TÁC PHẨM - DƯ LUẬN Nhận định

Nhà thơ Trương Nam Hương và Lê Minh Quốc vẫn 'tri âm' sau 30 năm

nhatho_xtnbleminh_quco

Nhà thơ Trương Nam Hương và Lê Minh Quốc

Chia sẻ liên kết này...

 
 

ĐOÀN TUẤN: LÊ MINH QUỐC - THƠ ĐẦY CÁNH VÕNG

 

mua-chinh-chien-ay-bia2Rweb

 

Đó là võng của Lê Minh Quốc. Một hôm, tôi sang chỗ Quốc chơi. Y đi đâu mà để võng treo toòng teng thế này? Thôi cứ nằm chờ, đợi Quốc về. Nhưng vừa ngồi vào võng, định ngả mình, tôi thấy lạ. Nhìn vào đầu võng, thấy toàn thơ là thơ. Nhìn xuống giữa võng, cũng thấy toàn thơ Quốc viết. Đầu kia cũng vậy. Hắn viết bằng bút bi nên chữ không nhòe, rất rõ. Tôi lật mặt kia của võng lên xem, lại cũng thơ Quốc viết đầy. Cái anh chàng này không có giấy hay sao mà phải viết thơ lên võng thế này?

Tôi ngả mình, định đọc. Nhưng cái màu xanh của võng, của chữ cứ tràn vào mắt, không thể đọc tiếp. Bài nọ nối bài kia. Có mấy bài đóng khung trang trọng. Còn thì tràn ra khắp võng. Tôi định nằm mà không dám. Ai lại nằm lên chữ. Ngồi càng không, vì Quốc đã viết đầy cả ra chỗ ngồi. Y này điên thật. Cuồng chữ hay sao? Chữ Quốc khá rắn rỏi, rõ ràng. Cũng có lúc Quốc chê chữ mình, nhọn như hàng rào. Nhưng tôi thấy chữ Quốc rất có duyên, nhất là những nét móc, cong cong rất điệu đàng, ra dáng nghệ sỹ.

Cả sư đoàn mấy ngàn người lính, hay thậm chí ngay ở Anlong Veng này, đi phối thuộc cùng tiểu đoàn tôi, nào lính trung đoàn (thông tin, trinh sát, vận tải,...), nào lính sư đoàn (trinh sát, vận tải, công binh,...), nào lính quân khu, binh chủng (không quân, tăng - thiết giáp,...), nhưng tôi cũng chưa thấy ai say mê chữ nghĩa như Quốc. Thật lạ lùng, lính Đà Nẵng cũng có nhiều trong đơn vị, nhưng Quốc có vẻ đặc biệt. Không hầm hố liều lĩnh như Lâm “gù”, không ngang tàng như Võ Đình Chiến, không ủ ê rầu rĩ như Mai “sầu”, không ngoan ngoãn như Trần Tuấn Bảo, không to con như Trần Viết Hường, không đẹp trai như Lai báo vụ E, song ở Quốc, toát lên vẻ chữ nghĩa đầy mình. Mặc dù Quốc gầy nhẳng, nhưng bộ khung xương khá to nên nhìn không thấy yếu lính.

Những bài thơ ấy, Quốc viết gì? Tôi ngửi thấy từ cánh võng bốc lên tầng tầng lớp lớp bụi đỏ dọc những con đường xuyên qua Mondulkiri, xuyên qua Ratanakiri. Tôi cảm thấy mùa mưa Tây Nguyên ầm ào đâu đây. “Con suối Đắc Đam đã trở thành kỷ niệm/ Ai thương tôi ngày mưa chiều cuối năm?”. Rồi những mùa khô cao nguyên, mênh mang trời đất, nồng nàn tuổi trẻ. Đêm nào Quốc trốn gác, vào xem mấy em Ê-đê, Bana để ngực trần giã gạo? Những bầu vú mập tròn cong vút núng nính dưới trăng? Thơ Quốc viết về lần đào ngũ vì nhớ Đà Nẵng, nhớ người yêu. Khi lên đơn vị, có mẹ đi cùng. Mẹ giao Quốc lại cho đơn vị. Thơ Quốc viết về cuộc chia tay một thằng bạn: “Giã từ mày nhé, Đăng Lâm/ Mùa mưa năm ấy mưa dầm An Lung”. Thơ Quốc viết có đôi giày há mõm, mòn vẹt:  “Một ngày đi ba mươi cây số chưa được nghỉ”. Thơ Quốc viết về nỗi buồn lính chiến:  “Nửa đêm thức dậy nhớ nhà/ Bỗng ôm mặt khóc như là trẻ con?/ Campuchia nhớ mỏi mòn/ Nhớ thương trong tận đáy hồn viễn chinh”.

