Từ ấn bản đầu tiên đến nay đã 30 năm rồi còn gì? Sức sống nó còn dài. Chỉ ái ngại rằng, khi nhìn về quá khứ đó lại không ít người ngậm ngùi, ứa nước mắt. “Cánh hạc bay lên vút tận trời”. Câu thơ Tản Đà đó chứ. Nói hộ nhiều điều.

Hôm giao lưu anh có nói rằng, đại ý, trong lá số tử vi của anh, có câu “thạch trung hữu ngọc” - trong đá có ngọc. Thú thật, y bù trất về khoa chiêm tinh, tử vi, lý số nên không rõ mình đã nhớ đúng hay không? Bởi lẽ lúc ấy âm thanh ồn ào quá, mọi thứ âm thanh từ gian hàng sách này nọ thi nhau phát âm loạn xạ nên hỗn tạp. Khó nghe. Mà cũng cố gắng nghe. Nghe rằng, anh lý giải, với lá số đó, anh phải cật lực lao động thì mới có kết quả tốt. Muốn tìm lấy ngọc ẩn trong đá, phải làm sao? Phải đập từng nhát búa, phải miệt mài, không ngơi nghỉ, không nản chí, không bỏ cuộc thì may ra mới nên cơm cháo gì. Và anh đã làm được. Với tác phẩm đầu tay, lấy tựa Ngọc trong đá là từ suy nghĩ đó. Và nó cũng ngụ ý rằng, các nhân vật của anh, những thanh niên sinh ra và đã sống tại Sài Gòn khi tham gia TNXP phải lao động quên mình mới có thể đi về phía bình minh của một cuộc sống mới. Đó là một cái tựa cực hay.

Có chi tiết này, lần đầu tiên mới biết, khi tác phẩm dựng thành phim, nhà văn Nguyễn Đông Thức viết kịch bản nhưng lúc đưa kiểm duyệt thì tréo ngoe thay: Một thành viên trong ban kiểm duyệt không đồng tình với chi tiết một nhân vật thuộc thành phần gia đình có "máu mặt" của chế độ Sài Gòn cũ lại được tác giả cho chết như một người anh hùng. Phải sửa lại. Con cái sĩ quan “ngụy” mà được sự vẻ vang ấy à? Đừng hòng. Phải sửa lại. Phải, cứ để cho nhân vật đó sống. Lời góp ý thiển cận, sỗ sàng và ấu trĩ vì chỉ đánh giá con người qua lý lịch được Nguyễn Đông Thức xử lý ra làm sao? Hôm đó, anh cho biết là cương quyết không đồng thuận. Cứng đầu giữ nguyên kịch bản. Chỉ vì thể, hơn hai năm sau khi quan chức này không còn ngồi cầm chịch ở cái ghế đó nữa, bộ phim Ngọc trong đá mới được tiến hành. Nghĩ cũng lạ. Lạ cho một thời, đôi khi suy nghĩ chủ quan của chỉ một người lại có quyền quyết định số phận của một tác phẩm, công sức của rất nhiều người.

Trong buổi giao lưu, nhà văn Nguyễn Đông Thức còn cho biết mẹ anh -  nhà văn Bà Tùng Long khuyên các con không nên dấn thân vào đường văn chương. Câu  thơ của Viên Mai, mẹ anh thường hay đọc:

Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch
Lập thân tối hạ thị văn chương

Cụ Phan Bội Châu cũng thích câu thơ này và dịch:

Khuya sớm những mong ghi sử sách
Lập thân hèn nhất ấy văn chương

Y nghĩ rằng, sở dĩ như thế vì lúc cụ Phan cất tiếng khóc oe oe chào đời, chính cụ sau này có ghi trong Tự phán: “Mày sắp sửa làm người vong quốc". Thế thì văn chương chữ nghĩa chỉ nhai đi nhai lại những câu “chi chi, dã dã” đã cũ rích, đã lỗi thời! Hỡi ôi! Mà có như thế mới không phạm trường quy, mới thi đậu rồi tiến thân bằng con đường làm quan như một cách lập thân thì hèn hạ lắm. Suy nghĩ ấy, thời nào cũng đúng. Nó hèn hạ vì "lập ngôn" nhưng lại không thật bụng, thật lòng, không nói đúng điều đã nghĩ. Nói một đường, viết một nẻo. Thứ văn chương ấy, liệu có ích gì nhằm thay đổi thời cuộc? Phải hiểu như thế về câu thơ của Viên Mai. Với các cụ, văn chương là tấm lòng, là nói lên cái chí. Nó thiêng liêng liêng lắm. Ngày xưa, các nhà nho Trung Quốc cho rằng, ở trên đời có “tam bất hủ”: Lập đức, lập thân, lập ngôn. Lập ngôn thời buổi này, nó ra làm sao? Mà thôi. Trời đang xanh, mây đang trắng, người đi mua sách vẫn náo nhiệt, hãy cứ ngồi yên mà ngắm nhìn nam thanh nữ tú trong hội sách có thích hơn không? Sau buổi giao lưu ra mắt Ngọc trong đá, né nhậu. Quay về nhà viết luôn bài Người Sài Gòn mê sách theo đề nghị của báo Người Lao Động, Bài này đã in trên số báo ngày hôm qua. Y viết:

“Người Việt mê và yêu sách. Tuy nhiên, chỉ có ở Sài Gòn, thiên hạ mới hào phóng, dễ dàng móc tiền ra mua sách. Suy nghĩ này, thoạt nghe qua có thể nhiều người cho rằng chủ quan, thế nhưng đây không phải ý kiến của tôi. Nhiều anh em làm sách tại Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ… đã có kết luận ấy. Thật vậy, Hội sách TP.HCM đã trải qua 9 lần, nhưng doanh thu về sách lên đến nhiều tỷ đồng là điều có thật. Khi tận mắt chứng kiến cả hàng ngàn lượt người đến Công viên Lê Văn Tám trong những ngày này, ta mới cảm nhận hết được ma lực quyến rũ, sức hấp dẫn ghê gớm của thế giới sách. Và không phải ngẫu nhiên, Sài Gòn đang là địa bàn “đứng chân” của giới làm sách trong cả nước.

Cầm quyển sách trên tay, người ta đang sở hữu một sức mạnh nhằm nuôi dưỡng tâm hồn, làm giàu tri thức. Ấn phẩm ấy, tất nhiên không chỉ tốt về nội dung nhưng còn phải đẹp, sang trọng về hình thức nữa. Trước đây, các nhà xuất bản ở Sài Gòn có một “thú chơi” nho nhỏ: ngoài số lượng phát hành ngoài thị trường, họ còn in thêm vài chục quyển, có đánh số hẳn hòi, in trên các loại giấy hoa tiên, giấy lụa hoặc giấy quý… chỉ dành cho chính họ và tác giả quyển sách đó. Ấn phẩm ít ỏi này, thật sự là một tác phẩm mỹ thuật và bao giờ cũng thuộc loại “hàng độc” mà người chơi sách, sưu tập sách luôn săn lùng ráo riết. Giữ được loại sách đặc biệt đó, nếu có thêm chữ ký, triện son của tác giả và của nhà xuất bản, lập tức giá thành của nó cao ngất ngưỡng và cũng là niệm tự hào của người sở hữu.

Chưa hết, với một quyển sách mà mình yêu thích, người Sài Gòn còn có thói quen đóng bìa cứng, mạ chữ vàng trên bìa và gáy sách. Rồi lật vào trang đầu tiên, ta đã thấy có đóng dấu đỏ tươi như: “Tủ sách gia đình của…”. Dù là sách phát hành rộng rãi nhưng qua tay người yêu sách ắt nó có thêm một diện mạo khác nữa. Và cần nhấn mạnh thêm rằng, với người “có ăn có học”, họ quan niệm rạch ròi, vị trí đẹp nhất ở trong nhà, nơi phòng khách chẳng hạn, không phải là tủ rượu Tây, Tàu loạn xạ mà chính là sách được xếp ngăn nắp, đâu ra đó. Bởi vì rằng, nhìn các gáy sách khi xếp trang trọng trên kệ sách, tự nó đã là một sự mỹ thuật khó gì có thể sách nổi.

