LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.12.2017



24862164_810553412463358_5551402071256323193_n

 

Đã đọc Nhật ký qua các tập Ngày trong nếp ngày, Ngày viết mỗi ngày, Ngày sống đời thơ, Ngày đi trên chữ ắt nhận ra, thỉnh thoảng y đã tẩn mẩn ghi lại dấu vết lời ăn tiếng nói của tháng ngày đang sống. Ghi để làm gì? Sự thay đổi của một xã hội, còn phản ánh qua ngôn ngữ/ngôn từ chứ không chỉ khảo sát từ những vấn đề to tát chẳng hạn, kỷ cương, luật pháp, chính sách… có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt, nếp sống toàn dân. Mới đây, cũng lời ăn tiếng nói đang phổ biến, khi đọc/ nghe cái câu vừa xuất hiện, y đã ngẩn tò te. Bèn vận dụng trí khôn ngoan đã từng đọc nhiều sách, nghe ngóng nhiều nơi nhưng rồi cũng bù trấc.

Rằng, “5c, 6 ệ, 5 d” là gì?

Xếp nó vào dạng “thành ngữ” mới ra lò hay công thức toán học?

Nếu các nhà làm từ điển tài ba cỡ nhà truyền giáo Đắc Lộ, Huình Tịnh Paulus Của, Lê Văn Hòe, Lê Ngọc Trụ, Lê Văn Đức, Thanh Nghị… từ các thế kỷ trước sống lại e cũng chào thua. Mà cũng phải thôi. Họ không đồng hành cùng chúng ta, làm sao có thể nắm bắt? Tựa như có nhiều vốn từ/ ngữ phổ biến thời đó, nay tìm lại đôi lúc ta cũng ngắc ngứ, đơn giản chỉ vì không còn ai sử dụng nữa. Thời gian đã phủ lên đó lớp bụi mờ lãng quên. Lạ thay, có những từ đồng hành gần đây nhưng rồi đâu phải ai cũng hiểu, ai cũng có thể giải thích rõ nội dung và nhất là nó đã ra đời trong hoàn cảnh nào, lý do tại làm sao?

Trong bài viết Làm nghiêm để lấy lại lòng tin trên báo Tuổi Trẻ số ra ngày 10.12.2017, khi phát biểu về vấn đề Quy trình bổ nhiệm đúng mà sao cán bộ sai?, ông Lê Như Tiến - nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội đã “bật mí” về “công thức” rặt các con số “5c, 6 ệ, 5 d” như sau: “Đúng là việc sử dụng cán bộ theo công thức 5 "ệ" (quan hệ, tiền tệ, hậu duệ, đồ đệ, trí tuệ), 5 "c" (con cháu các cụ cả) đang rất phổ biến. 5 "ệ", 5 "c" đè lên các nguyên tắc khác, dẫn đến hậu quả 5 "đ" (đố đưa đi đâu được)”.

Chỉ ghi đến đây thôi, không dám có thêm lời bình, Vì rằng, trong thời đại đang sống có những điều kỳ quặc đã trở nên bình thường. Riết rồi, chẳng gì đáng ngạc nhiên. Trước kia, kỳ thi nọ ở tỉnh nọ ra đề cho các em học là bàn về chuyện ca sĩ Sơn Tùng đau răng. Báo chí phản ứng ầm ầm. Nay lại một ca sĩ khác cũng nhảy xổm vào đề thi, hầu như báo chí không mấy quan tâm nữa, xem như đã bình thường. Xét rằng, tình thần phản biện trên báo chí dường như đã “chuyển giao” cho các trang mạng xã hội rồi chăng?

Thật khốn khổ khốn nạn cho các bậc phụ huynh khi biết rằng, con cái mình phải “Nung nấu tâm can vò võ trán” với cái đề thi chết tiệt này: “Chi Pu tên thật là Nguyễn Thùy Chi, cô bắt đầu nổi danh từ cuộc thi Miss Teen 2009, hiện là một hot girl được nhiều bạn trẻ yêu thích. Tháng 10 vừa rồi, Chi Pu tung MV Từ hôm nay đánh dấu chuyển mình trở thành ca sĩ. Ngay lập tức, cô vấp phải nhiều tranh cãi trên mạng xã hội.

Hương Tràm là người đầu tiên đưa ra quan điểm mạnh mẽ: ‘Không biết hát thì đừng mang nghề ca sĩ ra để kiếm tiền. Tóc Tiên, Thanh Lam, Thu Minh, Quốc Thiên, Văn Mai Hương cũng có cùng quan điểm. Không chỉ vậy, ảnh chế về cô xuất hiện ở khắp nơi. Những clip xuyên tạc được thực hiện thu hút hàng trăm nghìn lượt xem.

Mặc dư luận ‘ném đá’, giọng ca Từ hôm nay cho biết cô không bị ảnh hưởng nhiều bởi điều này. Hiện, cô vẫn tiếp tục luyện tập thanh nhạc để chứng minh con đường ca hát mình chọn là đúng, mỗi tháng cô sẽ ra mắt một MV.

Hãy hóa thân vào Chi Pu, viết một bài văn tự sự có sử dụng yếu tố biểu cảm kể về một ngày của mình sau khi ra mắt MV Từ hôm nay”.