Tôi giở võng Quốc, cầm võng Quốc đọc như mở trang báo giữa rừng, thơ Quốc thấm vào tôi những lời nhắn gửi lắng sâu: “Em ở nơi xa làm sao biết được/ Nghĩa địa An-lung trong huyện Choăm-Ksan/ Người chết rồi còn lắm nỗi gian nan/ Một quả mìn cho hai lần được chết...”. Tôi đã đọc, đã thuộc ở võng rất nhiều, rất nhiều những vần thơ trận mạc của Quốc.

Một người lính như thế, nhỡ chết đi thì tiếc biết bao! Quốc không bao giờ nói, rằng mình đã làm thơ từ tuổi hoa niên, với rất nhiều thơ thiếu nhi đăng trên báo Sài Gòn trước 75. Có lẽ Quốc sợ cán bộ chính trị và anh em nghi kỵ, rằng mình đã công tác với chế độ cũ hay sao mà giai đoạn tinh khôi, trong sáng ấy ít được Quốc kể? Mà kể ra làm gì? Khi xung quanh lính tráng chết đầy, khi xung quanh anh em đang vào sinh ra tử? Mà kể ra làm gì, khi ký ức tuổi thơ non xanh ấy có làm dịu không khí sắt thép đầy mùi thuốc súng của chiến trận?

Và có lần, Quốc đã suýt chết. Ấy là một buổi sáng, Quốc cùng Nhân, Á, Hạnh đi tuần. Đi ngay trên con đường mòn gần đơn vị. Con đường này, hàng ngày chúng tôi vẫn đi qua, để lên Cam- tuất gùi đạn, gùi gạo. Quốc phải ra đường sớm. Đi kiểm tra xem có mìn không? Có địch phục không? Đang đi, Quốc vấp mìn. Nghe tách một cái, trái mìn bay lên ngang người Quốc, rơi bịch xuống. Quốc và Nhân đi gần nhau. Cả hai bị bất ngờ, vội lăn ra. Mặt tái xanh. Tim đứng lặng. Chờ nghe mìn nổ. Nhưng mãi không thấy. Hai tên bò dậy, thấy quả KP2 xanh lè, nằm ngay bên mình. Còn nguyên. Nhìn kỹ, thì ra quả mìn bị cài kíp ngược. Chắc thằng địch cài mìn vội vàng, nên đặt lộn kíp. Nếu nó đặt đúng, thì Quốc tiêu đời rồi. Trưa hôm ấy, tôi sang chỗ Quốc chơi. Quốc vẫn lặng im. Chắc chưa kịp hoàn hồn. Quốc còn sống, chắc nhờ âm phần che chở.

Nhưng trong chiến tranh, được nếm mùi sém chết, cũng là một hạnh phúc, đúng không? Để mình được nhìn mình, vừa đi qua ranh giới sự sống và cái chết thế nào? Và được nhìn bóng dáng thần chết lướt qua mình ra sao? Để mình được sống, trở về, nhìn mọi chuyện trên đời bằng con mắt bao dung, bình dị. Quý giá nhất, đó là được tiếp tục học hành, là được tự mình làm công việc mình yêu thích, đúng không? Và nữa, là được yêu, được che chở cho một gương mặt xinh xắn, một mái tóc mềm nép vào ngực mình. Vậy thôi. Còn những chuyện khác, như gió, như mây. Tự đến rồi tự đi.

