LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 5.11.2016

 

bua-com-ngon-1R

 

Không nhớ từ lúc nào, y đã đọc bài thơ này trên báo báo nào, tác giả là ai? Thế nhưng, những lúc buồn bã, thất vọng khiến tâm hồn mệt mỏi, cay đắng, lại nhớ đến. Như môt liều thuốc giúp tinh thần phấn chấn trở lại. Như một niềm an ủi vui tươi. Không riêng gì y, nhiều người khác lúc nhớ về bữa cơm gia đình thời thơ ấu, bao giờ cũng vọng lại kỷ niệm chói chang nắng ấm. Rằng, nhân ngày dịp lễ, trên mâm bữa cơm của một nhà nọ có con gà thiến luộc vàng hườm, béo nhẫy! Ông bố vốn hài hước, vui tính bảo: “Gia đình ta, ai cũng yêu thơ. Mà ăn uống phải có văn hóa nghệ thuật, vì thế, bố quyết định mỗi người đọc một câu thơ. Ai nhắc đến bộ phận của con gà nào thì được thưởng phần đó”.

Cả nhà vui vẻ tán đồng.

Người cha cười khà khà ứng khẩu: “Bố đây làm chủ gia đình/ “Đầu, cổ” sáng suốt điều hành mới hay”. Rồi ông xén phần đầu, cổ bỏ vào bát. Tợp hớp rượu. Cườu khà. Kế đến, cậu con trai tiếp: “Con nguyền nối tiếp chí trai/ Chỉ xin “đôi cánh” tung bay giữa trời”. Cô con gái ấp úng: “Con là phận gái má hồng/ Cần “đùi chân” chắc, “gan lòng” trinh nguyên”. Hào hứng vỗ tay khen, bà mẹ tủm tỉm cười. Rồi, bà sẽ đọc câu thơ gì?

Biết chú út vốn háu ăn, vì thế, bà hạ một câu “đánh nhanh, diệt dọn”, tất nhiên, chỉ là một cách đùa hóm hỉnh: “Mẹ luôn son sắt “trái tim”/ Giữ “thân mình” dẫu tóc xanh bạc màu”. Vậy là xong. Nhìn thấy trên mâm trống trơn, chú út giẫy nẫy, khóc nhè: “Hu hu… thịt hết còn đâu”. Người cha vui vẻ dỗ dành: “Đây! Riêng con chiếc “phao câu” vàng hườm/ Cả nhà ai cũng thương con/ Đều dành cho út phần ngon đây nè”. Chú út có nín khóc? Sức mấy nín. Vẫn khóc. Biết trẻ con khoái tin lời hứa, ông bố bảo thêm: “Nín đi, đừng có khóc nhè/ Sang năm học giỏi, thơ vè cho hay/ Thưởng út nguyên con gà quay”. Cậu anh trai liền trêu: “Chú út khoái quá, cười ngay hì hì”.

Vui quá. Thương quá. Hạnh phúc đời người, tìm kiếm đâu  xa, đôi lúc chỉ cần vậy. Mà nhớ suốt một đời. Mà trong đời người, những bữa ăn có bố mẹ, anh chị em cùng ngồi chung một mâm. Mãi mãi là kỷ niệm đẹp. Trưa  qua đi làm, trên đường về nhà lẫm nhẫm mấy câu thơ đó. Rồi lại ngao ngán. Mỗi trưa, là ngao ngán. Chẳng biết phải ăn gì? Khổ thế.

Khá lâu rồi, đọc một thông tin Trên 6 triệu con heo xơi chất cấm vô bụng người Việt. Ám ảnh mãi. “Khi được cho ăn thức ăn có chứa các chất thuộc nhóm beta-agonist (gồm salbutamol, clenbuterol và ractopamine) với một tỉ lệ nhất định, heo sẽ bung đùi, nở mông, tăng trọng nhanh và giảm mỡ, tăng nạc... Tuy nhiên, người tiêu dùng ăn thịt heo có tồn dư salbutamol và clenbuterol lâu dần sẽ có nguy cơ bị ảnh hưởng xấu lên tim mạch, làm tim đập nhanh, tăng huyết áp, run cơ, rối loạn tiêu hóa, nếu nặng có thể nguy hiểm đến tính mạng và là nguy cơ cho những căn bệnh khác. Các nước trên thế giới đều đã cấm sử dụng nhóm beta-agonist để làm chất kích thích tăng trọng trong chăn nuôi. Từ năm 2002, Việt Nam cũng đưa các chất thuộc nhóm beta-agonist vào danh sách cấm (nguồn: Báo Tuổi Trẻ ngày 22.3.2106).

Rợn cả người.

Mới chiều tuần rồi, người em, bạn thơ Lê Hòa nhắn tin mời vào quán nhậu lai rai. Ngoài trời mưa như thác đổ. Gọi món thịt bò xào cần cho ấm bụng. Khói nghi ngút. Thơm tho. Vừa cầm đũa, ăn thử một miếng. Hòa phát hiện ra thịt giả, tức thịt heo bị biến thành thịt bò. Gọi tay quản lý nhà hàng ra, Hòa phân tích đâu ra đấy, cuối cùng, hắn phải đổi cho món khác. Thế đấy. Đôi lúc, bước vào nơi sang trọng, chắc gì đã ăn thực phẩm sạch? Có tiền đó, dù không nhiều nhưng vì sức khỏe, người ta sẵn sàng mua thực phẩm nhập khẩu để ăn mỗi ngày. Mua ở đâu? Lựa chọn thế nào? Phân biệt giả thật ra làm sao? Với y, luôn là bài toán khó.

Ngày kia, mẹ ốm, không thể đi chợ, y bèn tài lanh vào siêu thị. Lúc mang thức ăn về, huýt sáo hào hứng, chắc mẫm được mẹ khen cho một câu. Sướng nhé. Nào ngờ, bà cụ bảo: “Ra ngoài chợ nhìn thấy tận mắt, mua tốt hơn, chị dâu con nói với mẹ là không ít hàng kém chất lượng đã tuồn vào đó, họ đóng mác lại nên thiên hạ cứ tưởng thực phẩm sạch”. Nghe choáng luôn. Chẳng lẽ, chuyển qua ăn chay. Mà chắc gì đã an toàn?

Chẳng rõ, sau này các nhà nghiên cứu lịch sử sẽ bình luận thế nào về sự việc này? “Đổ xô đi mua muối, nước mắm”: Thông tin nước biển nhiễm độc tại các tỉnh miền Trung khiến người dân không dám ăn các loại thủy hải sản biển, đồng thời, sản phẩm được chế biến từ các vùng biển miền Trung cũng ế ẩm. Tuy nhiên, những ngày qua, các loại nước mắm, muối sản xuất tại các địa phương khác “cháy” hàng, khiến thị trường xáo trộn” (nguồn: Báo Thừa Thiên Huế Online ngày 29/04/2016 - 10:50). Một đất nước nằm dọc bờ biển Đông, ngàn đời làm muối, giỏi nghề đi biển mà nay không có cá, muối để ăn - nói như đồng nghiệp Ngô Kinh Luân đã từng than vãn: “Cạn lời”. Đúng là cạn lời đến độ không còn thốt ra lời nào nữa. Không thốt ra lời cũng là lúc từ hai hố mắt ứa ra từng giọt lệ cay đắng. Căm thù.

Lịch sử tiến hóa của dân tộc Đại Cồ Việt này, ông trời chơi khăm quá.

Lúc bị nô lệ, tiếng kêu than, niềm bi phẫn, sự réo gọi mãnh liệt của bao tử đã tạo nên sức mạnh vùng dậy giành lấy tự do, khát vọng được làm người. Giá trị lớn nhất của nền văn học hiện thực trước 1945 đã phản ánh rõ nét. Ám ảnh về miếng ăn ghê gớm lắm. Đọc để thương xót, để hiểu hơn kiếp người thuở ấy. Nhà văn Ngô Tất Tố có viết truyên ngắn về ngày Tết của một nhà nghèo. “Ý a, sáng rồi! Tết đến nơi rồi”. Những đứa trẻ réo gọi bố mẹ dậy “làm Tết”. Thế nhưng nhà không có gì để nấu, họ đành lần khần, khất mãi, mãi đến trưa, con cái mè nheo, khóc lóc. “Chúng con đói quá rồi, Thôi chẳng cần ăn giò ăn bánh gì nữa u ạ, U đi nấu cơm cho con ăn”; “Nhà hết gạo rồi, lấy gì mà nấu cơm được? Con có bú của em một miếng thì bú”. Vừa nói, chị Ất vừa vạch yếm nâu, chìa cái vú lép lẹp cho thằng bé năm tuổi. Sung sướng thằng Tuất kề miệng vào đầu vú mẹ, nhắm mắt, nóp má, hút một hơi dài. Tuy bầu sữa khan cạn, không thấm gì với dạ dày thằng Tuất, mà cái Mùi đứng cạnh, hai con mắt vẫn chòng chọc nhìn em như muốn ghen sự no nê của nó”. Truyện ngắn này, Cái bánh chưng in trên báo Tương Lai số 4 (18.2.1937).

Nghĩ về tương lai là hướng đến sự tốt đẹp hơn, chẳng hạn, cơm no, áo ấm, không còn vì nhìn cảnh vợ con nheo nhóc vì đói. Rồi bức bách đến độ phải treo cổ xong quách cái sự đời đen như mõm chó mực.

“Bu ơi con đói”, đang nằm bệnh, anh đĩ Chuột nghe tiếng khóc của con mà quặn lòng. Làm thế nào để bớt một miệng ăn? Tình huống của sự bi thảm buộc nhà văn viết tiếp. Viết tiếp đoạn này, có lẽ Nam Cao đau đớn đến bật khóc, người đọc cũng ứa nước mắt: “Anh lấy cái thừng, làm một cái tròng chắc chắn, dùng hết sức tàn còn lại, trèo lên ghế, hai chân khẳng khiu run lẩy bẩy. Anh buộc cẩn thận một đầu dây lên xà nhà, buộc xong, mệt quá, anh đu vào cái thừng, gục đầu xuống thở. Anh thấy lòng chua xót, nước mắt giàn ra hai má lõm. Rồi anh quả quyết, anh đứng thẳng người lên, chui đầu vào tròng, cái thừng cứng cáp cọ vào cổ làm anh rùng mình, khóc nấc lên một tiếng. Cả cái thân hình mảnh dẻ bắt đầu rung chuyển như một tàu lá run trước gió. Bỗng anh ngừng bặt, ngây người ra nghe ngóng. Tiếng ai vừa gọi ngoài ngõ, tiếp đến cái Gái thưa và chạy ra, tiếng người kia the thé:

- Bu mày đâu?

Tiếng cái Gái rụt rè đáp lại:

- Bẩm bà, bu con đi vắng.

- Đi vắng! Đi vắng mãi! Mày về bảo con mẹ mày nội ngày mai không trả tiền tao thì tao đào mả lên đấy. Cái giống chỉ biết ăn không.

Anh đĩ Chuột rít hai hàm răng lại. Hai chân giận dữ đạp phắt cái ghế đổ văng xuống đất. Cái tròng rút mạnh lại. Cái bộ xương bọc da giãy giụa như một con gà bị bẫy, sau cùng, nó chỉ còn gật từng cái chậm dưới sợi dây thừng lủng lẳng”.

Nghĩ về tương lại là hướng đến sự tốt đẹp hơn. Điều ấy đã đến. Khát vọng đổi đời đã đến. Người Việt giàu có hơn, chẳng còn ai phải sống mòn như các nhân vật dân đen trong dòng văn học hiện thực phê phán. Đúng thế. Nhưng ông trời chơi khăm thật. Giàu có hơn đấy. Sung túc hơn đấy. Nhưng rồi có lúc cầm một đống tiền trên tay, lại tự hỏi: “Mua gì để ăn?”. Ăn là để sống, chứ không thể ăn để chết. Câu trả lời khó khăn quá. Bao giờ mới trở lại cái ngày xa xưa? Trong quyển Tiểu học Quốc văn lớp Tư (NXB Sống Mới -1967) do nhà giáo Hà Mai Anh biên soạn, trang 36 có bài học thuộc lòng:

Rau thơm trái ngọt đâu tầy

Ruộng đồng trải khắp đó đây lúa vàng

Cửi Long một dãy trường giang

Sẵn tôm nhiều cá dễ dàng sinh nhai


Thôn trang gà, lợn chăn nuôi

Tiện bề tiếp tế khắp nơi thị thành

Tự do, no ấm, thanh bình

Biết bao gây dựng công trình mới nên


Chắc chắn gia súc ngày ấy không có những thứ mà cơ quan chức năng đã cảnh báo: Chất tăng trọng Cysteamine - người ăn phải thịt chứa chất này trong một thời gian dài có thể bị mắc ung thư vú, ung thư kết tràng và tuyến tiền liệt, suy yếu hệ thống miễn dịch...; Chất tạo nạc Salbutamol - gây nhức đầu, buồn nôn, tụt huyết áp, run chân tay, gây nhược cơ, làm giảm vận động của cơ, khớp, khiến cơ thể phát triển không bình thường. Thuốc an thần Prozil để gia súc giữ cân, dễ giết mổ, thịt hồng tươi khiến chất độc tích tụ trong cơ thể có nguy cơ dẫn đến rối loạn tiêu hóa, ảnh hưởng đến tim mạch, run chân tay, thay đổi huyết áp, rối loạn giấc ngủ, thậm chí đần độn. Tồn dư kháng sinh được nguy hiểm hơn chất tạo nạc, có thể làm suy giảm chức năng gan, thận, khiến cơ thể con người bị kháng thuốc.

Rợn cả người.

Đừng mong ước cả thiên đường

Hãy xin lấy nửa tấc vườn vắng hoa

Thơ Hồ Dzếnh. Y chưa “đạt đạo” đến cỡ đó. Những ngày này chỉ xin được trở lại như ngày xưa có bữa cơm được ăn thực phẩm sạch. Bình dị là thế. Đơn giản là thế. Sao lại khó khăn đến thế? Cay đắng đến thế? Lịch sử tiến hóa của dân tộc Đại Cồ Việt này, ông trời chơi khăm quá. Nói thế, oan cho ông trời. Bài học thuộc lòng Bữa cơm ngon, in trong sách Tập đọc lớp Ba, trang 64 (Bộ Giáo Dục miền Nam in năm 1966). Năm đó, y vừa lên 7, mẹ y đã 39 tuổi.

Ngày ngày tôi thích bữa chiều

Cơm thường xoàng xĩnh nhưng nhiều người ăn

Cả nhà đông đủ quanh bàn

Này ba, này mẹ, này đàn em thơ…

Rau dưa với thịt kho nhừ

Chén cơm trắng dẽo, ngọt lừ tô canh

Bữa ăn sum họp gia đình

Cơm rau thanh đạm, mặn tình thương nhau.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 4.11.2016

nhac-si-VU-HOANG-1RRR

Nhạc sĩ Vũ Hoàng

 

Một ngày kia, ngày 16.1.2015 đang ngồi làm việc bỗng nhận được tin nhắn của nhà báo Hữu Thân: “Nhạc sĩ Vũ Hoàng vừa đột quỵ”. Thật bất ngờ, hôm nọ mới vừa tay bắt mặt mừng, trông anh còn khỏe khoắn. Vậy mà. Ngay sáng hôm sau, y đã cùng nhà văn Đoàn Thạch Biền vào Bệnh viện 115 thăm anh. Leo lên mấy tầng lầu, vừa đi vừa sực nhớ câu thơ của xướng họa giữa Tú Mỡ và Nguyễn Công Hoan: “Gối hạc thằng tôi còn lỏng lẻo/ Mình vân của bác cũng lao đao”. Ấy là lúc sức khỏe của người đi thăm bệnh lẫn người bệnh chẳng còn bảnh tỏn.

Trước kia, lúc bình thường, vẫn công việc hào hứng mỗi ngày, vẫn bia bọt “bán trời không mời thiên lôi”, ai cũng nghĩ sức mấy thèm lui tới bệnh viện. Nhưng hỡi ôi, ai lại không sẽ có lúc nằm lì một chỗ? Bước vào phòng, nhìn dung nhan bạn, y thốt lời khen bằng câu thơ Tú Mỡ: “Tốt lắm! Cái già tai ác thật/ Nó không nể bác chẳng từ tao”.  “Tốt lắm”, bởi lẽ nhờ đồng nghiệp, gia đình phát hiện kịp thời nên mọi việc khả quan hơn.

Với nhạc sĩ Vũ Hoàng, anh nổi tiếng ngay từ ca khúc Hương thầm  phổ thơ Phan Thị Thanh Nhàn. Thập niên 1980, đi đến đâu, tận hang cùng ngõ hẻm đến các hàng quán bình dân, nhà hàng sang trọng cũng đều nghe tiếng nhạc réo rắt, mê đắm hồn người. Nói cách khác, giới yêu nhạc, am hiểu về âm nhạc đã chính thức cấp nhạc sĩ Vũ Hoàng một passport để đi vào thế giới của âm thanh. Từ đó, như một kẻ suốt đời bị ám ảnh bởi mùi hương, Vũ Hoàng hoảng hốt kêu lên như Xuân Diệu đã từng mơ ước: “Tôi muốn buộc gió lại/ Cho Hương đừng bay đi”. Bằng các cung bậc, Vũ Hoàng trói buộc những làn hương mà anh đã tìm thấy qua thơ của bè bạn: Hương biển (Nguyễn Thái Dương), Hương xưa (Cao Vũ Huy Miên), Hương cúc (Lê Minh Quốc), Hương tràm (Đỗ Trung Quân), Hương đêm (Nguyễn Nhật Ánh)… Những ca sĩ La Sương Sương, Bảo Yến, Thùy Dương, Phương Thảo… một thời đã hát.

Ngày đó, tháng 7.1994, khi đĩa nhạc Mười khúc tình tự của anh do Công ty VHTH Q.11 sản xuất, y phát biểu: Có những mùi hương quyến rũ người này nhưng lại phụ bạc người kia. Hơn nữa, từng mùi hương cũng mang sắc màu đậm nhạt khác nhau để ám ảnh không nguôi hoặc để phai mau trong khoảng khắc… Vũ Hoàng muốn níu giữ lại tất cả. Vì lẽ đó, sẽ có mùi hương ở lại với anh, và cũng có làn hương theo gió bay đi. Dù sao, đôi khi chỉ một làn hương mong manh như tơ trời, như sương khói cũng trở thành một ám ảnh trong trí nhớ chúng ta. Vũ Hoàng bằng âm nhạc của mình thầm mong như thế. Và tôi cũng thầm mong như thế”. Lời giới thiệu này, Vũ Hoàng “chịu” lắm.