Đôi khi chẳng thiết phải Nhật ký nữa. Bởi những trò hề nhảm nhí, nhố nhăng bất kỳ ai có nhận thức một chút, chưa đến nỗi phải tạm trú ở nhà thương Biên Hòa cũng thừa biết rằng không nên nói/viết/đề xuất vấn đề đó nhưng rồi nó vẫn cứ diễn ra, chẳng lẽ, mỗi ngày phải ghi nhận rồi bình luận về nó? Có mà ngộ độc chết tươi. Hãy tập cách bình tâm và phớt lờ, cái đề thi nêu trên mà một thí dụ; “đấu tố” nhân vật Chí Phèo để đòi loại bỏ ra khỏi sách giáo khoa là một thí dụ; cải cách chữ Quốc ngữ của Bùi Hiền là một thí dụ v.v… Điều đáng nói hơn cả là sự quái gỡ kỳ quặc đó lại xuất phát từ những người có ăn có học, chứ không phải hạng cùi bắp dốt nát i tờ… Thế thì, bao nhiêu năm các con em chúng ta đã được học hành, học tập từ các bậc nhà giáo uyên bác và  đáng kính ấy?

Mà nào đã hết đâu. Thì cũng báo Tuổi Trẻ ngày 7.12.2019 thông tin rằng: “Giờ vào lớp quá sớm, học trò đờ đẫn vì thiếu ngủ”. Có phải học để làm quan hay không mà từ trước 6 giờ sáng các em học lớp 1 phải thức dậy chuẩn bị đến trường? “Tương tự, tại TP.HCM, hầu hết các trường THCS, THPT đều quy định 6h45 học sinh phải có mặt ở trường. Nhiều trường lấy luôn giờ này là giờ bắt đầu vào tiết 1”. Thậm chí “Để ngăn ngừa tình trạng học sinh đi học muộn, một số giáo viên còn ra "quy định riêng" với lớp mình, là học sinh phải có mặt vào 6h40!”. À, chuyện này không mới, còn nhớ Nhật ký mấy năm trước đã ghi nhận. Dù các bậc phụ huynh la oai oái nhưng nay, có thay đổi gì đâu, “vũ như cẩn”, dẫm chân tại chỗ.

Nhân đây, cũng trích lại từ số Tuổi Trẻ vừa nêu trên để xem học sinh các nước trên thế giới đã vào lớp học có gì khác ta? “Vào tháng 5 năm nay, Singapore có một cuộc tranh cãi về giờ đi học. Hầu hết các trường tại Singapore bắt đầu giờ học lúc 7h30, nhưng trường nữ sinh Nanyang Girls’ High School đã gây chú ý khi dời thời gian vào lớp trễ 45 phút: 8h15. Lý do trường này đưa ra là học sinh cần ngủ đủ giấc để đảm bảo sức khỏe, có buổi sáng tỉnh táo.

Tại Trung Quốc, ở các thành phố lớn, phát triển như Bắc Kinh, Thượng Hải, học sinh thường đi học muộn (ít nhất 8h mới nhập học), và kết thúc lớp học vào khoảng 3h chiều, sớm hơn 2 giờ so với mặt bằng cả nước. Cách thức bố trí thời gian này tương đồng với hầu hết các quốc gia châu Âu, khi giờ nhập học phải sau 8h sáng, và thường kết thúc lúc 14h30- 15h.

Riêng tại Phần Lan, quốc gia nhiều năm nay được ca ngợi về chất lượng giáo dục, có những trường mở đầu ngày học từ 9h-9h45 (mặt bằng chung là 8h-9h sáng), và kết thúc lúc 14h. Trung tâm Phòng chống và kiểm soát dịch bệnh Mỹ cũng khẳng định mốc vào học 8h sáng hiện nay là quá sớm, khuyến cáo các trường chỉ nên cho học sinh vào lớp sau 8h30.

Năm 2014, tờ Herald Sun cho biết bộ trưởng giáo dục Úc Martin Dixon ủng hộ việc linh hoạt giờ giấc vào lớp hơn. Lấy ví dụ, trường điểm Melbourne High School cân nhắc giờ khởi đầu lớp học là 9h30, trong khi Trường Templestowe bắt đầu tận 10h30 sáng”.

Trong nhiều việc làm cần thay đổi, hầu như những ai đó được phong “tổng tư lệnh” của ngành nào đó thường nghĩ đến những việc đội đá vá trời. Trong khi đó thân phận dân đen chỉ ước gì thay đổi từ những việc nhỏ nhặt nhất, sát sườn nhất. Được thế đã là may, chứ cần gì phải những gì to tát mà phù phiếm. Mà việc nhỏ làm không xong thì kham sao nổi việc lớn? Theo dõi thời sự hằng ngày, dễ dàng nhận một điều là có những việc ì ạch, trì trệ quá lâu, dù công luận đã lên tiếng ầm ầm. Thế thì, đôi lúc lại tự hỏi: Đâu là tiếng nói của báo chí nhằm tác động thay đổi một vấn đề nào đó cho xã hội ngày một tốt đẹp hơn?

