TÁC PHẨM - DƯ LUẬN Nhận định

'Mẹ đã đi chợ về' của Lê Minh Quốc


Mẹ đã đi chợ về là tập tùy bút dày hơn 250 trang của nhà thơ Lê Minh Quốc, do NXB Trẻ ấn hành.

Tạm gác những thổn thức về tình yêu, những câu chuyện về các mối quan hệ trong gia đình, giữa tình chồng - vợ, cách ứng xử giữa đàn ông - đàn bà vốn là sở trường sáng tác trong các tác phẩm quen thuộc, nhà thơ Lê Minh Quốc lần này dành nhiều thời gian lắng đọng để nhớ về mẹ, về cha, về người anh, người chị đã mất.

 Những năm tháng cuối năm càng khiến anh cồn cào nhớ những giây phút ấm áp từng có bên người thân ruột thịt. Còn gì đau buốt hơn khi cha, mẹ, anh chị em ruột lần lượt bỏ ta lại cô đơn trên cõi đời này, phải gắng gượng sống tiếp trên đường đi vạn nẻo.

Lê Minh Quốc đã chọn cách viết, trút hết nỗi lòng vào từng con chữ như một cách níu giữ tất cả những gì ngọt ngào và thiêng liêng nhất của tình cảm với mẹ cha, với gia đình ruột thịt.

Xen kẽ các bài tùy bút là những bài thơ ngắn đầy xúc động của nhà thơ Lê Minh Quốc. Đọc Mẹ đã đi chợ về để cùng tận hưởng cảm giác ấm áp những ngày tháng có mẹ bên đời.

Lucy Nguyễn

(nguồn: Báo Thanh Niên ngày 29.1.2018)

trong-doc-dai-nho-me1Rtrong-doc-dai-nho-me2R(nguồn: Báo Tuổi Trẻ ngày 1.2.2018)


Mẹ đã đi chợ về: nỗi niềm trong dọc dài nhớ mẹ

TTO - Nhà báo Lê Minh Quốc vừa có một tập tùy bút thật đặc biệt mang tên Mẹ đã đi chợ về.

Tùy bút đặc biệt không chỉ ở nhan đề như một tiếng reo quen thuộc của bất cứ đứa trẻ thơ nào - Mẹ đã đi chợ về - mà gói ghém qua từng trang sách là biết bao nỗi niềm của đứa con với gia đình: mẹ, ba, và anh, chị.

Tập sách như một quyển nhật ký gia đình được hình thành qua sự mẫn cảm và tinh thần nâng niu từng mảnh ký ức của một người con là Lê Minh Quốc.

Chính điều đó đã khiến cho các trang viết về chuyện gia đình vượt thoát khỏi không gian riêng tư, nhập vào từng mảng miếng của quê hương, của chuyện đời.

Và thật nhiều trang viết dành cho người mẹ. Cảm xúc trống vắng khi người mẹ tác giả vừa giã biệt cõi đời như vẫn còn rất đậm trong tập sách này.

Không chỉ nâng niu kỷ niệm, trước sự ra đi không đột ngột mà vẫn ngỡ ngàng của người mẹ rất mực yêu thương, Lê Minh Quốc đã tỉ mẩn soạn lại những kỷ niệm về mẹ trong "tàng thư ký ức" của mình để góp thành tập sách, chọn nhan đề như tiếng reo hồi bé thơ của mình với mẹ, và gửi nó cho đời.

Những câu chuyện của một bà mẹ xứ Quảng được chính Lê Minh Quốc thuật tả qua nhiều tầng cảm xúc.

Có những chuyện từ hoài niệm về món ăn quê hương, có chuyện là cám cảnh trước hiện thực cuộc đời, ký ức và thời sự đan xen, chuyện mẹ ở quê và mẹ ở Sài Gòn quấn quít vào nhau, chuyện tàu lửa rút ngắn hành trình khiến cho khả năng "ngủ một đêm là được về quê" cũng trở thành cảm hứng để Lê Minh Quốc viết về quê, về mẹ.