Đôi khi viết về bè bạn, dù một dòng cũng khó, nếu không có kỷ niệm cùng nhau. Nhớ về anh, tôi luôn nghĩ đến một kỷ niệm cũ: Khoảng cuối thập niên 1980 của thế kỷ trước, lúc, y vừa ra trường và bắt đầu bước vào nghề, cộng tác với nhiều tờ báo. Ngày kia, nhà văn Trần Thanh Tâm giao đi viết bài phỏng vấn Vũ Hoàng. Bấy giờ, anh Tâm đang làm tờ Bản tin Quận 6 và nhận “thầu” tạp chí Tuổi 18  - ấn bản phụ của tờ Tây Ninh thuộc cơ quan Đảng bộ Tây Ninh. Tờ Tuổi 18 ra đời phù hợp với xu thế báo chí lúc ấy. Sau một thời gian dài, chỉ đọc các tờ báo “chính thống” với tin tức chính trị - xã hội khô khan thì nay đã có những tạp chí chỉ thuần về giải trí, làm đẹp, tình yêu, hôn nhân, nấu bếp... nên cực kỳ “hút” khách.

Nhân đây nói luôn, loại ấn phẩn tương tự ấy, chẳng hạn Hãy nuôi dưỡng tình yêu - phụ trương của báo Phụ nữ TP.HCM mỗi kỳ in đến vài trăm ngàn bản. Cũng như Hãy nuôi dưỡng tình yêu, tờ Tuổi 18  đều do nhạc sĩ Từ Huy trình bày. Lúc ấy, trình bày đơn giản, ngoài bìa chỉ hình nữ diễn viên hoặc nữ sinh mặc áo dài trắng, đi xe đạp hoặc người đẹp cầm hoa, cười tươi roi rói là được. Do đáp ứng nhu cầu giải trí, bàn về chuyện đời thường thiết thực, hình ảnh đẹp nên hầu hết các tờ phụ san đều bán chạy. Rất chạy.  Cũng là nét mới mẻ của một giai đoạn do người làm báo phía Nam “bung ra” với nhiều ấn bản khác nhau. Thị trường báo chí thêm sinh động, nhiều sắc màu.

Từ Tuổi 18 dưới sự chỉ huy của nhà văn Trần Thanh Tâm, một loạt sinh viên mới ra trường, sau này, đã trở thành nhà báo chuyên nghiệp như Hữu Bảo, Trần Kim Sơn, Lê Khắc Cường…, tất nhiên có cả y nữa. Nhận lời phân công của anh Tâm, y đạp xe cọc cạch đến Nhạc viện, ngồi ngay quán cóc lề dường Nguyễn Du thực hiện bài viết về Vũ Hoàng. Tiếc không còn giữ bài báo này. Dần dần mối thâm tình ngày một đầy và y cũng bắt đầu có tác phẩm xuất bản. Rồi trong một cuộc trò chuyện, không nhớ ai đề xướng, hình như Nguyễn Văn Hiên thì phải, anh em đồng tình bắt tay thực hiện chương trình “Thơ nhạc vòng quanh Ký túc xá”.

Cứ mỗi cuối tuần luân phiên đến các Ký túc xá thực hiện chương trình văn nghệ, thành phần luân phiên nhau gồm có nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện, Vũ Hoàng, Nguyễn Văn Hiên, Thế Hiển, Từ Huy…; về phía nhà thơ, có Nguyễn Thái Dương, Trương Nam Hương, Đỗ Trung Quân, Đoàn Vy, Đoàn Vị Thượng, Lê Thị Kim, Lê Minh Quốc… Thời đó, còn trẻ nên còn sung. Có bài báo y đã viết đăng Báo Phụ Nữ TP.HCM -  không nhớ số nào, kể lại chuyện các bạn sinh viên leo lên cây nghe thơ, nhạc do hào hứng quá, vỗ tay nên... rớt té ạch đụi! Bây giờ nhiều người tưởng bịa, nhưng sự thật là thế. Thời ấy, đời sống còn thiếu thốn lắm, không có gì giải trí vào cuối tuần nên lúc anh em nhạc sĩ, nhà thơ đến Ký túc xá làm chương trình văn nghệ là cả ngàn sinh viên tham dự. Ôi, những ngày tươi đẹp đến thế là cùng.

Lúc vào Bệnh viện 115 nhìn tác giả Hương thầm tự dưng “thương thầm”. À, cũng may. Trước lúc tai biến, Vũ Hoàng đã điện thoại cho biết sắp in một tuyển tập nhạc và có nhờ anh em viết giúp đôi lời cảm nhận, in trong sách như kỷ niệm bạn bè. Y nhận lời. Nhận email các ca khúc của anh đã sáng tác, bỗng giật mình. Anh viết nhiều đề tài. Cả hàng trăm ca khúc đã phổ biến.

Viết gì cho bạn? Đôi khi chơi với nhau, nhưng rồi để hiểu rõ những gì bạn đã làm, đã viết, đến lúc “tổng kết” lại thấy không dễ. Bởi lẽ, biết là biết vậy, đọc/nghe là vậy nhưng cụ thể nó ra làm sao? Cũng khó. Thôi  thì, chịu khó vậy. Mà chẳng lẽ là sự liệt kê, chẳng hạn, các thành tích, danh hiệu, bằng khen? Xoàng lắm. Với người sáng tác, điều còn lại cuối cùng vẫn tác phẩm kia chứ? Những giấy xanh đỏ, mộc đỏ chói, rền vang tiếng vỗ tay, tràng hoa tươi thắm, lời chúc tụng hào phóng trong hội trường, hội nghị… có là gì không? Không là gì nếu sau đó, tác phẩm mất hút theo ngọn gió lãng quên vốn khốc liệt đến tàn nhẫn.

Cảm nhận từ Hương thầm, Nói với em, Bụi phấn (chung với Lê Văn Lộc), Phượng hồng (thơ Đỗ Trung Quân) và các ca khúc viết về Thanh niên tình nguyện Việt Nam, Màu hè xanh, y viết: “Trên cung bậc của sáu sợi dây đàn đã gắn kết với một số phận tài hoa, Vũ Hoàng hầu như đã chạm đến nhiều đề tài khác nhau. Một sự nghiệp có chiều sâu, bề dầy của Vũ Hoàng đã phản ánh một quá trình lao động bền bĩ theo năm tháng. Muốn được như thế, chắc chắn từ trong sâu thẳm của tâm hồn, Vũ Hoàng phải sống cùng, sống với những cảm xúc có thật để thăng hoa thành nhạc. Trong nhạc có thơ, có lúc anh phổ thơ bạn bè, có lúc những dòng thơ của anh đã tung tăng trên phím đàn.”.

Riêng nhà văn Đoàn Thạch Biền lại nhìn nhận anh ở các ca khúc thiếu nhi, nhắc lại một kỷ niệm ấm áp lúc anh giao Vũ Hoàng phụ trách mục “Ca khúc phổ thơ” trên tập san Áo Trắng. Anh viết: “Hiện nay, trên các Đài Phát thanh, Truyền hình đang nở rộ các cuộc thi Tiếng hát thiếu nhi, Tiếng hát học trò… Một số phụ huynh đã than phiền: Trong các cuộc thi đó các em đã phải hát những ca khúc dành cho người lớn, không thích hợp với lứa tuổi các em. Ban tổ chức cuộc thi thì biện bạch: Tại có rất ít nhạc sĩ viết ca khúc thiếu nhi dành cho các em. Tuyển tập 216 Ca khúc Nhi đồng, Mẫu giáo, Thiếu niên, Trung học Phổ thông, Sinh viên với tiêu đề Từ “Bụi phấn”... đến “Mùa Hè Xanh” của nhạc sĩ Vũ Hoàng được xuất bản, chắc chắn Ban tổ chức các cuộc thi sẽ chọn được những ca khúc thiếu nhi thích hợp với cuộc thi. Các em thí sinh cũng sẽ chọn được những ca khúc hay để thể hiện đúng với tâm tư và nguyện vọng của các em”.

Bạn bè chơi với nhau. Viết cho nhau như thế, được quá.

Trước đây, y viết câu thơ: “Thời tôi sống nhà thơ thì viết báo/ Để kiếm cơm hơn một chút danh hờ”. Không chỉ thế, ngay cả nhạc sĩ Vũ Hoàng cũng vậy thôi. Sau khi tốt nghiệp Khoa Sáng tác, lý luận, chỉ huy Nhạc viện TP.HCM (1984-1989), anh về làm báo Công nhân giải phóng (nay báo Người Lao động). Rồi làm Tổng biên tập tạp chí Du lịch TP.HCM. Thời anh làm báo Người Lao động, từ năm 1991, tờ báo này lần đầu tiên tổ chức Giải thưởng Văn nghệ sĩ được yêu thích nhất trong năm, nay gọi Giải Mai Vàng - nhằm tôn vinh những nghệ sĩ đã có những đóng góp tích cực cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật.

Riêng cái tên “Mai vàng” tôi đồ rằng, do chính Vũ Hoàng nghĩ ra vì hai lý do: Thứ nhất, bấy giờ, anh là Trưởng ban Văn hóa nghệ thuật; thứ hai, không thể tìm ra một người thứ hai trên trái đất này mê đắm, đắm đuối sắc màu hoàng kim bằng Vũ Hoàng. Thân thiết với nhau từ thập niên 1980, chưa bao giờ, y thấy anh mặc áo gì khác ngoài màu vàng, ngay cả bút viết, dây đeo đồng hồ, nhẫn đeo tay… cũng chỉ mỗi màu vàng đậm nhạt khác nhau. Có phải do “Hoàng” còn có nghĩa là sắc vàng; hay còn vì lý do gì về… phong thủy? Chịu, không thể biết. Đã thân tình, thôi thì, biết vậy. Tò mò làm chi.

Còn chuyện này, có lẽ ai ai cũng thừa nhận: do nhạc sĩ nắm tờ báo nên từ lúc còn đương chức, chắc chắn Du Lịch TP.HCM vẫn là tạp chí chuyên ngành in văn bản… nhạc nhiều nhất. Số báo nào cũng có thơ phổ nhạc, nhạc mới sáng tác, nhạc một thời vang bóng v.v… Kể ra cũng là điều thú vị.

Nay, nhạc sĩ Vũ Hoàng đã nghỉ hưu. Về nhà, và tất nhiên danh vẫn tiếp tục sáng tác. “Đã mang lấy nghiệp vào thân”. Chỉ tiếc, sức khỏe không cho phép nên anh không thể lai rai, đàn đúm cùng bồ tèo chiến hữu. Có lẽ sẽ khó còn có thể nhìn thấy hình hình ảnh: lúc đã say, bao giờ Vũ Hoàng cũng “chữa cháy” bằng… vài lon nước ngọt. Nếu ông nhà văn Nguyễn Quang Sáng trước lúc rời khỏi “tửu điếm”, mặc các “hiệp khách” đã buông đũa, ông vẫn tì tì với món cơm ăn chung với cá kho mặn;  còn Vũ Hoàng, lúc ấy, với anh khoái khẩu nhất vẫn là ăn bún tươi chan với nước tương dầm ớt xanh cay đến xé lưỡi. Ôi, bạn bè  của một thời còn khỏe mạnh, có thể mỗi lúc bước vào quán, cứ cảm tưởng như cả nhà máy bia cũng không thể cung cấp nỗi!

Vậy mà, thoáng đó đã xa. Xa đến độ nhìn lại, đã thấy… sắp nghỉ hưu. Thử hát lại ca khúc Phượng hồng, anh phổ thơ Đỗ Trung Quân: “Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng, em chở mùa hè của tôi đi đâu?”.

Lòng buồn hay vui?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 29.10.2016

 

kyyeukhoa-hpoc-Nma-Bo-1R

 

Sáng hôm qua, đi Bình Dương. Tham dự Hội thảo khoa học Hội thảo Văn học và Ngôn ngữ Nam Bộ do Khoa Văn học và Ngôn ngữ (Trường ĐH KHXH & NV-ĐHQG TP.HCM), Trường Đại học Thủ Dầu Một, Viện Văn Học đồng tổ chức.

Trong hiểu biết của y, từ trước đến nay, vẫn chưa có nhiều tập sách nghiên cứu về văn học miền Nam. Họa hoằn lắm, chỉ mới thấy trong Phủ biên tạp lục, nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) có đề cập đến, nhưng cũng chỉ vài nét sơ lược. Về sau, các nhà nghiên cứu trong Nam như Phạm Văn Diêu, Nghiêm Toản, Phạm Thế Ngũ, Phạm Việt Tuyền, thi sĩ Đông Hồ, Ca Văn Thỉnh, Phan Văn Hùm… có quan tâm, lưu ý nhiều hơn nhằm bổ sung cho sự khiếm khuyết này. Sở dĩ phải nhấn mạnh điều này vì suốt thời gian dài, từ khi có văn học chữ Quốc ngữ, mảng văn chương, báo chí, ngôn ngữ miền Nam ít được đề cập đến. Thậm chí, còn có quan niệm lệch lạc rằng  Nam Bộ không có văn học và ngay cả tiếng nói của người miền Nam chỉ là thổ ngữ v.v…

Đến Bình Dương lần này, y hào hứng lắm. Có thể xem đây là hội thảo lớn nhất, có tầm vóc nhất bàn về văn học và ngôn ngữ Nam bộ với 123 tham luận, diễn giả đến từ nhiều tỉnh thành. Hội thảo bàn nhiều vấn đề từ lý luận văn học, văn chương Quốc ngữ, Hán - Nôm, văn học dân gian, vấn đề ngôn ngữ… từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1975. Tập Kỷ yếu Những vấn đề văn học và ngôn ngữ Nam Bộ (NXB Đại học Quốc gia TP.HCM) gồm 2 tập với hơn 1.300 trang khổ lớn cũng được ấn hành.

Từ sau Đổi mới đến nay, nhiều nhà nghiên cứu như Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Huệ Chi, Lê Giang, Đoàn Lê Giang, Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Quảng Tuân… đã có nhiều chú tâm hơn về văn hóa Nam Bộ qua các công trình nghiên cứu có gía trị, Tuy nhiên, vẫn chưa đủ vì vẫn còn nhiều vấn đề bỏ ngõ… Chẳng hạn, trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, ngày nay giới nghiên cứu ghi nhận nhà văn Song An Hoàng Ngọc Phách (1896 - 1973) là đại biểu khởi đầu đích thực, là người cắm cột mốc quan trọng cho sự hình thành của thể loại này với tác phẩm Tố Tâm in năm 1925. Nhưng trước đó tại Sài Gòn, năm 1887, P.J.B Nguyễn Trọng Quản (1865 - 1911) cũng đã cho xuất bản truyện Thầy Lazaro Phiền.

Tuy nhiên trong tham luận Nghĩ về sự “mất tích” của văn chương Quốc ngữ Lục tỉnh cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX trong văn học sử Việt Nam, nhà báo Trần Nhật Vy lại chứng minh, trước đó rất nhiều năm, từ năm 1881 chính nhà văn Trương Minh Ký với truyện Truyện Lang Sa diễn ra Quốc ngữ, in từng kỳ trên Gia Định Báo mới là người viết truyện đầu tiên.Tuy nhiên, ông Ký chỉ mới dịch lại thơ La Fontaine sang văn xuôi. Trước kia, khi ghi nhận các nhóm văn chương trong vùng tạm chiếm 1954-1975, các nhà nghiên cứu chỉ dừng lại với nhóm Sáng Tạo của Mai Thảo, hoặc nhóm Quan Điểm của Nghiêm Xuân Hồng, nay với tham luận Phác thảo về tuần báo Nhân Loại, nhà văn Lê Văn Nghĩa bổ sung thêm nhóm Nhân Loại với các bút yêu nước như Trang Thế Hy, Ngọc Linh, Sơn Nam, Lê Vĩnh Hòa… Thiết nghĩ, trong Hội thảo khoa học, điều cốt lõi nhất vẫn là các ý kiến tranh luận thẳng thắn. Có như thế, từng vấn đề đặt ra mới có thể dẫn đến kết luận cuối cùng; hoặc ít ra cũng là hướng đi để người sau tiếp tục hoàn thiện.

Sau phần Báo cáo chung, các đại biểu có những cuộc hội thảo riêng, tùy theo lãnh vực đã viết tham luận. Y tham gia ở Tiểu ban Tiếng Việt ở Nam bộ. Vốn không phải là nhà nghiên cứu, chỉ vì yêu thích tiếng Việt mà y có tham luận Một vài tiếng lóng miền Nam. Sáng nay, trên Báo Thanh Niên, đồng nghiệp là nhà báo Lê Công Sơn nhận xét: “Vấn đề tiếng lóng thịnh hành trước đây ở Nam bộ cũng là đề tài hấp dẫn được nhà thơ Lê Minh Quốc đề cập, gây thích thú. Nhiều từ nay đã cũ và thậm chí biến mất đã góp phần làm nên sự giàu có, phong phú, đa dạng thêm cho tiếng Việt và sự độc đáo cho văn học và ngôn ngữ của vùng đất phương Nam”.

Hôm qua, lâu lắm rồi mới gặp lại GS Bùi Khánh Thế, y đã thọ giáo môn Ngôn ngữ thời sinh viên. Theo thầy, từ nửa sau thế kỷ XIX: “Tiếng Sài Gòn lúc bấy giờ không chỉ  tiêu biểu cho phương ngữ Nam mà còn phản ánh càng đậm nét hơn các thuộc tính quan yếu của quá trình phát triển tiếng Việt: tiếp nhận sự lan tỏa của tiếng Việt truyền thống, quy tụ ngôn ngữ nhiều vùng miền và tinh tuyển các nét mới mẻ từ những ngoại ngữ tiếp xúc để bổ sung những đặc điểm hiện đại hóa các phong cách ngôn ngữ báo chí, một số thể loại văn học, đầu tiên đăng tải thử nghiệm trên báo chí trước khi công bố thành ấn bản. Một trong các ưu thế của báo chí là tính thời sự và phát tán nhanh. Và khi báo chí Sài Gòn thời ấy lan tỏa rộng rãi ra toàn vùng phương ngữ Nam, những đặc điểm quan yếu trong quá trình phát triển của tiếng Việt vốn có từ trước càng trở nên phong phú trong giai đoạn mới’.