Thêm một điều này nữa, mà theo tôi là nó hình thành từ tính cách “chịu chơi” của người Sài Gòn: Khi bạn bè ra mắt sách, tổ chức giao lưu  cùng bạn đọc thì các thân hữu luôn có mặt chung vui cùng hoa tặng. Họ tự nguyện mua sách và xin chữ ký của bạn làm kỷ niệm. Lại có người mua với giá cao hơn nhiều lần, như một cách bồi dưỡng thêm phần “nhuận bút” dành cho tác giả. Thái độ ấy đã có từ lâu, nay vẫn còn tồn tại. Qua đó, ta còn có thể nhìn ra một nét văn hóa trong phép ứng xử về sách từ độc giả của vùng đất phương Nam giàu nghĩa, nặng tình”.

Sở dĩ viết câu cuối, vì nhớ chừng mươi năm trước, lúc y ra mắt tập trường ca Hành trình của con kiến tại Quán hát với nhau Dòng thời gian của anh Nguyễn Ngọc Thành, có một đồng nghiệp - nhà thơ Đặng Nguyệt Anh đã mua tập sách với một giá cao ngất. Như một lời chúc mừng. Cảm động lắm. Rồi mới đây, ngày 22.3.2016 ra mắt Có một mầm hoa đã nhú dưới tro tàn, Ngày viết mỗi ngày, chị Kim Phụng - giám đốc Công ty phát hành Trường Phát cũng tặng một lẵng hoa thật to và có nghĩa cử tương tự.

Nhẹ nhàng mà sống. Nhẹ nhàng mà vui.


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 25.3.2016

PDF.InEmail

ghenh2-4383-1458607795

Cầu Ghềnh ngày xưa. Ảnh: Panoramio

 

Có mấy thông tin cần ghi lại:

“Theo thông tin ban đầu, khoảng 11 giờ 35 ngày 20.3, tàu kéo mang biển số SG 3745 do tài công Trần Văn Giang (36 tuổi, ngụ Bạc Liêu) điều khiển, kéo theo sà lan biển số SG 5984 chở khoảng 600 tấn cát từ Long An về hướng Đồng Nai đã đâm vào mố số 2 của cầu Ghềnh. Cú đâm mạnh đã làm nhịp 2 bị rơi xuống sông hoàn toàn, nhịp 3 thì đầu nam rơi xuống sông, đầu bắc rơi gác lên mố cầu số 1. Sự cố làm cắt đứt đường lưu thông huyết mạch trên tuyến đường sắt bắc - nam. Riêng chiếc sà lan bị lật úp trên sông” (Báo Thanh Niên ngày 21.3.2016).

Nhân sự kiện này, đọc lại Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển (NXB Đồng Nai - 1998). Tập sách này do Ban Chỉ đạo Lễ Kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai biên soạn, vì thế đáng tin cậy. Cầu Ghềnh, còn gọi cầu Gành dài 223m, do Hãng Eiffel thiết kế vào năm 1903, cùng lúc với cầu Rạch Cát, thuộc thành phố Biên Hòa - là 2 cây cầu bắt qua sông Đồng Nai dẫn vào Cù lao Phố. Ngày 14.1.1904, đoạn xe lửa Sài Gòn-Biên Hoa thông xe, ít lâu sau tàu chợ chạy hàng ngày. Dần dà, tuyến đường xa hơn, đến năm 1936, đường sắt mới nối thông Sài Gòn - Hà Nội. Hãng Eiffel cực kỳ nổi tiếng này, còn để lại trúc sư Gustave Eiffel (1832 - 1923, người thiết kế tháp Eiffel), cùng với 2 công trình kiến trúc cầu khác ở Việt Nam là cầu Long Biên (Hà Nội) và cầu Tràng Tiền (Huế).

Tại sao báo chí đưa tin cầu Ghềnh, nhưng tập sách trên lại viết cầu Gành? Nguyên do tại làm sao?

Câu hỏi thú vị này, học giả An Chi trả lời: “Trước nhất xin nói về quan hệ “bà con” giữa “ghềnh” và “gành”. Họ là ruột thịt nhưng cụ Gành là bậc tiền bối còn thằng Ghềnh thì chỉ là đứa sinh sau đẻ muộn. Chuyện này có thể thấy được qua mối quan hệ từ nguyên giữa các vần ANH ↔ INH ↔ ÊNH – mà chúng tôi từng nói đến - trong đó ANH > INH > ÊNH”. Và:  “Gành - một một từ Việt gốc Hán “chỗ lòng sông thu hẹp và nông khiến cho dòng nước bị dồn lại nên chảy xiết” (Từ điển từ ngữ Nam Bộ của TS Huỳnh Công Tín). Ngày nay, trong tiếng Việt văn học và tiếng Việt toàn dân thì nó đã biến thành ghềnh (trong thác ghềnh) nhưng trước đó thì nó là ghình như còn có thể thấy trong phương ngữ Nam Bộ:

Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi.

(Nhiều tác giả đã không ý thức được về đặc điểm của phương ngữ nên đã tự động đổi ghình thành “ghềnh” nhưng “ghềnh” thì đâu có vần “ngon lành” với “đinh” ở câu trên). Trở lên chúng tôi đã nói về diễn tiến “gành > ghình > ghềnh”, để qua đó mà khẳng định rằng gành là bậc ông bà chứ ghềnh thì chỉ là hàng con cháu mà thôi. Gành là một cái tên cúng cơm xưa hàng trăm năm mà dân chúng trong vùng đã đặt cho cây cầu xấu số đã gãy đổ. Vậy các nhà báo, nhà truyền thông có nên sỗ sàng đổi tên của nó thành “Ghềnh” hay không?”.

Để có câu trả lời, ông An Chi dẫn bài báo “Cầu Ghềnh dấu tích trăm năm” (Báo Tuổi trẻ online ngày 18.8.2011: “Giám đốc Bảo tàng tỉnh Đồng Nai Lưu Văn Du cho biết qua tìm hiểu người dân ở cù lao Phố vẫn gọi là “Gành” chứ không phải “Ghềnh”. “Ghềnh” có thể sau này người ta phát âm trại ra chứ dân cù lao dứt khoát gọi là “Gành”. Theo ông Du, ở dưới vùng hạ lưu của cầu Ghềnh có những gành đá nên người xưa có thể từ đó mà gọi là “Gành”. Tuy nhiên, đến nay “Gành” hay “Ghềnh” vẫn chưa tìm thấy một dữ liệu nào để khẳng định chuẩn xác.” Ông giám đốc Bảo tàng còn dè dặt khi nói “vẫn chưa tìm thấy một dữ liệu nào để khẳng định chuẩn xác” nhưng dữ liệu ở ngay cửa miệng của người dân chung quanh chứ ở đâu. Xin hãy đọc, cũng trong bài báo đã nêu:

“Khi nghe chúng tôi hỏi gọi cầu Gành với cầu Ghềnh thì từ nào chuẩn xác, vợ chồng ông Chín (là người được hỏi han - AC) cười: “Dân cù lao hồi xưa tới giờ gọi cầu Gành không à. Gành là gành đá nổi lên ở gần cầu thời đó nên dân mới gọi như vậy. Nói với dân cù lao mà gọi cầu Ghềnh thì người ta cười chết!”. Ta nên nhớ rằng, ở đây, Gành không còn là danh từ chung nữa, mà là danh từ riêng, là địa danh. Đối với địa danh, nhân danh, ta không thể tự tiện hoặc sỗ sàng thay thế nó bằng biến thể ngữ âm (của nó)”.

