LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 20.12.2015

PDF.InEmail


ngoitruongdi-xuong-1RTư liệu L.M.Q

 

Thú chơi sách cũ đấy. Bấy lâu này, trong đầu cứ thỉnh thoảng nhớ lại mất câu trong bài Học thuộc lòng thời tiểu học. Nhớ mang máng. Không thể nhớ trọn bài. Đã trên dưới hơn 50 năm rồi còn gì. Nhớ rằng:

Mẹ ơi! Trên trái đất này

Con yêu quý nhất bàn tay mẹ hiền

Bàn tay mẹ - bàn tay tiên

Bồng con suốt mấy năm liền mẹ ơi

Những khi trái gió trở trời

Con đau là mẹ đứng ngồi không yên

Chỉ nhớ đến thế. Quyết tìm lại cho bằng được. Chịu. Cái đầu óc bã đậu chỉ nhớ đến đó. Mấy hôm nay, sắp xếp lại sách cũ. Thì ra, đã sưu tập chừng 50 quyển sách giáo khoa (SGK) in ấn trước 1975. Lật hú họa một quyển. Quyển Tập đọc lớp ba, không ngờ, trang 142 có bài Lòng mẹ, tác giả Chiêu Đăng. Thế nhưng 4 câu đầu lại không có. Vậy, tại sao lâu nay lại nhớ? Có lẽ do học ở quyển sách giáo khoa khác, có in đầy đủ hơn chăng? Chi tiết này cho thấy, SGK tại miền Nam trước 1975 cùng một chủ đề, một môn học nhưng có nhiều cách biên soạn khác nhau, miễn là nó tuân thủ theo chương trình của Bộ Quốc gia Giáo Dục.

Vấn đề này, trên Nhật ký đã đôi lần phân tích rồi. Không nhắc lại nữa. Có điều, cần bổ sung thêm, SGK tiểu học thuở ấy,  có loại dùng trong trường học do “Nhân dân Hoa Kỳ với sự hợp tác của Bộ Văn hóa Giáo dục Việt Nam Cộng hòa thân tặng các Trường Sở tại Việt Nam. Sách này tặng, không bán”. Sách in giấy láng, trắng, in rất đẹp. Tò mò một chút, xem kỹ ở bìa 4, sách được in tại Hong Kong. Nếu ai đó, có sưu tập SGK thời Việt Nam thuộc Pháp, ắt cũng phát hiện ra rằng, thời đó cũng có nhiều loại SGK in tại Hong Kong. Trong khi đó, nếu xem các SGK phát hành trong vùng giải phóng miền Nam Việt Nam thì hoàn toàn mù tịt, giấy in rất tốt, trắng láng, tốt gấp trăm lần SGK in tại miền Bắc cùng thời điểm, nhưng hoàn toàn không có một chi tiết nào cho biết in tại đâu?

Trở lại với bài Học thuộc lòng Lòng mẹ:

Những khi trái gió, trở trời

Em đau là mẹ đứng ngồi không yên

Tìm thầy, lo chạy thuốc men

Vì em, săn sóc ngày đêm nhọc nhằn

Hết bóp trán lại xoa chân

Lúc ly sữa ngọt, khi cân cam sành

Em ho, ngực mẹ tan tành

Em sốt, lòng mẹ như bình nước sôi

Em nằm khấn Phật, cầu Trời

Sao cho chóng khỏi, mẹ cười, em vui

Các ông bà Chiêu Đăng, Bảo Vân, Hà Mai Anh, Nguyễn Khắc Lộc v.v… có công lớn lắm. Họ là tác giả của nhiều bài Học thuộc lòng đã đi vào trí nhớ của học trò thuở ấy. Hầu như bây giờ, chẳng một ai nhớ đến nữa. Dù muốn dù không, cũng phải thừa nhận rằng, môi trường giáo dục ngày đó vẫn còn tốt lắm. Trước đó nữa, khi người Pháp mới sang, các nhà Nho đã nhìn thấy sự thay đổi nhố nhăng đang diễn ra, xáo trộn giữa truyền thống và thực tại. Tiêu biểu như lời thở than của thi sĩ Tản Đà (1989-1939):

Văn minh Đông Á trời thu sạch

Này lúc luân thường đảo ngược ru

Trong Nam, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh cũng là một trong những giá trị tích cực nhằm cổ xúy, bảo tồn, gìn giữ nề nếp cũ. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, thời điểm, “Chi bằng đi học làm thấy phán/ Sáng rượu sâm banh, tối sữa bò” (Tú Xương) cũng là lúc khởi đầu những giá trị mới. Đáng lưu ý nhất là sự giao thoa, va chạm, giằng xé quyết liệt giữa văn hóa Đông và Tây đã hình thành của một thế hệ trí thức “chín sớm”. Nếu không, làm gì có Thơ mới, Kịch nói, Cải lương, Chèo cải lương (cách tân chèo), Tiểu thuyết hiện đại v.v…

Thời điểm năm 1965, lúc quân đội Mỹ đổ quân sang miền Nam Việt Nam, các trí thức cũng có nỗi âu lo như thế hệ đầu thế kỷ XX. Có lần cà kê dê ngỗng, nhà văn Sơn Nam cho biết khi ông viết Truyện ngắn của truyện ngắn, chính là phản ánh tâm trạng của tầng lớp trí thức nghèo thành thị đang hoang mang, không rõ thế sự sẽ diễn biến ra sao khi có sự can thiệp của quân đội Mỹ. Gọi là truyện ngắn nhưng nó dài đến 117 trang in, NXB Phù Sa ấn hành. Nhân vật Tấn là nhà văn, ký giả, nhân ngày chủ nhật đi lang thang, giết thời gian rồi vào tiệm hớt tóc, có thanh nữ gội đầu. Cuối cùng, tác giả nhấn nhá nhiều lần rồi kết thúc: “Thôi! Càng gội càng buồn”.

Nhịp văn trễ nãi, câu văn lê thê, không chuyện gì ra chuyện gì, những câu đối thoại tán gẫu vừa tầm phào, vừa triết lý rồi cũng chẳng đi đến đâu cả. Thỉnh thoảng, tác giả trình bày quan niệm viết truyện ngắn, về nhân tình thế thái một cách rời rạc v.v… Đó là sự cố tình của một thủ pháp nhằm phản ánh tâm trạng không định hướng, chưa biết sẽ “xoay chân” thế nào khi cục diện chiến tranh đang có nhiều sự khác lạ hơn trước. Người trí thức phải làm gì? Sơn Nam cho rằng, thời điểm đó, ông chưa biết phải ứng xử thế nào cho “phải đạo” - nghĩa là vẫn có thể viết kiếm sống công khai, không bị "chụp mũ", vừa bám sát mục tiêu: “Sau khi in anh em “trong khu” nếu có đọc được thì cũng không buồn, Sơn Nam vẫn là người của thời “chín năm” chứ không đổi dạ thay lòng; thứ hai, những truyện ngắn này không chỉ phù hợp với “khẩu vị” của người đọc đương thời mà qua đó phải ngụ ý rằng, thiên nhiên và con người ở mảnh đất chót vót cực Nam của Tổ quốc là một phần không thể tách rời của non sông nước Việt”.

Trong khi đó, phải thừa nhận rằng, những người "Việt cộng nằm vùng” có tổ chức chỉ đạo, đã có cái nhìn khác hẳn, có chủ đích rõ rệt. Họ đã tìm cách đối phó bằng nhiều sách lược, chiến lược khác nhau từ quân sự đến văn hóa. Không phải ngẫu nhiên, trên tạp chí Tin Văn, từ số 1 ra ngày 6.6.1966, Vũ Hạnh đã công bố tiểu luận nổi tiếng Chín điểm trong văn nghệ. Nay, đọc lại nhiều tư liệu, mới biết rằng, các luận điểm này, Vũ Hạnh đã bám sát chủ trương của Thường vụ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định. Không phải ngẫu nhiên Lực lượng Bảo vệ Văn hóa Dân tộc được thành lập cũng vào năm 1966 v.v… và cũng không phải ngẫu nhiên, chào mừng sự kiện thành lập Mặt trận Giải phóng, Vũ Hạnh viết  truyện dài Lửa rừng (tên ban đầu Truyện nàng Y Klan), khi Mỹ đổ quân ồ ạt vào miền Nam, đã viết các truyện ngắn ấn tượng như Người chồng thời đại , Mụ Tư Cò

Đọc lại tạp chí Tin Văn, có thể nắm bắt được các thông tin quan trọng liên quan đến những sự kiện trên. Vấn đề đặt ra, khi quân đội Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam sẽ dẫn đến sự suy đồi, xuống cấp của đạo đức, văn hóa như thế nào? làm thế nào để bảo vệ? Không rõ, sau này có ai tự hỏi, liệu chừng thời điểm ấy, tình hình căn hóa, xã hội miền Nam có thật sự "tụt dốc" thê thảm hay chỉ là một biện pháp, sách lược chính trị nhằm tập hợp lực lượng trí thức phản đối Mỹ, chính quyền thân Mỹ một cách công khai?

Ròng rã nhiều số báo, Tin Văn đã in tham luận, ý kiến, văn kiện này nọ v.v… Có một “mẫu số chung” mà nhiều trí thức "thân cộng" thuở ấy, nhấn mạnh: “phòng thủ” vững chắc nhất trước làn sóng tha hóa đạo đức, suy đồi văn hóa vẫn là nếp nhà, là gia đình. Nếu “văn hóa” Mỹ “xâm nhập” vào từng gia đình - rào chắn cuối cùng - là giá trị truyền thống mất gốc rễ. Đại khái thế. Tất nhiên, vấn đề giáo dục học đường cũng được đề cập đến. Mà giáo dục thời đó thế nào? Cùng lắm chỉ Ngựa chứng trong sân trường (Duyên Anh), Ngôi trường đi xuống (Vũ Hạnh) là cùng chứ gì? Là các cậu học trò lếu láo, xem thường thầy cô; là nhân vật  của Vũ Hạnh như ông Doan-tit-xi-ta Trần Ngọc Tẹo mở trường học chỉ vì tiền chứ chẳng co mục tiêu giáo dục gì sất! Chỉ khốn nạn đến thế hay còn có gì khác nữa không? Không rõ, thời đó đã xuất hiện sự khốn nạn đến tận cùng như Gạ tình lấy điểm (Nguyễn Huy Thiệp), lấy từ “người thật việc thật” năm 2006 của gã Đỗ Tư Đông, Phó khoa Báo chí CĐ Phát thanh Truyền hình TƯ I; đã xuất hiện sự khốn nạn đến tận cùng như gã Sầm Đức Xương - cựu hiệu trưởng trường THPT Việt Lâm (Hà Giang) mua dâm học trò; đã xuất hiện sự khốn nạn đến tận cùng như xuất hiện “đường dây 'sex tour' sinh viên" (Báo Thanh Niên ngày 18.12.2015)? Nếu có, việc thành lập Lực lượng Bảo vệ Văn hóa dân tộc là hợp lý quá, phải không?

Rằng thưa, câu hỏi tầm phào

Chỉ là tiếng vọng rơi vào lãng quên

Thưa rằng, đời sống buồn tênh

Thế nào ai biết phải nên thế nào?

Sáng nay, chỉ mới suy nghĩ vẩn vơ, thoáng một chốc đã đi đến Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Đến thăm Tuấn Anh - đồng nghiệp của Báo Sài Gòn Giải phóng. Anh nằm ở Khoa Tim mạch. Một chiến sĩ kiên cường của làng bợm Lưu Linh đã phải tạm dừng bia bọt lai rai. Lúc về, ngang qua sân bệnh viện mới biết ở đây có dựng tượng danh thần Nguyễn Tri Phương. Lại tự hỏi, cách đặt tên như thế có bất cập không nhỉ? Năm 1873, chống giữ thành Hà Nội, cụ bị thương nặng, giặc Pháp bắt đưa xuống tàu cứu chữa. Nhưng cụ không chịu cho chúng băng bó, tuyệt thực mà chết. Chết vì nghĩa lớn. Một cái chết vẽ vang sáng ngời sử sách. Thế thì, bệnh viện mang tên cụ nhằm nêu lên phẩm chất nào mà từ bác sĩ đến bệnh nhân phải noi theo?

Thoáng đó. Đã chiều.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 17.12.2015

PDF.InEmail

bia-tap-chi-bi-thu-hoi

Hình bìa tạp chí Heritage số tháng 11.2015 bị thu hồi


Sáng nay, cùng bạn thơ Trương Nam Hương sang Nhà Tang lễ thành phố thắp nén nhang vĩnh biệt đồng nghiệp, nhà văn Thanh Giang. Ghé tai bạn, nói nhỏ: “Bước vào nơi tang lễ, nếu có bàn thờ Phật, âm vang nhè nhẹ tiếng kinh cầu, tự dưng cảm thấy ấm áp, không sợ sự lạnh lẽo của cái chết”.

