LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 12.8.2017


nasa_shxu

Lá thư viết tay của cậu bé Jack Davis

 

Sáng thứ bảy. Rảnh rỗi. Không thích ngồi quán cà phê cà pháo “buôn dưa lê”. Cũng chừng ấy câu chuyện, chả gì mới, hễ gặp nhau là nhai đi nhai, lại. Để làm gì? Giết thời gian ư? Có nhiều cách. Chẳng hạn, ngồi một mình nghĩ vẩn vơ. Nghĩ đến câu nói vống, nói đùa, nói tếu táo, “có ít xít ra nhiều” phổ biến từ thời y còn sinh viên: “Ăn như tu, ngủ như tù”. Dù rằng, lúc vào nhà ăn tập thể trong ký túc xá, y chỉ thấy: "Tô canh lạnh lẽo nước trong veo/ Một miếng thịt heo bé tẻo teo/ Bốn thằng ốm đói tranh nhau vớt/ Một đứa nhanh tay hớt cái vèo / Cọng rau muống luộc màu xanh biếc/ Thau cơm mới tí đã hết veo/ Tựa cằm ôm thìa lâu chẳng được/ Thịt có còn đâu dưới nước lèo”. Vậy nên, “Tối đói cồn cào không ngủ được / Muỗi còn bu chích cái thân bèo”. Thơ của ai? Không rõ. Nhưng chắc chắn phải là chàng sinh viên của thời đất nước thoát ra khỏi cơ chế bao cấp. Chữ “tù” trong “Ăn như tu, ngủ như tù”, vui ra phết.

Thế nhưng khi đọc “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” đã ớn lạnh. Nổi da gà. Câu nói có tính đúc kết, khái quát, phổ biến cho mọi thời đại, mọi sắc tộc, chẳng gì phải bàn cãi nữa. Trúng chóc. Ấy vậy, quan niệm này, ngày nay đã khác. Đã có sự thay đổi. Thì ra, thời nào cũng có những chuyện xẩy ra khiến con người ta không thể ngờ, không lường hết trước được.

Chẳng hạn, về cái nghề mà y đã kiếp sống từ thuở học trò đến nay: Viết báo, viết sách. Rằng, đầu thế kỷ XX, hầu hết các nhà văn đều viết tay trên giấy học trò. “Đẳng cấp” lắm thì gõ lóc cóc trên máy đánh chữ. Nhà văn Vũ Trọng Phụng viết tay trên loại giấy rẻ tiền, mực màu tím, không chừa lề nhằm tiết kiệm giấy. Những trang viết ấy, khó có thể chống lại nổi sức tàn phá khủng khiếp của thời gian. Rồi, hiện nay, chẳng còn nhà văn nào viết tay nữa, kể cả đánh máy chữ. Họ bảo quản bảo thảo tốt hơn nhiều lần - khi trình bày cảm hứng trên máy vi tính.

Dù thiên về cảm xúc, nhưng trong thời đại bùng nỗ thông tin của kỹ thuật công nghệ, họ cũng hăm hở, hạ quyết tâm xông vào lãnh vực tin học. Nếu trước đó, Nguyễn Trọng Tạo có tập Thơ trên máy chữ thì Nguyễn Nhật Ánh đã có truyện dài Buổi chiều Windows. Cái thuở ban đầu tiếp cận với tin học, y đã học tại Hội Nhà báo TP.HCM - ngay tại góc ngã tư Hai Bà Trưng - Lê Duẩn, Q.1 (nay đã là Khách sạn InterContinental Asiana). Lần đầu tiên biết đến hệ lập trình MS.DOS, rồi diễn đạt thành thơ: “Biển hình vuông. Khuông màu xanh trước mặt/ Biến động liên hồi. Sáng tạo vô biên/ Chớp nhoáng đổi thay đường bay tin  học/ Tôi ngỡ ngàng khi gặp gió tháng giêng”.

Để tạo thói quen cũng không dễ, nhiều người ban đầu viết không nổi chỉ vì không còn được nghe tiếng… lóc cóc đều đặn như khi gõ máy chữ! “Ma lực’’ của tiếng vang ấy, hấp dẫn lắm chứ. Y cũng thế. Trậm trầy trậm trật mãi. Cuối cùng phải bỏ chiếc máy đánh chữ vào thùng giấy cột chặt, dán kín, treo lửng lơ lên trần nhà để lúc nhớ nhung về một thói quen cũ cũng bó tay. Không còn cách nào khác. Phải tiếp cận với công nghệ mới. Càng viết càng thấy khoái. Chỉ tiếc một điều, rồi đây thế hệ sau khó có thể tim thấy bút tích của nhà văn để lại. Cái máy vi tính rất phổ biến hiện nay, ngay cả đứa trẻ vừa oe oe lọt lòng mẹ cũng có thể sử dụng ngơ ơ bà ờ, thế hệ nhà văn Vũ Trọng Phụng không thể tưởng tượng đến.

Ngày càng có nhiều thay đổi, trước đó, chẳng ai ngờ tới. Cụm từ “địa ngục trần gian” dùng dể ám chỉ chốn lao tù; “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” đến một lúc nào đó, người ta sẽ không còn nhớ đến nữa. Tại sao? Đơn giản chỉ vì xã hội ấy không còn tội phạm. Nói đùa à? Không đâu. Báo Thanh Niên số ra ngày 35.3.2016: đưa tin: “Hà Lan đã đóng cửa 8 nhà tù năm 2009, và đóng cửa 19 nhà tù khác trong năm 2014. Hà Lan không phải là quốc gia đầu tiên đóng cửa nhà tù vì không có đủ tội phạm. Số nhà tù của Thụy Điển cũng giảm khoảng 1% mỗi năm từ năm 2004 đến năm 2011. Sau đó, từ năm 2011 đến năm 2012, số nhà tù giảm 6%. Trong năm 2013, Thụy Điển đã công bố sẽ đóng cửa 4 nhà tù và một cơ sở cải huấn khác”.

Nghe cứ như đùa.

Lại nữa, VnEpress ngày 12.7.2017 đưa tin: “Không có tội phạm, nhà tù ở Hà Lan thành nhà hàng, văn phòng”. Trong bài báo này, ông Mandy Jak - chuyên gia tư vấn tiếp thị và truyền thông của dự án chuyển đổi công năng nhà tù ở Hà Lan đã phát biểu một câu cực chảnh. Chảnh như con cá cảnh. Nghe mà không thể tưởng tượng ra nổi. Câu gì? “Làm sao để mở cửa nhà tù trở lại là thách thức lớn nhất với chúng tôi". Nghe phát ghét. Mà ganh tỵ. Mà thán phục, mà kinh  ngạc về một xã hội tốt đẹp đến thế. 

Sáng thứ bảy, ngồi nghĩ lẩn thẩn chuyện này, thế đã đủ. Không nên bàn sâu quá. Nó ám vào người. Cũng tựa như anh chàng nọ vì mê câu: “Thư trung hữu nữ nhan như ngọc”, mê muội, mê đắm rồi cũng có lúc từ trong sách một con hồ ly tinh nhảy ra, biến hóa thành người đẹp rủ rê động tình thì khốn lắm thay.

Như mọi ngày, sáng thức dậy vẫn phở. Vừa ăn vừa nhẩn nha đọc một thông tin mà y cũng không ngờ đến: “Đầu vào của ngành sư phạm tụt dốc thảm hại?”. Câu nghi vấn. Liệu có đúng? Trong chuyên mục Thời sự & suy nghĩ, đồng nghiệp Ngọc Hà cho biết: “Mùa tuyển sinh 2017, trong khi có ngành 30 điểm vẫn trượt thì một loạt trường ĐH đào tạo sư phạm chỉ lấy mức điểm chuẩn giản dị bằng điểm sàn: 15,5 điểm. Giật mình hơn, ở bậc CĐ đào tạo giáo viên dạy tiểu học và THCS, thí sinh chỉ cần đạt 9-10 điểm là ung dung giành suất trúng tuyển. Có trường hợp vì cộng cả điểm ưu tiên, nên chỉ đạt 2-3 điểm/môn đã trở thành thầy giáo tương lai! “Đây là dấu hiệu rất xấu cho sự phát triển giáo dục. Thầy giỏi mới có trò giỏi. Khởi điểm của người thầy chỉ ở mức điểm rất thấp như thế, sau này sẽ trao truyền gì được cho thế hệ học sinh tương lai?” - GS Phạm Minh Hạc, chủ tịch Hội Cựu giáo chức Việt Nam, nguyên bộ trưởng Bộ Giáo dục, trăn trở”.

Một lần nữa, đồng nghiệp Bút Bi lại đùa một cách thông minh, hóm hỉnh mà sâu cay, đau đớn. Ấy là “lý luận” của một chú nhóc tèo hỉ mũi chưa sạch khiến ông bố phải “đứng hình”: “Nó bảo: Con học yếu thật, nhung con chỉ cần thi được 3 điểm/ môn thôi là đủ đậu sư phạm rồi. Ra trường con đi dạy, học trò con sau này trở thành bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, tiến sĩ… Rồi mấy người đó sẽ gọi con là thầy. Cần gì học giỏi”.

Thiết tưởng thời trước, nhà giáo Chu Văn An - “Vạn thế sư biểu - Thầy của muôn đời” dẫu có bi quan nhất cũng không thể tưởng tượng ra nổi. Hỡ ôi, câu "Lương sư hưng quốc" đặt trong thực trạng này, nghe ra mỉa mai, chua chát quá đi thôi.

Không rõ ở nước ngoài, người ta đã giáo dục các em học sinh tiểu học ra làm sao? Tự hỏi, bởi không thể tưởng tượng ra nổi tại sao ở Mỹ, lại có “Học sinh lớp 4 đăng ký làm nhân viên bảo vệ hành tinh tại NASA” (Báo Thanh Niện ngày 7.8.2017). Rằng, khi hay tin Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) tuyển nhân viên đảm đương nhiệm vụ này, trong lá thư tay gửi đến cơ quan này, cậu Jack Davis viết: “Có thể cháu chỉ mới 9 tuổi thôi, nhưng cháu nghĩ mình thích hợp cho công việc. Một trong những lý do là chị cháu nói cháu là người ngoài hành tinh. Ngoài ra, cháu đã xem hầu hết các bộ phim về vũ trụ và người ngoài hành tinh mà cháu có thể biết đến”; “Cháu còn nhỏ, vì thế cháu có thể học cách suy nghĩ như người ngoài hành tinh”.

Thú vị chưa? Rất thú vị. Chưa hết đâu. Còn thêm một sự thú vị khác nữa, ông Jim Green - giám đốc phụ trách khoa học hành tinh của NASA không xem thường mà nghiêm túc viết lá thư trả lời: “Chú nghe cháu nói là 'người bảo vệ thiên hà' và quan tâm đến vị trí 'nhân viên bảo vệ hành tinh'. Điều đó thật tuyệt! Vị trí 'nhân viên bảo vệ hành tinh' thực sự hấp dẫn và là công việc rất quan trọng. Công việc đó nhằm bảo vệ trái đất khỏi những vi trùng khi chúng ta đem các mẫu thử nghiệm từ mặt trăng, các thiên thạch và sao Hỏa về lại trái đất”; “Các chú vẫn luôn tìm kiếm những nhà khoa học và kỹ sư sáng giá tham gia hỗ trợ, vì thế chú hy vọng cháu sẽ học tập chăm chỉ và đạt kết quả tốt ở trường. Các chú hy vọng sẽ đón tiếp cháu tại NASA một ngày gần đây”.

Cả hai lá thư đều đáng yêu quá đi mất.

Giáo dục được những đứa trẻ mặt còn búng ra sữa có suy nghĩ suy tích cực ấy, há chẳng phải một đất nước hạng tồi.

Lại nghĩ thêm một chút về giáo dục. Hôm qua đã viết xong bài báo “Gần 200 năm  trước người Việt đã đóng được tàu chạy bằng hơi nước”. Trong quá trình sử dụng các tài liệu như Quốc triều chánh biên toát yếu, Đại Nam thực lục của Quốc Sử quán triều Nguyễn, Tự Đức thánh chế văn tam tập… suy nghĩ rằng, cần có sự thay đổi nhiều hơn nữa về sự đánh giá các vua triều Nguyễn. Có đọc tài liệu gốc, thơ văn, lời Dụ, Chiếu v.v… mới thấy rõ và cảm thông: “Bui một tấc lòng ưu ái cũ/ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông" (Nguyễn Trãi) của họ. Và mới đánh giá công bằng họ đã làm được những gi cho Dân, cho nước lúc đang ở  ngôi cửu trùng. Ngay cả vua Tự Đức nay đã có nhìn nhận thế này, đánh giá thế khác nhưng đâu là nỗi lòng, khát vọng của ông mà bấy lâu các nhà viết sử chưa đề cập đến? Chuyện này, có dịp bàn sau.

Tuy nhiên, đọc sách sử mới nhận ra, các nhà nho uyên bác thuở xưa chỉ nặng về văn chương, điển tích, điển cố v.v… hơn là chú ý, quan tâm ghi chép lại những sáng chế, phát minh thuộc lãnh vực khoa học kỹ thuật. Mà đã không quan tâm thì sự nghiệp của những con người thuộc lãnh vực ấy cũng chẳng ghi chép gì mấy, chỉ nhắc qua sơ sài như bao cái tên vô danh khác. Rằng, từ năm 1839, các ông Hoàng Văn Lịch, Võ Huy Trinh; năm 1865, các ông Hoàng Sưởng, Lê Bân… cùng cộng sự đã  làm nên sự kiện lừng lẫy: đóng được tàu chạy bằng máy hơi nước. Nhưng rồi đời sau biết cụ thể gì về công đức, sự nghiệp của họ?

Với lối chép sử ấy, còn dẫn đến bất cập gì nữa? Kết thúc bài báo, y viết: “Đọc lại những gì sử sách đã ghi, tất nhiên lòng ta cũng tự hào không khác gì tâm thức người xưa. Chỉ tiếc rằng, tài liệu chỉ có thế, không biết thêm gì hơn và lấy làm đáng tiếc vì không thể trả lời được câu hỏi -  trước đây nhà sử học Nguyễn Thiệu Lâu cũng đã nêu ra: “Các tàu lớn, vừa, nhỏ dài rộng là bao nhiêu, trọng tải bao nhiêu tấn, chạy bằng nồi xúp-de nhưng có cánh quạt hay có guồng, tốc độ bao nhiêu, có thể mắc súng được không, và có thể chở được bao nhiêu binh sĩ, ra biển có thể lênh đênh được bao nhiêu ngày mới phải cập bến để ăn than?” (Quốc sử tạp lục, NXB Cà Mau - 1994, tr.276).

Nếu các nho thuở ấy viết sử có tư duy cập tiến như các ông Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện… thì tốt quá. Đó là những nhân vật lẩy lừng, ngay từ nhỏ họ đã chú ý đến đến lối học suy luận, phán đoán, quan sát, phê bình và ghét lối học từ chương của khoa cử đương thời.

Có giai thoại rằng, một lần, cách đây trên một trăm năm, thầy trò làng Bùi Chu nhân tiết xuân dẫn nhau lên chơi núi Lô Sơn. Thầy trò cùng nhau xướng họa ngâm vịnh rất tâm đắc. Chỉ riêng có một cậu học trò lang thang đây đó, tay cầm quyển sổ nhỏ, mỗi khi phát hiện điều gì hoặc quan sát thấy điều gì lạ thì cặm cụi ghi ghi, chép chép. Xế chiều, cậu đến chỗ thầy giáo lễ phép hỏi: “Bẩm thầy, núi Lô Sơn này cao mấy thước, diện tích mấy tầm, cách Song Ngư mấy trượng?”. Nghe câu hỏi bất ngờ quá, thầy giáo lắc đầu, không giải đáp nổi. Các bạn học cũng chịu chết, không ai trả lời được. Buổi đi chơi núi dù có vui vẻ bao nhiêu, nhưng những câu hỏi trên không giải đáp được cũng khiến cậu học trò cũng buồn xo. Bóng hoàng hôn nhập nhoạng buông xuống, trên đường về cậu thầm nghĩ: “Đi chơi núi mà không biết núi cao bao nhiêu thì học được cái gì?”.

Cậu học trò đó, chính là Nguyễn Trường Tộ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 7.8.2017

leminhquocdoantuan_1Rchonanh_nay

Quốc & Tuấn (Hà Nội -2017)

Con người ta, từ khi sinh ra đã “lập trình” rồi chăng? Nói nôm na là có “số” và nó nằm ở trong cái lá số tử vi. Nếu không, làm sao có thể lý giải nhiều, rất nhiều trường hợp, đại khái dù chẳng mấy tài năng gì nhưng tay X, Y, Z nào đó vẫn có thể leo lên nấc thang danh vọng nhanh chóng đến chóng mặt? Dù ăn không nên đọi, nói không nên lời, chính tả viết sai be bét, tư cách hèn kém đến độ nằm dưới thắt lưng nhưng vẫn hiên ngang bước lên diễn đàn, vênh mặt dạy dỗ hàng trăm, hàng ngàn người khác về chuyên môn lẫn đạo đức.

Quái lạ chưa?

Trong khi đó, mà thôi, chẳng nên bàn thêm gì nữa. Mỗi người sinh ra đời có mỗi phận sự. Tự mình phải phấn đấu, nỗ lực làm hết sức mình, cứ cố gắng hết sức, sau đó dù kết quả có như ý hay không lại là câu chuyện khác. Tuy nhiên, những con người ấy, theo y, hầu hết họ đều hài lòng, vui sống bởi tự nhủ đã tận tâm, tận lực rồi. Chẳng gì phải lăn tăn, so sánh với ai khác cho mệt cái đầu. Trong số nhiều, rất nhiều bạn bè của y đã có đức tính ấy. Họ làm việc mỗi ngày, chẳng cần phải có tiếng vỗ tay ầm ĩ, chẳng cần P.R ồn ào, náo nhiệt, khua chiêng gõ mõ ầm ĩ, loạn xạ đến đinh tai nhức óc. Chỗ ngồi của họ vẫn là căn phòng yên tĩnh và từng ngày lao động miệt mài trên trang viết. Những con người ấy dù nổi tiếng, dù chỉ là cái bóng mờ nhạt, với y đều là sự thán phục. 

Mà đã là sự thán phục, quan tâm, vì lẽ đó, có những người bạn thân thiết, dù ít gặp, dù không mấy bia bọt bù khú gái gú lăng nhít nhưng y vẫn thực tâm theo dõi. Rằng, thời gian này, thời gian qua, bạn mình đã viết thêm gì mới, đã có gì cho người đọc, đã làm phim, đã vẽ tranh, đã triển lãm… ra làm sao? Y chỉ y lặng lẽ tìm hiểu, cảm nhận, đôi khi chỉ mỗi mình mình biết, mỗi mình mình hay, chẳng cần phải vỗ vai, điện thoại nọ kia với bạn. Chỉ thêm rườm lời. Chẳng cần thiết đâu.

Trong số những người bạn ấy, với y, còn phải kể thêm Đoàn Tuận nữa. Một phần cũng do từ năm 18 xuân xanh phơi phới nắng mới yêu đời đã là tri âm, tri kỷ nơi chiến trường đạn bom, chết chóc. Còn sống sót trở về, càng thêm quý tháng ngày gian khó, chia nhau từng mẩu thuốc rê, từng ngụm nước uống, đọc chung từng lá thư nhà, thậm chí chia nhau cả hòn tên mũi đạn… Kỷ niệm ấy làm sao quên và chính nói đã là bề sâu của tình bạn. Rượu càng lâu càng quý, bạn bè chơi với nhau và chịu được tình nết của nhau cũng quý nốt.