Từ ý kiến này, y nghĩ thêm rằng, chính Quảng Nam, Bình Định là nơi trước nhất hình thành, định hình chữ Quốc ngữ nhưng nó trưởng thành, phát triển mạnh mẽ chính từ Sài Gòn, Nam bộ với công cụ đặc lực, hữu hiệu nhất là vai trò của báo chí. Lúc hội thảo, ngồi gần đồng nghiệp Trần Nhật Vy. May quá, anh có đem theo tờ Nam kỳ tuần báo in từ năm 1899. Lâu nay, y vẫn nghĩ  “nhựt trình/ nhật trình” là tờ báo phát hành hằng ngày. Không phải.  “Nhựt trình Nam kỳ in ra mỗi ngày thứ 5 trong tuần lễ” như bổn báo ghi rõ. Thử đọc lại bài thơ Đèn điển khí rất mới mẻ trong sự tiếp nhận văn minh lúc người Pháp mới sang:

Đêm tối sáng lòa tưởng sáng trăng
Ai ngờ điển khí  dọi ngoài sân
Bầu ly giữa cột xem tròn trịa
Dây thép hai bờ kéo thẳng băng
Tam giáo tinh cơ chưa rõ hãn
Vạn tiên diệu pháp có khi bằng
Nhiên đăng còn đoái miền Ngưu Chữ
Soi sáng dân đen tỏ đạo hằng

Bài thơ này in trên báo Nam kỳ số 68 (9 Février 1899), tác giả Mai Nham là bút hiệu của ông Trương Minh Ký. Đọc lại từng câu ắt hiểu thông. Thì ra tiếng Việt thuở ấy, đến nay vẫn không mấy thay đổi. Có thấy quảng cáo thuốc lá Bastos, bao bì có in hình cái lá. Trước kia cứ tưởng là họa tiết mỹ thuật, chẳng phải, “lá cây vân thảo (Trèfle). Có phải nay quen gọi lá phong? À, hóa ra tiếng “mầy” không thuở trước có hàm nghĩa khác, tham luận của Thạc sĩ Đào Văn Tùng, Chim Văn Bé có dẫn câu dao dao: “Ngày nào tui kêu mình bằng mầy/ Gối luôn chung gối dạ nầy mới vui”. Rồi lại do biến thể âm vị, câu lục bát cũng nương theo vần: “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn/ Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma”. Câu này chỉ đọc lên, đã nghe âm điệu vướng vít, vướng víu: “Cá rô ăn móng, dợn sóng dưới đìa/ Kẻ nơm, người xúc biết dìa tay ai?”. Không chỉ "dìa",  tức "về" còn có một từ khác tương tự nữa, từ gì vậy? Xin đọc: "Công anh đốn ráng thả đìa/ Một mai cá cựu biết vìa tay ai?".

Ghi thêm câu này nữa: “Bảy với ba tính ra môt chục/ Tam tứ lục coi lại cửu chương/ Liệu bề đát được thì đương/ Đừng gây rồi bỏ thế thường cười chê”. Đương là đan. Không gì sung sướng cho bằng trong một ngày, không vướng bận gì, ngồi thong thả, máy lạnh điều hòa, ngã lưng dựa thành ghế, nghe và thỉnh thoảng ghi chép. Những vấn đề mình mù tịt, chẳng rõ ất giáp, có người đã nghiên cứu, tìm hiểu thì nay được nghe họ trình bày lại. Nghe đến đâu vỡ vạc ra đến đấy. Được thế, còn gì bằng? Tham luận của nhà nghiên cứu Lê Công Lý đã giải thích cặn kẽ vài từ quen thuộc mà chắc gì ai đã hiểu thấu nghĩa.

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương

“Búng” là gì? ông Lý cho biết: “Đại Nam quấc âm tự vị của Huình Tịnh Của định nghĩa: “Búng là chỗ nước sâu làm ra một vùng”. Theo chúng tôi búng là biến âm của bung/bụng, là chỗ sông sâu phình rộng ra như cái bụng, cũng gọi bùng binh… Búng là tiếng Nôm, vốn chỉ hình dáng vật phình to ra (có khuynh hướng tròn): “Chung búng má kèn”, chỉ vẻ mặt không hài lòng (sụ mặt), hai má phình ra; “Miệng nhai cơm búng”, chỉ hành động người lớn nhai cơm và thức ăn trong miệng rồi lừa ra để đút trẻ con ăn; “Búng ngón tay”, là hành động dùng đầu ngón tay cái kiềm chặt đầu ngón tay còn lại tạo thành hình tròn rồi đột ngột bung ra. Đây cũng là cách đo kích thước của một vật nhỏ gọn: Con cá lóc bự (to) bằng một búng tay”. Suy ra, hiện nay do không hiểu từ “búng” nên đã có không ít địa danh thành “bún” như ông Lý cho biết, rạch búng Bò bị viết thành rạch bún Bò (Vĩnh Long), búng Xáng thành bún Xáng (Cần Thơ), chợ Búng gọi là chợ Bún (Bình Dương)…

Thêm từ này cũng “lắm chuyện” ra phết, do “có đá ngầm nổi lên dưới lòng sông, khiến cho dòng nước bị co thắt lại, chảy xiết và tạo nhiều xoáy nước rất nguy hiểm. Rất nhiều từ điển/ tự điển tiếng Việt gọi các đoạn sông như vậy là ghềnh (miền Bắc) hay gành (miền Trung và Nam bộ) tức hầu hết đều cho gành là biến âm của ghềnh”. Tuy nhiên, ông Lý còn cho biết trong Nam có nơi gọi là gãnh như ở huyện Ba Tri, Bến Tre có gãnh Mù U (Xã Bảo Thạnh), gãnh Bà Hiền (xã An Thủy)…”. Từ “gãnh”, với người Trung, Bắc đố mà hiểu. Tựa như từ “gụt” ở Quảng Nam, chẳng hạn bà mẹ y ân cần bảo: “Q ơi, quần áo con nhớp rồi, thay ra cho mẹ gụt”. Nhớp là dơ bẩn, gụt là giặt. Ngày kia, anh bạn Nguyễn Nhật Anh đố, “mọng” là gì? Tỷ như “Có về quê được thì về, đừng  hứa lèo mà em nó mọng”. “Mọng” là mong/ mong đợi/ mong chờ. Có lẽ ban đầu là “vọng” biến thành “mọng” và nay là “mong”.

Từ lúc nào con người ta biết yêu tiếng mẹ đẻ? “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời” (Phạm Duy). Có lần, ông Duy bảo, đại khái, nếu sau này toàn bộ âm nhạc của ông chìm vào quên lãng, nhưng 10 nốt nhạc, ca từ trên còn lại với đời, đã là một sự toại nguyện. Có một cụm từ mà GS-TS Trần Văn Khê rất tâm đắc và nhấn mạnh nhiều lần: “thai giáo”. Đứa trẻ được người mẹ giáo dục ngay từ lúc còn nằm trong bụng. Rất ý thức điều này, trong những ngày mang bầu, bà mẹ ông đã nhiều lần nghe nhạc và bà nghĩ rằng, đó là cách tốt nhất gieo mầm tinh yêu âm nhạc dành cho con. NSND Kim Cương cũng thế thôi, bà đã lên sân khấu khi bà mẹ Bảy Nam đang mang bầu và suýt đẻ ngay trên sàn diễn. Những con người ấy, sau này đã theo nghề ắt khó ai sánh kịp. Tình yêu tiếng Việt hình thành ở đứa trẻ qua hát ru bằng ca dao mà người mẹ đã nghe lúc đang mang thai. Và khi lọt lòng, đứa trẻ lại nghe  bà/ mẹ/ chị hát ru lúc đưa nôi. Nếu toàn bộ ca dao Việt Nam mất đi, duy chỉ còn sót lại mỗi bài này, tự nó đã cho thấy sự vĩ đại của kho tàng dân gian đã truyền miệng ngàn đời. Nhạc sĩ Phạm Duy đã có công lớn khi phổ nhạc, thấm đẫm hồn người nhiều thế hệ qua giai điệu của một thiên tài âm nhạc.

Sao Tua chín cái nằm kề
Thương em từ thuở mẹ về với cha
Sao Vua sáu cái nằm xa
Thương em từ thuở người ra người vào

Sao Mơ sáu cái nằm chầu
Sao Khuê mấy cái nằm đâu

Sao Khuê chín cái nằm dài
Thương em từ thuở tình ngoài nghĩa trong
Sao Măng năm cái nằm ngang
Thương em từ thuở mẹ mang đầy lòng

Sao Vươn dăm cái nằm tròn
Sao Tư bốn cái nằm vuông

Sao Đôi hai cái nằm chồng
Thương em từ thuở mẹ bồng mát tay
Sao Hoa ba cái nằm xoay
Thương em từ thuở được vay nụ cười

Sao Băng bay vút vào đời
Sao Sa rơi xuống lòng vui

Sao Băng ngã xuống gầm trời
Thương em từ thuở mẹ ngồi nghĩ xa

Sao Sa rơi xuống vườn hoa
Thương em từ thuở người ta lại gần

Sao Hôm lấp lánh đầu làng
Sao Mai lấp lánh đầu thôn

Sao Hôm le lói đầu hè
Thương em từ thuở em về với ai
Sao Mai le lói ngọn cây
Thương em từ thuở về xây tình người

Sao Vân xa tít đầu trời
Sao Quanh cao ngất ngoài khơi

Sao Vân muôn cái mịt mùng
Thương em từ thuở nghìn trùng cách chia
Sao Quanh theo gót người đi
Thương em chỉ có trời khuya nhìn về

Sao ơi sao hỡi buồn gì
Sao ơi sao hỡi buồn chi

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 26.10.2016

 

tap-chi-Huong-que-s-59

 

Về Hội An, đứng trước căn nhà cổ đều thấy có gắn hình con mắt. Gắn ngay phía trên cửa bước vào trong nhà. Đó là nét văn hóa tâm linh. Từng nghe có người giải thích, đại khái là con mắt của tướng Uất Lũy, tục gọi là Thần giữ cửa - gắn liền với đến tín ngưỡng của người Hoa từ hàng trăm năm trước khi đến với phố cổ Hội An. Chẳng rõ, có phải thế không? Nhưng xét ra cũng có lý. Dù cái lý ấy đúng hay chưa nhưng vẫn cảm được cái đẹp của con mắt ấy. Tùy theo thẩm mỹ, mỗi nhà làm mỗi phách, tựu trung vẫn là con mắt tròn, có nhà còn treo thêm cả dãy lụa đỏ. Ngày xưa, khi cảm một câu thơ hay, có những từ khoái chí người đọc bèn khuyên son vào từ đó. Và gọi “nhãn tự”, tức con mắt của chữ. Chính chữ ấy khiến câu thơ bừng lên sức sống như cá quẫy trên mặt sóng. “Nhãn tự” nay có thể gọi là “từ khóa”.

Có những câu ca dao, đọc một lần là nhớ. Âm điệu, câu chữ cứ ngân vang mãi. Như tơ, như mây giăng mắc trong trí nhớ. “Mưa lâm râm trên núi mưa về/ Ướt cây, ướt lá, không dè ướt em”.  Sự xao xuyến ấy, dù không giải thích nhưng câu chữ như từng đợt sóng vỗ mãi trong lòng. “Cái hạc bay lên vút tận trời/ Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi” (Tản Đà). Câu thơ dứt rồi nhưng cái tình buồn rười rượi vẫn còn đọng lại.

Do đâu? Tại cơn cớ làm sao?

Có danh họa nọ, vẽ vời thuộc loại thần sầu quỷ khốc. Có lần chàng ta vào đình chùa miếu mạo thấy có tượng rồng đá, đang ngứa tay bèn lấy mực tàu “điểm nhãn”, tức vẽ hai mắt. Lạ chưa, con rồng đá đột nhiên cựa quậy như vừa được đánh thức, bỗng “vút tận trời/ Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi”. Câu thơ của Tản Đà, “nhãn tự” nằm ở từ “chơi”. Câu ca dao “Mưa lâm râm trên núi mưa về”, “từ khóa” chính là “lâm râm/ mưa lâm râm”. Mưa nhỏ hạt, nhẹ hạt mà mưa dai, vì thế nhiều người chủ quan nên không dè ướt áo. Mới đây nhất, có một chuyện “không dè” đã rúng động làng báo. Không thể không ghi lại, dù rằng, đây là nỗi đau chung của những người viết báo. Con sâu làm rầu nồi canh. Đố có sai.

Rằng, “Vụ nước mắm nhiễm asen”, Thủ tướng Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo làm rõ vấn đề và Bộ Y tế cũng đã có cuộc kiểm tra, công bố kết quả về nước mắm Việt Nam. Nói chắc như đinh đóng cột, nước mắm truyền thống trên thị trường đều an toàn đối với người sử dụng. Qua đó, không dè, Báo Thanh Niên, phải gỡ bỏ 5 bài viết đã được đăng tải trên Báo Thanh Niên Online (Gồm các bài: Nước + hóa chất = nước mắm công nghiệp, ngày 10.10.2016; Làm gì để nước mắm Việt vươn ra thế giới? Đi tìm nước mắm sạch, ngày 11.10.2016; Cẩn trọng với hàm lượng thạch tín, ngày 12.10.2016; Tiêu chuẩn nào cho nước mắm Việt? ngày 13.10.2016; Lỗ hổng trong quy định về phụ gia thực phẩm, ngày 17.10.2016).

Mà asen là cái quái quỷ gì đã khiến hàng triệu, triệu người phải quan tâm đến nó? Thú thật, y không thể giải thích được rạch ròi. Xin mượn lời của anh bạn họa sĩ Đức tức PGS-TS-DS Nguyễn Hữu Đức vừa phát biểu trên báo Người Lao Động sáng nay. Nói nôm na, asen asen là thạch tín. Thạch tín độc hại là hợp chất asen vô cơ, còn asen hữu cơ thì an toàn cho sức khỏe: “Nước mắm truyền thống làm từ cá biển và không có các phụ gia nào khác. Đương nhiên, nước mắm sẽ chứa một lượng asen nhất định và chủ yếu là asen hữu cơ nên không gây ngộ độc. Hàng ngàn năm nay, người Việt đã dùng nước mắm truyền thống và chưa có chuyện ngộ độc asen. Nếu bị ngộ độc asen vì nước mắm thì đó không phải là nước mắm truyền thống mà là thứ đã pha chế thêm các phụ gia và các phụ gia này có lẫn tạp chất là asen vô cơ hoặc nghiêm trọng hơn nếu vùng biển mà ngư dân đánh bắt cá làm nước mắm đã bị ô nhiễm chất thải công nghiệp chứa asen vô cơ”.

Tại sao đưa thông tin không chính xác về nước mắm truyền thống, lại trở thành "lớn chuyện"? Với y, chính là lúc vì một lý do gì đó (sau mật báo), người ta dám xúc phạm đến một nền văn hóa, chứ không chỉ đơn thuần “đánh” vào loại nước mắm cụ thể. Bữa cơm của người Việt từ hàng ngàn năm nay, tiêu biểu nhất vẫn chính là chén nước mắm đặt giữa mâm cơm. Nó xuất hiện song hành cùng đôi đũa. Nói cách khác đôi đũa và chén nước mắm chính là diện mạo tiêu biểu nhất, khái quát nhất trong bữa cơm người Đại Việt ngàn năm nay đã ăn và đi mở cõi. Hiểu thế, để thấy nước mắm thiêng liêng trong tâm thức dân tộc đến cỡ nào. Ngày qua Mỹ, năm 2008, y viết quyển tạp bút Một ngày ở Mỹ, cuối cùng, một tứ thơ chốt lại vẫn là:

Mặt tôi quê mùa như nước mắm

Một giọt thơm lâu giữ nếp nhà

Vạn dặm đường xa không đổi mặt

Mặt nào cũng giống mặt người ta

Giọt nước mắm của người Việt có thể sánh ngang hàng với bất kỳ loại nước chấm truyền thống của mọi dân tộc trên trái đất. Lẫn thẩn thêm một chút nữa, chẳng hạn, ngày xưa, ở miền Nam làm nước mắm thế nào? Câu hỏi này, tha hồ tìm đọc trên mạng. Vẫn biết thế. Ấy thế, y đã thuộc về thế giới của hạng người đã cũ nghĩa là vẫn thích đọc từ giấy trắng mực đen, có nguồn kiểm chứng, trích dẫn chu đáo. Vậy, y đọc từ đâu? Trước năm 1975, có hai loại tạp chí in dẹp, nhiều hình ảnh, được phát không cho người đọc, đó là Thế giới tự doHương quê. Nguyệt san Hương quê, tòa soạn ở 145 đại lộ Nguyễn Huệ; Thế giới tự do tòa soạn ở 39 Hàm Nghi - Sài Gòn.  Nhẩn nha đọc lại xem sao. Kể ra cũng là cái thú của những ai sưu tập sách, báo cũ. Muốn lúc nào, có ngay lúc đó. Chẳng cần phải chầu chực tại các thư viện. Rất mất thời gian. Đang mải mê đọc, thoáng chốc, hết giờ hành chánh, phải trả sách, đứng dậy ra về dù vẫn còn thòm thèm, chẳng khác gì đang đói lại được cho ăn một bát phở ngon, nửa chừng phải dừng đũa. Còn gì cáu cho bằng?

Theo Thế giới tự do số 10, tập VII năm 1958: “Hiện nay, Việt Nam đứng vào hàng đầu các quốc gia ở Á Châu trong việc việc sản xuất và tiêu thụ nước mắm”. Từ “Việt Nam” ta hiểu dùng để chỉ miền Nam. “Mỗi năm chừng 50 ngàn tấn cá và 20 vạn tấn muối, hai nguyên liệu chính dùng để làm nước mắm, đã được dùng trong kỹ nghệ này. Muối làm nước mắm lấy ở Hòn Khoai, Phan  Thiết, Bà Rịa và Bạc Liêu…”.

Nước mắm ngon dầm con cá diệc

Em có chồng rồi thưa thiệt anh hay

Từ “thiệt” rặt giọng miền Nam. Nghe thấy lễ phép mà thương quá. Ở ngoài Bắc, nhạc sĩ Đoàn Chuẩn thời trẻ nổi tiếng là tay chơi bạt mạng giang hồ, tiêu xài không kém “công tử Bạc Liêu” cũng nhờ có gia đình là chủ cơ sỏ sản xuất nước mắm. Những ca khúc đầu tiên của ông, lúc in ra phát hành rộng rãi còn có in kèm quảng cáo Hãng nước mắm Vạn Vân. Y vẫn thích Xuân Diệu với câu thơ giàu nghĩa nặng tình: “Từ lúc má tôi đẻ tôi ra ở vạn Gò Bồi làm nước mắm/ Một hạt muối trong tim để mặn với tất cả những gì đằm thắm”. Những con người ấy, dù chưa gặp nhưng tự dưng đã thấy có cảm tình.