Cái võng ấy, tiếc thật, không biết Quốc còn giữ được không? Và không biết Quốc có giặt không? Những dòng chữ ấy, những bài thơ ấy là minh chứng vĩ đại cho trái tim trinh nguyên của người lính tình nguyện. Một vẻ đẹp bất tử. Nếu chiếc võng ấy rơi vào tay địch, dù không biết chữ, nhưng tôi tin, kẻ địch chắc phải nhìn lại và nghĩ lại về người lính Việt Nam. Không cần tuyên ngôn này nọ, không cần pháo lớn súng to, chỉ cần chiếc võng đầy thơ cũng đủ khiến bọn địch kinh hãi. Nhưng chiếc võng ấy, vẫn treo toòng teng giữa rừng Anlong Veng. Mỏng manh. Thầm lặng. Dẫu chỉ mang đủ một người, nhưng có sức nặng biết bao nhiêu. Như một vầng trăng xanh giữa khói lửa chiến trường. Như một nhịp cầu nối nơi đây với thế giới bên ngoài. Và con người Việt Nam, ở bất cứ nơi đâu, trong bất cứ thời điểm nào, cũng có những người, như nhân chứng, như thư ký trung thành của thời đại, ghi lại những câu chuyện bằng văn thơ về năm tháng ấy, tại cánh rừng ấy, chúng tôi đã sống và chiến đấu như thế. Họ tìm mọi cách để kể. Như cách của Quốc. Khi đó, một chiếc võng không chỉ là một chiếc võng nữa, nó còn là minh chứng cho giá trị vô song của tâm hồn người lính.


Đoàn Tuấn

(nguồn: Mùa chinh chiến ấy - NXB Trẻ - 2017)

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC - Vẻ đẹp tiếng Việt

 

Vẻ đẹp tiếng Việt 

 

“Phong ba bão táp, không bằng ngữ pháp Việt Nam”, tác giả Lê Minh Quốc đã chứng minh điều này qua tập sách “Lắt léo tiếng Việt” mà ông đã dày công nghiên cứu, sưu tầm. Sách do NXB Trẻ phát hành quí II-2017.

Chia sẻ liên kết này...

 
 

“Có một mầm hoa đã nhú dưới tro tàn: Chiêm nghiệm, tỉnh thức

 

COMOTMAMHOA-BIA-1-R

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Trước trang giấy trắng

 

bao-lam-dong-1R

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Nhà thơ Lê Minh Quốc: Chữ nhiều nhờ yêu… khỏe

 

(Thethaovanhoa.vn) - Khó có thể tưởng tượng một gã đàn ông gần 60 tuổi như Quốc, mà “mỗi lần yêu là một lần suýt chết”. Bạn bè thân của Quốc cho biết, từ thời trẻ đến tận bây giờ Quốc đều yêu như thế.

1. Lê Minh Quốc được biết đến nhiều nhất trên tư cách nhà thơ (đã in 11 tập thơ) nhưng anh còn là tác giả của 6 tiểu thuyết, 14 cuốn tùy bút, 8 cuốn biên khảo. Từ đầu 2017 đến nay, anh đã ấn hành cùng lúc 6 cuốn sách trong đó có 1 tập thơ.

Nếu lấy mốc tập thơ đầu tay Trong cõi chiêm bao của Lê Minh Quốc được NXB Trẻ ấn hành năm 1989, thì trong gần 30 năm qua, anh đã in trung bình mỗi năm hơn 1 cuốn sách. Xét về lao động của người cầm bút, viết như thế đã là một “lực điền”.

le_minh_quocxxx


Nhà thơ Lê Minh Quốc

Năm 18 tuổi Quốc nhập ngũ cầm súng ở chiến trường Tây Nam. Bị địch bắt tưởng chết đến nơi thì đồng đội phá ngục cứu thoát. Ngoài thời gian đi lính và học đại học, Quốc chỉ làm một nghề duy nhất là viết: từ làm thơ, viết báo đến viết sách. Có thể nói, viết là nguồn sống ở nhiều nghĩa khác nhau trong Quốc.

Dù viết báo, làm thơ, biên khảo, tùy bút hay tiểu thuyết, Quốc luôn đau đáu về nghề chữ của mình. Thời hoàng kim của báo giấy, anh có nhiều năm làm phóng viên, rồi phụ trách mảng văn nghệ của một tờ báo. Quốc suy tư về nghề báo và nghiệp thơ: “Thời tôi sống nhà thơ đi viết báo. Để kiếm cơm hơn một chút danh hờ. Còn nhà báo lãng quên bao sự thật. Viết báo bằng trí tưởng tượng của thơ”. Những câu thơ này của Quốc phải được viết ra từ tấm lòng của người rất yêu nghề viết.