Còn nhớ lúc mới ra quân, trở về với chăn êm nệm ấm, buổi trưa nọ, đang ngủ say sưa bỗng nghe có tiếng nổ sát bên tai, như quán tính, như thói quen, y đã lăn ngay xuống gầm giường. Nhìn nền gạch bông sáng loáng, nhìn qua ô cửa sổ nắng xanh, phượng đỏ nên bẽn lẽn, cười thầm, thì ra đó là tiếng nổ của pháo cưới nhà bên cạnh. Bấy giờ, Đoàn Tuấn đã sang Nga học về biên kịch, y viết thư dò hỏi đời sống bên đó thế nào? Nếu được, có thể tìm mọi cách sang đó chăng? Nào ngờ dội vào mặt y là gáo nước lanh như đã đóng băng: “Q ơi, bên này chẳng khác gì thời anh em mình sống ở K”, thư Tuấn hồi âm. Vậy là xong béng, đứt đuôi con nòng nọc về cái ước mơ làm một chuyến đi xa.

Thời gian này, Tuấn học về cái nghề mà y hoàn toàn không biết gì về chuyên môn. Hắn ta học khoa Biên kịch Trường Đại học Điện ảnh Mạc Tư Khoa. Học về lý luận điện ảnh, biên kịch, viết kịch bản phim… chà, hấp dẫn quá đi chứ? Ít lâu sau, Tuấn có có được kịch bản Ngõ đàn bà, rồi Đi tìm chỗ ngủ. Sau khi viết xong Đi tìm chỗ ngủ, Tuấn gửi cho y một bản đánh máy. Cũng là một cách chia sẻ cho nhau công việc đã làm. Để mừng cùng cho nhau.

Kịch bản này được làm phim. Cứ theo như thông cáo báo chí lúc bấy giờ: “Đạo diễn: Lê Hoàng; diễn viên: Mỹ Duyên, Tạ Ngọc Bảo; nhà sản xuất: Hãng phim Giải Phóng; thể loại: Tâm lý; độ dài: 97 phút; quốc gia: Việt Nam; năm sản xuất: 1999. Giới thiệu: Câu chuyện trong phim xảy ra với một đôi trai gái, khi chàng trai tên là Dũng đột ngột có giấy gọi lên đường nhập ngũ. Anh chỉ có đúng một ngày để làm đám cưới với Nguyệt, cô người yêu của mình. Và chỉ trong một ngày một đêm thôi, đôi trai gái ấy đã phải chạy đua với thời gian giữa trời Hà Nội đầy bom đạn để tìm "Chiếc chìa khoá vàng" cho căn phòng hạnh phúc. Rồi khi căn phòng hạnh phúc được mở ra thì bình minh đã ló rạng, đến giờ chàng trai phải lên đường". Ối dào, dư luận thồi đó khen ngợi khiếp lắm. Y tự hào và sung sướng về bạn.

Bên cạnh đó, Tuấn còn viết thêm cả phim hoạt hình như Én con và chiếc lá; phim truyền hình như Thổ cẩm, Sân chơi, Con chó Nhật, Trung du, Ông trẻ về ăn Tết, Những cuộc đời ngộ nhận, Có gì mới v.v… Không chỉ có thế. Thời xa xăm ấy, chỉ mới vừa thoát ra khỏi cơ chế bao cấp, do đó, đời sống của người viết lách cũng chẳng khấm khá gì mấy, hắn ta nhảy sang viết báo. Tựa nhiều nhà báo chuyên nghiệp khác, Tuấn cộng tác cho nhiều tờ trong Nam ngoài Bắc và ký hàng loạt bút danh khác nhau. Nhiều không kể xiết. Tuấn viết khỏe, khi y cần bài, chỉ điện thoại báo tin và ngồi liếc quan máy Fax chờ đợi, y như rằng chỉ chừng một hai tiếng đồng hồ sau là có bài. Phong cách của người làm báo chuyên nghiệp là phải thế. Viết dăm ba bài báo vặt, cần gì phải cảm với hứng.

Thật kỳ cục, có những địa danh, lòng ta yêu mến vì nơi đó có danh lam thắng cảnh, đặc sản thức ăn khoái khẩu nên những muốn thăm thú thêm nhiều lần; đành rằng là vậy, nhưng vẫn chưa đủ. Yếu tố đủ ở đây vẫn là có được người bạn thân thiết, thân tình, thân thương, thân mến. Với y, ở Hà Nội là Đoàn Tuấn. Nếu không có bạn, sức mấy y cảm hứng để có Phở Bắc với cảm nhận: “…Phở ạ! Sao mà trân trọng vậy/ Thưởng thức quán nào cũng thấy ngon/ Nước trong. Khói biếc. Tương cay đậm/ Tuyệt lắm. Trời ơi ! Tái nạm giòn/ Thêm một chút tiêu. Thêm chút ớt/ Cong cớn môi hồng cứ xuýt xoa/ Yêu em có lẽ vì … mê phở/ Vị ngọt trên môi cũng đậm đà/ Phở Bắc nóng, nồng như gái Bắc/ Quán xá nhường nhau chật chội ngồi/ Tôi nâng tô phở như… thành khẩn/ Mơ thấy nắng vàng lững thững rơi!”. Sức mấy có được Bát Tràng với cảm nhận: “…Con đường quê cỏ mượt/ Khói chiều lên mướt xanh/ Gạch Bát Tràng mát lạnh/ Mang giày đi sao đành”.

Nhiều lần ra Thủ đô, có thể không gặp người này người nọ, y tiếc rồi tặc lưỡi: “Ừ, lần sau”. Nhưng với Tuấn thì không thể. Phải gặp cho bằng được. Vậy mà nhiều lần có gặp đâu - nhất là những lần ra dự hội nghị, hội hè lằng nhằng của Hội Nhà văn VN, đơn giản chỉ vì Tuấn không phải hội viên. Hôm nọ, gặp nhau tại Hội nghị lý luận văn học tại Sa Pa, nhà thơ Ngô Thế Oanh nhăn mặt, nhíu mày: “Anh đã nói nhiều lần nhưng Tuấn vẫn không chịu làm đơn. Hắn nói chỉ vào hội điện ảnh là đủ rồi. Ham hố làm chi. Dù rằng hắn xứng đáng lắm”. Y cũng nghĩ như anh Oanh.

Khi sang Nga, có tư duy và tâm hồn sâu nặng với thơ, Đoàn Tuấn đã dịch Thơ trữ tình Xécgây Êxênhin (NXB Văn Học - 1995) từ nguyên bản tiếng Nga. Hắn ta tâm tình: “Mình thường dịch thơ Êxênhin vào những lúc tâm trạng buồn buồn, cảm thấy không yên. Thơ Êxênhin giúp mình tìm thấy sự yên tĩnh trong dời riêng hình như lại giúp mình xem lại, sửa chữa những gì đã dịch từ mươi năm trước. Đôi lúc mình thoáng nghĩ như số phận”. Những dòng thơ này, theo Tuấn, Xéc gây Êxênhin là “nhà thơ Nga nhất”. Đã có nhiều bản dịch của các dịch giả tên tuổi như Thúy Toàn, Xuân Diệu, Đào Xuân Quý, Tế Hanh, Bằng Việt, Thái Bá Tân, Anh Ngọc, Trần Đăng Khoa, Hồng Thanh Quang, Tạ Phương, Nguyệt Vũ, Nguyễn Viết Thắng, Việt Thương… nhưng y vẫn thích của Đoàn Tuấn hơn cả. Đơn giản, sự yêu thích ấy ngoài phong cách dịch còn là tình bạn nữa.

Rồi cũng từ những năm đầu thập niên 1980, Đoàn Tuấn đã đoạt giải thơ sáng giá của tạp chí Văn nghệ quân đội. Những bài thơ viết từ chiến trường K đã khiến công chúng giật mình tìm thấy một tiếng nói mới. Thủ thỉ. Thân tình. Và có gì đó khác với thời các anh đã từng đi qua cuộc chiến: “Những dãy núi con đường và vị trí các C/ Như đồ vật trong nhà, tôi nhớ/ Bao đồng đội thành cây rừng ở đó/ Mỗi gương mặt bạn bè một địa chỉ không quên/ Dũng đi phục mùa mưa xé túi quần hun muỗi/ Cởi áo ra mình đắp chóng sáng hơn/ Mạc Văn Tướng trèo cây bắn B41/ Mười hai giờ đêm ăn cháo khỉ xì xòm/ Lính 71 đào hầm, lính 80 nạp đạn/ Có điều gì tin cậy chở che nhau/ Bên cửa hầm dáng bạn ngồi đan rổ/ Lá lồ ô vàng thơm sắc rơm phơi/ Mùa khô ấy áo bạc theo suối cạn/ Ai nhắc mình vò áo nhẹ tay thôi/ Mặt chúng tôi gầy như gương mặt núi/ Hào phóng như trời xanh/ Tính thẳng như nòng súng…”.

Chùng mươi năm trước, lúc y đoạt giải thưởng thơ của tuần báo Văn Nghệ TP.HCM, số tiền đó, cả hai bàn với nhau là sử dụng để in tập thơ Đất bên ngoài Tổ quốc (NXB Văn Học-1997). Rồi nữa, lúc nhà thơ Cao Xuân Sơn mới về NXB Kim Đồng và xây dựng Tủ sách Tuổi mới lớn, cả hai lại viết chung tập truyện dài Mùa thu đến muộn. Cùng đứng chung tên trong một hai tập sách đã là một kỷ niệm.

Từng nghĩ rằng, cái thú của tình bạn còn là ở chỗ: có thể chia sẻ cho những gì đã đọc, đã xem, đã biết. Tuấn xem phim nhiều hơn y gấp bội phần. Tại sao lại nghĩ thế? Nghĩ thế, vì đêm qua nằm đọc lại tập sách Những vấn đề lý luận kịch bản phim (NXB Văn hóa Thông tin - 2008) của Đoàn Tuấn mới rút ra kết luận đó. Có thể ghi nhận đây là giáo trình của ông giáo đang là Trưởng khoa Điện ảnh Trường Đại học SK & ĐA mà hắn ta đang giữ cương vị đó. Đọc và phát hiện nhiều chi tiết hay, có liên quan đến văn học. Các bạn trẻ cần đọc để làm phim, còn y, đọc cũng là một cách thư giản vì không theo nghề này.

Gạch dòng dưới dòng chữ, hắn ta bình về cái tên Chí Phèo của nhà văn Nam Cao trong chương Đặt tên người, tên nhân vật: “Nếu tách riêng và phân tích từng từ, ta nhận thấy cái tên “Chí” chỉ một người có tầm vóc tương đối, có khi chất khá mạnh mẽ và đương nhiên có ý muốn vươn lên. Song tên “Chí” đặt cạnh tên “Phèo” lại gây một bi kịch. Trong biển từ tiếng Việt, cái tên Chí được dùng ở chỗ cao sang, trang trọng và sạch sẽ bao nhiêu thì cái tên Phèo lại bị đặt ở chỗ thấp kém bấy nhiêu. “Phèo” trong tiếng Việt để chỉ cái phèo lợn (ruột non). Ngày trước ở nông thôn khi có đám, ngả lợn, các cụ thường hối hả và lăm le bắt cho được cái phèo… Từ phèo còn có nghĩa chỉ cái gì đó nhỏ bé, nhẹ hẫng, thoảng qua, mất hút. Chẳng hạn như câu: “Que diêm đánh trong gió lớn cháy phèo rồi vụt tắt”. Từ trong sâu thẳm tâm hồn, Nam Cao, không biết thiên tính nghệ thuật nào mách bảo, nhà văn đã chọn đúng hai từ đích đáng tuyệt đối để đặt tên cho nhân vật là Chí Phèo” (tr.131). Cách lý giải, cách nhìn này, y khoái quá bèn vỗ đùi cái đét. Được vậy đã là vui trong một giấc ngủ lẻ loi và tẻ nhạt thường nhật hằng đêm.

Và bây giờ, Đoàn Tuấn vẫn đang tiếp tục công việc của mình. Vẫn những bộ phim thực hiện gần đây như Đường thư, Sống cùng lịch sử, Trên đỉnh bình yên… và gần đây nhất là tập hồi ước chiến binh Mùa chinh chiến ấy (NXB Trẻ). Mà không chỉ có thế. Đã là một dòng chảy thì vẫn cứ chảy mãi. Chẳng gì nôn nóng. Chẳng gì vội vã. Nhịp đời đi ngoài ô cửa số. Phía bên trong của sắp xếp yên tình tâm hồn, vẫn lặng lẽ cùng trang viết của mỗi ngày. Tận hiến cùng niềm vui. Nhọc nhắn cùng niềm vui. Để rồi đến một lúc rồi mãi mãi là cảm hứng như bài thơ Tuấn viết tặng y thời trai tơ bên cánh rừng biên giới ầm súng nổ: “Tuổi 18/ như rượu/ của đời/ xin mời/ nâng lên/ hạ xuống/ Tuổi 18/ lên núi/ núi vọng/ xuống sông/ sông rền/ Tuổi 18/ trắng trong…”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 3.8.2017



bia-sach-chuyen-tinh-khong-ten-9412-1500436872

 

“Tình vui trong phút giây thôi/ ý sầu nuôi suốt đời…”. Nghe âm vang ca khúc của Vũ Thành An phổ từ thơ Nguyễn Đình Toàn. Nếu chỉ là thơ, có lẽ đã không phổ biến nhiều và bám sâu vào trí nhớ đến thế. Thỉnh thoảng lại nhớ. Nhớ, chỉ có thể do một từ. Từ ấy là gì? Chỉ có thể là “nuôi”. Cách dùng từ mới mẻ, đột ngột và tự nó đủ sức ngân vang. 

Sực nhớ đã lâu lắm rồi, thời sinh viên mới trường và kiếm cơm bằng nghề viết báo. Bấy giờ, nhà báo Đoàn Thạch Hãn sau khi ngồi bóc lịch trong nhà pha đúng 10 năm vì dính dáng đến vụ án Hồ Con Rùa, anh được tự do và chưa có nghề ngỗng gì. Chẳng nhớ, do cơn cớ gì, lại thường gặp anh luôn. Chỉ cà phê cà pháo, và hát hò những ca khúc cũ. Phải nói rằng, anh Hãn có giọng ca thần sầu quỷ khốc. Nhớ nhiều. Hát rất hay.

Vào một ngày đẹp trời, vừa có xúng xính nhuận bút, cả hai nổi hứng chơi sang bằng cách gọi một chiếc xích lô dạo chơi phố xá Sài Gòn. Chiều râm mát. Nắng nhẹ. Vòm me xanh. Cứ thế, đi từ đường này qua ngõ nọ, bỗng anh Hãn cất tiếng hát: “Một làn khói trắng ru đời vào quên lãng/ nâng sầu thành hơi ấm, hơ dịu tình đau...”. Đang nhẩn nha đạp xe, anh chàng xích lô buộc miệng bình luận: “Ông nhạc sĩ viết về bọn nghiện ma túy thấm thía quá”. Anh Hãn ngưng bật, hỏi ngay: “Ông vừa nói gì?”. Vẫn là câu vừa nói. “Tầm bậy. Trật lấc. Nhạc viết cho người yêu đó. Cô ta có nghiện gì đâu”, lúc ấy, y nhìn thấy anh Hãn đỏ mặt tía tai giận dữ. Thế là đôi bên cãi cọ ì sèo. Bất phân thắng bại. Ai cũng cho mình có lý. Hoảng quá, y bèn giảng hòa bằng cách bảo dừng xe, vào quán cà phê bên đường để “hạ hồi phân giải”. Vào quán, cả hai lại cãi tiếp.

Cuối cùng, anh chàng xích lô đuối lý bởi anh Hãn thừa sức phân tích về ca khúc đó.

Thật ra, khi nghe một ca khúc, mỗi người có cảm nhận khác nhau là lẽ thường tình. Sẽ nhớ mãi, sống lâu trong trí nhớ, nếu nó còn gắn với kỷ niệm của người hát/nghe hát. Bởi chỉ cần nghe thoáng ca từ, giai điệu thì lập tức bao nhiêu kỷ niệm cũ lại ùa về, gợi nhớ mồn một. Rõ nét. Nhìn chung con người ta còn có tâm lý, một khi đã thích ca khúc đó, nhất là tình ca thì họ lại tò mò muốn biết nhan sắc đã tạo nên cảm hứng cho người nhạc sĩ. Vì vậy,  không phải ngẫu nhiên các tập sách có tính cách “bật mí” đó luôn được người đọc quan tâm.

Có thể nói, bằng sự sáng tạo, người nghệ sĩ có thể vượt qua sự lãng quên, kể cả cái chết. Chất men hiệu nghiệm nhất để làm nên sự sáng tạo là gì? Thưa, tình yêu. Lúc ấy, trái tim rung lên lên những nhịp đập như vó ngựa điên cuồng. Như thuyền xé gió ra khơi. Nhưng cũng có thể chỉ lặng lẽ như nắng ngã qua truông của một ngày trút gió. Đau đớn. Bàng hoàng. Rồ dại. Và gì nữa? Chẳng rõ. Nhưng chắc chắn, thơ nhạc được viết lúc ấy sẽ có bóng dáng của người tình thầm thương trộm nhớ trong từng phút, từng giây. Viết như một lẽ sống. Không một âm mưu. Không một thủ đoạn. Không một toan tính. Viết, như thầm gọi tên của một người trong khắc khoải ngày mơ đêm nhớ… Từng con chữ, từng giai điệu đi vào đời sống này như một lẽ tự nhiên.

Nếu Beethoven không gặp Giucciardi; nếu A.Dumas không gặp Mélanie; nếu Apollinaire không gặp Linda; nếu Hàn Mặc Tử không gặp Thương Thương, Mộng Cầm; nếu Phạm Thái không gặp Trương Quỳnh Như; nếu thuyền không gặp bến; nếu mây không gặp gió; nếu nước không gặp lửa v.v… Đại khái thế, nếu mọi sự lặng yên, lặng lẽ, lặng im không gì gặp nhau thì liệu công chúng có dịp nào để lắng nghe, chia sẻ nỗi lòng thầm kín của người nghệ sĩ, của thiên nhiên bốn mùa thay lá? Tác phẩm ấy viết cho một người. Nhưng khi bước xuống dòng đời lại hóa thành của mọi người. Mọi người tìm thấy tâm trạng của chính mình qua tác phẩm đó.

Thế thì, khi thưởng  thức một tác phẩm, ta biết ơn người đã sáng tạo ra nó. Đành rồi. Nhưng còn phải biết cám ơn chất men kỳ diệu đã làm nên sự sáng tạo ấy. Nó cách khác phải cám ơn những bóng hồng trong thơ nhạc đã từng được công chúng yêu mến. 

Trước đây, Hà Đình Nguyên là nhà báo kỳ cựu của báo Thanh Niên. Trên dưới hai mươi năm sống bằng nghề cày từng trang bản thảo như một gã nông dân cày sâu cuốc bẫm, anh đã gặp gỡ khá nhiều người nổi tiếng và được họ thổ lộ nhưng buồn vui sâu kín, đã giấu kín trong lòng. Và anh đã viết thành tập sách Những bóng hồng trong thơ nhạc (NXB Thời Đại).