Có nhiều chỗ tác giả tự đặt mình lùi xa khỏi ngôi thứ nhất để tự xưng bằng y, và thương nhất là lúc Lê Minh Quốc nhớ lại những món ngon mẹ nấu: món mì Quảng tự chế, ăn bánh tráng "kiểu quê mình", uống nước chè xanh mà như "uống cả non xanh nước biếc vào trong cuống họng"...

Và tất cả như một dọc dài những nỗi niềm không bao giờ dứt, như thể Lê Minh Quốc đã từ chuyện riêng của mẹ mình khéo léo đưa người đọc theo anh đến một "cảnh giới" dẫu đời thường nhưng an nhiên không dễ gì có được:

Tôi về ngoảnh lại Nghìn Sau Thấy lau sậy trắng bể dâu luân hồi

Bỗng nhiên tôi gặp lại tôi

Từ lòng mẹ bước Vào Đời an nhiên.

NGUYÊN TRỰC

meoingayay-nay-dau

(nguồn: Báo Phụ Nữ TP.HCM ngày 2.2.2018)

 

Rưng rưng đọc "Mẹ đã đi chợ về"


Trong cuộc đời vốn đầy bão giông, ai cũng có riêng mình một người mẹ hiền luôn chấp nhận những hy sinh, thiệt thòi để đong đầy tình yêu thương cho con cái.

Và với mẹ Lê Minh Quốc cũng vậy. Tuy nhiên, mẹ của anh hạnh phúc hơn người khác khi có đứa con là "dân văn chương" nên dễ trải lòng hiếu thảo ra trang giấy. Như chính Lê Minh Quốc thú nhận trong tác phẩm tùy bút "Mẹ đã đi chợ về" vừa ấn hành: "Viết về cha, với nhiều người là điều khó khăn, trong khi viết về mẹ dễ dàng hơn nhiều. Nhìn bóng cây sừng sững giữa trời đất, ít ai nhận ra vẻ đẹp uy nghi, an nhiên tự tại dám đối mặt với mưa sa bão táp. Cha vững như cây, mẹ như là rợp mát…".
Rưng rưng đọc Mẹ đã đi chợ về - Ảnh 1.

Điều đặc biệt nhất là những kỷ niệm với mẹ và gia đình, rất lạ, dù ở độ tuổi nào anh đều nhớ kỹ đến từng chi tiết. Anh viết về "những đêm mẹ lặng lẽ ngồi bên ngọn đèn dầu leo lét khâu, vá lại chiếc áo của anh Hai cho em. Chỉ tiếc trên túi áo một vết mực tím đã loang, mẹ giặt mãi vẫn không sạch. Mẹ lại bảo: "Anh Hai con học giỏi, con mặc áo anh Hai thì chắc là hên lắm đây…". Hay câu chuyện "trước lúc ở căn nhà trên đường Triệu Nữ Vương, thuở mới hồi cư về Đà Nẵng, ba mẹ ở chung với ông bà ngoại, dì, cậu trong khu nhà rộng… Nhớ về căn nhà ấy, trong lòng y luôn luôn nhớ về cái giếng nước ngay đầu sân nhà. Với y, tuổi thơ đã có những vạt mây trắng....". Cho tới khi đã trở thành đứa trẻ nhiều tuổi, anh vẫn muốn gần gũi với mẹ để học hỏi và chính mẹ anh trong những năm tháng quý giá cuối đời cũng chấp nhận vào Sài Gòn để cùng anh hủ hỉ sớm tối...

Nhà thơ tâm sự: "Được ở chung nhà với mẹ, nghe những câu chuyện kể với y cực kỳ lý thú, bởi lẽ cũng là một gợi mở để tìm hiểu về phép ứng xử của người Việt ngày trước... Âu cũng là một sự gắn kết của tình làng nghĩa xóm, bà con láng giềng trong dòng tộc".