Lâu nay vẫn sưu tập tạp chí Heritage. Đã có chừng 500 số. Một tạp chí sang trọng, trình bày đẹp nhất hiện nay. Chỉ phát hành trên máy bay, trực thuộc Vietnam Airlines. Có thể lưu giữ lâu dài. Thông tin mới nhất: Vietnam Airlines quyết định thu hồi tạp chí Heritage số tháng 11.2015. Vì bìa vì in hình chùa Shwedagon (hay còn gọi là chùa Vàng) của Myanmar trên tà áo dài. Cô người mẫu Hồng Quế mặc áo dài này, nằm trong bộ sưu tập của thương hiệu Thái Tuấn, chụp ở Mù Căng Chải (Yên Bái). Quyết định thu hồi bắt đầu từ phản ứng trên Facebook của nhà sư Venerable Nayaka. Theo bản dịch của trang điện tử Motthegioi.vn, nguyên văn như sau:

"Hãng hàng không Vietnam airline, những nhà thiết kế và những nhà tạo mẫu Việt Nam thân mến! Người Myanmar chúng tôi thật sự rất tức giận khi thấy tấm ảnh này. Shwedagon là 1 nơi linh thiêng của tôn giáo chúng tôi, đạo Phật. Tóc, áo choàng và các dấu vết khác đều được coi là vật linh thiêng. Làm ơn tránh hành vi thiếu tôn trọng, hành vi sỉ nhục văn hóa và đức tin của người khác. Làm ơn đừng sử dụng những bức hình về ngôi đền Shwedagon cho phụ nữ mặc.

Những bức hình này là tạp chí Heritage đã cung cấp trên máy bay của các bạn ư? Các bạn đang thực sự lăng mạ lên trái tim của tất cả người dân Miến Điện chúng tôi. Các bạn có thể thấy được chúng tôi tôn trọng tôn giáo của chúng tôi ở khắp nơi như thế nào. Chúng tôi không thể cho phép bất cứ ai mặc váy hay quần ngắn để leo lên chùa cho dù các bạn có là người địa phương hay du khách. Còn bây giờ cô gái Việt các bạn lại mặc quần áo truyền thống chùa Shwedagon của chúng tôi. Thật là lố bịch! Người Miến Điện chúng tôi tôn trọng quý mến mỗi người Việt Nam khi chúng tôi gặp các bạn ở bất cứ đâu.

Các bạn sử dụng văn hóa của nước khác làm công cụ kinh doanh buôn bán một cách thiết thực để thu hút người ta nhìn vào, vậy nên chúng tôi rất bực tức. Nhân danh người Miến Điện, tôi sẽ báo cáo đến Đại sứ quán Việt nam ở Yangon, cũng như là Đại sứ quán của chúng tôi tại Việt Nam. Hơn nữa là tòa hành chính của Hãng hàng không nước các bạn ở Yangon. Làm ơn hãy dừng hành vi này ngay lập tức vì đây là vấn đề rất khẩn cấp với chúng tôi. Thật sự đáng buồn. Chẳng còn từ nào để nói nữa”.

Thu hồi tạp chí này là phải đạo. Phải vậy thôi.

Sau khi rời khỏi Nhà Tang lễ, qua Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật uống cà phê. Vấn đề chính là cần có bộ Nguyễn Du toàn tập. 2 quyển dày gần 2 ngàn trang in. Vừa bước vào phòng nhận sách biếu, một giọng nói đùng đùng vang lên, cứ như súng thần công nã vào lỗ tai: “Q đọc cái này này”. Liền đọc thử xem sao, cơn cơ gì mà người trò chuyện, đang đối diện giận dữ đến thế? Trước mặt là tạp chí Cõi người ta số 1 do NXB Hồng Đức và Hội Kiều học phối hợp thực hiện. Ở trang 125 có đoạn liên quan đến câu thơ Kiều:

“Chén hà sánh giọng quỳnh tương
Dải là hương lộn bình gương bóng lồng

Nhưng thắc mắc sao Nguyễn Du thay vì dùng chữ lộn không dùng những chữ đượm, đậm, quyện hay trộn đều rõ nghĩa và thông dụng hơn. Tôi không giải thích được.Cho nên bây giờ, tôi nghĩ Nguyễn Du cố tình chọn dùng chữ “lộn” để đặc tả nàng Kiều bằng cách nói lái nửa đầu câu 454 đấy. Người đẹp như tiên thì cái gì cũng thơm. Nên tứ thơ trên thành câu đố Kiều như sau: “Nguyễn Du hay tả Kiều thơm/ Hỏi rằng vùng kín nàng thơm mùi gì?”.

Giật mình, khi đọc dứt đoạn một văn nhảm nhí. Hội Kiều học Việt Nam là diễn đàn văn học của những người mê, yêu, thành kính, ngưỡng mộ kiệt tác Truyện Kiếu như lại có thể tòi ra câu thơ lục bát lục cà lục cục đến thế ư? Đã thế, còn hỏi một câu, xin lỗi, chỉ xuất hiện trong phòng the, chứ người có học, ai lại hỏi oang oang giữa thiên thanh bạch nhật thế bao giờ? Họa có là điên.Nhăng nhố không ngượng miệng. Hỏi xong, tác giả lại tự “đáp”: “Chén hà sánh giọng quỳnh tương/ Dải LÀ HƯƠNG LỘN bình gương bóng lồng/ Nguyễn Du nói lái ở trong/ Tả mùi thơm lạ, vui lòng thử xem”.

Đành rằng, có thể tác giả viết đùa, như đã có hàng ngàn kiểu “tập Kiều”, “lẩy Kiều” v.v… nhằm liên tưởng này nọ như một cách mua vui. Chẳng hạn, “Thênh thang đường cái thanh vân/ Một xe trong cõi hồng trần như bay” là Nguyễn Du miêu tả…xe hơi! Nhưng rồi, một khi hướng sự liên tưởng ấy đến cả cái “vùng kín” nữa, có lẽ đã là sự quá lố lắm rồi. Nếu nghiên cứu về Nguyễn Du, rõ ràng, ông không hề sử dụng bút pháp thuộc trường phái “nói thanh giảng tục” gì gì đó như Hồ Xuân Hương. Vậy hà cớ gì phải đặt ra cái sự thô tục này? Mà thôi, sở thích, nhận thức mỗi người mỗi khác, nơi nào đó, chốn nào đó có thể ăn nào bừa bãi, viết xằng thì kệ nhưng tạp chí thuộc Hội Kiều học Việt Nam lại cho in thì kể ra cũng lạ. Lạ một cách quái đản. Người đối diện, đang trò chuyện nổi giận đùng đùng là có lý, chứ nào phải do khắc khe, khó tính gì.

Đành rằng, kể từ ngày Truyện Kiều được phố biến rộng rãi cho đến nay, thiên hạ vẫn tiếp tục tìm hiểu sức hấp dẫn và nghiên cứu kiệt tác này dưới nhiều góc độ khác nhau. Có lẽ, trên thế giới chỉ có Truyện Kiều là trường hợp duy nhất mà độc giả đã dùng tác phẩm để bói cho số phận của mình. Và bản thân tác phẩm đã được quần chúng sử dụng để trở thành một sinh hoạt văn hóa rất đa dạng. Có thể kể đến: bói Kiều, tập Kiều, lẩy Kiều, đố Kiều, nhại Kiều, vịnh Kiều…hoặc dùng các thể loại phú, văn tế, văn sách, biểu, từ khúc, ngâm khúc… để viết về Kiều và các nhân vật trong Truyện Kiều. Ngoài ra, Truyện Kiều còn được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh, chèo, cải lương… và cũng là nguồn cảm hứng vô tận cho các họa sĩ vẽ nhân vật, cảnh vật trong tác phẩm này…

Với y, đáng nể nhất là “thú chơi” Truyện Kiều của hai thi sĩ tài danh nước Việt: Phạm Mạnh Đan (1866-1942); Vũ Hoàng Chương  (1916-1976).

Nhà thơ Phạm Mạnh Danh rất kỳ khu, nhọc công khi đã viết hàng trăm bài thơ mà ông gọi Kiều tập thơ cổ: Lấy bất kỳ những câu thơ cổ điển của các thi nhân Trung Quốc, ghép lại thành bài thơ tứ tuyệt; rồi dùng thơ Kiều mà dịch nghĩa những câu thơ ấy. Phạm Quỳnh nhận xét: “Hơn ngàn câu thanh cao diễm lệ trong thơ cổ chữ Hán, đối chiếu với hơn ngàn câu bóng bẩy chải chuốt trong Truyện Kiều của ta, ghép vần ghép điệu, lựa ý lựa lời, Nôm với chữ Hán, chữ Hán với Nôm, phảng phất xa gần, tưa hồ dịch mà không phải dịch, rất có công phu, thật cũng tài tình, âu cũng là để thỏa cái thị hiếu văn chương, biểu lộ cái cốt cách thanh nhã của một khách chơi thơ sành sỏi vậy”. Chẳng hạn, Phạm Mạnh Danh đã ghép:

Ngọc tác phu cơ, băng tác thần, (Tân Liêu Trai)
Hối tương tĩnh chất điếm phong trần. (Bách Mỹ)
Đa nhân lợi hại đa phùng kiếp, (Thuyết Đường)
Nhược vị hồng nhan tích thử thân. (Bách Mỹ)

Và dùng thơ Kiều để “dịch”:

Tiếc thay trong giá, trắng ngần
Đến phong trần cũng phong trần như ai
Tẻ vui cũng một kiếp người
Hồng nhan phải giống ở đời mãi ru?

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương cũng có cách chơi mà ông gọi là "Thơ truyền Kiều" mà người chơi gọi là “người truyền” do quan niệm: Truyện Kiều được coi là như một kiến trúc trường giang, đặt trên nền tảng ngôn ngữ chứ không phải văn tự, do đó 3.254 câu lục bát của Nguyễn Du chỉ là một chuỗi liên tiếp 22.778 tiếng (không có vấn đề chấm câu hay viết hoa…). “Người truyền” sẽ lấy ra từng chuỗi nhỏ từ 6 tiếng trở lên, bất cứ ở quãng nào trên chuỗi mẹ (dài tới 22.778 tiếng của Truyện Kiều) để kết hợp lại thành một kiến trúc nhỏ mang tên Thơ truyền Kiều, mà ý nghĩa có thể khác hẳn, không lệ thuộc vào nội dung của Truyện Kiều. Chẳng hạn, một bài Thơ truyền Kiều của “người truyền” Vũ Hoàng Chương:

Cạn tóc tơ gà đà gáy sáng
Thôi bây giờ kẻ ngược người xuôi
Tài tình chi lắm cho trời đất
Ghen cánh hồng bay bổng tuyệt vời.
(Bài truyền số 4)

Về hai trường hợp sáng tạo độc đáo này, hầu như các nhà nghiên cứu chưa mấy ai lưu tâm đến.

Sắp đến đây, ngày 28.12.2015, rại Khoa văn học và Ngôn ngữ thuộc Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM sẽ tổ chức Hội thảo khoa học Kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du. Có thể ghi nhận đây là hội thảo cuối cùng trong chuỗi kỷ niệm của cả nước vinh danh một danh nhân văn hóa vừa đuọc được UNESCO công nhận. Tham dự Hội thảo, y có tham luận Sinh hoạt văn hóa bắt nguồn từ Truyện Kiều in trong Kỷ yếu, là ít nhiều đề cập thoáng qua đến trường hợp nhà thơ Phạm Mạnh Danh và Vũ Hoàng Chương.

Chiều rồi.

Phải làm gì cho hết buổi chiều?


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 11.12.2015

PDF.InEmail

 

05-wurfel-2(ảnh: Internet)

 

Ô hô! Cái sự đời sao lại nhọ đến kia?

Mấy hôm nay, báo chí đưa tin rần rần về vụ này. Vụ gì? Cứ theo Báo Phụ Nữ Việt Nam - cơ quan ngôn luận của Trung ương Hội LHPN Việt Nam, cụ thể như sau: “Đó là câu chuyện về người đàn bà xấu số tên Nguyễn Thị Lê, bị tàn tật, ở thôn Chùa (xã Hương Phong, Hiệp Hòa, Bắc Giang). Bà vừa mới qua đời ngày 9.11.2015, tròn 1 tháng trước đây. Đám tang của bà không được thông báo trên loa truyền thanh, không được cho mượn xe tang của thôn, kèn trống… như đối với người khác. Lý do đưa ra là bà Lê còn nợ thuế đất nông nghiệp, tiền đóng góp an ninh quốc phòng, ủng hộ đồng bào lũ lụt, quỹ bảo trợ trẻ em, đền ơn đáp nghĩa, khuyến học, hội xuân… với số tiền hơn 1,7 triệu đồng”.

Ông Nguyễn Văn Khúc - trưởng thôn Chùa khẳng định đây là thông tin có thật.

Báo Lao động Thủ đô phân tích: “Không biết ông Khúc không hiểu hay cố tình bất chấp mọi quy định của nhà nước, pháp luật đối với người tàn tật, hộ nghèo về các khoản thu, khi tại Nghị định số 55/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ đã nêu việc miễn 100% tiền thuế đất nông nghiệp cho hộ nghèo có hiệu lực từ năm 2011. Cũng như tinh thần của Nghị định Chính phủ về các khoản thu đóng góp không được ấn định số tiền cụ thể. Trong đó, ở vụ việc này, có 6 đối tượng là người bị tàn tật, hộ nghèo… lẽ ra không phải đóng góp những khoản thu này. Vậy vì sao, bà Nguyễn Thị Lê  và 11 gia đình khác trong thôn nằm ngoài đối tượng phải thu, nhưng thôn vẫn yêu cầu thực hiện đầy đủ? Cũng như căn cứ vào đâu để có con số hơn 1,7 triệu đồng mà bà Lê nợ thôn, để rồi chính quyền nơi đây “bỏ rơi” bà Lê như vậy?”.  

Câu hỏi chát chúa, cay đắng này, trả lời thế nào?