Từng nghe “Thúy ơi, Thúy quá vô tình. Ví dù em có hay dỗi hờn. Cũng vẫn hơn là bến tình anh lê gót cô đơn…” (Y Vân); “Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn. Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương. Ngày mai xa cách hai đứa hai nơi, phút gần gũi nhau mất rồi, tạ từ là hết người ơi…”; (Thanh Sơn): “Em tôi hay đứng nhìn trời xanh xanh, mang theo đôi mắt buồn vương giấc mơ. Vu vơ đắm đuối theo ngàn áng mây. Bao đêm thầm đếm trên tời đầy sao sáng…” (Lê Trạch Lựu); “Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại. Em ra đi mùa thu, sương mờ giăng âm u. Ngày em đi, nghe chơi vơi não nề. Qua vườn Luxembourg. Sương rơi che phố mờ, buồn này ai có mua?…”. (Phạm Trong Cầu); “Ngoài hiên mưa rơi rơi, lòng ai như chơi vơi. Người ơi nước mắt hoen mi rồi. Đừng khóc trong đêm mưa, đừng than trong câu ca…Buồn ơi trong đêm thâu, ôm ấp giùm ta nhé: người em thương mưa ngâu, hay khóc sầu nhân thế …” (Trịnh Công Sơn)... đôi lúc, công chúng băn khoăn tự hỏi: nhan sắc nào đã tạo nên chất men cho ca từ và giai điệu ấy?

Hỏi, để mà thương người nghệ sĩ đã có một khoảng thời gian đã đắm đuối tình si trong nỗi niềm của sự tuyệt vọng. Họ, người nghệ sĩ ấy đã gánh trên vai cây Thập Tự Giá của một (hoặc nhiều) Cuộc Tình - có thể tình phụ, tình quên, tình đơn phương, tình đớn đau gai nhọn… Và dù tình gì đi nữa thì họ đã nói hộ cho nỗi lòng của chính chúng ta đấy thôi. Vì thế, họ hóa thành “người ơn” đã nuôi dưỡng mỹ cảm của ta và không những thế, ta còn phải cám ơn chất men đã làm nên thú đau thương hóa thành giai điệu phiêu bồng đâu đó trong trí nhớ lúc quên, lúc nhớ…

Sáng nay, vừa nhận được tập sách Chuyện tình không tên (NXB văn hóa Văn nghệ) của nhạc sĩ Vũ Thành An cũng là chủ đề trên. Có điều hấp dẫn khác còn ở chỗ do chính tác giả kể lại. Ai là người đã tạo nên cảm hứng bất tuyệt cho Tình khúc thứ nhất, Anh đến thăm em đêm ba mươi và hàng loạt tình khúc Không tên? Hãy nghe chính tác giả tâm tình: “Đại từ Em được An dùng trong những lá thư là để nói chung đến những bóng hồng đã đi qua đời An. Có thể là người tình, có thể người trở thành vợ, có khi chỉ là người em gái, bạn gái… Bây giờ các bạn đó đang sống bình yên. Do vậy nếu nhắc đến tên tuổi cụ thể của các bạn đó có thể sẽ gây xáo trộn ít nhiều cho cuộc sống gia đình của họ. Điều này thì An hoàn toàn không mong muốn nên các bạn thông cảm cho”.

Và có phải khi sáng tạo một tác phẩm cụ thể, thì cảm hứng ấy luôn bắt nguồn từ một nhan sắc cụ thể? Nhạc sĩ Vũ Thành An chia sẻ: “Nhiều người thường nói đùa: “Nếu An có 50 bài không tên nghĩa là An có 50 người tình?”. Thật sự không phải như vậy! Không phải 50 người và cũng không phải… chỉ một người. Tuy nhiên trong mỗi bài hát thì chỉ liên quan đến một người mà thôi”. Sự hư ảo chỉ gọi qua mỗi từ “Em” được kể lại trong 14 tình thư có sức hấp dẫn riêng. Bởi lẽ nó gắn liền với ca khúc đã được nhiều thế hệ yêu thích.

Từng nghe ca từ: “Này em hỡi con đường em đi đó/ Con đường em theo đó sẽ đưa em sang đâu?/ Mưa bên chồng có làm em khóc/ Có làm em nhớ những khi mình mặn nồng?”. Không ít người, trong đó có y nghĩ rằng, “mặn nồng” ấy phải là một sự “gắn bó” từ phần hồn lẫn phần xác? Mà cũng phải thế thôi, chứ nếu chỉ “mắt liếc tình đưa” thì làm sao có thể tạo nên dấu ấn ghê gớm để bật ra tiếng lòng du dương thanh âm? Khi đọc tập sách Chuyện tình không tên, mới thấy suy luận này… trật cù chìa.

Tác giả cho biết: “Tất cả chỉ dừng lại ở những cái nắm tay, cao lắm những nụ hôn thôi, và… chỉ có thế”. Lời bộc bạch này, qua tình thư còn cho thấy tính cách của người nhạc sĩ tài hoa. Y nghĩ, có gì đó gần với nhân vật từ thời Tự Lực văn Đoàn, nhờ thế, ông mới đem lại cho người nghe sự mỹ cảm của một thời: “Anh đến thăm em đêm ba mươi/ Còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi/ Anh nói với người phu quét đường/ Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em”. Cách tỏ tình dịu dàng thơ mộng ấy, nay đã mất rồi chăng? Không đâu. Vẫn còn đấy thôi. Ít ra là trong ca từ đi cùng năm tháng…

Cách tỏ tình ấy, đáng yêu quá đi mất. Lại nao nao cảm động khi nghe được tiếng lòng của một thời: “Vài cánh xương hoa nằm ép trong thơ/ Rồi sẽ tan như bụi mờ/ Vạt tóc nâu khô còn chút thơm tho / Thả gió bay đi mịt mù…” (Phạm Duy). Kỷ vật trao cho nhau. Còn hay mất? Thế hệ của cậu, dì y ở Xứ Quảng, lúc yêu nhau, cứ như theo y biết là các chàng hay tặng cho các nàng chiếc nón bài thơ, nói cách khác chính là nón Huế. Đọc đâu đó, có chi tiết về trường hợp Nguyễn Văn Trỗi, lúc mới làm quen với chị Quyên, anh có mua tặng chị em Quyên hai chiếc nón lá. Đây là loại nón làm ở Huế với sự khéo léo của nghệ nhân, khi đưa nón lên ánh sáng thì ta sẽ đọc được những câu thơ mượt mà đằm thắm trong vành nón. Trong lúc Quyên đang vô tư, cô em gái đã “phát hiện” ra hai câu thơ mà anh Trỗi muốn gửi gắm cho Quyên:

Bước chân ra đất thần kinh

Mua về chiếc nón tâm tình tặng em

Quà tặng ấy, nói như Vũ Thành An “làm bằng chứng yêu em”. Trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, Thạch Lam viết không nhiều nhưng hầu như truyện ngắn nào cũng đọng trong lòng ta một nỗi bồn man mác lãng đãng, mơ hồ, khó gọi thành tên. Đôi khi chỉ là: “Có lúc gần nhau, Thanh thấy mái tóc Nga thoang thoảng thơm như có giắt hoàng lan. Nhưng hoa lan chưa rụng, vẫn còn tươi xanh ở trên cành, Nga bảo Thanh: “Những ngày em đến đây hái hoa, em nhớ anh quá”. Thanh chẳng biết nói gì; chàng vít một cành lan xuống giữ ở trong tay để Nga tìm hoa, rồi nhẹ nhàng buông ra cho cành lại cong lên. Nắng soi vào vai hai người, nhưng dưới chân đất vẫn mát như xưa. “Bao giờ anh lên tỉnh?”. “Ngày mai thôi. Kỳ này được nghỉ ít. Nhưng mai kia, tôi sẽ về ở đây lâu hơn”. Lòng Thanh dịu lại. Nga đến bên bể múc nước rửa hoa, rồi xếp bầy lên trên quả trầu. Bà cụ nhìn cô, âu yếm: “Hoa hãy còn non lắm, sao hái sớm thế, con?”. Nga thưa: “Anh con hái đấy ạ” và nàng nhìn Thanh mỉm cười”.

Mẩu đối thoại ngắn, có thể trợt ra ngoài trí nhớ chăng? Không đâu. Cách tỏ tình của ngày xa xưa ấy hiền lành. Trong trẻo. Đáng yêu quá đi mất. Và nay? Cũng chắc khác gì đâu, chỉ ẩn hiện ở cách biểu hiện khác mà nội dung cũng không gì khác. Tại sao? Đã tình yêu, thời đại nào đi nữa thì sự rung động vẫn tinh khôi, vẫn y chang như cái thuở vừa mới khai thiên lập địa.

Khép lại tập sách Chuyện tình không tên, Vũ Thành An tâm tình cùng đại từ “Em”: “Chỉ riêng về tình yêu anh đã trải qua nhiều mối tình nhưng không có mối tình nào đem lại hạnh phúc. Và cuối cùng, không điều nào mang lại hạnh phúc mà chỉ đem đến nỗi sầu”. Câu nói này dành cho một hay nhiều người? Y tự hỏi và nhìn ra ngoài trời. Trời đang mưa. Trong mưa vọng về câu thơ đã cũ, viết đã lâu: "biết làm sao gìn giữ giấc mơ/ dâng lên em một món quà ấm cúng/ gia tài tôi còn lại những câu thơ/ em cầm lấy hay là em ném xuống?”. Không vọng lên câu trả lời. Mưa. Ngoài trời đang mưa. Thôi thì, hãy hát lên: “Ta lần mò leo mãi không qua được vách sầu/ Ta tìm một tiếng yêu, thấy toàn là sầu đau”, chính là “suy tư về một bài hát cho chính đời anh”, Vũ Thành An tâm tình.

Bùi ngùi quá đỗi.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 1.8.2017

 

20375944_1100050560131620_5066929320254476822anh-ny-1RR_n

Từ trái Đoàn Tuấn, Trần Đào Hiền Nhân, Võ Đình Chiến


Hôm nay, ngày 1.8. Sinh nhật của y đó. Ngày này có ý nghĩa gì không? Chẳng có ý nghĩa gì cả. Ngày như mọi ngày. Ngày sinh ra và ngày mất dấu trên trần gian này, có gì là ghê gớm lắm đâu. Mỗi một người dù muốn, dù không cũng phải đi, đi và đi. Đi mãi cho đến tận cùng hơi thở chính mình. Đến mở ra những hỉ, nộ, ái ố rồi cuối cùng là đi và đi cũng chẳng gì cả. Trống rỗng. Rỗng không. Vô hình hài hình tướng.

Vừa đi Kampuchia về. Thăm lại chiến trường xưa. Nơi ghi dấu của một thời tuổi trẻ. Vẫn say đắm đứng nhìn hàng cây thốt nốt. Bao giờ cũng vậy. Có lẽ một trong những hình ảnh khó quên nhất là vào buổi chiều nhạt nắng, từ doanh trại nhìn xa xa, lại thấy người Khmer trèo lên cây lấy nước thốt nốt. Không cho men vào trong ống tre đã treo lên cây thốt nốt trước đó, nước ngọt lịm; nếu có thêm men, nước dậy mùi rượu. Uống từng hớp một. Say lâng lâng. Dễ chịu. Mê đắm.

Từ lúc rời quân ngũ, đã qua lại đôi lần. Lần này, cảm động hơn nhiều bởi đi cùng bạn bè bồ tèo đã sống chung chiến hào từ thuở tóc xanh mà nay đã lốm đốm bạc. Thời gian vó ngựa. Ngày tháng trôi nhanh. Tóc trắng dần. Mà kỷ niệm cũ vẫn nguyên vẹn. Thế mới biết những gì đã cảm nhận thời trẻ bao giờ cũng đọng lại trong ký ức lâu hơn cả.

Lần trước, đi chung cùng cùng đạo diễn Trần Tuấn Hiệp của VTV để thực hiện bộ phim tài liệu Ký sự biên phòng. Ấy là những ngày vào đầu tháng 9.2008. Cảm nhận gì? Rằng thưa: “Một ngày trên chiến trường/ Chỉ gặp cây thốt nốt/ Nó cũng mang quân hàm/ Mãi mãi là binh nhất”. Ùa vào trong hai con mắt đang ngơ ngác mở ra là hàng cây thốt nốt đứng vững chãi ngàn năm trên đất nước Chùa Tháp. Năm tháng của tuổi trẻ đã hiện về rõ mồn một như mộng mị. Loáng thoáng trong đầu là những địa danh Svay Rieng, Pray Veng, Stung Treng, Siem Reap, Preh Vihear, Anlung Veng...

Y sực nhớ đến một dòng suối cạn trong đêm trăng sáng có một gã con trai mười tám tuổi, vai khoác súng AK thong thả đi cùng cô gái Khmer gốc Chàm. Nàng thỏ thẻ xin một ít xà phòng để gội đầu, gã chưa kịp tặng để thay lời tỏ tình thì ngay trong đêm đã có lệnh hành quân. Từ đó, biền biệt xa cách mãi... Cũng là lần thứ nhất trong đời, y biết đến hương vị đầu đời của nụ hôn thơm vị đường thốt nốt từ một vùng đất bên ngoài Tổ quốc. Lần ấy và lần này, sang lại chiến trường xưa, gặp thiếu nữ nào uyển chuyển trong xà - rông hoa văn sặc sỡ, lại cứ tưởng đó là nàng. Thật và mộng lẫn lộn khiến y có cảm giác bồng bềnh như đang sống giữa đôi bờ hư ảo.

Dọc theo biên giới từ Trảng Bàng (Tây Ninh) sang đất bạn đã mọc lên khá nhiều sòng bài; rồi khi đến Pnong Penh, lại thấy những hình ảnh tương tự. Y và đạo diễn Trần Tuấn Hiệp lang thang trên những con đường mịt mù bụi đỏ để tìm lại những nghĩa trang ngày xưa mà đồng đội y đã nằm lại thiên thu. Nhưng bất lực. Cảnh cũ người xưa đã mất dấu. “Nằm yên mà ngủ nghe em/ Thịt xương tơi tả đã mềm đất đai/ Không còn nguyên vẹn hình hài/ Tiết trinh thì vẫn là trai dậy thì/ Một ngày biên giới chân đi/ Đạp mìn nhìn lại thấy gì nữa đâu/ Hồn bay lên cõi trời cao/ Thịt xương chằng chịt rơi vào hư vô”. Y thắp giữa trời một nén nhang để tưởng nhớ tuổi trẻ và đồng đội của mình đã xa khuất.

Có một điều gì rờn rợn tâm linh. Khi về đến Pnong Penh, bọn y tình cờ gặp một người đàn bà tên là Chan Thou. Chị quê ở Pray Veng, năm tháng chiến tranh thời trước, gia đình chị là nơi bộ đội Việt Nam thường lui tới. Chị nhớ nhất là các anh Viết, Gia, Lập... Trong một lần đi công tác cả ba anh đều bị địch phục kích, giết chết. Gia đình chị đứng ra lo mai táng. Khi quân tình nguyện thế hệ y có mặt tại Kampuchia, cả nhà chị dắt díu lên Pnong Penh sinh sống.

Một ngày kia, từ nhiều nguồn thông tin gia đình liệt sĩ Viết từ Việt Nam liên hệ được chị và ngõ ý muốn chị cách đưa hài cốt ba liệt sĩ quy cố hương. Chị nhận lời, đơn giản chỉ vì khi Khmer đỏ lên cầm quyền, dòng tộc của chị có đến 43 người bị giết, mất xác. Chị thấm thía nỗi đau tột cùng này nên tất tả quay về quê cũ và tìm mọi cách đưa ba hài cốt ấy sang đến đồn biên phòng Tây Ninh. Chị bảo: “Sau khi làm việc này, đời sống của tôi thay đổi đến mức không thể tưởng tượng được. Từ một người không đủ ăn, đủ mặc đến nay tôi đã có một tài sản lớn. Đó là do anh linh bộ đội Việt Nam phù hộ”.
 

Y cũng nghĩ như thế. Trần Tuấn Hiệp cũng nghĩ như thế. Và anh đã đưa chi tiết này vào bộ phim Ký sự biên phòng.

Lúc vào chiêm bái và quay phim cùng VTV tại Angkor Wat, Angkor Thom, y không cầm được nước mắt. Năm tháng chiến tranh, đồng đội y có thời gian trực tiếp cầm súng bảo vệ di tích này, nhưng rồi vĩnh viễn không bao giờ họ được đến lại nơi này. Họ đã ngã xuống vì mìn KP2, 45.2A, vì lồng ngực thanh tân đã hứng trọn quả B.40 trong một ngày nhạt nắng, trong một chiều mưa trút gió. Và y tự hỏi: “Nụ cười của đá có vui/ Từ trong điệu múa ngậm ngùi điều chi?/ Lời tôi khấn nguyện bay đi/ Vọng vào vách đá dội về nỗi đau/ Tôi gai ốc đến ngàn sau/ Rùng mình ngửa mặt nhìn vào hư không/ Đá sừng sững, đá lặng câm/ Đá mềm mại tựa tôi cầm tay ai/ Bất ngờ tôi hóa cụm mây/ Xin em hãy đỡ tôi bay lên trời…”.

Lên trời để làm gì? Chỉ nghĩ đơn giản là thoát ra khỏi tầm đạn bay. Hòn tên mũi đạn. Được trở về nguyên vẹn. Còn nhớ ngày ấy, Đoàn Tuấn có viết câu thơ nói hộ cho nhiều người lính: “Không cần vé vẫn lên tàu đi B/ Sang K, C cũng chẳng cần hộ chiếu/ Những con đường chiến tranh nóng bỏng/ Lính chỉ mong: hết giặc trở về”. Ngậm ngùi thay, có những người không thể về. Không thể về được nữa.

Không một ai có thể cho biết, bây giờ đồng đội  y đã nằm ở chốn nào giữa quần thể văn hóa đã được nhân loại vinh danh? Y hỏi đá. Đá lặng câm. Tượng Bayon bốn mặt. Bốn mặt cũng lặng câm. Sực nhớ đến tứ tuyệt của Chế Lan Viên: “Anh là tháp Bayon bốn mặt/ Giấu đi ba, còn lại đấy là anh/ Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc/ Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình”. Cõi ẩn hình ấy, với y chỉ có thể là máu và xương của người lính Việt đã đổ thấm đẫm nơi này. Máu ấy, không bao giờ khô đi trên mặt tượng Angkor.

Sực nhớ đến năm tháng nhiều mộng mị, mới hai mươi, ăn khỏe như voi, sức lực đủ bẻ gẫy sừng trâu vì thế đã có cảm nghĩ rất đời, rất lính khi chiêm bái những tượng nữ thần Apsara đã thấy, đã nghe: “Vọng lại từ xa xăm/ Tiếng khóc cười nức nở/ Sấm sét đùng đùng nổ/ Rách ngang dọc vòm trời/ Nàng tiên căng da thịt/ Đứng múa giữa mưa rơi/ Ai đập đầu vào đá/ Đi về trong luân hồi/ Những nàng tiên mệt lả/ Có bao giờ nghỉ ngơi/ Tiếng gươm khua rát mặt/ Vó ngựa hí vang trời…”.

Ngày xa xưa ấy, khi ở Preh Vihear, y đã sống với những mùa nắng mưa, đã nhìn thấy ngôi sao mọc lờ mờ trong tầm đại bác... Lần nọ, đi qua những đền đài nhìn thấy các tượng nữ thần ấy, sau khi quấn điếu thuốc rê sâu kèn, Hoàng An giấu đốm lửa vào trong lòng tay, rít một hơi dài và bảo: “Ước gì đó là người thật Quốc nhỉ?”. Y cũng nghĩ thế và sau phiên gác, trong giấc mơ đã có cảm giác lạ lùng nhất trong đời, đã rùng mình như chết đuối giữa sông dài. Rồi, An đã nằm lại ở nghĩa trang Preh Vihear với trái mìn KP.2 cắt ngang người trong một chiều mưa bão bùng truy kích, không kịp trối trăn. Đó là ngày 28.12.1980.