Đọc bài báo trên, y tìm thấy một từ lạ trong câu: “Sau khi muối cá được 48 tiếng, người ta rút ra một thứ nước đầu tiên gọi là nước bổi”. Nước bổi, nghe lạ tai nhỉ? Và dùng để làm gì? Thì đây, “Người ta rút nước ra thùng con và chan trở lại trên thùng lớn. Làm như thế nhiều lần đến khi nước thật trong là có một thứ nước mắm cốt”. Còn có thể gọi “nước mắm nhỉ/ nước mắm trong/ nước mắm không pha chế”. Nói như ngôn từ thời thượng là nước mắm “rin” (cách nói tắt của từ original).

Thử hỏi, trong nước mắm viết “nhỉ” hay nhĩ? Từ điển wikipedia ghi nhận “mắm nhĩ” nhưng trong bài khẳng định “nhỉ” với giải thích: “Chính xác phải gọi là "mắm nhỉ". Sở dĩ gọi là "nhỉ" vì loại nước mắm này đúng nghĩa phải được lấy/hứng từ các giọt nước mắm đầu tiên được "nhỉ" ra, hay nói cách khác là rò rỉ ra từng giọt, từng giọt từ lỗ nùi (lỗ thông) đang bịt kín ở đáy thùng hay lu vại đang chứa cá đã đến thời gian chín có thể lấy nước mắm thành phẩm”. Đúng quá. Không gì phải nói thêm. Ngày ra Phan Thiết, đã tận mắt nhìn thấy các cơ sở sản xuất nước mắm, gọi "nhà lều/ nhà thùng". Trong lều có nhiều thùng nước mắm, 24 thùng là 1 "que". Thời gian ủ cá với muối từ 8 đến 10 tháng, gọi "chượp/ ủ chượp". Vậy mỗi thùng chứa được bao nhiêu lít? Câu hỏi này, dễ hay khó? Chẳng lẽ phải gọi điện thoại ra Phan Thiết mà hỏi chăng? Không, bài báo này cho biết mỗi thùng 3.000 lít. Khiếp thật. Thời bao cấp, làm lén nước mắm, người ta "chượp" cá trong lu sành có sức chừa khoảng 200 lít. Cái lu này còn có tên gọi rất hấp dẫn "mái vú". Lại nhớ đến câu thơ đã viết tại Phan Thiết, chừng hơn 20 năm trước: "Buộc tôi yêu nước mắm/ Là cá quẫy dưới sông/ Là môi em mằn mặn/ Lẫn trong chút son hồng". Thơ hay nhỉ. Mà em nào vậy hả Q?

Đã tìm hiểu vấn đề gì, cứ đọc cho nó rốt ráo. Việc gì phải dừng lại ở đây? Trời đang đẹp. Gió đang mát. Được gõ phím, há chẳng phải lạc thú đó sao? Đúng quá. Nào ai dám cãi. Tờ Hương quê số 59 cho biết ở miền Nam: “Với 56.000 mành lưới lớn nhỏ, đủ cỡ, năm 1964 họ thu hoạch được gần 400.000 tấn cá, gồm 345.000 tấn cá biển và 32 ngàn tấn cá đồng”. Về số lượng sản xuất nước mắm? Có số lượng cụ thể của các tình Bình Thuận, Khánh Hòa, Phước Tuy, An Xuyên, Định Tường, Phú Quốc. Nhưng cao nhất vẫn là Bình Thuận: 16 triệu 156 ngàn lít/ năm.

Đọc và tìm thấy một từ lạ trong câu: “Cá biển, người ta chia ra cá nòi và cá tạp. Cá nòi là danh từ dùng để chỉ những loại cá chế tạo ra những thứ nước mắm ngon”. À, vậy hóa ra xưa nay người ta vẫn từ “nòi” dành cho cá ư? Thân mật và gần gũi quá. Con nòi/ con nhà nòi, còn gọi con dòng, con giống tức con chính tông. Nếu không phải “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”", gọi là “con cửi”. Giải thích thế nào? Có phải do lấy hình ảnh từ con thoi trên khung cửi dệt vải, chỉ chạy “ngang hông” chứ không chạy dọc?”. Ngang hông là bỗng dưng, tự dưng, chẳng định trước vì thế, “con cửi” khó có thể sánh với “con nòi”.

Như đã biết “người ta chia ra cá nòi và cá tạp”. Vậy “cá tạp” có liên quan gi đến câu tục ngữ: “Rau tập tàng thì ngon, con tập tàng thì khôn”? Sao lại không? Tập tàng là hỗn hợp, lẫn lộn nhiều thứ vốn chất lượng kém, giá trị không cao. “Cá tạp” tức tập hơp nhiều loại cá, chúng sống gần bờ, ngư dân đánh bắt bằng lưới giã. Tóm lại, nước mắm ngon, nói như các bà nội trợ Quảng Nam là “thơm điếc mũi” ắt phải chọn “cá nòi”. Cụ thể, làm nước mắm với cá biển phải chọn: cá nục, cá mòi, cá cơm, cá lẹp, cá lầm, cá trích, cá sơn…; làm nước mắm với cá đồng, phải chọn cá linh là không chê vào đâu được. Nước mắm ngon đến độ, cô em trong câu ca dao phải thốt lên vời vợi tâm tình:

Con cá cơm thơm hơn con cá bẹ
Bởi mê nước mắm hòn mà em trốn mẹ theo anh

Nhân bàn chuyện vẩn vơ về cá, đêm qua đi nhậu lai rai nhưng không  dám gọi cá. Anh bạn chủ quán vốn trước kia có làm báo, sau gác bút chuyển sang nghề mở nhà hàng. Anh có một chuỗi nhà hàng nổi tiếng, rất thành công, thực khách nườm nượp ngày đêm. Lúc đang có chút men say bèn hỏi cà khịa: “Ở đây, nhà hàng mình có bán cá Vũng Áng không?”. Nói rồi cười rất đỗi vô tư, chứ chẳng hàm ý mỉa mai gì. Nào ngờ, anh bạn sẫm mặt, đột ngột gương mặt ưu tư: “Nói thật, những nhà hàng lớn tại Sài Gòn hiện nay, nếu thật lòng vì an toàn thực phẩm cho khách, không ai dám nhập các nguồn cá biển miền Trung, từ Đà Nẳng trở ra”.

Chỉ một câu nói đó, bỗng dưng tỉnh rượu. Lạnh buốt sống lưng.

Chỉ riêng miền Nam, như tờ Thế giới tự do cho biết những năm 1958 đã “đứng vào hàng đầu các quốc gia ở Á Châu trong việc việc sản xuất và tiêu thụ nước mắm”, vậy mà nay không có cá để ăn; hoặc có đó nhưng lại không dám dụng đũa. Lẽ nào bàng quan buột miệng xuôi xị: “không dè” cho qua truông? Phải là thái độ “dậm chân kêu trời/ kêu trời không thấu/ trời ơi là trời”. Nếu vậy, ông trời trả lời thế nào? Phải chăng ông trời lặp lại một câu trong Luận ngữ: “Thiên hà ngôn tại” (Trời có nói gì đâu)?


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 25.10.2016

 

sach-dasm-thoai-Phap-Viet-xx

 

Mưa lâm râm trên núi mưa về

Ướt cây, ướt lá, không dè ướt em

Cha chả là hay. Tại sao hay? Khó có thể giải thích thích rành mạch, rõ ràng. Đứng trước mặt người đàn bà đẹp, lại mới quen, liệu có ai dám sổ sàng bàn đến chuyện giường chiếu không? Chớ dại. Lúc ấy, chỉ có thể âm thầm cảm xúc, lặng lẽ tưởng tượng và tuyệt đối im lặng. Câu ca dao trên nó hay chỗ nào? Ở vần “è” chăng? Dè dặt. E dè. Không dè. Nào dè. Khi phát âm tiếng “dè” có phải cái lưỡi áp xuống và miệng há ra trong chừng mực? Căn cứ vào cách biểu hiện của miệng và lưỡi, chẳng hạn, từ “o” lúc phát âm cái miệng tròn như chữ o, chữ “ô” cái miệng cũng tròn nhưng hơi nhô ra v.v… ông Lê Văn Siêu có lẽ là người trước nhất đã xếp tiếng Việt theo 22 bộ tượng hình. Chẳng hạn, “è” thì ông xếp vào “bộ béo” cùng với ị, ệ, ì, ề tả những hình dáng béo mập như béo ị, phệ bụng, phát phì, bị, bị xị, xề, bè v.v… Có thể tìm đọc trong bộ sách Việt Nam văn minh sử. Phải là người yêu tiếng Việt, đắm đuối với tiếng Việi, ông Siêu mới nhọc công, mày mò phân loại....

“Ướt cây, ướt lá, không dè ướt em”. Câu ca dao hay ở chỗ, sự ngạc nhiên, sửng sốt của cô gái. Mưa, tất nhiên là ướt, nếu không trú, có chừa ai đâu. Thế nhưng cô gái lạ ngạc nhiên một cách lạ lùng đến độ “không dè”, “ai dè”, “dè đâu”, “không ngờ”. Mà “dè” cũng đồng nghĩa với “dè/dè dặt” - tức dùng nhín/nhón từng chút một, đề phòng lúc thiếu như “ăn dè”, “uống dè”. Thành ngữ có câu “Chặt tre dè đầu mắt”, “dè” ở đây lại kiêng dè, kiêng nể. Tùy ngữ cảnh, tâm thế đó có thể thay qua từ khác, chẳng hạn “Đánh chó ngó chủ”. Lúc ấy, con mắt láo liên, nhìn trước ngó sau, cẩn thận rồi mới dám ra tay.

Từ “dè” có đi gần với “đè” không? Ngớ ngẫn chưa, hỏi thế mà cũng hỏi. Bùi Giáng có câu thơ lung linh sắc nước: “Người con gái lội qua khe/ Bàn chân với nước lạnh đè lên nhau/ Nỗi niềm tưởng lại xưa sâu/ Bàn chân với nước cùng nhau lại đè”. Đè là lấy sức mạnh áp lên trên mà đè xuống, nhận xuống, dằn xuống. Câu ca dao có từ “đè”, bấy lâu nay y ghét cay ghét đắng: “Hôm qua lên núi hái chè/ Gặp thằng phải gió nó đè em ra”. Ghét vì hành động sự cưỡng bức, không có sự đồng thuận mà ép, chiếm đoạt cho bằng được. Thật ra, câu ca dao này chẳng phải do người phụ nữ nào than thở cả, chỉ là lời lếu láo, bông phèng của bọn đàn ông ăn không ngồi rồi, rỗi việc, “tám” giết thời giờ nên mới bịa ra dăm câu nhảm nhí mua cười. Bằng chứng nữa, thêm hai câu sau, nó thô tục quá vì thế không dẫn chứng ra, lại càng không phải là lời ăn tiếng nói của phụ nữ xưa nay.

Cái “đè” chỉ sự thật thà người Việt: “Ống tre đè miệng giạ” là cứ thật thà đong cho bằng miệng giạ. Ối dào, từ “giạ” nay vẫn còn nghe đấy nhưng giải thích ra làm sao? Theo ông Huình Tịnh Paulus Của (1895): “Đồ đong lúa, đương (đan) bằng tre, giống cái thúng sâu lòng, thường dựng chừng 10 ô trở lại”. Hiểu rõ chưa? Chưa ạ. Bởi “ô” là gì? Hãy nghe giải thích tiếp: “Ô: đồ dùng mà đong lúa gạo, đúc bằng đồng hoặc tiện bằng gỗ”. Có nhiều loại “ô” mà “ô mười” là ô đong gạo lớn nhất. Cái ô này, nay nhiều nhà đã thay qua dùng lon sữa bò cho nó tiện.

Hiểu rõ chưa? Chưa ạ. Bởi “ô” đó đựng được bao nhiêu gạo, trọng lượng cụ thể ra làm sao làm gì? Ca dao Nam bộ có câu: “Tĩn ve chai năm nay sụt giá/ Tôi bán không khá/ Tôi trở về Rạch Giá mua một giạ khoai lang”. “Giạ” hiểu theo nghĩa trên, ngoài Bắc có sử dụng không? Việt Nam tự điển (1931) chỉ ghi nhận: “Giạ: dệt bằng lông chiên như áo giạ, chăn giạ”. Vậy dùng từ gì? Từ “lường: đong lường, lường gạo v.v…

Trong tủ sách gia đình của y có quyển Manuel de Conversation Française - Annmite in tại Sài Gòn đầu thế kỷ XX cho biết: “Về phép lường thì ngày xưa nói chắc không đặng, vì mỗi tỉnh đều có đồ dùng riêng hết thảy. Trong tỉnh này thì kêu bằng “lường”, trong tỉnh kia thì kêu bằng “vuông”, trong tỉnh nọ thì kêu bằng “giạ”. Bởi đó cho nên kẻ mua phải coi cho biết trước lường ấy, bởi vì thuở nay trong xứ nầy đồ lường không giống nhau” (tr.176-177). Có thể hiểu, lường là đo lường, đong, tính toán. Ông trạng Lương Thế Vinh do soạn sách dạy toán pháp nên được tôn vinh Trạng Lường là vậy. Tiện tay chép lại từ quyển sách trên những từ có liên quan đến lường mà nay đã mất hút: Toát = 1 Nhón; Sao = 1 nhắm; hạp = 10 thược; thược = 10 sao; thăng = 10 hạp; đấu = 10 thăng; hộc = 10 đấu.

Rồi cũng tiện tay chép thêm vài từ khác nữa.

Chẳng hạn, lâu này trong các bài khảo cứu về cà phê du nhập vào Việt Nam, nhiều người đã viết rất tốt. Có công tra cứu loại thức uống đó xuất hiện từ lúc nào, người Việt tiếp cập ra làm sao v.v… Có điều, họ đều dùng từ “cà phê”. Thật ra, thuở ban đầu người Việt, cụ thể ở Sài Gòn còn dùng một từ tương đương nữa. Xin đọc câu đàm thoại: “Les caféiers ne prospèrent pas/ Cây trà phe không tốt gì” (tr.32). Lại nữa, “Buvez - vous de la bière du vin?/ Anh uống rượu bọt hay rượu chát” (tr.133). Rõ ràng, tiếng tiếng “rượu bọt” được sử dụng trước, nay mất hút, chỉ có thể là bia. Lại nữa, về từ “cảm ơn”: “Merci; quel est votre nom?/ Ừ, giã ơn, chú tên gì?” (125) v.v… Thú vị câu này: “Ông có ăn trầu khi nào chưa?”, “Chưa có lần nào hết, tôi lấy làm gớm lắm, nhất là khi mấy bà già hay ăn trầu, cái miệng họ đỏ lòm tợ như máu trong miệng mà chảy ra vậy (tr.79) v.v…

Ngay cả sau này, thập niên 1930, khi sang Việt Nam, vua hề Charlot -  Charlie Chaplin  (1898 - 1977) còn kinh ngạc, thốt lên” không dè” khi thấy phụ nữ người Việt còn ăn cả chí/chấy nữa. Thật không? Nói có sách mách có chứng. Năm 1936, sau khi quay xong phim Thời đại mới, vua hề Charlot -   cùng với cô Paulette Goddard làm một chuyến viễn du. Từ Los Angeles họ đáp tàu thủy sang San Francisco. Tại đây, ban đầu họ định đi Trung Quốc, nhưng sau đó đổi ý, đi Honolulu. Sau đó họ đến Nhật, Singapore, Hong Kong và Việt Nam. Trong chuyến đi này, Charlot và Paulette Goddard “đã làm lễ cuới bí mật trên một chiếc tàu chạy giữa sông Thái Bình Dương và tận hưởng tuần trăng mật” (Sạc-li Sa-plin của Phạm Văn Khoa - NXB Văn hóa - 1984). Cũng theo sách này, khi đến Hà Nội, hai người đã ở tại khách sạn Métropole.

Lâu nay, ta chỉ mới biết đến thế về những ngày Charlot ở Hà Nội. Gần đây đọc lại bộ Phong hóa (số 185 ra ngày 1.5.1936), y thấy có bài “Phong hóa phỏng vấn Charlot” do nhà văn, nhà báo Thạch Lam thực hiện. Trang bìa vẽ cảnh một đám tang ở nông thôn miền Bắc với dòng chữ chú thích: “Người hướng dẫn: - Ông Lý làng này vừa mới chết, mọi người đương kéo đến ăn đầy nhà. Charlot (sững sốt): - Họ ăn thịt người à?”. Quả là một bức tranh ý vị. Khi đối diện với Vua hề, nhà văn Thạch Lam nhận xét: “Tôi đã quen nhìn Charlot với bộ râu và cái mũ lệch, đến nỗi bây giờ ngồi trước mặt Charlot thật tôi hơi lấy làm lạ. Nhưng cũng vẫn là một con người, vẫn đôi mắt đen và sáng, vẫn cái nhìn sâu xa nhiều ý nghĩa của anh “ma-cà-bông” trong phim Ánh sáng của thành phố”.  Trong bài phỏng vấn, Charlot đã trả lời nhà báo Thạch Lam về bộ phim Thời đại mới:

- Tôi rất muốn tả cảnh đời máy móc bây giờ. Người làm nô lệ cho máy, cũng làm những công việc như máy, rồi cũng vô giá trị như máy vậy. Cái vai tôi đóng trong phim ấy là một anh chàng bị máy móc và công việc trong nhà máy làm thành ngớ ngẩn... Bởi thế đi đến chỗ nào anh ta cũng tưởng tượng ra cái đinh ốc, là công việc của anh ta trong cái nhà máy...

- Thế khi sang đến đây, ông còn tưởng tượng xoáy đinh ốc nữa không?

- Có phải tôi đâu. Người trong phim kia mà. Tôi nói nốt: sau cùng anh ta trốn về nhà quê, gặp được cô gái quê ngây thơ và xinh đẹp...

Tôi ngắt lời:

- Là cô này có phải không ? Thế thì ông sung sướng thật !

Cô Paulette hơi đỏ mặt vì lời khen tặng của tôi, mỉm cười”.

Sau đó, nhà văn Thạch Lam đã “vụt nẩy ra một ý kiến làm quảng cáo cho nước nhà:  “Nếu ông cần có ý kiến lạ thì bên tôi nhiều lắm. Tôi sẽ nói cho ông nghe. Ví dụ, ông có thấy ở nước nào đám tang thì mổ bò ăn khao và thổi kèn Madelon bao giờ không ? Chắc là không. Ấy thế mà ở nước tôi có. Lại còn các cụ Lý quê đi đâu thì treo đôi giày cẩn thận ở đầu ô, sợ nó mòn. Giá lần sau ông cho anh Charlot treo đôi giày trên đầu ô rồi nghênh ngang ở phố Chicago thì có phải thú không?”. Charlot nấc ra cười: “Tôi cũng đồng ý với ông”.