Phải nghiêng mình một lần nữa thán phục ông An Chi. Giải thích rõ ràng, đâu ra đó. Học thêm một chữ. Hiểu thêm thêm một chứ. Tự nhiên, thấy trong lòng vui thêm một chút. Rồi ghi thêm thông tin này nữa:

Nhà thơ Hoài Khanh đã qua đời 2g30 ngày 23.3.2016, ông tên thật là Võ Văn Quế, quê quán tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Từ năm 1957, ông đã in tập thơ Dâng rừng. Sau đó là các tập thơ: Thân phận, Lục bát, Gió bấc - trẻ nhỏ - đóa hồng và dế. Về văn, ông có tập truyện Trí nhớ hoang vu và khói. Ít ai biết, ông còn là người chủ trương nhà xuất bản Ca Dao. Phạm Công Thiện thỉnh thoảng rích thơ Hoài Khanh khi viết Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (1966). Có lẽ, đoạn thơ hay nhất của ông, nhiều người nhớ nhất vẫn là:

Rồi em lại ra đi như đã đến
Dòng sông kia vẫn cứ chảy xa mù
Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu.

Nhà sử học Tạ Chí Đại Trường - tác giả nhiều công trình nghiên cứu lịch sử có giá trị qua đời tại nhà riêng ở TPHCM vào lúc 4g sáng 24.3.2016. Gần đây, một loạt sách của ông được tái bản, xuất bản như  Những bài dã sử Việt, Người lính thuộc địa Nam Kỳ 1861 - 1945, Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802, và Thần người đất Việt. Trước đó, GS Lý Chánh Trung (ngày 13.3.2016), nhạc sĩ Thanh Tùng (ngày 15/3), Trần Lập (ngày 17.3.2016) cũng qua đời.

Ngày 24.3.2016, Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh lần IX được công bố. Đáng chú ý là Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh năm nay cũng chính thức tôn vinh vị danh nhân văn hóa là nhân vật tiếp theo được rước vào Dự án Tinh hoa Văn hóa Việt Nam thời hiện đại là nhà tân học, nhà báo, nhà văn, nhà chính trị Việt Nam đầu thế kỷ XX: danh nhân văn hóa Nguyễn Văn Vĩnh.

Sáng nay, đọc bài Dấu xưa Đồng Tháp Mười: Kỳ bí bia đá trấn thủy của tác giả  Ngọc Phan - Hoàng Phương in trên Báo Thanh Niên. Chi tiết này hay: “Với mục đích khai thác vùng Thiên Hộ, Phụng Thớt, năm 1895 Trần Bá Lộc (tức Tổng đốc Lộc) huy động dân phu vùng Cái Bè, Cai Lậy đào một con kinh chạy từ Rạch Ruộng đến Bà Bèo dài 47 cây số. Dân gian kể lại, khi phóng kinh Tổng đốc Lộc cầm ống nhòm ngồi trên chiếc ghe lườn trải chiếu bông, bắt dân kéo theo tầm ngắm của ông ta, rồi căn cứ vào dấu sậy đế, đưng, lác rạp xuống do ghe lướt qua mà cắm bông tiêu, chia từng đoạn ra đào. Kinh được đào bề ngang khoảng 3 - 4 thước”.

Một kiểu đào kinh độc đáo của người xưa ở Nam Bộ. Đọc Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hầu (NXB Hương Sen - 1972), ta còn biết thêm một chi tiết quan trọng không kém lúc cha ông ta dào kênh Vĩnh Tế năm 1822: “Để cho con kinh được ngay, người ta đợi lúc ban đêm, rẽ sậy rạch hoang, đốt đuốc trên đầu những cây sào cao rồi nhắm theo đường thẳng mà cặm. Muốn điều khiển những cây “sào lửa” ấy cho thật ngay hàng, người ta cầm một cây rọi to, đứng trên cao phất qua phất lại ra hiệu cho người cầm sào tìm đúng vị trí”. Trong suốt 5 năm tiến hành việc đào kinh, nhân lực đào kinh đã lên đến 80.000 người! Năm 1824, công trình hoàn thành, dòng kênh dài gần 98.300 m, bề ngang 50 m, sâu 6 m nối liền Châu Đốc đến cửa biển Giang Thành (Hà Tiên). Sự kiện vĩ đại này được ghi nhận trong Đại Nam nhất thống chí: “Từ đây đường sông mới lưu thông, việc biên phòng, việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô cùng”.

Trở lại với bài báo trên: “Khi con kinh hoàn thành vào tháng 7.1897, đích thân Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer xuống dự lễ khánh thành; dân gian gọi là kinh Tổng đốc Lộc. Từ năm 1918 - 1924, thực dân Pháp nhiều lần dùng xáng múc mở rộng nên còn gọi là kinh Xáng. Đến năm 1947, kinh Tổng đốc Lộc được đổi thành kinh Nguyễn Văn Tiếp, tên vị chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Mỹ Tho”.

Chiều rồi. Dừng tay thôi, không gõ phím nữa. Tuy nhiên cũng nên thòng thêm chi tiết này, đọc quyển hồi ký Xứ Đông Dương của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, lại thấy có một chi tiết lạ lùng về nhân vật Tổng đốc Lộc: “Ông ta muốn được chôn đứng gần sông, nên đã cho đào trước nhà một cái hố vừa với khổ người”. Tại sao? Rất tiếc viên Toàn quyền Đông Dương chỉ cho biết đến đó.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 8.3.2016

PDF.InEmail

 

quoc-oi-tho-1-R

 

Câu chuyện này hay: Lúc 14g55 ngày 4.3.2016, chiếc máy bay của hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific mang số hiệu BL590 từ TP.HCM cất cánh đi Đà Nẵng. Khi bay trên độ cao 10.000m, đột ngột hành khách Nguyễn Thị Ngọc Nga (26 tuổi, Duy Nghĩa, Duy Xuyên, Quảng Nam) ngồi hàng ghế 5E có biểu hiện đau bụng và chuyển dạ. Bác sĩ đỡ đẻ là Fiona Sutton Julia người Anh, tình cờ cùng đi chung chuyến bay, ngồi hàng ghế ngồi ghế 11D. Theo VnEpress: “Vì điều kiện ở trên máy bay thiếu thốn, Fiona không cắt dây rốn mà đặt em bé nằm trên bụng mẹ. 15 phút sau, máy bay hạ cánh. Mẹ con sản phụ được chuyển ngay đến bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng”. Ơn trời, mọi việc đều suôn sẻ. Đứa bé tốt số này được bố mẹ đặt tên ở nhà là Jetstar, khai sinh lấy theo tên cơ trưởng chuyến bay này là Xuân Đăng và được hãng Jetstar Pacific miễn phí 20 năm vé máy bay.

Một câu hỏi đặt ra: Sinh ra trên máy bay, khai nơi sinh là nơi nào?

Báo Tuổi Trẻ Online ngày 8.3.2013, ông Nguyễn Văn Vũ, trưởng phòng Hộ tịch Sở Tư pháp TP.HCM cho biết trường hợp bé Xuân Đăng là hy hữu và ngoại lệ so với các quy định hiện hành. Sau khi nêu các văn bản Nghị định, Luật Hộ tịch, câu trả lời được “gút lại” như sau: “Cụ thể, khi máy bay bay trên độ cao 10 nghìn mét qua nhiều tỉnh thành thì không thể xác định em bé sinh ra tại địa phận tỉnh thành nào. Vì thế nơi sinh của em bé nên là sân bay mà máy bay đáp xuống-chính là sân bay Đà Nẵng. Vì vậy đơn vị hành chính là phường, quận, thành phố nơi sân bay Đà Nẵng tọa lạc. Về cơ quan có thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ thì Luật hộ tịch quy định là UBND cấp xã nơi cứ trú của người cha hoặc mẹ thực hiện đăng ký khai sinh”.