Thật không thể ngờ, những con đường những địa danh mình đã đi qua nay đã khác hẳn đến mức không thể nhìn ra được. Một hình ảnh còn lại khi xe lăn bánh vào thị xã Battambang vẫn sừng sững tượng Dambang Kranhoung -  ông vua cầm cây gậy thần như thuở nào. Y giật mình tưởng như chỉ mới xa nơi này ngày hôm qua đấy thôi. Phố xá sạch sẽ và nhiều cửa hàng mọc lên. Y lại sống trong cảm giác vừa quen vừa lạ như ngày mới mười tám xuân xanh, vẫn là một câu hỏi đau đáu trong suy nghĩ: Tại sao trên đất nước Chùa Tháp rất mộ đạo lại sinh ra những tên đồ tể như Pol Pot, Khieu Samphan, Ieng Sary?

Câu hỏi này, lần này, y lại hỏi Đoàn Tuấn và bạn bè đi cùng. Chẳng thể tìm ra câu trả lời. Ngay tại Angkor Wat, tập bút ký Mùa chinh chiến ấy (NXB Trẻ) của Tuấn được gửi cho đồng đội ở một cõi hư vô. Ngay sát bờ sông. Một dòng chảy lặng lờ, êm đềm, thanh bình khiến cõi lòng xao xuyến không nguôi. Lửa cháy bập bùng. Cháy bén ngọn. “Chiến trường ngày cũ rưng rưng/ Một thời trai trẻ đã từng dọc ngang/ Mùa chinh chiến ấy - hóa vàng/ Quê chung thắp một nén nhang quê người”. Lòng nhẹ nhàng. Thanh thản. Những câu thơ lại vụt ngang qua nắng trưa, nghe vọng lại lào xào trong gió, từ cành biếc, từ rêu xanh, từ tiếng lòng gần gũi: “Ở đây có núi có rừng/ Xương cốt đồng đội đã từng nằm đây/ Mùa chinh chiến ấy chưa phai/ Hóa vàng cùng với đất đai quê người”.

Ước gì, những người lính quân tình nguyện, trong đời được một lần về thăm lại chiến trường xưa. Có đi mới cảm nhận được hết niềm sung sướng, nỗi đau đớn, sự bi thảm, niềm lạc quan đã dậy men, đã tươi xanh kỷ niệm trong đời. Trước kia, thế hệ y sang chiến trường K từ hướng Đức Lập, từ đường 14B. Và ngày về cũng vậy. Do đó, Đoàn Tuấn mới cảm nhận một gai ốc đến lạnh cả sống lưng: “Xe đang chay. Bỗng sững người dừng lại/ Ngắm nghĩa trang xa tít tận chân trời/ Cả thân hình chợt nóng bừng tê dại/ Hóa khói trầm nghi ngút mãi không nguôi”. Một tứ thơ chân chất. Xúc động. Cực hay. Sáng tạo. Và cũng đã khái quát được tâm thế của người lính khi trở về lại thiếu đồng đội cùng trang lứa đã từng chung sống ở chiến trường.

Và chuyến sang K lần này, thú thật, vốn háu ăn nên y rất thích những món ăn đã từng ăn ngày xa xưa ấy. Chỉ là những con cá đồng, sông, suối được phơi khô. Mà hỡi ôi, không chỉ vì kỷ niệm mà sự khoái khẩu ấy còn do yên tâm về an toàn thực phẩm. Thế đấy, đôi khi đi xa, điều sung sướng lại là món ăn chẳng cao sang gì, miễn là con cá, ngọn rau, miếng thịt chưa bị phun lên hóa chất, chất tăng trọng. Chỉ mong mỗi ngày được đưa vào miệng thực phẩm sạch. Sao khó quá đi mất. Nghĩ đến đó, lúc xe chạy về đến cửa khẩu Tây Ninh, y không khỏi nén tiếng thở dài…

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 18.7.2017

 

mua-chinh-chien-ay-biabis-RRweb

 

“sao lúc ấy không thể nào khóc?/ sờ soạng đi tìm thân xác bạn tả tơi/ từng mảnh linh hồn bay trăm nơi/ làm sao nhặt đủ?/ hình hài bạn như một kỷ niệm cũ/ khó quên/ thời gian đi qua đậm đặc bóng đêm/ tôi vẫn thấy bạn quay về nguyên vẹn/ bạn đó hả? vẫn nụ hồng rón rén/ bộ quân phục rộng thùng thình/ vẫn dáng chào kiêu hãnh tân binh/ hút thuốc lá sâu kèn/ bực mình quá thì chưởi tục/ rồi cười/ lúc ấy hồn nhiên như mây trời”.

Những câu thơ viết về Những liệt sĩ trinh tiết từ năm tháng đôi mươi với nón cối, dép râu, râu ria lún phún, môi còn hồng, da trắng bạch diện thư sinh đang vọng về tâm tưởng. Nhớ. Một nỗi nhớ mộng mị. Một tiếng lòng xa ngút. Một tình yêu của thời tươi trẻ. Tại sao nhớ? À, y đang đọc lại bản thảo Hồi ức chiến binh Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn. Mấy năm trước, đã nhắc hắn ta từng ngày để sau đó có được tập bút ký Những người không gặp lại nữa. Nay, thêm một quyển sách mà trong lời Tựa, y ghi nhận cho đến nay, vẫn là tập bút ký xuất sắc nhất; và có vị trí rất quan trọng trong các tác phẩm đã viết về chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam. Dòng văn học “Đất bên ngoài Tổ quốc”, cụ thể Kampuchia đã có một Đoàn Tuấn bên cạnh những Văn Lê, Phạm Sỹ Sáu, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Quốc Trung, Nguyễn Thành Nhân, Bùi Thanh Minh, Huỳnh Kim, Lê Minh Quốc… đã khắc họa lại bằng sự linh cảm, cảm nhận từ xương máu của cả thế hệ mình.

Tại sao quan trọng? Có phải vì tình đồng đội cũ mà nói thế chăng?  

Chẳng phải đâu. Ở tập sách này Đoàn Tuấn đã tẩn mẩn ghi lại thói ăn nếp ở, hoạt động tác chiến, chặng dường hành quân, tình quân dân, kể cả phong tục, tập quán đất nước bạn qua cái nhìn của người lính đã sống ròng rã một thời trai trẻ. Những trang viết ấy, quan trọng ở chỗ nó còn là chất liệu thật, chưa nhìn qua lăng kính hư cấu, thăng hoa của thể loại văn học. Chỉ là những dòng viết từ trí nhớ, từ những trang nhật ký ngay từ thời ấy.

Đọc và cảm động. Đôi lúc, phải cắn răng vào môi để khỏi bật ra tiếng nấc. Nhớ lắm. Nhớ những gương mặt tân binh còn búng ra sữa, nhớ những gương dày dạn trận mạc, nhớ những ngày “Quần xăn đến gối/ Ào ào mưa xối/ Trên lưng vác cối/ Vai khoác A.K/ Đi qua rừng già/ Bước chân thần tốc/ Từ rừng rậm đến rừng thưa/ Mưa rơi chéo chéo lúc vừa hành quân/ Vai hằn quai súng qua lưng/ Gấu quần rách toạc luồn rừng Anlung”.

Và nay, sự tri ân đến chiến hữu đã hoàn thành. Khi đưa bản thảo này cho Hoàng Anh - vợ của nhà văn, đạo diễn Trần Quốc Huấn, chị gật đầu ngay. Hơn ai hết, chắc chắn những người đã là vợ của chiến sĩ lực lượng vũ trang bao giờ cũng dành nhiều tình cảm với đồng đội cùng thế hệ với chồng. Chị bảo, cùng với biên tập viên Nguyễn Hải Đăng đọc bản thảo, có lúc cả hai rưng rưng. Nhận xét này, quý lắm. Bởi vì rằng, khi Tuấn bắt tay viết nhiều năm liền, không ít kẻ biết chuyện khuyên chớ nên. Tại sao? Thời gian quân ngũ đã trôi xa, chiến tranh đã lùi, liệu chừng độc giả hiện nay có quan tâm, tìm đọc không?

Ơ hay, một khi nén nhang đã thắp lên, trước tiên phải là sự giao cảm với người đã khuất. Sự giao hòa giữa người viết và “những người muôn năm cũ/ những người không găp lại nữa” đã có mối quan hệ chí cốt mới là quan trọng nhất. Còn những người trẻ có cảm nhận hay không lại là chuyện khác. Họ có cảm nhận không? Tin rằng, có. Dứt khoát có. Cũng tựa như thế hệ y đã từng nhớ và ngưỡng mộ sự hy sinh: “Áo bào thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Nếu Quang Dũng không viết, thế hệ sau mấy ai còn biết đến sự lẫy lừng của Trung đoàn Tây Tiến? Điều này, lúc trà dư tửu hậu anh em các trung đoàn 95, 94, 29 thuộc Sư đoàn 307 đã nói đến, bàn đến.

Sực nghĩ, đôi khi, đồng đội thân thiết với nhau, nào phải cà kê dê ngỗng với rượu, bia dạt dào như mưa nguồn rót thẳng từ trời xanh xuống bàn nhậu. Say tòe loe bông bí. Say quên cả lối về. Mới là vui. Câu thơ của Tạ Ký: “Từng đêm chợ Đũi đẫm sầu/ Ly la-ve đổ gội đầu tóc xanh”, nghe ra hào khí lắm. Có khác nhau chăng, sau đó, con người ta bắt đầu có cái gì cho trang viết mới là điều đáng nhớ. Bằng không chỉ là một cuộc nhậu vô thưởng vô phạt. Chỉ “chém gió” là giỏi. “Buôn dưa lê” là tài. Sáng mai tỉnh dậy, chẳng nhớ gì đến những phát ngôn, những dự định đội đá vá trời. Kể ra cũng tiếc cho chất men tạo cảm hứng lúc trải lòng tâm tình. Trong những lúc ấy, Tuấn lại khác, gần như lúc nào cũng hý hoáy ghi lại những gì anh em bồ tèo đã kể, đã nhắc.

Mọi việc trên đời này, hễ cứ sắp xếp thật khoa học, chỉnh chu, ngăn nắp, nề nếp thì mọi sự diễn ra như ý muốn? Đúng lắm. Nhưng y còn nghĩ đến một yếu tố khác nữa: tâm linh. Rằng, ngày nọ, tháng nọ, năm nọ, các cựu chiến binh của Sư đoàn 307 bàn nhau rằng, phải có tập sách viết về năm tháng đã trải qua trên quê hương Chùa Tháp. Nhất là cho người đã khuất. Ít ra trong năm này phải có. Mà đúng thật. Mọi việc cứ đâu ra đó. Chẳng phải do sự phù hộ mơ hồ nào đó chăng? Tuấn đã nghĩ thế. Và khi đặt dấu chấm cho bản thảo dày cả 450 trang in, hắn đã thắp lên một nén nhang trong tâm tưởng như ngày trước, bọn y đã từng đứng trước nghĩa trang Anlungveng: “Trên trời rời rạc mây bay/ Linh hồn ấm lạnh cỏ cây vỗ về/ Nằm yên mà tưởng nhớ quê/ Đêm đêm nức nở trở về trần gian/ Thắp cho em nén hương tàn/ Hắt hiu mộ chí giữa hàng thơ xanh”.

Tuấn nhớ lại: “Không biết ai đã chọn khoảng đất giữa C7 và D bộ để làm nghĩa trang. Nhìn đi nhìn lại, chắc có mỗi chỗ đó là an toàn hơn cả. Không sợ địch mò vào ban đêm. Không sợ địch tập kích. Tử sỹ vẫn nằm trong vòng bảo vệ của đồng đội. Nghĩa trang không có hàng rào, không có biển hiệu, không có cây to. Chỉ có những cây khộp non. Và cỏ. Mỗi khi đơn vị nào có người mất, ông Vẳng lại bảo tôi: “Nhớ chôn cất cho tử tế. Phải nhớ rằng, mình làm cho người sống chứ không phải làm cho người chết. Anh em nhìn vào. Chúng nó biết, khi hy sinh, được đơn vị đối xử tử tế. Như thế, mới dám chiến đấu, dám hy sinh”.

Và trong các trang viết thấm đẫm kỷ niệm, sự chết chóc, yi tin chắc nhiều người đồng tình bởi ai lại không có tâm niệm: “Tôi tin rằng, mình đối xử chân thành với các liệt sỹ, họ cũng sẽ biết. Môi trường quân đội ngày càng thấm sâu vào tôi. Trước đây, chỉ có những đồng đội đang sống, cùng sát cánh chiến đấu, giờ, giữa chúng tôi có thêm, có chung những đồng đội đã mất. Họ là những sợi dây vô hình, nối chúng tôi lại bền chặt hơn. Và Anlong Veng, và Campuchia, tên những địa danh đã trở nên thân thuộc như tên quê hương Việt Nam yêu dấu. Bởi ở đây, đã có một phần cơ thể chúng tôi nằm sâu trong lòng đất. Tan ra. Thành chất đất, thành nước, thành khí trời, thành cỏ cây, thành bướm, thành hoa của xứ sở này”. Tuấn nói đúng lắm.

Và cuộc họp cựu chiến binh năm nay, dù bận rộn với công việc này nọ nhưng y cũng phải cùng Trần Đào Hiền Nhân - cựu binh của C7, D8, E29 về Đà Nẵng. Phải đổi vé máy bay vì chờ sách in xong. Một món quà tinh thần mà mọi người đang nôn nóng chờ đợi. Không thể thiếu. Và lại gặp Vũ Đình Chiến - một y tá đại đội nhưng được người dân Khmer gọi “Lục Thum” (ông lớn). Tại sao?

Tuấn kể: “Trong phum, có một cô gái kia khá xinh. Một hôm, cô đi làm ruộng, thế quái nào, bị con đỉa chui đúng vào chỗ kín. Về nhà, buổi tối mới phát hiện. Gia đình cô không biết làm cách nào để lấy nó ra.Chắc nó đã chui sâu vào trong.Nhiều người trong phum nghe tin, kéo đến xem, cũng không ai có cách gì. Không thể dùng lửa. Nhỡ đỉa chưa chết mà người đã bị bỏng thì sao? Họ cũng không có dầu nóng để bôi vào. Cô gái chưa chồng, nên càng phải thận trọng. Dân cũng đã thử dùng rượu. Nhưng cái thứ rượu sara vắt từ men gạo thì nhẹ hều, đỉa nào thèm buông vòi. Trường hợp hiếm hoi này, trong phum, từ xưa đến nay, chưa ai gặp phải. Họ kêu ông trưởng  phum. Trưởng phum nghe đâu cũng có vài ba vợ nhưng ông cũng chưa bao giờ sờ thấy con đỉa nào trong cái chỗ oái oăm ấy, ông vào tiểu đoàn trình bày thế. Đã gần 12 giờ khuya. Chắc từ tối đến giờ, cả phum chỉ loay hoay với con đỉa.

Làm cách nào bây giờ?

Dùng panh kéo ra thì không được. Con đỉa có năng lực tự co giãn, tự đàn hồi cực tốt. Kéo không khéo, còn dính lại vòi thì cũng bằng không. Mà cái vòi con đỉa bám sâu ngần nào, ai biết? Rất thông minh và nhanh trí, Chiến bèn lấy nước muối, làm vệ sinh cho cô. Sau đó, anh lấy bông, thấm cồn. Một tay dùng panh kéo đỉa. Tay kia dùng bông cồn dí vô. Bị bỏng đột ngột, con đỉa vội co vòi lại, cuộn tròn. Chiến chỉ việc dùng panh gắp ra. Mọi người vỗ tay ầm ầm. Mặt Chiến đầm đìa mồ hôi, đỏ lựng như say rượu. Chẳng sao, trông càng đẹp”.

Kỷ niệm này hay quá đi thôi, phải không? Sau khi rời Đà Nẵng, lại một chuyến sang Kampuchia. Như một sự hoài niệm trở về “thăm lại chiến trường xưa”. Thầm ước rằng, sang đến nơi ấy, dù Palin, Pnong Pênh, Siêm Riệp, Cong Pong Thom… gì cũng đặng, phải đốt một quyển Mùa chinh chiến ấy. Khói sẽ bay bốn phương tám hướng. Ngọn khói lãng đãng, dịu vợi, thơ mộng và thành kính ấy, chắc rằng những xương cốt còn thất lạc của đồng đội cũ sẽ cảm nhận lòng thành. Lúc ấy, khói bay đi. Tàn tro còn ở. Sẽ chôn lại nơi này. Như ngày trước. Ngày còn tươi trẻ, bước chân vào cuộc chiến mà lòng còn hào sảng, “tiểu tư sản” rất thư sinh mặt trắng: “Lính tráng hành quân qua quán rượu/ Mặt đỏ như là đứa trẻ ranh/ Đứa trẻ đội thơ Bạch Cư Dị/ Đêm nay ném xuống sông Mê Kông/ Sông sẽ hóa thành dòng rượu ngọt/ Chờ em xuống giặt váy dài xanh...

Vậy mà lúc đồng đội ngã vào lòng đất, ở cánh rừng đông bắc, thế hệ y cũng đã từng chứng kiến giây phút bùi ngùi, cảm động đúng như Tuấn đã viết:

“Tôi đọc lời điếu. Mưa xuống. Mặc kệ. Cứ đọc. Anh em vẫn đứng. Đầy xúc động. “Đội tiêu binh. Chuẩn bị. Giương súng lên. Mở khóa an toàn nấc 1. Đặt tay vào cò. Bắn ba phát tiễn biệt đồng đội. Bắn!”. Đầu súng tóe lửa. Khói bảng lảng trong mưa. Những tiếng nổ vang lên. Lính tráng nhẹ lòng. Linh hồn liệt sỹ chơi vơi. Bề ngoài tỏ ra cứng cỏi, chứ thực lòng, đến tiết mục ném đất xuống quan tài, tôi vô cùng sợ hãi. Tôi không thể chịu đựng hay làm quen được với âm thanh của viên đất đầu tiên ném xuống tấm ván dương. Nghe khô khốc mà âm vang đau đớn. Ngỡ như có viên đạn bắn vào giữa trái tim mình. Lính tráng cũng ý tứ. Không đứa nào muốn mình là người đầu tiên ném viên đất xuống mộ đồng đội. Phải nhắc nhau mãi, mới có thằng liều lĩnh ném xuống. Cũng chẳng biết ai. Nhưng có thằng khởi xướng, thì những thằng khác cũng ném theo. Tôi để ý, thấy thằng ném đầu tiên thường là người của tiểu đội đóng quan tài. Chúng nó là lính vận tải trung đoàn, đi phối thuộc nên ít gắn bó với những kỷ niệm sống chết như những anh em trong cùng đơn vị”.

Sau chuyến đi này, sẽ là cuộc họp với anh em cựu binh của Sư đoàn 307 tại Sài Gòn. Chỉ nghĩ đến đó, ít nhiều đã thấy rạo rực và nhẹ lòng. Năm tháng tuổi trẻ đã đi qua, chẳng thể nào quay trở lại. Ngày này, tháng này, năm này, rồi những năm tới cũng là dịp gặp mặt nhau. Hiền lành và giản dị, Chẳng có gì phải ồn ào cả. Rồi mỗi người mỗi việc. Cứ như thế, chẳng mấy chốc mây trắng bay qua, tóc xanh hóa trắng. Đời sẽ già. Có lúc sẽ gật gù nhớ lại: “Chúng tôi đi và sống/ Thanh xuân mỗi một thời/ Những người lính hào phóng/ Đạp mìn chân cụt rồi/ Nhưng trên vai vẫn cõng/ Giọt lệ lẫn nụ cười/ Cho tôi được sống lại/ Ngày đầy tuổi hai mươi/ Kỷ niệm tan trong máu/ Nuôi dưỡng tôi thành người”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 13.7.2017


IMG0115-Custom

 

Trống chầu hay trống chậu?

Dứt khoát, trăm người như một đều trả lời trống chầu.