Lê Minh Quốc từng là người lính chai sạn ở chiến trường nhưng về với đời sống thường nhật, anh lại là con người rất tình cảm. Năm lên 8 tuổi, anh đã có những câu thơ chân thành, mộc mạc nhưng nhói lòng về mẹ: "Mẹ dậy từ sớm tinh sương/Mưa rơi nặng hạt con thương vô cùng/Trong chăn con nghĩ mông lung/Mai sau xa cách vẫy vùng với ai/Mẹ tìm về chốn thiên thai/Quy y Đức Phật trên đài hoa sen"…để rồi bây giờ chính những dự cảm tuổi thơ đó lại trở thành sự thật: "Không gì bất hạnh hơn khi ta cài lên ngực đóa hồng/để suốt đời nhớ mẹ/dù thế nào ta cũng là đứa trẻ/một đứa trẻ cô đơn/suốt đời cô đơn".

Đọc những trang sách của Lê Minh Quốc, nhiều lúc con chữ cứ như nhòe đi, cảm động: "Rồi sáng ngày cuối cùng tiễn mẹ về nghĩa trang Hòa Sơn, lúc dừng lại làm lễ Tế đầu trung, anh em y thắp nén nhang. Khói nghi ngút bay… Lúc ấy đột nhiên lại thấy một con chuồn chuồn bay là đà ngay trước mắt, buột miệng kêu lên: "Mẹ đã về"...

Anh viết: "Trong tiếng Việt có một thành ngữ, dù không được dạy/học nhưng bất kỳ đứa trẻ nào cũng đã từng trải qua: "Chờ như chờ mẹ đi chợ về". Suốt đời y sẽ không thể nào quên được nỗi chờ đợi ấy".

Và ở cõi trần gian tạm bợ này, Lê Minh Quốc vẫn ngồi chờ, anh - đứa trẻ nhiều tuổi - luôn bị ám ảnh nỗi sợ hãi bởi câu nói "mẹ lượm con từ gốc mít", vẫn vò võ trong niềm tuyệt đối suốt đời, rằng ở đâu đó mẹ của anh vẫn đang đi chợ xa sắp về…

(*) "Mẹ đã đi chợ về", tùy bút của Lê Minh Quốc. NXB Trẻ vừa ấn hành

Lê Công Sơn

(nguồn: Báo Người lao động ngày 4.2.2018)


phunucietnam-me-da-di-cho-ve1R

Chia sẻ liên kết này...

 
 

NHÀ THƠ LÊ MINH QUỐC VÀ CUỘC HÀNH TRÌNH CHỮ NGHĨA

LEMINHQUOC-VA-HANH-TRINH-CHU-NGHIA-1-R

Chia sẻ liên kết này...

 
 

NHÀ THƠ LÊ MINH QUỐC ĐÃ RÚT VÀO LÀM THƠ BÍ MẬT?

 

leminhquocnguen_van_uybnaLê Minh Quốc & Nguyễn Văn Xuân (ảnh: Đoàn Thạch Biền)

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Nhà thơ Trương Nam Hương và Lê Minh Quốc vẫn 'tri âm' sau 30 năm

nhatho_xtnbleminh_quco

Nhà thơ Trương Nam Hương và Lê Minh Quốc

Chia sẻ liên kết này...

 
 

ĐOÀN TUẤN: LÊ MINH QUỐC - THƠ ĐẦY CÁNH VÕNG

 

mua-chinh-chien-ay-bia2Rweb

 

Đó là võng của Lê Minh Quốc. Một hôm, tôi sang chỗ Quốc chơi. Y đi đâu mà để võng treo toòng teng thế này? Thôi cứ nằm chờ, đợi Quốc về. Nhưng vừa ngồi vào võng, định ngả mình, tôi thấy lạ. Nhìn vào đầu võng, thấy toàn thơ là thơ. Nhìn xuống giữa võng, cũng thấy toàn thơ Quốc viết. Đầu kia cũng vậy. Hắn viết bằng bút bi nên chữ không nhòe, rất rõ. Tôi lật mặt kia của võng lên xem, lại cũng thơ Quốc viết đầy. Cái anh chàng này không có giấy hay sao mà phải viết thơ lên võng thế này?