Không phải ngẫu nhiên lại nhớ đến phóng sự Họ vẫn ăn vào xác chết của nhà văn Ngô Tất Tố, đăng báo Thời Vụ số 29, ra ngày 20.5.1938, ký bút danh Đạm Hiên. Tờ báo này, phát hành hàng tuần, số 1 ra ngày 8.2.1938, số cuối cùng vào tháng 3.1940, tòa soạn ở số 16 và 16B Hàng Da (Hà Nội). Rằng, vào một ngày tối trời, tên tuần phu chạy đến báo cho ông lý trưởng có xác chết của mụ ăn mày ngoài chợ, hiện đang nằm vất vưởng tại gian hàng của bà Năm Ngẩn. Lý trưởng liền sai  gọi bà Năm Ngẩn đến. “Ông lý ra vẻ ôn tồn nói:

- Chỗ bà con tôi bảo thật, ngày mai có phiên chợ, gian hàng bán quà bánh của bà lại có cái xác mụ ăn mày nằm chết tại đấy, thì ngày mai bà hãy nghỉ hàng, vì tôi còn phải trình quan khám biên đã rồi mới đem nó đi chôn được, và sau này bà có phải lên tỉnh xuống huyện khai báo về cái xác chết ấy thế nào, bà cứ liệu mà nói. Nhưng khéo ra bà cũng phí tổn ít nhiều, vì nó chết ở gian hàng của bà, nếu không khéo thì cũng rầy rà kia đấy.

Mụ Ngẩn nghe nói rụng rời, những nghe nói hàng mình có xác chết đã sợ, lại thấy nói phải lên quan thì kinh hãi biết dường nào, hàng bán đồ ăn thức uống, thuế nộp rồi, nếu cả chợ họ biết người chết ở gian hàng mình thì còn ai mua bán gì nữa. Mụ bèn năn nỉ nói:

- Chết chửa, thế thì làm thế nào? Thưa ông, nhờ ông nghĩ giùm cháu, nhờ ông châm chước đi cho.

- Châm chước thế nào? Xác chết ở hàng nhà bà, chẳng lẽ bây giờ bà bảo tôi đem về nhà tôi chăng?

- Thôi, trăm sự nhờ ông, ông nghĩ cách nào cho cháu nhờ thì cháu không dám quên ơn ông.

- Cứ về lo lấy chục quí (10p) đem lại đây thì tôi liệu cho.

- Chết! Nhà cháu còn có gì nữa, vốn liếng được bao nhiêu, ông dạy thế thì cháu lo liệu làm sao cho được, lạy ông giơ cao đánh sẽ, xin ông làm phúc giúp cháu.

- Thôi thế thì chục gián (6p) là nhẹ lắm rồi, chẳng qua là cái hạn của bà, bán đường dài mua đường ngắn chỗ bà con tôi cũng đành cáng lấy cái chết cho bà vậy, nếu bà còn nói lôi thôi nữa thì tôi mặc, sau này bà phí tổn vài ba chục thì bà đừng trách tôi khoảnh độc”.

Xin giải thích ngắn gọn, P viết tắt của piastre hay piaster, tức là đồng bạc thuộc đơn vị tiền tệ nước ta thời thuộc Pháp; ngày trước, từ đời nhà Lê có hai loại tiền, đều gọi là "quan". Một quan 10 tiền, một tiền 600 đồng nhưng giá trị khác nhau. Tiền quý (còn gọi cổ tiền) và tiền gián (còn gọi sử tiền). Tiền gián chỉ bằng 6/10 tiền quý. Tại sao lại có sự phân biệt như thế? Vấn đề này, còn phải tìm kiếm, tra cứu nhiều tài liệu sử học mới có thể trả lời chính xác. Tuy nhiên, có thể giải thích là do chất liệu đúc nên đồng tiến ấy như thế nào? Là đồng, kẽm, kẽm pha sắt, thiếc...? Loại đồng tiền nào lưu trữ lâu bền hơn, ít bị rỉ sắt, khó gẫy ắt có giá trị hơn. Suy luận này hoàn toàn chấp nhận đươc. Ca dao có câu: “Một quan tiền tốt mang đi/ Nàng mua những gì mà tính chẳng ra/ Thoạt tiên mua ba tiền gà v.v…”. Tiền quan là “tiền tốt”. Tương truyền, Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương có thơ xướng họa với Chiêu Hổ, cũng liên quan đến tiền. Bà xướng:

Sao nói rằng năm lại có ba?

Trách người quân tử hẹn sai ra.

Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt,

Nhớ hái cho xin nắm lá đa

Chiêu hổ hoạ lại:

Rằng gián thì năm, quí có ba

Bởi người thục nữ tính không ra.

Ừ rồi, thong thả lên chơi nguyệt

Cho cả cành đa lẫn củ đa.

Tiền gián ăn 36. Tiền quý ăn 60. Như vậy 5 đồng gián hay 3 đồng quý đều bằng 180 đồng kẽm. Số tiền mà bà Năm Ngẩn lo lót cho ông lý, sau khi “cò kè bớt 1 thêm 2” ông ta ra giá 6 đồng bạc, số tiền ấy nhiều hay ít? Chị Dậu trong Tắt đèn vì thiếu thuế sưu đóng cho chồng chỉ 2 đồng bạc mà phải bán đàn chó con mới mở mắt, bán cái Tý hỉ mũi chưa sạch cho gia đình nghị Quế mới đủ tiền. Vậy số tiền lý trưởng đớp, trấn lột của bà Năm Ngẩn nhiều hay ít? Mà thôi, cứ theo tiếp mạch câu chuyện đang diễn ra, dừng lại tính tính toán toán mất hết cái cảm hứng đọc sách. “Mụ Ngẩn tụt bao lưng, giốc ra một cái túi vải nâu, đổ ra đếm cả xu lẫn hào và tiền trinh được 1p30 và ba cái giấy một đồng, vừa khóc vừa nói:

- Thưa ông, cả cửa nhà cháu chỉ có thế này, xin ông làm ơn nhận giúp cho, nếu còn nữa, cháu không dám tiếc, nếu bây giờ đi vay mượn đâu, sợ lộ chuyện có đứa nó cáo giác ra thì cháu chết, thôi xin ông dón tay làm phúc”.

Như vậy là xong? Mọi việc đã kết thúc? Không, ông lý tài tình, nhân ái, đức độ, thương người đến độ sai tuần phu kéo cái xác chết ấy qua gian hàng bán thịt của bác Khứu. Sau đó, cho gọi bác ta đến và nhẹ nhàng: “Tuần nó vừa vào trình tôi rằng tại gian hàng của anh có người ăn mày chết về bệnh tả, anh thử ra xem có thực thế không, nhưng đừng làm huyên náo mà mất cả buôn lẫn bán đấy”. Câu nói ấy chẳng khác gì tiếng sét nổ ra giữa trời quang đãng. "Chết! Lợn, cháu đã lấy về lò sát sinh rồi, thịt bò, cháu đã đặt tiền rồi, làm thế nào hở cụ?”. Thế nào là thế nào? "hay là cụ để cho cháu ra vác nó đi chôn quách một chỗ là xong, ai biết đâu". Đề xuất này hợp lý quá, nhưng, "Anh nói dễ chưa, mạng người có họa là cái bánh hỏi, lỡ gặp phải anh nào nó biết thì anh mất nghiệp. Ừ, anh muốn thế, tôi thây kệ anh, anh có giỏi thì thử ra vác đi tôi xem nào". Nhà văn viết tiếp: “Bác lái lợn xem ra đã chợn, đứng đực mặt, chẳng biết nói sao. Ông lý ôn tồn bảo:

- Này tôi bảo, muốn xuôi việc thì cứ "con công".  "Xon công" tớ giúp cho yên ổn, ngày mai lại buôn bán như thường, nếu không thì tùy ý, muốn làm thế nào thì làm”.

Do tờ giấy bạc 5 đồng có in hình con công đậu trên cành cây, người dân bấy giờ quen gọi là tiền “con công”. Một cái xác chết vô thừa nhận, ông lý đã ăn được hai lần tiền. Số tiền đó ắt dùng cho việc ma chay, chôn cất mụ ăn mày xấu số chăng? “Sáng hôm sau, nghe ngóng mới biết lý dịch Yên Xá đã kéo xác mụ ăn mày xuống bờ Trầm mây, địa phận làng Lôi! Đấy, một cái xác chết của kẻ khốn cùng, họ nỡ nhẫn tâm như thế. Nếu hỏi họ tại sao làm điều vô đạo ấy thì họ thản nhiên mà đáp: Pháp luật bây giờ lắm khi vì làm phúc mà phải tội là thường”.

Tục ngữ có câu: “Xong xôi rồi việc”, “chó chết hết chuyện” có thể hiểu nôm na, sự việc đó, đến nước đó thì dứt khoát phải kết thúc, khép lại hồ sơ, không gì phải bàn cãi lôi nữa. Cứ thế mà làm theo luật định, quy định hiển nhiên lâu nay mà ai ai cũng đã đồng tình, chấp nhận. Khổ nỗi, cái chết đáng thương của cụ bà Nguyễn Thị Lê, bị tàn tật, ở thôn Chùa ở xã Hương Phong, Hiệp Hòa (Bắc Giang) lại không được như thế. Mà dù rằng, bà Lê có nợ 1, 7 triệu đồng đi nữa thì số tiền ấy thời buổi này có đáng gì không? Nó chẳng bõ bèn gì. Đồng tiền ngày càng mất giá, giá trị đang teo tóp dần...

Ô hô! Cái sự đời sao lại nhọ đến kia?

Lại nữa, có người chưa tắt thở lìa trần nhưng rồi cán bộ xã lại khai tử quách cho nó xong. Này, nói năng cẩn thận, chớ có nói vống, phao tin vịt. Vâng, Báo Pháp Luật TP.HCM sáng nay, ngày 11.12.2015 có đăng bài: “Đang sống sờ sờ bỗng dưng bị khai tử”. Nạn nhân của vụ trái khoáy này là bà Phạm Thị Nguyên (sinh năm 1948, trú tại tổ dân phố 19, khu 4, thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải (Hải Phòng). Bà Nguyên đang sống khỏe mạnh, phơi phới yêu đời, bỗng nhiên nhận được hồ sơ mình là người tàn tật nặng, đã hưởng trợ cấp xã hội từ năm 2006. Đặc biệt hơn, bà còn nhận thêm cái giấy chứng tử ghi rành rành: “chết vào 24.11.2014”. Bài báo còn cho biết: “Bà Phạm Thị Tờ, em gái bà Nguyên, hiện trú tại xã Đại Hợp, khẳng định: “Chị tôi còn sống khỏe mạnh và gia đình tôi không ai đi làm giấy chứng tử cho chị ấy cả”.

Tại sao lại xẩy ra trường hợp éo le này? Nói tắt một lời, sở dĩ như thế vì nó liên quan đến hồ sơ hưởng trợ cấp xã hội cho người tàn tật, khuyết tật nặng và người cao tuổi, theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP. Nghị định này cũng như Nghị định số 55/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ít nhiều cho thấy sự quan tâm của Nhà nước đối với các đối tượng trên. Nhưng rồi thế nào? Thế nào, ai cũng biết thế nào rồi. Cụ thể trường hợp nêu trên, cứ theo Báo Pháp Luật TP.HCM: “ông Phạm Bình Thủy - hiện là phó bí thư thường trực Đảng ủy xã ký nhận tiền giúp bà Nguyên”. Không bà con,  không dây mơ rễ mà gì mà nhận tiền giúp thiên hạ là tốt thật đấy chứ? Thì tốt thật. Bà Nguyên không hề nhận xu teng nào, đang sống khỏe mạnh sờ sờ ra đó, tự dưng bị ghép vào diện tàn tật, rồi bị khai tử cái soạch!

Ô hô! Cái sự đời sao lại nhọ đến kia?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.12.2015

PDF.InEmail

 

dan-ong-con-ban-la-hne(ảnh:Internet)

 

Trước mặt vợ, đàn ông cơ bản là hèn.

Có nhiều biểu hiện khác nhau. Từ Hải là một thí dụ. Cái chết đáng thương ấy, do tin lời của Thúy Kiều mà bỏ xác một cách lãng xẹt. Mấy hôm nay, vẫn công việc của mỗi ngày. Đọc và viết. Sống bằng nghề gõ bàn phím. Thong thả. Tự tại. Đôi lúc, tự hỏi, chẳng biết tại làm sao chữ nghĩa trong đầu, ở đâu mà nhiều đến thế? Nhiều đến bao nhiêu? Không thể biết. Cứ mỗi sáng, mỗi chiều, đúng theo thời khóa biểu, theo thói quen, ngồi vào bàn là viết. Viết mãi. Viết hoài. Viết từ ngày này qua ngày nọ. Cứ như con suối cứ tuôn chảy mỗi ngày. Nghĩ cũng lạ. Một ngày không viết gì, tự dưng thấy nhớ. Thấy một ngày trôi qua vô ích quá, chẳng làm được cái gì nên hồn cả.