Trong chuyên luận Người Quảng Nam của y, có đoạn: “Từ tiếng trống chầu ở Quảng Nam, ta nghe kể đến nhiều mẩu chuyện vui vui. Chẳng hạn, nhà thơ Lưu Quang Thuận, người Hải Châu (Đà Nẵng) - thân phụ của nhà thơ, nhà viết kịch nổi tiếng Lưu Quang Vũ, nhà phê bình văn học Lưu Khánh Thơ -  là người giỏi về sân khấu chèo, tuồng… Lần nọ gánh hát của ông gặp tay cầm chầu lơ mơ đánh đấm thưởng phạt tuỳ tiện. Để sửa lưng, ông Thuận cho hề ra góp vui: “Tổ cha con quạ ở đâu/ Lâu lâu lại mổ tấm da trâu cái thùng!”. Tay cầm chầu nhột dạ, xấu hổ, đứng lên bỏ về một mạch”.

Trống thường làm bằng da trâu. Tại sao không là da con gì khác, chẳng hạn da bò, dê, ngựa? Phải là dân trong nghề mới trả lời nổi. Có thể do da trâu khi căng ra, dù bị dùi nện liên tục nhưng vẫn không thủng, vẫn bền; hay còn do vì da trâu nên tiếng vang của trống rõ ràng, lan xa hơn?

Ăn no rồi lại nằm khoèo

Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem

Chẳng thèm ăn chả ăn nem

Thèm no cơm tẻ, thèm xem hát chèo

Trống chèo khác gì trống chầu? Ông Huình Tịnh Paulus Của (1895) giải thích “trống chầu: thứ trống lớn hay dùng mà đánh thướng hát bội”. Là nhạc sĩ tài ba lại có nghiên cứu uyên thâm, nhạc sĩ Phạm Duy nói rõ hơn: “Trồng chầu: Dùng trong Hát Ả Đào. Tương tự như trống đế nhưng được cấu tạo công phu hơn. Chỉ dùng một dùi - được gọi là roi chầu - làm bằng gỗ găng. Âm thanh trống chầu thấp hơn âm thanh trống đế, ít trong sáng hơn. Quan viên tức là người nghe hát, cầm chầu để điểm câu hát, khen câu văn hay, gieo vận đẹp, hoặc để thưởng giọng hát của ả đào. Chỗ ngắt câu thì đánh "tom" (đánh vào mặt da) chỗ nào khen thì gõ "chát" (đánh vào tang trống). Có nhiều lối đánh trống chầu được đặt tên là Hạ Mã, Thượng Mã, Xuyên Tâm, Lạc Nhạn, Thùy Châu, Tranh Tiên”.

Trong tiếng Việt miền Nam, giăm trống/ tang trống cùng nghĩa với vành trống. Xấu xí, đáng ghét của người lớn tuổi còn là “Già chơi trống bỏi” - còn gọi trống rung/trống giấy. Ai cũng rõ, giải thích nữa, chỉ thêm rườm lời. À, tính cách, thói xấu của người Việt cũng có dính dáng đến cái trống đấy. Thử nhớ lại xem. Vẫn là Đánh trống bỏ dùi; Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược… Thú thật, không rõ thành ngữ, “Trống bỏi vật mình” nghĩa của nó ra làm sao?

Có lẽ ít người còn nhớ câu cửa miệng “Quạ quạ đánh trống” là tiếng trù ẻo cho ai đó chết sình, bụng trương lên căng như cái trống, quạ đến mổ. Xét ra con quạ cũng đáng ghét như con cú, bằng chứng có câu: “Cú kêu nhà bệnh”, “Trông xa cứ nghĩ là tiên/ Đến gần cú đậu ở bên cạnh sườn”. Lời chê thâm trầm chữ nghĩa quá đi thôi, ai lại không nhớ thành ngữ: “Hôi như cú”?

“Quạ nào mà chẳng đen đầu” ý nói loài quạ xấu xa cùng một giuộc, cùng “cá mè một lứa” chứ không hề có ngoại lệ. Thế tại sao còn có câu ca dao liên quan đến con quạ lại dễ thương, đáng yêu đến lạ lùng: “Con quạ nó đứng đầu cầu/ Nó kêu bớ mẹ lấy trầu khách ăn”; “Con quạ nó đứng đầu cầu/ Nó kêu bớ má ghe bầu vô chưa?”. Chỉ cần nghe “bớ má/bớ mẹ” là đã có cảm tình rồi. Trên đời này với cái lưỡi, con người ta có thói xấu thỉnh thoảng thay lưỡi tùy ngữ cảnh, trường hợp nhưng một khi đã gọi đến má/mẹ, tiếng gọi ấy dù  “bớ/uớ/quớ” tùy theo vùng miền cũng đều là âm thanh trong sạch, trong trẻo và thánh thiện nhất. Không pha tạp. Không giả dối. Một khi con quạ “Nó kêu bớ má” thì sự xấu xa ở đâu không biết, chứ trong ngữ cảnh này ắt sự hướng thiện vẫn còn.

Lại nữa, “Quạ kêu nam đáo nữ phòng/ Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương”. Sao không con gì khác mà phải là con quạ? Chọn con sáo, con chim se sẻ, vàng anh, hoàng yến... có phải hay hơn không? Nhưng rồi vẫn là con quạ. Ông bà ta đã ngụ ý gì vậy? Chưa dám trả lời, chỉ mạo muội nghĩ rằng, sức sống của câu ca dao này còn tồn tại ngàn đời. Bởi lẽ trai chưa vợ gái chưa chồng làm sao không trải qua giây phút, ngày tháng thiêng liêng này? Thật thế, tình yêu, bản chất đầu tiên và cuối cùng vẫn là sự thiêng liêng bởi nó còn là kết quả của thế hệ tiếp nối về sau, mãi mãi về sau nữa…

Ngày xưa, còn có loại trống đất. Nghe lạ tai quá phải không? Có phải cái trống này làm bằng đất nung nên mới “chết tên” như vậy? Suy luận này buồn cười quá. Đất nung làm sao chịu nổi dùi? Hãy nghe ông Huình Tịnh Paulus Của giải thích, chứ không biết mà cứ nói như “biết tuốt”, thiên hạ cười cho: “Trống làm dưới đất:phải đào một cái lỗ, trên lót một tấm ván mỏng, giăng một đàng dây ngang qua mặt ván, lấy một chiếc đũa, gối lên tấm ván, chống đàng dây cho thẳng, rồi lấy cây mà đánh sợi dây thì nó kêu”. Cách chơi tróng kiểu này xét ra “nghệ sĩ” lắm. Nay, không còn ai chơi nữa rồi.

Đôi khi con người ta cần âm thanh, cần nghe tiếng động để thấy chung quanh không lẻ loi, đơn độc. Nói thế, bởi nhớ những đêm khuya khoắc ở chiến trường K, đêm nào cũng mở radio để nghe có âm thanh vọng đến. Rất thèm nghe tiếng người. Đài tiếng Việt càng tốt, nhưng nếu chỉ nghe tiếng nước ngoài cũng chẳng sao, miễn là có tiếng nói. Nếu không, chẳng rõ mình đang ở đâu trong cái thế giới bốn bề im ắng, rừng rú tối đen tịnh không một tiếng động. Bây giờ lại khác. Đinh tai nhức óc suốt cả ngày. Cái điện thoại di động lúc nào cũng kè kè, thỉnh thoảng lại “tèng téng teng” như tiếng trồng/kèn xung trận. Giật thót cả người.

Thú thật, phải là những gì đã đọc từ thời trẻ thì mới nhớ lâu. Sau nay, lúc đã có tuổi dẫu đọc cho lắm nhưng rồi cũng nhớ trước quên sau. Nhớ mãi cái cuộc tranh luận về cái trống đã đăng trên tạp chí Bách Khoa, từ cuối thập niên 1960 thì phải. Đại khái, ông Hồ Hữu Tường cho rằng, cách đánh cùng một lúc mười mấy cái trống, điệu trống ấy chỉ có thể do vua Quang Trung nghĩ ra, lúc ngài hạ lệnh thúc quân ra Bắc đánh bọn giặc nhà Thanh. Ông Nguyễn Văn Xuân cãi không phải, chỉ là thứ trống diễu hay trống ông Ninh - ông Xá quen thuộc trên sân khấu, chẳng liên quan gì đến vua Quang Trung. Ông Võ Phiến tham gia, nghiêng về lý lẽ của ông Xuân và “chốt hạ” bằng một câu khôn ngoan, hóm hỉnh: “Nếu quả Bình Định mất đi một điệu trống, phải được đền lại một cái gì chứ? Cái bánh tráng nhé”.

Lúc nhỏ ở Đà Nẵng, y vẫn còn nghe tiếng trống chầu lúc giỗ đình làng có hát tuồng, hát bội. Nghe thì nghe vậy. Chỉ như “vịt nghe sấm”, thậm chí tiếng trống ấy chỉ “nước đổ đầu vịt”. Nào có hiểu gì đâu. Sau này, nhờ đọc phân tích của nhạc sĩ Phạm Duy mới biết nghệ thuật đánh trống: “Trống của sân khấu Tuồng, Chèo, trông giống như trống cái nhưng được làm công phu hơn. Chỉ gõ bằng một dùi để điểm câu hát (1 tiếng tùng), khen ngợi (2 hay 5 tiếng tùng) hay chê bai (1 tiếng tịch = 1 tay chặn, 1 dùi đánh) đào kép, góp ý với thầy tuồng (1 tiếng các = đánh vào tang trống). Trống chiến, trống trận: Như trống cái nhưng nhỏ hơn, âm thanh nghe rộn ràng, khoẻ vang. Là trụ cột của ban nhạc Tuồng, mở câu, chấm câu, thôi thúc xuất trận hay làm đối âm cho câu hát. Trống này cho người đánh nhiều âm khác nhau : Thùng = đánh giữa mặt trống; Tang = đánh rìa mặt trống; Rụp = đánh 2 dùi ở mặt trống; Tịch = 1 dùi chặn, 1 dùi đánh; Tòng = đánh nhóm dùi vào mặt trống; Các = đánh vào tang gỗ”.

“Nghề chơi cũng lắm công phu”, cụ Nguyễn Du nói đúng lắm. Đố cãi.

Sở sĩ chiều nay, lan man về cái trống và tự hỏi: “Trống chầu hay trống chậu?” là do cơn cớ gì? Rằng thưa, sáng nay, ghé quan tạp chí KTNN ký nhận nhuận bút. Tòa soạn cũng là tư gia của ông chủ biên Hàn Tấn Quang. Tình cờ nhìn thấy vài cái chậu cổ, bằng đồng (hay thau?), lạ ở chỗ có khắc hoa văn, chi tiết tinh xảo. Chắc chắn không phải là hàng phục chế sau này. Nếu có làm cũng không thể thực hiện nổi các hoa văn lạ lùng ấy. Rõ ràng, là cái chậu.

“Đồn rằng cà cuống thơm cay/ Ăn cơm bát sứ, rửa tay chậu đồng”. Ngày xưa, phải nhà giàu mới có. Lại còn nghe câu: “Chim quyên ăn trái nhãn lồng/ Thia lia quen chậu, vợ chồng quen hơi”; “Nước đứng mà đựng chậu thau/ Cái mâm chữ triện đựng rau thài lài”. Nước đứng là nước gì? Ông Nam Chi Bùi Thanh Kiên giải thích: “Nước không chảy ra cũng không chảy vô. Đó là lúc thủy triều lên cao nhất”. Ai lại không nhớ câu đố: “Nước không chân sao kêu nước đứng?/ Con cá không trèo sao nói cá leo?/ Ghe không tay sao kêu ghe vạch?/ Bánh không cẳng sao gọi bánh bò?”. Một cách chơi chữ từ sự đồng âm trong tiếng Việt. Lý thú lắm.

“Cái mâm chữ triện đựng rau thài lài”, chẳng khác gì: “Con vợ khôn lấy thằng chồng dại/ Như bông hoa lài cắm bãi phân trâu”. Cái mâm đắc giá, đắc tiền mà dùng đựng rau/cỏ thài lài thì phí thật đấy chứ. Không rõ vì sao trong tâm thức người Việt lại xem thài lài chẳng ra cái quái gì? Do đâu? Hãy nhớ lại đi, có phải ông bà ta nói: “Thài lài mọc cạnh bờ sông/ Tuy rằng xanh tốt vẫn tông thài lài”, chẳng khác gì mắng: “Ối dào, thằng cha đó nứt đổ vách, vườn tược cò bay thẳng cánh, chó chạy con đuôi, biệt phủ hoành tráng nhưng dòng dõi, gốc gác dòng tộc nó vẫn là dân ngụ cư”. Còn có câu mệt thị nào nặng nề hơn?

Lại nữa, “Gái phải hơi trai như thài lài phải hơi cứt chó”. Nghe ra cũng chua chát rồi tủm tỉm cười cho sự so sánh đáo để, tinh nghịch của ông bà mình. Nó thì nói thế, cái loại thài lài ấy chớ nên chê bai, nó cũng có ích đấy: “Thài lai, rau rệu, nghé ngo/ Mẹ con nhà khó ăn no lại nằm”. Dù chẳng là gì nhưng có thể giúp người nghèo qua cơn đói ngặt, đói nghèo cũng đã là tốt.

Có một điều lạ khi tra từ điển do người miền Nam soạn lại không thấy ghi nhận “thài lài”, chỉ có “thài lai” tức đi dạng hai chân, coi bộ mệt nhọc đi không vững. Nhưng “thày lay” lại là chỉ kẻ hớt hẻo, xen vào chuyện người khác, dù chẳng liên can, dính dáng gì đến mình. Thành ngữ có câu: “Thày lay chày cấu cổ” cùng nghĩa với “Ách giữa đàng mang vào cổ”.

Hãy trở lại với cái chậu đi thôi. Lạc đề rối đấy. Xin vâng.

Ngày xưa có câu: “Cá chậu chim lồng”, hoặc cách ví von: “Như chim vào lồng, như cá căn câu” - nay bọn trẻ trâu lại đùa tếu táo, cà chớn cà cháo, nghe rồi cười: “Trai có bồ như hoa có chậu / Em nào thâm hậu, đập chậu cướp hoa”. Vậy hóa ra đàn ông đàn ang “có giá” thế ư? Chỉ là một cách tự “làm sang” đấy thôi. Sức mấy, đời nay, và dám quả quyết rằng cho đến muôn năm sau, ngàn đời sau, người phụ nữ vẫn là số 1, là trước nhất, là ngôi cao mà bọn đàn mày râu còn phải xách dép chạy theo dài dài. Còn phải năm canh khóc thầm, lả chả dòng lệ nếu chẳng may thất tình do “bồ đá/gài số de”. Còn phải thở ngắn than dài như chàng trai tội nghiệp trong ca dao hàng ngàn năm trước: “Ô hô, chậu ngã, cúc rã, sen tàn/ Tiếc công anh lận đận với nàng bấy lâu”.

Đọc/nghe xong thấy buồn cười à? Nào dám, bởi câu ca dao ấy đã nói hộ lòng mình đấy. Đúng chóc rồi còn gì?

Đang ngắm nghía vài cái chậu cổ tại tòa soạn KTNN, nghĩ ngợi lan man, bỗng nghe anh Hàn Tấn Quang bảo, đại khái, cái chậu ấy còn gọi là trống chậu, Q à”. Tưởng nghe nhầm, từ dấu “huyền” sang dấu “nặng”, anh vẫn quả quyết “trống chậu”. Cứ theo lập luận của anh, lúc xâm lược nước Nam ta một trong những chính sách cai trị tàn độc của bọn giặc phương Bắc vẫn là cấm dân Nam làm làm trống. Chúng thừa biết một khi tiếng trống đã nổi lên thì chính là lời hiệu triệu giục giã, thúc giục dân làng, làng xã phải có mặt ngay lập tức vì đại cuộc, không một ai dám chần chừ, trễ nãi. Để đối phó,qua mặt, ông cha ta đã làm chậu cũng bằng vật liệu sắt, đồng, thau… như làm trống để che mắt chúng. Khi cần, nếu cần chỉ cần úp chậu xuống thì nó đã trở thành mặt trống. Lời giải thích này với lập luận xác đáng nên ghi lại.

Trưa đứng bóng, trên đường tạt qua bệnh viện Gia Định thăm mẹ đang điều trị. Sực nhớ đến câu của người xưa: “Đồng quân nhất dạ thoại, thắng độc thập niên thư” (Cùng anh trò chuyện một đêm, hơn cả mười năm miệt mài đọc sách)..

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 12.7.2017

 

LY_TOET_XA_XE_BANG_BANH

Chiều đã chiều Đã nhiều chiều đọc vẩn vơ vài trang sách. Tự dưng lại nhớ đến ngày dự hội thảo Phong trào Thơ mới và văn xuôi TLVĐ - 80 năm nhìn lại. Diễn ra ngày 2.10.2012 tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM do 4 đơn vị giáo dục tại TP.HCM là Trường Đ.H Sư phạm, Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học, Khoa Văn học và Ngữ văn Trường Đ.H KHXH&NV và tạp chí Thế Giới mới đồng tổ chức.

Ngày đó, PGS-TS Trần Hữu Tá đọc diễn văn khai mạc, qua đó, ông kết luận: “Những sáng tạo nghệ thuật của khuynh hướng thẩm mỹ này, cùng với thành tựu của hai dòng văn học hiện thực chủ nghĩa và văn học cách mạng vô sản cùng thời, tất cả đã góp phần thực thi một nhiệm vụ lịch sử quan trọng: hoàn tất quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc chỉ trong hơn một thập kỷ (1930-1945), đưa văn học nước ta từ quỹ đạo văn học trung đại hòa nhập chung dòng chảy của văn học thế giới hiện đại”.

Rất tiếc trong hội thảo này, chỉ duy nhất tham luận của Thái Thị Thu Thắm (Đ.H Văn Lang) đề cập đến Mối quan hệ giữa văn học và hội hoạ trong hoạt động của TLVĐ. Và lấy làm tiếc. Tiếc vì như ta đã biết, trong hệ thống truyện cười dân gian Việt Nam đã có những nhân vật hoạt kê nổi tiếng như Trạng Quỳnh, Xiển Bột, Ba Giai - Tú Xuất v.v... Và bây giờ, chính TLVĐ đã sáng tạo thêm ba nhân vật điển hình nữa - một thành công rực rỡ cho nền biếm họa chí nước nhà: Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh.

Lâu nay, các nhà nghiên cứu đã nhọc công tìm hiểu ai đích thực “cha đẻ” của ba nhân vật này? Mỗi người nói một phách. Người này nghe người kia nói thế, tin sái cổ, vì thế khi viết lại lặp theo. Cái sự cần thiết nhất trong nghiên cứu vẫn là “nói có sách, mách có chứng” nhưng rồi nhiều người lại không thực hiện. Chẳng phải họ làm biếng, cẩu thả mà do thiếu tài liệu, không có văn bản nên đành chịu. Nói gì cho xa, đôi lúc y cũng thế thôi. Rồi, có lúc kiểm chứng lại tài liệu mới ngớ người thốt lên bẽ bàng. Trách ai bây giờ?