Tôi ngả mình, định đọc. Nhưng cái màu xanh của võng, của chữ cứ tràn vào mắt, không thể đọc tiếp. Bài nọ nối bài kia. Có mấy bài đóng khung trang trọng. Còn thì tràn ra khắp võng. Tôi định nằm mà không dám. Ai lại nằm lên chữ. Ngồi càng không, vì Quốc đã viết đầy cả ra chỗ ngồi. Y này điên thật. Cuồng chữ hay sao? Chữ Quốc khá rắn rỏi, rõ ràng. Cũng có lúc Quốc chê chữ mình, nhọn như hàng rào. Nhưng tôi thấy chữ Quốc rất có duyên, nhất là những nét móc, cong cong rất điệu đàng, ra dáng nghệ sỹ.

Cả sư đoàn mấy ngàn người lính, hay thậm chí ngay ở Anlong Veng này, đi phối thuộc cùng tiểu đoàn tôi, nào lính trung đoàn (thông tin, trinh sát, vận tải,...), nào lính sư đoàn (trinh sát, vận tải, công binh,...), nào lính quân khu, binh chủng (không quân, tăng - thiết giáp,...), nhưng tôi cũng chưa thấy ai say mê chữ nghĩa như Quốc. Thật lạ lùng, lính Đà Nẵng cũng có nhiều trong đơn vị, nhưng Quốc có vẻ đặc biệt. Không hầm hố liều lĩnh như Lâm “gù”, không ngang tàng như Võ Đình Chiến, không ủ ê rầu rĩ như Mai “sầu”, không ngoan ngoãn như Trần Tuấn Bảo, không to con như Trần Viết Hường, không đẹp trai như Lai báo vụ E, song ở Quốc, toát lên vẻ chữ nghĩa đầy mình. Mặc dù Quốc gầy nhẳng, nhưng bộ khung xương khá to nên nhìn không thấy yếu lính.

Những bài thơ ấy, Quốc viết gì? Tôi ngửi thấy từ cánh võng bốc lên tầng tầng lớp lớp bụi đỏ dọc những con đường xuyên qua Mondulkiri, xuyên qua Ratanakiri. Tôi cảm thấy mùa mưa Tây Nguyên ầm ào đâu đây. “Con suối Đắc Đam đã trở thành kỷ niệm/ Ai thương tôi ngày mưa chiều cuối năm?”. Rồi những mùa khô cao nguyên, mênh mang trời đất, nồng nàn tuổi trẻ. Đêm nào Quốc trốn gác, vào xem mấy em Ê-đê, Bana để ngực trần giã gạo? Những bầu vú mập tròn cong vút núng nính dưới trăng? Thơ Quốc viết về lần đào ngũ vì nhớ Đà Nẵng, nhớ người yêu. Khi lên đơn vị, có mẹ đi cùng. Mẹ giao Quốc lại cho đơn vị. Thơ Quốc viết về cuộc chia tay một thằng bạn: “Giã từ mày nhé, Đăng Lâm/ Mùa mưa năm ấy mưa dầm An Lung”. Thơ Quốc viết có đôi giày há mõm, mòn vẹt:  “Một ngày đi ba mươi cây số chưa được nghỉ”. Thơ Quốc viết về nỗi buồn lính chiến:  “Nửa đêm thức dậy nhớ nhà/ Bỗng ôm mặt khóc như là trẻ con?/ Campuchia nhớ mỏi mòn/ Nhớ thương trong tận đáy hồn viễn chinh”.

Tôi giở võng Quốc, cầm võng Quốc đọc như mở trang báo giữa rừng, thơ Quốc thấm vào tôi những lời nhắn gửi lắng sâu: “Em ở nơi xa làm sao biết được/ Nghĩa địa An-lung trong huyện Choăm-Ksan/ Người chết rồi còn lắm nỗi gian nan/ Một quả mìn cho hai lần được chết...”. Tôi đã đọc, đã thuộc ở võng rất nhiều, rất nhiều những vần thơ trận mạc của Quốc.