Trong tập tùy bút vừa ấn hành Trong tàn phai có nụ hồng thơm lên (NXB Hội Nhà văn và Phương Nam Books), những điều Quốc viết đã tạo thành một sự thật khiến người đọc đồng cảm và tìm thấy mình trong đó.

lat_leo_tieng_vietxxx

“Tiếng Việt lắt léo” - một tác phẩm vừa xuất bản của Lê Minh Quốc

 

2. Chị Nguyễn Hướng Dương (Giám đốc Thư viện sách dành cho người mù), người từng bị mất hai chân trong một tai nạn giao thông, đọc Trong tàn phai có nụ hồng thơm lên và cho biết: “Trang viết của nhà thơ Lê Minh Quốc làm tôi nhớ lại hồi nằm trong bệnh viện, suốt ngày tôi rầu rĩ, khóc lóc mỗi khi nhìn xuống hai chân đã bị cụt dưới gối”.

“Bỗng một hôm, khi đang ngập chìm trong nước mắt và oán than số phận, tôi chợt nghe một người bị cụt hai tay tới bả vai la lên: Cho tôi cụt chân giống cô này. Tôi mếu máo: Anh chế nhạo em đó hả. Anh nói chân thành: Em mất hai chân nhưng mai mốt gắn chân giả em sẽ đi được, chứ anh mất tay không làm được gì hết” - Hướng Dương nghĩ: “Thì ra mình cũng còn may mắn hơn nhiều người. Lê Minh Quốc chỉ ra cái nghệ thuật đối diện với những điều bất như ý: Cũng là một sự cố nhưng nếu nhìn nhận ở góc độ tích cực hơn, tự nó sẽ có cách hóa giải nhẹ nhàng”.

Bất kỳ ai trong đời sống này đều có những “điều bất như ý”. Quốc cũng có những “điều bất như ý” của riêng anh, trong đó có việc người mẹ già của anh bao năm trông chờ Quốc lấy vợ sinh con cho bà ẵm bồng. Thế nhưng, sinh một đứa cháu cho mẹ Quốc chưa làm được, phải chăng đây là di chứng của những ngày đi lính và bị tù ở chiến trường Tây Nam? Quốc đã “hóa giải” điều này khi anh dồn sức và trí “sinh nở” những cuốn sách như những đứa con tinh thần của mình.

Hỏi Lê Minh Quốc, chữ ở đâu mà anh viết nhiều thế? Quốc trả lời: “Chữ nhiều nhờ yêu… khỏe”. Vả vậy, chưa thấy ai yêu một cách đắm say, si tình, lụy tình, vật vã, hụt hơi như Quốc.

Tập thơ Yêu một người là nuôi dưỡng đức tin (NXB Hội Nhà văn và Nhà sách Văn Lang) của Quốc thể hiện điều này. Cả tập thơ dày hơn 200 trang được Quốc dành tặng một người phụ nữ; hay nói cách khác, tất cả hân hoan và đau khổ Quốc dành hết cho một người: “Có những ngày như vừa mới thôi nôi. Anh mong được gặp em thêm một chút. Đừng ngoảnh mặt đừng bỏ đi xa lắc. Anh vẫn còn bấu víu lúc đang mê”.

Có lẽ, yêu nghề viết và trong tình ái cũng cháy hết mình đã làm nên một Lê Minh Quốc như bây giờ!


Lê Minh Quốc “nói vậy nhưng không phải vậy”


Yêu một người là nuôi dưỡng đức tin, Trong tàn phai có nụ hồng thơm lên, Ngày sống đời thơ, Ngày đi trên chữ, Tình ta đang nhảy rockLắt léo tiếng Việt là 6 cuốn sách vừa ấn hành của Lê Minh Quốc.