Con nhớ, lúc còn đi học trung học, đã đọc tạp chí Văn Học chủ đề Những vang bóng một thời trong văn chương hoạt kê Việt Nam - ấn hành năm 1971. Và tin sái cổ về sự ra đời của nhân vật Lý Toét do nhà văn Vũ Bằng viết: “Lần đầu tiên xuất hiện trên Kỷ yếu Việt Nam Thanh niên hội của sinh viên Cao đẳng (Hà Nội), hai ba tháng ra một số, ngoài bìa sách vẽ một gốc đa cổ thụ. Và chính nhà thơ Tú Mỡ (1900 - 1976) là “cha đẻ” ra Lý Toét và ngay bản thân Tú Mỡ cũng được gọi là Lý Toét. Tại sao bị gọi Lý Toét? Là vì Tú Mỡ làm thơ trào phúng thì hóm hỉnh, nhưng ngoài đời lại có vẻ quê mùa, quê mùa từ cách nói năng cư xử đến cách thức ăn mặc - giữa một thời kỳ đương tiến bộ hết mốt nọ đến mốt kia, Tú Mỡ nắng cũng như mưa, hai buổi đi làm cứ cọc cạch một cái xe Terrot đồng nát, mặc áo the, đi giày Tây trắng, mà lại đội một cái nón dứa lên đầu xùm xụp” (tr.25).

Trong tham luận trong hội thảo nêu trên, Thái Thị Thu Thắm cho rằng: “Nhất Linh là người đã sáng tạo ra Lý Toét còn Nguyễn Gia Trí chính là hoạ sĩ tài hoa đã cho ra đời Xã Xệ và Bang Bạnh”. Trong quyển Biếm họa Việt Nam (NXB Mỹ Thuật- 2011), họa sĩ Lý Trực Dũng cho rằng: “Xã Xệ và Bang Bạnh chính là sáng tác của họa sĩ Nguyễn Gia Trí với bút danh Rigt” (tr.14) v.v…

Dù thế nào đi nữa, việc đưa các nhân vật này “hội nhập” vào đời sống, trước hết phải kể đến công lao của nhóm TLVĐ.

Tại sao không thử mạo muội lật lại tài liệu xưa để có thể “chốt hạ” lại vấn đề mà lâu nay đã còn có nhiều, rất nhiều ý kiến tranh luận khác nhau? Thách đấy, có làm nổi không?  Y hỏi y chứ ai. Không thèm trả lời. Chỉ nhẩn nha lật lại bộ Phong Hóa xem sao. Và sau đây là những gì y đã ghi nhận và khẳng định từ văn bản, từ tài liệu chứ không “ăn theo nói leo”.

Đọc lại tờ Ngày Nay số xuân năm 1940, trong bài Lịch sử Lý Toét, Ba Ếch và Xã Xệ nhà văn Nhất Linh tiết lộ: “Lý Toét ra đời trước rồi người mới ra đời sau. Tên Lý Toét thấy xuất hiện năm 1930 trong báo Tứ Dân mà người đẻ ra cái tên Lý Toét lại là Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu. Còn ai đẻ ra Lý Toét (người thật)?”. Với câu hỏi này, Nhất Linh trưng ra hình vẽ Lý Toét in trên măng-sét của báo Phụ Nữ Thời Đàm số tháng 6.1931 và cho biết: “Đó là bức vẽ đầu tiên về Lý Toét. Đông Sơn một hôm ngồi xem báo Phụ Nữ. Nghịch vẽ một người nhà quê và thấy người ấy hay hay liền xé chỗ vẽ cất đi, chưa biết dùng làm gì”.

Mãi đến khi Phong Hóa bộ mới do nhóm TLVĐ thực hiện, Lý Toét mới chính thức “hành hiệp giang hồ”. Trên   số báo 14 (22.9.1932), trang bìa có in tranh vẽ Người An Nam mình kinh doanh, dù “25 chỗ ngồi nhất định” nhưng trên xe chở cả vài chục người lổn nhổn. Nếu quan sát kỹ, ta thấy có nhân vật ná ná như Lý Toét đuọc phổ biến sau này. Tranh ký tên Đông Sơn (bút danh của Nhất Linh). Qua số báo 15 (29.9.1932), tranh vẽ Lý Toét lần đầu tiên được chọn làm vi-nhét cho chuyên mục Vui cười. Và tất nhiên, lúc đó chưa có tên gọi là Lý Toét.

Đến số báo 35 (24.2.1933) trong tiểu phẩm Cuộc chợ phiên của Phong Hóa tổ chức của Tứ Ly (bút danh của nhà văn Hoàng Đạo), bấy giờ tên gọi Lý Toét mới xuất hiện, có cả tranh minh họa Lý Toét cùng nhân vật Ba Ếch. Có thể xem đây là ngày “khai sinh” của nhât vật trứ danh: “Đội trời đạp đất giữa trời/ Nguyễn Văn Lý Toét là người Việt Nam”. Qua các số báo sau, cụ thể số 48 (26.5.1933) là thời điểm Lý Toét bắt đầu trở thành nhân vật chính của mỗi tranh châm biếm. Mở đầu là Lý Toét ra tỉnh - lẫm bẫm khi chăm chú quan sát bệ nước phông tên, có vòi rô-bi-nê: “Quái, bia ai mà lạ vậy?”.

Từ đó trở về sau, trên Phong Hóa tranh vẽ về nhân vật này xuất hiện đều đặn. Bấy giờ, không chỉ Đông Sơn mà các danh họa lừng lẫy cỡ Nguyễn Gia Trí (bút danh Rigt), Tô Ngọc Vân (bút danh Tô Tử), Cát Tường (bút danh Lemur), Mạnh Quỳnh... cũng “hà hơi tiếp sức” qua nhiều số báo. Ngoài ra còn phải kể đến tài năng của của thi sĩ trào phúng Tú Mỡ. Trên chuyên mục thơ châm biếm Giòng nước ngược, ông cũng “lôi” Lý Toét vào cho bằng được, thậm chí còn nhại bài thơ Anh Khóa của Á Nam Trần Tuấn Khải để cho bà Lý Toét được xuất hiện v.v...

Như thế, vẫn chưa đủ.

Làm nên sự thành công rực rỡ này, phải còn là công sức tham gia rất nhiệt tình của đông đảo bạn đọc cùng viết/vẽ theo “nguyên mẫu” đã có sẵn. Tạo nên “hiệu ứng dây chuyền”, còn do từ báo số 26 (16.12.1932), Phong Hóa đã mở cuộc thi viết “truyện cười” và vẽ “tranh khôi hài” nên đã thu hút sự tham gia của mọi người. Dám khẳng định rằng: “bản quyền” hình mẫu Lý Toét là do Nhất Linh sáng tạo, nhà thơ Tú Mỡ đặt tên và nhà văn Hoàng Đạo có công đầu trong việc giới thiệu với đông đảo bạn đọc.

Còn nhân vật Xã Xệ thì sao?

Cuộc thi sáng tác truyện cười, vẽ tranh khôi hài, kéo dài nhiều năm. Trên Phong Hóa số báo 57 (28.6.1933), Bút Sơn với “tranh dự thi số 73” đã vẽ nhân vật na ná như Xã Xệ sau này: Ông ta đi hớt tóc, trên đầu chỉ có mỗi một sợi tóc, thợ cầm tông-đơ và hỏi: “Bẩm ngài,ngài rẽ bên hay rẽ giữa ạ?”. Tất nhiên nhân vật này, Bút Sơn không đặt tên Xã Xệ. Với bài báo của Nhất Linh vừa nêu trên, ông cho rằng: "Nhìn kỹ, tôi cho người ấy là bố Xã Xệ"

Trên số báo 88 (9.3.1934), Chàng thứ XIII viết tiểu phẩm Lý Toét suýt đi du xuân, lần đầu tiên xuất hiện tên gọi Xã Xệ qua bức tranh có mẩu đối đáp: Xã Xệ hỏi: “Mưa đã đến gần, bác vẫn tắm sao?”. Đang ngâm mình dưới ao, tay vẫn cầm ô, đầu đội khăn đóng, Lý Toét trả lời: “Lo gì, tôi đã phòng xa, mang ô đây, lúc mưa tới, tôi dương ô lên”. Bức tranh này không thấy ký tên. Ai đặt tên Xã Xệ? Không rõ.

Thật bất ngờ, qua số báo sau, số 89 (16.3.1934) ngay trang bìa đã chọn bức tranh của Bút Sơn. 2 tranh liên hoàn vẽ Xã Xệ và Lý Toét đứng trước cái bàn cân Tây, trên bảng có ghi: “Bỏ vào 1 xu rồi cân”. Xã Xệ bảo: “Bác Toét chúng mình có 1 xu làm sao cân hai đứa?”. Cả hai cùng leo lên bàn cân, Lý Toét trả lời: “Thế này thì thật nhất cử lưỡng tiện, cân một lần hai đứa rồi chia hai ra thì cũng được chứ lỵ?”.

Từ đây, nhân vật mập ú, trên đầu mỗi một sợi tóc, hai má phúng phính, mặc áo dài the thâm đã trở thành “nguyên mẫu” cố định. Và cũng từ đây, Xã Xệ luôn cặp kè như hình với bóng cùng Lý Toét ốm cà tong cà teo, má hóp, đầu bịt khăn, răng vẫu, tay xách ô có treo tòng teng đôi giày. Không những thế, vi-nhét chuyên mục Vui Cười, trước đây chỉ mỗi Lý Toét thì nay đã có thêm Xã Xệ. Hai nhân vật này, nổi tiếng đến độ khi xem lại báo Ngày Nay, y còn phát hiện ra mẩu quảng cáo:

“Quan, thét: - À, các thầy hỗn thật. Các thầy mang biếu thuốc để định rủa tôi đó sao?
Lý Toét, run sợ: - Dạ bẩm quan lớn, chúng con đâu dám. Nguyên con nghe nói bà lớn bị nóng sốt uống đủ các thứ thuốc mà không khỏi nên chúng con lòng thành mua một tá “Khang Kiện thối nhiệt tán” để bà lớn dùng. Xin quan lớn xét cho.

Xã Xệ: - Bẩm chúng con đã kinh nghiệm, chỉ 5 phút khỏi sốt.

Quan lớn hớn hở: - À ra thế, cảm ơn các thầy, có phải hiệu Khang Kiện ở Hà Nội không? Ấy, bà lớn vì uống thuốc điều kinh ở hiệu ấy chỉ có 0p50 một hộp mà có thai, rồi đẻ ra thằng cháu thứ tư đó. Hiệu ấy lại có thuốc “Bảo thai” giá 0 piastre 30 rất tốt”.

Theo y, ngày 16.3.1934 là ngày chính thức “khai sinh” của Xã Xệ. “Bản quyền” đó thuộc về Bút Sơn.

Còn nhân vật Bang Bạnh thì sao?

Bấy giờ, báo chí đưa tin: có lão Bang tá nọ ở Vinh, lúc vào một hiệu buôn, người thư ký cửa hiệu sau khi lễ phép chào hỏi rồi ngồi xuống ghế. Lập tức, anh ta ăn một cú tát như trời giáng của Bang tá vì... dám ngồi ngang hàng với lão. Trên báo Phong Hóa số 151 (ngày 31.8.1935), nhà văn Thạch Lam có phê phán sâu cay trong chuyên mục Bức tranh vân cẩu. Danh họa Tô Ngọc Vân (bút danh Tô Tử) đã vẽ tranh minh họa chân dung: một ông quan béo ục ịch, mặc áo dài trắng, khăn đóng trắng, mặt tròn, mép và cằm có 3 sợi râu, mắt ti hí, ngực đeo bài ngà, chân đi giày, tay cầm roi. Chưa hết, ngay dưới bài viết trên còn là 4 tranh liên hoàn Truyện quan Bang Bạnh kể chuyện quan đi xe ô tô, ngồi ở đầu cũng ngang hàng, hoặc dưới tài xế, bực quá, quan chọn cách... ngồi trên mui xe ngay trên đầu tài xế!

Khác với sự ra đời của Lý Toét, Xã Xệ, lần này TLVĐ quyết định cho nhân vật của mình có lý lịch hẳn hòi. Do đó, từ số báo 155 (27.9.1935) Tô Tử vẽ truyện tranh 2 kỳ về “sự tích” ra đời của Bang Bạnh. Sau đây là lời dẫn trong tranh:

“Trước khi Bang Bạnh ra đời, bà mẹ nằm ngủ thấy một ông thần biếu bà một cái thang gẫy. Mấy hôm sau... Ông đốc Xã Xệ ở phòng đẻ ghé đầu báo tin bà Bạnh sinh con trai. Đứa trẻ sinh ra không thích chơi búp bê hay chơi trống bỏi, chỉ thích chơi roi mây. Nó không khóc một tiếng nào, mỗi khi đòi ăn nó chỉ  quát và giơ roi lên. Nó không bao giờ chịu đặt nằm hay để người ta ẵm ngang; mỗi khi nguời ta để ngang hàng chân nó với đầu nó là nó quát ầm nhà. Vì vậy nên từ lúc lọt lòng nó chỉ ngủ đứng. Vì có cái nết ngủ đúng nên Bạnh được làng bầu ra làm trương tuần.

Anh ta làm hết phận sự một cách dễ dàng vì tối nào anh ta cũng chỉ việc ra ngủ ở đầu làng. Cướp không dám béng mảng. Vì thế năm sau được bầu làm chánh tổng. Một đêm mùa nước chánh Bạnh coi đê mệt quá ngủ... Ông sứ đi tuần đêm thấy trời tảng sáng mà chánh Bạnh còn sừng sững đứng trên đê. Hôm sau, chánh Bạnh nhận được giấy ông sứ đã giật mình... giở ra mới biết thăng Bang tá, vì đã hết lòng làm việc - ông bắt đầu có cái tên Bang Bạnh từ đó”.

Tựa như Lý Toét-Xã Xệ, với nhân “sinh sau đẻ muộn” này này, Phong Hóa lại lại kêu gọi bạn đọc cùng tham gia “chung vui”. May mắn, lần này nó cũng được các danh họa, bạn đọc sử dụng trong các tình huống hài hước, châm biếm từ tranh vẽ đến các mẩu chuyện cười.

Ngày 31.8.1935 là ngày “khai sinh” của Bang Bạng với “cha đẻ” Tô Ngọc Vân, Thạch Lam là người đặt tên.

Thật ra, từ xưa đên nay, các nhà báo Việt Nan đều nỗ lực tạo ra những nhân vật điển hình như thế, có thể kể đến những Vá, Vếu, cậu Ấm, cô Chiêu (trước 1945); anh Tám Sạc Ne, Bé Ngôn, Bé Luận, Tổng Thẹo... (trước 1975); sau này là gia đình Hai Nhái, Linđa Kiều; Gia đình bé Kiến v.v... Nhưng những nhân vật đó vẫn chưa tạo được nét điển hình để đi sâu vào trí nhớ của công chúng.

Có thể nói Lý Toét - Xã Xệ - Bang Bạnh đã trở thành điển hình của “nhân vật điển hình” - mà báo Phong Hóa gọi bộ “tam đa” không thể tách rời khi nhìn về tính cách tiêu biểu của nông dân người Việt trước Cách mạng tháng Tám. Sự thành công chói lọi, rực rỡ của nó vẫn còn là bài học, thử thách cho các họa sĩ biếm và nền báo chí trào phúng hiện nay. Sự thành công do đâu? Tất nhiên có nhiều lý do, riêng từ góc độ chuyên môn họa sĩ Lý Trực Dũng kết luận rất chính xác: "không phải do một mà nhiều họa sĩ vẽ, nhưng luôn giữ đúng hình hài đặc trưng ban đầu của nhân vật. Đó là cách tác nghiệp rất hiện đại, hiệu quả của các họa sĩ vẽ tranh  biếm họa nhiều kỳ mà ngày nay gọi là teamwork" (SĐD, tr.16).

.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 11.7.2017

me-con-chi-thai-daon-tiuan-le-minh-quoc

Từ trái: Mẹ con chị Thái, Đoàn Tuấn, Lê Minh Quốc tại nhà cũ của thi hào dân tộc Tú Xương (ảnh chụp ngày 1.9.1998)

 

Một người sống bằng nghề cầm bút, dấu hiệu nào cho thấy họ đã già, đã mệt mỏi, đã bước chân qua dốc bên này của cõi đời mình và đang chậm rãi từng ngày đi xuống? Có lẽ, rõ ràng nhất là lúc họ không còn tha thiết, hào hứng gì với sự cảm nhận trong một ngày đã thấy, đã nhìn, đã nghe, đã biết... Từng sự việc, sự kiện ấy dẫu có ập đến một hoặc nhiều lần nhưng rồi, họ vẫn dửng dưng, bàng quan như một kẻ đứng bên lề. Tức là, họ không còn hào hứng sử dụng con chữ để ghi lại tâm trạng, niềm cảm hứng/nỗi tuyệt vọng trong khoảnh khắc ấy nữa. Cứ thản nhiên như không.

Cứ tự soi rọi lấy bản thân chính mình thì rõ. Ắt nhiều người “ồ” lên thán phục, và không rõ tại sao lúc ấy/thời ấy mình lại viết khỏe/viết nhiều đến thế? Sự hăm hở, trong sáng, cuồng nhiệt, bất vụ lợi của tuổi trẻ quý lắm, còn hơn cả kinh nghiệm của người già. Kinh nghiệm chẳng là gì, nếu chỉ còn đọng lại trong suy nghĩ, suy tư chìm sâu ký ức? Mấy hôm nay đã đọc kỹ lại bản thảo Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn. Nhớ và rất nhớ những tháng ngày chiến binh ở K.

Ngày ấy, trong túi áo của y và Tuấn không lúc nào thiếu quyển sổ tay và cây bút. Hễ đọc một câu thơ/văn nào hay, thích thú là ghi lại; hễ nghe ai sử dụng một từ nào đắc địa, hễ một câu thơ vụt ngang qua đầu là ghi lại... Ghi chép từng ngày. Cũng là một cách làm giàu thêm vốn tiếng Việt. Chỉ có thế. Ở rừng làm gì có sách, báo để đọc? “Ở rừng thiếu thơ để đọc/ Chúng tôi làm thơ cho mình/ Từng câu chữ chưa tròn trịa/ Ra đời từ cuộc trường chinh/ Chúng tôi làm thơ để đọc/ Như trồng thêm lúa để ăn/ Như cắt tranh lợp nhà ở/ Làm thơ dưới tiếng pháo gầm/ Những câu thơ mặc áo lính/ Đồng phục xanh màu lá rừng/ Đến với những người ra trận/ Như quàng khẩu súng sau lưng”. Ấy là suy nghĩ mà y đã “tự bạch” từ năm tháng ấy.

Rồi lúc ra quân, vẫn còn trẻ. Sức trẻ ấy, tràn trề trên từng trang viết. Từng bài báo. Từng quyển sách. Không mệt mỏi. Đã đi là viết. Bây giờ thỉnh thoảng đọc Facebook bạn bè, nhất là của Ngô Nguyệt Hữu tự dưng lại nhớ về năm tháng ấy, của chính y. Ối dào, hắn ta viết ròng rã từng ngày, từng giờ, bộc bạch suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời, về thời cuộc chỉnh chu, có trách nhiệm, đâu ra đó. Nhìn và đọc, y cũng thèm lắm chứ, nhưng rồi không thể chạy marathon cùng người trẻ. Sức mấy.

À, có phải còn thêm một dấu hiệu của tuổi già nữa là lúc người ta đã khôn ngoan hơn, tỉnh táo hơn và cũng chừng mực hơn? Và điều cay đắng nhất, theo y, vẫn là ở chỗ nhìn sự vật dù quen/dù lạ cũng không còn có gì hăm hở trong sự khám phá mới mẻ nữa; nếu có cũng chỉ là sự quan sát, chứ không ghi nhận, phát biểu, biểu lộ gì cảm xúc của mình. Sống như thế, có chán không? Biết trả lời thế nào? Thật ngớ ngẫn thay, lúc còn trẻ, thu thập nhiều tài liệu, sách vở cứ nghĩ trong đầu: “Về già, sẽ viết”, tức sẽ sử dụng/sử lý khối tư liệu ấy “ra môn ra khoai/ ra nếp ra tẻ”. Thế nhưng, có dịp, hầu hết con người ta buông xuôi. Không thèm đoái hoài, ngó ngàng gì đến nữa. Bởi thân xác mỏi mệt, ngựa nản chân bon, nắng ngã qua chiều.

