LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 1.1.2017

PDF.InEmail

 

nhat-ky-7.2017-le-minh-quoc

 

Đã bước qua năm 2017. Sáng nay, thức dậy sớm. Như mọi ngày. Bước ra đầu ngõ, mua một vài tờ báo. Số báo đầu năm lúc nào cũng vui tươi. Hoa khoe sắc thắm. Thiên hạ thái bình. Mọi âu lo, lo toan gì gì đó tạm gác lại cho số báo sau. Đọc tờ báo nọ, nói thẳng ra là tờ Tuổi Trẻ,  thích thú với bài báo “Câu” du khách bằng slogan. Đồng nghiệp D.Kim Thoa cho biết:

“Trang web du lịch của Vương quốc Anh Family Break Finder thu thập, cập nhật và sơ đồ hóa các khẩu hiệu (slogan) quảng bá du lịch của các quốc gia trên toàn thế giới bằng tiếng Anh. Từ dữ liệu này, người ta có thể nhận ra những xu hướng đặt slogan quảng bá du lịch tương đối phổ biến tại các quốc gia. Từ được dùng nhiều hơn cả: “beautiful” (đẹp, vẻ đẹp); ngoài ra, những từ khác cũng được ưa chuộng là experience (trải nghiệm), life (cuộc sống), discover (khám phá), heart (trái tim), simply (đơn giản)... Khẩu hiệu quảng bá du lịch của Việt Nam “Việt Nam - timeless charm” (Việt Nam - vẻ đẹp bất tận) cũng được liệt kê trong danh sách này”.

Sực nhớ đến cách đây chừng hơn mười năm, lúc ấy, slogan của báo nọ, “Bạn đường của hạnh phúc”; báo kia, “Đồng hành cùng việc làm của bạn” v.v… Tờ báo của y cũng tổ chức nội bộ thi viết câu slogan để in trên  tờ rơi quảng cáo. Câu được chọn là “Hãy khám phá Phụ Nữ”. Ai cũng khen hay, nào ngờ, ít lâu sau bị “thổi còi” cái rẹt. Ngẫm lại mới thấy cái khó của việc viết câu (slogan), theo báo trên là phải: “đủ sức hấp dẫn chỉ trong vài từ là thách thức lớn. Nước nào cũng cố gắng gây ấn tượng với du khách trước sức ép của sự hữu hạn ngôn từ”.

Chuyện chữ nghĩa năm châu bốn biển rất lý thú, nhưng rồi sự quan tâm thường trực, mỗi ngày chỉ gói gọn trong mỗi từ “Cái bếp”. Từ ngày mẹ về quê, chẳng mấy khi cái bếp đỏ lửa. Bếp tắt ngúm. Những lúc ấy lại nhớ về thời nhỏ dại, còn ở chung với ba mẹ và anh em tại Đà Nẵng, có lúc đang gắp miếng ngon gì đó, bỗng rớt xuống bàn, tiếc rẻ, bèn nhặt lên “thổi phù” rồi cho luôn vào miệng. Nhai ngon lành. Ngấu nghiến. Ai lại không nhớ về năm tháng thân thương ấy? Lớn lên một chút, mới biết rằng, hóa ra, sở dĩ người Việt có thói quen này, có thể do bắt nguồn từ một quan niệm cổ lỗ sĩ.

Rằng, thời xưa, người ta quan niệm khi trong nhà có người ốm đau hoặc vợ chồng gây gổ bất hòa... tất có nhiều lý do, trong đó còn có thể do “động bếp” tức ông Táo giận! Giận bởi nơi ấy ô uế, nếu do chó, mèo phóng uế thì tắm rửa con vật sạch sẽ rồi lôi nó đến ông đầu rau khấn vái tạ lỗi. Kế tiếp, làm một bữa cơm có thịt, người ta cầm miếng thịt hướng về nơi ô uế cố tình làm rơi, rồi nhặt lên thổi phù thật mạnh về phía cái bếp lò. Nhà nghiên cứu Nguyễn Dư còn lý giải thêm: “Ngoài mục đích gây mùi thơm, phương thuật “nhặt thịt thổi phù” còn hàm chứa một ý nghĩa khác. “Thổi phù” là thổi mạnh để làm cho miếng thịt sạch bụi. Nhưng “phù” còn có nghĩa là lá bùa. Thổi phù nghĩa là thổi lá bùa, tung bùa ra để trừ ma quỷ đang ám hại người đau ốm”. Tất nhiên, nay chẳng ai còn tin và làm theo cách mê tín dị đoan này, nhưng ít ra từ “động bếp” cũng cho ta thấy nết ăn ở của người Việt xưa.

Ngày đầu năm, bước xuống bếp, tự dưng lại nhớ đến lúc mới quen nhau, nói như nhạc sĩ Phạm Duy: “Ngày đó, có em đi nhẹ vào đời”. Ngày đó, nàng hay bảo: “Ðàn ông cái nhà, đàn bà cái bếp”. Lại thường nhắc đến những câu tục ngữ: “Ðàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, “Vắng đàn bà quạnh bếp”. Rồi có khi nàng thủ thỉ: “Xem trong bếp, biết nết đàn bà”, có những người chọn vợ bằng cách trông vào phong cách người đàn bà trong bếp. Đàn bà có khi nấu nướng một cách thong dong nhẹ nhàng như tham dự một cuộc vui chơi mà vẫn xong mâm cơm đúng bữa, cạnh đấy có những người cứ tất bật vất vả dao thớt liên hồi mà vẫn trễ nãi cực công”.

Vậy mà nay, bếp lửa lạnh tanh. Đứng thẩn thờ nhìn cái bếp đang giăng màn nhện, tự dưng lại nhớ đến câu thơ của Huy Cận: “Bóng đêm tỏa không lấp niềm thương nhớ/ Tình đi mau, sầu ở lại lâu dài/ Ta đã để hồn tan trong tiếng thở/ Kêu gọi người đưa tiễn nỗi tàn phai”. Bùi ngùi quá đỗi. Mà thật ra, cảm giác ấy cũng thoáng qua nhanh. Đã ngày đầu năm. Tết Tây. Và chỉ còn một nháy mắt là chạm vào Tết Ta. Vui đi cưng. Ừ, thì vui. Vui nhất là gì?

Là lúc này anh em bầu bạn đã dành thời gian cho gia đình, y chỉ đứng ngoài rìa. Một hình, một bóng. Vậy nên, cách tốt nhất để có niềm vui vẫn là đóng cửa, giam mình bốn bức tường, ngước nhìn lên chỉ thấy sách. Sách chất từ chân tường chạm lên trần nhà. Chỉ thấy tranh. Tranh sơn dầu đã vẽ trong khoảng thời gian tĩnh lặng nhất, buồn tẻ nhất. Những dòng chữ từ sách - người bạn của quá khứ; những sắc màu từ tranh - cảm hứng của tâm trạng, chẳng thể sẻ chia, an ủi. Lúc ấy, nghĩ về điều gì? Với y, khoảnh khắc đó như một cuốn phim quay chậm, lần lượt người tình cũ như lớp sóng vỗ mơn man vào ghềnh đá, loan dần ra từng bóng hình “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”.

Người tình đầu tiên trong đời là ai?

Câu hỏi ấy, đã hỏi. Nay, lại hỏi, hóa ra không phải là sự ngớ ngẩn đó sao? Dù năm tháng có trôi qua đi, có một điều chắc chắn cảm xúc ấy không bao giờ lãng quên trong trí nhớ. Nhớ như in cái thuở “Em tan trường về / Mưa bay mờ mờ”. Nhớ như in cái lúc: “Anh trao vội vàng / Chùm hoa mới nở”. Nếu không có âm nhạc, không có giọng ca mượt mà gấm lụa một nỗi buồn rầu rầu, có lẽ, cảm xúc của thơ không đủ sức lay động một nỗi muộn phiền lên ngây ngất đến thế. Hát lại lần nữa đi. Để cảm thấy từng sợi tơ óng mượt, từng sợi tơ chùng giăng mắc dọc ngang trong tâm tưởng.  Kỷ niệm đã xa. Đã hằn vết. Vì thế, dù không buồn nhưng lại nhói buốt như có, như không.

Khi viết những dòng chữ này, y lại nhớ đến lúc còn mới học lớp 10 đã biết nhung nhớ, trằn trọc cô bạn học cùng lớp. Suốt năm tháng ấy chưa hề dám ngỏ lời, chỉ có những bài thơ học trò vụng về trải dài theo năm tháng. Rồi thời thế nhiều biến động. Vừa học xong lớp 11 đã có lệnh nhập ngũ. Đất nước vừa hòa bình, vừa chiến tranh. Biên giới Tây Nam đã đón nhận những bước chân thư sinh, những lồng ngực còn run lên những câu thơ tình chợt đến lúc hành quân. "Vẫn trong như ngọc trắng ngần/ Tình em thắp sáng trăng rằm AngKor/ Trăm năm đất khách hẹn hò/ Làm sao tri ngộ giày vò lẫn nhau?”. Ước mơ thăm thẳm ấy không bao giờ đến. Có người vướng mìn K63, KP2, Claymore chằng chịt trên nẻo về hư không. Thoát xác về trời. Ngã vào lòng đất vẫn con trai. Rồi ở hậu phương, người con gái mà y từng thầm thương trộm nhớ bằng tất cả sự non nớt, ngây thơ học trò, năm tháng ấy đã vượt biên. Và đã bỏ xác giữa trùng dương  sóng vỗ. Vĩnh viễn không còn đọng lại một chút gì trên dương thế, ngoài một, hai tấm ảnh nữ sinh của cái thời “Em tan trường về / Mưa bay mờ mờ”.

Kỷ niệm ngày tháng đó cũng mờ mờ như sương mờ dằng dặc ở Đà Nẵng vào những sớm mùa đông có tiếng chim cất tiếng ca lạnh lẽo trên ngọn sầu đông hoa tím. Vệt sương ấy đã lưu dấu trong thơ của ngày còn đi học: “Dấu cỏ hiền ngoan mờ trong sương/ Đi giữa mùa trăng ngập mây vương/ Bé - nàng công chúa nghe cổ tích/ Nhớ kỷ niệm hồng đầy yêu thương”. Đọc lại những câu thơ ngây ngô viết lúc mười ba, mười bốn tuổi, tự dưng thấy thương và nhớ về một thời thơ dại.

Dù tự nhận “mối tình đầu” nhưng đã thốt lên lời nào đâu? Nào đã có ai hứa hẹn với ai một câu gì. Ông Phạm Thiên Thư nói đúng tâm cảnh: “Ôi mối tình đầu/ Như đi trên cát / Bước nhẹ mà sâu/ Mà cũng nhòa mau”. Nhưng rồi tại sao suốt đời người ta lại không quên? Cảm xúc như lửa vùi trong than, gặp gió, sẽ bùng lên. Tại sao như thế? Có lẽ đó là cảm xúc chân thành như hương lúa đầu mùa gặt, là tình cảm trong veo như nắng thủy tinh. Không hề gợn lên một chút dục vọng, toan tính nào. Trạng thái tâm lý đó, về sau, đã nhiều lần yêu, đã nhiều chung chạ hoan lạc, đã thất vọng ê chề, đã chạm đến sự khoái lạc của Lửa, đã rơi tuột xuống thẳm sâu địa ngục của tuyệt vọng của Nước, vẫn không thể tìm thấy.

Nhiều người thích đọc Mái Tây của Vương Thực Phủ - nó được xếp vào “lục tài tử thư” của văn học cổ điển Trug Quốc, có lẽ cũng do tình yêu của Thôi Oanh Oanh, Trương Quân Thụy trong trẻo quá. Chân tình quá. Nống nhiệt quá. Yêu là yêu. Chỉ là nhịp đập của trái tim đang réo rắt tiếng nói của lứa đôi: “Tương tư vừa mới qua cầu/ Biệt ly lại chuốc mối sầu mênh mang/ Chợt nghe một tiếng “lên đàng”/ Rụng rời tay ngọc xuyến vàng rộng thênh!”. Nỗi buồn ly biệt sao lại đau đớn, nhọc nhằn đến thế? Xuyến ngọc đeo trên tay ngọc, bỗng dưng rộng thênh là cớ vì sao? Có thể xếp câu thơ đó vào hạng tinh tế bậc nhất khi diễn tả cảm xúc của người yêu chia tay người yêu.

Khó quên tình đầu bởi cảm xúc thật, không ma mị, phủ lên bất kỳ một lý do, một “nhân danh” nào khác, chứ chẳng phải do lần đầu tiên biết yêu. “Định nghĩa” như thế là đúng? Là sai? Không biết nữa. Nhưng, không riêng gì y, nhiều người lại có suy nghĩ này: Tình cuối cùng, chính là tình đầu. Bởi từ đó, họ không còn tìm đến bất kỳ một chọn lựa nào khác. Cuối cùng là kết thúc. Chính vì kết thúc nên chính nó mới có ý nghĩa trọn vẹn của “mối tình đầu” chăng? Đọc lại một đoạn văn xuôi trong truyện của Đoàn Thạch Biền: “Ngọc Lan không có thật. Cái chết không có thật. Và ngay cả tình yêu tôi nói với Ngọc Lan cũng không có thật. Tất cả đều không có thật. Nhưng điều làm tôi đớn đau là mùa hè đã có thật. Mùa hè chắc chắn đã có thật một cách quái ác ở trong tôi”. Thời gian có thật. Vì lẽ đó, mối tình đầu tiên trong đời làm sao có thể quên?

Bùi ngùi quá đỗi. Mà thật ra, cảm giác ấy cũng thoáng qua nhanh. Đã ngày đầu năm. Tết Tây. Và chỉ còn một nháy mắt là chạm vào Tết Ta. Vui đi cưng. Ừ, thì vui. Vui nhất là gì? Là hãy tưởng tượng bếp lửa nhà mình đang đỏ lửa, ở dưới nhà mẹ vẫn đang nấu những món ăn ngon mừng ngày đầu năm mới. Một năm mới yên vui. Và cũng như mọi lần, những lúc ấy, y lại tẩn mẩn lật từ điển tra cứu vài từ tiếng Việt. Vậy, thử tìm hiểu từ bếp xem sao. Bởi lẽ, dẫu có đến với tình đầu, tình sau, tình cuối đi chăng nữa thì bất kỳ mối tình nào cũng có lúc hẹn hò nơi cái bếp.

Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền có viết truyện dài “Bếp lửa”. Không ngờ, ngày xưa với người Việt hai từ ấy còn dành để chỉ việc lập gia đình. “Một lần nhúm bếp một lần khó”, câu này hiểu như thế nào? Ông Huình Tịnh Paulus Của (1895) giải thích: “Bếp lửa ấy hiểu là sự nghiệp, gia thất; lập cho nên cái sự nghiệp, gia thất là việc khó”. Đúng là khó thật, bằng chứng y đã nhiều lần “bếp lửa” nhưng nào đã nên cơm cháo gì. Có buồn không? Tất nhiên. Vậy muốn bật lên tiếng cười, phải làm sao? Dễ ợt. Cứ đọc thông tin này:

“Google vừa công bố danh sách những nội dung được tìm kiếm nhiều nhất trên công cụ tìm kiếm phổ biến nhất hành tinh này trong năm 2016. Vẫn như những năm trước đây, các sự kiện “hot” diễn ra trong năm qua vẫn là những chủ đề được quan tâm và tìm kiếm nhiều nhất. Các chủ đề được tìm kiếm nhiều nhất trên Google tại Việt Nam trong năm 2016: 1. Trò chơi Slither; 2. Euro 2016; 3. Chúng ta không thuộc về nhau; 4. Phía sau một cô gái; 5. Pokemon Go; 6. Vietlott; 7. Minh Béo; 8. Hậu duệ mặt trời; 9. Vợ người ta; 10. Thách thức danh hài”.

Thấy thế nào? Đúng là “thách thức danh hài”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 31.12.2016

PDF.InEmail

 

nhungcap-doi-hoan-hao

 

Ngày cuối cùng của năm 2016. Nghĩ ngợi vẩn vơ về nghề đã đeo đuổi từ lúc và đời. Nghề báo. Cái nghề này đã qua rồi thời vàng son. Trước kia, viết để kiếm sống, nay đã khác. Nhuận bút các báo, nhìn chung đã tụt dốc ghê gớm. Mà cũng phải thôi. Còn sót lại bao nhiêu người mỗi sáng phải cầm tờ báo đọc? Ngày càng ít đi. Báo không bán được, số lượng ngày càng ít dần, nhuận bút ảnh hưởng theo, tất nhiên. Đến một lúc không cầm cự nổi, tờ báo phải đình bản. Không còn một lựa chọn nào khác. Ngày hôm qua, tờ Thể thao & văn hóa cuối tuần, số 53 (488) đã chính thức gửi lời chào từ biệt đến bạn đọc. Nó kết thúc. Nó chấm dứt. Nó “xong phim”. Y vội mua lấy sộ báo này, như giữ lấy một kỷ niệm đã từng có bài cộng tác. Lật vào trong, ngay trang đầu là Thư Biên Tập.

Thư có đoạn: “Chúng tôi hạnh phúc nhận ra rằng, nhiều người có một thói quen là lấy chiếc điện thoại thông minh của mình vào mỗi buổi sáng sớm lướt nhanh những dòng thông tin, những kết quả cập nhật rồi một lúc sau đó, thảnh thơi hơn sẽ lại trở lại để tìm những chia sẻ sâu sắc, đa chiều hơn. Thói quen đó đã và đang dần dần thay đổi thói quen buổi sáng ghé sạp báo mua vài tờ báo thân quen.

Năm 2002, Việt Nam chỉ mới có 2 triệu thuê bao di động. Năm 2007, Việt Nam đã có 24 triệu thuê bao di động. Năm 2016, dự báo là Việt Nam sẽ có 7 - 80 triệu thuê bao di động, và phần nhiều trong số đó là những chiếc di động thông minh, tích hợp rất nhiều chức năng làm một. Bản thân những chiếc di động cũng đã phát triển ngoài sức tưởng tượng. Từ chỗ chiếc điện thoại đẳng cấp là nhỏ gọn thì nay nó phải đủ lớn để đáp ứng cả những tính năng nghe, xem, đọc một cách hoàn hảo nhất. Đến  gã khổng lồ như Apple cách nay hơn 2 năm cũng đã chấp nhận thực tế đó sau khi Samsung đã đi trước họ vài bước”.

Thật ra những vấn đề này, người làm báo trên toàn cầu đã nhìn ra, cuối cùng, họ phải chấp nhận đầu hàng. Nhiều tờ báo in ấn theo cách truyền thống xưa nay đã đóng cửa. Phải chuyển qua làm báo theo công nghệ mới. Nhưng rồi cũng chưa chắc đã ổn. Hôm nọ, trò chuyện cùng đồng nghiệp làm báo điện tử, các bạn cho rằng, câu hỏi đau đầu nhất đối với họ, đến nay vẫn chưa thể tìm ra giải pháp: “Làm sao kéo bạn đọc từ các trang mạng xã hội về với báo điện tử?”. Y không dám bàn đến vấn đề này, thôi kệ, vẫn chán nhất là nhuận bút báo chí nói chung chẳng bỏ bèn gì, ngày một ít dần.

Nghĩ là nghĩ thế, nói thì nói thế, nhưng rồi vẫn ngày viết mỗi ngày.