Sực nhớ đến truyện ngắn Mây trắng còn bay của nhà văn Bảo Ninh.

Lúc chiếc TU bay qua vùng trời sông Bến Hải, một hành khách đã bày biện mâm cúng ngay chỗ mình ngồi vì “bữa nay giỗ thằng cả nhà tôi. Non ba chục năm rồi, bác ơi, tôi mới lên được đến miền cháu khuất”. Nhà văn viêt tiếp: “Bà cụ ngồi, lặng phắt, lưng còng xuống, hai bàn tay chắp lại, gầy guộc. Trên chiếc bàn gấp bày đĩa hoa cúng, nải chuối xanh, mấy cái phẩm oản và ba cây nhang cắm trong chiếc cốc thủy tinh đựng gạo. Một bức ảnh ép trong tấm kính cỡ bàn tay để dựng vào thành cốc. Cô tiếp viên vội đi tới. Cô đứng sững bên cạnh tôi. Không hề kêu lên, không thốt một lời, cô lặng nhìn. Máy bay vươn mình nâng độ cao vượt qua trần mây. Sàn khoang dốc lên. Cái bàn thờ nhỏ bé bỏng của bà cụ già hơi nghiêng đi. Tôi xoài người sang giữ lấy cái khung ảnh. Tấm ảnh được cắt ra từ một tờ báo, đã cũ xưa, nhưng người phi công trong ảnh còn rất trẻ. Khói nhang nhả nhè nhẹ, bốc lên dìu dịu, mờ mỏng trong bầu không khí lành lạnh của khoang máy bay. Những cây nhang trên trời thẳm tỏa hương thơm ngát. Ngoài cửa sổ đại dương khí quyển ngời sáng”.

Chi tiết của truyện ngắn này cảm động. Cảm thấy xốn xang. Nhà thơ Trần Đăng Khoa, khoảng đầu thập niên 1980 có in tập thơ Bên cửa số máy bay. Lại hỏi, người Việt Nam thấy được máy bay từ lúc nào? Đọc nhiều tài liệu được biết người Pháp tổ chức "Đại tuần lễ Hàng không tại Nam Kỳ" (Grande semaine d'Aviation) diễn ra tại Sài Gòn từ ngày 8 đến 18.10.1910. Phi công Van Den Borg (sinh năm 1874, cha người Bỉ, mẹ người Pháp) đã biểu diễn trên vòm trời Sài Gòn, cất cánh từ trường đua Phú Thọ.

Sau đó, chiều ngày 4.8.1913, lúc 17 giờ 3 phút lần đầu tiên hàng ngàn người hiếu kỳ thấy máy bay tung cánh trên bầu trời xứ Huế do phi công Marc Pourpe lái. Kế tiếp, ngày 6.8.1913, người Pháp đưa máy bay từ Huế vào Đà Nẵng. Tòa Đốc lý ra lệnh cho dân nhượng địa Đà Nẵng và dân từ các huyện, phủ Quảng Nam, thậm chí cả Hội An ngót ba mươi cây số cũng phải tập trung đi coi tàu bay tại bãi cát Lầu Đèn - nay là khu vực đường Trần Cao Vân chạy đến bờ biển Thanh Bình. Trong chuyên luận Người Quảng Nam, y có chép nguyên vẹn bài vè Coi tàu bay tại Lầu Đèn, nay trích đôi câu:

Ra về mệt mỏi tay chưn
Dầu mà có đói cũng thấy cái đời văn minh
Rùng rùng máy nổ thất kinh
Chiếc tàu cất cánh thình lình bay lên
 

Điều buồn cười là viên phi công Marc Pourpe sau đợt biểu diễn máy bay lại được đặt tên đường ngay trung tâm thành phố, nay đường Phan Châu Trinh (Đà Nẵng)!

Ai là người trước nhất khi xem máy bay mà nẩy hứng sáng tác thơ?

Chính Thượng thư bộ Công Nguyễn Hữu Bài (1863-1935). Tập Thơ Nôm Phước Môn in năm 1959 theo giấy phép của Bộ Thông Tin miền Nam, ông Nguyễn Thúc sao lục và chú thích, ông Thái Văn Kiểm viết tựa đã xác định điều đó. Phước Môn là bút danh của Nguyễn Hữu Bài. Câu cửa miệng phổ biến rộng rãi một thời: "Phế vua không Khả, đào mả không Bài”. Khả: Ngô Đình Khả phản đối vụ người Pháp truất vua Thành Thái; Bài: Nguyễn Hữu Bài phản đối ý định của người Pháp muốn đào lăng vua Tự Đức tìm vàng bạc đã chôn cất ở đó. Trong tập Thơ Nôm Phước MônVịnh tàu bay - gồm 4 bài thất ngôn bát cú, nay trích đôi câu để xem người xưa đã cảm nhận ra làm sao:

Ấy ai khôn khéo, lạ trong đời,
Chấp cánh mà bay để chúng coi.
Mới đó giập giằng vừa khỏi đất,
Bỗng đâu phất phới đã ngang trời.
Qua qua lại lại đều như ý,
Xuống xuống, lên lên rõ thực tời.

“Tời”: tài, phát âm theo giọng người miền Trung. Người phi công đầu tiên của Việt Nam là ai? Có phải là ông Đỗ Hữu Vị, con trai Tổng đốc Phương? Về nhân vật này, cứ cậy nhờ ông Google là xong tất. Đầy đủ thông tin. Đại khái, cứ theo Nam Phong tạp chí: “Quan ba” Đỗ Hữu Vị sinh năm 1884, tốt nghiệp “trường Võ quan Saint - Cyr” và tòng quân vào quân đội Pháp. Lúc bấy giờ máy bay mới phát triển tại Pháp, ông Vị là một trong những người đầu tiên bay vòng quanh nước Pháp. Khi máy bay hiệu Gaudron được đem ra thử nghiệm, Đỗ Hữu Vị cũng là người đầu tiên lái thử. Chẳng may, bay lên độ cao 300 mét thì máy bay rơi, nhưng thoát chết. Tuy nhiên, Đỗ Hữu Vị cũng chết trong cuộc giao chiến với quân Đức trong trận đánh vào làng Dompierre (trong Đệ nhất thế chiến). Được anh là “quan năm” Đỗ Hữu Chẩn đưa về cố quốc trên tàu Porthos và an táng tại Sài Gòn vào ngày 12.5.1920. Tuy nhiên, ít biết nhà thơ Tú Mỡ có bài thơ Phong thần Đỗ Hữu Vị, in trong tập Giòng nước ngược (NXB Đời Nay, 1934):

Người Nam Việt, quan ba họ Đỗ
Bước đầu tiên, cưỡi gió, đi mây
Gặp thời đại chiến Âu Tây
Đền ơn nước Mẹ bỏ thay sa tràng
Chết như vậy, chết vang, chết vẻ
Tiếng tăm còn ghi để sử xanh
Người ta kỷ niệm công lênh
Quyên tiền dựng ở Tây Ninh tượng đồng
Và, tuy bực anh hùng thuở trước
Là ông dân quý quốc Lang Sa
Người ta theo tục dân ta
Tâu vua phong sắc quan Ba thần hoàng
Để thờ phụng đền nhang bái lễ
Và xuân thu cúng tế rộn ràng
Hồn ông về ngự ngai vàng
Hồn thiêng chứng giám việc làng dân quê
Nhìn Xã Xệ, Nhiêu Khê, Lý Toét
Chiếu giữa đình tranh thịt tranh xôi
Thần linh phải đến sặc cười
Bỏ đình, bỏ đám tung trời mà… bay

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 6.3.2016

PDF.InEmail

scu-nho-minh-dang-tho-1R

 