Một người lính như thế, nhỡ chết đi thì tiếc biết bao! Quốc không bao giờ nói, rằng mình đã làm thơ từ tuổi hoa niên, với rất nhiều thơ thiếu nhi đăng trên báo Sài Gòn trước 75. Có lẽ Quốc sợ cán bộ chính trị và anh em nghi kỵ, rằng mình đã công tác với chế độ cũ hay sao mà giai đoạn tinh khôi, trong sáng ấy ít được Quốc kể? Mà kể ra làm gì? Khi xung quanh lính tráng chết đầy, khi xung quanh anh em đang vào sinh ra tử? Mà kể ra làm gì, khi ký ức tuổi thơ non xanh ấy có làm dịu không khí sắt thép đầy mùi thuốc súng của chiến trận?

Và có lần, Quốc đã suýt chết. Ấy là một buổi sáng, Quốc cùng Nhân, Á, Hạnh đi tuần. Đi ngay trên con đường mòn gần đơn vị. Con đường này, hàng ngày chúng tôi vẫn đi qua, để lên Cam- tuất gùi đạn, gùi gạo. Quốc phải ra đường sớm. Đi kiểm tra xem có mìn không? Có địch phục không? Đang đi, Quốc vấp mìn. Nghe tách một cái, trái mìn bay lên ngang người Quốc, rơi bịch xuống. Quốc và Nhân đi gần nhau. Cả hai bị bất ngờ, vội lăn ra. Mặt tái xanh. Tim đứng lặng. Chờ nghe mìn nổ. Nhưng mãi không thấy. Hai tên bò dậy, thấy quả KP2 xanh lè, nằm ngay bên mình. Còn nguyên. Nhìn kỹ, thì ra quả mìn bị cài kíp ngược. Chắc thằng địch cài mìn vội vàng, nên đặt lộn kíp. Nếu nó đặt đúng, thì Quốc tiêu đời rồi. Trưa hôm ấy, tôi sang chỗ Quốc chơi. Quốc vẫn lặng im. Chắc chưa kịp hoàn hồn. Quốc còn sống, chắc nhờ âm phần che chở.

Nhưng trong chiến tranh, được nếm mùi sém chết, cũng là một hạnh phúc, đúng không? Để mình được nhìn mình, vừa đi qua ranh giới sự sống và cái chết thế nào? Và được nhìn bóng dáng thần chết lướt qua mình ra sao? Để mình được sống, trở về, nhìn mọi chuyện trên đời bằng con mắt bao dung, bình dị. Quý giá nhất, đó là được tiếp tục học hành, là được tự mình làm công việc mình yêu thích, đúng không? Và nữa, là được yêu, được che chở cho một gương mặt xinh xắn, một mái tóc mềm nép vào ngực mình. Vậy thôi. Còn những chuyện khác, như gió, như mây. Tự đến rồi tự đi.

Cái võng ấy, tiếc thật, không biết Quốc còn giữ được không? Và không biết Quốc có giặt không? Những dòng chữ ấy, những bài thơ ấy là minh chứng vĩ đại cho trái tim trinh nguyên của người lính tình nguyện. Một vẻ đẹp bất tử. Nếu chiếc võng ấy rơi vào tay địch, dù không biết chữ, nhưng tôi tin, kẻ địch chắc phải nhìn lại và nghĩ lại về người lính Việt Nam. Không cần tuyên ngôn này nọ, không cần pháo lớn súng to, chỉ cần chiếc võng đầy thơ cũng đủ khiến bọn địch kinh hãi. Nhưng chiếc võng ấy, vẫn treo toòng teng giữa rừng Anlong Veng. Mỏng manh. Thầm lặng. Dẫu chỉ mang đủ một người, nhưng có sức nặng biết bao nhiêu. Như một vầng trăng xanh giữa khói lửa chiến trường. Như một nhịp cầu nối nơi đây với thế giới bên ngoài. Và con người Việt Nam, ở bất cứ nơi đâu, trong bất cứ thời điểm nào, cũng có những người, như nhân chứng, như thư ký trung thành của thời đại, ghi lại những câu chuyện bằng văn thơ về năm tháng ấy, tại cánh rừng ấy, chúng tôi đã sống và chiến đấu như thế. Họ tìm mọi cách để kể. Như cách của Quốc. Khi đó, một chiếc võng không chỉ là một chiếc võng nữa, nó còn là minh chứng cho giá trị vô song của tâm hồn người lính.