Trong lúc hai người trò chuyện, cô Paulette hỏi nhà văn Thạch Lam: “-Tôi xin lỗi, tôi hỏi ông một câu. Từ khi sang đây, tôi hằng thấy ở các vệ hè thành phố, những ngày nắng từng túm tụm đàn bà, con gái ngồi. Một người xõa tóc, còn một người bới tóc và thỉnh thoảng họ đưa tay lên mồm. Họ làm gì thế thưa ông?”. “- Họ... họ... ngồi phơi nắng!”. “- Phải, cái đó tôi biết rồi. Ở bên Mỹ chúng tôi cũng ngồi phơi nắng luôn. Nhưng còn cái việc khác kia?” . “- À... ấy là họ bắt chấy cho nhau”. “- Bắt chấy! Trời ơi họ lại ăn chấy nữa à?”.  “- Ăn rồi nó cũng quen đi!”.

Qua đối thoại này, ta đã thấy được vài “sự lạ” mà Charlot đã “không dè” đến độ ngớ người ra. Và chính ông hứa là sẽ đem những tình tiết này vào trong bộ phim sẽ thực hiện sau khi về nước. Rất tiếc, sau đó, Charlot đã không làm, vì như  đã biết, sau Thời đại mới thì ông bắt tay vào làm Kẻ độc tài (1940). Chưa dừng lại đó, qua số báo sau (số 186 ra ngày 8.5.1936), nhà văn, nhà báo Thạch Lam lại có bài tổng kết Các báo phỏng vấn Charlot từ các báo Trung Bắc, Đông Pháp v.v... Và ngoài bìa số báo này, chúng ta thấy Báo Phong hóa vẽ cảnh Charlot và Paulette đứng xem xe đám ma! Bức tranh này có tên Dung hòa Âu - Á với lời chú thích trên cùng: “Lệ của ta: mẹ chết thì con trai phải đi thụt lùi trước linh cữu. Nhưng ngày nay, con trai đứng trên xe hơi và xe... chạy thụt lùi!”.

Cũng trong số báo này, thấy có bài thơ “Vua hề Charlot” của Vua trào phúng Tú Mỡ: “Chẳng mấy khi Vua hề Sạc-lố/ Đất Lạc Hồng quá bộ sang chơi/ Tú tôi vui vẻ dâng lời/ Tung hô vạn tuế vui cười thế gian/ Ngài du lịch không quan hộ giá/ Chẳng cung nhân hầu hạ bên mình/ Chẳng kèn, chẳng trống linh đình/ Chẳng cờ, chẳng quạt linh tinh rợp trời/ Một mình với một người tri kỷ/ Cuộc Nam du phỉ chí tang bồng/ Lu bù vui với núi sông/ Danh lam thắng cảnh thỏa lòng ngao du/ Chẳng phiền nhiễu kẻ thù người tiếp/ Chẳng “đít-cua”, chẳng tiệc chẳng tùng/ Tay không lẫm liệt oai hùng/ Thế mà thiên hạ nức lòng hoan nghênh/ Môn giễu cợt tài tình có một/ Khiến đời cười nôn ruột nôn gan/ Hỏi rằng trong khắp nhân gian/ Ai còn lạ mặt anh chàng hề kia/ Trên mép điểm bộ ria lún phún/ Mặt ngây ngô, đần độn, lì lì/ Thân hình, dáng dấp dị kì/ Áo quần luộm thuộm, chân đi vòng kiềng/ Trò ngộ nghĩnh nghề riêng tài giỏi/ Tiếng Vua cười thế giới lừng danh”

Có lẽ đây là bài thơ đầu tiên của thi ca Việt Nam hiện đại “Vịnh”... Charlot! Mà nay đọc lại vẫn thấy thú vị. Và lại càng thú vị với cái sự “không dè” của cô Paulette Goddard lúc đi cùng Charlot sang Việt Nam. Còn y, những ngày này, “không dè” đến chuyện gì vậy?

Mưa lâm râm trên núi mưa về

Ướt cây, ướt lá, không dè ướt em

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 21.10.2016

14721499_1215422211850118_41539150357114814_RRRRRRRRn

 

Vân Tiên ghé lại bên đàng

Bẻ cây làm gậy nhắm làng xông vô

Kêu rằng: "Bớ lũ hung đồ,

Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân”

Có lẽ đây là đoạn hay nhất trong tác phẩm Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu? Đúng thế. Người đọc hả hê, sung sướng, phải thế chứ, giữa lúc dân tình “than khóc tưng bừng” bởi “đảng lâu la/ Tên rằng Đỗ Dự hiệu là Phong lai” đang tác oai, tác quái, lập tức chàng ra tay nghĩa hiệp. Cụ Đồ miêu tả cực hay, rất điện ảnh: “Vân Tiên tả đột hữu xông/ Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương dang/ Lâu la bốn phía vỡ tan/ Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay/ Phong Lai trở chẳng kịp tay/ Bị Tiên một gậy thác rày thân vong”.

Bấy giờ, nàng Kiều Nguyệt Nga cùng tất tì Kim Liên dợm bước ra khỏi xe “cúi đầu trăm lạy”. Họ muốn bày tỏ lòng cám ơn, chàng vội vội vàng vàng: “Khoan khoan ngồi đó chớ ra/ Nàng là phận gái, ta là phận trai”. Thời buổi này, giữa nam và nữ, không nhất thiết phải lên tiếng khăng khăng, quyết liệt đến thế. Thế nhưng tinh thần: “Nhớ câu kiến ngãi bất vi/ Làm người thế ấy cũng phi anh hùng” luôn là một giá trị bất biến? Đúng thế. Thế nhưng, oái oăm thay, trong một vài trường hợp cụ thế, hành động nghĩa hiệp đó cũng bị “xét xử lý về hành vi gây rối trật tự công cộng”.

Y nói đùa chăng? Không hề.

Mấy hôm nay, thông tin về một nữ nhân viên hàng không bị hai tên côn đồ tấn công tại sân bay Nội Bài (Hà Nội), lập tức gây sốc dư luận. Chưa cần biết lý do gì nhưng hành động đánh một đào tơ liễu yếu - nhất là sự việc diễn ra cận kề ngày 20.10 - ngày phụ nữ được tôn vinh. Không một ai chấp nhận. Qua clip đã ghi nhận, ngay lúc cô này bị một gã kẹp cổ cho gã kia đánh tới tập, may thay, có người đàn ông từ phía sau lao tới, đạp thẳng vào kẻ đang giở trò mất dạy. Hắn ta té chúi nhủi, lăn cù. Phải thế chứ. Tính cách nghĩa hiệp “Lục Vân Tiên” thời nào cũng có. Đáng hoan nghênh và cần biểu dương.

Ai ai cũng nghĩ như thế, duy chỉ có ông Giám đốc Cảng vụ hàng không miền Bắc lại không nghĩ thế. Ông nghĩ khác như thế nào? Theo ông, đó là "hành vi gây rối trật tự công cộng". Trên trang Facebok cá nhân, đồng nghiệp Ngô Nguyệt Hữu bình luận đó là phát biểu của một người “trong trạng thái máu không lên não kịp”.

Thế nào là “hành vi gây rối trật tự công cộng”?

Y dốt về luật, vì thế, xin ghi lại phát biểu của luật sư Nguyễn Anh Thơm (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) trả lời báo Pháp luật TP.HCM áng nay: “Hành vi gây rối trật tự công cộng được hiểu là hành vi của người có lời nói, cử chỉ tiếp xúc với người khác ở nơi công cộng tỏ ra coi thường trật tự chung, gây mất trật tự hoặc là những hành vi càn quấy, hành hung người khác (nhưng không gây thương tích, nếu đã gây thương tích thì đó là chuyện khác), gây lộn ở nơi công viên, rạp hát, vườn hoa, quảng trường, sân bay, trụ sở cơ quan nhà nước, trường học… Người có hành vi gây rối trật tự công cộng thực hiện với lỗi cố ý “nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra". Và hành động kịp thời ra tay của các Lục Vân Tiên: “Đó cũng là trách nhiệm của công dân khi thấy bất kỳ đối tượng nào có hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe người khác một cách trái pháp luật thì đều có quyền ngăn chặn hành vi vi phạm đó”.

Vậy đã rõ.

Suy nghĩ của ông Giám đốc Cảng vụ hàng không miền Bắc nguy hiểm ở chỗ, hàng trăm năm trước cụ Đồ Chiểu đã chỉ ra: “Thôi thôi chẳng dám nói lâu/ Chạy đi cho khỏi kẻo âu tới mình”. Thấy chuyện bất bình, dại gì  ra tay. Biết đâu vạ lây đến mình. Né đi chỗ khác. Nhắm mắt bịt tai cho nó lành. Sự vô cảm cũng từ đó mà ra. Nhiều người cho biết, khi đi đứng ngoài đường, tận mắt chứng việc này, chuyện nọ trái tai gai mắt cũng không dám can thiệp, thậm chí không dám đứng ra làm chứng vì biết chắc sau đó vướng lấy bao phiền toái, rắc rối. Mệt lắm. Né luôn cho xong. Ai xui thì chịu. Tóm lại, suy nghĩ của ông Giám đốc Cảng vụ hàng không miền Bắc đã góp phần bổ sung cho sự phong phú, đa dạng về định nghĩa mới vài từ trong tiếng Việt. Chẳng hạn, tát: chạm tay vào má; đá: đưa chân hơi cao; năm tóc kéo: vuốt tóc; bị đánh gục: nằm ăn vạ; giải cứu người bị đánh: gây rối trật tự công cộng v.v...

Sống ở đời, thời buổi này dễ hay khó đây? Khó lắm chứ. Bởi lẽ, có những điều hiển nhiên được thừa nhận, nhưng nay đã khác. Bi hài kịch là chỗ đó.

Lại thêm chuyện dở khóc dỡ cười như người nọ vừa trúng số giải đặc biệt của Công ty xổ số điện toán VN (Vietlott). Trong tổng số phát ra là 8,1 triệu vé thì người này may mắn nhất, đã mua được vé trúng trị giá 92 tỷ đồng. Nhân đây nói thêm, ở Mỹ, tổng số phát ra là 292 triệu vé. Tóm lại, với số tiền khủng như trên, gia đình người tốt số có thể ăn ngon ngủ yên, sống một cuộc đời sung túc? Không hề. Bao nhiêu phiền lụy ùn ùa kéo đến khiến họ phải bỏ nhà lánh nạn. Tại sao? Từ bốn phương tám hướng, người ta kéo đến “xin lộc” bất kể thời gian, đáng gờm nhất là các tay xã hội đen đã vác xác đến “xin đểu”. Kêu trời không thấu!

Câu “kêu trời không thấu”, chiều qua y đã buột miệng kêu lên.

Rằng mấy hôm nay mấy bà nội không biết chọn mua nước mắm thế nào là an toàn thực phẩm? Ai làm nên cớ sự? Một tổ chức “phản động” nào đã tung tin vịt, tin đồn nhảm hăng? Không hề. Đó chính là Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng (Vinastas)! Nghiệt thật. Đố ai có thể tưởng tượng ra nổi. Vinastas ngang nhiên công bố thông tin về 67% mẫu nước mắm do hội này khảo sát bị nhiễm asen vượt mức cho phép. Theo quy định, thẩm quyền công bố chất lượng nước mắm thuộc về Bộ Y tế mà cụ thể là Cục An toàn thực phẩm, chứ không phải của hội nào đó. Vinastas muốn làm thì phải được Bộ Y tế ủy quyền chứ không phải thích thì đứng ra công bố. Sự nhập nhằng của công bố này ở chỗ, asen vô cơ mới chính là thạch tín độc hại, còn asen hữu cơ là chất tồn tại tự nhiên trong hải sản hay các nguyên liệu làm nước chấm, không độc hại gì đối với cơ thể con người, vì vậy mà không quy định giới hạn. Nói tắt một lời, trả lời Báo Pháp luật TP.HCM sáng nay, ông Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn ho rằng: “Vụ nước mắm nhiễm asen”: Có dấu hiệu câu kết bất lương”.

Còn có chuyện gì khiến y “kêu trời không thấu” nữa không?

Xin trích lại một đoạn ngắn trên báo Tuổi Trẻ, y vừa đọc chiều qua. Rằng, phóng viên của tờ báo này đi tham quan Triều Tiên và kể lại nhiều chi tiết, có thể nhiều người chưa biết. Lúc tại Bình Nhưỡng, họ tới thăm và dâng hoa ở tượng đài hai vị lãnh tụ Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật. Tượng này cao 20m, được làm bằng đồng, vàng, nhiều kim loại quý và họ nhận xét: “Hoa ở đây chỉ toàn bó và lẵng, không có kệ và vòng hoa như thường thấy”.

Tại sao?

Bài báo viết: “Theo giải thích của cựu đại sứ VN tại Triều Tiên Lê Quảng Ba, ở Triều Tiên mọi người đều xem hai vị lãnh tụ Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật còn sống. Đó là lý do chỉ được phép viếng lãnh tụ bằng bó hoa và lẵng hoa. Tuyệt đối cấm viếng bằng vòng hoa vì họ quan niệm vật này chỉ có thể dành cho người đã chết. An ninh trong chuyện này cũng rất gắt gao, các cơ quan ngoại giao cũng không được phép mua và trực tiếp mang hoa đến viếng, mà chỉ có thể đặt tiền trước cho một cơ quan phục vụ chuyên trách”.  Bất kỳ ai khi viếng dâng hoa trước tượng đài đều phải kính cẩn gập lưng cúi chào. Nếu không, “sau đó cả đoàn bị buộc phải quay lại hành lễ, gập cả lưng mới được rời khu đồi”. Người Triều Tiên rất tôn kính lãnh tụ của họ.

Tôn kính như thế nào?

“Một nhà báo Hàn Quốc khi đến thăm tượng đài hỏi rằng bức tượng nặng bao nhiêu tấn. Một em thiếu niên trả lời rằng bức tượng nặng bằng cả tình cảm của người dân Triều Tiên dành cho lãnh tụ cộng lại. Về chiều cao, em thiếu niên tiếp lời: tượng cao bằng lòng tôn kính của tất cả người dân Triều Tiên đối với vị lãnh tụ xếp chồng lên nhau”... Câu chuyện kỳ lạ đầu tiên ấy do đồng chí hướng dẫn viên Choe Un Mi kể cho chúng tôi ngay sau chuyến thăm và dâng hoa ở tượng đài hai vị lãnh tụ Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật khi vừa đặt chân đến Bình Nhưỡng”.

Còn có chuyện gì khiến y “kêu trời không thấu” nữa không? Ắt còn dài dài. Mà thôi. Không bàn chuyện đó nữa. Vừa mới hay tin nhà văn Lê Văn Thảo qua đời vi bệnh ung thư dạ dày. Khi viết những dòng này, trong đầu bỗng bật ra câu thơ:

Về thôi, “Lên núi thả mây”

Bỗng “Cơn giông” đến dạ dày buốt đau

Ngóng theo “Sông nước Vàm Nao”

“Ông cá hô” đã đi vào trăm năm…

Trăm năm khép lại. Đời người trôi qua nhanh lắm. Chỉ một nháy mắt. Ngoài trời vẫn đang mưa. Lại những câu thơ vụt ngang qua. Và níu lấy:

“Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ”

Câu hát buồn thiu. Ký ức nhạt nhòe

Mưa bây giờ cứng đờ như đá cuội

Từng giọt rơi rách toẹt cả trang thơ

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 18.10.2016



lulut_mien_trng_2106

 

Tự nhiên lòng thấy vui. Ấy là lúc bước vào cơ quan, nơi làm việc mỗi ngày đã thấy cái thùng từ thiện kêu gọi anh em tùy ý, tùy tâm bỏ tiền vào đó nhằm đóng góp giúp đồng bào lũ lụt miền Trung. Sống ở đời ai cũng cần có việc làm để kiếm tiền. Vì sự nhọc nhằn của sức lao động, khi chi xài phải cân nhắc. Thế nhưng, trước cảnh khốn khó “người trong một nước phải thương nhau cùng”, chẳng một ai cân nhắc thiệt hơn. Lại nhớ về những chuyến đi cứu trợ trước đây. Và viết ngay bài tường thuật gửi về tòa soạn. Tình yêu thương nhiều vùng đất cũng từ đó càng thêm nặng lòng.

Sáng nay, đọc thông tin Lời kêu gọi chung tay hỗ trợ đồng bào lũ lụt miền Trung, từ Báo Thanh Niên. Nhói lòng. “Theo thống kê, tính đến chiều 17.10, tại các tỉnh trung và bắc Trung bộ đã có hàng chục người thương vong và mất tích do mưa lũ, hơn 100.000 ngôi nhà bị nhấn chìm trong nước, hàng trăm ngàn héc ta hoa màu bị hư hại, nhiều gia súc gia cầm bị lũ cuốn trôi... Do nhiều tuyến đường bị chia cắt nên người dân ở các tỉnh miền Trung đang ra sức chống chọi với lũ lụt và ở các tỉnh này đã xuất hiện tình trạng đói khát ở những vùng bị lũ cô lập. Những thiệt hại ngày càng trở nên trầm trọng hơn, gây ảnh hưởng lâu dài hơn”.

Lâu nay, dư luận rộ lên với câu hỏi đau đớn, vì sao tâm tính người Việt ngày một xấu đi? Tàn nhẫn hơn. Độc ác hơn. Điều đó không sai. Nhưng rồi đến lúc lại thấy “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”, lại thấy sáng ngời tâm thế “Nhiễu điều phủ lấy giá gương”, “Lá lành đùm lá rách”… Có một điều cần ghi nhận, các tổ chức xã hội, cá nhân đã huy động được hàng trăm triệu, hàng tỷ đồng từ những tấm lòng san sẻ cùng nỗi đau của đồng bào ruột thịt. Trước hết, phải do lòng nhân của người Việt ngàn đời nay vẫn thế và nhờ thế, các cá nhân mới có thể huy động được sự quyên góp số tiền lớn. Chẳng hạn, MC Phan Anh, một cá nhân với vài người bạn nghệ sĩ đã vận động trong thời gian ngắn được 10 tỉ đồng.

Tại sao họ có thể huy động được số tiền " khủng" đến thế?  Trên trang Facebook cá nhân, nhà thơ Từ Kế Tường lý giải: “Điều này nói lên nhiều ý nghĩa: Đó là uy tín, là lòng tin, là "thương hiệu" cá nhân đủ sức thuyết phục cộng đồng chứ không phải những lời hô hào, khẩu hiệu, ngôn từ đao to búa lớn nhưng vô cảm. Nhất là những câu chất vấn "Làm từ thiện với động cơ gì?". Làm từ thiện chẳng có động cơ nào cả, ngoài động cơ duy nhất là giúp đồng bào khốn khổ vì bị thiên tai mưa lũ do trời và nhân tai xả lũ do thủy điện Hố Hô. Cũng đừng thắc mắc vì sao MC Phan Anh vận động được 10 tỉ (có thể sẽ hơn) chỉ trong thời gian rất ngắn vì người hảo tâm tin rằng Phan Anh và những người bạn của mình sẽ có cách đưa tiền tới tận tay đồng bào khốn khổ đang cần mà không bị ăn xén, ăn chận. Đơn giản vậy thôi”.