Trên sân khấu tuồng, bao giờ cũng có thằng hề, thỉnh thoảng hắn “đế” đôi câu cho nhộn sàn diễn. Có thể câu “đế” ấy có chủ đích, đôi lúc tầm phào, lắm khi “thọc gậy bánh xe”, hoặc nhập vai ông to, bà lớn “cứ như thật” v.v… miễn sao khán giả cảm thấy sướng tai nên hào hứng, vỗ tay tán thưởng là được. Trong tập sách Hề chèo (NXB Văn Hóa - 1977), nhà nghiên cứu chèo Hà Văn Cầu, hề chèo có 3 loại căn bản: Loại hề đi hầu (hề áo ngắn) có hề gậy, hề mồi; hề tính cách; hề văn minh và hề cải lương. “Con người trong hề chèo trước đây thường là con người hết lối thoái, cùng đường, chửi vung lên cho hả, chửi đến mức không đoái đến bản thân mình” (SĐD, tr. XXX1). Tuy nhiên, lắm lúc các vở diễn, hề chèo lại quên béng thân phận của mình. Cứ tưởng mình là kẻ ăn trên ngồi trốc, có thế có quyền nhất cõi, do đó, mới xẩy ra lắm ngộ nhận phì cười.

Sống ở trên đời, đôi khi con người ta đang là vào vai hề chèo nhưng lại không ý thức được điều đó.

Ảo tưởng đó thôi. Mà nghĩ cho cùng, ảo tưởng mới chính chất men nồng nhiệt nhất của đời người, là chất liệu quý giá nhất của trần gian này. Không phải niềm tin hay lý tưởng. Niềm tin rồi có lúc mỏi mệt. Lý tưởng rồi có lúc nhận ra không phải là vậy. Vui sống ở đời, hồn nhiên vô tư và cảm thấy đáng sống hào hứng, cuồng nhiệt nhất là lúc còn có ảo tượng án ngự trong tâm hồn. Đến với nghệ thuật, con người ta cũng xây dựng cho nó những quy tắc nhằn vươn tới giá trị tốt đẹp nhất nhưng rồi, cuối cùng cũng ảo tưởng nốt. Nói thì nói thế, vẫn ghi lại những câu thật hay về nghệ thuật, dù nói về sân khấu tuồng, một loại hình nghệ thuật cụ thể nhưng ngẫm lại nó có thể mang tính khái quát chung cho sự sáng tạo của những ai muốn trở thành kẻ chuyên nghiệp với nghề. Mà kẻ chuyên nghiệp ấy, nghĩ cho cùng chỉ chàng Don Quijote. Đáng kính trọng, ca ngợi mà cũng đáng thương hại thay. Xin mở ngoặc, những câu trích này do Phan Lý Lệ Nhân sưu tầm, in trên tạp chí Non Nước số Xuân 2106. Đóng ngoặt.

"Câu đối của vua Minh Mạng (1820 - 1840) đề trước Duyệt thị đường:

- ÂM NHẠC TỊNH TRẦN, HÒA KỲ TÂM NHI DƯỠNG KỲ CHÍ

- NGHIÊM XUY TỀ HIẾN, THỦ KỲ THỊ NHI GIỚI KỲ PHI

(Âm nhạc cùng tấu lên, là nhằm điều hòa tâm hồn, bồi dưỡng ý chí

Cái tốt, cái xấu cũng được diễn ra là để giữ gìn điều phải, ngăn điều trái).

 

* Câu đối ở Từ đường Thanh bình (nhà thờ ngành hát bội ở Huế):

- HÀNH KỲ LỄ, TỐ KỲ NHẠC, CA TỰ THIÊN TU

- ĐÔN HỮU ĐIỂN, TỰ HỮU LUÂN, CƯƠNG THƯỜNG CHIÊU CHƯỚC

(Làm theo lễ, tấu theo nhạc, ca hát tự đây

Hòa có phép, hợp có khuôn, cương thường sáng chói).

 

- CỔ VŨ TUYÊN DƯƠNG, CÁ CÁ CỘNG ĐẮC TÂM ỨNG THỦ

- XINH CA XUẤT NHẬP, NHÂN NHÂN GIAO THÁO CỦ TUẦN QUY

(Trống múa vang lừng, mỗi người bụng nghĩ làm sao, tay đưa làm vậy

Ra vào nhịp hát, ai ai cũng theo đúng lề lối quy cũ).

 

- VẠN CỔ TỰ NGUYÊN ÂM DĨ VIỄN

- DO TẠI QUẦN TÀI TRƯỚC HẢO MINH

(Âm thanh cổ sơ ngày một khác xa, do nhiều tài năng trau chuốt để đi đến chỗ trong sáng).

 

* Câu đối của ông nghè Trương Hoài Thao tặng NSND Nguyễn Phẩm:

- CA XƯỚNG HỆ ĐA MÔN, TRỰC BẢ TRUNG LƯƠNG VI MỤC ĐÍCH

- VINH KHÔ THÀNH ẢO MỘNG, CHỈ TƯƠNG NGHỆ THUẬT TÁC SƯ TƯ

(Nghệ thuật hát diễn nhiều môn, mục đích tạo dựng con người trung lương.

Sướng khổ thành ảo mộng, đem nghệ thuật làm thầy cho cuộc sống).

 

* Câu đối của Đông y sĩ Đỗ Xuân Nghinh tặng Đoàn hát bộ bà Chánh Đệ:

- ĐỒNG TỨ NGŨ LỤC DANH, VIẾT THIẾT KỴ, VIẾT TAM QUÂN, KỲ CỔ HUYÊN TRUYỀN CHƠN KHÍ TƯỢNG.

- TRƯỚNG MÔN TAM TỨ BỘ, NHI TRƯỜNG THÀNH, NHI VẠN LÝ, Y QUAN LẪM LIỆT CHẤN OAI NGHI.

(Chỉ vỏn vẹn có 5, 6 chú hiệu, mà gọi là thiết kỵ, là ba quân, cờ trống vang rền, thật khí phách.

Với 3, 4 bức phông cảnh, mà xem như thành dài vạn dặm, cân đai áo mão, rõ oai nghi).

 

* Văn tế tổ ngành hát bộ tỉnh Quảng Nam:

- TỐ CHÂN DIỆN MỤC, TRỌNG GIẢ TINH KHÍ THẦN

- HẠ TỬ CÔNG PHU, CẦU HỒ THANH SẮC THỤC

(Biểu diễn chân thật, phải trọng tinh, khí, thần

Luyện tập công phu, để đạt được thanh, sắc thục).

 

- SẮC DUY SONG NHÃN HỰU SONG THẦN/ BIỀN TIÊN YỂU ĐIỆU THỊ THANH TÂN

KHỨ GIẢ HAO KHAI SONG CƯỚC HẠ/ LAI GIẢ HỒI HOÀN TỐNG THỊ XUÂN

Có sắc là đôi mắt phải có thần, nhanh nhẹn, uyển chuyển là vẻ đẹp thanh tân,

Bước đi phải như có hoa nở dưới chân, vòng lại vòng về đều mang vẻ xuân tươi tắn.