GS-TS Ngôn ngữ học, NGƯT Nguyễn Đức Dân, nhận xét về cuốn biên khảo Lắt léo tiếng Việt (NXB Trẻ): “Phần lớn mỗi mục trong tập sách này đề cập tới một từ. Lấy nghĩa gốc của từ đặt cạnh những những nghĩa của từ đó trong những lối nói ví von, cách nói bóng nói gió, “nói vậy nhưng không phải vậy” hoặc trong những cách chơi chữ, dùng ẩn dụ, hoán dụ, thành ngữ, tục ngữ mà nghĩa bóng khác hẳn nghĩa đen thế là hình thành những lắt léo chữ nghĩa thú vị. “Mình ơi, tôi gọi là nhà/ Nhà ơi, tôi gọi mình là nhà tôi”. Vợ lại gọi là nhà. Thế là vui, là lắt léo”.

Hoàng Nhân

(nguồn: Báo Thể thao & Văn hóa - Thứ Ba, 23/05/2017 07:18 GMT+7)

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Lê Minh Quốc đa tài và đa tình

11-hinh-tap-tho-14928766300731r

Chia sẻ liên kết này...

 
 

NGUYÊN HÙNG: THƠ VỊNH LÊ MINH QUỐC

 

16425719_1877614445817121_6865594909995707293_n

Sợ đàn bà cả trong cõi chiêm bao

Ngày mai còn lại một mình tôi vẫn sợ

Tôi vẽ mặt tôi năm tháng xanh xao

Cô đơn gọi về nơi nào để nhớ!


Theo hành trình của kiến, tôi chạy theo thơ

Với chuyện tình danh nhân tôi ngồi soi hoá thạch

Làm báo, viết văn, ngày chợp mắt vài giờ

Lấy đâu sức yêu em nếu không còn cổ tích?

 

Gái đẹp trong anh mọi nơi mọi lúc

Đàn bà với anh như...sếp nữ báo nhà

Họ đâu phải đất bên ngoài Tổ quốc

E ngại gì mà không dám lân la?


Thơ:
- Trong cõi chiêm bao (NXB Văn Nghệ TP.HCM - 1989)
- Ngày mai còn lại một mình tôi (NXB Trẻ - 1990)
- Tôi vẽ mặt tôi (NXB Văn hóa Thông tin - 1994)
- Nếu không còn cổ tích (NXB Đồng Nai -1997)
- Đất bên ngoài Tổ quốc (in chung với Đoàn Tuấn - NXB Văn Học - 1998)
- Yêu em, Đà Nẵng (NXB Trẻ - 1999)
-Tôi chạy theo thơ (NXB Trẻ - 2003)
- Hành trình của con kiến (NXB Trẻ- 2006)

Văn xuôi:
- Về nơi nào để nhớ (NXB Văn Nghệ TP.HCM - 1991)
- Chuyện tình các danh nhân Việt Nam (NXB Tổng hợp TPHCM, 2017).
- Gái đẹp trong tôi (NXB Văn hóa Văn nghệ - 2010)

N.H
(nguồn: Facebook Nguyên Hùng)

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Lê Minh Quốc và tình yêu Đà Nẵng lạ lùng

 

leminhquocgiaoluucungbandoc_OLFE

Nhà thơ Lê Minh Quốc tại buổi ra mắt sách tháng 3.2016 Ảnh: P.H

Lê Minh Quốc và tình yêu Đà Nẵng lạ lùng

Phan Hoàng

 

Phố biển Đà Nẵng thơ mộng và đáng sống có rất nhiều người yêu thích. Nhưng yêu một cách say mê và lạ lùng như nhà thơ Lê Minh Quốc thì rất hiếm. Tình yêu Đà Nẵng không chỉ thể hiện trong thơ mà còn bàng bạc trên mọi trang viết của anh.

Hội sách TP.HCM lần thứ 9 mùa xuân 2016 đánh dấu sự ra mắt hai tập tạp bút khá “dày cơm” của Lê Minh Quốc, do Công ty văn hóa Phương Nam phối hợp Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành: Ngày viết mỗi ngày (dày gần 500 trang, khổ 15,5 x 13,5 cm) và Có một mầm hoa đã nhú dưới tro tàn (dày hơn 320 trang, khổ 13 x 20,5 cm). Thi sĩ gốc Đà Nẵng cũng đã có buổi giao lưu ra mắt sách sinh động tại hội sách, thu hút sự tham gia của nhiều đồng nghiệp và bạn đọc.