Đáng chú ý ở câu: “cách đưa tiền tới tận tay đồng bào khốn khổ đang cần mà không bị ăn xén, ăn chận”. Lâu nay, từ báo chí các đồng nghiệp đã phanh phui ra lắm vụ cán bộ cấp thấp lè tè, cao chót vót đã có hành động thô lậu, đáng lên án ấy. Ai trong cảnh màn trời chiếu đất, tang thương, đói rét thì mặc. Sống chết mặc bay. “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê” (Truyện Kiều). Một trong những từ xuất hiện nhiều nhất ở nghĩa phái sinh trong tiếng Việt chỉ có thể từ “ăn”.

Việt Nam tự điển (1931) của Hội Khai Trí tiến đức ghi nhận “Ăn chận, ăn chẹt”: Thừa lúc người ta bối rối, hay nguy nan mà bắt chẹt lấy tiền, lấy của”. Thật ra ăn chận/ ăn chẹt không giống nhau. Đại Nam quấc âm tự vị (1895) của Huình Tịnh Paulus Của giải thích: “Ăn chẹt:  Phép đánh cờ gánh, chận chẹt đàng mà bắt con cờ người ta, kêu là ăn chẹt. Thôn trưởng nhơn việc thâu thuế làm quỷ quái thâu dư, hoặc ăn vặt của dân, cũng gọi làm ăn chẹt gánh”. Thành ngữ có câu: “Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ, thợ bồ ăn nan, thợ hàn ăn thiếc”; lại còn có dị bản: “Thợ may ăn rã, thợ mã ăn hồ, thợ mộc ăn giăm khô, thợ rèn ăn cứt sắt”. Nghĩ cho cùng, những cách “ăn” như trên cũng còn có thể chấp nhận được bởi từ sức lao động, từ nghề mà họ có ăn chút đỉnh cũng chẳng sao. Còn nếu ăn quá hớp, tọng đầy họng như cách nói hiện tại là “rút ruột công trình” - cỡ như đúc bê tông không hề có lõi sắt mà chỉ có... cọc tre thì nhà, cầu sụp cái đụi dễ như chơi.

Vậy “ăn chận” là gì? Là lợi dụng cương vị trung gian để lấy bớt phần người khác. Phần đó, người khác có được, được nhận là do lòng hảo tâm của bá tánh, nhưng do đóng vai trò trung gian "theo đúng quy trình" nên mình đớp luôn. Ấy mới sự khốn nạn, thô bỉ. Khi đồng loại đang đói khát, rét mướt, bệnh hoạn, ốm đau… khiến cả nước, kể cả kiều bào nước ngoài “nhường cơm xẻ áo” - mình đứng ra nhận lấy tấm lòng thể hiện qua vật chất cụ thể. Thay vì phân phát đúng người, đúng việc thì mình lại ăn chận! Vì lẽ đó, y biết nhiều tổ chức thiện nguyện, nhiều người làm tự thiện không tin vào cái gọi là “trung gian” nữa, họ đến trao tận nơi là vậy. Mà một khi đã ăn chận thì họ đứng ngoài nỗi đau chung. Nỗi đau này, anh bạn thơ Nguyễn Trọng Tạo vừa post lên trang Facebook cá nhân:

Núi dựng đá mà sông thì dựng thác
Ngón chân tòe Giao Chỉ vẫn còn đi
Nước lũ rút rồi người vẫn còn nghẹn nước
Nghẹn đói nghèo mà chẳng được vân vi.

Quê hương ơi, bao lận đận hiểm nguy
Bốn phương người đang hướng về nơi ấy
Bồng bế nhau mà nghẹn tình thân ái
Nghẹn nỗi niềm: chỉ dân biết thương dân…

Những tấm lòng “chỉ dân biết thương dân”, đùm bọc lấy nhau quý lắm. Thời nào cũng có. Giá nhân nhân văn của dân tộc Việt ngàn đời nay vẫn thế. Không một ai có thể chấp nhận kẻ “ăn trên ngồi trốc” lại giở trò “ăn chận”. Nhân bàn chuyện về “ăn”, mới đây trên tạp chí Kiến Thức Ngày Nay (số 20.10.2016) có bài viết của TS Lê Trung Hoa bàn về câu tục ngữ: “Ăn đưa xuống, uống đưa lên”. Theo ông: “Trước hết là câu: “Ăn đưa xuống, uống đưa lên”. Câu này hướng dẫn chúng ta cách ăn và cách uống trong lúc tham dự những bữa ăn tập thể như dự tiệc tùng hay cưới hỏi theo phép xã giao thông thường. “Ăn đưa xuống” khuyên chúng ta không nên bưng cái chén ăn liên tục mà thỉnh thoảng phải đặt chén xuống bàn, chờ mọi người cùng ăn với mình. Còn “uống đưa lên” khuyên chúng ta chốc chốc phải đưa ly rượu lên mời mọi người cùng uống cho vui vẻ, thân thiện (tr.14).

Cách giải thích này có hơp lý không?

Thiết nghĩ, cần bàn lại. Ăn, trong ngữ cảnh này không là ngồi ăn một mình như câu thơ của Hữu Thỉnh miêu tả người đàn bà góa bụa: “Một mình một mâm cơm/ Ngồi bên nào cũng lệch/ Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền”. Ở đây, chính là lúc ăn đông người, ăn tập thể. Không chỉ mâm cao cổ đầy lúc ăn ở đình làng, ngồi thứ tự theo vai theo vế mà ngay cả trong gia đình cũng vậy. Mâm trên dành cho bậc trưởng thượng, cao niên và thức ăn bao giờ cũng nhiều hơn, ngon hơn mâm dưới của hạng cháu con (nếu trong nhà), dành cho bọn thấp cổ bé họng (nếu ở đình làng).

Vậy thì “Ăn đưa xuống”, tức là lúc bậc cả, người lớn bày tỏ sự thân thiện, quan tâm đến bề dưới. Cũng là cách ngầm cám ơn những gì mà họ đã cung cúc phục vụ, hầu hạ. Phép xử thế khôn ngoan ở đời đấy. Phải là sự “ăn đồng chia đủ” chứ không phải mỗi mình hưởng, rồi đến lúc hoạn nạn thì kêu ai? Nó có thèm tới không? Chính sử Đại Việt sử ký toàn thư chép sự kiện năm 1257, lúc quân Nguyên xâm lược nước Đại Việt ta, có kẻ suýt bị vua Trần giết của họ vì tội bất trung. Nguyên nhân sâu xa cũng vì phân bì miếng ăn mà nên tội. “Trước kia có lần vua ban xoài cho những người hầu cận, Cự Đà không được ăn. Đến khi quân  Nguyên tới Đông Bộ Đầu, Cự Đà ngồi thuyền nhẹ chạy trốn. Đến Hoàng giang gặp hoàng thái tử đi  huyền ngược lên,  Đà lánh sang bờ sông bên kia, thuyền chạy rất gấp. Quan quân gọi lớn: “Quân Nguyên ở đâu". Cự Đà trả lời: “Không biết, đi mà hỏi những người ăn xoài ấy”. Đến đây, thái tử xin ghép Cự Đà vào cực hình để răn những kẻ làm tôi bất trung. Vua nói: “Cự Đà tội đáng giết cả họ, song đời xưa đã có chuyện Dương Châm không được ăn thịt dê, đến nỗi làm quân nước Trịnh bị thua. Việc Cực Đà là lỗi ở ta, tha cho hắn tội chết, cho phép hắn đánh giặc chuộc tội”.

Miếng ăn, nhất là “miếng giữa làng hơn sàng xó bếp” nó quan trọng thế đấy. Vậy nên “Ăn đưa xuống” là lời dạy về phép ứng xử của bậc trên dành cho cộng sự, tôi tớ, con cháu... Chứ không là: “khuyên chúng ta không nên bưng cái chén ăn liên tục mà thỉnh thoảng phải đặt chén xuống bàn, chờ mọi người cùng ăn với mình” (!). Nếu thế, ông bà ta có cách nói khác.

Còn “Uống đưa lên” cũng là phép ứng xử khôn ngoan nhưng dành cho kẻ dưới. “Đưa lên” là từ thấp đưa lên, tỷ như người từ mâm/ chiếu dưới đưa lên mâm/ chiếu trên. Lúc tiệc tùng, ăn nhậu, đã có chút men, “rượu vào lời ra” cũng là cơ hội tốt, thuận lợi giúp mình có thể tiếp cận đàn anh, bậc trên mà lâu nay không có điều kiện, hoặc không thể ngồi chung. Chỉ lúc này, với chén rượu đang lúc ăn uống mình có thể “đưa lên” mời mà không sợ trái phép. “Trời đánh tránh bữa ăn” kia mà, dẫu bấy lâu bậc đàn trên chẳng ưa thích gì mình, hoặc đang giận điều gì thì đây cũng là lúc cần thiết mượn động tác “đưa lên” đặng hóa giải. Mà “đưa lên” là động tác diễn ra nhanh gọn, rồi thoái lui, chứ đừng ngốc dại “ngồi lên” rồi ngồi ì ra đó như thể bằng vai phải lứa. "Đưa xuống" cũng thế. Dù thể hiện động tác có quan tâm đến kẻ dưới nhưng cũng không hề ngồi chung chạ. Vẫn đâu ra đấy. Vai vế đâu ra đó vẫn rõ ràng.

Tục ngữ, thành ngữ về định nghĩa của nó, đã rõ rồi, không cần nhắc lại nữa. Nhưng ít ra nó phải có tính đại chúng, phổ quát, chứ không dành riêng cho một đối tượng nào. Vậy, cách giải thích: “Còn “uống đưa lên” khuyên chúng ta chốc chốc phải đưa ly rượu lên mời mọi người cùng uống cho vui vẻ, thân thiện”. Thế thì, gặp người không biết, không khoái bia bọt dẫu một giọt thì “chốc chốc phải đưa ly rượu lên mời mọi người cùng uống cho vui vẻ, thân thiện” à? Thậm vô lý.

Sực nhớ lại chuyện tối qua. Cũng đi ăn. Vào cái quán “chuyên trị” món ăn Bắc, cầm cái thực đơn, ngoài bài ca dao về Thành Nam (tức Nam Định) còn câu vần vè này. Nhộn ra phết:  “Thuốc lào chồng hút vợ say/ Thằng con châm điếu lăn quay ra nhà/ Có anh hàng xóm đi qua/ Phải hơi khói thuốc say ba, bốn tuần/ Thêm chú gà trống ngoài sân/ Mỗ nhầm bã thuốc cánh, chân cứng đờ/ Lại còn chị mái hoa mơ/ Hơi thuốc bay đến bơ phờ cả lông…”. Sách Vân Đài loại ngữ của danh nhân Lê Quý Đôn ghi: “Từ năm Canh Tý (1660), niên hiệu Vĩnh Thọ (1658-1662), đời vua Lê Thần Tông, người Ai Lao đem cây ấy đến, dân ta trồng”. Tùy cách sử dụng, tên gọi thuốc lào có khác đi. Ngày xửa, ngày xưa, mẹ của y có ăn trầu, nay đã bỏ, thỉnh thoảng lại xỉa thêm một ít thuốc lào, một cách chà răng nhằm loại bỏ xác trầu. Nhúm thuốc lào này được gọi “thuốc xỉa”.


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 16.10.2016

 

14718860_10210196686647468_6119349247546790157_n

 

Thương cha nhớ mẹ thì về

Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thì đừng

Thoạt nghe đã cảm thấy là lạ, khó giải thích rạch ròi. Và, nó đã tạo nên sự tranh cãi. Thật ra, có những câu ca dao cần đặt tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của nó mới thể lý giải rõ ràng. Không sa vào tranh luận các ý kiến khác, chỉ nói rằng, phải đặt nó trong hoàn cảnh của ông Nguyễn Duy Hiệu, thủ lĩnh phong trào Nghĩa Hội (Quảng Nam). Tháng 7.1887, lực lượng nghĩ quân bị thực dân Pháp đàn áp dữ dội, Nguyễn Duy Hiệu lại đau đớn khi hay tin mẹ đã mất. Ông dẫn đứa con trai tìm về làng Thanh Hà. Giữa trảng cát nắng chói chang đến nhức mắt, ông quỳ xuống thắp nhang trước mồ mẹ. Gió thổi lồng lộng. Bão cát xoáy lên ngút trên trời... Ông tức tưởi khóc:

- Là bày tôi mà vua nạn không phò, vua chạy không theo, khó đem nổi bất bình mà kêu cùng tạo hóa;

Là con trai mà mẹ đau không dưỡng, mẹ mất không chôn, chỉ biết lấy trường hận mà khóc sinh thành.

Sau đó, ông ngồi trong miếu Quan Công, ngước mắt nhìn khói nhang tỏa nghi ngút trước mộ mẹ giữa bão cát. Bỗng cả bó nhang ấy phừng phừng lửa đỏ như một bó đuốc! Điềm gì chăng? Nguyễn Duy Hiệu rùng mình, giữa trưa nắng mà toàn thân ông lạnh toát, khi ông vừa định thần lại thì quân giặc đã ùa tới vây bắt. Ngày 1.10.1887, Nguyễn Duy Hiệu bị chúng chém đầu tại pháp trường An Hòa (Huế). Khi đầu của người anh hùng rơi xuống đất, lập tức được chở bằng một chuyến xe tốc hành vào Quảng Nam, bêu cho công chúng dọc đường thấy - nhằm uy hiếp tinh thần của họ. Cùng lúc, các trạm phóng ngựa ruổi khắp tỉnh, cầm trên tay một dòng chữ rất lớn: “Hiệu đại thủ lĩnh đã bị giết”! Câu ca dao trên, chính là lời nhắn nhủ của ông Hiệu cùng các đồng chí.

Trưa ngày 14.10.2016, y về Đà Nẵng. Về thăm mẹ. Ngồi trên máy bay, nhớ hoài đến câu ca dao đó. Thật ra quê hương, quê nhà cũng chỉ là một khái niệm. Nếu về quê không còn có mẹ, liệu rằng, niềm háo hức, sung sướng, hồi hộp có còn? Ơn trời, mẹ y đã 90 nhưng vẫn còn đi đứng được và tuyệt vời nhất trí nhớ vẫn minh mẫn. Nhớ đâu ra có, không hề có dấu hiệu lú lẫn. Quá tuyệt. Về quê cũng là một cách nạp lại năng lượng. Gia đình. Bạn bè. Quán xá. Những món ăn ngon. Ngủ một đêm tại căn nhà của tuổi thơ. Rồi lại đi. Đi cũng có nghĩa là về. Về lại niềm vui công việc, với nơi trú mưa nắng và từng ngày cứ thế lại mải miết trôi đi. Mà còn có mẹ ngày nào, ngày về quê vẫn tiếp tục. Chỉ là dăm câu chuyện trò cho yên lòng. Rồi lại đi. Những ngày vui này, chẳng còn dài nữa đâu. Được thế nào, hãy biết thế ấy.

Sáng dậy sớm ở Đà Nẵng, lại có cảm giác như cái thuở còn đi học. Trời xanh ấy, vòm cây ấy vẫn như cái thuở xa xăm nào đó ùa vào mắt tưởng chừng như dấu vết của thời gian, của quá khứ vẫn thế. Không hề thay đổi. Trong khi đó, cách Đà Nẵng không xa, “Nhiều người ở Quảng Bình cho rằng chưa bao giờ có một đợt mưa khủng khiếp và dồn dập đến như thế”, Báo Tuổi Trẻ đưa tin. Mực nước nơi cao nhất lên đến 3 mét. Lũ bất ngờ lên nhanh vào đêm 14.10 và rạng sáng 15.10, cộng với thủy điện xả lũ với lưu lượng lớn đã nhấn chìm hàng nghìn ngôi nhà ở huyện miền núi Hương Khê (Hà Tĩnh) trong biển nước. Các huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch, Ba Đồn, Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa và thành phố Đồng Hới ngập sâu trong lũ, nhiều nơi đã vượt mức lũ lịch sử năm 2007 và 2010. Theo thống kê của Văn phòng thường trực Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh đến chiều 15.10, toàn tỉnh có 26.920 nhà bị ngập, 56 nhà bị tốc mái; 7 người chết và 5 người mất tích.

Đà Nẵng vẫn nắng ấm. Vẫn những cuộc vui cùng bạn bè thân thiết của cái thuở đã chung sống ở chiến trường K. Ngoảnh lại mới giật mình đã 40 năm trôi qua cái vèo. Đang bù khú bia bọt lai rai, thế mà phải dừng lại, phải viết ngay vài trăm chữ về sự kiện Giải Nobel Văn chương năm nay. Trước đó, khi hay tin ca sĩ, nhạc sĩ Bob Dylan nhận giải,  y phát biểu:

“Bob Dylan đoạt giải Nobel, đêm nay tôi lại nghe Trịnh Công Sơn: Giải thưởng Nobel văn học trao cho ca sĩ, nhạc sĩ Bob Dylan là điều không có gì ngạc nhiên. Con người tài hoa ấy, cuối cùng toàn bộ sự nghiệp là cất lên tiếng nói phản kháng vì quyền con người, chống chiến tranh, chống áp bức và cơ ngợi tình yêu thương của con người. Thông điệp nhân văn ấy, có ý nghĩa với mọi thời đại, mọi quốc gia, mọi sắc tộc.

Có một điều gì đó rất gần với ca từ Trịnh Công Sơn, trong những sáng tác của Bob Dylan. Và ngược lại. Trên tờ Peace News số ra ngày 8/11/1968, có người đã gọi Trịnh Công Sơn là “Bob Dylan của Việt Nam”. Mới đây một giáo sư của Trường Đại học Humboldt, California, Mỹ là John C. Schafer đã ví “Trịnh Công Sơn - Bob Dylan như trăng và nguyệt”. Đại khái, John C. Schafer có nêu ra 7 điểm giống nhau nhưng quan trọng nhất: cả hai đã nói lên được ước vọng và niềm đau của một thế hệ trẻ; cả hai giữ được danh tiếng của mình mặc dầu quê hương của họ đã trải qua bao cuộc thăng trầm về chính trị và văn hóa; cả hai chịu ảnh hưởng và tìm nguồn cảm hứng từ hai truyền thống tôn giáo của họ, đạo Phật với Trịnh Công Sơn và Ki-tô giáo với Bob Dylan.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cho biết: Dylan được trao giải Pulitzer báo chí năm 2008 cho “những đóng góp đặc biệt của ông cho âm nhạc và văn hóa, chủ yếu với những ca từ phức tạp kết hợp với sức mạnh đặc biệt của thi ca”. Và nhạc sĩ Văn Cao ghi nhận: “Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người ca thơ (Chantre)”. Khi hay tin Bob Dylan nhận giải thưởng Nobel cao quý, đêm nay, tôi vui mừng và lại nghe nhạc Trịnh Công Sơn như mọi ngày” (nguồn: Báo Thể thao & Văn hóa ngày 13.10.2016).