Viết cũng như nói. Đôi khi con người ta nói năng hoạt bát, dạt dào, trôi chảy, không vấp váp, nói đâu ra đó. Viết cũng thế. Ngồi vào bàn, gõ phím là từng con chữ nhảy múa không dứt. Ấy thế, có lúc ngồi rị mọ, chẳng thể có được một chữ nào. Và ấy thế, có lúc há mồm ra nhưng cứ lắp ba lắp bắp như đang tập nói, đang nói ngọng. Chỉ có đọc là sướng nhất. Thích gì đọc nấy. Chẳng hề phải chịu một áp lực nào cả. Đang đọc truyện ngắn nhảy qua đọc Truyện Kiều, ngâm chưa dứt với 3.254 câu lục bát thuộc loại siêu đẳng “khúc tình từ quán tuyệt thiên cổ”, chợt dừng lại trầm ngâm với với cái chết của Từ Hải. Rồi đọc tiếp chứ? Không, tự dưng có hứng phải viết cái gì đó chăng? Tất nhiên. Viết rằng:

Rằng tin, lời ấy là tin

Trướng mai tình tự thuyền quyên anh hùng

Bỗng đâu sấm sét đùng đùng

Bởi tin nên trụi râu hùm hỡi ôi


Chôn chân đứng sững giữa trời

Hùm thiêng đốn ngã bởi lời hồng nhan

Mới hay tiếng ngọc tơ vàng

Lũy thành xiêu sụp, trễ tràng trống canh


Chiến trường không tiếc máu xanh

Bởi tin nên mới tanh bành chiến công

Biển khơi vùng vẫy tây đông

Sa chân chết đuối giữa dòng cạn queo


Bơ vơ cánh vạc chân bèo

Bao nhiêu oanh liệt đổ vèo vực sâu

“Bất tri tam bách…” thoáng mau

Vẫn còn đọng lại bể dâu Thúy Kiều

Vừa mới bảo, trước mặt vợ, đàn ông cơ bản là hèn. Vậy y ngoại lệ à? Không hề. Y hèn. Hèn đến độ sợ luôn cả vợ người khác nữa đấy chứ. Nguyễn Trọng Tạo có câu thơ này, đọc là tủm tỉm cười: “Bạn bè ở Huế thương nhau thiệt/ Một đứa vợ la chục đứa kinh". Đôi khi đàn ông hèn còn do người “đầu ấp tay gối” đáo để quá. Nhà văn vốn là người quan sát tâm lý giỏi, cực giỏi. Có như thế, họ mới “hóa thân” vào nhân vật, thấu hiểu tính cách của nhân vật. Vừa đọc truyện ngắn này của nhà văn Đỗ Quang Tiến.

Trong truyện đó, có nhân vật tên Huân, trạc tuổi của y, nghĩa là ngoài 50 nhưng phải còn dăm ba năm nữa mới lục thập. Huân ốm yếu, nho nhã, ít nói, bị bệnh suyển, mọi việc trong nhà đều một tay vợ quán xuyến. Do buôn bán, kiếm cơm nuôi chồng con nên vợ Huân tất bật từ sáng mãi đến tối khuya mới vác xác về nhà. Nhiều lúc, vừa về nhà thì vợ đã bô bô nói cười, doi dói như con kiến vống. Thì đã sao? Đàn ông rất dễ ghen, chỉ cần nghĩ xa nghĩ gần, tưởng tượng lúc không có mình kề cạnh, cô ta làm gì nhỉ? Mắt liếc tình đưa với những ai nhỉ? Có thể thể này, thế kia nhỉ? Thế là đùng đùng nổi cơn ghen. Huân ghen. Lập tức, vợ mắng cho té tát: “Tiếc tài, người chả ra người, mà hơi tí là ghen hộc, ghen bịa lên… Sao lại có cái người không biết dơ…”. Biết thân biết phận, Huân im thin thít như thịt nấu đông.

Thế chẳng phải hèn là gì?

Chưa đâu. Hèn phải là thế này. Thỉnh thoảng, đôi lúc mua may bán đắc, vợ Huân chìu chồng mua cho cút rượu và dĩa lòng. Ngồi một mình nhâm nhi. Khoái khẩu quá. Ngon miệng quá. Lạ chưa kìa, đột nhiên dâng lên trong lòng Huân lại là cảm giác hối hận (!?). Vì đã ghen sằng, nghĩ bậy cho vợ. Vì nếu không yêu, không thương sao vợ lại lo một bữa tươm tất thế này? Đàn ông "trẻ con" quá đi thôi, muốn chinh phục họ, cách tốt nhất, hãy cứ dàn binh bố trận, “tấn công” qua con đường bao tử ắt hiệu quả nhất.

Trong lịch sử Việt Nam, có nhân vật lừng danh Nguyễn Văn Giai (1553 - 1628) từng giữ chức Tể tướng, tước Thái bảo, Quận công, công thần "khai quốc" thời Lê trung hưng. Ông nổi tiếng chính trực, quang minh chính đại, xét án như Bao Công, giữ nghiêm phép nước, ngay cả vua Lê chúa Trịnh cũng phải kiêng nể. Gia phả còn chi lại lời ông răn bảo triều thần: “Ta giữ việc triều chính cốt cho liêm chính, không nhận hối lộ của bất kỳ ai. Người có tài đức thì phải biết trọng dụng; ai có lỗi lầm phải biết lựa lời can ngăn; ai oan uổng phải biết cứu xét phân minh cẩn trọng và bênh vực; kẻ nghèo khó phải ra tay giúp đỡ. Không nên làm những điều bất chính để tích trữ vàng ngọc làm giàu; phải biết tu nhân tích đức cho đời sau con cháu vậy”.

Thế mà, có lúc ông đã “vi phạm” vào điều răn đó.

Ngày nọ, ông xét án một phò mã của chúa Trịnh khi cầm quân đánh nhà Mạc, chỉ vì hèn nhát mà kéo quân về. Vậy cứ theo phép nước mà khép án tử hình. Kêu xin, van nài mãi không xong gia đình người này bèn đi “cửa sau” nhờ bà vợ tác động đến ông. Người vợ nghe lời than khóc ấy, động lòng thương cảm nên hứa giúp. Do biết tính chồng khoái món thủ lợn chấm mắm ngấu, bà làm món này đãi ông. Đợi ông ăn xong, bà mới thỏ thẻ cho biết đó là “lễ vật” của gia đình phạm nhân. Trời đất! Đã ăn rồi, chẳng lẽ nôn ra? Ông tặc lưỡi: “Chỉ vì một miếng ăn mà hỏng cả việc công. Ta đã ăn rồi, giờ biết nói sao? Cũng may án này có một vài lẽ có thể khoan giảm, nếu không thì phép nước sẽ điên đảo vì ta tham ăn”. Làm vợ quan chức không dễ bởi hoặc giữ thanh danh cho chồng; hoặc vùi chồng vào “bia miệng” thế gian cũng còn tùy thuộc vào bản lĩnh của người đàn bà. Từ đó trở về sau, ông Giai bỏ luôn món khoái khẩu này. Nhân đây, chép lại bài thơ của ông:

Ba vua, bốn chúa, bảy thằng con,

Trên chửa lung lay, dưới chửa mòn.

Công nghiệp chưa thành sinh cũng uổng

Quan tài sẵn đó chết thì chôn.

Giang hồ, lang miếu: trời đôi ngả,

Bị gậy, cân đai: đất một hòn.

Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa,

Sợ ông Bành Tổ tống đồng môn?

Bài thơ hay, ngẫm ra nhiều điều lý thú. Dù tự trào nhưng khí khái lắm.  Chẳng thèm màng chút lợi danh nào, xem mọi thứ đang có chỉ là phù du, ảo ảnh. Chết thì chôn. Không níu kéo phải được sống thêm nữa, chẳng lẽ phải đồng môn với ông Bành Tổ à? Biết đủ là đủ. Vậy thôi, chẳng ham hố gì. Âu cũng là triết lý sống tích cực của lớp nhà Nho thuở trước.

Trở lại với gia đình nhân vật Huân.

Đàn ông thế này mới là hèn.

Ngày nọ, nghe vợ cười nói hú hí, tí tởn, còn cả tiếng đàn ông nữa chứ, Huân ghen, bèn quát một câu cho đáng mặt làm chồng. Nào ngờ, vợ mắng luôn: “Thôi, đừng dở cái trò bú dù ra nữa, mà người ta lại cười cho thối óc. Rõ già không chót đời. Bác Nhâm hơn thằng Huân mấy tuổi? Hứ! Hừ! Không biết dơ! Gái này chưa được là con lợn sề rồi à? Mười tám, đôi mươi, gì nào? Đít cong, vú mẩy gì cho cam nào”. Huân ghen sằng, bác Nhâm đã già, đã lớn tuổi rồi, lại người thân thuộc. Lạ thay, khi nghe vợ mắng vì đã ghen bậy ghen bạ, nhiều người đàn ông lại có tâm lý buồn cười ghê gớm: “Vợ càng nói, chồng càng mát ruột. Ông Huân thần mặt, khịt khịt mũi, muốn vợ mắng cho trận nữa, cho ông hả dạ thêm”. Tại sao lại có tâm lý này? Chẳng qua người chồng hãnh diện, sung sướng vì nghĩ rằng, vợ mình chính chuyên, chứ không lăng loàng, trắc nết như ai khác.

Đàn ông thế này mới là hèn.

Ngày nọ, đã cuối năm, vợ chồng cùng sum vầy bên mâm cơm cúng Giao thừa. Giây phút thiêng liêng ấy, vợ Huân nói với chồng một câu thật âu yếm mà trong năm Huân chưa hề được nghe: “Ông nhỉ! Giao thừa năm nay im ả đấy chứ! Năm nay chắc dễ làm ăn hơn năm ngoái. Ông thế nào cũng khỏe mạnh. Ông có vui vẻ khỏe mạnh, vợ con mới nhờ được cái lộc của ông, làm ăn mới xởi lởi… Ông ốm yếu luôn, tôi chợ búa cũng chả yên tâm”. Phải tình chồng nghĩa vợ, phải yêu thương nhau lắm con người ta mới thốt được câu cảm động, nghĩa tình ấy. Tình nhân dành cho tình nhân, có lẽ họ sẽ nói câu khác kia chứ? Lúc yêu nhau, đôi lứa hầu như chỉ tâm sự đến những cuộc hẹn hò, vui tươi ánh sáng tháng rộng ngày dài, hơn là những nỗi lo canh cánh xám nghét mặt mày vì cơm áo gạo tiền.

Với nhân vật Huân, đọc đoạn văn kế tiếp mới thấy nhà văn Đỗ Quang Tiến phân tích tâm lý tinh tế: “Nghe vợ nói, ông chồng mát từng khúc ruột. Năm ngoái, năm kia, năm kìa cũng vậy, lúc giao thừa, ông cũng được nghe vợ nói những câu mát lòng, hả dạ như thế này. Nhìn nét mặt hiền hòa, nghe giọng nói âu yếm, một năm mới có một lần, ông cảm động đến khóc lên được. Ông run run ngồi dậy, mặc cái áo bông the, hai cánh tay rách xõa, chụp cái khăn gián nhấm vào, rồi bắt chân chữ ngũ giữa giường. Ông càng ra dáng đường vợ thì vợ ông lại càng làm ra vẻ len lét, sợ ông”.

Trước mặt vợ, đàn ông cơ bản là hèn. Tuy nhiên, cũng chẳng sao. Một năm, chỉ có một lần được vợ sợ, dù rằng chỉ giả vờ len lét. Vậy cũng đã đủ cho cái sự vênh váo làm chồng đầy hãnh diện, tự hào, mãn nguyện và sung sướng lắm rồi. Phải không?

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 8.12.2015

PDF.InEmail

leminh-quoc-trang-the-hy-1-RTừ phải: Nhà văn Trang Thế Hy, Lê Minh Quốc do nhà thơ Cao Xuân Sơn chụp tại Bến Tre ngày 10.10.2011

 

Đêm qua, lại đọc. Một thói quen. Thích đọc những truyện ngắn, bút ký có nhiều chi tiết, viết từ vốn sống. Đôi khi tưởng rằng, những chuyện ấy đã biết, đã rành rẽ nhưng thật ra vẫn mù tịt. Đọc, thấy thú quá và bật lên một tiếng “à” nho nhỏ trong cổ họng. Rồi lại đọc ngấu nghiến. Trong tập Thơ văn Xuân 1957 của NXB Văn Nghệ in tại miền Bắc, nhà văn Phạm Tường Hạnh có bút ký Trái sầu riêng. Thú thật, chưa bao giờ được thưởng thức món ăn ngon này: “Khi trái sầu riêng đơm bông, người ta lấy tấm đệm hứng những cánh hoa rụng xuống, dùng làm món rau sống ăn với mắm thái, thịt luộc. Nó là món ăn quen thuộc với người ở xứ vườn. Những bữa ăn đặc biệt, người ta dùng bông sầu riêng trộn giỏ, món ăn thanh lịch mà ngon: Cá lóc nứng trui, thịt ba rọi thái nhỏ, tôm nướng, hột vịt luộc, mỡ nước, hành củ, chanh, ớt, gừng, đậu, phụng rang trộn với bông sầu riêng. Đưa đà vài ly mai quế lộ, “nhậu” với bông gỏi sầu riêng. Nó vừa giòn, vừa ngọt, bùi bùi, béo béo, đậm đà, ý nhị một món ăn quê hương”.

Biết bao giờ mới được thưởng thức?

Đã khá lâu rồi, một anh bạn người miền Nam quả quyết ở miền Đông Nam bộ khi trui cá lóc, người dùng lá sầu riêng vì loại lá này giữ nhiệt lâu. Thật lạ, không biết ai nghĩ ra cái tên trái cây sầu riêng, sầu đâu, sầu đông nghe tình tứ “thần sầu quỷ khốc” đến thế? Tra lại tài liệu mới biết sầu riêng là gốc ở tiếng Mã Lại, gọi là durio hoặc durion. Từ điển của cụ Huình Tịnh Paulus Của (1834-1907) giải thích: “Thứ trái cây lớn mà tròn, vỏ nó có gai giống gai mít, trong ruột nó cũng có mùi như mùi mít, chữ gọi là châu liên”. Cái tên gọi “châu liên” nghe lạ hoắc, xa lạ quá.