Và vẫn đọc mỗi ngày.

Mấy hôm nay đọc một quyển sách của học giả Trần Trọng Kim, ít ai biết đến: Kiến văn lục, tức hồi ký Một cơn gió bụi, ông ghi lại khoảng thời gian từ năm 1944, lúc người Nhật vào Đông Dương Nhật tước khí giới của Pháp. Giai đoạn này, Trần Trọng Kim như thế nào? Một câu hỏi không dễ dàng trả lời, nếu thiếu các chứng cứ xác thực, có giá trị của lịch sử. Sau hàng loạt tranh luận, nghiên cứu có lẽ công trình Nội các Trần Trọng Kim - Bản chất, vai trò và vị trí lịch sử (NXB Chính trị Quốc gia - 2009) của PGS-TS Phạm Hồng Tung là có cái nhìn khách quan và xác đáng hơn cả hơn cả. Ngoài danh mục tham khảo gần 100 tài liệu từ sách, báo chí thì hồi ký Một cơn gió bụi của Trần Trọng Kim vẫn là tài liệu quan trọng không thể thiếu sót.

Tập sách Một cơn gió bụi, lâu nay, ít người biết đến bởi lẽ NXB Vĩnh Sơn in tại miền Nam năm 1969, lúc đất nước còn chia cắt nên giới nghiên cứu ngoài Bắc không có điều kiện tiếp cận. Mở đầu là nỗi lòng lúc Trần Trọng Kim đang sống tại Nam Vang (Phmom Pênh - Campuchia) năm 1949. Ông thể hiện qua thủ bút ghi 2 câu thơ đời Đường: “Liêu lạc bi tiền sự/ Chi ly tiếu thử thân”. Và tự dịch: “Quạnh hiu buồn nỗi trước kia/ Vẩn vơ chuyện vặt, cười khì tấm thân”. Đọc kỹ tập hồi ký, hậu thế sẽ nhận ra một Trần Trọng Kim khác. Nếu trong học thuật, nghiên cứu, ông là người uyên bác, thông tuệ nhưng do thời cuộc đẩy đưa sang lãnh vực chính trị thì ông ngây thơ, cả tin. Vì lẽ đó, ông đã bị người Nhật, kể cả người Pháp dễ dàng lừa bịp, lợi dụng uy tín cá nhân, kể cả Nội các Trần Trọng Kim do chúng dựng lên để phục vụ theo ý đồ riêng.

Là nhân chứng của lịch sử, Trần Trọng Kim đã kể lại rất nhiều chi tiết quan trọng khi đứng ra thành lập Nội các. Chẳng hạn, về lá cờ quẻ Ly. Ông giải thích: “Trong sách “Quốc Sử Diễn Ca” nói khi bà Triệu Ẩu nổi lên đánh quân Tàu, đã dùng lá cờ ấy khởi nghĩa, nên có câu rằng: “Đầu voi phất ngọn cờ vàng”. Vậy lấy sắc cờ vàng là hợp với cái ý cách mệnh của tổ quốc, lấy dấu hiệu quẻ ly là vì trong lối chữ tối cổ của ta có tám chữ viết bằng vạch liền (dương) và những vạch đứt (âm) để chỉ tám quẻ, chỉ bốn phương chính và bốn phương bàng, nói ở trong Kinh dịch, mà quẻ LY chủ phương Nam. Chữ LY còn có nghĩa là lửa là văn minh là ánh sáng phóng ra bốn phương. Lấy sắc vàng là hợp với lịch sử lấy quẻ ly là hợp với vị trí nước nhà lại có nghĩa chỉ một nước văn hiến như ta thường tự xưng. Như thế là lá cờ vàng vẽ ly có đủ các ý nghĩa. Song có người nói: cờ quẻ LY là một điềm xấu cho nên thất bại, vì ly là lìa. LY là lìa là một nghĩa khác chứ không phải nghĩa chữ ly là quẻ. Và việc làm của một chính phủ là cốt ở cái nghĩa lý, chứ không phải sự tin nhảm vô ý thức”.

Một câu hỏi nữa cùng lý thú không kém: Tại sao Nội các Trần Trọng Kim không có Bộ Quốc phòng? Hãy nghe Trần Trọng Kim giải thích do quân lính, súng ống không có và: “Một là trong khi quân Nhật đang đóng ở trong nước, nếu mình đặt Bộ Quốc phòng thì chỉ có danh không có thực, và người Nhật có thể lợi dụng bắt người mình đi đánh giặc với họ. Hai là trước khi mình có đủ binh lính và binh khí, ta hãy nên gây cái tinh thần binh bị, thì rồi quân đội mình mới có khí thế”.

Nay đọc lại, không thể không tủm tỉm cười.

Qua Một cơn gió bụi, biết thêm rằng, bó Kiều thuở ấy rất hay dược các nhà nho sử dụng khi họ đối mặt trước vấn đề nan giải nào đó. Ngày 1.1.1944 bị người Nhật lừa đưa qua Nam Đảo (Singapour), sang đó các ông Trần Trọng Kim, Dương Bá Trạc, Trần Văn Ân… mới bẽ bàng nhưng tìm đường về không dễ. Lại chẳng may, ông Trạc bị ốm nặng, Trần Trọng Kim kể: “Một hôm ngồi nói chuyện, ông Dương nói: “Tôi thường không tin sự bói toán, nhưng tôi nghiệm thấy bói Kiều lắm lúc hay lắm. Khi xưa tôi có đi thi Hương, bói một quẻ, biết là đỗ, mà rồi đỗ thiệt. Sau phải đày ra Côn Lôn, lại một hôm bói một quẻ, đoán là sắp được về, cách mấy ngày quả được về thiệt”. Chúng tôi nói: “Bây giờ ông thử bói một quẻ xem”. Ông nói:

- Để sáng mai.

Sáng ngày hôm sau, ông vui mừng bảo chúng tôi:

- Về, chúng ta sắp được về.

- Sao ông biết?

- Tôi vừa bói một quẻ Kiều được hai câu này:

Việc nhà đã tạm thong dong

Tinh kỳ dục dã đã mong độ về

Theo cái nghĩa cái câu ấy là chúng ta sắp được về. Thấy ông nói thế, ai nấy đều vui vẻ mừng rỡ lắm. Kể ra đối với ông Dương thì không đúng, mà đối với cả bọn chúng tôi, thì chỉ cách có mấy tháng là được về cả. Việc tin hay không tin ở quẻ bói là chuyện khác, đây tôi cốt lấy một chuyện cỏn con đó mà chứng thực cái lòng mong mỏi của chúng tôi lúc ấy là ai cũng muốn chóng được về”. Không những thế, các nhà nho lớp trước còn tin rằng, thơ văn do mình viết ra nó “vận” vào người như chơi. Phải cẩn trọng. Một ngày đầu xuân, nhà thơ trào phúng Ngyễn Quý Tân (Nghè Tân) viết câu đối khai bút. Ông viết (dịch nghĩa):

Bốn mươi lăm tuổi, một thoáng thành cổ nhân, nửa kiếp qua rồi đâu phải mộng;

Hai mươi chín tuổi, một phen trúng Tiến sĩ, ngàn thu mai nữa mãi còn danh”.

Quả nhiên, trong năm đó, ngày 29.2 năm 1858, Nghè Tân về với Tổ tiên. Kể ra cũng lạ quá đi mất. Còn nhớ về trường hợp Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh, ông bị khối u sau gáy nên năm 1905, ông phải mổ bằng phương pháp y học hiện đại tại bệnh viện Yersin. Trước lúc lên bàn mổ, ông buột miệng nói:

- Trong bài Vịnh Kiều hồi thứ tám, ta có viết “Phong trần liều với mũi dao con”, âu cũng thử xem nó “vận” vào người ra sao?

Cuộc phẫu thuật này không thành công, Chu Mạnh Trinh trút hơi thở cuối cùng. Đọc lại quyển Văn minh Việt Nam (Nam chi tùng thư XB năm 1964), Lê Văn Siêu có kể một vài mẩu chuyện tương tự: “Chẳng hạn, trường hợp Vũ Đình Dy năm 1945 sang vận động chính trị ở Nhật, xong việc thì lên máy bay về Sài Gòn và gửi một bưu thiếp về Hà Nội cho ông thân để báo tin. Bưu thiếp viết:

Công tư hai lẽ đều xong

Gót tiên chốc đã thoát vòng trần ai

Khi về nước đi xe lửa từ Sài Gòn ra Hà Nội, lúc đến Quảng Ngãi, Vũ Đình Dy gặp sự cố và chết tại đó. Người ta bảo gở tại lời viết trong bưu thiếp ấy. Một bạn văn nữa là Lãng Nhân, mồng Một tết làm quyển  Lưu bút, viết lên trang đầu tiên một câu tập Kiều:

Trăm năm trong cõi người ta

Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh?

Thôi thôi đã mắc vào vành

Biết duyên mình biết phận mình thế thôi

Câu văn có ý triết lý đời sống là cõi mộng, và tự nhủ thầm biết duyên biết phận. Nhưng đến ngày 29 tháng Giêng năm ấy thì vô cớ bị lính Nhật đến nhà bắt. Lãng Nhân bảo: Có lẽ gở tại câu viết ấy”. Lãng Nhân là nhà văn cùng trang lứa thế hệ với Vũ Bằng, Tam Lang… thế tiên phong của làng báo Việt Nam. Câu thơ ghi trên bưu thiếp là ông Di lấy từ Truyện Kiều, lúc Thúc Sinh đã chuộc Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh để từ đây: “Một nhà sum họp trúc mai/ Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông”.  Tưởng là thế, nào ngờ sau đó cả hai “tan da nát thịt” với đòn ghen kinh quái của Hoạn Thư! À, vậy ra bói Kiều, khi đã chọn ra câu nào đó ắt phải xem thêm những câu dưới nữa chăng? Không phải đâu, đã chọn câu nào thì cứ lấy đó mà luận.

Vậy, chiều nay, y có dám bói Kiều không? Thưa, không. Biết đâu vớ phải câu nào đó lại “vận” luôn vò người thì khốn. Chi bằng ngồi chép lại những “cặp đôi hoàn hảo” đang “hot” nhất hiện nay, có phải hay hơn không? Hay quá đi chứ. Nghe đến “cặp đôi” là biết mùi mẫn, cụp lạc, tình tứ lắm đây. Nhằm tránh lôi thôi về bản quyền, xin nói rõ, sự lựa chọn này là của bạn đọc trên Tuổi Trẻ Cười - tờ báo trào phúng duy nhất hiện nay trong làng báo nước nhà. Đó là, “Giáo dục - Cải cách; Y tế - Quá tải; Điện lực - Độc quyền; Xăng dầu - Tăng giá; Xây dựng - Rút ruột; Giao thông - Thu phí; Môi trường - Ô nhiễm; Internet - Đứt cáp; Cấp phép - Vòi vĩnh; Nông thôn mới - Lạm thu”. 

Này, những "cặp đôi hoàn hảo", lúc nào chúng mày sẽ ly dị, chia uyên rẽ thúy, tan đàn xẻ nghé, đường ai nấy đi?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 29.12.2016

PDF.InEmail

15698370_355346664821984_445283657794864561_n



Sắp cuối năm. Trong lòng đang dội về những bẽ bàng, mệt mỏi, chẳng rõ vì cơn gì, chỉ thầm nhủ đã sắp hết một cái năm chẳng có gì phải quên, chẳng có gì đáng nhớ. Thời gian thấm thoát trôi qua. Chẳng mất chốc lại gánh trên vai thêm một tuổi đời, đến lúc nào đó, không gánh nổi, con người ta khuỵu chân xuống. Vậy là xong.

Trong năm này, có gì ấn tượng nhất cần ghi chép lại?

Như thông lệ, cuối năm các cơ quan thông tấn, Bộ này ngành nọ sẽ chọn ra chừng mười sự kiện đáng chú ý nhất. Năm nay là những gì? Với y, về sự biến hóa khôn lường, tinh ranh, kinh khiếp nhất của tiếng Việt đã định hình cụm từ “Đúng quy trình”. Chỉ ba từ này, tự nó đã phản ánh đúng bản chất của một cơ chế. Cụm từ “Động cơ gì?” còn lâu mới sánh nổi, bất quá cũng chỉ là phát ngôn vô cảm của một ai đó. Thế thôi. Tât cả mọi tréo ngoe, mọi hắc ám, mọi thứ ôn hoàng hột vịt lộn… đều giải quyết bằng phép thần thông, đố ai cãi lại, địch lại nổi: “Đúng quy trình”. Trên báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam số ra ngày 12.11.2016 in bài thơ Có phép thần thông của tác giả Tú Trâu. Bài thơ như sau:

Ở đâu cũng… đúng quy trình

Mà sao cục nợ cứ phình to ra?

Bao nhiêu con ông, cháu cha

Nhập nhèm phù phép… vưỡn ra quy trình

Mất vài ngàn tỷ… mần thinh

Hỏi ra thì vưỡn quy trình không sai

Vưỡn huân chương, vưỡn lên đài

Vưỡn vào cơ cấu, vưỡn oai hơn người

Vài trăm sổ đỏ bốc hơi

Dò tìm… vưỡn đúng cái nơi quy trình!

Dân đen ngơ ngác thất kinh

Cái thằng… quy trình có phép thần thông

Càng ngày thơ trào phúng, đọc xong, người ta cảm thấy càng nhạt. Các sự kiện chính trị, xã hội ngày càng khốc liệt, nhà thơ cười đùa, tếu táo không thể chạm nổi đến cốt lõi của sự việc. Bài thơ vùa đọc xong, vẫn nhớ nhất ba từ “phép thần thông” khi so sánh với “đúng quy trình”. Viết được vậy, đã tốt lắm rồi.

Giữa lúc biết bao sự kiện ầm ĩ đang xẩy ra, y vẫn lặng lẽ công việc của mỗi ngày. Rị mọ chữ nghĩa. Một cách giết thời gian. Lựa chọn một thái độ sống. Vậy thôi. Chẳng ham hố gì. Yên phận. Sáng nay, vẫn như mọi ngày là lúc đang phóng xe lại nghĩ đến một điều gì đó. Nghĩ đến một câu thơ trong Truyện Kiều: “Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”. Bấy lâu nay, các nhà nghiên cứu, các bản in đều không thống nhất, tranh luận bất phân thắng bại: “Khuôn trăng/ khuôn lưng”; “nét ngài/ nét người”? Từ nào mà thi hào Nguyễn Du đã sự dụng? Đã biết tốn bao nhiêu giấy mực mà đã xong đâu. Câu thơ này, Nguyễn Du miêu tả Thúy Vân. Do không giỏi tiếng Nôm, y không thể khảo sát từ văn bản. Mà có như thế đi nữa, chắc gì văn bản đó không rơi vào trường hợp “Tam sao thất bổn”? Vậy cứ lấy từ cách sử dụng lời ăn tiếng nói của người Việt mà “giải mã” vậy.

Cách lựa chọn này có chủ quan? Thì, còn tùy.

Riêng y, không một người Việt nào dùng từ “khuôn lưng”. Lưng là cái lưng. “Ai ơi đùng lấy học trò/ Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”. Nói huỵch tẹt ra, cần gì phải dùng mỹ từ cho rối rắm. Thứ hai, “khuôn lưng đầy đặn” là chỉ về vóc dáng của một người đãy đà, có da có thịt, ít ra cũng mập mạp một chút.  Khi luận về nhân vật kinh tởm nhất trong Truyện Kiều, Nguyễn Du tự hỏi: “Thoắt trông nhờn nhợt màu da/ Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao?”. Bậc thiên tài Nguyễn Du cân nhắc từng nét vẽ, từng chi tiết khắc họa Tú Bà. Hơn nữa, vừa ở câu trên, Nguyễn Du đã tả Thúy Vân và Thúy Kiều: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần”Từ điển Truyện Kiều, Đào Duy Anh giải thích: “Mai cốt cách: vóc dáng mảnh dẻ, thanh nhã như cành mai; tuyết tinh thần: tinh thần trắng trong như tuyết, chỉ lòng trinh bạch”. Vóc dáng ấy thon thả ấy, không khác gì mỹ cảm “Thắt đáy lưng ong”. Ông bà ta từ hàng ngàn năm trước đã quan niệm: “Những người thắt đáy lưng ong/ Vừa khéo chiều chồng vừa khéo nuôi con”.

Cái lưng to bè bè ấy, áp vào Thúy Vân có phù hợp không? Quyết là không. Phải là “khuôn trăng”, chỉ khuôn mặt người con gái. Nói đến vẻ đẹp của một con người, phải bắt đầu từ cái mặt. “Xem mặt mà bắt hình dong/ Con lợn có béo cái lòng mới ngon”, chứ huống hồ gì xem người. Ca dao còn có câu: “Má bánh bầu xem lâu muốn chửi/ Mặt chữ điền tiền rưỡi muốn mua”. Thế mới biết cái mặt quan trọng đến dường nào. Khi nói về tính cách của một con người,cũng ghi nhận từ khuôn mặt. “Cái mặt không chơi được”, nhan đề một truyện ngắn của Nam Cao là nói về cái ý ấy. Không phải ngẫu nhiên, trong các lễ cưới hỏi của người Việt có các phần nghi thức rạch ròi như “xem mặt”, “lại mặt”. Mà trăng trong “khuôn trăng” còn ám chỉ đến nét đẹp của mặt nguyệt, tức Hằng Nga đấy.

Có phải y suy diễn không? Thưa không.

Các cung nữ trong Cung oán ngâm khúc của Ôn Như Nguyễn Gia Thiều: “Hương trời đắm nguyệt say hoa/ Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình”. Cung nữ ấy rất đẹp. Lại nghe thiên hạ đồn rằng, thời xửa thời xưa, thời ông Bành Tổ vừa cất tiếng khóc oa oa chào đời thì bên Trung Quốc đã có “Tứ đại mỹ nhân”. Họ đẹp đến độ: “Chim sa, cá lặn, nguyệt thẹn, hoa nhường”. Mặt nguyệt, mặt trăng theo quan niệm của người xưa là chỉ vẻ đẹp tót vời và được hóa thân thành Hằng Nga, vì thế mới có sự so sánh như trên. Khi dùng từ “khuôn trăng” dành cho Thúy Vân là Nguyễn Du ca ngợi vẻ đẹp ấy có khuôn mặt như Hằng Nga. Khuôn mặt ấy đầy đặn phúc hậu nên lông mày/ “nét ngài nở nang” là tương xứng, hợp lý.

Tóm lại, câu thơ “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang” là chính xác vì miêu tả về khuôn mặt Thúy Vân, hoàn toàn không dính dáng đến vóc người đẫy đà, nở nang gì sất. Nàng đâu có phải lực sĩ mà Nguyễn Du phải miêu tả: “Khuôn lưng đầy đặn nét người nở nang”?

Đôi khi giải thích lấy một câu thơ, tự dưng lại tủm tỉm cười một mình. Bởi lẽ, ít ra cũng đã dành một khoảng thời gian cho chữ nghĩa. Mà chữ nghĩa có là gì không? Hỏi lẫm cẫm như vậy, vì đôi lúc nghĩ rằng, trong văn chương nhân loại có những cuộc tình lâm ly, bi đát, não nùng được thêu dệt bằng những áng văn hay khiến đời sau mê mẫn nhưng các nhân vật ấy, làm sao có thể sánh bằng chuyện tình của người thật việc thật? Mối tình Thôi Oanh Oanh và Trương Quân Thụy trong kiệt tác Mái Tây, qua ngòi bút của Vương Thực Phủ chẳng hạn, rất nồng nàn lửa bén. Nhưng cũng chỉ là nhân vật của văn chương.