 Khi Chế Lan Viên viết: “Quanh hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê/ Lòng ta đã thành rêu phong chuyện cũ”. Dửng dưng mọi việc. Không quan tâm gì sất. Có phải đó lúc con người ta quá ngao ngán với hiện thực trần trụi đã diễn ra từng ngày chăng? Có phải đó lúc con người ta cảm thấy mệt mỏi đến bất lực, biết rằng không thể thay đổi được điều gì tốt đẹp hơn, chi bằng chui vào cái tôi tủn mủn nhỏ bé để tìm quên chăng? Nói gì thì nói, sống trong một xã hội tốt đẹp, văn minh, người đối sử với người như đồng loại thì con người ta mới quan tâm đến các giá trị văn hóa chăng? Bằng không chỉ là những vặt vãnh xoay quanh miếng cơm manh áo chăng?

Hằng ngày, y vẫn ngồi một chỗ, cùng bàn phím viết nhì nhằng nhưng đôi lúc cũng thoát ra “tháp ngà văn chương”. Đi xuống phố. Gặp bạn bè nọ kia cùng “buôn dưa lê”. Thật lạ, hầu như không một ai quan tâm, nhắc đến một hai sự kiện văn hóa vừa diễn ra. Biết đâu vẫn có người quan tâm đấy chứ? Ừ, hy vọng là thế. Ghi lại kẻo quên: Hát Xoan Phú Thọ và nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Rằng, tại Jeju, Hàn Quốc, chiều ngày 7.12.2017 trong kỳ họp thứ 12 của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003, Nghệ thuật Bài Chòi Trung bộ Việt Nam đã được chọn. Ngày 8.12.2017 sau khi được UNESCO đưa ra khỏi danh mục bảo vệ khẩn cấp, Hát Xoan Phú Thọ cũng ghi danh vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại.

Báo Thể thao & Văn hóa ngày 7.12.2017 cho biết: “Theo tiêu chí của UNESCO, để được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, hồ sơ Bài Chòi của Việt Nam đã đáp ứng được 5 tiêu chí, chẳng hạn: “Nghệ thuật Bài chòi là một hoạt động văn hoá quan trọng trong cộng đồng làng xã, đáp ứng nhu cầu giải trí và thưởng thức nghệ thuật của cộng đồng, được truyền dạy chủ yếu trong trong gia đình, làng xóm, hội, câu lạc bộ và trường học. Việc thực hành di sản Nghệ thuật Bài Chòi thúc đẩy sự bình đẳng về giới tính cũng như sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng. Việc ghi danh Nghệ thuật Bài Chòi khuyến khích đối thoại giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân; tạo cơ hội trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm giữa những người thực hành, qua đó làm phong phú kiến thức và kỹ năng liên quan đến việc thực hành các hình thức nghệ thuật...”.

Sức hấp dẫn của bài chòi, theo y vẫn còn là sự độc đáo “bình cũ rượu mới”. Các con bài, thể lệ chơi vẫn giữ như cũ nhưng trong quá trình chơi, tùy theo cách hô của anh hiệu mà nội dung khác đi. Dù chuyển tải nội dung khác đi nhưng vẫn phải ra con bài đó. Nói được liên tục làm mới. Mỗi thời mỗi khác. Mỗi nơi mỗi khác. Nội dung của “hô thai” có hấp dẫn, có gây vui nhộn hay không còn phụ thuộc vào khả năng ứng biến ngẫu hứng/ chuẩn bị trước của anh hiệu. Khi đọc các sách nghiên cứu về bài chòi, ắt gặp những câu quen thuộc được xếp vào hàng “kinh điển”, tuy nhiên, không chỉ dừng lại đó mà nó còn biến hóa liên tục. Nhờ vậy, người chơi/người tham dự luôn thấy mới mẻ, không nhàm chán do các câu hô thay đổi, không lặp lại.

Năm kia, nhiều năm kia đi chơi Hội An, y đã chú tâm mua các con bài sử dụng chơi bài chòi, nhưng lại không tìm ra. Trong khi đó, cũng chỉ là thứ quen thuộc nơi nào cũng có. Thế mới biết, mặt hàng lưu niệm của ta nghèo nàn biết chừng nào. Ít có sự đột phá, tạo ra được nét biểu trưng văn hóa của địa phương đó, vùng đất đó.

Thông thường vào dịp cuối năm báo chí trong và ngoài nước lại bình chọn nhân vật tiêu biểu của năm. Ở nước Đại Nam này, y đề cử "nhân vật" nào nổi đình nổi đám nhất trong năm? Chỉ có thể là ông BOT chăng? Chỉ có thể là cái lò được đốt nóng bằng củi khô lẫn củi tươi chăng? Đã sắp hết một năm. Lại những ngày viết báo Xuân, báo Tết. Lại những ngày, “Ngồi buồn vọc với sắc màu/ Tím reo đỏ hát rầu rầu nắng mai/ Từ trong một đã là hai/ Kìa hiên Lãm Thúy nọ vai Thúy Kiều/ Tiền Đường xô dạt bóng xiêu/ Vớt lên Dĩ Vãng những chiều rỗng không/ Vẽ chơi lưu dấu bụi hồng/ Bàn tay mười ngón phiêu bồng nhẹ tênh”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 1.12.2017

3-BAI-THI-VIET-O-DA-NANG-THANG-11.2107

 

Có những ngày đời ta không nhật ký

Là những ngày trống vắng của đời ta

Bạn bè ngậm cay, người tình nuốt đắng

Ngẫm lại mình còn nhiều nỗi xót xa


Mình đã vậy thì chẳng cần phải viết

Dù lời buồn căm giận thấu cô đơn

Ta ngồi vẽ mười ngón tay mình vậy

Thấy hay hay rơi bảy giọt cầu vồng


Rồi lại nhặt với từng hồi ký ấy

Gặp lung linh trên những sắc và không

Vui hớn hở nhưng chưa từng sát hại

Một cành hoa mê mãi giữa cánh đồng...