Thế thì, câu châm ngôn hay nhất, thiết thực nhất vẫn là “Việc gì làm được hôm nay, chớ để ngày mai”. Ngày mai? Làm gì có ngày mai. Con người ta cứ chần chừ, lần lữa mãi rồi cuối cùng nào nên cái tích sự gì. Chẳng mấy chốc “Có những đêm về sáng, đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi?”. Nghe ra bùi ngùi, ngậm ngùi như một tiếng nấc âm thầm, lặng lẽ lướt xuyên đêm thanh vắng rồi sực tỉnh ngủ, bước ra sân chỉ nghe tiếng gió đi ngang qua vô hình tướng mà lòng rỗng rênh đến buồn tênh.

Khi viết những dòng này, rõ ràng, y đã già. Có phải rằng, dấu hiệu của tuổi già, còn là những ai thường chép miệng/tặc lưỡi mở đầu bằng từ “nếu”? Đừng có mơ. “Với chữ nếu, người ta có thể nhét cả Paris vào trong cái lọ chai”. Một câu ngạn ngữ Pháp. Quá hay. Nói thì nói thế. Nếu bây giờ quay lại thời tuổi trẻ, lúc ra Hà Nội, y sẽ làm gì? Thì cũng sẽ phóng xe đi Nam Định một chuyến như ngày nọ đã đi vào mùa thu năm Mậu Dần (1998). Đi, ghi chép và cũng để thưởng thức một trong hai thứ “đặc sản” của Nam Định: “Đọc thơ Xương, ăn chuối ngự”.

Ngày ấy đã ghi chép như sau: Chỉ vài tiếng đồng hồ đi xe honda với tốc độ 30 km/giờ, chúng tôi đã có mặt ở Nam thành cảnh trí mà từ đầu thế kỷ X X những thi sĩ dân gian đã miêu tả: “Thanh Nam cảnh trí an bài/ Phố phường trên bộ, vạn chài dưới sông/ Nhất thành là phố Cửa Đông/ Nhất lịch Hàng Lọng, Hàng Đồng, Hàng Thao/ Hàng Giày đẹp khách yêu đào/ Muốn tìm quốc sĩ thì vào Văn Nhân…”. Chúng tôi đã đến phố Hàng Nâu, sát Hàng Cót bên chợ Vị Hoàng để thăm lại ngôi nhà cũ của Tú Xương (1870-1907).

Chỉ tồn tại trên trần gian 37 năm nhưng Tú Xương đã để lại một bản lĩnh thơ, một sự nghiệp văn học đồ sộ. Lúc mất, ông được an táng tại khu Cồn Vịt của làng Phụ Long. Đây là vùng đất xưa của Nam Định, thời đó chỉ là cánh đồng hoang, đất cao như cồn. Mãi sau này mới rước hài cốt về công viên Vị Xuyên. Quyển Thành Nam xưa của Vũ Ngọc Lý (Sở VHTT Nam Định 1997) viết: Đến năm 1865 làng Vị Hoàng đổi tên thành làng Vị Xuyên. Lý do là khi cụ Trần Bích San thi trúng Tam nguyên được vào chầu vua. Vua Tự Đức hỏi quê quán, cụ thưa cụ người làng Vị Hoàng - Hoàng là tên ông tổ họ Nguyễn. Kiêng tên húy, vua Tự Đức cho đổi Hoàng thành Xuyên. Từ đó, dân quen gọi đất ấy là làng Vị Xuyên (tr. 51). Đây là tên làng của Tú Xương - trong bài thơ Đất Vị Hoàng, ông viết: “Có đất nào như đất ấy không?/ Phố phường tiếp giáp với bờ sông”.

Năm 1883, Nam Định mất vào tay Pháp. Năm 1913, Pháp lấy đất ở Hậu Đồng lấp đoạn sông Vị ở phố Hàng Nâu, Hàng Mâm, Hàng Song. Đến năm 1956, nó mới được đào lại và ngày nay xây dựng thành công viên Vị Xuyên. Ngôi mộ của Tú Xương được xây dựng khang trang, nằm sát bên bờ sông gió thổi lồng lộng. Trên mộ bằng đá có khắc tên tuổi nhà thơ lớn của dân tộc, ghi rõ là Trần Tế Xương. Tuy nhiên, gần đây nhiều người vẫn cho rằng, Trần Kế Xương mới đúng là tên thật của ông. “Kế” có nghĩa là “tiếp nối” và “Xương” có nghĩa “thịnh vượng”. Rất tiếc, không gặp được người xây bia mộ này để hỏi thêm cho rành rẽ. Trong trưa nắng, thắp nén nhang lên ngôi mộ Tú Xương với tất cả lòng thành kính, bỗng nghe đâu đó trong gió vọng đến những câu thơ trong Vị Hoàng hoài cổ của ông: “Nô nức qua chơi đất Vị Hoàng/ Nơi này phong vận, đất nhiều quan/ Trời kia khiến vậy sông nên bãi/ Ai khéo xoay ra phố cả làng”.

Âm hưởng câu thơ buồn man mác ấy đã đưa chúng tôi quay về ngôi nhà mà thuở sinh thời ông đã sống. Tú Xương sinh ngày 10.8 năm Canh Ngọ (tức ngày 5.9.1870) tại ngôi nhà số 247 phố Hàng Nâu. Ngôi nhà này, ông nội Tú Xương là Trần Duy Năng đã để lại cho bố Tú Xương là Trần Duy Nhuận: “Nhà gỗ năm gian lợp lá gồi/ Trông dòng sông Vị, tựa non Côi”. Năm 1894, năm Tú Xương thi đậu tú tài thì ngôi nhà này bị cháy, về sau do làm ăn thua lỗ nên mẹ của ông đã đem cầm cố cho mụ Hai An ở phố Khách. Không trả được nợ, ngôi nhà bị người ta tịch ký.

Còn ngôi nhà số 280 phố Hàng Nâu hiện nay mà chúng tôi đến là nhà vợ Tú Xương. Bà Hai Sửu - mẹ vợ nhà thơ - đã cho con gái là Phạm Thị Mẫn. Chính ngôi nhà này thuở sinh thời ông từng Tự cười mình: “Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành/ Mắt thời lo láo, mặt thời xanh/ Vuốt râu nịnh vợ, con bu nó/ Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh”. Nay, ngôi nhà đã được Nhà nước xếp hạng Di tích Văn hóa. Nay, chủ nhân ngôi nhà là chị Thái - công nhân nhà máy dệt Nam Định. Chị kể: “Gia đình chồng tôi mua lại ngôi nhà này từ năm 1952. Căn phòng dài mười mét này, trước kia là cái sân của cụ Tú trồng cây cảnh, chúng tôi mới xây lên vài năm gần đây thôi. Hồi tôi mới về làm dâu, thì sân này nhiều cây, nền thấp, hễ một cơn mưa là ngập”.

Bước ra phía sau, mới đúng căn nhà mà ngày xưa Tú Xương đã ở. Tất cả còn nguyên vẹn. Chị Thái nói tiếp: “Nghe nói đây là di tích của nhà thơ Tú Xương nên chúng tôi tự ý thức gìn giữ, không sửa chữa thêm bớt gì cả, dù chẳng có ai ràng buộc phải giữ nguyên hiện trạng ngôi nhà của cụ Tú”. Khoảng cách giữa căn phòng mới xây - nguyên là sân trồng cây - với nhà cũ của Tú Xương cũng là một cái sân dài độ ba mét. Từ dưới sân nhìn lên ngôi nhà, chúng tôi thấy một căn gác gỗ. Mặt tiền của căn gác được đóng bằng gỗ, tất cả mười lăm tấm gỗ. Phía trên lợp ngói âm dương với từng mảng rêu bám xám xịt. Từ căn gác ấy có cánh cửa nhỏ mở ra để nhìn trời xanh. Nhiều bài thơ tuyệt tác đã được Tú Xương viết từ căn gác chỉ có bề ngang ba mét đó.

Trong nhà, có sáu cột gỗ và một lối đi lên gác, nhưng chị Thái bảo: “Đừng lên. Gác xập xệ lắm rồi”. Căn nhà cũ của Tú Xương nay là phòng ngủ, phòng học của cháu gái mười bốn, mười lăm tuổi - con chị Thái. Gương mặt cháu rạng rỡ khi biết chúng tôi đến tham quan. Mắt cháu sáng lên một niềm vui, một niềm tự hào khó tả. Hiện nay, phố Hàng Nâu đã được đổi tên là phố Nguyễn Thị Minh Khai. Ngồi trong nhà chị Thái, nhìn ra đường, tôi thấy vẫn còn đó nhiều cây nhãn mọc hai bên đường. Đường lộ đắp cao, sạch sẽ. Dù mới đến lần đầu tiên song chúng tôi có cảm giác như thân quen tự thuở nào. Không riêng gì chúng tôi mà nhiều người khi đến Nam Định, vì yêu mến nhà thơ cũng đã tìm đến căn nhà này.

Sực nhớ đoạn văn mà nhà văn Nguyễn Tuân đã viết sau khi đến thăm ngôi nhà cũ của Tú Xương: “Hàng Nâu là một cái phố cũ, nhiều nhà gác, cửa kiểu mắt cáo, cáo nhô ra cái lùi vào như hàng răng khểnh của một cô gái không đẹp nhưng rất có duyên. Phố có nhiều kiểu nhà theo lối kiến trúc cổ, trông dễ bồn chồn vương vít. Khi còn con sông Vị ở ngay sau lưng phố, thuyền phố nâu vào sát phố Minh Khai này, những cái cót nâu, bịch nâu lù lù trên bến và trong nhà. Những dáng người tung nâu từ mạn thuyền tung lên, những tiếng đếm nâu, đếm từng củ một, nó không như tung gạch cặp díp đếm từng đôi một. Đúng với cái tên nâu sồng của nó, phố Hàng Nâu xưa là một cái phố lam lũ của người lao động chân tay. Nó cũng là cái phố của những nhà nho thanh bạch… Phố Hàng Nâu cứ tan chợ chiều là thấy diễn ra những quang gánh, thúng mẹt của những người bán tôm tép rau quả nhì nhằng. Nó là một cái phố ngoại ô, cái phố bìa bao tỉnh, giống như xóm nghèo vẹo bắn ra ở tận chân lũy tre làng. Nó rất đúng với cảnh trong thơ Tú Xương: “Trời kia khiến vậy sông nên bãi/ Ai khéo xoay ra phố cả làng…”.

Chao ôi! Đoạn văn của nhà văn bậc thầy Nguyễn Tuân càng làm tôi thêm phần lưu luyến khi rời khỏi phố này. Và tôi, trong giây phút xúc động tột cùng xin có đôi dòng gọi là Tưởng nhớ Tú Xương: "Đồng kia rày đã lên nhà/ Chung cư, khách sạn, massage ào ào/ Giữa khuya gặp trận mưa rào/ Tưởng vào mùa gặt nôn nao điếng người/ Liên doanh giữa đất và người/ Tầng tầng cao ốc chọc trời vút lên/ Chỗ này thuở ấy rộng thênh/ Cây đa, bến cũ nhớ quên nhọc lòng/ Tôi về có thấy gì không/ Chập chờn váy lụa lúa đồng tương tư/ Tiếng xe chạy máy gầm gừ/ Tưởng là vó ngựa, tưởng như gập ghềnh/ Có còn không sợi tơ mềm/ Nối trời với đất lênh đênh cánh diều/ Những cây trụ điện khẳng khiu/ Nhùng nhằng dây nhợ ngỡ chiều xuống nhanh/ Chỗ này vàng rộ lúa xanh/ Ao xưa cá quẫy trăng thanh tự tình/ Tôi về chót vót building/ Karaoke cứ xập xình đêm đêm/ Ruộng đồng rày đã cao thêm/ Nền nhà mới đợi sang tên mỗi ngày/ Bàn tay dỗ lấy bàn tay/ Vọc xuống đất ngất ngầy ngây mùi bùn…”.

Trong ghi chép này, y có nhắc đến con gái chị Thái, lúc ấy, cháu độ 14, 15 tuổi, nay cũng đã ngoài 30 rồi còn gì? Biết đâu, đọc được bài viết này, liệu cháu có còn nhớ đến hai vị khách là nhà thơ luôn trẻ trung, đẹp trai của ngày xưa đã đến thăm nhà không?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 3.7.2017

 

58_cxhoii_trau_2


“Không có cánh nhưng vẫn thèm bay bổng/ Đi trong sân mà nhớ chuyện trên trời/ Trút ngàn năm trong một phút chơi vơi/ Ngắm phong cảnh giữa hai bề lá cỏ” (Xuân Diệu). Vậy hóa ra các nhà thơ rất với nhà khoa học, khi đang dẫm hai chân trái trái đất nhưng tâm trí họ đã gửi về thiên hà xa thẳm. Kỳ diệu thay.

Trộm nghĩ, ngay từ khi lọt lòng mẹ, cất lên tiếng khóc oe oe, bất kỳ con người nào, dù thể lực, trí thông minh, thành phần xuất thân… ra làm sao, ai ai cũng có khát vọng “đội đá vá trời”, “Phải có danh gì với núi sông”. Phải làm một cái gì đó. Ít ra, “Con hơn cha là nhà có phúc”, là đeo đuổi cho bằng được cái ước mơ, hoài bão, sở thích, đam mê của chính mình.

Nhưng rồi, mấy ai có thể?

Y có quen người bạn, ngay từ lúc đi học đã thể hiện rực rỡ tài năng, khả năng chơi trống, đàn ca hát xướng... Ai cũng bảo, (hắn cũng bảo) về sau, dù vật đổi sao dời đi nữa hắn cũng theo nghiệp cầm ca. Rồi hắn có vợ. Sinh con. Mãi đến lúc ngoài ngũ thập, giật mình nhìn lại thì hỡi ôi, ước mơ đầu đời chỉ là còn tiếng thở dài thăm thẳm  Tiếc nuối ngày trôi. Y lại quen người bạn hoàn toàn có khả năng trở thành họa sĩ. Rồi hắn có vợ. Sinh con. Đã nhiều năm tháng đi qua, bây giờ là danh họa? Thưa, đã trở thành ông chủ ngồi quầy thu tiền mỗi ngày trong quán ăn do vợ đứng bếp. Những người bạn ấy, thường tự an ủi, ngậm ngùi: “Thôi thì, hãy đợi kiếp sau”.

Làm gì có kiếp sau?

Trưa nay, vẫn thói quen vớ lấy một cái gì đó để đọc. Dừng lại với một từ: “DART”.    

Có ai biết, từ đó nghĩa gì không?  Đố như thế là khó hay dễ? Y hoàn toàn không biết ngoại ngữ. Một chữ cắn đôi cũng không. Chỉ biết đọc, biết viết vài từ tiếng Việt. À, gần đây đọc trên trang facebook nọ, nhà báo nọ đã tẩn mẩn ghi lại vài từ tiếng Việt mới xuất hiện tên Đài VTV. Đọc và tìm cách lý giải, nhưng rồi cũng bù trấc. Chẳng hạn, “thông tin dự án đã bị LỘ LỌT; nhiều đoạn đường bị SẠT SỤT; giao lộ X đang bị ÙN Ứ; nguyên nhân cháy do điện bị CHẠM CHẬP; hàng rong phải kiên quyết bị ĐẨY ĐUỔI; nhiều công việc cùng thời điểm cần được PHỐI KẾT và LỒNG LẮP” v.v…

Nghe lạ tai quá đi mất.

Tiếng Việt cũng chưa vỡ vạc, còn ham hố qua qua ngoại ngữ nữa chứ? Có chạm mạch đấy không? Không hề. Vẫn cứ hỏi: “DART là gì?”.

Cứ theo báo Thanh Niên sáng nay: “DART, viết tắt từ Double Asteroid Redirection Test (tạm dịch: Thử nghiệm chuyển hướng tiểu hành tinh đôi) nhằm tìm biện pháp xử lý các tiểu hành tinh cỡ trung. Theo đó, một tàu du hành hoặc một vệ tinh sẽ đâm vào một tiểu hành tinh với vận tốc cực nhanh để đổi hướng thiên thể có thể gây nguy hiểm cho sự sống trên địa cầu. Bản thân từ “dart” cũng có nghĩa là phi tiêu, thể hiện bản chất của cuộc thử nghiệm sắp tới”.

Khiếp quá, đó là sứ mệnh không gian của NASA. Con người siêu việt. Có thể làm được tất cả. Nói tắt một lời, các tàu du hành này bay với vận tốc không thể tưởng tượng nổi: “6 km/giây”. Mục đích cuối cùng: “Với DART, chuyên gia Cheng cho rằng Mỹ có thể chứng tỏ phương pháp hiệu quả trong nỗ lực bảo vệ ngôi nhà chung của nhân loại”. Không hiểu sao lại có nhũng con người vĩ đại đến thế? Trong lúc đó, “Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp/ Giấc mơ con đè nát cuộc đời con (Chế Lan Viên), mà chắc gì đã nên cơm cháo? Không phải ngẫu nhiên, ở nước ngoài đã có những tập truyện tranh thiếu nhi, phim ảnh dành cho người lớn cỡ như chiến tranh giữa các vì sao,. chống lại người ngoài trái đất thuộc về khoa học viễn tưởng...

Ở Việt Nam các tài ấy chưa hề chạm đến. Có lẽ, Huy Cận là nhà  thơ Việt có ý thức hướng về vũ trụ? Ông có cả tập thơ Vũ trụ ca. Nếu đúng nhưng số lượng còn ít ỏi. Vẫn có những câu thơ tuyệt hay: “Chim hót vòm xanh hương dậy đất/ Hôm nay vũ trụ mở huy hoàng / Đi ra hoa bướm không tin trước/ Sực nhớ đêm rồi đã ngủ lang”. Rất tỉnh. “Hồn xa hỡi! Ta tù trái đất/ Dây buồn thương buộc uất tim đau/ Đêm dài nhìn vợi canh thâu/ Vui chung vũ trụ, nguôi sầu nhân gian”. Rất tỉnh. Chỉ mới là cảm nhận, cái nhìn của thi nhân đang đứng trên mặt đất. Tỉnh lắm.

Hàn Mặc Tử đi xa hơn, đã nhập cuộc: “Đàn cung bậc gió dồn lên âm điệu/ Sững lòng chưa ? Say chấp cả thanh bai/ Sang chơi thôi, sang chơi thôi! mà ai/ Thu đây rồi, bước lên cầu Ô Thước/ Sao! Vàng sao rơi đầy nơi sóng nước/ Đừng ngả tay mà hứng máu trời sa”. Rất say. Rất mộng du. Thơ cần sự thăng hoa không thuộc lý trí.

Mà Q à, có phải tầm vóc, vị trí của từng con người khác nhau còn ở chỗ họ quan tâm đến vấn đề gì chăng?

Mấy hôm nay, báo chí rầm rộ thông tin về một số quan chức giàu lên bất thường với khối tài sản, dinh thự cực khủng. Rất khủng. Mối quan tâm cả đời họ chỉ có thế. Cũng tốt thôi. Nhưng đồng tiền ấy ở đâu ra? Có người trả lời: “Tôi lao động đến cả thối móng tay”; “Chạy xe ôm ngoài giờ, làm thâu đêm”; “Đi mua chổi đốt, lá chít, làm men nấu rượu” v.v… Những tuyên bố hùng hồn này có đáng tin? Hỏi xong. Bèn nhếch mép. Đồng nghiệp Bút Bi của báo Tuổi Trẻ (ngày 2.7.2017) đã có cảm hứng viết thành tiểu phẩm Lớn lên con làm gì? Nếu không liên hệ với một loạt thời sự đang xẩy ra, (thể hiện qua câu trả lời của cô con gái), có lẽ sẽ không cảm nhận hết cái sự trào lộng thâm thúy.