Về giải thưởng văn chương danh giá nhất toàn cầu, năm nay, nói như Báo Tuổi Trẻ ngày 15.10.2016: “Văn đàn thế giới chia rẽ trước giải Nobel của Bob Dylan”. Thông cáo báo chí của Viện hàn lâm Thụy Điển vào ngày 13.10.2016, khẳng định: “Giải Nobel văn chương năm 2016 được trao cho Bob Dylan vì đã sáng tạo ra những biểu thức mới trong truyền thống ca khúc vĩ đại của nước Mỹ”. Lý do nêu ra hoàn toàn phù hợp với định nghĩa của giải Nobel mà trên trang chủ của tổ chức này trưng ra: “900 khôi nguyên giải Nobel từ 1901 - 2016 được trao vì lợi ích lớn nhất cho nhân loại”. Tuy nhiên, “Giải thưởng Nobel văn chương dành cho Bob Dylan năm nay cũng tiếp tục làm dấy lên những tranh luận về việc đâu là ranh giới trong nội hàm định nghĩa về văn chương. Liệu văn chương có nhất thiết còn phải là thơ và tiểu thuyết nữa không nếu căn cứ vào việc giải thưởng Nobel văn chương năm ngoái đã được trao cho một nhà báo, bà Svetlana Alexievich? Hay phải chăng định nghĩa của văn chương cần được mở rộng thêm cả với những người giống như Bob Dylan, đã sử dụng ngôn ngữ một cách đầy cảm xúc trong nghệ thuật, ví như âm nhạc?”.

Y nghĩ gì?

Khi đang có chút men say, đang ngồi chơi tán dóc mà phải bàn chuyện văn chương chữ nghĩa một cách nghiêm túc, liệu có còn hào hứng nữa không? Khổ nổi, bạn bè của thời cầm súng ở quê hương Chùa Tháp từ năm 18 cái xuân xanh nào có quan tâm đến chuyện này. Vậy y bàn với ai đây? Thôi thì, phải ngưng ly rượu mà tự viết vậy. Công việc làm báo là thế. Chỉ vài trăm chữ, nhưng cần là cần gấp trong lúc này, khoảnh khắc này cho kịp quy trình. Bằng không, chỉ chậm một giây, cái tin ấy, bài viết ấy cũng không cần đến nữa. Công việc làm báo thế mà hay. Nó đòi hỏi nhà báo phải “tác chiến” ngay lập tức. Cả một guồng máy đang vận hành cho số báo ngày mai. Không một ai được quyền chậm trễ, dù bất kỳ lý do gì. Vì thế, y phải viết ngay.

Sáng nay, Báo Thanh Niên đã in bài Sự trở về cội nguồn văn chương: “Giải Nobel Văn chương năm nay đã dấy lên sự tranh luận dữ dội trong giới học thuật. Thậm chí, có ý kiến còn cho rằng, khi trao giải cho ca - nhạc sĩ Bob Dylan cũng là lúc cần xác định lại nội hàm của văn chương. Liệu rằng, có phải Ủy ban Nobel đã phá vỡ truyền thống trước đây - từng định hình qua năm tháng?

Tờ The New York Times (Mỹ) đã thẳng thừng tuyên bố chính kiến: “Bob Dylan không cần một giải Nobel Văn chương, nhưng văn chương cần một giải thưởng Nobel. Và năm nay đã không có giải”.

Với văn chương, chẳng hạn tiểu thuyết, ban đầu người ta quan niệm phải có tình tiết, sự kiện nhân vật, có xung đột, giải quyết xung đột đó, và “kết thúc có hậu”. Dần dà, khi trào lưu “tiểu thuyết mới” ra đời - quan niệm đó đã thay đổi về một cấu trúc của một tác phẩm. Còn thơ thì ban đầu cần có vần, điệu, sự ràng buộc của niêm luật theo quy củ nghiêm ngặt nhất định. Về sau, quan niệm dành cho thơ cũng đã thay đổi. Có thể là sự tự do, phóng túng trong câu chữ; nếu muốn đó là “văn xuôi” - mà nếu cần thiết cũng không cần các dấu chấm, phết ngắt câu...

Mọi sự thay đổi về hình thức, nói chung cũng chẳng có gì “ghê gớm” cả. Điều cốt lõi vẫn là ý nghĩa cuối cùng, nhằm đạt đến điều gì. Tài năng của người cầm bút để lại dấu ấn nhất thời, hoặc lâu dài chính là ở đó. Với thiên tài Nguyễn Du: “Mua vui cũng được một vài trống canh” là một cách nói nhún nhường của bậc thượng thừa sau khi đã viết từng dòng châu ngọc “như máu chảy ở đầu ngòi bút”. Vậy thì sự “mua vui” nói cách khác dù gì đi nữa thì cũng phải đi vào lòng người. Người đọc có thấm thía, chia sẻ buồn vui qua từng con chữ thì mới đạt đến văn chương - bằng không cũng chẳng là gì cả.

Với Bob Dylan và nhiều tài năng khác, họ làm văn chương theo cách diễn đạt của họ. Mà cách ấy, có thể không như quan niệm truyền thống đã định hình. Tôi nghĩ rằng, đó là sự sáng tạo của nghệ sĩ. Bob Dylan của Mỹ hoặc Văn Cao, Trịnh Công Sơn... của VN chính là thi sĩ. Họ mượn giai điệu của âm nhạc để chuyển tải, phổ biến thơ ca của mình đấy thôi. Sự kết hợp ấy là “thi trung hữu nhạc” và ngược lại. Đó là văn chương đấy chứ - nếu suy nghĩ rằng ít ra tầm tư tưởng ấy cũng đạt đến sự “mua vui” cho đời sau.

Trở lại với quan niệm truyền thống về thơ - nó phải thế này, thế kia - nhưng thật ra ban đầu thi sĩ chính là người ca thơ (chantre). Họ “đọc” thơ bằng tiếng hát của giai điệu. Ca sĩ, nhạc sĩ Bob Dylan cũng thế.

Vậy hà cớ gì đem sự quy định rạch ròi để xác định nội hàm của văn chương? Cần có một cái nhìn khác. Mà cái nhìn và quan niệm này là sự quay trở về của cội nguồn văn chương đấy thôi”.

Sáng nay, báo Pháp Luật TP.HCM đã dành cả 2 trang “Thế giới bút chiến việc Bob Dylan ẵm giải Nobel”. Đáng lưu ý với thông tin này: “Thư ký thường trực của Viện Hàn lâm Thụy Điển - bà Sara Danius nói Bob Dylan (năm nay 75 tuổi) là “một nhà thơ lớn trong thuyền thống ngôn ngữ tiếng Anh”. Bà đã so sánh sự tương đồng giữa tác phẩm của Dylan với các nhà thơ Hy Lạp cổ đại: “Nếu bạn nhìn trở lại. 2.500 năm hoặc lâu hơn, bạn sẽ khám phá ra rằng Homer và Sappho viết văn bản thơ, với mục đích để được công chúng lắng nghe, để được trình diễn thường xuyên với các nhạc cụ thì đó là cách không khác gì so với Bob Dylan hôm nay”. Và Sara Danius, một giáo sư văn chương tại Stockholm University, khuyến nghị mọi người nghe bằng album 1966 của Bop Dylan có tên Blonde on Blonde. GS Danius, nói rằng các bài hát trong đó chứa dựng “nhiều ví dụ sáng chói về cách Bob Dylan tạo nên vần điệu trên nhịp âm nhạc, kết hợp ngôn ngữ và âm nhạc với tư duy bằng hình ảnh”.

Vào lại Sài Gòn, chiều qua. Vẫn phải mở máy lạnh để ngủ. Chạnh lòng khi nhìn về Quảng Bình. Cả hàng ngàn ngôi nhà ngập trong lũ. Đâu rồi những ngày, các cơ quan báo chí viết những bài kêu gọi tinh thần “nhường cơm xẻ áo”, “lá lành đùm lá rách”? Đâu rồi hình ảnh cả hàng trăm, hàng ngàn người có lòng ùn ùn đến các cơ quan báo chí góp công, góp sức vì lũ lụt miền Trung? Rồi các phóng viên ra đến tận nơi, san sẻ tấm lòng của người miền Nam, người Sài Gòn đến bà con và viết những bài tường thuật lay động trái tim của hàng triệu triệu đồng bào. Đây là một câu chuyện dài.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 12.10.2016

 

Saigonnhtaky_12.10_1R

 

Thương xá Tax, diện tích 9.200 m2 nằm ngay trung tâm quận 1, tiếp giáp 3 đại lộ Nguyễn Huệ, Lê Lợi và Pasteur - một trong những nơi kinh doanh sầm uất bậc nhất Sài Gòn. Thương xá này có 1 tầng trệt và 3 tầng lầu. Tầng trệt chủ yếu bán mỹ phẩm, nữ trang, va li, túi xách, giày dép; tầng 1 - 2 dành cho thời trang, gốm sứ, siêu thị, khu vui chơi cho trẻ em; tầng 3 bán hàng lưu niệm, đồ mỹ nghệ, nhà hàng, quán cà phê.

Sáng nay, Thương xá Tax chính thức đập bỏ.

Lật lại nhật ký 6.11.2014, y đã ghi: “Số phận Thương xá Tax - xây dựng từ năm 1880 tại Sài Gòn, được báo chí đề cập đến nhiều trong thời gian gần đây. Từ ngày 25.9.2014, nơi này ngừng hoạt động, một số hạng mục phụ cận đang được tháo dỡ để xây dựng thành một trung tâm thương mại hiện đại 40 tầng. Cảm động với thông tin này, cần ghi lại: “Nền cầu thang được khảm gốm Mosaic, 4 chú gà trống, trái châu và lan can... là những hạng mục lâu đời còn lại của Thương xá Tax được Tổng lãnh sự quán Phần Lan tại TP HCM đề xuất bảo tồn”. UBND TP. HCM vừa có văn bản giao các cơ quan liên quan tham mưu đề xuất cụ thể việc bảo tồn một số hạng mục.

Chép thêm bài trong sách giáo khoa của miền Nam liên quan đến Thương xá Tax vừa bị đập bỏ. Việc làm đó đã dậy sóng trong lòng mọi người. Một phần cũng do ngay từ bé, người Sài Gòn đã được học, được cảm nhận về “Thương xá Nguyễn Huệ”, nguyên văn như sau:

"1. Tầng dưới của tòa buynh-đinh rộng lớn nằm tại đại lộ Nguyễn Huệ và Lê Lợi được dùng làm thương xá.

2. Gặp ngày nghỉ lễ, thương xá đông nghẹt những người! Các lối đi thênh thang bên trong sáng rực đèn ống, đèn màu. Gian hàng trần thiết rực rỡ, chưng bày nhiều ngoại phẩm quý giá, đắt tiền. Vài cặp vợ chồng trẻ dìu nhau ngắm nghía mấy áo len đủ màu, đủ loại hoặc khẽ cười với nhau khi trầm trồ mấy viên hồng ngọc rực rỡ bên trong tủ kính. Một cô bé thích thú reo lên khi chợt nhìn thấy con búp bế xinh xinh.

3. Đây đó, nhạc vui trỗi lên lồng lộng như mừng đón khách hàng” (nguồn: Quốc văn bộ mới lớp Nhì do Lê Thành Phát, Phạm Trường Thiên và Một nhóm giáo viên biên soạn - NXB Việt Hương in năm 1970, tr.109, tác giả V.P.L - tr. 117).

Ô hay, ngày xưa, “Một cô bé thích thú reo lên khi chợt nhìn thấy con búp bế xinh xinh” là hình ảnh chị y đấy ư?

“Mắt biếc năm xưa nay đâu?”.

Đọc lại vài dòng Nhật ký này, nghĩ rằng có những ca từ, hát lên, tự mình cảm thấy dửng dưng. Không gì xao xuyến. Với người khác. Chắc gì? Không rõ trước sự kiện về Thương xá Tax, nhà văn Lê Văn Nghĩa nghĩ gì? Anh từng cho biết: “Khoảng năm 1964, khi tôi được 11 tuổi, ba tôi, một viên cảnh sát quèn, được nhận nhiệm vụ gác trước cửa ngân hàng BFC trong thương xá TAX, tôi mới biết được thế nào là thế giới của “văn minh”. Thi thoảng, tôi được ba tôi chở ra Thương xa Tax để nhìn người đi qua, đi lại trong ánh điện sáng choang, trong mùi dầu thơm sực nức. Những của hàng bán băng, dĩa hát có giọng ca Bạch Yến, Tini Young, hàng hóa, quần áo, nước hoa sang trọng. Những quán ăn hột gà lộn 11 ngày, la de 33 sủi bọt… đập vào mắt, mùi thơm của thức ăn ngào ngạt xộc vào mũi tôi đầy nghiêng ngữa và thèm muốn”.

Y không có kỷ niệm nơi đó. Y ngụ cư, dù rằng, chỉ sống tại Đà Nẵng vỏn vẹn 18 năm, rồi đi chiến trường K, rồi nhập cư vào Sài Gòn gần đời người. Ấy thế,  lạ nhỉ, chỉ có Đà Nẵng, mỗi lúc đi đứng nơi ấy, y mới có cảm giác như thỉnh thoảng nghe từ trong gió, nắng, mưa có tiếng gọi tên mình khi rõ nét, lúc mơ hồ… Nhưng rồi, chọn một nơi để vui sống, chỉ có thể là Sài Gòn. Đang thuận tay, chép lại bài học thuộc lòng Sài Gòn của Bảo Vân, in trong tập sách giáo khoa lớp Bốn - môn Việt Văn ở miền Nam, năm 1970: “Sài Gòn có bến Chương Dương/ Có Dinh Độc Lập, có đường Tự Do/ Phường Chợ Quán, khóm Cầu Kho/ Bến xe Lục Tỉnh, con đò Thủ Thiêm/  Ô tô buýt chạy khắp miền/ Vườn chơi có Thảo Cầm Viên, Tao Đàn…/  Bến Thành đã tiếng tăm vang/ Chợ Cầu Ông Lãnh lại càng nên đi.../  Xe đò, xe máy, tắc-xi/ Bình Tây, Khánh Hội ngại gì xa xôi/ Chánh Hưng, Phú Nhuận đây rồi,/ Thị Nghè, Tân Định nhiều nơi còn chờ.../ Trải bao thay đổi đến giờ/ Khắp nơi đã rợp bóng cờ vinh quang/  Sài Gòn, thủ phủ Việt Nam/ Mai ngày kiến thiết, mở mang còn nhiều”.

Những ngày này, từ ngày 7.10, Viện Khảo cổ học phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Thừa Thiên-Huế đã tiến hành mở hố đào thăm dò khảo cổ học khu vực gò Dương Xuân - nơi mà nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho rằng từng tồn tại cung điện Đan Dương của nhà Tây Sơn và lăng mộ vua Quang Trung được táng ở đây. Sở dĩ chọn nơi này, vì ông Xuân căn cứ vào câu thơ của Ngô Thì Nhậm. Lúc vua Quang Trung băng hà, Ngô Thì Nhậm cảm niệm công ơn to lớn của ngài và đã viết bài thơ Cảm hoài (Xúc động trong lòng). Câu thứ 8 trong bài thơ này: “Đan Dương cung điện nhật tam thu” (Trông về Cung điện Đan Dương một ngày coi bằng ba thu). Ngô Thì Nhậm có giải thích rõ thêm hai chữ Đan Dương bằng một chú thích gần đầy một trang. Trong lời chú thích ấy, có thông tin: “Cung điện Đan Dương là sơn lăng phụng chứa bảo y tiên hoàng ta”.

Hướng đi của một cuộc khảo cổ bắt đầu từ mộ bài thơ, quả chuyện lạ xưa nay. Chưa rõ kết quả cuối cùng thế nào.

Có một điều dễ nhận ra, khi một triều đại mới thay thế triều đại cũ, một trong những việc làm của người sau là phá hủy các công trình xây dựng trước đó. Cung điện Đan Dương là một thí dụ. Một cách nhằm cắt đứt sự hoài niệm về quá khứ. Thơ Bà Huyện Thanh Quan được nhiều người khen hay, tất nhiên, dù rằng hay về ý hàm xúc, lời trau chuốt, chỉnh chu đối xứng v.v… nhưng cái chính là bà đã phản ánh được tâm trạng hoài Lê: “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”… Một người đã làm bài thơ tiếc nuối, rờn rợn lòng buồn đau đến thế nhưng nhà Nguyễn vẫn trọng dụng. Trong các vị vua triều Nguyễn có lẽ Minh Mạng mới là nhân vật có tầm vóc hơn cả. Nhiều công trình nghiên cứu sáng giá nhất như Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Gia Định thành thông chí (Trịnh Hoài Đức)… được biên soạn là từ chính sách dụng người của ngài. Ít chịu khó đọc sử quá. Một phần vì ngại, vì cứ nghĩ rằng, những thông tin ấy mình đã biết rồi. Nhầm to. Biết quái gì đâu mà dám lộng ngôn đến thế? Vừa rồi, rút kinh nghiệm bằng cách đọc lại bộ Đại Nam thực lục chính biên. Đọc từ bản dịch của Viện Sử học,  NXB Khoa học Xã hội  (Hà Nội - 1968).

Thật ngạc nhiên với phép ứng xử của vua Minh Mạng lúc xa giá ra Bắc, mùa thu năm 1821.