Hai tập tạp bút gồm gần 140 bài viết của Lê Minh Quốc với những đề tài khác nhau, từ chuyện sách vở xưa nay đến những sự kiện, nhân vật, kỷ niệm, ứng xử mang tính thời sự đời sống đương đại. Vừa đọc vừa đi vừa quan sát, chiêm nghiệm, Lê Minh Quốc cho thấy một sức nghĩ, sức viết “cường tráng” đáng nể và nghiêm túc về nghề nghiệp. Điều thú vị là trong phần lớn trang viết anh đều đặt để, đưa đẩy, liên hệ đến quê hương văn học của mình bằng một tình yêu khi nồng nàn say đắm, khi lặng lẽ suy tư đối với ký ức Đà Nẵng. Một tình yêu lạ lùng. Tất nhiên không chỉ ở văn xuôi, mà tình yêu ấy còn từng thể hiện sâu đậm trong thơ anh qua hàng chục tập thơ đã xuất bản.

“Chưa về tắm biển quê hương

cùng tiếng sóng bóng trùng dương chập chùng

xa quê giấc ngủ lưng chừng

chợt nghe sóng dội tận cùng chiêm bao”

Đã hơn 20 năm rồi tôi vẫn thuộc lòng bài thơ bốn câu lục bát ấy của nhà thơ Lê Minh Quốc, như một nỗi ám ảnh và như một sự sẻ chia. Đà Nẵng quê anh có biển. Phú Yên quê tôi cũng có biển. Và anh đã nói hộ giùm tôi cùng bao người “xa quê giấc ngủ lưng chừng” khác nỗi khắc khoải thương nhớ nơi chôn nhau cắt rốn, nhớ thương lời ru vĩnh hằng biển cả “sóng dội tận cùng chiêm bao”. Một nỗi nhớ, một tình yêu tưởng chừng bình thường nhưng chỉ có thi sĩ mới văn bản hóa thành hình ảnh đẹp nên thơ.

Mỗi nghệ sĩ đều có một quê hương văn hóa làm bệ phóng, nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo cho mình. Đối với nhà thơ Lê Minh Quốc, quê hương văn học chính là Đà Nẵng, cũng là nơi sinh thành nên anh, để từ đó anh bước đi, vượt qua bao thăng trầm, cả trên chiến trường ác liệt, đam mê và cật lực như gã lực điền dựng nên cánh đồng chữ nghĩa phong phú riêng mình. Và anh gọi quê hương văn học là “bến thơ”, như trong bài Gửi Đà Nẵng 1 anh viết:

“Nghìn năm sóng vỗ âm vang

Bến thơ tôi chính là bến sông Hàn”

Người sinh từ đất Quảng Nam - Đà Nẵng vào lập nghiệp ở Sài Gòn khá đông, trong đó có không ít nhà thơ, nhưng có lẽ không ai làm thơ về xứ sông Hàn nhiều như Lê Minh Quốc. Anh có nguyên một tập thơ Yêu em, Đà Nẵng xuất bản từ năm 1999, và càng về sau quê hương càng là nguồn cảm hứng thường trực trong thơ anh, bởi như anh tâm sự:

“Đà Nẵng nhập vào tôi và tan ra qua hơi thở

tan ra qua mạch máu

tan ra qua tiếng kêu run rẩy

đôi môi

em chính là sự sống của tôi”

(Lộc biếc)

Không chỉ là sự sống mà Đà Nẵng còn là nguồn thi hứng cho những trái tim chớm biết hẹn hò lứa đôi, trong ấy có thời tuổi xanh mơ mộng của anh:

“Hỡi thành phố lạ lùng như huyền thoại

Bất cứ ai hò hẹn trước cổng trường

Sẽ đều biết làm thơ để tặng người thương”

(Gửi Đà Nẵng)
Vì quá yêu Đà Nẵng mà Lê Minh Quốc có những phát hiện tinh tế, nhất là lúc ở giữa Sài Gòn anh chợt quay quắt nhớ quê:

“Chao ôi chú chuồn chuồn kim quái quỷ

Sao mày biết tao nơi đây

mà lại đến tìm?

Đà Nẵng - Sài Gòn

một ngàn cây số

Gặp nhau rồi sao cứ lặng im?”