Nếu chọn lấy một cuộc tình đẹp nhất trong tình sử Việt Nam, y dứt khoát chọn lấy Phạm Thái và Trương Quỳnh Như. Có đôi nét phảng phất như nhân vật trong Mái Tây, nhưng cuộc đời thật của họ khốc liệt hơn nhiều. Và hơn cả thế, họ còn để lại những áng thơ văn cho đời sau. Thơ về ý nghĩa cao đẹp của Tình yêu - chủ đề về một giá trị nhân văn sẽ còn lại sau khi phần kiếp hữu hạn đã chìm vào cõi hư vô mây trắng. “Có thể nói, Phạm Thái là một trong nhũng người đi đầu trong việc cách tân thể thơ trữ tình tiếng Việt, đưa thơ trữ tình tiếng Việt lên một cung bậc mới: nói tiếng yêu đương đầy sức giao cảm giữa nam và nữ” (Từ điển văn học bộ mới, NXB Thế Giới -2003, tr.1370). Nếu không có tình yêu với Trương Quỳnh Như, liệu chừng Phạm Thái có làm được nổi không? Ắt không. Nghĩ rằng, khi thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật thơ ca, nhạc họa… hãy biết ơn những nhan sắc đã tạo nên cảm hứng sáng tạo đó cho người nghệ sĩ.

Chính từ tình yêu với Trương Quỳnh Như, lúc 27 tuổi, năm 1804, Phạm Thái mới có cảm hứng để viết Sơ kính tân trang. Không như các bậc văn nhân tài tử khác phải mượn tác phẩm cổ điển của Trung Quốc để diễn tả tâm sự, Phạm Thái đã lấy chất liệu từ chính cuộc tình sâu đậm của chính mình. Cuộc tình kết thúc bi đát, dầm đìa nước mắt. Mà cũng từ tình yêu, Quỳnh Như cũng có những bài thơ tuyệt diệu. Đọc lại bài thơ “Giờ Mùi” để khám phá ra nỗi lòng của người đẹp lúc tương tư. Nếu là đấng nam nhi, có thể biểu hiện: “Khạc chẳng ra cho, nuốt chẳng vào/ Miếng tình nghẹn lắm biết làm sao/ Muốn kêu một tiếng cho to lắm/ Rằng ối ai ôi, nó thế nào?”.

Ở người phụ nữ, dù vậy, họ vẫn kín đáo hơn, dẫu “Muốn kêu một tiếng cho to lắm” nhưng rồi, họ vẫn không, chỉ lặng lẽ: “Giọng thảm giờ Mùi chẳng đấu thưng/ Vì ai nên nỗi, cũng vì chưng/ Mượn mây sơn thủy làm khoây khỏa/ Uất lửa tương tư để cháy bùng/ Cách điệu dịu dàng ai kẻ biết/ Áo khăn xôi xốc để ai nâng?/ Những là rầu rĩ, là buồn bực/ Trăm vẻ hồng đào cũng dửng dưng”. Còn gì hạnh phúc hơn, sung sướng hơn nếu được người mình yêu tặng cho bài thơ nồng nàn ấy?

Cuộc đời Phạm Thái, dù bất đắc chí, chán đời, vùi tháng ngày vào rượu "Bầu dốc kiền khôn giọng bét be" do không chấp nhận thực tại nhưng bù lại ông đã có mối tình đẹp như nước mắt. Ngàn đời sau, những con người yêu nhau vẫn còn nhớ đến. Đọc xong bài thơ trên, cảm động với chi tiết về nỗi buồn, sầu thảm của Quỳnh Như vì không thưng đấu nào dung nổi. Cách nói ấy dung dị và chân tình biết dường nào. Vì xa cách, nên “cách điệu dịu dàng” của nàng, chàng không biết đến; trong khi đó, chàng “áo khăn xôi xốc” lôi thôi lếch thếch, làm sao nàng có thể nâng khăn sửa túi? Quan tâm cho nhau là biểu hiện của tình yêu đấy thôi.

Ủa sao chiều này, lại nghĩ ngợi xa gần về tình yêu? Đơn giản chỉ vì vừa đọc lại Chiến tụng Tây Hồ phú của Phạm Thái. Cuộc bút chiến độc đáo với Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng. Câu 66, Phạm Thái luận về sụ nghiệp nhà Tây Sơn: “…Canh Thân ấy nghĩ còn bền tựa đá. Quẻ Lục hợp bói ra thì cũng phải; Nhâm Tuất kia, âu hẳn nát như tro”. Xin giải thích, Canh Thân (1800) là năm Nguyễn Huy Lượng viết bài Tụng Tây Hồ phú, câu 66 có nhũng đòng như “đinh đóng cột” khẳng định sự bền vững của nhà Tây Sơn: “… Vạn phẩm đã nhờ khuôn Tạo, lại tầy ngôi chính thất, bốn mùa đều theo hướng Đẩu khu”. Thế nhưng nhờ qua quẻ bói Lục hợp, Phạm Thái đã tiên đoán: “Nhâm Tuất kia, âu hẳn nát như tro”. Nhâm Tuất (1802) là năm Gia Long lên ngôi, nói như Nguyễn Du trong Long thành cầm giả ca: “Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan sạch/  Trong làng múa hát còn sót lại một người/  Trăm năm thấm thoát trong một hơi thở, một nháy mắt/ Cảm thương việc cũ lệ thấm áo”.

Băng khoăn tự hỏi, Chiến tụng Tây Hồ phú, Phạm Thái viết trước hay sau năm 1802, chưa có tài liệu nào trả lời được câu hỏi này. Nếu viết trước, vậy hóa ra cái quẻ bói ấy lại linh ứng đến thế kia? Sở dĩ kêu lên ngạc nhiên, bởi xưa nay y chẳng tin gì vào chuyện bói toán cả. Vậy mà, lạ quá đi thôi, biết đâu, Phạm Thái viết trước năm 1802? Mà cơn cớ làm sao đọc xong Chiến tụng Tây Hồ phú của Phạm Thái, chiều nay, lại bàn về chuyện tình yêu? Ấy là sau những tương tư bầm dập, gẫy đổ tình duyên, thất tình não ruột, vậy y thử nhờ ai bói một quẻ xem sao? Thoáng nghĩ thế, bèn tủm tỉm cười một mình trong buổi chiều sắp vắt qua ngày của đầu năm mới.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 21.12.2016

PDF.InEmail



tam-nguyen-tu-dien-viet-nam

 

Đôi khi, y lại tìm cách né tránh những gì đang xẩy ra trong đời sống. Khốc liệt quá. Tàn nhẫn quá. Kinh dị quá. Cảm thấy không đủ sức, dũng cảm để viết một điều gì cho rành mạch, cuối cùng, con người ta lại quay về một cõi khác. Như một cách xa lánh thực tế, nhắm mắt bịt tai, xem như không việc gì phải nghĩ ngợi đến, dù rằng, nó đang diễn ra và có tác động đến chân tơ kẽ tóc mỗi đời người. Thể hiện ấy, tên gọi đúng nhất vẫn là “mũ ni che tai”. Trong mớ hỗn độn của một ngày, y là mẫu người mà trước đây nhà văn Nam Cao đã chỉ ra là hạng “Sống mòn”. Ngay cả Nhật ký cũng né tránh thời sự mỗi ngày, liệu có còn là bản chất của thể loại này? Câu hỏi này, y thừa sức trả lời. Nhưng rồi lại quên béng đi, cố tình quên béng đi. Âu cũng là cách lựa chọn của số đông, chứ nào phải riêng y.

Về những trang Nhật ký đã viết năm 2015, sắp in thành tập lấy tựa Ngày sống đời thơ, PGS-TS Trần Hữu Tá (Chủ tịch Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học TP.HCM) nhận xét trong lời Tựa: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, đó là một yêu cầu mang tính nguyên tắc của muôn đời. Nhà văn không thể lảng tránh. Tất nhiên đối với những vấn đề nhạy cảm, người viết phải rất thận trọng, nghiêm túc, xây dựng. Những kinh nghiệm này tôi ngờ là Lê Minh Quốc đã có thừa. Chẳng qua với tình bằng hữu văn chương, tôi xin nhắc lại với anh và cả tin anh sẽ làm rất tốt”.

Vâng, dù có làm tốt chăng nữa, khi in thành sách, người ta cũng cắt phéng đi. Có những vụ việc đã công bố trên mặt báo, không sao, nhưng lúc đưa vào sách lại khác. Cái sự cầm bút ở xứ mình, nó thế, như thế, dù rằng chẳng có một quy định pháp lý nào cả. Nói cách khác sự biên tập ấy là tùy theo nhận thức, bản lĩnh của mỗi người. Có quyển sách in ở nhà xuất bản này không sao, nhưng đưa qua nhà khác ắt sẽ khác. Cái sự khác rối rắm và vô lý này, dần dần đã khiến người cầm bút khôn ngoan hơn, đó là lúc tự họ “biên tập” trước khi người khác nhúng tay vào. Vì thế, những dòng chữ nhẹ tênh, mơ màng, tròn trịa đến “phải đạo”, không còn lưu lại dấu vết nào của sự gai góc, phản biện, cá tính của người viết.

Ở Việt Nam hầu như chưa có nhà văn nào đủ kiên nhẫn và dũng cảm viết một tác phẩm theo ý mình, dù rằng, thời điểm đó chưa thể công bố, phải biết chờ đợi lúc phù hợp hơn, hãy cất nó vào ngăn kéo, chẳng gì phải vội. Nhưng rồi, người ta vội quá nên phải lách bằng cách tặc lưỡi “thiến” luôn -  miễn sao nó ra mắt công chúng là được. Cái sự được ấy là được hay mất?

Sực nhớ lại nhà văn X. Ông đã mất. Lúc còn sống, ông có in hồi ký về cuộc đời viết văn, đọc xong, thấy nhẹ hều, chỉ là những tiếng vỗ tay, những tràng hoa thắm tươi trong hội trường, hội nghị. Ngạc nhiên quá, hỏi tại làm sao lúc đã gần đất xa trời vẫn chưa viết hết như những gì như đã từng kể cho y nghe. Người viết là dân văn nghệ, làm thơ viết văn và kể lại những chuyện bếp núc đàng sau trang viết thì có gì là ngại? Ông bảo: “Viết rồi. Sau này, con mình sẽ tái bản đầy đủ hơn”. Hôm nọ, gặp con trai của ông và hỏi về tập hồi ký ấy, lúc nào sẽ in theo nguyện vọng của ông bố trăng trối trước lúc về chín suối? Anh ta cười mà rằng, lâu nay, công chúng đã thừa nhận, đã nghĩ về ông bố của anh là thế này, thế này; nay in hồi ký theo văn bản đầy đủ ắt họ sẽ nghĩ về ông bố thế kia, thế kia… thì liệu có nên?

Âu đó cũng là một cách nghĩ khá phổ biến.

Đôi lúc tự hỏi, chẳng rõ vì cơn cớ gì, tại đâu, từ đâu con người viết lách cứ mãi lo sợ những điều mà họ nghĩ rằng sẽ xẩy ra, dù rằng, chẳng biết có xẩy ra hay không. Nhưng rồi, vì sự an toàn chính mình, như đã nói, tự họ lại cắtm phéng, tự giấu kín ngay suy nghĩ từ trong đầu, chứ đừng nói thể hiện trên trang viết.

Mấy hôm nay, y vẫn sống trong tâm thế đó. Đôi lúc thoát ra ngoài trang viết kiếm cơm nhì nhằng, bỗng giật mình tự trách, rằng, y đang sống  trog đời thật, hai chân dẫm dưới đất nhưng lại lớ ngớ như từ trên trời vừa rơi xuống đất. Giật mình với thông tin vừa công bố đồng loạt trên báo chí: “Theo Ban Chỉ đạo trung ương về phòng chống thiên tai cho biết từ đầu năm đến nay mưa lũ đã làm 235 người chết và mất tích. Ước tính tổng thiệt hại là trên 37.650 tỉ đồng (tương đương 1,7 tỉ đô la Mỹ)”. Rợn cả người. Lẽ ra phải suy nghĩ, tìm hiểu kỹ về sự việc này, vì ít ra đây cũng chính là trách nhiệm công dân nhưng rồi y lại lảng qua chuyện khác. Xem như không phải việc của mình.

Có phải là sự chọn khôn ngoan?

Chính vì nghĩ vậy nên dù có đôi lúc tự nhủ phải thế này, thế kia nhưng rốt cuộc lại “ngựa quen đường cũ”. Là vẫn nghĩ ngợi về những chuyện có thể người khác cho rằng rất ấm ớ. Chẳng hạn, sáng hôm qua, gặp lại nhà văn Nguyễn Thị Thị Thụy Vũ. Bà kể, đại khác trước năm 1975, nhờ viết feuilleton cùng một lúc cho vài tờ báo nên đời sống khấm khá. Nhưng rồi, do tiêu xài bạt mạng nên chẳng dành dụm được gì. Bà kể: “Lúc đưa con cái về quê sống chung, mẹ tôi biết chuyện bèn tế cho một trận”. Té ra, “tế” trong ngữ cảnh này, hoàn toàn không phải “cúng dâng trọng thể, thường đọc văn cúng và có chiêng trống kèm theo” như từ điển tiếng Việt giải thích, chính là chửi mắng ầm ĩ, tới tấp. Đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố có câu: “Thợ cày và tuần phu đều biết cái hách dịch của ông Lý, ai nấy chỉ đáp lại những câu chửi chùm chửi lợp bằng sự nín lặng”. Thoạt nghĩ, “chửi chùm chửi lợp” cũng là một cách “tế”.

Lâu nay, nghĩ rằng: “Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai/ Nước sông trong đổ lộn sông ngoài/ Thương người xa xứ lạc loài tới đây”. Té ra, “tế” trong ngữ cảnh này lại có nghĩa là chạy mau, chạy đều bốn chân, “ngựa chạy nước đại” là “ngựa tế”. Hiểu thế nên câu ca dao này, y đã hiểu khác trước. Rồng ám chỉ vua chúa, vua quan, tầng lớp ăn trên ngồi trốc, trong lúc họ an lành, yên ổn ở kinh đô, thì lúc ấy dân đen, tầng lớp phu phen, binh mã đã phải xông pha vào nơi hòn tên mũi đạn ở Nam kỳ. Có thể xác định, câu ca dao này ra đời ngay sau năm 1859, đó là năm Trung tướng Rigault de Genouilly không đương đầu nổi với dân quân Quảng Nam ở mặt trận Sơn Trà. Tài cầm quân của danh tướng Nguyễn Tri Phương, lúc bấy giờ đã 58 tuổi thừa sức đẩy liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã rơi vào thế bị động, phá sản. Trước tình thế tiến thoái lưỡng nan, Rigault  de Genouilly đã quyết định thay đổi kế hoạch. Y chỉ để lại một đại đội và vài chiến hạm chiếm giữ bán đảo Sơn Trà do Đại tá Toyon chỉ huy, còn lại kéo đại quân vào đánh Sài Gòn. Câu ca dao trên ra đời vào thời điểm đó, cùng lúc với câu: “Giặc Tây đã đến Cần Giờ/ Biểu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công”.

Về chuyện chữ nghĩa, hôm qua có trao đổi vu vơ, đôi dòng với anh Biền - bạn nhà văn, y cho rằng: Ngôn ngữ nghĩ cho cùng là thói quen của người sử dụng, dù có thay đổi hợp lý hơn, nhưng người ta vẫn khó chấp nhận. Những từ mới, dù khó chấp nhận, sai lè lè nhưng sử dụng riết thành quen thì người ta lại chấp nhận. Khôi hài thế đấy. Đó là bản chất của ngôn ngữ toàn cầu, xưa nay. Tiếng Việt cũng thế. Vì thế nói góp phần lý giải, mọi sự cải tiến chữ Quốc ngữ từ đầu thế kỷ đến nay đều thất bại thảm hại. Vì sao, các ông các bà cứ la toáng lên với các từ "nửa nạc nửa mỡ" làm hỏng tiếng Việt, lo lắng làm gì, vì nếu người ta không sử dụng thì tự nó biến mất; còn nếu người ta đã sử dụng rồi thì đố hòng thay đổi.

Về y và i, gần đây ngoài Bắc có xu hướng dùng i ngắn nhiều hơn: lý luận/ lí luận, bác sỹ/ bác sĩ ... ban đầu thấy ngờ ngợ, riết cũng quen và chấp nhận. Khuynh hướng người sử dụng thời kỳ nào cũng muốn nói/ viết gọn mà vẫn đủ thông tin: chợ cầu sông Hàn/ chợ Hàn; ngã tư Bảy hiền: Bảy Hiền...; email: mail... Cái này sẽ lý giải vì sao 1 số từ biến mất, nay ta không hiểu: chó má: chó; tre pheo: tre; tang ma: tang... Tra lại từ điển 1651, những từ đôi này, cả 2 từ đều cùng 1 nghĩa, về sau người ta giảm lược khiến đời sau không hiểu vì nó không còn sử dụng.

Nghĩ là nghĩ ba chớp ba nháng tức thời, có thời gian sẽ suy ngẫm chu đáo hơn.

Anh Biền tán thành và cho biết vài thêm vài từ thú vị không kém: “Ngôn ngữ do người bình dân nói trước khi được người có học ghi chép cho đúng… chính tả. Ví dụ thời tôi dạy ở Phan Rí, nước mắm ngon là nước mắm nhỉ ra từng giọt. Nhưng người dân nói và các chai nước mắm đều dán nhãn “nước mắm nhĩ” (dấu ngã). Vừa rồi tôi đi Vinh, thấy nhiều bảng hiệu chỗ ghi “súp lươn”, chỗ ghi “xúp lươn”. Hỏi, có người nói “súp” là đúng vì gốc từ tiếng Pháp “soupe”. Có người lại nói, “xúp” là đúng vì nó nấu giống như “xáo” như xáo măng, xáo bò ở Quảng Nam. Thôi thì, người dân đã nói thì đều đúng cả.Vì tiếng Việt vốn phong phú mà”.

Nghe ra lấy làm hứng thú lắm đây. Nếu bảng hiệu kia ghi  "xúp lương" thì coi như "xong phim", bởi "xúp" còn có nghĩa loại ra, bỏ đi, theo Việt Nam từ điển của Lê Văn Đức do từ "supprimer" mà ra - nào có ai muốn thưởng thức món ăn hàm ý bị cắt lương đâu. Thật ra, “súp”/ “xúp” tồn tại đã lâu lắm rồi nhưng mấy ai quan tâm, chỉ những ai sống bẳng nghề viết, yêu tiếng Việt mới suy nghĩ, đặt vấn đề vì sao lại tróe ngoe đến thế kia.