Lại nữa, hôm trước con rể cụ Ca Văn Thỉnh (1902-1987) là ông Nguyễn Long Trảo tặng quyển hồi ký. Thú thật, chỉ thích những chi tiết thời thơ ấu mà ông đã trải qua. Nó gắn với sinh hoạt của miền Nam thời trước. Trong lúc tát đìa có chi tiết này, lần đầu mới biết: “Có quy ước rất hay là mỗi con cá khi vọt ra phía sau là đã thuộc về quyền sở hữu của những “con hôi” lúc nhúc bám theo sau, chủ nhà không được tiếc của mà quay lại bắt. Vì toàn là sình lầy nên cá thoát ra phía sau là chuyện bình thường, nên chủ nhà bắt được mười thì “con hôi” cũng được hai ba, có thể mang về làm mắm chứ không bao giờ hết”. Chỉ một chi tiết nhỏ, có thể biết thêm tính cách của người Nam bộ. “Con hôi” trong ngữ cảnh trên là từ “hôi” mà có. “Hôi” có nghĩa mót, nhặt những thứ còn sót lại; dần dần “hôi” mang nghĩa xấu như hôi của, hôi cá, đánh hôi…

Sáng nay, dậy sớm. Nhận được tin nhà văn Trang Thế Hy vừa qua đời. Ông mất lúc 0g50 ngày 8.12.2015 tại nhà riêng (Khu phố 1, phường Phú Tân, Bến Tre), sẽ an táng tại đất nhà vào ngày 10.12.2015. “Hơn hai mươi năm ông "đi chỗ khác chơi" / đêm đêm, tôi ngồi vào bàn viết / không nghe tiếng gõ cửa / vẫn ông ngồi đó / đôi mắt nheo cười / tẩu thuốc khóe môi / trên tay, ly rượu nhỏ: / "Ê nhóc! / may lắm thì tụi mình chỉ là người truyền giảng hy vọng / người bào chế thuốc giảm đau / thế thôi nghe, đừng tưởng bở, nhà thơ!". Những câu thơ khắc họa đúng tính cách nhà văn Trang Thế Hy của bạn thơ Cao Xuân Sơn, sáng nay, đột ngột ùa về trong trí nhớ.

Nếu nhà nghiên cứu văn học Hoàng Ngọc Hiến có câu nói trứ danh “Cái nước mình, nó thế”, thì câu “Đi chỗ khác chơi” của nhà văn Trang Thế Hy cũng nổi tiếng không kém. Và bản thân ông đã sống như thế. Chừng hai mươi năm trước, thỉnh thoảng còn gặp ông ở Hội Nhà văn TP.HCM, nhưng sau đó mới hay, ông bỏ tất cả để trở về “ẩn dật” tại Bến Tre. Ở nhà văn ấy, từ văn chương đến phong cách sống gần như một “ẩn sĩ”. Nói như thế không ngoa ngôn, đố ai có thể tìm thấy những tuyên bố, tuyên ngôn loạn xị của ông trên các diễn đàn ồn ào tiếp thị nhằm “đánh bóng” tên tuổi.

Anh em đồng nghiệp Báo Sài Gòn Giải phóng, Phụ Nữ réo điện thoại phải có bài ngay. Thế là viết. Lật lại nhật ký, mới nhớ lại chính xác về đến thăm tư gia nhà văn Trang Thế Hy là ngày 10.10.2011. Lúc đó, tập sách Sơn Nam - Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê do y biên soạn vừa in xong. Đơn vị xuất bản là NXB Kim Đồng đã thực hiện nghĩa cử tặng một số sách tại Nhà Lưu niệm của nhà văn Hương rừng Cà Mau ở Tiền Giang. Trên đường về, mọi người rủ nhau tạt qua đến thăm nhà văn Trang Thế Hy.

Ngồi trước vòm cây xanh, gió thoàng mát, anh em báo chí, xuất bản đã có cuộc trò chuyện thân mật. Còn nhớ rằng, qua sự quan sát ông, y mới thấy nhận xét của nhà thơ Cao Xuân Sơn là chính xác. Rằng, trong cuộc hàn huyên thân mật ấy, thỉnh thoảng, tác giả Vết thương thứ 13 lại tỏ ra quan tâm đến các chị em nhiều hơn một chút. “Đó tính cách của người am hiểu văn hóa, văn chương Pháp, thường hay galant phụ nữ”. Sơn nói đúng. Ở gương mặt chân thành, đôn hậu ấy, lời nói nhỏ nhẹ nhưng hai con mắt sáng đã toát lên sự điềm đạm, lịch lãm của một người từng trải, thanh lịch.

Nhà văn Trang Thế Hy tên thật Võ Trọng Cảnh, sinh ngày 9.10.1924 tại Châu Thành, Bến Tre, tham gia kháng chiến từ năm 1945. Và sự nghiệp cầm bút của ông cũng rất sớm, từ thập niên 1950, ông đã có nhiều truyện ngắn in trên báo chí xuất bản công khai tại miền Nam, cùng thời với các cây bút yêu nước như Lê Vĩnh Hòa, Viễn Phương, Sơn Nam, Ngọc Linh, Thẩm Thệ Hà… Vì lẽ đó, năm 1962, ông chính quyền Sài Gòn bắt giam; năm 1963, được thả tự do, sau đó, ông thoát ly ra vùng giải phóng và tiếp tục cầm bút.

Dù viết sớm, nổi tiếng sớm nhưng mãi đến năm 1964, ông mới in tác phẩm đầu tay Nắng đẹp miền quê ngoại. Có lẽ cũng cần nhắc lại, một trong những truyện ngắn tạo nên dấu ấn Trang Thế Hy chính là Anh Thơm râu rồng được Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu của Hội VHNT Giải phóng (1960-1965). Thế nhưng bẵng đi một thời gian dài, năm 1981, ông mới “tái xuất giang hồ” với tập truyện ngắn Mưa ấm. Nhân vật anh Thơm trong truyện ngắn trên có biệt danh “râu rồng” vì bộ râu cằm khác người, từ nhỏ đi ở đợ, nhiều lần bị hương quản Xung nhận đầu dìm dưới nước nhưng vẫn thoát chết. Sau này, sa vào tay kẻ thù, anh cũng bị những đòn tra tấn tương tự nhưng nhờ có kinh nghiệm nên sống sót: “Tôi nghĩ đây là thứ kinh nghiệm chua xót quá, chắc không ai muốn có những kinh nghiệm như vậy trong đời mình”. Đọc lại truyện ngắn ra đời đã lâu nhưng vẫn còn thấm thía, bùi ngùi quá đỗi.

Có thể nói, tác giả Người yêu và mùa thu viết không nhiều. Chính ông tự nhận: “Tuổi đời và tuổi nghề khá cao nhưng số lượng tác phẩm lại quá mỏng: chưa đầy hai mươi bài thơ, khoảng trên dưới nửa trăm truyện ngắn, chừng bốn hay năm tiểu thuyết, truyện vừa in nhiều ký trên nhật báo, tuần báo, tạp chí”. Dù viết ít, nhưng văn chương của ông vẫn cứ lừng lững trong nền văn học Việt Nam hiện đại, bởi lẽ hơn ai hết ông tự ý thức, rất ý thức đến sứ mệnh người cầm bút. Nói gì thì nói, với Trang Thế Hy đó chính là Nợ nước mắt - tên một tác phẩm được giải thưởng của Ủy ban  toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNTVN (1991) - vì thế, ông viết kỹ, cẩn trọng với từng chữ. Không quá lời, khi  có nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận sự cẩn trọng từng con chữ ở Trang Thế Hy cũng nhọc công không kém gì “ông vua tùy bút” Nguyễn Tuân.

Những gì của ông để lại, những con chữ ấy vẫn như còn đang cựa quậy trên trang viết, nó vẫn tươi mới và còn có ý nghĩa của thời cuộc. Mà nghĩ cho cùng văn chương thời buổi nào cũng thế, nếu ngòi bút nhà văn khai thác đến tận cùng nỗi đau, số phận của người cùng khổ, qua đó, thắp lên niềm hy vọng về ngày mai tươi sáng hơn, tốt đẹp hơn vẫn là cốt lõi của muôn đời. Nói như Trang Thế Hy, nhà văn “chỉ là người truyền giảng hy vọng”, "người bào chế thuốc giảm đau".  Lâu nay, y rất thích và nhiều người cũng thích truyện ngắn Con mèo hoang và nhà thơ có gia cư. Dù thế nào đi nữa, nhà văn ấy dù sống trong hoàn cảnh bi đát, nghèo túng như Điền - nhân vật nhà văn trong truyện ngắn Giăng sáng của Nam Cao, thì họ vẫn không ngừng nuôi dưỡng sự hy vọng vì: “Nó giúp ông  ùng vẫy ngoi ra khỏi nỗi cô độc bi thảm và chỉ hướng cho ông vươn tới niềm cô đơn cao quý của một người cầm bút”..

Hầu hết các truyện ngắn của ông, dù viết về đề tài gì, nhưng ẩn sâu ở đó chính là quan niệm về nghề. Thấp thoáng đâu đó, từ Một thiếu nữ không đáng kể, Chút hào quang từ mảnh vỡ, Một nghệ sĩ buồn thích đùa… đến Rác và hoa, Tiếng hát và tiếng khóc vẫn là sự đau đáu, tự vấn về sứ mệnh của nhà văn. Chẳng hạn, khi chàng nghệ sĩ nghèo khi nghe lời tâm sự của người đàn bà bán thuốc lá bên vỉa hè mà tự nhủ: “Tôi nghe đó là lời răn dạy rất nghiêm có giá trị thức tỉnh cao của một hiện thực đau buồn nhắc nhở người cầm bút đừng bao giờ đánh mất cái điểm tựa đáng tin cậy của mình là nỗi khổ đau lớn của đám đông thầm lặng”.

Suy nghĩ này, xuyên suốt trong sự nghiệp của Trang Thế Hy.

Ông còn bảo: “Chức năng của văn chương là thanh lọc tâm hồn người viết và cung cấp thuốc giảm đau cho người đọc. “Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới”. Tôi vừa si mê vừa hoài nghi lời tiên tri ấy, của Dostoievky. Nhưng tôi cả tin rằng nếu như cái Đẹp cứu rỗi được thế giới thì trong cái Đẹp vĩ đại, mênh mông cao rộng không có đường biên ấy có cái Đẹp của văn chương”.

Ngày về Bến Tre thăm ông, thú thật, lần đầu tiên y mới biết nhà văn Trang Thế Hy có làm khá nhiều thơ. Điều thú vị nhất, lúc đó, ông khiêm tốn, nhã nhặn không đọc thơ của ông như mọi người yêu cầu mà đọc thơ của Tagore lại bằng… tiếng Pháp. Thử tưởng tượng, ở một vùng quê nghèo, chiều xế bóng, rít rít tiếng chim ca, bươm bướm bay thấp thoáng trên nhành đào, cây bưởi lại nghe du dương ngôn ngữ của Victor Hugo, Lamartine… còn gì thú vị hơn? Khi làm thơ, ông thường ký bút danh Phạm Võ, Văn Phụng Mỹ, Triều Phong, Song Diệp, Văn Minh Phẩm… và chắc chắn bạn đọc khó quên bài thơ Đắng và ngọt.

Tháng 9.1969, khi đang là chủ bút tờ báo Vui sống, nhà văn Bình Nguyên Lộc đọc bản thảo bài thơ Đắng và ngọt, cảm thấy cái tựa “chưa tiêu biểu cho cái vị đa tố chất của cuộc đời” nên đổi lại Cuộc đời. Qua tập thơ Đắng và ngọt, ông cũng gủi gắm ở đó những quan niệm về sứ mệnh nhà văn. Bài thơ Cuộc đời là một câu hỏi, một triết lý không cũ đi bao giờ: “Nghe anh theo nghề viết/ Nghệ thuật là gì em muốn biết/ -Mùi tanh nói mùi thơm/ Cây bút cầm tay: cần câu cơm/ Đó, em ơi! Nghệ thuật:/ Nhắm mắt quay lưng chào sự thật”. Sự tự vấn này nghe ra vẫn còn chua chát, thống thiết.

Lâu nay, thường có nhận xét người Nam bộ xuề xòa, hòa đồng, vui vẽ thân thiện, thường giúp đỡ những ai yếu thế v.v… điều này đúng, nhưng với nhà văn Trang Thế Hy có lẽ phải bổ sung thêm một tính cách nữa. Rằng, khác với nhiều người, dù đã đến lúc không còn viết được nữa, cảm hứng đã tàn lụi nhưng vẫn tiếc nuối hào quang của tiếng vỗ tay, của những lời ca ngợi nên cứ “bẹo hình hài rao lên bán”, Trang Thế Hy thì không, với ông, “đi chỗ khác chơi” vẫn là sự lựa chọn đầy tính cách, hào khí của một ngươi Nam bộ, quê hương Bến Tre, nơi đã từng cưu mang thi sĩ anh hùng Đồ Chiểu. Đó là sự trực tính. Không uốn éo. Không “bẹo hình bẹo dạng”. Không cưa sừng làm nghé. Không lập lờ. “Khi biết mình không viết được nữa thì đi chỗ khác chơi. Đừng bẹo hình bẹo dạng ở chốn trường văn trận bút để bắt độc giả lỡ yêu mến mình đọc những lời lếu láo”. Theo bạn thơ Cao Xuân Sơn, người có thời ở chung căn hộ với trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa chừng hai mươi năm trước, sinh thời Trang Thế Hy thường ngâm hai câu thơ của Nguyễn Du:

Cổ kim hận sự thiên nan vấn

Phong vận kỳ oan ngã tự cư

(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi/ Cái án phong lưu khách tự mang).