Hồn nhiên và xúc động. Tôi tưởng tượng lúc Lê Minh Quốc đối thoại với chú chuồn chuồn kim, tâm hồn anh trong suốt như pha lê, và đó chính là thần thái đích thực của thi sĩ vốn có vẻ bề ngoài bụi bặm băm bổ “ruột bỏ ngoài da” này. Một cuộc đối thoại thuần khiết mang vẻ đẹp hướng thiện.

Cũng chính tình yêu quê hương mà Lê Minh Quốc còn đào sâu trong vỉa tầng văn hóa Việt phát hiện ra con trâu, con bò, cái cày, cái bừa, cái cối, cái chày… và cả cái giếng cũng ăn tết. Trong tạp bút Về quê ăn Tết anh có một đoạn văn rất hay và cảm động: “Tuổi thơ của tôi có những vạt mây trắng. Mây bay trên trời xanh lồng lộng bây giờ đã chìm khuất đâu đó trong trí nhớ, nhưng vạt mây từng soi bóng dưới giếng chắc vẫn còn. Giếng nhà ông ngoại. Cái giếng cũ kỹ ấy là một thời kỷ niệm khó quên. Nước trong vắt. Mỗi chiều, bà con láng giềng thường đến múc nước. Tình làng nghĩa xóm thân mật và gần gũi lắm. Trong tôi vẫn còn nghe vọng lên âm thanh của những chiếc gầu va vào thành giếng. Âm thanh của tuổi thơ nhiều mộng mị xa vời”.

Cái giếng cũ kỹ nhà ông ngoại của Lê Minh Quốc có thể sẽ biến mất theo thời gian. Nhưng cái giếng trong tâm tưởng lung linh qua từng con chữ thi sĩ thì tôi tin sẽ mãi mãi vẫn còn, như tình yêu lạ lùng của anh với quê hương không bao giờ phai nhạt.

 

leminhquoctinhyeu-dan-nang-da-lung-1R

P.H
(nguồn:Báo Thanh Niên 3.5.2016)

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC QUA CÁI NHÌN CỦA NHÀ BÁO PHẠM QUỐC TOÀN

dam-me-va-1-chu-tinn-h-1-RRbis

 

Nhà báo, nhà thơ, nhà văn Lê Minh Quốc (Báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh) là một người con xứ Quảng. Anh là một người rất đa tài và có nhiều tác phẩm xuất sắc.

Tôi quen thân Lê Minh Quốc mấy chục năm, từ thuở cầm chịch tờ Vũng Tàu Chủ nhật. Mấy năm nay ít có dịp gặp anh hàn huyên tình xưa nghĩa cũ, nhưng hai anh em hiểu nhau, vẫn thư từ, điện thoại cho nhau. Nhớ Lê Minh Quốc thì vào nhà sách “khuân” tác phẩm anh viết về đọc.

Lê Minh Quốc sung sức, viết khỏe; ngoài sáng tác thơ, hàng trăm bài báo, chuyên khảo, chuyên luận, năm nào anh cũng có dăm ba đầu sách, không lúc nào ngưng nghỉ. Anh là tác giả của 3.000 trang sách in thành 10 tập Kể chuyện danh nhân Việt Nam. Bộ sách này hơn 10 năm trước được Bộ GD&ĐT chọn làm sách tham khảo cho môn học lịch sử trong các trường THPT toàn quốc. Anh cũng là tác giả các cẩm nang: Hỏi đáp về báo chí Việt Nam, Giáo dục Việt Nam, Doanh nhân Việt Nam. Lê Minh Quốc còn là nhà viết tiểu thuyết lịch sử, với các bộ sách về Hoàng Hoa Thám, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Thái Học, Nguyễn An Ninh…

Lê Minh Quốc ở đâu, làm gì, cứ đọc nhật ký hằng ngày đều đặn trên trang thông tin điện tử cá nhân của anh là biết hết niềm vui và cả những việc chưa vui gắn với đời và nghề. Người ta viết nhật ký cho riêng mình đọc nỗi niềm riêng tư.