 

- PHÚ QUÝ, VINH HOA, ĐƯƠNG CỤC NHI HÀ PHÂN CHÂN GIẢ

- TRÍ NGU HIỀN PHÚ, ĐÁO ĐƯỜNG NHI LẬP KHÁN NGHIÊM CƯƠNG

(Phú quý, vinh hoa, phải thể hiện cho đúng cái thật, cái giả

Người hiền, người ngu, đến rạp xem mà có thái độ nghiêm chỉnh)


- QUAN VŨ THÍNH CA, NHỠN TIỀN TINH THẦN DỤC DƯỢC

- ĐẮC NGÔN VỌNG TƯỞNG, CẢM TÌNH CÂN NHƯ VŨ YỂM

(Xem múa, nghe hát bày ra trước mặt mà tinh thần sôi sục

Nghe được mà quên cả mình, tình cảm dạt dào như mưa lớn)


- THỐN THỔ THỊ TRIỀU ĐÌNH CHÂU QUẬN

- NHẤT THÂN KIÊM PHỤ TỬ QUÂN THẦN

(Mỗi tấc đất là triều đình, châu quận

Một con người là cả cha con, vua tôi)


- DĨ NHẤT NHÂN THÂN KIÊM THẾ SỰ

- TRẠO TAM THỐN TRIỆT TÚC BÌNH SINH

(Lấy thân mình gồm cả cuộc đời

Uốn ba tấc lưỡi đủ cả cuộc sống)

 

- THUNG DUNG ẨM TỬU, THIÊN BÔI TỬU BẤT TÚY NHÂN

- DŨNG LƯỢC DỤNG BINH, BÁCH CHIẾN BINH VÔ HUYẾT NHẪN

(Uống rượu thích thú, nghìn cốc rượu không làm say con người

Đánh giặc rất quyết liệt, trăm trận đánh không đổ tí máu).

 

* Câu đối treo trước rạp của Đoàn hát bộ Tân thành ban của NSND Nguyễn Lai, năm 1940:

- TÂN THỜI KHỞI CẢM XU TRÌ HẬU

- THÀNH SỰ DUY BẰNG TÁNG TRỢ ĐA

(Tân thời há dám chùn chân lại

Thành sự còn mong giúp sức nhiều)"

Những ngày này, vẫn đọc lai rai. Do chú tâm đến chuyện ngữ nghĩa tiếng Việt, vì thế, đọc luôn cả loại sách hướng dẫn viết làm sao cho đúng chính tả. Đọc xong mới rút ra kết luận: Rất khó viết đúng chính tả, dù các nhà ngôn ngữ học đã nhọc công, tận tình biên soạn, hướng dẫn viết đúng hỏi, ngã nhưng nói thật cũng cảm thấy rối như mớ bòng bong. Dù đã nắm được các quy luật nhưng than ôi cũng còn có ngoại lệ, chưa kể có những từ mà mỗi sách lại viết hỏi, ngã khác nhau.

Chẳng hạn, “duẫn” là tiếng Việt gốc Hán có nghĩa “Măng tre - Tre non - Cái cây ngang để treo chuông khánh”, cụ Đào Duy Anh giải thích trong Hán - Việt từ điển và viết dấu ngã. Thế nhưng vẫn có người sử dụng dấu hỏi, vậy “duẩn” là từ thuần Việt chăng? Nếu thế, “duẩn” nghĩa là gì? Thêm một thí dụ khác, phãng /phảng: “Công cụ có lưỡi bằng sắt to bản, được uốn cong ở phần cán, cán ngắn vừa tay cầm, dùng để phát cỏ ruộng” (Từ điển từ ngữ Nam Bộ - Huỳnh Công Tín). Nó viết dấu hỏi hay dấu ngã? Việt ngữ chánh tả tự vị (Lê Ngọc Trụ), Tự điển dấu hỏi, dấu ngã (Đào Văn Hội) viết dấu “ngã”, Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), Từ điển từ ngữ Nam bộ (Huỳnh Công Tín) viết đấu “hỏi”; các ông nhà văn, nhà thơ Sơn Nam, Quách Tấn cho rằng dấu ngã; nhưng ông Nguyễn Hiến Lê lại có lúc thừa nhận nó dấu ngã nhưng lại “viết bậy” dấu hỏi v.v… 

Thôi thì, để viết đúng chính tả có lẽ cách tốt nhất là cứ kè kè quyển từ điển bên hông, hễ cần là tra cứu. Ai chê dốt thì chịu, như thế, chắc ăn hơn.

Chà, còn nhiều dẫn chứng khác nữa. Chẳng hạn, trong tiếng Việt có những tiếng hai từ đi chung với nhau nhưng từ sau, ta không rõ nghĩa. Trong Việt ngữ nghiên cứu, nhà văn hóa Phan Khôi gọi “tiếng đệm”; nhà ngôn ngữ học Lê Ngọc Trụ gọi “tiếng đôi”. Có những tiếng tồn tại đến nay, không phải ai cũng rõ nghĩa: heo cúi, chùa chiền, hạch hỏi, đường sá, làng mạc, vườn tược, làm lụng, chơi bời, đất đai, tre pheo, gà qué, tiền nong, làm lụng, người ngợm, hút xách, chó má, hạch hỏi, phu phen, bếp núc, áo xống v.v…

Những từ đó, cả ông Phan Khôi và Lê Ngọc Trụ đều cho rằng nó có nghĩa, hoặc nó được “đệm” thêm dẫn đến một nghĩa khác có sắc thái khác. Tuy nhiên, cũng từ đó, nhưng cách giải thích lại khác nhau. “Chim chuột”: Chim là ve vãn, mà đồng âm với chim là con chim. Đệm chữ "chuột" là con chuột vào để tỏ ý phiếm và cũng có ý hài hước. Chữ chuột này ở đây mất cái nghĩa là con chuột đi, chỉ là tiếng đệm (Phan Khôi); “Chim chuột”: Do câu “điểu thử cộng vi thư hùng” = chim chuột cùng làm trống mái với nhau; trai gái phải lòng nhau (Lê Ngọc Trụ);

“Chó má”:  Chó má: Người Tầy gọi con chó là "tu ma", cái thành từ "chó má" của ta, tiếng "má" ấy có lẽ bởi tiếng "ma" của Tầy mà ra; có một số danh từ của Tầy giống của ta lắm” (Phan Khôi); nhà dân tộc học, ngôn ngữ học Nguyễn Bạt Tụy lại cho rằng: “má” gốc tiếng Thái cùng có nghĩa là chó” (dẫn theo Việt ngữ tinh nghĩa từ điển của Long Điền - NXB Hoa Tiên - 1952).

“Tre pheo”, Đại từ điển tiếng Việt giải thích “tre nói chung”; ông Phan Khôi cho rằng “pheo là một thứ tre xấu”; ông Lê Gia trong Tiếng nói nôm na: “Pheo, do chữ “phiêu” là nổi lênh đênh. Tre pheo: Bụi tre cao, gió thổi lắt lay”.

Chỉ mới vài từ thôi, đã thấy rắc rối. Chính vì thế, có những câu thành ngữ, tục ngữ đến này mỗi người hiểu một phách là lẽ thường tình. Dùi đục chấm mắm cáy/ Bầu dục chấm mắm cáy; chân đăm đá chân chiêu/ chân nam đá chân chiêu; râu ông nọ cắm cằm bà kia/ dâu ông nọ chăn tằm bà kia; vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm/ vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm; cao chạy xa bay/ xa chạy cao bay; ra ngô ra khoai/ ra môn ra khoai; lo sốt vó/ lo sút vó; tai vách mạch dừng/ tai vách mạch rừng; ôm rơm rặm bụng/ ôm rơm nặng bụng v.v… Câu nào mới đúng và hiểu thế nào là đúng? Trước mắt cứ ghi ra thế. Sau này, có dịp thì tìm hiểu thêm, bằng không cũng là những gợi ý nho nhỏ cho ai khác thích thì tìm hiểu sâu hơn. Thì thế, cứ viết nhì nhằng cũng là một cách giết cho xong cái thời gian của chiều ngày chủ nhật vậy. Ừ, tiện tay, ghi thêm một ai giải thích mới về từ ngữ có tính chất thời sự:

Sáng 4.3.2016, Bí thư Thành ủy TP.HCM Đinh La Thăng có làm việc với Học viện Cán bộ TP.HCM: “Trao đổi với Bí thư Thành ủy, TS Nguyễn Việt Hùng - phó bí thư Đảng ủy, trưởng Khoa Xây dựng Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Cán bộ TP.HCM chia sẻ: “30 năm làm việc ở trường này, tôi có kinh nghiệm là đào tạo hệ tại chức thì chất lượng sinh viên thấp. Chúng ta đang lạc hậu với chính mình. Thời phong kiến người ta có trường hậu bổ. Tức là đào tạo xong mới về làm quan còn nay cứ bổ nhiệm xong rồi chuẩn hóa. Nên tại chức là tại cái chức mà đi học thôi”.