Âu đó cũng là tất lòng của một “người hiền Nam bộ” vậy.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 6.12.2015

PDF.InEmail

tumblr_mhcw76QfyP1s3g9tso1_500(ảnh: Internet)

 

“Căn nhà đó nằm trong ngõ vắng. Ngõ có bức tường dài, sâu thăm thẳm. Trên tường, rải rác có những dòng chữ nghệch ngoạc, viết bằng hắc ín: Cấm đái… Cấm đái… Dưới dòng “Cấm đái” là những bãi nước dải vòng vèo, đêm trước, còn hắt lên những vệt cũ đã lên rêu. Ngoài đầu ngõ, treo lủng lẳng cái biển sơn cấm xe hạng nặng đi vào, tuy đường trong ngõ, chỉ một cái xe bò đi đã chật”. Viết về ngõ vắng, nơi căn nhà y đang trú đấy chăng? Cũng có thể như thế. Có điều đoạn văn trên viết từ thập niên 1950 tại Thủ đô Hà Nội. Trích từ truyện ngắn Tết năm ấy… của tác giả Đỗ Quang Tiến, in trong tập sách Thơ văn Xuân 1957 của NXB Văn Nghệ ở ngoài Bắc. Hầu như ít ai biết đến tập sách này. Không rõ, căn cớ gì sau đó không thấy Đỗ Quang Tiến viết thêm gì khác?

Đọc đoạn văn trên giật mình nghĩ rằng, hóa ra cái sự tiến hóa văn minh đô thị của đất nước Đại Nam văn hiến này vẫn không có gì thay đổi. Vẫn giẫm chân tại chỗ, giữ rịt lấy cái nếp sinh hoạt đã tồn tại hơn 50 năm trước. Ngõ ngách nào hiện nay lại không có những dòng chữ chết tiệt trên? Đến bao giờ mới chấm dứt đây? Hỏi như thể bởi từ mấy chục năm qua, cái Bộ phụ trách về văn hóa nước nhà đã phát động rầm rộ phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.

Kết quả ra làm sao?

Sáng ngày 3.12.2015, Ban chỉ đạo trung ương của phong trào họp tổng kết năm 2015, triển khai nhiệm vụ năm 2016. Theo số liệu công bố: “Đến nay cả nước có gần 19 triệu gia đình trong tổng số hơn 22 triệu gia đình đạt chuẩn danh hiệu gia đình văn hóa, đạt tỉ lệ 85,03%, tăng 2% so với năm 2014”. Với các con số đó, dư luận "phản biện" ầm ầm và quả quyết chính là biểu hiện của bệnh thành tích bởi nó không phản ánh đúng thực chất đang diễn ra.

Sáng ngày 5.12.2015, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp xúc với cử tri tại TP HCM. Ông phát biểu: “Tại sao nước mình là anh hùng trong các cuộc kháng chiến chống đế quốc mà vấn nạn tham nhũng lại bị xếp hạng cao? Bê bối quá, không chấp nhận được”. Cũng trong bài báo "Chủ tịch nước: 'Xấu hổ khi Việt Nam bị xếp hạng tham nhũng cao", Báo diện tử Vnexpress còn cho biết: “Chỉ số nhận thức tham nhũng do Tổ chức Minh bạch thế giới công bố dựa trên ý kiến chuyên gia toàn thế giới về tham nhũng trong lĩnh vực công. Năm 2014, ba nước được đánh giá là trong sạch nhất là Đan Mạch, New Zealand và Phần Lan. Singapore là quốc gia châu Á duy nhất lọt top 10 với 84 điểm, xếp thứ 7. Việt Nam xếp hạng 119 trên 174 nước với 31 điểm”.

Mỗi ngày, lật tờ báo, bao nhiêu thông tin hắc ám như cơn gió độc quật, quất te tua cái tâm hồn chỉ mong muốn được sống trong một xã hội lành mạnh? Biết thế nào được. Rồi cuối cùng vẫn phải sống. Vẫn phải tồn tại. Có điều sự nguy hiểm nhất ở mỗi con người, dần dần tự nó sẽ dẫn đến sự vô cảm. Bàng quan, Dửng dưng. Bịt tai. Nhắm mắt. Chẳng còn phải đau đáu, trăn trở, nặng lòng với cái xấu, cái ác đang tác oai tác quái như làm xiếc. Nghệ thuật xiếc đã đạt đến mức độ siêu việt. Dù rằng, ai ai cũng thừa biết tỏng bản chất của nó, nhưng người ta vẫn tuôn ra dạt dào lời hay ý đẹp cứ như thể mục hạ vô nhân.

Mới đây, trang web của Trường Đại học Văn Hoá Hà Nội (Hanoi University Of Culture) có post bài viết: “Đặc tính của người Việt qua nhận xét của Viện Nghiên Cứu Mỹ”. Nguyên văn: “Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) sau khi nghiên cứu đã nói lên 10 đặc tính căn bản của người Việt, xin tạm dịch như sau:

1. Cần cù lao động nhưng dễ thỏa mãn.

2. Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu những khả năng suy tư dài hạn và linh hoạt.

3. Khéo léo nhưng ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng các thành phẩm của mình.
4. Vừa thực tế vừa có lý tưởng, nhưng lại không phát huy được xu hướng nào thành những nguyên lý.

5. Yêu thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản. Ngoài ra, người Việt không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện hay vì những công việc tốt).

6. Cởi mở và hiếu khách nhưng sự hiếu khách của họ không kéo dài.

7. Tiết kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện hay muốn phô trương).

8. Có tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau chủ yếu trong những tình huống khó khăn và nghèo đói, còn trong điều kiện tốt hơn, đặc tính này ít khi có.

9. Yêu hòa bình và có thể chịu đựng mọi thứ, nhưng thường không thẳng thắn vì những lý do lặt vặt, vì thế hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ.

10. Và sau cùng, thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh (một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 3 người làm thì kém, 7 người làm thì hỏng việc).
Những phân tích trên đây cho chúng ta thấy người Mỹ đã hiểu rất rõ người Việt. Tại sao người Việt lại có những đặc tính như thế này?”.

Trả lời câu hỏi này, thật ra, từ trước, các nhà Nho dấn thân theo Tân học như các cụ Trần Trọng Kim, Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Bính v.v… đã chỉ ra rồi. Tại sao những yếu tố tích cực ngày càng thui chột, không thể phát huy; trong khi đó, cái xấu, sự hạn chế lại nẩy nở ngày một nhiều? Bàn gì thì bàn, nói gì thì nói. Vấn đề cốt lõi vẫn là con người ta đang sống trong sự vận hành của cơ chế chính trị như thế nào. Đó mới chính là căn cơ, giải quyết cốt lõi của mọi vấn đề.

Mấy hôm nay, không có gì mới. Vẫn cứ thế. Ngày của mỗi ngày cứ đều đặn trôi qua. Có gì mới trong lãnh vực văn hóa nghệ thuật chăng? Chỉ có thể nhắc đến bộ phim Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (tên tiếng Anh Yellow flowers on the green grass). Bộ phim này, đạo diễn Victor Vũ chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, đoạt giải phim hay nhất tại Liên hoan phim quốc tế Phúc Châu (Trung Quốc). Mới đây nhất, tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 19, diễn ra từ ngày 1.12 đến ngày 5.12.2015 tại TP.HCM, bộ phim này lại giành được giải thưởng Bông sen Vàng. Kinh phí đầu tư 20 tỷ, thu về 80 tỷ. Vấn đề đặt ra, không phải giải thưởng và lợi nhuận mà chính là nó đã tạo ra sức hút mới cực kỳ đáng lưu tâm là kéo khán giả quay trở lại với phim Việt. Được vậy, đã quý. Điều quý hơn là do đạo diễn Victor Vũ lấy bối cảnh từ Phú Yên, sau khi công chiếu bộ phim Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, lập tức, nơi đó thu hút hàng vạn lượt khách du lịch. Ý nghĩa cuối cùng của sự sáng tạo vẫn là tạo ra hiệu ứng chung, sự cộng hưởng từ phía công chúng.

Thời buổi này, những giá trị nhân văn đang mất dần đi. Thế giới trong trẻo, hồn nhiên của ngày thơ đã cảm nhận, đã nhìn thấy vẫn là nơi mà con người ta muốn tìm về. Để làm gì? Thanh lọc lại tâm hồn. Nếu không có tâm hồn trẻ thơ, làm sao thi sĩ Bàng Bá Lân (1912-1988) có thể viết được dăm ba câu thơ mộc mạc lại diệu vợi thế này:

Hoa đào còn đỏ

Hoa cúc có vàng?

Hoa Xuân có phô màu tuyết

Bàn thờ còn ngát trầm hương

Gió khuya heo hút phố phường

Có ai đi lễ trong sương lạnh lùng?

Những bàn tay mịn như nhung

Có vịn cành tơ hái lộc?

Những bàn tay già gầy guộc

Còn lay ống thẻ đầu năm?

Và ở miền quê yêu dấu

Đình chùa miếu mạo ra sao?

Hội hè nô nức xôn xao

Cây đu còn dải yếm đào đùa bay?

Những chiếc khăn vuông mỏ quạ

Còn ôm ấp má hây hây

Những cặp môi hồng tươi nở

Còn thơm, còn thắm trầu cay?

Có thể hiểu "lay ống thẻ" là xin xăm, bói xem một quẻ tốt xấu thế ào; "yếm": đồ mặc nhằm che ngực của phụ nữ; "khăn vuông mỏ quạ":  khăn của đàn bà chít như hình mỏ con quạ... Những người sống xa xứ, nếu đã từng cảm nhận những hình ảnh  trên, khi đọc ắt ứa nước mắt. Bùi ngùi. Cảm động. Với thế hệ của y, tất nhiên không thể nhìn thấy “cây đu, dải yếm đào, chiếc khăn vuông mỏ quạ” của Tết xứ Bắc nhưng làm sao không nhớ đến “trầu cay”? Ngày xưa, mẹ y và các dì có ăn trầu. Đêm qua, đọc lại một đoạn văn ngắn, tự dưng nhớ thương da diết ngày tháng xa xưa ấy, ngày mẹ còn khỏe mạnh, còn ăn trầu “cặp môi hồng tươi nở”. Văn chương đôi lúc cũng chẳng phải gánh vác cho lắm sứ mệnh to tát gì, chỉ cần qua đó, người đọc nhớ về một kỷ niệm êm đềm đã xa xăm. Vậy là đủ. Đêm qua, nằm đọc quyển Giảng văn lớp 7 in tại miền Nam năm 1972. Dừng lại với đoạn văn này của nhà văn Tô Nguyệt Đình (1920-1988):

“Bà phán mới ngồi xề lại chiếc ghế ngựa, mở ô lấy một lá trầu vàng, bệt vôi bỏ vào miệng nhai nhóc nhách. Bà lại lấy miếng câu tươi mà chị ở bổ sẵn, một cọng vỏ giấy rồi bỏ vào miệng nhai luôn. Nước bã trầu đỏ ối chảy ra hai bên mép, bà phán cầm ống nhổ bằng đồng bóng lộn nhổ vào một bã trầu, đoạn cầm lấy khăn trên vai xuống chùi miệng. Bá vớ lấy một cục thuốc bằng ngón tay cái để lên môi xỉa qua xỉa lại, mấy ngón tay cái của bà vảnh ra để lộ mấy chiếc cà rá nhận hột  xoàn chiếu sáng ngời trên các ngón giữa, áp út và út”.

Ông nhà văn tả khéo quá. Nếu không, làm sao y có thể nhớ về ngày hoa niên đã nhìn thấy mẹ ăn trầu? Giải thích luôn vào từ, chẳng hạn, "ghế ngựa": dùng hai tấm gỗ dày ghép lại, kê lên cái giá để ngồi hoặc nằm; "mở ô": cái hộp đựng trầu; "chị ở": người giúp việc, Osin;  "vỏ giấy": vỏ trầu đã thái, đập dẹp phơi khô; "cà rá": chiếc nhẫn đeo tay; "nhận": khảm" sầu vào chỗ thủng... Rồi lại nhớ câu thơ đã viết từ thời trai trẻ trên chiến trường K. Tự dưng buồn buồn.

tưởng tượng một ngày kia

trăng treo trên vòm trời Đà Nẵng rất khuya

mẹ khỏe mạnh giã gạo

hương cau thơm rụng đầy sân nhà ông ngoại

thuở ấy mẹ mới về với cha

mới nghĩ vậy thôi con sung sướng khóc òa

một niềm vui vĩnh cửu...

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 1.12.2015

PDF.InEmail

nhat-k-ngay-1.12.2105-R(Ảnh: Internet)

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 29.11.2015

PDF.InEmail

2bai_luan_vn_hoc_sinh_tran_dai_nghia

 

Tối hôm qua, ngày 28.11.2195, chính thức diễn ra lễ khai mạc “Tuần Văn hóa - Du lịch Nguyễn Du” kỷ niệm 250 năm ngày sinh (1765-2015) Danh nhân văn hóa thế giới, Đại thi hào Nguyễn Du tại Quảng trường trung tâm, UBND huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Đã có thông tin về Đường hoa Tết Nguyên đán Bính Thân 2016. Chủ đề: “TP.HCM - Hòa bình, thịnh vượng và phát triển”. Thực hiện trên tuyến đường Nguyễn Huệ, đoạn từ giao lộ Lê Lợi - Nguyễn Huệ đến cuối đường Nguyễn Huệ. Mở cửa từ ngày 5.2.2015 đến ngày 12-2-2016.