Mà thật tình đã có những sự việc tượng tự. Hiện nay từ điển ghi nhận hào - một phần mười của đồng bạc là cắc, đồng bạc cắc. Nhân đây nói luôn, “cắc” cũng đồng âm với tiếng kêu nhỏ, giòn như “Đồng xu rơi xuống sàn nhà kêu cái cắc”. Nhà ngôn ngữ  Lê Ngọc Trụ cho rằng, phải viết cắc vì nó là từ “giác” (hào) mà ra. Trong khi đó, viết Lời nói đầu Tầm nguyên từ điển Việt Nam (NXB TP.HCM 1993) của Lê Ngọc Trụ, học giả Vương Hồng Sển lại quyết cãi cho bằng được phải là “cắt” với lập luận: “Giác, tôi dốt nên tôi không biết. Tôi biết lấy đồng bạc cũ chặt đứt ra làm 2 thì nửa miếng ấy gọi là “ca-rô-bi” dựa chữ “roupie” gốc Ấn. Rồi lấy “ca-rô-bi” chặt làm 2, 1 đồng bạc chặt làm tư, nhưng lại gọi “gốc tư” tuy giá trị là 1/5 (pièce de vingt sous), và khi chặt một lần nữa được “một gốc tám”, tuy giá là mười xu (pièce en argent de dix sous). Cắt bạc 10 xu vẫn gọi “góc tám”.

Đọc xong đoạn này, thấy rằng, do dùng từ “chặt” với nghĩa “cắt” nên tác giả Hơn nửa đời hư, quả quyết phải gọi “cắt” mới đúng. Ngoài ra còn khá nhiều từ mà cách ghi nhận ngay cả trong từ điển vẫn chưa thống nhất, chẳng hạn, dụng cụ phát cỏ: phãng/ phảng; cái lạch nhỏ, cái mương nhỏ: xẽo/ xẻo v.v…

Khi viết những dòng này, tự dưng lại nhớ vu vơ câu chuyện đã cũ.

Nhớ rằng, “a, b, c…” là những mẫu tự đầu tiên mà đứa trẻ tiếp xúc khi đi học. Đùng một cái, năm 2002 không rõ do sáng kiến tham mưu của ai, Bộ Giáo dục - Đào tạo bèn cải tiến bằng cách cho trẻ học mẫu tự “e” trước “a”. Điều dễ dàng nhận ra, việc làm này dẫn đến xáo trộn toàn bộ trật tự bảng mẫu tự chữ cái La-tinh của chữ quốc ngữ truyền thống. Nhưng ai quan tâm đến vấn đề nay đều lên tiếng phản đối ầm ầm.
Bấy giờ, ông Trần Chút - Chủ tịch Hội Ngôn ngữ TP.HCM phát biểu: “Tôi tán thành ý kiến của nhiều người cho rằng nên theo trình tự a, b, c. Vì trình tự này không phải là chữ nữa mà còn là văn hóa nối liền ta với thế giới, những nước dùng chữ La tinh. Ngoài ra, trình tự a, b, c còn theo trẻ suốt đời. Khi viết bài phải theo bố cục a, b, c, trong tính toán cũng đi theo từng bước như vậy, đến khi tra từ điển cũng theo thứ tự a, b, c... Không nên đánh đổi văn hóa và sự liên hệ với thế giới bằng sự lựa chọn khó hiểu nào đó”.

Sực nhớ lại chuyện kỳ khôi này, ắt nhiều vẫn còn phì cười. Thì ra, trong mớ bùng nhùng, rối rắm của dòng đời, đôi lúc con người ta lại tìm ra vài một hiện tượng, sự việc nào đó để há miệng ra cười.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 14.12.2016

PDF.InEmail

 

phoca_thumb_l_yeu-em-da-nang

 

Cách đây chừng mươi năm khi mà xe lửa Bắc - Nam đã rút ngắn thời gian vận hành; rồi Nhà nước cho nghỉ thêm ngày thứ bảy, chia sẻ thông tin này, một anh bạn hào hứng gọi điện thoại: “Thế là thích quá, từ rày, mỗi lúc nhớ quê, có thể tranh thủ vào dịp cuối tuần. Chỉ ngủ một giấc trên tàu, sáng mai thức dậy đã có thể thưởng thức đặc sản quê mình”. Với những người xa xứ, nỗi nhớ canh cánh trong lòng còn là những món ăn ngon, hợp khẩu vị mà mỗi lần nhớ đến lại thèm thuồng, nuốt nước bọt cái ực rồi nhủ thầm: “Hãy đợi đấy”.

Nhà văn Vũ Bằng viết lên những trang tuyệt bút Thương nhớ mười hai, hấp dẫn bạn đọc vì một phần còn do ông cảm nhận về miếng ăn. Ăn không chỉ là ăn mà còn là không gian, không khí, thậm chí cả âm điệu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng từ giọng nói của người đối ẩm nữa. Đôi lúc nhớ món quê, bèn bảo vợ ra chợ mua đầy đủ vật liệu, rồi tự tay làm lấy với tất cả sự say mê, sung sướng nhưng rồi cũng không hài lòng. Chà, sao cọng rau ngò, cái lá tía tô, húng… sao lại nhạt thếch thế này, chẳng mùi vị gì cả. Chà, đây mà gọi là ớt à? Trái ớt này “ngoài mình” gọi ớt sừng trâu, nó cong vút, cắn nghe cái rộp mới khoái lỗ tai, nhai trong miệng kêu sực một tiếng, nó cay mà lại “cay thanh” mới đã đời làm sao. Nghĩ ngợi xa gần, rồi tặc lưỡi một cách vu vơ: “Ước gì”.

“Ước gì” là ước có dịp trở về quê đấy thôi.

Về quê, gặp những gì?

Vừa đọc trên Facebook của anh bạn Nguyễn Thanh Lợi - vốn là nhà nghiên cứu văn học dân gian, học được một từ mới: “Ế mao huyết”. Anh cho biết: Trong nghi lễ Kỳ yên tại đình Bình Tự, cù lao Phố (Biên Hòa) có tiết mục "ế mao huyết" (đem chôn lông và huyết). Khi chọc tiết con lợn để tế thần, chủ tế lấy dao cắt một nhúm lông và một ít huyết tươi để báo với thần là con thú tuyền sắc và còn sống. Dĩa lông trình ra phía trước võ ca (phía ngoài sáng, thuộc dương), dĩa huyết trình trước bàn thần (phía trong tối, thuộc âm). Nhúm lông và chút máu tượng trưng đó được đốt và chôn trước đình”.

Đọc phóng sự Việc làng của Ngô Tất Tố, biết thêm rằng, con lợn cúng thần gọi là “ông ỷ”. Đây là lúc đưa “ông ỷ ra đình tế thần: “Đó là bốn con lợn lớn. Thứ lợn nuôi để cúng thần, đã được tôn làm ông Ỷ. Giữa đám lọng xanh, lọng vàng xúm xít bốn ông lợn lớn, chõm chọe ngồi trong bốn chiêc cũi tre, giống như hồi xưa người ta giải các tướng giặc bị bắt. Có điều cũi của tướng giặc ngày xưa chỉ có đanh chốt đóng giữ, còn cũi của mấy ông lợn này thì chằng buộc toàn bằng thừng chạc nhuộm mầu cánh sen, coi bộ cực kỳ long trọng. Hơn nữa, đằng sau mỗi cũi, lại có một đội âm nhạc đủ cả đàn sáo kèn nhị và một ông già đội mũ té áo thụng xanh, cung kính đi hầu. Như đám hàng tổng đánh cướp, trống cái trống con của các đoàn thi nhau thúc một hồi cuối cùng. Bốn chiếc cũi tre đồng thời được rước vào tận trước đình, và sắp thành chữ nhất. Bằng vẻ mặt rất tự nhiên, cả bốn "ông lợn" cùng chầu vào cửa đại đạo, không sợ hãi và không ụt ịt một tiếng nào hết”.

Về quê, y lại nhớ về tuổi nhỏ, thời còn i, tờ “ngày hai buổi đến trường/ yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ” (Giang Nam) đã đôi lần chứng kiến cảnh cúng đình ở đình làng Hải Châu, Nam Dương… Ký ức đã xa tít mờ mịt sóng vỗ dưới vòm trời Đà Nẵng. Chẳng còn nhớ gì nhiều. Về quê, cảm hứng khiến con người ta tràn trề sinh lực, háo hức sung sướng nhất vẫn là những món ăn mà ngày xưa mẹ đã nấu. Sau này, nhớ về tuổi nhỏ, ai lại không nhớ về năm tháng tươi đẹp đó? Đã từng trả lời cho vnepress:

“Những món mẹ cho ta ăn thuở ấu thơ luôn ám ảnh trong trí nhớ, ngọt bùi trong ký ức. Có thể sau này, khi lớn lên, ta được ăn biết bao món ngon vật lạ trên đời nhưng cũng không thể sánh nổi... Bởi món ăn của ngày xa xưa ấy không chỉ có ý nghĩa vật chất mà nó còn cả tấm lòng, tình yêu thương vô bờ bến của mẹ dành cho ta.

Đến nay, tôi vẫn chưa quên được món ăn ngày Tết do chính tay mẹ mình nấu nướng. Món mà tôi thích nhất là thịt lợn ngâm nước mắm. Không rõ trong Nam ngoài Bắc có món này không? Đó là những miếng thịt lợn thật ngon, đem luộc chín nhưng chín đến mức độ nào là một "bí quyết" của người nội trợ tài hoa, sau đó, để cho ráo nước, rồi đặt trong thẩu và đổ nước mắm vào. Điều khó nhất là phải pha chế nước mắm như thế nào thì mới “đúng điệu”, đó cũng là một... "bí mật". Dù thế nào đi nữa, nhưng chắc chắn phải là loại thượng hạng, phải là nước mắm Nam Ô mới đúng “bài bản”. Lúc ấy, ăn miếng thịt ta thấy ngon lạ lùng. Nay tôi đã lớn. Mẹ tôi đã già, ngày Tết tôi không còn được ai làm cho món ăn ấy nữa. Nghĩ lại, thấy bùi ngùi và tiếc cho năm tháng đã xa...”.

Sống xa quê, ai lại không có lúc thốt lên não nùng như ông Vũ Bằng: “Hỡi ôi là cái lòng thương nhớ của người ta: nhiều cái chẳng ra cái “chết” gì mà làm cho mình nhớ quá. Nhưng nhớ đến quả cà Nghệ hay là miếng cà bát dầm tương ăn đúng vào lúc hè, có phải đâu chỉ là nhớ cà mà thôi, mà chính nhớ đến người vợ tào khang, từ thuở bé đã được mẹ dạy cho cách làm tương cà mắm muối, lớn lên chỉ sợ không muối dưa muối cà được bằng chị bằng em - vì vẫn nghe thấy nói rằng muốn biết tài bếp núc của các bà các cô, chỉ xem mèm muối tương cà, thừa đủ!”. Món ăn ngon của từng vùng miền, ai đã chôn nhau cắt rốn, lớn lên nơi ấy, lúc đã xa bao giờ nhớ. Nghĩ ngợi xa gần, rồi tặc lưỡi một cách vu vơ: “Ước gì”.

“Ước gì” là ước có dịp trở về quê đấy thôi.

Về quê, trong tâm thức của y vẫn là nơi đã sống chỉ 18 năm nhưng mãi mãi nhớ. Mãi mãi yêu vì nơi ấy, nhà thương bà Cách, ngay gần chợ Cây Me trên đường Phan Châu Trinh, y đã cất tiếng khóc oe oe cầm tinh con lợn. Mẹ ẵm bồng trên tay, mở mắt nhìn cõi đời. “Mới sinh ra thì đà khóc chóe/ Trần có vui sao chẳng cười khì?” (Nguyễn Công Trứ). Nếu dẫm hai chân trên mặt đất, ba vạn sáu ngàn ngày chỉ “cười khì”, có lẽ sẽ tẻ nhạt lắm đây. Nếu không có thất vọng tình nhọn gai bén, có lẽ văn học nghệ thuật của nhân loại sẽ không có những trang viết, cung bậc bất tuyệt đầm đìa cảm xúc: “Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay”. Nơi ấy, y đã yêu và đã sống trong khoảng thời gian thơ mộng, diệu vợi nhất.

“Đà Nẵng là nguồn nước trong veo/ Chảy qua từng mạch máu/ Tôi đi giang hồ từ năm mười sáu/ Còn quay đầu nhìn lại Ngũ Hành Sơn”. Nơi ấy, còn lưu lại trong ký ức tuổi thơ hương vị của ngày Tết. Trong đời sống xuôi ngược, những bốn từ “về quê ăn Tết” luôn dạt dào một niềm yêu thương vô bờ bến. Được tung tăng theo mẹ đi chợ Tết: “Mời bà con mua “gộ”/ Tiếng rao nghe rất ngon/ Nước mắm Nam Ô thơm/ Khiến tôi thèm điếc mũi”. “Gộ” là gạo - phát âm theo kiểu của người dân Quảng Nam. Rồi làm sao có thể quên: “Phong bì Tết đỏ hoe/ Bánh thuốc rê Cẩm Lệ/ Hoa vạn thọ tròn xoe/ Sao lại nhiều đến thế?”. Chắc chắn rằng, một niềm yêu dấu cảm động, chan chứa tình người nhất với con người vẫn một nỗi niềm đau đáu về kỷ niệm của ngày xưa. Ngày xưa có mẹ. Được ăn món ăn mẹ nấu. Nghĩ ngợi xa gần, rồi tặc lưỡi một cách vu vơ: “Ước gì”.

“Ước gì” là ước có dịp trở về quê đấy thôi.

Những bước chân tha phương đâu dễ dàng quay về. Vì thế đôi lúc tự nhủ: “Ồ, ở Sài Gòn bây giờ, chẳng thiếu thứ gì, muốn ăn món Bắc, Trung, Nam đều có tất”. Nhưng lạ lùng thay, tâm lý của con người ta vẫn thích sản phẩm đó được nuôi/trồng ở “quê mình” mới đúng điệu. Ăn không chỉ là ăn cho qua bữa, cho no mà còn chính là thưởng thức cái hương vị đậm đà của nó nữa. Hương vị ấy gợi nhớ về năm tháng hoa niên của thời còn ở quê. Khó quên lắm, vì nó còn gắn liền với kỷ niệm.

Hiện nay, ở Quận 5 có con đường mang tên thi sĩ Tản Đà. Khoảng thập niên 1930, lúc vào Sài Gòn làm báo, sống ở Xóm Gà (Bình Thạnh), ông “thi sĩ ngông” thuộc hạng bậc nhất nước Nam đã từng thưởng thức và ngợi khen: “Sài Gòn nhớ vị cá tra/ Cái xe song mã, chén trà Nhất Thiên”. Nhưng rồi, lúc thèm phở quá, ông bèn tự tay làm nhưng cũng không sao thỏa mãn được cái thần khẩu vì… thiếu rau húng. Sài Gòn có rau húng chứ, nhưng ông vẫn nậy gạch lát sân, trồng cho riêng mình những ngọn rau húng đúng điệu của “quê mình”.

Lại nữa, y có anh bạn nhà văn quê tận Cà Mau, một hôm anh điện thoại tới tấp, giọng nói hân hoan, “hồ hởi phấn khởi” như báo tin sắp cưới vợ: “Lên nhà mình gấp, có món ngon đãi bạn đây”. Ngoài trời đang mưa tầm tả, vừa mệt nhoài công việc nên đâm ngại ra đường nhưng phải chìu bạn. Trên đường đi, y đã nghĩ đến những món ăn cao lương mỹ vị, sang trọng, đắt tiền mà bạn đãi vì mới “trúng mánh” từ một khoảng nhuận bút nào chăng?

Không hề, khi đến nơi, đã thấy từ dưới bếp cô vợ của anh ca ư ử Tình anh bán chiếu rồi bưng lên hai tô cơm… nguội! Y nản quá. Nản đến độ xụi lơ, không thể thốt nên lời. Nản như lúc danh ca hạng nhất sắp xuống xề câu vọng cổ để chờ nghe tiếng vỗ tay vang trời, dậy đất của khán giá mộ điệu thì đột ngột điện cúp cái phựt! Chưa hết, cô vợ anh lại nhẩn nha bê lên một đĩa… mắm ba khía. Chỉ có thế. Vâng, chỉ có thế. Y uể oải cầm đũa chỉ vì lịch sự. Vừa ăn, anh bạn vừa liếng thoắng: “Dưới quê mới gửi lên. Ngon quá xá là ngon”. Cái ngon ấy, còn “ngon” vì tình cảm của nỗi nhớ quê nữa.

Vâng, đúng là ngon. Nghĩ như thế, mới thấy thương những người sống xa xứ. Ở ngay tại xứ rét mà lúc ngoài trời có tuyết bay mịt mù, tâm hồn rét cóng nỗi lòng xa quê, đang thèm phở Bắc, don Quảng Ngãi, bún bò Huế, mì Quảng, bún nước lèo Sóc Trăng, khoai xéo xứ Nghệ… thì biết tìm đâu hỡi trời cao đất dày? Y sống ở Sài Gòn, nói như cụ Vương Hồng Sển là đã tròm trèm “hơn nửa đời hư” nhưng vẫn nhớ tinh khôi, rạo rực về chén nước mắm Nam Ô, dầm ớt thật cay chan vào chén bún sợi nhỏ. Thèm lắm. Có lúc vào siêu thị, mua đem về nhà, cớ sao ăn lại không ngon? Khổ thế đấy. Làm sao ở đây vừa ăn vừa nghe tiếng rao bằng cái giọng đặc Quảng từ trong thơ Nam Trân vọng lại: “Ai eng chè đậu doáng/ Ai eng đậu hảu không?/ Ai eng hột dịt lộn/ Ai ít ngọt? Xôi hông...?”.

Sống xa quê, nhớ quê là cái lẽ thường tình trong tình cảm mỗi người. Và nhất là nhớ món ăn vì nó còn gắn với tháng ngày êm đềm, thơ mộng trong ký ức xa xăm. Nhưng thật ra, đó chính là tâm lý của những người hoài cổ. Này nhé, sống tại Sài Gòn, mỗi năm đều có nhiều lần theo cha mẹ về quê, các bạn trẻ nào lại không thích đặc sản của quê cha, đất mẹ? Thích thì thích, nhớ thì nhớ nhưng họ lại không câu nệ cầu kỳ như thế hệ trước. Muốn cá nục kho cuộn bánh tráng? Muốn bún riêu có cả cua đồng giã nhuyễn? Muốn cá linh kho bông điên điển mùa nước nổi? Muốn bánh đúc chấm mắm tôm? Muốn bánh cuốn mà trong nước chấm có cả giọt tinh dầu cà cuốn? Muốn ăn gì nữa? Cứ ra chợ Sài Gòn là có tất. Việc gì phải ngong ngóng từ quê gửi vào, gửi lên, gửi xuống? Có thuận tiện hơn không? Nhiều bạn trẻ đã nói thế.

Ngẫm ra, họ có lý đấy chứ. Sống đâu, rồi dần dần cũng quen đó, nhất là sống tại một vùng đất đa văn hóa, giao lưu nhiều hướng và giàu nghĩa tình như Sài Gòn. Vẫn biết là thế, tin là thế, nhưng rồi lại có lúc, nhất là những lúc trời đất đang chuẩn bị bước sang năm mới, hương vị Tết đã ùa về ngây ngất trong tâm tưởng lại nghĩ ngợi xa gần, rồi tặc lưỡi một cách vu vơ: “Ước gì”.