Ấy là những câu thơ của Trần Hoàng Nhân tặng y. Vì rằng, cơn cớ tại làm sao có những ngày y lại không Nhật ký? Rằng, ông bà mình đã nói, đố sai: “Xay lúa thì khỏi bồng em”. Đã bận việc này, tất  nhiên phải thôi việc kia. Không thể ôm đồm. Cả nửa tháng vừa rồi, phải tập trung cho xong một quyển sách. Mẹ đã đi chợ về. Nhan đề hiền lành và giản dị. Có những điều bình dị, đến lúc mất đi, không gặp lại nữa, bấy giờ con người ta mới sững sờ tiếc nuối.

Sáng 29.11 là thất tuần của bạn cụ. Vừa bước xuống sân bay Đà Nẵng, chỉ kịp lấy quyển Ngày đi trên chữ, bản đầu tiên lấy ra từ nhà in, ghi tặng thật nhanh để Đoàn Tuấn kịp làm thủ tục bay đi Hà Nội. Chỉ chớp nhoáng. Kể ra cũng có sự thú vị của tình bạn. Lại nữa, có người bạn thân thiết từ năm tháng học vở lòng quyết định dời sinh nhật để y và nhà văn Nguyễn Nhật Ánh có dịp chung vui. Bạn Nguyễn Văn Sanh, nay đang là cán bộ của Phòng văn hóa Thông tin của quận Hải Châu. Tác phẩm Chúc một ngày tốt lành, chính tác giả ký tặng bạn. Còn y, theo yêu cầu của bạn ngoài rượu, còn là bài thơ nữa. Phải viết trên giấy dó làm kỷ niệm lâu bền.

Thơ rằng: “Bạn bè từ thuở lên 5/ 50 năm vẫn còn cầm bàn tay/ Tình thân thuở chớm con trai/ Từ xuân hồng đến thu phai vẫn tình/ Bạn nhìn mình lại thấy mình/ Mình cùng bạn vẫn nặng tình thủy chung”. Trong đời may mắn cho những ai có bạn thận thiết, chí cốt để có thể nhẹ nhàng bật ra những câu thơ tự lòng, không gì phải hoa hòe hoa sói rỗn rãng chữ nghĩa. Khổ tâm đối với người cầm bút, rất ư Kép Tư Bền vẫn còn là vì lý do gì đó, dù không thích nhưng vẫn cứ viết như thể rút ruột ra mà viết. Y lại khác. “Bạn nhìn mình lại thấy mình”. Một câu thơ có 2 từ “mình”, tưởng 1 nghĩa nhưng thật ra lại là 2. Cách viết này cũng là một cách học tập ca dao: “Nước non một gánh chung tình/ Nhớ ai, ai có nhớ mình hay chăng?”. “Nhớ ai” là nhớ đến người nào, một câu nghi vấn, do chưa biết nên mới hỏi. Nhưng “ai nhớ” lại là câu hỏi dành cho người cụ thể, rõ ràng. Cùng 1 từ ai nhưng lại có 2 nghĩa khác nhau.

Bạn nhìn mình” là lúc ấy, bạn nhìn vào người đối diện bởi tác giả tự xưng mình. Lúc nhìn ấy, bạn thấy gì? “lại thấy mình” thì mình lần này, chính là bản thân bạn. Khác hẳn cách biểu đạt trong ca dao như: "Mình về mình nhớ ta chăng/ Ta về ta nhớ hàm răng mình cười". Còn trong ngữ cảnh của bài thơ mà y đã viết, “ta” lại hóa thành “mình” để lái qua nghĩa khác dù vẫn ngầm hiểu là “ta”. Nói cách khác với bạn bè thân thiết cùng trang lứa, khi nhìn bạn cũng là lúc lại thấy thời gian đã đi qua của chính mình.

Bạn đã 50 năm rồi. Ít ỏi gì nữa?

Về Đà Nẵng lần này, tâm trạng thế nào? Câu thơ của Trần Hoàng Nhân ngẫu nhiên, lại đúng: “Ngẫm lại mình còn nhiều nỗi xót xa”. Xót xa gì mà còn? Vẫn là ước nguyện của bà cụ mà y chưa thực hiện xong, tức là phải bước ra ngoài tâm thế, ra khỏi không gian tự vấn của từ nhiều năm trước: “Đi không ai nhớ/  Về chẳng ai mong/  Xa không ai đợi/ Gần chẳng ai trông/ Mình tôi một bóng/ Sống phải phân tâm/ Vừa đóng vai vợ / Lại diễn vai chồng”. Quái quỷ, chiều nay, lúc  bước xuống sân bay Tân Sơn Nhất, câu thơ ấy bất ngờ vọng đến khiến rười rượi nao lòng.