Một định nghĩa mới về “học tại chức” nghe lọt tai quá. Hèn chi trước đây, có câu: “Dốt như chuyên tu, ngu như tại chức”. “Tại cái chức mà đi học” chứ đâu phải vì động cơ nâng cao trình độ, rèn luyện chuyên môn, mở mang tri thức… Vậy, lòng dạ đâu mà tiếp thu kiến thức? Lại nữa, trước kia có thành ngữ: Mua trấu bán tro; mua vôi củ, bán vôi bột; mua bò vẽ bóng; mua trâu bán chả v.v… có thể hiểu đại khái phê phán cách tính toán làm ăn, mua bán vụng về, kém cỏi, ngu ngốc nên bị thua đậm. Nay, có câu: “Mua ụ nổi, bán sắt vụn”, nếu nó phổ biến và tồn tại theo thời gian, vài đời sau nữa chắc gì ai đã nhớ là nó ra đời từ phi vụ “con tàu” Vinashin-Vinalines?

Vậy mới nghĩ rằng, các thành ngữ, tục ngữ đã hình thành từ xa xưa và tồn tại đến nay cũng vậy thôi, ta biết nghĩa đen, nghĩa bóng nhưng cụ thể nó ra đời trong hoàn cảnh cụ thể ra làm sao thì chịu.

Chiều rồi. Rồi cũng xong một ngày.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 4.3.2016

PDF.InEmail

 

gieo-hat-tho-le-minh-quoc

 

Những ngày này, mẹ đã về quê. Thế là tự cơm nước. Loay hoay bếp núc thế nào mà đã làm bể hết mấy cái tô, cái chén. Không gian bếp núc lúc có mẹ, gọn gàng, ngắn nắp, sạch sẽ là thế, “nhìn bếp biết nết đàn bà”, nay ngổn ngang như bãi chiến trường. Khổ nổi, trưa nào cũng phải về nhà, đã thành thói quen, phải ăn cơm rồi ngủ. Vì thế, nay tự loay hoay phải bếp với núc, phải nấu với nướng. Chẳng ra làm sao.

Trưa nay thức dậy, cũng như mọi ngày, vớ tay lấy những sách báo đang la liệt, lổn nhổn trên giường nằm. Tạp chí Thơ số 1&2.2016 lọt vào tầm tay. Số này in dày gấp đôi vì phát hành vào dịp Tết, nhưng nay mới nhận được. Nhà phê bình Hồng Diệu có bài viết Mười bài thơ chưa in của nhà thơ Xuân Diệu. In cả thủ bút của tác giả Gửi hương cho gió. Thích câu thơ này: “Lắm lúc nhìn em sững mắt anh/ Cám ơn em đã đón anh nhìn/ Anh nhìn như thể rơi con mắt/  Và cả thời gian cũng đứng im”. 10 bài thơ này Xuân Diệu viết trong khoảng năm 1973, và là quà tặng nhân ngày Hồng Diệu cưới vợ. Ngẫm cũng hay. Những quà tặng khác từ năm 1974, có lẽ đến nay chắc không còn mà còn giữ được bút tích này là quý lắm đây. Thế thì, lúc đám cưới nếu mời nhà văn, nhà thơ, nói tóm lại  ta cần họ tặng cái gì? Tiền tươi thóc thật, quà mua ngoài siêu thị hay những bút tích tác phẩm của họ? Y tự thế thôi, chứ làm gì còn có cơ hội nữa. Đừng có mà mơ.

Trở lại với mấy câu thơ trên, thích câu thứ 3: “Anh nhìn như thể rơi con mắt”. Một cách nói ấn tượng. Đọc một lần, nhớ mãi. Trước đây, từng sững người với câu ca dao: “Xa nhau đã mấy thu tròn/ Nhớ em, anh khóc đã mòn con ngươi”. Khóc đến độ mòn con ngươi, cách nói ấy, dịu vợi, mới mẽ, tài tình đến lạ thường. Nước chảy đá mòn. Nước mắt chảy dầm dề lúc khóc, dẫu khóc ngày đêm nhưng con ngươi cũng không thể mòn. Biết là thế, người đọc vẫn chấp nhận một cách nói đã chuyển tải trọn vẹn “tín hiệu” thương nhớ đến tột cùng. Lại nữa, còn có câu này: “Vách thành cao lắm khó dòm/ Nhớ em, anh khóc đỏ lòm con ngươi”. Đọc từ văn bản với chữ “dòm”, chắc chắn người đang khóc phải là cô gái Trung, Nam bộ.

Em là con gái Phú Nhi

Bánh đúc bỏ bị vừa đi vừa nhòm

Phú Nhi là là chuyên làm đồ gốm ở huyện Phúc Thọ (Sơn Tây). Đồng nghĩa với "nhòm/ dòm” còn có nhìn, liếc, ngó, coi, trông, nghía… Cả thẩy đều dẫn đến kết quả là thấy một cái gì đó, hoặc thấy rõ ràng, rõ mồn một; hoặc cũng có thể chỉ thấy thoáng quá.

Thử xem, ngoài “đỏ lòm” con có bao nhiêu từ chỉ sắc màu đỏ? Này nhá: đỏ chót, đỏ chói, đỏ cháy, đỏ loét, đỏ lưỡng, đỏ lói, đỏ lòe, đỏ lỏm, đỏ lỏn, đỏ hỏn, đỏ lừ, đở ngầu, đỏ nọc, đỏ ối, đỏ tươi, đỏ giọi, đỏ thắm, đỏ điều, đỏ au, đỏ gay, đỏ cạch, đỏ chạch, đỏ ửng, đỏ bầm, đỏ đắn, đỏ hoe, đỏ khè, đỏ khé, đỏ rần, đỏ quạch…; còn nữa: đỏ au au, đỏ hồng hồng, đỏ loen loét, đỏ chon chót, đỏ đòng đọc, đỏ như son, đỏ hon hỏn, đỏ quành quạch, đỏ như gấc, đỏ lòm lom…; vẫn còn nữa: đỏ như hoa vông, đỏ như râu ngô, đỏ gay đỏ gắt, đỏ như quả bồ quân, đỏ như mặt trời mọc, đỏ như đồng hun, đỏ lơ đỏ lưỡng v.v…

Vách thành cao lắm khó dòm

Nhớ em, anh khóc đỏ lòm con ngươi

Đọc đến câu này, sực nhớ đến câu khác:

Cá trong lờ đỏ hoe con mắt

Cá ngoài lờ ngúc ngắc muốn vô

Tạm liệt kê đến đây, tạm đủ chất liệu cho bài viết Lắt léo tiếng Việt khi bàn về ngữ nghĩa của màu đỏ. Đã đỏ ắt có đen. Lâu nay, câu thơ Kiều: “Tuồng chi hoa thải hương thừa/ Mượn màu son phấn đánh lừa con đen”. Hiểu thế nào về “con đen” trong câu thơ này? Không riêng gì cụ Đào Duy Anh, nhiều bản Kiều đã in đều giải thích: “Con đen: Chỉ người dân đen, người khờ dại, liên hệ với con đỏ hay xích tử chỉ người dân nghèo khổ trần trụi”. Trong ngữ cảnh của câu thơ trên, xem ra không hợp lý. “Hoa thải hương thừa”, ai cũng hiểu nhằm chỉ loại đàn bà con gái không ra gì, không còn tiết hạnh như bông hoa đã hết “date”, bỏ đi, chẳng ai thèm ngó ngàng gì tới nữa. Đã thế, còn mượn  màu son phấn để đánh lừa “người dân đen, người khờ dại” à? Vô lý, sao không đánh lừa kẻ giàu sang, phú quý, quyền cao chức trọng để kiếm chút cháo có hơn không, chứ với “con đen” thì được nước nôi gì?