“Ước gì” là ước có dịp trở về quê đấy thôi.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 8.12.2016

PDF.InEmail

 

tuong-tang-DUONG-HUONG-LY_n

 

Có đôi lúc, chỉ viết lằng nhằng, tưởng dễ, nhưng lại không kịp thở. Việc này viết nọ, chẳng đâu vào đâu, cứ thế, ngốn hết một ngày, Đã đến lúc cảm thấy quý từng giây, từng phút. Thì hãy nhìn xem, một ngày, đã làm được chưa? Đã vùn vụt vó ngựa thoáng qua. Phía bên ngoài cửa sổ, kìa, một bông hoa vừa rụng, một chiếc là vừa rơi, một tiếng chim vừa vang ra đã im bặt. Một niềm vui vừa đến, chưa tận hưởng, đã tắt ngúm. Vậy nên, đã từ lâu, không còn những buổi sáng cà phê, tán gẫu cùng bạn bè; đã không thiết tha những buổi chiều ngồi đối ẩm là đà men say ngà ngà.

Thế cần gì?

Thú thật, chẳng rõ nữa. Chỉ biết mỗi ngày cắm mặt xuống bàn phím dù đã nhiều lần tự răn, ở ngoài cánh cửa mới là đời sống, sự sống, hãy níu lấy nó mà đu đưa phiêu bồng cùng năm tháng. Nhủ thế, nhưng lại quên. Vậy nhớ cái gì? Chẳng biết nốt. Đôi khi sự tồn tại của một đời người, đến lúc nào đó lại cảm thấy vô nghĩa lý quá. “Hãy cứ vui chơi cuộc đời / Dù ngày mai em như chim bay/ Bỏ quên đây một người/ Hát bên trời gian dối/ Dù ta như con đường dài vắng người” (T.C.S). Chẳng phải gian dối đâu. Cảm hứng ấy, nó đến, trong khoảnh khắc ấy, nó có thật. Dù rằng, chỉ là một sự mộng tưởng, tơ tình đơn phương đã đến từ một phía.

Nghĩ thế vì rằng, trưa hôm qua nằm đọc lại tạp chí Văn (số 13.7.1973), chủ đề về 5 nhà văn nữ nổi tiếng của văn đàn miền Nam thuở ấy. Đọc vui vơ, cũng tựa như bước vào một nơi bán đồ cũ, thoáng thấy cái này, cầm lên cái kia. Rồi lại quên. Chẳng ai giữ gìn lai một kỷ vật đã cũ? Có thế có mà cũng có thể không. Chỉ biết rằng, Bùi Giáng là dân chơi thứ thứ thiệt. Nào ngờ, khoảng thời gian đó, ông vừa hoàn thành tập Thơ đươi ươi. Không rõ vì sao, sau này không in? Đọc lại bài thơ, ông đã viết tặng Túy Hồng. Sinh hoạt nghệ thuật thuở ấy, có 2 Túy Hồng. Một, diễn viên kịch; một, nhà văn. Đọc thơ ắt nhận ra ông viết tặng ai.

Cô khép hai chân lúc lên đàng

Cô cười nức nở ngửa nghiêng ngang

Cô ở bên trời xa rộng quá

Cô về mộng tưởng đỏ bừng trang

Làm thơ lếu láo tôi ghi chép

Cô Túy Hồng ơi đỏ một hàng

Cô đọc giùm tôi tôi viết giúp

Con người ngủ giữa rú rừng hoang

Đọc thêm một khổ thơ khác. Mà thôi. Lại nhớ về cô Túy Hồng kịch sĩ. Thời ấy, đang học tiểu học, y rất mê chương trình kịch có cô đóng, phát trên ti vi. Chẳng nhớ ban kịch này tên gì chỉ nhớ lúc kết thúc thường có tiếng hát: “Thôi anh đi về đi, xa nhau rồi, thương nhau mà chi, năm canh dài nước mắt đìu hiu... Anh nhớ chăng ngày xưa đôi ta nghèo…”. Loáng thoáng nhớ. Và quên. Đọc lại 5 nhà văn nữ thời ấy, ngẫm ra chỉ có Nhã Ca giàu nội lực nhất, bà cho biết: “Thi sĩ mà tôi thán phục nhất có lẽ phải kể Salomon, tác giả thi thiêng trong Cựu ước. Bút hiệu tôi mang do sự thán phục ấy mà có”. Thật lạ, thời ấy, nhà văn có thể sống được vì họ có quyền lập nhà xuất bản tư nhân. Ngoài các ông Đông Hồ có Bốn Phương, Nguyễn Hiến Lê lấy tên mình đăt tên cho nhà xuất bản v.v… các “nhà văn trẻ” thuở ấy cũng không khác. Chẳng hạn, Nguyễn Thị Hoàng có Hoàng Phương Đông; Nguyễn Thị Thụy Vũ có Kim Anh, Kẻ Sĩ; Nhã Ca có Thương Yêu…

Hiện nay, một loạt tác phẩm của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ vừa được NXB Hội Nhà văn tái bản: tiểu thuyết Khung rêu, Nhang tàn thắp khuya, Thú hoang, Chiều xuống êm đềm, Như thiên đường lạnh, Ngọn pháo bông, Cho trận gió kinh thiên; tập truyện ngắn Lao vào lửa, Mèo đêm, Chiều mênh mông. Với y, tiểu thuyết hay nhất của Thụy Vũ vẫn là Cho trận gió kinh thiên; truyện ngắn hay nhất là Lòng trần. Ngày nọ, gặp nhau tại Chi nhánh Hội Nhà văn ở phía Nam, nhân nhắc lại chuyện cũ, bà có kể mẩu chuyện khá hay.

Chuyện rằng, ngay sau năm 1975, giữa thời khốn khó ở khu lao động Sài Gòn có một người đàn ông tự xưng “Đại đế ve chai”. Mỗi ngày, hắn ta phát tiền cho nhóm nhà văn nổi tiếng của miền Nam đang thất sủng, thất nghiệp đi lùng mua đồ cổ tận các hang cùng ngõ hẽm. Mỗi sáng, họ tập trung lại nhận tiền, chiều về “báo cáo kết quả” trong ngày. Với số tiền được giao đó, các nhà văn đó có thể kiếm được chút cháo đắp đổi qua ngày. Cũng là cách kiếm sống lương thiện. Nói như nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên: “Tình cũng khó theo thời cơm áo khó/ Dìu nhau đi dưới bóng nợ nần”. Dù thế nào, con người ta vẫn có thể sống được.

Ngày nọ, từ Vĩnh Long, Nguyễn Thị Thụy Vũ lên Sài Gòn thăm bạn văn của một thời. Tất nhiên, để có thể gặp đông đủ mọi người, bà phải  tìm đến “giang san” của “Đại đế ve chai”. Như mọi chiều, nơi ấy thường bày ra cuộc nhậu. Chắc rằng cũng chỉ các loại “bia lên cơn”, rượu đế, rượu cây lý, tệ hơn nữa là rượu pha thuốc rày, nói chung chỉ là chất lên men thủ công. Loại bia này, ở ngoài Huế, anh em văn nghệ sĩ gộp chung, gọi  “bia khổ”. Đơn giản chỉ vì uống say, rất nhức đầu nhưng khổ nổi là rất khó…. đi tè. Thế mới là khổ.

Chắc chắn, thuở ấy, Nguyễn Thị Thụy Vũ còn trẻ đẹp nên “Đại đế ve chai” mới buông tuồng một câu khó nghe: “Cô có dám đái thi với tôi không”? Bà hỏi lại lại một lần nữa câu hỏi ấy, xác định đùa hay thật. Hắn ta vẫn đáp lại như trước. Nào ngờ, ngay lập tức, chỉ trong nháy mắt, bà co chân đạp tung cả bàn nhậu. Mẩu chuyện này, bà vợ của nhà văn Văn Quang có mặt hôm ấy xác nhận có thật. Năm đó, bà mới chừng gần 36 xuân. Nay đã gần 80 tuổi rồi, giọng kể của bà vẫn rành rọt, đâu ra đó. Thời còn trẻ, máu còn nóng, hào khí ngất trời, ai cũng chọn lấy phép ứng xử như bà. Thế mới là phụ nữ miệt vườn. Đừng có giỡn mặt.

Đọc Nguyễn Thị Thụy Vũ, người ta hay nhắc đến những trang viết số phận vũ nữ, gái bán bar với nhiều chi tiết được thể hiện bằng con mắt quan sát của một nhà báo. Sở dĩ có được những trang viết sống động, tươi mới này, bà cho viết, từ năm 1961, khi từ quê nhà Vĩnh Long lên Sài Gòn học tiếng Anh, sau, bà đi dạy cho các cô bán Snack Bar. Nhờ đó, bà đã có chất liệu ngồn ngộn, chân thực để viết. Riêng y vẫn thích nhất, một điều cần ghi nhận, ngoài lời ăn tiếng nói rặt ròng Nam bộ, tác giả còn có biệt tài quan sát khi miêu tả sinh hoạt nghệ thuật quen thuộc ở nông thôn miền Nam thuở ấy, chẳng hạn hát bội đình làng, giải sầu ca vọng cổ; ngoài ra còn là sự miên tả các món ăn dân dã, quê mùa rất đỗi thân thương… nay, đã ít nhiều trở thành dĩ vãng.

Mà, chính sự phong phú, đa dạng về ngôn từ sẽ giúp người đọc hiểu hơn nữa về con người, vùng đất mà những nhà văn thế hệ trước đã từng “khai phá” bằng ngôn ngữ miền Nam như Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Ngọc Linh… Nói cách khác, cách sử dụng ngôn từ ấy đã góp phần lưu giữ lại tiếng nói, cách phát âm một thời của bà con miệt vườn ở miền Nam đất Việt. Suốt mấy ngày liền, đọc lại Nguyễn Thị Thụy Vũ và làm công tác chú thích. Nhiều ngôn từ, với y, không phải dễ hiểu. Đã hiểu, đôi lúc bật lên cười tủm tỉm một mình. Âu cũng là thú đọc sách.

Thử liệt kê xem sao, chẳng hạn, trong Chiều xuống êm đềm: “Cụ bà không xuống nhà sau cứ xẩn bẩn bên chồng”. Xẩn bẩn: Lẫn quẫn, tới lui một chỗ. “Con phải vẹt tụi nó ra, để tụi nó đánh đùn cục với nhau có ngày con tức hộc máu mà chết chớ chẳng chơi”. Vẹt: vạch, tách rời.” Rồi khi thân mẫu cụ bắt đầu ăn giả bữa thì cụ ông cho mai mối tới xin cưới cụ”. Ăn giả bữa: Ăn bù lại sau những ngày bị ốm bỏ ăn. “Bà Chủ a xề lại gần” A xề: Xích lại gần. “Sau này, vì thấy cụ ông thường ươn yếu nên cụ ít đến nhà bà Chủ Bến Chùa”. “Ươn yếu”: Yếu xìu, chưa khỏe hẳn. “Cụ bà và mụ em gái to to nhỏ nhỏ chuyện vãn với nhau rồi cười giòn khấm khứu”. Khấm khứu: Thể hiện thái độ cười nhưng không muốn người khác hay biết. “Đầu óc hoang mang vì cơn mơ màng phiêu diễu”. “Phiêu diễu”: Một cách phát âm của “phiêu diêu” - nhẹ nhàng, bềnh bồng; “Bữa giỗ tiên trong chiều nay, dưới bàn tay khéo léo của cô Năm Kim Ngọc và dưới tài chỉ huy linh động của bà Chủ Bến Chùa nên rất bĩ bàng, khéo léo”. Lâu nay, cứ nghĩ “bỉ bàng” là “bẽ bàng” nào ngờ “Bĩ bàng”: Sẵn sáng, gọn ghẽ.

Trong Mèo đêm: “Hà! Cái lầy chào cú lẻng. Cú lẻng ăn cơm chưa? Li coi hát pống với tôi nhá”. Củ lẻng: cô nương; hát pống: hát bóng, cách phát âm ngọng nghịu của nhân vật người Hoa. “Khi nào chê cơm, bà đốt rê-sô luộc mì mua ở tiệm, rồi “sốt” cà, bằm thịt dùng làm món xào” “Rê-sô” : Tiếng Pháp Réchaud - loại bếp nhỏ xách tay, đốt bằng dầu lửa, phổ biến tại miền Nam từ thập niên 1950. “Kệ mồ nó, cô đừng lo. Nếu tôi không lột da nó thì gái khác cũng “liễm” hết tiền của nó”. “Liễm”: Tiếng lóng chỉ hành động “trấn lột”, “moi” hết tiền của người khác. Người miền Bắc, Trung không nói “kệ mồ”, phải là “kệ mẹ”. “Thấy nhà chỉ có đàn bà con gái, trộm nó cũng dễ ngươi”. “Dễ ngươi”: Lờn mặt, không kiêng sợ. “Mình hắn mỏng lét gần như là bộ xương trong quyển cách trí giáo khoa: “Cách trí”: Cách nói tắt của “cách vật trí tri” - môn học tìm hiểu nguồn gốc sự vật rồi lấy trí phán đoán mà suy xét; ngày trước gọi môn học “Cách trí” v.v…

Còn có thể kể thêm nhiều, chẳng hạn, có những từ khó có thể giải thích, phải từ điển, phải cầu cứu nhiều nơi. Ngẫm ra, lại là một cái thú khi biết được một vài từ nay ít ai sử dụng. Mà nào có xa xôi gì, chỉ từ mới vài thập niên đấy thôi. Chẳng hạn, ton reng: gièm pha, mách lẻo; nhậm lẹ: mau mắn, nhanh nhẹn; nước hơi lài: nước đã nhạt màu; nhẫn ma-giê: nhẫn cưới; đốc tờ: bác sĩ; nhà thương Bạc-hà: ý nói nhà thương bình dân, không cao sang; lục xì; nơi khám bệnh dành cho “gái ăn sương”, gái làm tiền; bót xăng tran - phiên âm từ tiếng Pháp: Maison centrale là Khám lớn; chức Thầy Su: gọi tắt của thầy Cai ở đồn điền cao su; vàng đổ đé: loại vàng không đạt đến chất lượng hoàn hảo; chày ba: cách giã cối với ba người cầm chày; móc miếng: Lễ làm sạch nước ối còn trong miệng trẻ sơ sinh; bắt gà vịt rửa chưn: bắt gà vịt làm thịt; cú lẻng là cô nương nhưng tùy trường hợp còn có nghĩa: xí xóa - tương tự tiếng lóng “Bỏ đi Tám” thường được sử dụng trước năm 1975; lớp Tiếp Liên: Lớp cuối cùng của bậc Tiểu học, sau các lớp Đồng ấu, Sơ đẳng, Trung đẳng, Cao đẳng - theo chương trình Giáo dục của Pháp  tại miền Nam vào những thập niên 1950; phướng: Đuôi cá có nhiều màu sắc - Đại Nam Quấc âm tự vị (1895) của Huình Tịnh Paulus Của ghi nhận “phướn” v.v…

Thú vị chưa? Sao lại không? Duy chỉ có thành ngữ “Lộn nài bẻ ống” mới khó “nhai”, Nguyễn Thị Thụy Vũ sử dụng nhiều lần. Tra cứu hết từ điển đã có ở trong nhà vẫn bí rị. May quá, duy quyển Việt Nam tự điển do Lê Văn Đức soạn, Lê Ngọc Trụ hiệu đính, Khai Trí XB năm 1970 giải thích: “1.Dùng mánh lới lật ngược lẽ phải của người để giành phần phải về mình; 2. Cố làm cho to chuyện để thôi ra, không ăn ở nhau nữa”.

Lại lẩn thẩn tự hỏi, trong năm 2016, từ nào được nhân loại sử dụng nhiều nhất. Câu hỏi này, tưởng khó, nhưng lại dễ. Trang web Dictionary.com mới đây chọn “xenophobia” (chứng bài ngoại) là từ của năm 2016 dựa trên số lần từ này được tìm kiếm trên mạng Internet. “Xenophobia” là một từ tương đối mới và chỉ mới xuất hiện trong tiếng Anh cuối những năm 1800, xuất phát từ hai thành tố Hi Lạp: “xénos” có nghĩa là “người lạ, khách” và “phóbos”nghĩa là “nỗi sợ hãi”. Trang Dictionary.com định nghĩa “xenophobia”: “chứng sợ hoặc thù ghét những nền văn hóa khác mình, ghét người lạ”. Từ này cũng diễn tả nỗi sợ hay không thích phong tục, trang phục và văn hóa của những người có xuất thân khác mình.

Mà nay, có phải, nỗi sợ hãi lớn nhất, thù ghét nhất vẫn xuất phát tự bản thân của chính mình, chứ nào phải tác động từ ai khác?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 4.12.2016

PDF.InEmail

 

1_KQTK(nguồn: ảnh của Báo Thanh Niên)

 

Trong những ngày này, có một vài sự kiện văn hóa cần ghi lại:

Ngày 29.11.2016, Nghệ thuật hô/hát bài chòi dân gian ở Quảng Nam - Đà Nẵng được Bộ VH, TT và DL công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Lúc 17 giờ 15 giờ địa phương (21 giờ 15 giờ Việt Nam) ngày 1.12.2016, tại phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, nước Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ là gì?

Theo Báo Thanh Niên đưa tin: “Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ là một hình thức thờ cúng người mẹ hóa thân ở các miền trời, sông nước, rừng núi, hình thành và phát triển mạnh mẽ. Từ thế kỷ XVI, việc thực hành tín ngưỡng này trở thành một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức người dân; Nam Định được coi là trung tâm với gần 400 điểm thờ cúng Thánh Mẫu”.

Bản tin này, có hai chi tiết đáng chú ý: 1. Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ ra đời từ thế kỷ XVI; 2. Nam Định được coi là trung tâm với gần 400 điểm thờ cúng Thánh Mẫu.

Theo Từ điển wikipedia: “Các truyện kể dân gian về 3 vị thánh mẫu: Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải lưu truyền trong dân gian khá phong phú, sau này một số được ghi chép lại trong các sách cổ như Việt điện u linh, ngoài ra còn có các truyện kể dân gian khác về các vị nữ thần được các sách sau này tập hợp và ghi chép lại”. Quan tâm đến sự kiện này, đọc kỹ nhiều thông tin, chẳng thấy tờ báo nào nhắc đến vai trò của Bà Liễu Hạnh. Dù rằng, cũng như Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải đều là nhân vật thần thoại nhưng bà Liễu Hạnh lại “có tích có tuồng”. Vai trò của bà rất lớn, nói cách khác chính bà mới là nhân vật quyết định cho sự ra đời và tồn tại của Mẩu Tam phủ/ Đạo mẫu.

Xin đừng quên: “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ” - câu nói cửa miệng của bất cứ người Việt nào, dù sống trên quê hương hay đã tha phương nơi đất khách quê người. Trong tâm thức dân gian, vua Hùng là ông Tổ nên “Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba”, còn Liễu Hạnh là Mẫu (Mẹ), Trần Hưng Đạo là Cha, cả dân tộc coi cộng đồng như một gia tộc, có Tổ tiên, có cha mẹ” (Lễ hội cổ truyền - Viện Văn hóa dân gian biên soạn - NXB KHXH, 1992).