Cảm giác bơ vơ ấy đè nặng tâm hồn là lúc con người ta một mình bước đến sân bay, sân ga, bến tàu… Sự đi/ đến ấy là một sự rỗng không, trống rỗng bởi dù chậm, dù nhanh chẳng có ý nghĩa gì cả. Có ai đang trông ngóng, chờ đợi gì đâu mà mình phải náo nức, phải bực rực đếm từng giây từng phút? Nỗi cô đơn da diết buồn bã của những ai xa nhà vẫn là lúc họ không thể về/ phải về chậm vẫn là khi biết có người thân đang ngóng đợi.

Còn y thế nào?

Chỉ nghĩ đến đó, đã thấy trong lòng một đường hầm sâu hun hút. “Đã từng ngày ngập lụt/ Nỗi hiu hắt rỗng không/ Phía bên ngoài đời sống/ Có ai hiểu tôi không?/ Tôi níu mây hỏi gió/ Chỉ gặp cuối chân trời/ Một câu thơ thất lạc/ Chỉ là cái bóng tôi”. Chẳng gì cả. Chỉ là cái bóng của chính mình. Người ngong ngóng đợi y từng giây, từng phút vẫn là mẹ. Nay còn đâu. Về nhà căn nhà của năm tháng tuổi thơ, nằm trên giường mẹ đã nằm năm tháng cuối đời. Làm sao lại không nhớ về ngày tháng yên vui nhất của đời mình? “Căn phòng xưa mẹ nằm/ Nhường cho con hơi ấm/ Bây giờ mẹ về đâu?/ Vọng lời thưa mây trắng/ Chân trời ngọn hoa lau/ Ru câu kinh thầm lặng”. Và như tất cả mọi người con lúc mất mẹ: “Mọi hoa hồng, với con/ Từ đây đều hóa trắng…”.

Tập sách Mẹ đã đi chợ về viết về mẹ, ba, anh, chị đã xong. Có bổ sung gì không? Chỉ thêm 1 bài thơ. Vậy là đủ.

Rồi lại trở về với những tháng của Nhật ký. Với y cũng là một cách trò chuyện đấy thôi. Không ai có để bù khú, tán phét, buôn dưa lê, bàn chuyện tào lao trên trời dưới đất, tâm tình thân mật thì y phải tìm cách khác: Nhật ký. Vậy mình trò chuyện với mình vậy. Không viết thì vẽ. Vẽ cũng chẳng khác gì. Cũng là lúc tỉ tê, hỏi han lấy mình vậy. “Ta ngồi vẽ mười ngón tay mình vậy/ Thấy hay hay rơi bảy giọt cầu vồng”, Trần Hoàng Nhân nói đúng lắm.

Cuối cùng là gì? Không riêng gì Nhân, bạn đọc và đồng nghiệp đã thấy rõ một điều: Những trang viết dựng lên một đời viết. Đôi lúc, y cũng cảm thấy ngao ngán, thở dài: “Viết gì lắm thế, ngày nào cũng viết?”. Làm sao có thể trả lời đây, hả Q? Chẳng biết nữa.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 18.11.2017

 

phoca_thumb_l_le-minh-quoc-y5tat-ca-deu-lammcon-nho-me

Tất cả đều làm con nhớ mẹ

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 16.11.2017

phoca_thumb_l_le-minh-quoc-2metoi_ngoi_khua_ao

Mẹ tôi ngồi khâu áo

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 13.11.2017

ba-mebua_com_c_me

 

Bữa cơm có mẹ

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 11.11.2017

Anh-DTT.-Phong-Quang1RR

Nhà văn, nhà báo Dương Thành Truyền

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 12.11.2017

ramatveit-tu-hoi-ay-3-tho-tien-3R

 

Sáng hôm qua, thứ bảy, dù ngày nghỉ nhưng cũng phải ra Đường sách. Làm MC giúp nhà báo Ba Thợ Tiện trong chương trình ra mắt bộ sách Viết từ hồi ấy (2 tập - NXB Hội Nhà văn) của anh. Anh em bồ tèo ra sách mới, tự dưng thấy lòng vui. Cũng là một cách thúc giục mình phải viết, rồi cũng có sách mới. Mai sau, còn lại gì không? Cứ hỏi, chẳng thèm trả lời cứ cắm cúi viết từng ngày, mỗi ngày. Cầm bộ sách của một người đã viết ròng rã từ năm 1975 đến thời gian gần đây, dù những bài tạp bút có tính thời sự nhưng đã thấy nể nang. Hai tập cả hàng ngàn trang in. Đã từng viết từng chữ, từng chữ, mới biết sự lao động ấy nhọc nhằn ra làm sao.

Ối dào, lúc ấy trên đỉnh trời, mây trắng vẫn thong dong, vẫn lãng du nhẹ tênh như không. Hỡi ôi, ta lại cúi mặt gõ từng chữ, từng chữ. Buồn hay vui. Có tị nạnh không? Không hề. Đã mây thì bay/. Đã nước thì chảy. Đã cỏ thì xanh. Đã cầm bút thì viết. Khi viết Lời giói thiệu bộ sách này, bạn y, nhà nghiên cứu văn học Bùi Quang Huy kết luận: đó là “con người kỳ quặc”.