Suy luận như thế có đúng không? Đúng lắm. Bằng chứng từ điển của ông Huình Tịnh Paulus Của giải thích: “Con đen: con ngươi, tròng đen”. Thế thì, “Mượn màu son phấn đánh lừa con đen” là đánh lừa con mắt nhìn của người khác, bất luận người đó là ai. Và nó cũng chẳng liên quan gì đến “con đen” theo nghĩa chỉ hạng dân nghèo hèn.

Tiếng Việt rắc rối quá.

Sáng nay, tranh luận với người bạn về địa danh chợ Cây Da Sà. Viết Sà hay Xà? Mà khổ nổi “sà” hay “xà” đều có nghĩa. Sà: nó được đặt tên là do nhánh da trĩu xuống, lả xuống, sà xuống; xà: có thể hiểu cây đa đó có nhiều rắn. Vậy đâu là đúng? Gọi điện thoại hỏi vài anh em, mỗi người trả lời một phách. Chỉ có cái điện thoại đã nối mạng internet, thôi, bèn nhờ cậy ông Google. Nào ngờ trên mạng cũng không thống nhất, “sà” và “xà” loạn xà ngầu.  Vì thế, bèn quay về nhà lật sách xem sao.

Rằng, phải “sà” mới là đúng.

1. Cây đa mọc ở chợ, (nên mới “chết tên” chợ Cây Da Sà), nếu nó nhiều rắn, chắc chắn thiên hạ đã đốn mất tiêu rồi, làm quái gì còn tồn tại nữa?

2. Đọc lại Gia Định phong cảnh vịnh của cụ Trương Vĩnh Ký (1882) có câu: “Cây da Thằng Mọi/ Coi bán đủ thuốc xiêm, cầu mít”, chú thích: “Cây da Thằng Mọi là chợ ở thân trong chợ Điều Khiển, thân ngoài Nước Nhỉ, đường vô Chợ Lớn”. Chợ ấy lối cây da có họ bán hình thằng Mọi bằng đất bưng thắp đèn”; lại còn thêm câu này nữa: “Trên cây Da Còm nỡ để ông già gùi đội” (chú thích: Chợ Da Còm, đường Chợ Lớn ra Bến Thành, chợ ở ngoài Chợ Dũi”. Nhưng tại sao gọi “Da Còm”? Cụ Trương Vĩnh Ký không giải thích. Bèn tìm đọc Sài Gòn năm xưa của cụ Vương Hồng Sển, có đoạn: “Chợ Da Còm tức là chợ nhóm dưới gốc một cây da nhánh còm, lá gie khòm xuống mặt đất” (SĐD, Khai Trí XB năm 1968-tr.142). Qua hai thí dụ trên, có thể rút ra: Từ những gì đã thấy, cụ thể từ hình thể của hai cây da trên mà người ta gọi luôn cho dễ nhớ. Chứ chẳng phải vì có “xà”, có rắn gì ở đây cả.

Nói quả quyết thế, vẫn chưa yên tâm, vì chỉ là sự suy luận. Bèn lật quyển Sài Gòn đất và người (NXB Tổng hợp TP.HCM - 2015) của anh bạn Nguyễn Thanh Lợi xem sao? Anh giải thích: Cây da ở đường Bà Hom (quận 6), trước mặt chợ Phú Lâm mới, vốn là cây da sà (da si, ngừa) bị đọc chệch thành cây da sà. Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Chấp, 75 tuổi, thư ký đình Nghi Hòa, ngụ cư đã 4 đời thì trước đây, ở gần ngã tư Cây Da Sà có một cây da tuổi ước mấy trăm năm. Cây da này rất lớn, đường kính cũng phải vài người ôm, tàng cây phủ rộng vài chục mét, có nhiều nhánh sà xuống. Trong đó, có một nhanh mà rễ cái của nó đường kính đến một người ôm. Bên dưới có ngôi miếu Ngũ Hành. Năm 1956, cây da này chết và ngôi miếu theo đó cũng sụp đổ (SĐD, tr.53).

Cách lý giải có khác nhau, nhưng rõ ràng gọi Cây Da Sà là chính xác. À, trên Google/ maps cũng ghi Chợ Cây Da Sà.

Tiếng Việt rắc rối quá.

Chiều hôm qua, đọc trên Facebook của anh bạn Vương Công Đức, tác giả Trảng Bàng Phương chí có thông tin này cũng lý thú không kém: “Tối qua, tình cờ xem bộ phim tài liệu "Lịch sử biển đảo VN" chiếu trên đài Truyền hình VTV2, phim có chạy chữ tiếng Anh dịch cho nội dung phim và phần phát biểu của ông anh thân thiết - nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Lợi diễn giải về phong tục thờ cúng Cá Ông ở Cần Giờ và Phan Thiết. Không biết nghĩ sao mà nhà đài VTV2 dịch chữ "xin keo" trong tập tục cầu khẩn thần linh của ngư dân ở Cần Giờ được sang tiếng Anh là "ask glue". Theo đó ask tức là xin, còn glue là keo, hay keo dán (chẳng hạn như keo dán sắt 502 vậy)! Thế chẳng khác nào xin keo có nghĩa là đi "xin miếng keo dán" vậy(?).

"Theo ý nghĩa chữ keo trong dân gian, keo có nghĩa đen là lần, lượt... ví dụ như "thua keo này, bày keo khác", hoặc có nghĩa đen khác: con keo tức miếng gỗ nhỏ; còn nghĩa bóng là cơ hội, sự cho phép... Vì vậy không biết các bạn giỏi tiếng Anh dịch như thế nào, chứ theo tôi nên dịch theo nghĩa cảnh là "ask a permission" hoặc "ask a chance"... (Nnói thêm: xin keo trong tập tục dân gian (thường làm ở đình, chùa, đền, miếu...) là việc cầu khẩn thánh thần cho phép làm một việc gì đó quan trọng bằng cách người xin cầm 2 miếng gỗ nhỏ có 2 mặt khác nhau tượng trưng Âm Dương tung lên rớt xuống, nếu một sắp một ngữa (một Âm một Dương) là đặng (được), còn nếu cả 2 cùng sắp (Dương) hay cùng ngữa (Âm) là không đặng. Riêng nếu cả 2 cùng ngữa thì có thể xin lại keo khác, vì thánh thần chưa rõ ta muốn gì hay thử thách sự kiên trì của người xin)".

Nhân đây, xin bổ sung, "xin keo" còn gọi "xin âm dương". Ngoài miền Trung, chẳng hạn, ở nhà y không dùng "2 miếng gỗ nhỏ có 2 mặt khác nhau tượng trưng Âm Dương", đơn giản hơn, chỉ dùng 2 đồng tiền kẽm ngày xưa, giữa có lỗ hình vuông, bôi vôi trắng  vào 1 mặt của 2 đồng tiền đó để sử dụng lúc "xin keo".

Tóm lại. Ơ hay, câu chuyện đang hay kia mà, sao lại "tóm lại"? Nhưng "tóm lại" cái gì vậy Q?

Thưa, bàn chuyện chữ nghĩa lằng nhằng trong trong lúc cà phê cà phê cà pháo, cà kê dê ngỗng, con cà con kê, tóm lại bao giờ cũng có sự lý thú của nó.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 8 trong tổng số 47

298
trinhduyson