Sở dĩ lấy cột mốc từ thế kỷ XVI, vì bà Liễu Hạnh được dân gian hư cấu ra đời từ năm tháng đó. Từ xưa đến nay, lễ hội truyền thống đã tôn vinh Thánh mẫu Liễu Hạnh ở nhiều nơi trên khắp mọi miền Tổ quốc, nhưng tiêu biểu nhất vẫn là hội Phủ Giầy. Quần thể kiến trúc ấy gần như tập trung trong phạm vi xã Kim Thái, xưa là xã Kim Thái, thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Địa danh này trước đó mang tên Kẻ Giầy, khi bà được triều đình sắc phong thì gọi là Phủ Giầy. Lễ hội diễn ra từ ngày 1 đến ngày 10.3 (chính hội là ngày 3.3 âm lịch).

Còn trời còn nước còn non

Mồng Năm rước Mẫu ta còn đi xem

Ai về nhắn chị cùng em

Bảo nhau dắt díu đi xem hội này

Thử hỏi, tại sao Hội Phủ Giầy lại chọn Nam Định làm “đại bản doanh” cho một nghi lễ tôn giáo vừa được UNESCO tôn vinh Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại? Trả lời câu hỏi này, ắt cần tìm về gốc gác, nơi chốn ra đời của bà Liễu Hạnh. 
Kết hợp nhiều nguồn tài liệu khác nhau, có thể thấy tóm tắt:

Theo truyền thuyết, bà Liễu Hạnh giáng trần ở đầu thời vua Lê Thái Tổ (1418-1433), còn theo Truyền kỳ tân phả của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, bà xuống trần vào đời Lê Anh Tông (1557-1573). Lúc bấy giờ, tại thôn An Thái, xã Vân Cát, huyện Thiên Bản (nay là huyện Vụ Bản, Nam Định) có gia đình ông bà Lê Thái Công tu tâm tích đức, chăm làm việc thiện. Tuy vậy, ngoài 40 xuân ông bà vẫn chưa có con. Bỗng một ngày kia, bà có thai nhưng chỉ thích hoa thơm quả lạ, ngửi trầm chứ không thiết ăn uống.

Lạ thay, qua chín tháng mười ngày, bà vẫn chưa sinh nở. Đêm nọ chồng bà nằm mơ thấy lên tiên giới chứng kiến cảnh con gái Ngọc Hoàng phạm lỗi lầm nên bị đày xuống trần gian. Ông giật mình tỉnh giấc. Đó cũng là lúc người  vợ sinh vừa được người con gái tuyệt đẹp, đặt tên là Lê Thị Thắng - người dân trong vùng thường gọi Giáng Tiên. Thật ra, ông Lê Thái Công vốn họ Trần. Sự đổi họ là hiện tượng thường thấy trong lịch sử nước nhà. Chẳng hạn, theo Đại Việt sử ký toàn thư do vợ của vua Lê Thái Tổ là Phạm Thị Ngọc Trần nên từ năm 1460, họ Trần phải đổi thành họ Trình; thời Trịnh - Mạc, để tránh sự trả thù của vương triều Lê - Trịnh, họ Mạc đã đổi thành nhiều họ như Bế, Bàng, Phan, Liễu, Thạch… hoặc đời nhà Trần, Lý là tên ông nội vua Trần Thái Tông, do đó, họ Lý phải đổi ra họ Nguyễn để kiêng tên tổ và cũng là để dứt sự trông ngóng của nhân dân đối với triều Lý, v.v… Như vậy, từ họ Trần của Thánh mẫu Liễu Hạnh đổi sang họ Lê cũng có lý do tương tự.

Ngay từ thuở nhỏ, Giáng Tiên đã tỏ ra thông minh hơn người. Nhan sắc tuyệt đẹp. Không những công, dung, ngôn, hạnh vẹn toàn, bà còn có thiên tư về thi ca và âm nhạc. Ít lâu sau, ông Lê Thái Công gả bà cho nhà họ Trần, tên Đào Lang.  Ở với nhau được ba năm thì hết hạn bị đày xuống trần, một ngày kia, dù không bệnh nhưng bà mất, để lại cho Đào Lang hai con, một trai và một gái. Đó là ngày 3.3. Dù trở về tiên cảnh, nhưng trần duyên chưa dứt, tơ tình còn vương nên bà thường buồn bã. Thấy vậy, Thượng đế lại cho bà xuống trần lần thứ hai. Gia đình ông Lê Thái Công vui mừng khôn xiết.

Lần này, bà thường đi mây về gió, biến hóa khôn lường. Lần nọ, bà đi viếng cảnh chùa ở Lạng Sơn. Thấy phong cảnh hữu tình, thông reo vi vút, suốt tuôn róc rách khiến lòng vui, ôm đàn ngồi hát. Lúc đó, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528-1613) trên đường đi sứ về. Gặp nhau, cả hai cùng làm câu đối, xướng họa thơ rất tâm đắc. Lúc đó, Trạng Bùng trêu:

Tam mộc sân đình, tọa trước hảo hề nữ tử;

(Ba cây che sân, ngồi đó là cô gái xinh).

Trạng đã chơi chữ lắt léo: “Tam mộc” là ba chữ mộc tức chữ “sâm”. Chữ “hảo” là do chữ “nữ” và chữ “tử” ghép lại. Bà liền đáp:

Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

(Lần núi đi ra, hẳn đó là quan sứ).

Ở đây, bà cũng chơi chữ tài hoa không kém: “Trùng sơn” là hai chữ “sơn” tức chữ “xuất”. Chữ “sứ” là do chữ “nhân” và chữ “lại” ghép thành. Nghe đáp lại, Trạng Bùng liền xuống ngựa để hỏi han thêm vì biết không phải là người tầm thường. Hỏi đến đâu, bà đáp trôi chảy đến đó, Trạng lấy làm khâm phục. Nhưng giây lát sau lại không thấy bà đâu nữa, chỉ thấy trên cây gỗ có ghi bốn chữ: “Mão khẩu công chúa” và một tấm biển đề: “Băng mã dĩ tẩu”.

Suy nghĩ một lúc, ông mới luận ra rằng: cây gỗ là chữ “mộc”, bộ mộc thêm chữ “mão” là chữ “Liễu”, bộ mộc thêm chữ “khẩu” là chữ “Hạnh”. Đó là Liễu Hạnh công chúa. Còn bộ băng đi với chữ “mã” thành chữ “Phùng”, chữ “dĩ” đi với chữ “tẩu” là chữ “khởi”, ý của bà Liễu Hạnh bảo họ Phùng này sửa lại ngôi chùa bên đường. Phùng Khắc Khoan đã làm đúng yêu cầu của bà và đề ở chùa “Tùng Lâm tịch mịch phất nhân gia” (Trong rừng rậm tịch mịch có nhà Phật).

Có thể nói, đây là giai thoại văn chương tuyệt đẹp giữa người trần và người tiên - làm phong phú, đa dạng cho kho tàng văn học dân gian Việt Nam.

Thời gian thấm thoắt trôi qua, Đào Lang - chồng bà qua đời, rồi bố mẹ cũng mất. Không còn vướng bận tình riêng, bà thường phiêu du đây đó. Có lần, bà vào tận làng Sóc ở Nghệ An. Nhưng theo Can Lộc huyện phong thổ chí, sự việc này diễn ra dưới thời Hồng Đức (1460-1497). Nơi đây phong cảnh hữu tình. Non xanh nước biếc. Trời ngả về chiều, bà đang ngồi bên suối hái hoa thì thấy một thư sinh bước đến. Người này tên Nguyễn Phán - dáng nho nhã có tài vừa đi ngựa vừa làm thơ, thông làu kinh sử. Bà biết thư sinh này là hậu thân của Đào Lang nên buông lời kết duyên trăm năm. Vì không rõ duyên ước kiếp trước, Nguyễn Phán y từ chối, cứ lẳng lặng bước đi.

Qua ngày sau, Nguyễn Phán qua lại chỗ cũ, thấy trên cành đào có bức hoa tiên đề bài thơ. Đọc xong, thư sinh ngửa mặt lên trời mà than: “Chao ôi! Sức bút đều đặn, lời thơ tươi đẹp, không ngờ trong thế gian lại có nữ tài dường này! Dẫu Di An, Thục Chân đời Tống có sống lại cũng chưa chắc ai hơn ai kém”. Nói xong, liền họa bài thơ. Từ đó, thư sinh tương tư người nữ sĩ tài hoa ấy. Mấy hôm sau, tiết xuân mưa dầm, lòng lại thêm nhớ, thư sinh lại làm thơ cho vơi nỗi sầu. Một buổi sáng, trời quang mây tạnh, đi đến chỗ cũ lại thấy một bài thơ nữa, thư sinh lại họa. Vừa viết xong dòng chữ cuối cùng bỗng nghe tiếng nói vang lên ngọt ngào: “Người quân tử lại đến đây à?”. Thư sinh Nguyễn Phán quay lại, thấy một cô gái xinh đẹp nên mừng khôn xiết.

Không kể thêm nữa, chỉ tóm tắt rằng, họ kết duyên cùng nhau, sinh được hai con là Nguyễn Cả và Nguyễn Hai. Về sau, Nguyễn Phán thi đậu, ra làm quan giữ chức Thị nội văn hàn. Bấy giờ, bà cưỡi mây về trời. Dù về trời, nhưng bà Liễu Hạnh vẫn khao khát cuộc sống trần thế, bà lại xin Thượng đế cho xuống dương gian lần nữa. Lần này, diễn ra dưới thời vua Lê Huyền Tông (1663-1671). Xuống theo với bà còn có hai tiên nữ là Quế và Thị. Để thử tâm tính người trần mắt thịt, bà mở quán nước ở phố Cát.

Thấy bà xinh đẹp, những đấng mày râu tục tử ngu dốt nhưng hiếu sắc thường đến trêu ghẹo. Những kẻ này đều bị bà trừng trị đích đáng. Còn những ai hiền lành, làm việc thiện, tu tâm tích đức thì được bà giúp đỡ. Bỗng một ngày kia, quán nước biến mất, đêm đêm có tiếng hát ngọt ngào, ai ai cũng lấy làm kinh dị và lập đền thờ - tức đền Sòng hiện nay ở Thanh Hóa. Ai cầu xin điều gì thì được bà giúp đỡ, ai nghịch phá thì bị bà trừng phạt. Vua Lê Huyền Tông phong bà “Chế thắng hòa điệu đại vương”. Đến năm 1672, vua Lê Gia Tông (1672-1675) phong tước hiệu Liễu Hạnh công chúa.

Trên cơ sở tâm thức Folklore, dân gian đã hình dung ra biểu tượng Thánh mẫu phù hợp với nguyện vọng của mình.

Ôi, ngày chủ nhật nữa rồi. Chẳng mấy chốc, lại Tết. Bận rộn quá sức. Cũng là bài vở biết cho các báo. Cứ đều đặn mỗi ngày. Có điều đáng phàn nàn nhất, nhuận bút đều tụt giảm đến chóng mặt. Chữ nghĩa ngày một rẻ. “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”, từ thâp niên 30 của thế kỷ trước, Tản Đà tiên sinh đã thở than. Chữ nghĩa văn chương đã thế, nay, huống gì dăm ba báo vặt kiếm sống qua ngày. Biết thế. Mà vẫn viết cần cù chăm chỉ bền bĩ chung thủy trong mỗi ngày. Ấy là cái đạo của người cầm bút đấy thôi.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 29.11.2016

PDF.InEmail



1_NGAY_TET_MUA_LAN_SU_RONG

 

Nếu chọn lấy một hai nhà thơ lừng danh, xuất hiện trước ngày 1.9.1858  - ngày nổ ra chiến tranh Pháp - Việt, ngày cửa biển Đà Nẵng là nơi giao chiến, nơi chứng kiến trang sử cận đại Việt Nam bắt đầu viết bằng những dòng chữ máu, y sẽ chọn lấy Cao Bá Quát và Nguyễn Công Trứ. Cả hai mới thật là nhà nho thứ thiệt, được hấp thụ triết/đạo nho tinh hoa, chứ chưa bị pha tạp bởi hủ nho.

Với ông Trứ, nếu cần: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”; nhưng nếu cần: “Trời đất cho ta một cái tài/ Giắt lưng dành để tháng ngay chơi”. Với Cao Bá Quát, thật ghê gớm cho một con người: “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Một đời chỉ biết lạy hoa mai). Sống trên đời, “phải có danh gì” chứ? Bọn cầm bút như y có chữ nghĩa, lấy chữ vẽ ra danh, tạo dựng lên cái danh nhưng Cao Bá Quát đã nhìn ra: “Hướng tích văn chương đẳng nhi hý” (Chuyện văn chương trước đây thực là trò trẻ con). Sở dĩ, trẻ con bởi chỉ nhai đi nhai lại mớ chữ từ trang sách nát, mủn. Không còn có hơi thở của đời sống. Phía bên ngoài cửa sổ, phía dòng đời của mỗi ngày, từng khoảng khắc đang diễn ra mới là chất liệu cần thiết của văn chương.  Bằng không chỉ là trò chơi vớ vẩn của con trẻ. Than mây khóc gió. Trăng hoa tuyết nguyệt. Mơ mộng hão huyền. Khoảng cách giữa trang viết với hiện thực còn có khoảng cách xa lắm.

Nếu Cao Bá Quát cho rằng: “Văn chương là trò chơi con trẻ”, cách nói ấy đã là một sự lựa chọn dứt khoát để Đổi mới, phải thay đổi; trong khi đó, lời ăn tiếng nói của dân gian lại sắc bén, gần gũi hơn nhiều: “Văn chương không bằng cái xương cá mòi”. Cách nói này ấn tượng ghê gớm, hiểu rằng, cá mòi - một loại cá nước ngọt, dễ đánh bắt, không phải thuộc hàng “độc”, quý hiếm cỡ như cá Anh Vũ tiến vua. Ăn cá bỏ xương. Vậy mà ngay cả cái xương cá mòi, văn chương cũng không thể sánh bằng. Còn có cách nói nào mỉa mai hơn không? Lạ lùng thay, hễ “dính” đến mắm là có ngay cách nói ấn tượng, chẳng hạn, “Trai ba mươi tuổi đang soan/ Gái ba mươi tuổi đã toan về già”, sức mấy trào lộng, hài hước bằng câu:  “Trai ba mươi tuổi đang xinh/ Gái ba mươi tuổi như chình mắm nêm”. Chình là đồ đựng bằng đất, to hông, rộng miệng mà thấp.

Thời bé đi học, ai lại không thấm nhuần câu: “Đất nước ta rừng vàng biển bạc”. Biển bạc ấy, sông ngòi, kênh rạch ấy có nhiều, rất nhiều cá nuôi dưỡng cho một đời sống ấm no, sung túc. Có lẽ, bất kỳ ai dù chân trời góc biển nào, nếu được nghe câu ca dao này, tự dưng lại thấy vọng về sự thanh bình, yên vui ngây ngất trong tâm tưởng: “Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng/ Về sông ăn cá, về đồng ăn cua/ Bắt cua làm mắm cho chua/ Gởi về quê nội khỏi mua tốn tiền”. Lại nữa, “Con với mạ như cá với cơm”. Một sự gắn bó từ ngàn đời. “Có cá khá cơm”, một lẽ tất nhiên, không cần bàn cãi.

Hãy lật lại từ trong trí nhớ. Nhớ rằng, thuở bé đã từng học/đọc/nghe những gì về cá? Thì đây: No lòng phỉ dạ là con cá cơm/ Không ướp mà thơm là con cá ngát/ Liệng bay thoăn thoắt là con cá chim/ Hụt cẳng chết chìm là con cá đuối/ Lớn năm nhiều tuổi là cá bạc đầu/ Đủ chữ xứng câu là con cá đối/ Nở mai tàn tối là cá vá hai/ Trắng muốt béo dai là cá út thịt/ Dài lưng hẹp kích là cá lòng tong/ Ốm yếu hình dong là con cá nhái/ Thiệt như lời vái là con cá linh…”. Âm điệu của bài vè, đọc lên thật to, đọc ê a từng chữ cứ ngỡ như đang nhìn thấy cá bơi lội tung tăng. “Cá nhụ cá chim cùng cá đé/ Cá song lấp lánh đuốc đen hồng/ Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe” từ trong thơ Huy Cận đã bơi ngược quay xuôi trở về năm tháng tuổi thơ.

Tuổi thơ của đời người, hạnh phúc nhất, sung sướng nhất, thần tiên nhất là những ngày có mẹ. Người đàn bà Việt Nam thế nào? Trong trường ca Mẹ Việt Nam, Phạm Duy viết: “Mẹ Việt Nam, không son không phấn/ Mẹ Việt Nam, chân lấm tay bùn/ Mẹ Việt Nam, không mang nhung gấm/ Mẹ Việt Nam, mang tấm nâu sồng”. Với y, không hề ấn tượng, thậm chí đã dị ứng ngay cụm từ “không son không phấn”. Nghe ra, một sự xác định không cần thiết, thừa nữa là khác. Nếu được, sẽ chọn lấy câu trong Truyện Kiều: “Mùi thiền đã bén muối dưa/ Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sòng”. Ấy là hiện thân của Phật Bà Quán Thế Ân Bồ Tát có thật dưới trần thế, hiện hữu trong cõi đời này, để rồi, lúc mệt mỏi đường dài, khi bi quan ngã ngựa, chán nản tột cùng, mỗi một con người, ai cũng như ai đều có nơi chốn để quay về nương tựa và tìm thấy ở đó một suối nguồn trong trẻo, thánh thiện nhất đặng defragmenter, thanh lọc lại tâm hồn. Nơi ấy, chính là mẹ.

Ngày ấy, trong nhà bếp, bao giờ mẹ y cũng làm nhiều hủ mắm. Để dành ăn dần. Ăn từ ngày này qua tháng nọ. Đại để, cá mua về, làm sạch, để  ráo nước, ướp thêm gia vị như hành, tỏi, riêu, ớt; sau đó, xếp vào hủ/ thẩu. Bao nhiêu lớp cá, thêm lớp muối? Cụ thể ra làm sao? Không cần phải vào Google tra cứu, tìm hiểu, các bà nội trợ đã thừa biết tỏng và thực hiện theo thói quen, kinh nghiệm từ thực tế. Mà nói thật nhá, dám cãi rằng, cách làm tưởng rằng ngẫu hứng, không bài bản nhưng lại chính xác hơn gấp triệu lần sự cân, đong, tính toán chi ly theo con số.

Ngày một ngày hai, nhìn thấy những hủ mắm ấy, tự dưng trong lòng đã mê tơi, đã thèm thuồng, và cảm giác ấy cũng tựa như có những người sống ở nước ngoài nhiều năm, vào một chiều hiu hiu gió rét nơi xứ lạ đất khách quê người, tự dưng lại thèm ăn mắm. Thèm vì trong từng con mắm còn có cả hương vị của năm tháng tuổi thơ được sum vầy, vui đùa bên cha mẹ. Ôi, ngày tháng ấy êm đềm, thơ mộng biết bao chừng. Sống nơi xa xứ, nhớ quá con mắm của ngày tháng hoa niên, vậy phải làm sao? Thưa rằng, họ bèn ra phi trường mua lấy vé máy bay, bay cái vèo về cố hương, ăn một bữa cơm mắm no nê, ngon lành. Rồi không thể chần chừ, nấn ná lâu hơn được nữa, ở xứ người công việc đăng đăng đê đê nên buộc lòng họ phải quay ngược ra sân bay. Thế đấy, nói tóm lại, chuyến bay ấy cũng chỉ vì ma lực của con mắm đấy thôi.