Lê Minh Quốc thì viết nhật ký cho thiên hạ đọc, thế mới khó! Mở cuốn Tình éo le mà lý oái oăm (NXB Phụ nữ) được xuất bản vào năm ngoái, lật từng trang sách, tôi thủ thỉ một mình: “Lê Minh Quốc viết “bợm”. Khá lắm Quốc ơi!”. Cuốn sách này tiếp nối cùng chủ đề các cuốn đã xuất bản vài ba năm trước của anh: Gái đẹp trong tôi, Tôi và đàn bà, Khi tổ ấm nhảy Lambada.

Lê Minh Quốc kém tôi chục tuổi, gia nhập quân đội vào năm 1977, có 5 năm làm lính Sư đoàn 307 đánh bọn diệt chủng Pol Pot trên chiến trường nước bạn Campuchia, cũng vào sinh ra tử lắm. Làm báo, anh là “hoa khôi” của Báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh.

Đàn ông mà lại đi làm báo cho phụ nữ đọc, gỡ rối chuyện tình duyên cho phái đẹp giữa một “rừng” đồng nghiệp nữ, không là “hoa khôi” thì là gì? Lê Minh Quốc sống độc thân mà sao viết về tình yêu - cuộc sống gia đình “bợm” đến thế. Chuyện về tình yêu đôi lứa, chuyện vợ chồng trong phòng kín được anh lý giải đâu ra đấy, đưa vào truyện ngắn, tiểu thuyết không chê vào đâu được. Thế mới kỳ tài!

Đọc Ngày trong nếp ngày (NXB Hội Nhà văn, 2015) của Lê Minh Quốc mới biết cuộc đời anh hình như chỉ có đi, đọc, ghi chép và viết. Anh yêu báo chí, sống bằng nghề viết, chứ chẳng làm gì thêm. Nói không ngoa, Lê Minh Quốc ngồi viết, đi viết, nằm viết mà khi ngủ, khi yêu cũng… viết.

Trang mạng của anh, xem kỹ có khác gì một tờ báo. Viết đàng hoàng, ngay ngắn, chững chạc, xây dựng và có tính định hướng ra phết. Gần 500 trang sách Ngày trong nếp ngày là những trang nhật ký, những trang làm nghề. Vốn sống được Lê Minh Quốc tích lũy mỗi ngày qua những trang nhật ký của mình trước khi anh kịp kết nối, hoàn thiện thành những tập bản thảo in thành sách. Đọc nhật ký của Lê Minh Quốc, ta thấy ngồn ngộn trong đó những chi tiết báo chí sống động tình éo le mà lý oái oăm.

Lê Minh Quốc cho biết, anh luôn cố gắng tìm tòi cách thể hiện mới để có thể chia sẻ từ việc làm đến suy nghĩ hằng ngày của riêng mình mà vẫn được bạn đọc tìm đọc. Còn Lê Minh Quốc trong Tình éo le mà lý oái oăm được nhà văn Ý Nhi lý giải: “Với Lê Minh Quốc, người phụ nữ là hiện thân của cái đẹp, là nguồn cội của tình yêu, là người sáng tạo thế giới và, cũng là người chịu đựng nhiều nhất những tai ách, những bất hạnh, những đau đớn của kiếp người. Tôi nghĩ, nếu không có tình yêu thương, không có nỗi cảm thông, không có sự hiểu biết và những trải nghiệm sống, Lê Minh Quốc khó viết nên những trang văn nồng nhiệt, tha thiết, có khi đắm đuối như vậy về một đề tài đã được nhiều người luận bàn”.

Trần Ngọc Châu trạc tuổi tôi, sinh trước Lê Minh Quốc gần một con giáp. Nhưng Trần Ngọc Châu và Lê Minh Quốc cùng là dân gốc Quảng Nam-Đà Nẵng, yêu văn thơ và báo chí. Tôi hỏi chuyện Trần Ngọc Châu về mấy cuốn sách của Lê Minh Quốc, Trần Ngọc Châu cười vui: “Lê Minh Quốc làm thơ hay, lý giải lịch sử có sức lôi cuốn, viết về cái chữ tình giỏi!”.

 

PHẠM QUỐC TOÀN
(nguồn: trích bài viết ĐAM MÊ VÀ MỘT CHỮ TÌNH -  Báo Đà Nẳng số 5706 ngày 23.4.2016)

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 1 trong tổng số 8

Việt Tuấn Trinh | www.viettuantrinh.com

trinhduyson