Đúng vậy. Từ năm 1966, sau khi tham bị chính quyền Sài Gòn truy đuổi, bắt giam 6 tháng vì đã tham gia phong trào đấu tranh Phật giáo, từ Quảng Nam, anh Ba Thợ Tiện phải chạy vào Sài Gòn náu thân. Đêm đầu tiên tại một nơi không hề có bà con thân thích, anh xin ngủ nhờ ở Cô nhi viện Quách Thị Trang (nay thuộc đường 3/2). Qua ngày thứ hai, anh xin vào làm công quả tại chùa Ấn Quang và trở thành người xuất gia, pháp danh Minh Ngọc. Sau đó, anh theo học ngành y, thực tập ở Phòng thí nghiệm Bệnh viện Bình Dân.

Có một dấu ấn khó quên, là bấy giờ bằng sự nhậy cảm của một tâm hồn thi sĩ, anh đã viết nhiều thơ in trên báo chí công khai Sài Gòn, ký bút danh Hoàng Thoại Châu. Năm 1968, anh xuất bản Áo trắng ngày xưa - tập thơ đầu tay này được Tổ đình Quan Thế Âm tài trợ in ấn, phát hành. Sau đó, năm 1969, anh liên hệ với Nha Kiểm duyệt để xin giấy phép in tập thơ thứ 2 Tình biển nghĩa sông. Đọc bản thảo tập thơ, với tư cách là người “gác cửa”, nhà văn Võ Phiến lắc đầu, trao đổi với anh: “Nếu Đại đức gửi cho chúng tôi một tác phẩm nhẹ hơn, tôi sẽ ký ngay. Ký tại chỗ”. Tất nhiên anh không đồng ý.

Vậy làm thế nào vẫn tập thơ vẫn in được mà không bị “ốp”, tịch thu vì không có giấy phép?

Trong “cái khó ló cái khôn”, anh nghĩ đến giấy phép của tập thơ đã in lần trước, và “láu cá” thêm vào đó mỗi một từ “bis”. Lần nay vị Thượng tọa của Tổ đình Quan Thế Âm lại ủng hộ, mạnh dạn đứng ra lo liệu. Mọi việc suông sẻ. Tháng 9 năm ấy, tình cờ đọc báo Chánh Đạo, anh biết tin về Giải thưởng Văn học Nghệ thuật lần thứ nhất (1967-1969) của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Anh liền đem tập thơ Tình biển nghĩa sông gửi dự thi.

Có một điều bất ngờ đến kỳ quặc là tập thơ in “chui” ấy, không có giấy phép chính thức của Nha Kiểm duyệt lại lọt vào mắt xanh của Ban giám khảo bộ môn Thơ - gồm những nhà thơ rất uy tin như Vũ Hoàng Chương, Bàng Bá Lân… Tên tuổi anh đã được xướng danh tại phòng Khánh tiết ở Dinh Độc lập. Đặc biệt, thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã phóng bút tặng anh 8 câu thơ bằng nét bút rồng bay phượng múa: “…Một phen nhả ngọc phun châu/ Địa linh nhân kiệt từ lâu tiếng đồn/ Vang rền đợt sóng Vũ môn/ Lắng nghe nước Việt thả hồn trong thơ”.

Các chi tiết liên quan đến giải thưởng thơ của Ba Thợ Tiện, ít nhiều cho thấy cách quản lý văn hóa của một thời. Ăn theo thuở ở theo thời. Thời này, có những sự việc liên quan đến xuất bản, báo chí khó có thể lặp lại, Tuy nhiên, với sự “nở nồi” của internet, người ta lại có cách khác. Tất nhiên rồi. Đã cầm bút, nói gì thì nói, họ cũng đều muốn công bố các trang viết, dù hay, dù dở. Đó là một sự hiển nhiên. Chẳng ai viết xong, bỏ vào hộc tủ, khóa lại, chỉ mình mình biết chỉ mình mình đọc. Có mà cuồng chữ.

Sau Tết Âm lịch năm 1972, anh tiếp tục cho in Tình biển nghĩa sông (tập 2). So với tập thơ trước, tinh thần quật, tự hào dân tộc, đấu tranh cho hòa bình, thống nhất càng nồng nhiệt hơn. Đồng tình với một thái độ dấn thân, lòng yêu nước của anh, hai nhà văn đàn anh Sơn Nam và Kiên Giang đã viết lời giới thiệu. Nói như nhà thơ Kiên Giang: “Thơ Hoàng Thoại Châu mang tinh thần phản chiến. Bởi có thi sĩ chân chính nào lại biểu đồng tình với súng đạn và cổ võ chiến tranh diệt chủng. Tuy nhiên Hoàng Thoại Châu không lên án chiến tranh bằng những “lời thơ gây tiếng nổ” mà bằng hơi thở và âm thanh nhẹ nhàng, vì bản tính của thi sĩ không tách rời với đặc tính hiền hòa của người Việt Nam”.