Này, đã đọc truyện ngắn Lòng trần của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ chưa? Rồi à? Có lẽ, ai thương một người đàn bà tội nghiệp. “Sự đời đã tắt lửa lòng/ Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi”, vì thế bà nương nhờ cửa thiền. Nhưng rồi, đến một lúc, lúc sắp lìa bỏ trần thế ô trọc này, đột nhiên trong người bà trỗi dậy một cảm giác thèm thuồng đến lạ lùng và “nuốt ực nước miếng”: “Cơ thể bà vụt bùng lên. Nước mắm! Nước mắm! Một nỗi xót xa làm nước mắt bà ướt đẫm. Có cái gì chống đối trong từng thớ thịt, khớp xương của bà. Bà vụt nghĩ, nếu có một muỗng nước mắm chui vào bao tử bà thì có lẽ những chấn động, phản đối trong cái cơ thể mỏi mòn sinh lực của bà sẽ dịu xuống, và muỗng nước mắm sẽ đem lại cho bà sự khỏe khoắn để bà ngủ một giấc thật ngon…”. Nước mắm là sự tinh tế, vi diệu thoát ra từ con mắm. Ôi chao là thương, là thèm, là nhớ. Cảm giác ấy, len lỏi qua từng thớ thịt, hòa tan vào trong từng sợi máu.

Anh than cha mẹ anh nghèo

Đũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum

Con mắm nhum, nó ra làm sao? Có thể xếp chung vào các loại mắm khác quen thuộc như mắm rươi, mắm tôm chua, mắm ruốc, mắm cái, mắm cáy, mắm còng, mắm thái, mắm cá lóc, mắm cá linh, mắm rươi, mắm ruốc, mắm ruột cá, mắm cá cơm, mắm tép v.v… tất nhiên rồi. Cần phải nói rằng, sự ra đời mắm tôm chua Huế, con tôm săng cứng, cắn nghe cái sực, tâm thần rạo rực, tê mê cả lưỡi, chính là xuất phát từ Gò Công.  Rằng, xin dài dòng một chút, bà Từ Dũ tên thật Phạm Thị Hằng, con gái cưng của ông Phạm Đăng Hưng - một công thần đời vua Gia Long. Nhờ vị thế này, ông Hưng có cơ hội tiến cử con gái cho vua Minh Mạng. Vua Minh Mạng chọn bà Hằng “nâng khăn sửa túi” cho hoàng trưởng tử Miên Tông - tức vua Thiệu Trị sau này. Những tháng ngày ở Huế, món ăn nhớ nhất là đặc sản mắm tôm Gò Công. Gia đình gửi ra cho bà. Mắm làm từ quê nhà, đem ra đến Huế phải lặn lội đường xa, đi nhiều ngày. Và mắm đã lên men. Nhờ vậy, hương vị của nó càng quyến rũ, hấp dẫn và tạo nên một sự đặc trưng khác biệt. Riêng mắm cáy, có lẽ là loại rẻ tiền nhất chăng? Nếu không, làm sao nói có thể xuất hiện trong thành ngữ: “Bầu dục chấm mắm cáy”. Cái ngon nhất đi chung với cái kém nhất trong ẩm thực, liệu có phải người biết ăn? Nguyên bản của nó là vậy, dị bản của nó là: “Dùi đục chấm mắm cái”.

Có lần mẹ y bảo, người Quảng Nam có câu: “Ăn mắm mút dòi”. Tằn tiện đến mức đó là cùng. Nhớ nhất là những lúc ngủ dậy, đã xế chiều, nắng lắp xắp đầu ngọn tre, bụng lưng lửng đói, tuổi nhỏ luôn háu ăn. Ăn gì chăng? Trong bếp còn ít cơm nguội, vậy ăn với gì cho hả dạ hả lòng? Thì đây, bắc cái xoong lên bếp, cho lửa cháy liu riu, đổ vào đó một ít dầu phọng. Lúc dầu phọng bắt đầu líu ríu sôi, thả luôn đó vài củ nén đã đập dập. Rồi gì nữa? Mở nắp thẩu mắm cá cơm, vớt lấy một muỗng lớn, cho vào xoong, hạ lửa thấp xuống, chỉ liu riu, rim lại cho nó quánh, nhớ thêm một ít ớt, tiêu nữa. Kỳ diệu thay, trong bếp lập tức dậy mùi thơm điếc mũi. Ngay cả ông Táo đang chảnh chọe ngồi nghiêm nghị trên kia cũng nhảy cái ịch xuống, đòi ăn cho bằng được và ông ta sẽ ư ử ngâm lên khoái trá: “Con cá làm nên con mắm/ Vợ chồng nghèo thương lắm mình ơi”. Nghe vậy, ắt bà Táo cũng khoái chí mà rằng: “Mắm cua chấm với đọt vừng/ Họ xa mặc họ, ta đừng xa nhau”. Tình chồng nghĩa vợ ấm áp vời vợi cũng từ con mắm. Thương quá là thương.

Từ miền Trung: “Mắm cá cơm/ Mì bột bắp/ Nắng cháy đầu/ Mưa toạc óc”, lang bạt về miền tây Nam bộ, đã ăn mắm sống chưa? Rồi à. Thích quá đi chứ. Mắm sống là loại mắm cá nhỏ như cá linh, cá sặt ăn chung với rau sống, rau thơm mà không cần chế biến. Từng nghe có người nói rằng, “Ăn mắm sống” là cụm từ độc đáo nhất nhằm chỉ về bản sắc dân tộc của người Việt. Có quá lời không? Không dám luận bàn, chỉ xin kể giai thoại, lần nọ cụ Đồ Chiểu, Cử Trị cùng nhiều nhân sĩ “Ăn mắm mà ngắm về sau”, tức nghĩ về chuyện đời, bàn chuyện lâu dài. Khi bàn về tư cách của Tôn Thọ Tường, nhiều người bảo Tường vẫn “chơi được”, “xài được” chỉ vì: “Còn biết ăn mắm sống”, chứ chưa đến nỗi đánh mất quốc hồn, quốc túy. Có lẽ thành ngữ “Tây ăn mắm sống” - cười cợt bọn Tây “giả cày” ra đời từ lúc người Pháp xâm lược xứ Đại Nam này.

Còn nhớ, quà cho nhau, từ Cà Mau, nữ sĩ Huỳnh Thanh Kiều đã từng gửi tặng cho hủ mắm ba khía. “Đừng lo cưới vợ miệt đồng/ Ba khía cơm nguội ăn ròng cả năm”. Đã ăn mắm ba khía, có người nhủ thầm rằng, ước chi còn độc thân, hay biết bao nhiêu. Cũng là một cách để có dịp “tiếp cận” với nhiều loại mắm. Mà ăn uống là cái sự lắm chuyện nhất trên đời: “Muốn ăn bông súng mắm kho/ Lén cha lén mẹ xuống đò thăm anh". Dám mạnh miệng, với người Việt, làm nên cái sự khoái khẩu nhất trần đời vẫn là chén nước mắm, con mắm. “Đụng” đến chén nước mắm, con mắm là xúc phạm đến một giá trị văn hóa đã ngàn đời tồn tại. Chớ dại.

Không phải ngẫu nhiên trong truyện ngắn Kinh Tà Bang, nhà văn Bình Nguyên Lộc quả quyết: “Muốn có tâm hồn Việt Nam hay không, phải thở ngay không khí Việt Nam trong những năm đầu của đời nó. Nó phải biết thưởng thức mùi vị của một con cá rô nướng dầm mắm nêm, nó phải có nghe tiếng nhạc ếch vào buổi chiều ở các ruộng sâu, nó phải được nghe những câu chuyện cổ tích  đẹp như một mái lá mà bà ngoại, bà nội kể cho nó hằng đêm, từ thuở mới lên ba”.

Nghe chí lý lắm thay.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 21.11.2016

PDF.InEmail

Nhat-tuan-Suoi-hoa-Le-minh-quoc-Viet-Nga1-RTừ trái: Nhật Tuấn, Suối Hoa, Lê MInh Quốc, Việt Nga

 

Không nhớ đã quen Bùi Suối Hoa từ lúc nào. Có thể đã chừng 20 năm rồi. Qua giới thiệu của đồng nghiệp Việt Nga - con gái của nhà thơ Phan Vũ, lúc ấy, chị bắt đầu vẽ tranh minh họa truyện ngắn cho Báo Phụ Nữ chủ nhật. Những tranh này đều vẽ bằng màu nước, khổ giấy bằng trang vở học trò. Bấy giờ, đang thích thú sưu tập nên những bức tranh ấy, sau khi đã chế bản, y đều giữ lại.

Xem tranh của họa sĩ, từ chỗ thích nét vẽ ấy, rồi con người ta cũng có cảm hứng muốn tự mình thể nghiệm bằng sắc màu. Thế là, sau khi đã là bè bạn, thỉnh thoảng y đến xưởng vẽ của chị và tha hồ nghịch màu. Một căn phòng rộng, bốn bề là tranh đã vẽ, treo chật cả mấy gian phòng, là toan trắng toát và rất nhiều hộp sơn dầu, cọ vẽ. Tại đây, y đã vẽ những bức tranh đầu tiên. Ngày đó, quan sát những lúc tôi vụng về cầm cọ, chị thường động viên: “Vẽ đi. Đừng có ngại. Cứ nhảy xuống biển. Biết đâu sẽ có ngày biết bơi. Nếu không bơi được cũng biết được cảm giác của sóng nước. Thú lắm”. Trong lúc đó, thường là nhà văn Nhật Tuấn lụi cụi dưới bếp trổ tài nấu nướng. Anh chế biến thức ăn rất ngon. Thêm một người bạn thân của Hoa là Trà Mi, hát rất hay. Căn phòng rôm rã nhiều âm thanh. Và y chỉ việc mải mê theo màu sắc.

Ông bà mình nói đúng lắm: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Nhờ chơi với Suối Hoa và bạn bè họa sĩ của chị, chẳng rõ, y đã mê đắm đường nét từ lúc nào. “Nếu không gặp suối hoa thì tôi chẳng vẽ tranh/ đã suối lại hoa/ đã hoa lại phiêu bồng như suối/ nàng dạy tôi về sự rụt rè của sắc màu yếu đuối/ về sự tươi nguyên khỏe khoắn ở trên đời/ tưởng rằng vẽ chơi/ đã chơi lại đắm”. Có lẽ nhiều người biết, Suối Hoa là con gái cưng của nhà thơ Bùi Lão Kiều, tức thi sĩ Huyền Kiêu (1915-1995). Ngày nọ, chị đưa các tâp thơ của bố chị và nhờ y tuyển lại in thành một tập. Như giữ gìn kỷ niệm. Nhưng rồi, cuối cùng, chị không mấy hào hứng với ý định này nữa. Có lẽ một phần chính là sự thờ ơ của độc giả đối với thể loại thơ. Mấy ai còn đủ kiên nhẫn đọc thơ nữa? Thơ như gió thoảng, có còn ai bền lòng cảm nhận được sắc màu của gió? Nghe chị nói, y không tán thành và cũng không lắc đầu. Chỉ nghĩ rằng, với một, hai bài thơ như Tương dạ biệt, Tình sầu, Huyền Kiêu đã tạo ra một vết nhớ lâu dài trong tâm trí bạn đọc.

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh khi viết truyện dài Hạ đỏ, mở đầu tập sách là câu thơ: “Hạ đỏ vẫn chàng tới hỏi/ Em thơ, chị đẹp em đâu?”. Còn nhà văn Lê Phương Thảo,  tác giả Sóng đưa nước, Ve vãn Sài Gòn, lấy bút danh Chị Đẹp cũng từ câu thơ: “Xuân hồng có chàng tới hỏi/ Em thơ, chị đẹp em đâu?”. Thơ Huyền Kiêu đấy. Riêng tôi, lại thuộc lòng Tương dạ biệt và thỉnh thoảng tử cõi xa xăm, mơi hồ nào đó nó lại vọng đến như một niềm an ủi, vỗ về: “Ngồi suốt đêm trường chẳng nói năng/ Ngậm ngùi chén rượu ánh vần trăng/ Người xưa lưu luyến ra sao nhỉ?/ Có giống như mình lưu luyến chăng?”. Tròn một tứ thơ. Mênh mang âm hưởng rất thơ Đường. Có thể tách riêng khổ thơ này, thành một tứ tuyệt. Làm bạn với con gái một nhà thơ nổi tiếng ngẫm lại càng hay. Không phải là nhà phê bình hội họa, tôi dám quả quyết một điều: Trong tranh của Suối Hoa có cảm hứng của thơ đấy chứ?

Và từ mối quan hệ thân tình này, lần đầu tiên y cũng được triễn lãm tranh chung với những họa sĩ chuyên nghiệp. Nhiều tờ báo đã đưa tin. “Mùa xuân chín là chủ đề cuộc triển lãm kéo dài trong một tháng của 9 họa sĩ và một nhà thơ tại Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, kéo dài từ 17.12.2008 đến 16.1.2009, một triển lãm kết thúc năm cũ và mở đầu năm mới đầy hứa hẹn của 10 tác giả tham gia. Trong số các họa sĩ tham gia triển lãm, có người đã tham gia nhiều cuộc triển lãm như họa sĩ Nguyễn Thị Tâm, Cao Thị Được, Bùi Suối Hoa, Đỗ Lệnh Hùng Tú, Nguyễn Lệ Dung, Vũ Hải, Huỳnh Quang Cường…, Và cũng có người mới tập tành vẽ ra những bức tranh đầu tiên mang đến cuộc triển lãm như nhà thơ Lê Minh Quốc. Mỗi người mỗi phong cách nhưng gặp nhau ở điểm chung là sự náo nức với cuộc sống, với con người và cỏ cây thiên nhiên”.

Ấy là một kỷ niệm của tình bạn. Khó quên.

Và những lúc hàn huyên tại nhà chị, qua những lần trao đổi về hội họa, có lần nhà văn Nhật Tuấn đã cao hứng ghi chép lại và trở thành bài phỏng vấn. Còn nhớ, Suối Hoa tâm sự: “Năm 1991, tôi vẽ bức Barie. Vào thời bao cấp, tranh chưa bán được, sinh hoạt  rất khó khăn, túng thiếu, tôi vẽ những hàng rào bít kín từ trái sang phải như những phiền muộn lớp lớp của đời sống. Tôi sử dụng chuyển động của màu và của nét không giống nhau tạo nên cảm giác vùng vẫy, muốn thoát ra khỏi cảnh ngộ. Năm 1992, tôi vẽ bức Ngôi nhà dang dở sử dụng bố cục rất táo bạo bằng những khoảng trắng đè xuống khoảng đen. Năm 1993, vẽ Phận đàn bà với cô gái ngồi bên con thuyền mắc cạn, trời, mây, nước ngổn ngang, tan tác. Rồi, Những đúa trẻ không nhà đi lang thang giữa trời mưa, ven đường có một con chim chết”.

Nhà văn Lửa lạnh hỏi tiếp: “Như vậy liệu có thể nói “vẽ nỗi đau” phải chăng là cái tạng của chị?”. Chị bảo: “Không phải, tôi chẳng có cái tạng nào hết, tôi sống trong đời sống một cách chân thành, say mê, quyết liệt và khi cảm hứng tôi vẽ". Tác giả Con chim biết chọn hạt gặng hỏi: “Và chị vẽ cái “cảm hứng” đó?”. Suối Hoa trả lời: “Tôi không vẽ “cảm hứng”, tôi vẽ cái hồn của những con người, những vật thể tôi nhìn thấy vào khoảnh khắc đó”. Tôi thích đọc những bài trao đổi chân tình như thế này. Hỏi và trả lời không màu mè gì. Chỉ lấy sự chân thật làm trọng. Quý nhau mà ghi chép lại. Đơn giản như đang giỡn vậy thôi.

Và tâm thế ấy, khi vẽ, Suối  Hoa cũng nhẹ nhàng. Có lần chị kể: “Đôi lúc xem lại tranh đã vẽ. Tụ dưng lại muốn vẽ chồng lên một lớp màu khác”. Ban đầu nghe lạ tai, vì đã một bức tranh hoàn chỉnh, ai đời lại chỉnh sửa? Sau này, khi đã vẽ y mới biết điều này có thật. Lúc nọ thích bố cục thế nọ, màu sắc thế nọ nhưng lúc khác lại khoái thế kia, thế là sửa. Vẽ à? Cũng là một cách thể hiện tâm trạng của mình đấy thôi.

Khi triển lãm ở Virginia vào tháng 8.1997, chị nói với họa sĩ Đinh Cường: “Tôi may mắn được cha mẹ cho đi học vẽ từ nhỏ và cầm bút vẽ tôi đã yêu vẽ. Trong cuộc sống thực tế, có nhiều điều tôi không có, không đạt được. Trong tranh tôi có được nhiều hơn, vẽ là cuộc sống của tôi, là người bạn đời tuyệt diệu nhất của tôi… Tôi muốn tranh của tôi là ngọn lửa nhỏ chất chứa bao khát khao sự sống”.

Ngày đó, họa sĩ Định Cường nhận xét: “Suối Hoa sinh năm 1957 tại Hà Nội. Tốt nghiệp Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội 1985. Năm 1991, tranh chị được chọn in trong tuyển tập tranh đương đại Việt Nam đầu tiên do Plum Blossoms, một Gallery tại Hồng Kông, có trước Gallery Lã Vọng, nơi sau này chuyên giới thiệu tranh của các họa sĩ nổi tiếng tại Việt Nam, và làm giá tranh của các họa sĩ lên cao. Tranh chị còn được Christie’s, nơi chuyên bán đấu giá tranh vừa bán đấu giá trong năm nay tại Singapore cùng với tranh của Lê Phổ, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm... Tranh Suối Hoa có những mảng màu bạo, chồng chất lên nhau, xô đẩy nhau trong một đắm say sáng tạo. Không quằn quại như Soutine mà gần với Vlaminck. Quê hương miền Bắc, nơi chị sống suốt đời thơ ấu, vẫn là dấu ấn in đậm vào tâm hồn chị”.

Mới chừng cách đây vài tháng, tập sách Bùi Suối Hoa (NXB Mỹ Thuật - 2016) đã được ấn hành. Trong đó, cả hàng trăm bức tranh của chị được sắp xếp theo chủ đề: Chèo, Trừu tượng, Hoan ca, Phong cảnh, Con người & cuộc sống, Tĩnh vật. Cầm tập sách, y nhớ lại khoảng thời gian quen với chị, tôi in tập trường ca Hành trình của con kiến, chị đã vẽ bìa. Ngày ấy, nhiều lần lên nhà chị vào mỗi chiều chủ nhật - những cuộc hẹn gặp gỡ thường xuyên của nhóm bạn hữu, tôi biết lúc ấy, chị bắt đầu vẽ tranh chèo.

Về tranh chèo, danh họa Bùi Xuân Phái đã vẽ nhiều. Ai cũng rõ. Còn với Suối Hoa thì sao? Nhà phê bình văn học Đặng Tiến nhận xét: “Tranh Chèo Bùi xuân Phái tài hoa trong vẻ hóm, thực, sắc; Suối Hoa phóng túng, lãng mạn, hoang tưởng, chị dễ bay bổng hơn là vì vậy. Chèo của Phái là thế giới khép, lắng đọng, như giọt nước đông thành muối, Chèo nơi Suối Hoa là thế giới mở, là trần thế phôi pha, như hạt muối tan trong nuớc. Dù rất tự do, nét bút Bùi xuân Phái vẫn hàn lâm, duy lý. Suối Hoa duy tâm hơn, lối tạo hình siêu nhiên có lúc nhắc tới tranh Chagall, với con người và sự vật bay bổng, hóa thân, đầu xuôi đuôi ngược”.