Tại phiên bế mạc kỳ họp thứ 10 của Quốc hội chiều ngày 27.11.2015, Quốc hội đã thông qua nghị quyết trong đó yêu cầu “tiếp tục giữ môn học lịch sử trong chương trình sách giáo khoa mới”. Vấn đề không phải là giữ môn Sử hay “tích hợp” vào môn Giáo dục công dân và An ninh quốc phòng, điều cốt lõi vẫn là cách biên soạn sách lịch sử dạy trong nhà trường như thế nào? Cần phân biệt rõ, học sử của một dân tộc hay sử của một đảng? Trên Báo Tuổi Trẻ, nhà văn Dạ Ngân thở dài: “Các em phải thuộc những thắng lợi luôn luôn là vẻ vang ấy và không chỉ có vậy, còn phải thuộc những liệt kê trong đó mà chúng tôi gọi là cách học sử đếm xác và đếm súng” (Báo TT ngày 17.11.2015).

Thành phố Tam Kỳ (Quảng Nam) vừa được tổ chức Định cư con người Liên Hiệp Quốc tại châu Á (UN Habitat châu Á) trao tặng giải thưởng “Phong cảnh thành phố châu Á năm 2015”. Người dân cả nước biết nhiều đến Tam Kỳ còn một phần do nơi này đã xây dựng tượng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, diện tích 15.3 ha tại khu vực núi Cấm thuộc xã Tam Phú. Tổng mức đầu tư hơn 411 tỷ đồng.

Nhà báo Hà Thạch Hãn có bài thơ To nhất để làm gì? đã post trên Báo điện tử Tuoitre Online:

"To nhất để làm gì đất nước tôi ơi!

Ai đo đếm xi măng để làm điều vinh hạnh

Bao bà mẹ còn tảo tần trong đói lạnh

Tượng đài kia đổi được mấy mảnh đời

To nhất để làm gì đất nước tôi ơi!

Mẹ Thứ mất chắc không cần rực rỡ

Không cần xênh xang mấy tầng gạch vữa

Trên quê hương khó nhọc lâu rồi

To nhất để làm gì đất nước tôi ơi!

Mỗi bước ta đi quân thù dòm ngó

Biển ngoài kia vẫn chưa yên sóng gió

Thêm tàu to mới là chuyện thức thời

To đẹp để làm gì đất nước tôi ơi!

Đến khắc thơ cũng sai vần, chính tả

Chỉ lòng dân mới đúc thành tượng đá

Bốn trăm tỉ này bia miệng mãi không thôi..."

Báo Tuổi Trẻ đưa tin “Đắk Nông vận động kinh phí xây tượng đài 146 tỉ đồng”. Xây dựng tượng đài N’Trang Lơng và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc (1912 - 1936). Tổng kinh phí hơn 146 tỉ đồng. Công trình này nằm trọn trong khuôn viên rộng gần 6ha trên đồi Đắk Nur (phường Nghĩa Đức, thị xã Gia Nghĩa): "Theo báo cáo thu ngân sách nhà nước tỉnh Đắk Nông đưa ra tại kỳ họp HĐND tỉnh giữa tháng 12.2014, trong năm 2014 tỉnh thu ngân sách đạt 1.354 tỉ đồng (kế hoạch là 1.400 tỉ đồng). Như vậy, kinh phí 146 tỉ đồng chi cho việc xây tượng đài N’Trang Lơng bằng 1/10 ngân sách của tỉnh thu được trong một năm. (TT số ra ngày 23.11.2015).

Bài báo này, có những ý kiến comment như sau: “Tôi chỉ mong sao có một ngày đọc được một mấu tin "Huyện A đang vận động và cố xin kinh phí để xây một bệnh viện mới tầm cỡ, có sức chứa 50.000 giường bệnh, với đầy đủ trang thiết bị hiện đại tương đương bệnh viện ở Singapore"; "Huyện miền núi B đang cố gắng vận động kinh phí xây cầu bắt qua con suối N và trải nhựa cho các tuyến đường từ các buôn làng xa xôi tới trường học, bên cạnh đó trong năm tới huyện sẽ cố gắng xây trường mới với nhiều lớp học khang trang xóa bỏ các lớp học tre nứa cũ". Nếu được vậy không chỉ dân ở Huyện A, huyện B mà bà con trong cả nước ai ai cũng phấn khởi. Nhưng ngày đó có lẽ...”; “Tôi thật không hiểu tại sao bây giờ người ta xem tiền ngoài ngân sách như là tiền từ trên trời rơi xuống, muốn xài sao cũng được! Tỉnh Đắc Nông còn nghèo lắm. Dân đang lầm than, khốn khổ lắm lãnh đạo ơi. Sao cứ thích xây tượng đài, Trung tâm Hành chính hoành tráng (hàng trăm - vạn tỷ đồng) thế?”…

Những ngày này, bãi biển Cửa Đại, (TP.Hội An) lại tiếp tục sạt lở với tốc độ kinh khiếp: chỉ trong một đêm đến sáng biển đã lấn sâu vào bờ 20m.

Cụm từ “gia đình trị”, “con vua thì lại làm vua” đã trở nên phổ biến trở lại.

Từ công trình 17 tầng ở số 8B Lê Trực có thể bao quát toàn bộ khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tòa nhà Quốc hội, tòa nhà Văn phòng Quốc hội. Tổng chiều cao tòa nhà khoảng 60 m, trong khi đó Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ 21,6 m. Vụ việc này đã xử lý. Báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam (số 21.11.2105), nhà thơ trào phúng Tú Châm có bài thơ Cắt ngọn:

Nhà cứ việc xây… xây cao mãi

Xây rồi cắt ngọn… có làm sao?

Phép nước - Ô kìa, đùa dai nhỉ!

Cái cần phải cắt… cắt thì đau

Cắt ngọn làm sao bắt được sâu

Phải đào tận gốc mới bền lâu

Cái kim trong bọc… giờ to nhỉ

Hay mắt quan tham đã loạn màu?

So với trước đây, trên báo chí chính thống, thơ trào phúng đã “mạnh dạn” hơn nhiều lắm.

Ngày 28.11.2105, Công an tỉnh Bình Thuận công bố quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với ông Huỳnh Văn Nén (53 tuổi, ngụ huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận). Bị xử chung thân vào ngày 31.8.2000, tính luôn thời gian tạm giam đến ngày được cho tại ngoại, ông Nén bị giam 17 năm 5 tháng 5 ngày. Với oan sai trầm trọng của ông Nén, báo chí đồng loạt sử dụng cụm từ “người tù thế kỷ”.

Thông tin chỉ có thế thôi ư? Tất nhiên là còn. Y không dủ thời gian, nhiệt tình, cần cù chu đáo và tài liệu như ông Đoàn Thêm để có thể thực hiện những tập sách cần thiết như Việc từng ngày. Nam chi tùng thư ấn hành tại Sài Gòn trước 1975. Chỉ ghi loáng thoáng đôi nét như một cách giết thời gian. Những thông tin này rồi sẽ tan loãng đi thôi. Một thời đại, con người ta đã sống, làm sao có thể quên? Rồi cũng quên đi thôi. Mai này,chỉ còn lại những tình cảm thiêng liêng, có giá trị bất biến, chẳng hạn tình mẹ con, tình chồng nghĩa vợ, tình yêu non sông đất nước…  Vì suy nghĩ thế nên chép lại bài tập làm văn của em nữ sinh Bùi Như Mai, lớp 11C A 3, Trường THPT Trần Đại Nghĩa:

“Những ngày gần đây, Sài Gòn cứ mưa tầm tã, mưa dầm dề, mưa như tiếng nỉ non, day dứt của đất trời mãi không thôi. Mưa mãi như thế, nên đường Sài Gòn dần biến thành sông. Giữa cảnh trời đất mù mịt ấy, chúng ta thấy được nhiều cảnh tượng ấm áp và cảm động đến lạ. Trong đó có hình ảnh một người mẹ, giữa cơn mưa âm ỉ, nước ngập quá bánh xe, ra sức lội nước và đẩy chiếc xe chết máy về phía trước, cố gắng giữ cho đứa con của mình được khô ráo. Hình ảnh ấy khiến cho bất cứ ai nhìn vào cũng thấy sự bao la của tình mẫu tử.

Tình mẫu tử là tình yêu người mẹ dành cho đứa con của mình, kể từ khi đứa con ấy chưa tượng hình đến lúc mẹ nhắm mắt xuôi tay. Tình cảm ấy là vô điều kiện, chẳng có người mẹ nào lúc chăm con lại nghĩ về việc sau này mình được báo hiếu như thế nào, chỉ cần con lớn lên khỏe mạnh là đủ. Khi còn trẻ các cô gái có thể đôi lúc yếu đuối, nũng nịu hay thậm chí choảnh chọe. Nhưng khi đã là mẹ thì tình mẫu tử sẽ cho các cô sức mạnh để cứng rắn, kiên cường vì con mà đứng ra nơi đầu sóng ngọn gió, bởi con là tất cả. Có thể nói, tình mẫu tử không phải thứ tình cảm giản đơn, mềm yếu mà là sức mạnh, là phép nhiệm màu của loài người.

Tình mẫu tử đến với những phụ nữ một cách tự nhiên. Giây phút họ biết rằng mình đang mang trong người một sinh linh bé nhỏ thì trong tim họ tự dưng sẽ nảy sinh cảm giác yêu thương và bảo vệ sinh linh ấy. Thứ tình cảm thiêng liêng ấy không hữu hình như cơm ăn áo mặc hằng ngày nhưng thiếu nó, ắt hẳn không đứa con nào có thể lớn lên toàn vẹn. Khi con còn bé thơ, chập chững tập đi tập nói, thì mẹ sẽ đứng ra chở che cho con, cản những sóng gió cuộc đời, tặng con một tuổi thơ yên bình, ấm áp. Rồi khi con lớn lên từng bước vào đời, mẹ vẫn luôn ở phía sau âm thầm dõi theo von và dẫu con có đi xa đến đâu, chỉ cần quay đầu lại, mẹ vẫn luôn ở đó vì mẹ là nhà, là yêu thương.

Tình mẫu tử còn đồng nghĩa với tình bao dung vô hạn. Dù con có phạm sai lầm điều gì đi nữa, dù cả thế giới có quay lưng với con thì mẹ vẫn sẵn sàng ôm con vào lòng, tha thứ cho con tất cả. Chúng ta có thể thấy hình ảnh những người mẹ tóc bạc phơ, tấm lưng còng xuống vẫn cần mẫn tay xách nách mang các thứ vào trại giam thăm những đứa con lầm lỡ.

Tình mẫu tử còn là sự hy sinh. Chúng ta có thể thấy những tấm gương vượt khó, những học sinh vùng nông thôn nghèo đỗ thủ khoa, á khoa các trường đại học, nhưng mấy ai thấy rằng phía sau đó là những người mẹ chân lấm tay bùn, bán mặt cho đất, bản lưng cho trời, chắt chiu từng đồng để nuôi con ăn học. Còn có bao nhiêu người phụ nữ ngoài kia, vốn có thể hưởng thụ một cuộc sống an nhàn, sung túc nhưng vẫn lao vào lam lũ kiếm tiền để cho con có một tương lai tốt đẹp hơn. Sự hy sinh của mẹ chẳng ai có thể diễn tả hết bằng lời, như một nhà thơ đã viết:

Ngôn ngữ trần gian khờ dại quá

Sao đong đầy hai tiếng: Mẹ ơi.

Tình mẫu tử không chỉ nuôi đứa trẻ lớn khôn và còn có giúp người phụ nữ trưởng thành hơn, dạy họ biết sống vị tha, vị kỷ, biết dẹp bỏ những yêu thích của mình để dành tất cả cho con, dạy họ sống điềm tĩnh, sống mạnh mẽ để làm gương, làm lá chắn cho suốt cuộc đời đứa con bé bỏng. Mẹ yêu con nhiều là thế, nhưng đâu phải lúc nào cũng hiểu lòng mẹ, cũng biết thương mẹ như thương con…

Trên đời còn nhiều người còn không tốt hơn thế nữa. Họ hỗn hào, họ vô ơn với bậc sinh thành. Chỉ cần một lời mẹ lớn tiếng cũng đủ khiến họ giận dỗi bỏ đi, làm người mẹ ở nhà lo lắng khôn nguôi. Nhưng bất hiếu với mẹ nhất là khi mẹ đã hy sinh tất cả, cố gắng mỗi ngày để lo cho ta mà ta lại chây lười, lại không chịu học hành, làm việc, chỉ biết ăn bám mẹ mà thôi. Những người như thế thật đáng trách biết bao. Còn có những người mặc kệ công sinh thành dưỡng dục của mẹ, chỉ vì gia cảnh nghèo khó mà trách mẹ không lo được cho mình.

“Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo”, những người trách mẹ như thế, không hề xứng đáng với tình cảm đấng sinh thành dành cho họ. Bản thân tôi cũng có lúc giận dỗi mẹ. Nhưng khi khôn lớn hơn một chút, tôi đã hiểu mẹ đã hy sinh cho mình nhiều đến chừng nào. Vì thế, mỗi ngày tôi luôn cố gắng học tập, phụ giúp mẹ thật nhiều. Có thể tôi không cho được mẹ sung sướng nhưng tôi chắc chắn có thể cho mẹ hạnh phúc mỗi ngày. Có thể mẹ không cho được con điều tốt nhất trên thế giới nhưng mẹ sẽ cho con điều tốt nhất mà mẹ có. Tình mẹ vĩ đại như thế, cho nên tôi hy vọng rằng bất kỳ người nào cũng sẽ nhận được niềm vui, hạnh phúc và sự yêu thương tương xứng từ những đứa con của họ.

Và: “Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc. Đừng để buồn lên mắt mẹ, nghe không?”.

Chấm bài văn này 9 điểm, cô giáo Nguyễn Thị Lâm ghi trong lời phê: “Cô thực sự xúc động trước những câu chữ mà con viết. Cảm ơn con. Và hãy sống thật xứng đáng nhé”. Đọc bài tập làm văn này chân thành, cảm động còn hơn phải đọc/ nghe hàng triệu triệu lời phát ngôn huếnh hoáng, vô hồn, giả dối đã quá đỗi quen thuộc trên nhiều diễn đàn, hội nghị…

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 27.11.2015

PDF.InEmail

 

d9d21968-7f7d-4e9e-92b7-ea46aa2666da1

 

“Cái đất nước mình, nó thế”. Cái tặc lưỡi, câu chép miệng kiểu cà rỡn, tếu táo, than phiền, trách móc của giáo sư Hoàng Ngọc Hiến có thể trở thành một thứ slogan còn tồn tại lâu dài. Mà nó chính xác. Có tính khái quát. Ai nghĩ sao, hiểu sao cũng được.

Đã xuất hiện hàng loạt cụm từ mới, chẳng hạn, “anh hùng bàn phím”, “tư duy nhiệm kỳ”, “tầm nhìn nhiệm kỳ”, “hoàng hôn nhiệm kỳ”, “chuyến tàu vét trước khi hạ cánh”, “đánh chuột đừng để vỡ bình, “di chuyển nhúc nhích, không gọi là ù tắc”, “từ chức là từ chối nhiệm vụ được giao”, “con lãnh đạo làm lãnh đạo là hạnh phúc của dân tộc”, “đường cong mềm mại”, “cong mềm mại chứ không phải cong hình ghi đông xe đạp”, “bán vé số đủ ăn”, “lỗi của vắc xin thì xử vắc xin”, “dân trí thấp, không thể tuỳ tiện trưng cầu ý dân”, “tôi coi đây là một trận đánh lớn”, “không phong tướng, anh em tâm tư”, “cần luật hóa cho phép chạy chức, chạy quyền”, “Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai?”, “nếu chúng ta không giáo dục cho con cháu rưng rưng khi hát Quốc ca thì đất nước không thể giàu mạnh”. "cứ vi phạm mà kỷ luật hết thì lấy ai mà làm việc", “nếu sâu bọ lằng nhằng thế này không cách gì phát triển được”, "phải cách ly người nghèo ra khỏi người giàu", "bút sa... hoa hồng nở", "bịt mắt bắt tham nhũng", "chuyển trách nhiệm cho Bộ trưởng kế tiếp”, đường từ dạ dày đến nghĩa địa chưa bao giờ ngắn thế", "bộ máy nhà nước béo phì", "trên bảo dưới không nghe", "trên nói một đằng dưới triển khai một nẻo", "người ứng cử đại biểu Quốc hội phải khám tâm thần", "tứ đại ngu", v.v… và v.v...

Còn có thể liệt kê thêm nhiều nữa. Những cụm từ, những câu nói trứ danh này đều có tích có tuồng. Sau này, các nhà ngôn ngôn ngữ học, muốn giải thích tường tận ắt phải đi truy tìm lại hoàn cảnh ra đời của nó. Nó hoàn toàn Việt  Nam, không hề vây mượn gì từ điển tích, điển cố nước ngoài. Hầu hết các câu thành ngữ đều gắn liền với sự việc cụ thể nào đó, có điều về sau, không ai biết đến nguyên cớ ra đời của nó đó thôi. Chẳng hạn, “nhất quận công, nhì ị đồng”, “phép vua thua lệ làng”, “treo đầu dê, bán thịt chó”. “gương vỡ lại lành” v.v…

Riêng cái câu bông phèn “cái mặt nhìn thấy ghét”… Tưởng nói vui, tất nhiên chỉ cho vui, nói xong rồi bỏ, chẳng ai có thù oán ai đến độ giữ mãi trong lòng bởi cuộc đời còn quá nhiều chuyện phải lo toan. Ai cũng đau đáu cơm ăn áo mặc. Chỉ duy có ông quan chức đứng đầu tỉnh không nghĩ thế. Ấy mới sinh chuyện. Cả tuần nay, mạng xã hội liên tục có ý kiến cười cợt, dè bĩu, chê trách phép úng xử chung quanh một chuyện rất buồn cười.

Rằng, trên facebook nọ, cô giáo viên nọ “phát biểu cảm tưởng” về một người thuộc hàng “đày tớ của dân”: “nhìn cái mặt kênh kiệu, xa dân”. Người khác đồng tình bèn like. Đơn giản như đang giỡn, đang đùa cợt mà cũng có thể đang tức giận nên nó mới xuất hiện trên status. Nhưng rồi lại trở thành lớn chuyện khi có văn bản phạt mỗi người 5 triệu đồng với lý do “nói xấu” quan chức. Điều bất ngờ, kỳ quặt, không thể tưởng tượng nổi là có đến 16 cơ quan ở tỉnh nọ cùng vào cuộc để xử lý. Theo thông kê của báo Lao Động - cơ quan ngôn luật của Tổng Liên đoàn Viêt Nam, số ra ngày 23.11.2104: “Chê một câu, 16 cơ quan cùng vào cuộc”. Xin liệt kê như sau:

Cơ quan thứ nhất, Phòng Tham mưu Công an tỉnh (PV11); thứ 2, Đảng ủy khối Dân chính đảng; thứ 3, Phòng An ninh Chính trị nội bộ (PA83) Công an tỉnh; thứ 4, Sở Thông tin truyền thông tỉnh; thứ năm, Trường THPT tỉnh, nơi tác giả câu nói đó đang là giáo viên dạy tại trường; thứ sáu, UBND thành phố thuộc tỉnh nọ ra công văn về việc sử dụng mạng xã hội; thứ bảy, Phòng GDĐT thuộc cấp thành phố ra công về việc nghiêm cấm “like”, “share” trên facebook; thứ 8, Ủy ban kiểm tra Đảng ủy khối; thứ 9, Sở GD&ĐT; thứ 10, Sở Công thương; thứ 11, Đảng ủy khối doanh nghiệp; thứ 12, Công ty Điện lực  tỉnh; thứ 13, Văn phòng UBND tỉnh ra công văn giao Cổng thông tin điện tử tỉnh (cơ quan thứ 14) và Báo của tỉnh đảng bộ (cơ quan thứ 15) phải nhanh chóng đăng tải kết quả xử lý lên phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian sớm nhất. Và cuối cùng, cơ quan thứ 16, là kho bạc nơi thu tiền những người bị phạt vì tội “nói xấu” quan chức cấp tỉnh. Ôi, cái thời gì lạ lùng quá. Người ta thèm tiếng khen hơn là nhìn nhận lại, tự hỏi vì sao bị chê. Mà nghe cúng chê, ắt phải huy động cả một máy chính quyền "xử trảm " cho bằng được.

Bài báo viết tiếp: “Trên đây là con số thống kê “sơ sơ” của chúng tôi, qua những văn bản đang cầm trong tay… Nhiều địa phương khác có tham gia hay không, chúng tôi chưa kiểm chứng được”. Thành ngữ tiếng Việt có câu “dùng dao mổ trâu cắt tiết gà”, hoàn toàn có thể áp dụng trong trường hợp này. Chưa hết, chiều ngày 24.11.2015, Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức cuộc họp khẩn để giải quyết dứt điểm vụ chê chủ tịch tỉnh trên trên facebook. Phải dứt điểm trong ngày 25.11.2015. Đọc xong những thông tin này, chỉ có thể thở dài một tiếng. Một tiếng thở dài.

Hơi đồng đã sạch mồm ông lớn

Mặt sắt còn bia miệng thế gian

Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn

Cho nên quân nó dễ làm quan

Thơ của Tản Đà. “Mặt sắt”, trước đó, Nguyễn Du đã có câu “trông lên mặt sắt đen sì”. Ngẫm mà buồn. Đã buồn, cho buồn luôn thể. Thử liệt kê thêm một vài chuyện khác, nhằm minh họa cho câu nói của ông Hoàng Ngọc Hiến? Ừ, cứ cho là thế. Thông tin này không hề bịa, báo Cảnh sát toàn cầu thuộc Bộ Công An, ngày 5.11.2015 có bài viết với tiêu đề: Tôn Ngộ Không bị nhốt ở Đà Nẵng (?!): "Trước đây tôi đọc thì tôi chưa nghĩ, chưa biết ngọn núi Ngũ Hành. Bây giờ xem phim "Tôn Ngộ Không" thì tôi hình dung cũng có thể trước đây - cách đây hơn 500 năm Tề Thiên Đại Thánh có khi bị đè ở trong ngọn núi Ngũ Hành ở Ngũ Hành Sơn". Đó là phát biểu của ông Võ Văn Thương, Bí thư Quận ủy Hải Châu - Đà Nẵng tại kỳ họp lần thứ 14 khoá 8 (2011-2016).

Buồn cười quá đi chứ? Vậy cười lên một tiếng cho vui. Bởi nghĩ cho cùng, cũng chỉ chuyện vặt. Không đáng có ý kiến. Cái này mới choáng hơn: Bộ GD-ĐT vừa ban hành quyết định cho phép Trường ĐH Kinh doanh và công nghệ Hà Nội được đào tạo ĐH chính quy với hai ngành y đa khoa và dược học. Văn bản này có hiệu lực thi hành từ ngày 19.11.2105. Đã nghe nhiều tiếng cười trên các mạng xã hội về quyết định táo bạo này. Bèn cười theo. Vừa định há mồm ra cười, sực nhớ đến những lời mắng của nhà văn hóa Nguyễn Văn Vĩnh: "An Nam ta có một thói lạ là thế nào cũng cười. Người ta khen cũng cười, người ta chê cũng cười. Hay cũng hì, mà dở cũng hì; quấy cũng hì. Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang”.

Thật ra, có những câu nói không thể bỏ qua, làm ngơ, tặc lưỡi: Thôi, “bỏ qua đi Tám”, cười khì một tiếng là xong mà phải tỏ thái độ. Thái độ đó chính là trách nhiệm công dân trước vận mệnh của dân tộc. Chứ không phải cúi đầu cắm mũi vào những chuyện “ruồi bu kiến đậu”, vớ vẩn, ấm a ấm ớ rồi cãi nhau ngậu xị như mổ bò. Cãi như chém chả. Mới đây thôi, ngày nọ, tháng kia, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc sang thăm hữu nghị nước ta và oang oang đọc thơ, khẳng định, "Tay trong tay mở ra tương lai tươi đẹp cho quan hệ Trung - Việt". Nhưng chỉ qua ngày hôm sau, câu nói trên chưa ráo bọt mép thì tại Đại học Quốc gia Singapore lại tuyên bố: "Các đảo ở Biển Đông là lãnh thổ Trung Quốc từ thời cổ đại" và Bắc Kinh sẽ phải bảo vệ cái gọi là “chủ quyền và lợi ích hàng hải của mình”. Đúng là trở mặt, lật lọng. Lá mặt lá trái vốn là bản chất của "thật thà như thể lái trâu", ông bà mình nói đố mà sai.

Hôm qua, ngày 26.11.2014, Báo Tuổi Trẻ đưa tin: “Tàu chiến Trung Quốc chĩa súng vào tàu tiếp tế Việt Nam: "Tàu chiến 995 của Trung Quốc mở bạt pháo 37 ly, điều khoảng 10 người mặc quân phục dàn đội hình chiến đấu và chĩa AK từ boong tàu 995 sang tàu Hải Đăng 05”. Trước sự việc nghiêm trọng này, Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm đã phát biểu một câu “để đời” rất đáng lưu ý: "Gặp nhau thì nói tốt, hết gặp lại cho làm bậy”. Câu nói này rất cần sự ủng hộ, đồng tình, chia sẻ của mọi người nhưng rồi dư luận chung như thế nào? Đọc lại bài thơ trào phúng của nhà thơ Cử Tạ, in trên báo Văn Nghệ TP.HCM số ra ngày 23.2.1979 "Tập Kiều chủ nghĩa bành trướng", lúc Trung  Quốc xâm lược các tỉnh biên giới phía Bắc:

Triều đình riêng một góc trời

Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương

Ma dẫn lối, quỷ đưa đường

Một dây một buộc ai giằng cho ra?

Phải rằng, nắng lóa đèn lòa

Lần lần theo bóng trăng tà về Tây?

Bây giờ sự đã dường này

Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi

Sự đâu sóng gió bất kỳ

Thiệt đây mà có ích gì đến ai

Gớm cho những miệng dông dài

Nói rồi rồi lại ăn lời như không

Bốn bề bát ngát xa trông

Máu tham hễ thấy hơi đồng là mê

Nói ra trở mặt tức thì...

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC:Nhật ký 24.11.2105

PDF.InEmail


kieu-250-nam-1-R

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 9 trong tổng số 45

298
trinhduyson