Đoàn Tuấn

(nguồn: Mùa chinh chiến ấy - NXB Trẻ - 2017)

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC - Vẻ đẹp tiếng Việt

 

Vẻ đẹp tiếng Việt 

 

“Phong ba bão táp, không bằng ngữ pháp Việt Nam”, tác giả Lê Minh Quốc đã chứng minh điều này qua tập sách “Lắt léo tiếng Việt” mà ông đã dày công nghiên cứu, sưu tầm. Sách do NXB Trẻ phát hành quí II-2017.

Chia sẻ liên kết này...

 
 

“Có một mầm hoa đã nhú dưới tro tàn: Chiêm nghiệm, tỉnh thức

 

COMOTMAMHOA-BIA-1-R

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Trước trang giấy trắng

 

bao-lam-dong-1R

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Nhà thơ Lê Minh Quốc: Chữ nhiều nhờ yêu… khỏe

 

(Thethaovanhoa.vn) - Khó có thể tưởng tượng một gã đàn ông gần 60 tuổi như Quốc, mà “mỗi lần yêu là một lần suýt chết”. Bạn bè thân của Quốc cho biết, từ thời trẻ đến tận bây giờ Quốc đều yêu như thế.

1. Lê Minh Quốc được biết đến nhiều nhất trên tư cách nhà thơ (đã in 11 tập thơ) nhưng anh còn là tác giả của 6 tiểu thuyết, 14 cuốn tùy bút, 8 cuốn biên khảo. Từ đầu 2017 đến nay, anh đã ấn hành cùng lúc 6 cuốn sách trong đó có 1 tập thơ.

Nếu lấy mốc tập thơ đầu tay Trong cõi chiêm bao của Lê Minh Quốc được NXB Trẻ ấn hành năm 1989, thì trong gần 30 năm qua, anh đã in trung bình mỗi năm hơn 1 cuốn sách. Xét về lao động của người cầm bút, viết như thế đã là một “lực điền”.

le_minh_quocxxx


Nhà thơ Lê Minh Quốc

Năm 18 tuổi Quốc nhập ngũ cầm súng ở chiến trường Tây Nam. Bị địch bắt tưởng chết đến nơi thì đồng đội phá ngục cứu thoát. Ngoài thời gian đi lính và học đại học, Quốc chỉ làm một nghề duy nhất là viết: từ làm thơ, viết báo đến viết sách. Có thể nói, viết là nguồn sống ở nhiều nghĩa khác nhau trong Quốc.

Dù viết báo, làm thơ, biên khảo, tùy bút hay tiểu thuyết, Quốc luôn đau đáu về nghề chữ của mình. Thời hoàng kim của báo giấy, anh có nhiều năm làm phóng viên, rồi phụ trách mảng văn nghệ của một tờ báo. Quốc suy tư về nghề báo và nghiệp thơ: “Thời tôi sống nhà thơ đi viết báo. Để kiếm cơm hơn một chút danh hờ. Còn nhà báo lãng quên bao sự thật. Viết báo bằng trí tưởng tượng của thơ”. Những câu thơ này của Quốc phải được viết ra từ tấm lòng của người rất yêu nghề viết.

Trong tập tùy bút vừa ấn hành Trong tàn phai có nụ hồng thơm lên (NXB Hội Nhà văn và Phương Nam Books), những điều Quốc viết đã tạo thành một sự thật khiến người đọc đồng cảm và tìm thấy mình trong đó.

lat_leo_tieng_vietxxx

“Tiếng Việt lắt léo” - một tác phẩm vừa xuất bản của Lê Minh Quốc

 

2. Chị Nguyễn Hướng Dương (Giám đốc Thư viện sách dành cho người mù), người từng bị mất hai chân trong một tai nạn giao thông, đọc Trong tàn phai có nụ hồng thơm lên và cho biết: “Trang viết của nhà thơ Lê Minh Quốc làm tôi nhớ lại hồi nằm trong bệnh viện, suốt ngày tôi rầu rĩ, khóc lóc mỗi khi nhìn xuống hai chân đã bị cụt dưới gối”.