Tương tự lần trước, Tình biển nghĩa sông (tập 2) đã tạo ra dư luận sôi nổi trên báo chí. Bấy giờ, phong trào đấu tranh chống chính quyền Sài Gòn ngày một dữ dội, tất nhiên Hoàng Thoại Châu không đứng ngoài cuộc. Anh cùng các trí thức sinh viên yêu văn nghệ đã thành lập nhóm Hướng Dương. Nhóm này chủ trương in các tác phẩm tự tình dân tộc, “về nguồn”, phàn chiến, đấu tranh cho hòa binh thống nhất như của Hoàng Thoại Châu, Huỳnh Ngọc Trảng, Phan Viên Hoài, Trần Hào, Hàng Chức Nguyên, Trần Thế Hùng… Và chính những trí thức này đã tạo ra một Vụ án văn nghệ Quán Mù U nổi đình nổi đám một thời.

Vào ngày 1.1.1974, họ tổ chức ra mắt tập truyện ngắn Những trái tim hồng, tiếp tục phát hành tập thơ Tình biển nghĩa sông tại quán Mù U trên đường Nguyễn Văn Thoại. Thơ và các ca khúc mang tinh thần Dậy mà  đi, Người mẹ Bàn Cờ, Nối vòng tay lớn… qua các giọng ca “vàng” Đài Phát thanh Sài Gòn, nhạc sĩ của phong trào SVHS đã bị đàn áp khốc liệt bởi dùi cui, lựu đạn cay của cảnh sát, mật vụ. Cùng nhiều người khác, Hoàng Thoại Châu cũng bị bắt. Sau khi trải qua nhà tù Chí Hòa, anh đã bị đưa ra Côn Đảo. Đó là nơi mà sau này anh cho rằng chính là “địa ngục của địa ngục”. Vậy, anh đã giữ vững khí tiết như đã tuyên bố trong 2 tập thơ Tình biển nghĩa sông bằng cách nào? Anh cho biết: “Bài thơ được viết ngay trong đêm đầu tiên để với nhà lao Côn Đảo: “Mất của là chẳng mất chi/ Sức khỏe. nếu mất, mất đi ít nhiều/ Chỉ lo khí tiết đổ xiêu/ Là mất tất cả là tiêu cuộc đời”. Bài thơ đó là “kinh nhật tụng đối với tôi suốt thời gian ở Côn Đảo”.

Ngay sau ngày 30.4.1975, Hoàng Thoại Châu đã được bạn tù trao cho chiếc áo bà ba lành lặn để trở về đất liền. Cuộc đời anh lật sang một trang khác: Nhà báo Ba Thơ Tiện. Anh là một trong những người đầu tiên góp phần tạo dựng nên “hình hài” của báo Tuổi Trẻ ngày hôm nay, rồi sau này là báo Lao Động.

Nhắc đến Ba Thợ Tiện, lập tức bạn đọc nhớ đến một cây bút chỉ “chơi” một thể loại: tạp bút, tạp văn, phiếm luận - gắn chặt với hơi thở của thời cuộc. Nhà phê bình Bùi Quang Huy hoàn toàn toàn có lý khi nhận xét bút pháp của Ba Thợ Tiện: “Nó như một thứ kim đâm vào xương vào thịt, nhức nhối, thậm chí đau đớn để người ta hoặc giật mình, hoặc phải thản thốt nhớ đời… Nhưng quan trọng hơn vẫn là con mắt nhìn đời và tấm lòng của người viết. Anh tinh tường khi nhận ra những chuyện tréo cẳng ngỗng sau vẻ bình lặng hay ồn ào của cuộc sống. Song cũng khéo nhận biết mà nâng niu những giá trị bị lẩn khuất”.

Hãy dừng lại một chút để nhắc đến thể loại này. Trước hết thử liệt kê các nhà báo đặt tên ra làm sao, thử ghi ngâu hứng: Cực chẳng đã, Tréo cẳng ngỗng, Khe khẽ… khều, Chẳng đặng đừng, Giữa đường thấy chuyện, Nghịch lý, Bàn và tán, Ao thả vịt, Câu chuyện hằng ngày, Chuyện thường ngày, Thuốc đắng, Những điều trông thấy, Nói hay đừng, Nói sương sương, Nói huỵch toet v.v… Xưa nay, với chuyên mục định kỳ xuất hiện trang 2 trên nhật báo với các bút danh như Thông Reo, Tân Việt, Tư Trời Biển, Kha Trấn Ác, Lang Là, Bút Bi, Người Sành Điệu… hầu như đó là tên chung. Nhiều người thay phiên nhau viết. Với “con người kỳ quặc” Ba Thợ Tiện lại khác, chỉ một mình anh viết ròng rã hết số này qua số nọ. Dù đã viết cho hơn 15 tờ báo cũng chỉ mỗi mình anh phóng bút. Nhân đây nói luôn, anh cho biết, khi đặt tên cho chuyên mục “Nói hay đừng”, chỉ nghĩ ra ba từ ấy, anh đã sướng cả tuần! Tại sao? Thử nói lái lại xem sao? Cũng là một cách nghịch chữ của cánh anh em báo chí.