Thú thật, như đã nói, y thích đọc những cảm nhận của bè bạn dành cho bè bạn. Bởi nó chân tình. Khác hẳn những nhận xét của các nhà phê bình, dù đúng, chính xác nhưng khó tìm thấy trong câu văn sự thân mật. Cũng tựa như, ăn món ăn ngon, do bạn bè tự tay nấu, vẫn thích hơn ăn món đó ở ngoài nhà hàng sang trọng. Và này nữa, xem tranh tại xưởng vẽ của họa sĩ, chắc chắn ta sẽ hứng thú hơn vạn lần nhìn nó treo tại nhà triển lãm, phô bày chốn công cộng.

Với xưởng vẽ của Suối Hoa, y đã có cảm giác của một người đang bước chân vào một thế giới khác. Để rồi ngay lúc ấy, tự lòng mình là một cảm hứng bùng vỡ, một cánh cửa khác đã mở ra: “trước khung tranh trắng toát một màu/ anh cảm thấy như sắp lao xuống biển/ nhưng chẳng biết bơi/ vẽ gì đi tôi ơi/ biết vẽ gì khi tâm hồn trống rỗng/ một màu đen vỡ ra nghìn tiếng động/ những lời em đay nghiến cháy bỏng môi/ vẽ gì đi tôi ơi/ một màu xanh hấp hối/ có đủ sức sẻ chia lòng yếu đuối?”. Câu hỏi ấy, tự lòng mình, có được cũng chính từ những sắc màu mà bạn đã thể hiện.

Lãng du trên con đường di đến với sự sáng tạo, đành rằng, đó là một việc làm lặng lẽ, đơn độc, nhưng y nghĩ cũng cần sự san sớt, sẻ chia cảm hứng ấy với bạn bè. Nhìn lại Tự Lực Văn Đoàn, Hàn Thuyên, Sáng Tạo, Nhân Loại…cũng chính là sự thành công của “cùng hội cùng thuyền”. Nó tác động lẫn nhau từ tâm thế bạn bè, chứ không phải do ràng buộc của quy chế, nội quy, bầu bán, biểu quyết, bỏ phiếu gì cả. Nhờ thế, tình đồng nghiệp mới bền và mới thật sự thủy chung.

Ngày nọ, nửa khuya giật mình thức dậy bởi một tin nhắn của Suối Hoa về người bạn chung. Đột nhiên bao nhiêu kỷ niệm của những buổi chiều vàng lại ùa về trí nhớ. Lúc ấy, hay tin nhà văn Nhật Tuấn đã chạm vào Một cái chết thong thả. Viết luôn vài câu thơ tiễn anh, tất nhiên không thể không nhắc đến Suối Hoa. Thơ rằng: “Gặp nhau chỉ một chặng đường/ Lúc “Trang 17” tang thương nát nhầu/ “Niềm vui trần thế”? Còn lâu/ “Những mảnh tình đã vỡ” sau bóng ngày/ Bạn bè “Lửa lạnh” tỉnh say/ Sắc màu “Bận rộn” vẫn đầy suối hoa/ Văn chương chữ nghĩa đi qua/ Có ai thấu hiểu bóng ma nhoẹt nhòe?/ Đường dài một bóng ngựa xe/ Buốt từ tiếng gió có nghe tiếng người?”.

Lâu rồi không gặp nhiều bạn bè. Trong đó, có Suối Hoa. Có lẽ, cái lỗi trầm trọng nhất là do… Facebook! Mỗi ngày, lướt qua là biết bạn đang làm gì, ở đâu, một cái like, một câu comment là xong. Dần dà, nhu cầu cần gặp gỡ nhau ít đí chăng? Chẳng phải đâu. Lại nhớ đến câu thơ của Huyền Kiêu: “Hiu hắt trăng khuya lạnh bốn bề/ Ý sầu lên vụt đến sao Khuê/ Quý thay giây phút gần tương biệt/ Vương vấn người đi với kẻ về”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: NHẬT KÝ 12.11.2016

PDF.InEmail

thu-but-bang-ba-lan-1-R

Thủ bút nhà thơ BÀNG BÁ LÂN




Hôm nọ, ra chơi ở Đường sách, một tay chuyên mua bán sách cũ, năn nỉ mua lại vài chục số Nghệ Thuật. Dĩ nhiên, lắc đầu. Với y, sưu tập sách báo cũ là để đọc. Và sau đó, nếu có hứng, ắt viết cái gì đó. Sách cũ chỉ có giá trị một khi những gì trong sách đó có thể khai thác nhằm phục vụ người đương thời, bằng không chỉ là một mớ giấy nát. Quả nhiên. Nhiều người sưu tập cả đời, chắt chiu, cắc củm từng trang giấy ố vàng. Quý lắm. Nâng niu lắm. Thế nhưng sau khi mất đi, với con cháu nếu không thích, không hiểu rõ giá trị thì khác gì ngoài mớ giấy lộn? Chất chật nhà. Gọi ve chai vào, bán thốc bán tháo “của nợ” ấy cho xong. Y biết nhiều người bán sách cũ đã “phất lên” nhờ trúng đậm những mối hời này.

Đôi khi, chính y nhìn thấy, không khỏi chạnh lòng. Chi xin kể lại một trường hợp:

Ông nhạc sĩ lão thành nọ rất nổi tiếng với các công trình bảo tồn, nghiên cứu âm nhạc dân tộc, con cái theo nghiệp đàn ca hát xướng, vậy mà, toàn bộ những gì một đời ông sưu tập đều tống ra tiệm sách cũ, sau ngày ông mất. Kể cả những giấy khen, lá số tử vi, sổ ghi chép, các bài báo viết về ông v.v… Ít ai biết, trong tập thơ Vào thu (NXB Ánh Sáng -1971), thi sĩ Bàng Bá Lân có ghi thêm câu riêng tặng  ông và ký tên bằng màu mực đen trên giấy hoa tiên, có thể hiểu đây là bản sách quý. Thơ rằng:

Tay tiên nắn sợi tơ đồng
Nỉ non, thánh thót cho lòng nao nao
Tiếng mau như đổ mưa rào
Tiếng khoan: gió lọt song đào hiu hiu
Tiếng buồn: dế khóc chân rêu
Tiếng vui: ô, nhạc sáo diều chơi vơi
Bắt buông, buông bắt lả lơi
Tiếng trầm, tiếng bổng… sầu khơi mạch sầu
Tiếng chìm run rẩy lâu lâu
Tiếng cao thoăn thoắt lướt mau vội vàng
Lòng riêng thổn thức theo đàn
Buồn trông lệ nến tuôn tràn long lanh

Còn một đoạn dài nữa. Bài thơ này, nếu có dịp so sánh với tiếng đàn của Kiều lúc lần đầu đàn cho Kim Trọng, ắt cũng lý thú. Đó là chưa kể một vài quà tặng khác của nhà thơ Đông Hồ nữa. Có dịp kể lại sau. Lại nhớ đến lúc chị em Kiều dạo chơi trong tiết thanh minh, nhìn thấy nấm mồ vô chủ, Kiều òa lên khóc. Cô em mắng:  “Chị cũng nực cười/ Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa”. Nàng trả lời: “Nỗi niềm tưởng đến mà đau/ Thấy người nằm đó biết sau thế nào?”. Ối dào, Kiều đa đoan, nhậy cảm quá. Việc gì phải thế? Sống là tận hưởng trọn vẹn khoảnh khắc đang có, đang trong thì hiện đại có tốt hơn không? Ít ai nhắc đến thơ Hồ Dzếnh. Nếu đọc kỹ sẽ nhận ra tơ lòng của ông mỏng manh, tinh tế, sâu lắng không kém gì Lửa thiêng Huy Cận. Và bây giờ, y đọc câu thơ của Hồ Dzếnh: "Đừng buồn nhưng cũng đừng vui/ Êm êm nắng nhẹ qua trời rộn mưa/ Hỡi người, tôi nói gì chưa?/ Tôi đương sắp nói, hay vừa nói ra?".

Trở lại với tuần báo Nghệ Thuật.

Cứ theo Thư mục báo chí Việt Nam (NXB Chính trị Quốc gia-1998): “Phát hành ngày thứ Bảy; số 1, ngày 1.10.1965; số cuối cùng: số 57, tháng 11.1966, khổ 410x290 mm” (tr.292). Bổ sung thêm: Tòa soạn 233 Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn, Đ.T: 25.861. Họa sĩ Đằng Giao trình bày; Chủ nhiệm, chủ bút: Mai Thảo; Tổng TKTS: Thanh Nam; TKTS: Viên Linh. 34 trang; giá bán mỗi số: 8 đồng;

Dừng lại với số báo này:

“Nơi trang trong của hơn 30 tờ báo hàng ngày bày bán đặc dày trên những sạp báo, đã từ nhiều năm nay trở thành vùng đất họp mặt đông đảo của một số người viết tiểu thuyết. Đó là một hiện tượng đặc biệt, phát sinh trước hết bởi sự đồng tình trong thái độ và phong cách sáng tác của người viết văn khi viết cho nhật báo”. Đây là lời nói đầu của tuần báo Nghệ Thuật (số 22 ra ngày 12.3.1966) khi nhóm chủ biên thực hiện chuyên đề “Nói chuyện giữa những người viết tiểu thuyết nhật báo”.

Những cây bút thường viết thể loại này, có thể kể đến Lê Xuyên, Bà Lan Phương, Nghiêm Lệ Quân, Thanh Lan Phương Tử, Nguyễn Đình Thiều, An Khê, Kim Sơn, Trương Đạm Thủy, Hoàng Ly, Hải Âu Tử v.v… Mỗi tờ báo đều có những cây bút “chủ lực” nên nhìn chung rất hùng hậu.

Loại “tiểu thuyết đăng nơi trang trong các nhật báo”, có lẽ, nhà văn Hoàng Hải Thủy là người trước nhất nghĩ ra cụm từ “feuilleton”. Sở dĩ nhắc lại chi tiết này vì bấy giờ nó chưa có tên gọi chính thức, nhà văn Lê Xuyên cho biết: “Tập san Văn gọi là tiểu thuyết tân văn”. Thật ra, nếu ngược về khởi thủy của nền báo chí nước nhà, tại Hội thảo khoa học 150 năm thành lập GIA ĐỊNH BÁO và sự phát triển của báo chí Việt Nam tổ chức ngày 29.5.2015, theo Thạc sĩ Nguyễn Văn Hà, từ năm 1885: “Trên Gia Định Báo còn xuất hiện thể loại feuilleton (truyện trang giữa - serial story) với các truyện dịch hoặc phóng tác từ văn học Pháp, đăng nhiều kỳ”. Nói cách khác, thể loại feuilleton đã xuất hiện từ thuở bình minh của nền báo chí nước nhà.

Nhưng tại sao lúc bấy giờ, tờ Nghệ Thuật tổ chức chuyên đề trên?

Có lẽ do đánh giá thể loại đó là “hiện tượng đặc biệt” với nhận xét, đánh giá còn khác nhau, vì thế câu hỏi đặt ra: “Người ta thường cho rằng tiểu thuyết đăng nơi trang trong các nhật báo phần lớn đều nhằm mục đích thương mại, chiều theo thị hiếu, do đó, không có một giá trị nghệ thuật nào. Qua những tiểu thuyết đăng báo hàng ngày của ông và các tác giả khác, ông nghĩ gì về nhận xét ấy?”.

Là “người trong cuộc”, nhà văn Hoàng Hải Thủy đánh giá: “Đa số các “feuilleton” đều kém giá trị nghệ thuật là vì sự làm việc máy móc của các nhật báo: đúng giờ đã định thì phải có bài, hay hoặc dở, hứng thú hoặc chán nản, mạnh khỏe hay đang đau yếu, người viết phải viết cho đủ bài. Đa số người viết lại là những văn nghệ sĩ làm việc tùy hứng, lười viết, chờ đến giây phút đòi hỏi cuối cùng mới ngồi vào bàn viết, tất nhiên không thể nào hay được”. Nhiều nhà văn đồng tình với ý kiến này. Nhà văn Sĩ Trung bổ sung: “Các ông chủ báo mời tôi cộng tác chỉ căn dặn 1 câu: đưa bài cho đúng giờ, đùng để anh em xếp chữ typo phải chờ đợi; đừng để độc giả phải đọc câu cáo lỗi: “Vì tác giả thọ bịnh thình lình nên truyện dài… phải gác lại một kỳ”.

Khi đánh giá lại chất lượng của nó, các nhà văn đã nói gì?

Nhà văn Ngọc Linh cho biết: “Thú thật trong vòng 10 năm viết tiểu thuyết, tôi không thể nhớ đã viết bao nhiêu truyện. Có lẽ ở vào khoảng 30 đến 40 quyển và tôi chưa hoàn toàn vừa ý một tác phẩm nào”. Nhà văn Duyên Anh bật mí, ông bắt đầu viết “feuilleton” vào năm 1964, lúc làm ở nhật báo Xây Dựng. Truyện trước nhất là Ảo vọng tuổi trẻ, rồi tiếp theo Điệu ru nước mắt, Nước mắt lưng tròng: “Tôi không bằng lòng cuốn nào cả”. Với nhà văn Lê Xuyên, ông cho biết đã in cả 8 quyển trên nhật báo như Chú Tư Cầu, Rặng trâm bầu, Kinh Cầu Muống… “Nếu tiểu thuyết đăng nhật báo vẫn thường coi là một thứ con hoang, vô thừa nhận của văn nghệ sĩ, thì đối với chính nhật báo của nó được in lên nhưng nó cũng chỉ được liệt vào hạng con ghẻ”, ông kết luận.

Do viết mỗi ngày như ta đã biết, nhà văn không thể có thời gian trau chuốt văn phong, chữ nghĩa, cốt truyện; thậm chí lối hành văn của họ có một điều dễ dàng nhận ra là nhân vật đối thoại khá nhiều. Đây là một cách xuống dòng nhanh, mau chiếm hết cột báo mỗi kỳ. Còn nhớ thuở nhỏ, dì út y lúc làm bếp hay biểu truyện feuilleton của Lê Xuyên, y còn nhớ từ ngày này qua tháng nọ nhân vật nam nữ vẫn cứ mải miết đối thoại “tràng giang đại hải”. Đó là chưa kể, một nhà văn còn nhận viết cùng lúc cho dăm bảy nhật báo như trên nhật báo Trắng Đen năm 1971, cùng một trang báo nhưng in 2 “feuilleton” Mảnh tình xẻ nửa, Ray rứt của Bà Lan Phương. Rồi với quy định nghiêm nhặt phải đúng giờ, nên họ buộc viết nhanh, viết nhiều, vì thế không hiếm trường hợp oái oăm xẩy ra. Có nhà văn kể, ban đầu ông cho nhân vật dẫn “mèo” vào nhà hàng bằng xe hơi nhưng sau đó họ lại về bằng taxi, chẳng hạn. Tức “chuyện nọ xọ chuyện kia”, vì cùng lúc phải viết cho nhiều nhật báo nên nhầm lẫn.

Vậy nên, khi trả lời phỏng vấn tạp chí Văn, nhà văn Sơn Nam thẳng thắng: “Vài nhà văn đem tiểu thuyết đăng báo in thành sách, trình bày đứng đắn, không bán đại hạ giá, nhưng sách đó khó gọi là văn chương”. Có lần, tôi hỏi ông đã viết “feuilleton” có nhiều không, ông gật đầu nhưng thú thật không nhớ đến dù là tựa. Đến lúc y đưa ra tờ nhật báo Đuốc Việt số ra ngày 9.2.1964, có in “tiểu thuyết tình cảm” Hai người tranh sống, ông giật mình, đọc ngấu nghiến rồi… cười khà khà! Do hiểu quan niệm viết của ông nên khi biên soạn tập sách Sơn Nam - Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê (NXB Kim Đồng -2011) , y không đưa “tác phẩm” này vào thư mục Sơn Nam.

Tại sao các nhà văn vẫn viết “feuilleton”?

Chỉ vì sinh kế. Nhà văn Lê Xuyên cay đắng: “Nhưng biết làm sao, đó cũng là một nghề kiếm cơm. Một nghề vất vả, chẳng hiếm hoi buồn phiền và nhất định là bạc bẽo rồi. Tuy nhiên, nhờ đó, người viết cũng có được số tiền khá khá”. Nói đi cũng phải nói lại, không phải truyện “feuilleton” nào cũng đều liệt vào hàng cẩu thả, viết ẩu. Và cũng theo nhận xét của Lê Xuyên, ta biết thời đó, còn có những cây bút nghiêm túc có trách nhiệm cùng bạn đọc, chẳng hạn: “Tiểu thuyết của Bà Tùng Long luôn khít khao với mẫu mực luân lý nên vẫn được độc giả theo dõi”.

Về chuyện này, trong hồi ký Viết là niềm vui muôn thuở của tôi (NXB Trẻ - 2003, Bà Tùng Long cho biết kinh nghiệm: “Tôi luôn sẵn lập dàn bài, tóm lược cốt truyện, phân chương và ghi chi tiết từng chương, định hình nhân vật cho mỗi truyện. Trước khi viết tiếp cho báo này, tôi luôn xem lại dàn bài này, nhờ vậy không bao giờ lẫn lộn cốt truyện hoặc nhân vật truyện này qua truyện nọ”.

Hiện nay, thể loại “feuilleton” theo đúng nghĩa của nó đã không còn xuất hiện trên mặt báo. Và vì sao trước đó nó có thời gian “sống khỏe” là vì lẽ gì? Y xin không bàn luận. Chỉ dám nói rằng, có một thời nhiều nhà văn miền Nam đã “lấy ngắn nuôi dài” là nhờ “truyện dài in từng kỳ ở trang trong nhật báo”. Nếu thể loại “feuilleton” hiện nay được “sống lại” trên mặt báo, theo y đây chính là sự “cải thiện” đáng kể cho thu nhập của nhà văn, bởi ngoài nhuận bút mỗi kỳ in họ cỏn có thêm khoản tiền khi in thành sách. Và điều quan trọng hơn, với “kỷ luật” phải viết mỗi ngày, qua đó, chính họ cũng ý thức thường xuyên hơn về nghề cầm bút.

Bổ sung thêm: Sau năm 1975 đến nay, trên báo chí, thể loại “Tiểu thuyết nhật báo”  hay còn gọi “Tiểu thuyết tân văn”; hoặc “feuilleton” hoàn toàn biến mất. Có lẽ vì thế, bộ Từ điển văn học (bộ mới) đồ sộ, quy củ, đầy đủ nhất cho đến thời điểm này vẫn không ghi nhận. Trong phần “Tra cứu thuật ngữ văn học” chỉ có nhắc đến: “Tiểu thuyết, Tiểu thuyết anh hùng ca, Tiểu thuyết chí quái, Tiểu thuyết chương hồi và Tiểu thuyết truyền kỳ” (NXB Thế Giới - 2003, tr.2180).

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 2 trong tổng số 45

298
trinhduyson