“Bỗng một hôm, khi đang ngập chìm trong nước mắt và oán than số phận, tôi chợt nghe một người bị cụt hai tay tới bả vai la lên: Cho tôi cụt chân giống cô này. Tôi mếu máo: Anh chế nhạo em đó hả. Anh nói chân thành: Em mất hai chân nhưng mai mốt gắn chân giả em sẽ đi được, chứ anh mất tay không làm được gì hết” - Hướng Dương nghĩ: “Thì ra mình cũng còn may mắn hơn nhiều người. Lê Minh Quốc chỉ ra cái nghệ thuật đối diện với những điều bất như ý: Cũng là một sự cố nhưng nếu nhìn nhận ở góc độ tích cực hơn, tự nó sẽ có cách hóa giải nhẹ nhàng”.

Bất kỳ ai trong đời sống này đều có những “điều bất như ý”. Quốc cũng có những “điều bất như ý” của riêng anh, trong đó có việc người mẹ già của anh bao năm trông chờ Quốc lấy vợ sinh con cho bà ẵm bồng. Thế nhưng, sinh một đứa cháu cho mẹ Quốc chưa làm được, phải chăng đây là di chứng của những ngày đi lính và bị tù ở chiến trường Tây Nam? Quốc đã “hóa giải” điều này khi anh dồn sức và trí “sinh nở” những cuốn sách như những đứa con tinh thần của mình.

Hỏi Lê Minh Quốc, chữ ở đâu mà anh viết nhiều thế? Quốc trả lời: “Chữ nhiều nhờ yêu… khỏe”. Vả vậy, chưa thấy ai yêu một cách đắm say, si tình, lụy tình, vật vã, hụt hơi như Quốc.

Tập thơ Yêu một người là nuôi dưỡng đức tin (NXB Hội Nhà văn và Nhà sách Văn Lang) của Quốc thể hiện điều này. Cả tập thơ dày hơn 200 trang được Quốc dành tặng một người phụ nữ; hay nói cách khác, tất cả hân hoan và đau khổ Quốc dành hết cho một người: “Có những ngày như vừa mới thôi nôi. Anh mong được gặp em thêm một chút. Đừng ngoảnh mặt đừng bỏ đi xa lắc. Anh vẫn còn bấu víu lúc đang mê”.

Có lẽ, yêu nghề viết và trong tình ái cũng cháy hết mình đã làm nên một Lê Minh Quốc như bây giờ!


Lê Minh Quốc “nói vậy nhưng không phải vậy”


Yêu một người là nuôi dưỡng đức tin, Trong tàn phai có nụ hồng thơm lên, Ngày sống đời thơ, Ngày đi trên chữ, Tình ta đang nhảy rockLắt léo tiếng Việt là 6 cuốn sách vừa ấn hành của Lê Minh Quốc.

GS-TS Ngôn ngữ học, NGƯT Nguyễn Đức Dân, nhận xét về cuốn biên khảo Lắt léo tiếng Việt (NXB Trẻ): “Phần lớn mỗi mục trong tập sách này đề cập tới một từ. Lấy nghĩa gốc của từ đặt cạnh những những nghĩa của từ đó trong những lối nói ví von, cách nói bóng nói gió, “nói vậy nhưng không phải vậy” hoặc trong những cách chơi chữ, dùng ẩn dụ, hoán dụ, thành ngữ, tục ngữ mà nghĩa bóng khác hẳn nghĩa đen thế là hình thành những lắt léo chữ nghĩa thú vị. “Mình ơi, tôi gọi là nhà/ Nhà ơi, tôi gọi mình là nhà tôi”. Vợ lại gọi là nhà. Thế là vui, là lắt léo”.

Hoàng Nhân

(nguồn: Báo Thể thao & Văn hóa - Thứ Ba, 23/05/2017 07:18 GMT+7)

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Lê Minh Quốc đa tài và đa tình

11-hinh-tap-tho-14928766300731r

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 1 trong tổng số 8

Việt Tuấn Trinh | www.viettuantrinh.com

trinhduyson