Tìm ra vấn đề thời sự để viết bằng thể loại tạp bút mỗi ngày, khó quá đi mất. Thế đấy, mới thấy Ba Thợ Tiện đã đạt đến sự lao động bền bĩ của một nhà báo chuyên nghiệp, say mê với nghề đến cỡ nào. “Làm thế nào để luôn giữ được phong độ như thế?”. Câu hỏi này đã được nhiều bạn đọc đặt ra trong buổi giao lưu ra mắt bộ tùy bút Viết từ hồi ấy tại Đường sách TP.HCM vào sáng hôm qua. Ba Thợ Tiện không “giấu nghề”, anh bật mí trước tiên là nhà báo phải rời khỏi căn phòng may lạnh tại tòa soạn để thâm nhập thực tế. Trong quá trình đi thu nhập chất liệu ngồn ngộn của đời sống, cần phải biết chắt lọc ra chi tiết đắc giá nhất, nếu chưa đủ phải tìm kiếm thêm và sau đó mới đặt bút viết. Kinh nghiệm này, nghe thoáng qua, tưởng dễ nhưng thật ra đó là cả một quá trình rèn luyện không ngừng… Anh kết luận.

Lại có câu hỏi, với cả hàng ngàn bài báo cùng một thể loại đã công bố,  nếu chỉ chọn lấy 1, 2 thì anh sẽ chọn thế nào? Với câu hỏi này, Ba Thợ Tiện đã nói dí dỏm, đã là con của thì mình đều thương yêu, yêu quý như nhau. Tuy nhiên, anh vẫn nhớ nhất bài báo Đau đầu về… những cái đầu, in trên báo Lao Động số ra ngày 28.7.1991, không chỉ anh “lên bờ xuống ruộng” mà Ban biên tập cũng bị “vạ lây”.

Rằng, ngày nọ sau khi ra miền Trung tham quan khu đất đã được quy hoạch xây dựng khu văn hóa, một đồng chí cán bộ chủ chốt của địa phương mời Ba Thợ Tiện góp ý. Anh phát biểu: “Theo chỗ hiểu biết của Ba tui, trước hết ở đây cần được đầu tư vài ba “cái đầu”. Một đồng chí cán bộ, nói nhanh: “Anh Ba nói rất đúng, chúng tôi đang lập đề án đầu tư ở đây ba cái đầu… đa hệ. Dân ở đây thích phim lắm”. Nghe câu ấy, Ba Thợ Tiện ngớ người đến độ cạn lời! Sau khi nghe anh kể lại, một anh bạn bình cay đắng, chua xót: “Cái đầu” hiểu “cái đầu” anh Ba muốn nói thành ra “cái đầu”… đa hệ, dù gì cũng chỉ mới là chuyện về “cái đầu” đáng thương. Còn những “cái đầu” đáng trách, đáng ghét ở đây vẫn là những “cái đầu” chụm lại, nương nhau để tồn tại sau những sai lầm đáng tiếc do nó gây ra”.

Chính câu kết ấy mới gây phiền toái làm sao. Phiền toái làm sao cho cách quản lý báo chí của một thời. Trong buổi sáng giao lưu cùng bạn đọc, Ba Thợ Tiện đã kể sự nghiêm trọng đã trải qua, kể xong, không riêng gì anh mà mọi người cũng bật lên tiếng cười sảng khoái. Sự việc đã qua. Vui thôi mà. Âu cũng là tính cách của Ba Thợ Tiện, dù viết thế nào đi nữa thì cốt lõi, nền tảng của nó vẫn là tinh thần phản biện nhằm thúc đẩy sự việc ngày một tốt hơn.

Khi cầm trên tay bộ sách đồ sộ Viết từ hồi ấy, nhiều bạn đọc ngạc nhiên và đồng loạt đặt câu hỏi tò mò với “con người kỳ quặc” Ba Thợ Tiện: “Đâu là điểm tựa/bệ phóng giúp anh có thề toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp viết báo?”. Anh chân tình thổ lộ nhẹ nhàng rằng, luôn yên tâm bởi có đứng phía sau: người vợ. Lúc ấy, y sực nhớ đến câu thơ anh đã viết về miền Nam, quê vợ anh bằng rung cảm của nhà thơ Xứ Quảng: “Đất nước miền Nam tình châu Á/ Ruộng đồng, cây trái ngọc phương Đông/ Tiếng em hay cả tình em đó/ Nhung nhớ lâu rồi thương quá thương”.  Vậy, với những gì đã có, từ Tình biển nghĩa sông đến Viết từ hồi đó, rõ ràng từ nghề đến đời riêng, “con người kỳ quặc” Ba Thợ Tiện quả là người hạnh phúc…

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.11.2017

Lại nhớ bài thuộc lòng môn Quốc văn hồi học lớp Ba: “Em nhớ bà em những buổi chiều/ Ngồi bên giàn lý gió hiu hiu/ Một bày cháu nhỏ chơi quanh gối/ Đứa nếp sau bà đứa đuổi theo/ Bà bảo đừng nô bà kể chuyện/ Cùng nhau xúm lại tiếng cười reo…”.

clip_image0014ba_ngoai

Bà ngoại - tri kỷ, tri âm của mẹ

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 9.11.2017

phoca_thumb_l_le-minh-quoc-5

Quê nhà của mẹ

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 8.11.2107

ngay-di-tren-chu-3Rqueme

Tranh giấy dó của Lê Minh Quốc

Quê mẹ

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 1 trong tổng số 51

trinhduyson