Sử chép, khi ra đến Quảng Bình: “Vua lên thành xem lũy cổ, cùng với thị thần bàn về việc Nam Bắc phân tranh thời quốc sơ. Lại đến cửa biển Nhật Lệ ngắm xem hồi lâu. Cho tế tướng sĩ trận vong Nam Bắc (đàn nam tế tướng sĩ thời quốc sơ; đàn bắc tế tướng sĩ quân miền Bắc). Dụ rằng: “Khi các thánh mới bắt đầu mở nghiệp, chỗ này là chiến địa, là chỗ vùi ngọc của các tướng sĩ vì nước bỏ mình. Người Bắc chống nhau với ta, không khỏi không bị đâm chém, nhưng đều vì chúa mà bỏ mình thôi. Nhìn lại dấu cũ, bỗng lòng cảm thương. Vậy sai dinh thần đặt hai đàn tế Nam Bắc, mà đàn Nam lễ thì phẩm hậu hơn để tỏ hơn kém”. Rồi đặc sai Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức khâm mạng đến tế. Đem phẩm vật địa phương dâng cung Từ Thọ. Đến địa phương nào có của quý, vua đều tự viết biểu sai trung sứ đệ dâng” (tr.263, tập V). Câu “Người Bắc chống nhau với ta”, ý muốn nói quân Đàng Ngoài/ Bắc Hà của vua Lê, chúa Trịnh tiến quân dánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong/ Nam Hà. Nhưng khi đã lên ngôi cửu trùng, ngài vẫn đặt đàn tế. Chẳng hề phân biệt “dịch/ta” gì ở đây cả. Lòng nhân của người Việt đấy chứ. Khi đã chết, dù trước đó họ đứng ở chiến tuyến nào cũng được đối xử tử tế. Nghĩa từ là nghĩa tận.

Lúc ngài ra đến Hà Nội, bấy giờ, Thị trung học sĩ Phạm Quý Thích bệnh nặng không đến yết kiến được, ngài sai tham tri Bộ Hộ Nguyễn Công  Tiếp đến tận nhà thăm hỏi.  Lấy sinh đồ Phạm Đình Hổ sung chức hành tẩu ở Viện Hàn lâm. Ông Hổ có dâng quyển Tiền Lê hội điển, Bang giao điển lệ… Đoạn này quan trọng: “Vua dụ Hộ bộ rằng: “Trẫm tham xét điển lễ, thấy từ xưa các đế vương đều có miếu thờ. Nay nhân có việc đi Bắc tuần, những nơi có thờ đế vương đời trước, không nơi nào không sai quan đến tế. Nhưng từ triều Lê trở về trước thì đều là thờ cúng trong dân gian, miếu vũ do Nhà nước tế thì chưa từng xây dựng. Nghĩ rằng vua các triều trước thay nhau làm việc đều có công đức với dân, lòng trẫm rất kính mộ, việc làm miếu thờ nên theo nghĩa mà làm. Vậy bàn sai chọn đất dựng miếu để làm nơi cúng tế” (tr. 277). Chỉ một câu đó, đủ thấy lòng nhân của của một con người. Không cắt đứt quá khứ với hiện tại. Lịch sử là một sự tiếp nối, từ đời này qua đời nọ. Không thể cắt đứt một tiến trình của lịch sử, nếu có chăng chỉ là sự cưỡng bức tạm thời.

Trở lại với Thương xá Tax. Trước đây khi hay tin từ ngày 25.9.2014, nơi này ngừng hoạt động, dư luận bàn tán sôi nổi. Nay, nó đã chính thức đập bỏ, hầu như không mấy ai nhắc đến nhiều. Có lẽ, ngày càng có quá nhiều thông tin, lắm chuyện cần bàn luận, nó sát sườn hơn với cuộc sống mưu sinh… vì thế, ít có sự việc nào được quan tâm dài hạn. Thoáng đó, đang ầm ĩ câu chuyện của ngày hôm nay, qua ngày sau, dăm ngày sau đã là mối quan tâm về chuyện khác rồi. Dòng đời, cứ thế, cứ lừ lừ đi qua và lúc ngoảnh lại, chẳng mất chốc chỉ còn là quá khứ thời gian.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.10.2016

ca_go_7

 

Tùy cơ ứng biến.

Cứ đọc lại ca dao, tục ngữ mới cảm nhận hết cái sự “nước đôi” của người Việt. “Đi với Phật mặc áo hoa, đi với ma mặc áo giấy; Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” v.v…. Cũng con người đó, nhưng muốn tồn tại trong hoàn cảnh đó ắt phải có lựa chọn đó, dù muốn dù không. Vừa bảo: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”, ngoặt một cái lại nói: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Vừa bảo: “Trồng trầu thì phải khai mương/ Làm trai nhiều vợ phải thương cho đồng”, chỉ cần làm được thế là OK lắm rồi. Ngoắt một phát mắng luôn: “Lắm duyên nhiều nợ, lắm vợ nhiều oan gia”. Vừa bảo: “Làm trai cho đáng nên trai/ Xuống đông, đông tĩnh; lên đoài, đoài yên” - tính cách đó trượng phu quá đi chứ? Đáng mặt nam nhi, nói/làm đâu ra đó. Ngoắt một cái lại bảo: “Làm trai cứ nước hai mà nói”. Nước hai là “nước đôi’, nói lấp lửng, chẳng quả quyết gì cả, ai hiểu sao cũng được, chẳng biết đâu mà lần

Nghĩ cho cùng. Trí khôn của người Việt nằm ở “nước đôi”. Hạn chế của người Việt cũng ở “nước đôi”. Ấy là lúc cần phải đối phó với người ngoài. Chứ “gà cùng một mẹ”, “bầu ơi thương lấy bí cùng” mà giở trò đó ra, ai chịu trời cho thấu? Thì cứ xem cách các quan chức nhà ta giải thích về nhiều sự vụ đã tầy huầy thì rõ.

Dừng lại với thông tin này, vui hơn.

Theo Báo Thanh Niên số ra ngày 2.5.2016: “Tháng 4.2016 đánh dấu chặng đường 10 năm phát triển của Google Dịch (Google Translate), bắt đầu từ 2 đã phát triển đến 103 ngôn ngữ với hơn 500 triệu người dùng mỗi ngày, theo tờ The Financial Express. Trong đó, ngôn ngữ được dịch phổ biến nhất là từ tiếng Anh sang tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ả Rập, Nga và Indonesia. Ứng dụng này dịch 100 tỉ từ mỗi ngày trong đó có nhiều từ theo xu hướng và sự kiện nóng trên thế giới như “selfie”. Ngoài ra, từ “I love you” cũng được dịch phổ biến”.

Trước đây, nhằm phá rào cản về ngôn ngữ, tiếng nói, năm 1887, Quốc tế ngữ (Esperanto) ra đời. Linh hồn của nó chính là bác sĩ Zamenhof người Ba Lan. Esperanto theo Quốc tế ngữ là “Người hy vọng”. Tuy nhiên, với sự tiến bộ kinh khiếp về khoa học kỹ thuật, cụ thể qua vai trò Google, Quốc tế ngữ đã lép vế. Không còn mấy ai sử dụng nữa. Phải thế thôi. Con người ta ngày càng lười suy nghĩ, càng hạn chế được thao tác nào càng hay, càng tốt. Chà, nếu chỉ cần nói: “Anh yêu em” là "xong phim", là "biến cuộc đời thành những tối tân hôn" (Nguyên Sa), có lẽ thiên hạ cũng chẳng cần gì đến thơ nhạc nữa. Xếp xó nó cho xong.

Khi nói: “Anh yêu em”, từ ấy thiêng liêng quá đi chứ. Thế nhưng, biết đâu lại giả thì sao? Thì biết làm sao. Vừa rồi, Đoàn Tuấn có comment bằng câu vần vè cà rỡn, bông phèn. Đọc xong là cười luôn. Rằng, sau khi đeo đuổi, tán tỉnh, cưới được giai nhân, có người lại phát hiện ra lắm thứ giả mà lâu nay cứ ngỡ là thật: “Chú rể đêm động phòng/ Cô dâu mang trinh giả/ Chàng sờ tay lên má/ Vết dao kéo giấu rồi/ Chàng liền hôn lên môi/ Em vừa xăm, chưa được/ Chàng đưa tay sờ ngực/ Thấy toàn silicon/ Kéo cô dâu vào ôm/ Vuốt lên làn tóc giả/ Chàng thấy buồn rầu quá/ Về hỏi mẹ thế nào?/ Mẹ chàng bảo : Không sao/ Trên đời này tất cả/ Đều là giả dối thôi/ Chỉ có mẹ, đúng rồi/ Chỉ mẹ là thật nhất!/ Bố con cũng chưa chắc/ Con thấy đúng không nào?”. Thôi thì, cười đi. Cho nó vui cái sự đời. Những thứ ấy, dù giả, cũng chẳng hệ trọng gì, miễn là tình yêu ấy là thật.

Trong cái sự vận động của vũ trụ này, thật và giả đan xen nhau là lẽ thường tình. Ngay cả thức ăn nuôi sống cơ mỗi ngày, ai dám chắc nó là thật? Sáng nay, đọc Báo Thanh Niên liền choáng với thông tin: “Nước + hóa chất = nước mắm công nghiệp”. Với người Việt, nước chấm trong bữa cơm hàng ngày dứt khoát phải có chén nước mắm. Nếu cư dân trong một cộng đồng có nơi sinh hoạt chung là đình làng, giếng làng thì bữa cơm gia đình có chén nước mắm. Nay nước mắm cũng giả nốt. Mỗi ngày, lật tờ báo ra, biết bao sự việc giả - thật đã chen chúc nằm chình ình trên mặt báo. Đố ai có thể phận biệt dược thật-giả.

Có lẽ tiếng nước ngoài trở thành quen thuộc, phổ biến nhất với người Việt hiện nay không phải “I love you”. Vậy từ gì? Formosa. Chính nó đấy. Dạo này, mẹ đã về quê, vì thế thỉnh thoảng y cũng đi chợ. Khi ngang qua dẫy hàng cá, đang chần chừ, ngần ngừ thì người bán cá nào dù trẻ, dù già cũng đều mời mọc, lên tiếng khẳng định cá mình bán không phải cá Formosa. Với họ, có thể không phát âm đúng, không viết được rành mạch chữ đó nhưng rõ ràng họ biết đó là là sự hãm tài, hắc ám khủng khiếp. Va vào nó, dính vào nó chỉ có nuốc đổ hết tôm, cá xuống cống, quảy gánh về không. Chồng con chết đói. Than ôi! Ngày vui qua mau. Biết bao giờ mới quay trở về cảm hứng như lúc ngang qua hàng cá là tận mắt nhìn thấy sức sống, sự tươi ngon của cá? Ngày ấy, nhờ thế, y viết được bài thơ tếu táo:

Cao hứng ngày xuân đi chợ Tết
Chân mang giày, cổ thất cravate
Ai nỡ nào nói thách đàn ông
Giữa dòng người, tôi huýt sáo thong dong
Lanh lảnh tiếng rao mời chào những cá
Cá giẫy đành đạch như muốn hụt hơi
Cá sặc bướm này quằn quại đang bơi
Cá vồ, cá trê nằm trơ mắt ngó
Cá lòng tong kia đang bơi quạu quọ
Tôi quờ quạng rờ con cá lưỡi trâu
Sực nhớ vợ dặn khoái cá bã trầu
Đặt tiền xuống mua. Thôi mua cá nhái
Cá trở quều quào lách luồn quày quại
Tội nghiệp nên thôi. Mua lấy cá mè
Cá nằm quay lơ - vợ rủa ai nghe?
Mặt nàng quằm quặm còn chi là Tết?
Hay mua cá trê. Nhưng làm sợ mệt
Con cá út thịt trắng muốt béo dai
Cá ngát, cá linh quắn quíu nằm đây
Bụng cũng muốn mua. Làm sao mua hết?
Loạng choạng một hồi sắp tàn ngày Tết
Mặt mày quàu quạu chủ cá mắng vui:
“Mua đi cho rồi lựa tới lựa lui!”
Nàng nguýt, háy, lườm làm tôi nhớ... vợ
Thông cảm đàn ông lần đầu đi chợ

Nay, cá đã chết. Nói cách khác là cá đã là cá thép. Có lẽ, không động vật nào lúc chết lại có ánh mắt hiền lành, đáng thương như mắt cá. Vừa rồi, cá Hồ Tây chết trắng xóa, chưa rõ vì lý do gì. Nhìn qua hình ảnh cá chết trên báo chí, lại thấy ánh mắt ấy nghèn nghẹn oan ức đến đau lòng. Cá Formosa, cá chết vì hóa chất là cá giả. Bởi sự độc hại tàn khốc của nó. Chớ dại mà ăn. Thôi thì, tạm thời ăn cá gỗ chăng? Từ “cá gỗ” vốn thuộc “bản quyền” của người xứ Nghệ. Nguồn gốc, xuất xứ của nó thế nào? Vừa rồi được đoc trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn (số ra ngày 8.10.2106) bài viết “đâu ra đó”, “có đầu có đũa” về câu chuyện “cá gỗ” của tác giả Bình Vương. Chép lại vì xét thấy cần thiết cho những ai cần tham khảo:

“Chuyện là, trong bản in lần đầu tiên năm 1866, tập sách viết bằng văn xuôi quốc ngữ thuở sơ khai của học giả Trương Vĩnh Ký với nhan đề “Chuyện đời xưa lựa nhón lấy những chuyện hay và có ích” (về sau đổi gọn thành “Chuyện khôi hài”) đã có kể về “cá rô cây”. Xin chép lại nguyên văn: “Nghệ An là tỉnh rộng lớn đàng đất, lại đông dân sự hơn các tỉnh và cả nước An Nam. Người xứ ấy hay co ro còm ròm cần kiệm quá. Người ta thường hay nói người Nghệ đi ra Bắc hay giắt lưng một con cá rô bằng cây khéo lắm. Hễ tới quán thì chỉ xin mua ít trự cơm ăn mà thôi. Quán hỏi có mua đồ ăn, thịt đông, chả giò, nước mắm chi không? thì nói không, xin một chút xíu nước mắm dằm cá mà thôi. Bỏ cá cây vô đĩa lật qua lật lại, húp cho mặn miệng mà trơn cơm ba miếng. Làm lận làm vậy cho khỏi tốn tiền đồ ăn. Ăn rồi giắt cá vào lưng phủi đít ra đi”.

Bây giờ nếu truy tìm từ khóa “cá gỗ”, chỉ vài giây Google sẽ đưa ra đầy rẫy dữ liệu mà trong đó, rất nhiều cách kể khác nhau, đúng là tam sao thất bổn. Chẳng trách chi ai, ở đây người viết chỉ thuật lại hai mẩu chuyện theo trí nhớ, được nghe lúc mình còn nhỏ, qua lời kể của thân phụ.

Mẩu thứ nhất, về đại thể khá tương đồng với chuyện “Cá rô cây” chép ở trên, song nói rõ hơn, người giắt lưng con cá gỗ đó là một thầy đồ nghèo trên đường đi tìm chỗ dạy học. Thầy có chữ nhưng đang túng tiền, bèn nảy ý đẽo một con cá bằng gỗ, chạm tỉa kỹ càng, lại sơn màu trông giống y một con cá rán (chiên). Cứ mỗi bữa ghé quán cơm dọc đường, thầy lựa chỗ ngồi khuất khuất, sao cho người ngoài nhìn qua sẽ tưởng thầy đang dùng cơm với đĩa cá chiên dầm nước mắm. Mẩu chuyện này được các bậc bề trên kể cho con cháu nghe với ý đề cao tánh... sáng tạo của thầy đồ xứ Nghệ nhằm giữ thể diện trong hoàn cảnh khó khăn - mặc dầu bằng sự “làm lận” chẳng ai muốn tự hào - chớ không phải ý chê cười một tánh cách “co ro còm ròm cần kiệm quá”.

Mẩu thứ hai, kể chuyện nhà nọ nghèo khó đến nỗi bữa cơm hàng ngày đã lâu không mua nổi cá mà ăn. Để an ủi các con, người cha nghĩ ra cách cũng đẽo một con cá gỗ, nhưng sơn màu cho giống cá kho, trông thật ngon lành. Ông dùng dây buộc, treo cá gỗ lơ lửng giữa bàn ăn và quy ước: mọi người hễ khi và một miếng cơm thì nhìn lên nó một lần rồi nhai nuốt, tưởng tượng chẳng khác mình đang ăn cơm với món cá kho thực thụ. Đang thực hành theo đúng lời cha, bỗng thằng em cất giọng méc: “Cha ơi, anh hai ăn mặn!”. Hỏi tại sao, nó thưa: “Tại con thấy ảnh và một miếng cơm mà nhìn lên con cá hai ba lần lận!”. Đây cũng vẫn là một tiếng cười lạc quan bởi tình huống bất ngờ và bởi lối suy diễn ngây thơ thành thật của đứa bé con nhà nghèo, chớ không ai nỡ chê trách người cha đã “làm lận” con trẻ.

Như thể cùng chung mục đích minh oan cho cá gỗ, tờ tạp chí Văn Hóa Nghệ An cũng từng giới thiệu một tác giả đã bỏ công tìm kiếm và phát hiện ra rằng, ngày nay tỉnh Nghệ An vẫn còn có một loại cá biển làm thực phẩm, một đặc sản địa phương chỉ riêng thấy ở vùng biển Cửa Hội, thuộc xã Nghi Hải, huyện Nghi Lộc. Nó là chất cá thiệt nhưng được gọi tên... cá gỗ, cùng với tên gọi nữa là cá luộc, tức cá tươi đánh từ biển lên, luộc chín bằng chính nước biển rồi đem phơi nắng cho tới lúc khô đanh lại, săn chắc như cá bằng gỗ.

Khác với cá trong giai thoại, cá gỗ này không cần nước mắm vì nó đã sẵn vị mặn muối biển. Khi ăn, người ta phải dùng tay xé thịt cá ra từng sợi nhỏ, đầu và đuôi thì chặt riêng để nấu canh. Một thứ đồ khô tích trữ để dành được lâu, dùng khi trời giá rét, biển động kéo dài hay mùa hiếm cá. Từ đó có thể suy ra, con cá gỗ vốn có thực trong đời sống một địa phương, trải qua các nẻo đường lưu thông hàng hóa, đã trở thành “chất liệu” để dân gian biến hóa, nâng cấp thành giai thoại “cá gỗ” truyền bá khắp nơi?

Dù nghĩ theo cách nào, rốt lại sự tích cá gỗ vẫn nên nhìn nhận tích cực về một nét tánh cách vùng miền, con người cần cù chịu khổ mà coi trọng sĩ diện. Con cá bằng gỗ được “giả bộ” là ngon lành ấy chẳng làm hại đến một ai. Còn những sự giả vờ về “cá thép Formosa” thì... miễn bàn”.

Tác gải bài báo này nói đúng. Cá gỗ nghĩ cho thấu đáo là một nét văn hóa của người xứ Nghệ. Cá thép Formosa là tội ác. Vì thế, "miễn bàn". Trời đã chiều. Không mưa. Nắng lên. Biết rủ ai đi nhậu đây ta?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 6 trong tổng số 48

trinhduyson