Hãy đọc chơi:

“- Con gái à, vào học bài đi. Học cho chăm chỉ và giỏi để sau này mới trở thành kỹ sư như ba được.

- Thôi con không làm kỹ sư đâu. Làm kỹ sư như ba mấy chục năm đâu đủ nuôi má và tụi con đâu.

- Ờ, thì phải nhờ má tụi bây phụ. Thôi con làm giáo viên như má đi, hợp với con gái.

- Má cũng đâu sống nổi bằng lương đâu, cũng “dứt cháo” mà! Ba thấy má tội nghiệp không, má nói muốn dạy thêm để có thêm thu nhập, nhưng má sợ họ đến rình bắt như bắt ăn trộm, nên thôi đó ba.

- Ờ, ba thương má tụi bây lắm. Thôi con làm bác sĩ nha, bác sĩ thu nhập cao, cứu được nhiều người.

- Bác sĩ nếu chỉ lương thì cũng đâu có thu nhập cao đâu. Làm bác sĩ xui xui gặp người nhà bệnh nhân tấn công thì khổ.

- Ờ, mấy người nhà đó bậy thiệt. Hay con làm hoa hậu? Con đẹp gái mà.

- Nhất định không ba ơi! Làm hoa hậu xui xui gặp mấy tay Sở khanh giở trò cao toàn mỹ thì héo đời con luôn!

- Không kỹ sư, không bác sĩ, không giáo viên, không cả hoa hậu... Vậy lớn lên con muốn làm gì?

- Con muốn đi bán chổi đót, lá chít, làm men nấu rượu...

- Ba:?!”.

Cảm tưởng thế nào? Trả lời đi. Y chỉ biết thốt lên: “Cạn lời”. Thế đấy, thời y sống vẫn là đang thế đấy. Nghĩ mà chán? Thôi, chớ chán mà chi. “Nếu cuộc đời này toàn chuyện xấu xa/ Tại sao cây táo lại nở hoa?” (Lưu Quang Vũ). Cũng là tìm một cách bấu víu, tin vào cái đẹp đang lẩn khuất, tin nó vẫn đang tồn tại. Tin để sống. Tồn tại. Và nhất là không thốt lên tiếng chửi thề.

“Lè lưỡi ra. Lưỡi cụt rồi/ Ném tan chén rượu gọi trời đất ơi!/ Trời đất ơi! Trời đất ơi!/ Mai sau vọng mãi lại lời thiên lương”. Câu thơ này, y thời gian nào? Nay, bất ngờ vọng lại trong trí nhớ. Tan loãng. Mất hút. Hay vẫn còn đó tiếng kêu thản thốt: “Trời đất ơi! Trời đất ơi!”? Đến bao giờ tiếng kêu này mới hoàn toàn xóa bỏ trong ngăn trí nhớ của chúng sinh? Chẳng bao giờ. Tự ý thức rõ rệt, rõ ràng, rõ nét để bình tâm đi qua năm tháng này.

Với thông tin vừa diễn ra, hẳn có người lại kêu đến ông trời lần nữa đây. Thông tin gì vậy? Không gì vội. Cứ nhẩn nha trở về ngày xửa, ngày xưa với trang sách Quốc văn giáo khoa thư. Hãy đọc lại chơi một bài tập đọc:

“Trâu lớn hơn bò và sức mạnh hơn. Lông đen, cứng và thưa, thỉnh thoảng có con lông trắng. Mắt lờ đờ, sừng to và cong lên. Trâu xem nặng nề và chậm chạp hơn bò. Tính nó thuần và hay chịu khó. Ăn uống ít, mỗi ngày chỉ vài ba nắm cỏ khô cũng đủ. Nó ưa đầm (mẹp) xuống nước, xuống bùn, và có thể lội qua sông, qua đầm được.

Trâu dùng để cày ruộng, kéo xe, hoặc kéo che đạp mía. Thịt trâu không ngon bằng thịt bò. Da trâu dùng để bịt trống hay làn giày dép. Sừng trâu dùng làm các đồ vật như: cán dao, lược, ông thuốc v.v...

Trâu thật là con vật có ích. Ta vẫn cho vào hạng lục súc rất có công với người”.

Tưởng rằng, đọc chơi nhưng liên hệ với thời sự vừa xẩy ra lại buồn nẫu ruột. Rằng, từ xa xưa, người Việt có lễ hội chọi trâu. “Có ăn có chọi mới gọi là trâu”. Mới đây, cuộc chọi trâu nọ tại tỉnh nọ, thật bất ngờ khi trâu chọi đã dùng sừng húc chết chủ nó. Báo chí đặt vấn đề có nên duy trì lễ hội này nữa hay không? Nên hoặc không? Câu trả lời quá dễ. Nhưng thực hiện lại quá khó bởi lẽ nó đã đi sâu vào ký ức, tiềm thức của cả một cộng đồng từ nhiều đời. Xóa không dễ. Nguồn gốc lễ hội chọi trâu ra làm sao? Với sách vở đang có, chịu khó lục lọi, tìm kiếm ắt có câu trả lời.

Trước mắt, chấp nhận với thông tin này: “TS Lê Đức Luận, chuyên gia nghiên cứu văn hóa dân gian, cho biết lễ hội chọi trâu tại Đồ Sơn, Hải Phòng bắt nguồn từ một sự tích có tính thiêng. Tương truyền, một hôm, trời trong sáng, dưới ánh trăng tháng tám, một số người thấy ngoài biển một lão nhân đầu tóc bạc phơ ngự trên sập đá, tay cầm một chiếc gậy dài ngắm 2 con trâu đang chọi nhau. Hình ảnh này hiện ra rồi biến, sau đó một trận mưa lớn đã tưới tắm mặt đất mát mẻ, giúp dân làng và đồng ruộng qua cơn hạn khủng khiếp. “Để hài lòng thần linh, họ tổ chức một cuộc chọi trâu và tục này được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”, TS Luận cho biết” (báo Thanh Niên ngày 3.7.2017). Cũng trên số báo này, lại cho rằng: “chọi trâu Đồ Sơn vốn là một phần của tín ngưỡng cầu an, cầu mùa. Nó gắn liền với việc cầu mong thủy thần phù hộ. Hoặc ở Hải Lựu (Vĩnh Phúc), chọi trâu lại gắn với tín ngưỡng thờ thành hoàng, gắn với việc khao quân khi đánh thắng Triệu Đà”.

Đại khái là thế.

Tuy nhiên có một điều chắc chắn ngày xưa lúc tổ chức chọi, ngươi ta không ép nó uống rượu, uống thuốc kích thích hẩu lốn như hiện nay.

Ngán ngẫm chưa?

Tất nhiên.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 22.6.2017

 

hahuong-phong-nguyet-truyen-1R

(nguồn ảnh: http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k940658d/f1.image)


Bạn bè chơi thân thiết bao nhiêu năm, nhưng chắc gì đã hiểu nhau. Có những người, lâu nay, nghĩ là thế, quả quyết là vậy. Nhưng “đùng một cái” với những gì họ đã làm, y giật mình và việc đầu tiên là há miệng ra “ồ” một tiếng rõ to. Ngạc nhiên. Khâm phục.
 

Chừng 30 năm trước, lúc tập tễnh bước chân vào nghề báo, phải tập viết từ cái tin, chụp tấm hình rồi dần dần viết được bài tường thuật, phản ánh, ghi nhanh... Thuở ấy, tòa soạn báo Tuổi Trẻ giao y cho nhà báo Trần Nhật Vy hướng dẫn. Mỗi cái tin viết xong, anh duyệt trước, chỉnh sửa xong, y mới nộp lên trưởng ban. Cuối tuần, phải viết báo cáo tuần, ghi lại những gì đã nắm bắt trong lãnh vực được phân công. Từ ghi nhận này, anh phân công đề tài phải viết, viết theo theo thể loại gì, viết ra làm sao v.v….

Thời gian trôi cái vèo. Mở miệng nhe răng ra cười, chưa kịp khép môi là đã xong béng nửa đời người.

Thời còn tiểu học, học thuộc lòng bài này, chẳng mảy may nghĩ ngợi gì. Nay đã khác. Hoàn toàn khác. Thử nhớ lại. Rồi ngâm nga đọc chơi trong buổi chiều đã hoen ố bóng nắng mà năm tháng cũng đã vượt qua và đang đi dần về phía bóng đêm của một cõi nhân sinh. “Tôi là quyển lịch Tây/ Chỉ rõ năm, tháng, ngày/ Mỗi ngày một tờ giấy/ Một năm chóng hết thay/ Hỡi cậu bé có hay/ Mỗi lần xé tờ giấy/ Là mất đi một ngày/ Không bao giờ lại thấy/ Một ngày đã qua đi/ Cậu làm được những gì?/ Có học hành chăm chỉ?/ Đã giúp ích việc chi?”. Câu hỏi từ thời học lớp Ba ở Trường Nam Tiểu học ở Đà Nẵng đấy. Nay trả lời đi? Biết trả lời thế nào?

Ông Vũ Hoàng Chương có viết tập sách Ta đã làm chi đời ta. Cũng là một câu hỏi. Vọng lại âm thanh gì chăng? Có hay không? Mỗi con người đều kết thúc phần kiếp, cái còn lại là gì vậy? Y từng thốt lên não nùng: “Mỗi lần yêu là một lần suýt chết/ Cớ sao tôi phải chịu đựng quá nhiều?”. Đáng đời chưa? Ông Vũ Hoàng Chương cho biết rất thích câu thơ cổ: “Bán sinh phong cốt lăng tằng thậm/ Nhất phiến nhu hoài chỉ vị khanh”, và đã dịch: “Nửa đời sương gió ngang tàng/ Trái tim mềm chỉ vì nàng đấy thôi”.

Câu thơ dịch hay quá đi chứ? Nhưng rồi ông vẫn chưa ưng ý: “Phải để nguyên chữ ‘khanh’ kia, chứ sao lại chuyển lại thành ‘nàng’?”: “Nửa đời sương gió ngang tàng lắm/ Mềm chỉ vì khanh, một trái tim”. Ừ, giữ được từ “khanh” nhưng xem ra ngượng ép lắm. Sở dĩ lan man cũng bởi nghĩ rẳng, chính ái tình đã đi qua cuộc đời y, vậy y có hay không/ được hay mất? Chẳng nên thắc mắc làm gì. Cứ việc đi và đi cho hết một dặm đường dài của đời sống như nó đã vốn có.

Thật lạ, có những bè bạn anh em, lâu nay, nghĩ họ chỉ đi trên con đường vốn có, nhưng bất ngờ thay, họ lại ngoặc qua một ngã rẽ khác. Có những người, chỉ "tay ngang", không được đào tạo trường lớp, bài bản trong lãnh vực sưu tập, khảo cứu văn bản học hoặc phê bình, lý luận về văn học - báo chí, thế nhưng công trình của họ đã khiến giới nghiên cứu chuyên nghiệp phải "ngả nón" thán phục và kinh ngạc.

Trong số đó, có thể kể đến nhà báo Trần Nhật Vy.

Qua những tập sách vừa ấn hành từ dăm nay trở lại đây như Mười tám thôn vườn trầu; Chữ Quốc ngữ: 130 năm thăng trầm; Kim Vân Kiều truyện; Từ Bến Nghé đến Sài Gòn; Báo Quấc ngữ ở Sài Gòn cuối thế kỷ 19; Ba nhà báo Sài Gòn - Dương Tử Giang, Trần Tấn Quốc, Bà Bút Trà; Sài Gòn chốn chốn rong chơi, mới đây nhất là tập sách Văn chương Sài Gòn 1881-1924… Có thể nói, anh đã cung cấp được những văn bản gốc, những tài liệu mới mẻ, những phát hiện có liên quan đến đời sống xã hội, văn học, báo chí của Sài Gòn thế kỷ trước mà trước đây chưa mấy ai đề cập chu đáo, đầy đủ.  

Vậy hóa ra, với tấm lòng yêu dấu vùng đất đã gắn bó, với tình yêu sâu sắc về một lãnh vực nào đó đã đeo đuổi từ nhiều năm liền, ai cũng có thể góp thêm một "tiếng nói" tích cực nhất? Điều này hoàn toàn đúng. Chúc những ai đã và đang thực hiện những tập sách từ những giọt mồ hôi.  Từ những trang giấy ố vàng, nhuồm bụi thời gian. Công việc này, nhọc nhằn mà hữu ích. Bởi lẽ, không ai, không việc gì có thể bị lãng quên.

Suốt mấy hôm nay, đã nghiền ngẫm quyển Văn chương Sài Gòn 1881-1924. Một khi muốn nhận định, phê bình về một tác giả-tác phẩm phải tiếp cận từ văn bản, nếu không chỉ là “ăn theo nói leo” nhận định, ghi nhận từ người khác. Do không có tài liệu, xưa nay hầu như lãnh vực văn chương miền Nam đầu thế kỷ XX, ít ai có thể nói “có đầu có đũa”. Cụ Nguyễn Du bảo: “Trăm năm tính cuộc vuông tròn/ Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông”. Trách nhiệm của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học cũng vậy thôi. Nay, với bộ sách trên chỉ mới tập trung phần văn xuôi, còn ấn hành thêm nhiều tập với thể loại truyện dịch, văn vần - nhà báo Trần Nhật Vy đã làm công việc thu thập văn bản chu đáo.

Vì sao chọn cái mốc bắt đầu từ năm 1881?

Anh cho biết: “Từ tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên là Gia Định báo, năm 1866 Trương Vĩnh Ký cho ra đời tác phẩm văn xuôi quốc ngữ đầu tiên. Đó là “Chuyện đời xưa" nhằm "lựa nhón lấy những chuyện hay và có ích”. Tiếp đó là những sáng tác văn xuôi quốc ngữ thuộc nhiều thể loại báo chí. Trong quá trình tìm hiểu về lịch sử báo chí Sài Gòn, tôi phát hiện ra một điều đáng chú ý. Đó là sự thay đổi đột ngột của mục Thứ vụ trên Gia Định Báo vào ngày 01.12.1881. Trước đó, mục Thứ vụ là mục viết những thông báo linh tinh của chánh quyền từ những văn bản thúc thuế cho đến việc rao bán đấu giá những mặt hàng dành cho quân đội, chánh quyền.

Tới ngày 01.12.1881, trong mục này bỗng xuất hiện ba bài viết văn xuôi ngắn chiếm nửa trang báo khổ A3, không có tên tác giả, gồm: "Cách thế cứu người chết ngột", "Tên chăn bò""Thằng ăn trộm với con heo". "Cách thế cứu người chết ngột" (đúng ra là chết ngộp) là một bài khoa học thường thức. Còn hai bài kia là truyện. Phải chăng đây là những truyện đầu tiên được đăng trên báo quốc ngữ? Nhưng tác giả là ai? Sau đó, khi được đọc cuốn "Phansa diễn ra quấc ngữ" của ông Trương Minh Ký in năm 1884 và tái bản năm 1886, tôi phát hiện trong đó có đăng hai truyện nầy, "Thằng ăn trộm với con heo" mang số 110, còn "Tên chăn bò" thì mang số 119. "Phansa diễn ra quấc ngữ" là những truyện “chuyển thơ ngụ ngôn La Fontain thành văn xuôi” của ông Trương Minh Ký. Với tôi, dù là chuyển thể từ thơ, nhưng đây là những truyện đầu tiên, viết bằng văn xuôi, in trên báo quốc ngữ Sài Gòn. Vì vậy tôi chọn thời điểm 1881 làm cái mốc bắt đầu cho văn chương Sài Gòn”…

Vì sao chọn cái mốc kết thúc vào năm 1924?

Anh cho biết: “Tôi mong mọi người biết rằng, trước khi "Tố Tâm" - tiểu thuyết hiện đại đầu tiên ra đời năm 1925, thì trước đó bốn mươi năm, Sài Gòn đã có rất nhiều truyện, tiểu thuyết, dài ngắn khác nhau rồi. Trong quãng thời gian ấy, đã có nhiều tác giả, dịch giả, sáng tác và dịch thuật rất nhiều tác phẩm, đủ các thể loại đăng trên các tờ báo ở Sài Gòn và ở Nam Kỳ, hình thành nên một thứ tạm gọi là “văn chương Sài Gòn” đủ sức khơi dậy và nuôi lớn nền văn học phong phú, đẹp đẽ như ngày nay. Thế nhưng, gia tài văn chương chữ quốc ngữ quý giá ấy “bỗng dưng biến mất" trong lịch sử văn học nước nhà từ giữa thế kỷ XX”.

Chẳng rõ từ đâu, lâu nay đã hình thành nếp suy nghĩ: Hễ đã thực hiện một công trình nghiên cứu nào, việc đầu tiên của tác giả/tập thể ấy nghĩ đến vẫn là làm thế nào “moi” cho bằng được… tiền tài trợ của Nhà nước. Đã có nhiều công trình đồ sộ được “vận hành” nhờ bầu vú sữa béo bở ấy, không dám quơ đũa cả năm nhưng dư luận cũng đã từng phàn nàn “con sâu làm rầu nồi canh” bởi không ít sản phẩm ra đời mà chất lượng quá kém. Và cũng cũng không ít xào xáo, điều tiếng, gấu ó, thậm thụt cãi vãi nhau về chuyện ăn chia tiền nong không sòng phẳng.

Nghĩ mà buồn.

Cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác, Trần Nhật Vy đã chọn cách bỏ tiền túi ra để mua tư liệu, tài liệu. Dân chơi sách cũ bao giờ cũng muốn sở hữu bản gốc/bản chính, anh lại không. Chỉ mua bản photo. Hoặc mày mò tìm kiếm trong các thư viện đã công bố trên mạng. Chắc rằng, với nhuận bút đã nhận được, không thể bằng số tiền mà anh đã bỏ ra. Chẳng hề gì. Miễn là được thực hiện điều mà mình yêu thích, say mê. Về văn bản văn chương miền Nam, những năm gần đây đã có những quyển như Tiểu thuyết Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Nguyễn Kim Anh chủ biên), Văn xuôi Nam bộ nửa đầu thế kỷ (Cao Xuân Mỹ sưu tầm)… đã là những đóng góp tích cực.

Và bây giờ, vời việc làm của Trần Nhật Vy có thể nói bài bản hơn cả. Anh trưng ra các tác phẩm của Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quãn, Nguyễn Dư Hoài, Lê Hoằng Mưu, Trương Duy Toản, Nguyễn Kim Đính, Lương Dũ Thúc…; kể cả những tên tên tuổi, có thể lần đầu ta mới nghe đến như  P. Génibrel, Paul Nhượng, A. Vạn, Nicolas Lục, Jean Nguyễn Nhuận Ốc…

Trong tập sách này, lần đầu tiên in lại tiểu thuyết Hà Hương phong nguyệt truyện của nhà văn Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Kim Đính,  in năm 1914. Tác giả thổ lộ: "Dòm thấy trong xứ cứ ôm truyện Tàu mà dịch mãi, chưa thấy ai viết bộ tiểu thuyết nào cả. Tưởng rằng dầu hay dầu dở cũng của mình. Tôi khởi đầu viết bộ Hà Hương phong nguyt”. Theo Phó GS-TS Võ Văn Nhơn: “được xem là tiểu thuyết tâm lý xã hội đầu tiên của văn học Việt Nam hiện đại. Ngòi bút có phần táo bạo của tác giả Lê Hoằng Mưu khiến ông bị kết án là xúc phạm thuần phong mỹ tục. Sách bị tịch thu, tiêu hủy, nhưng cũng đã gây ra một cuộc bút chiến dữ dội”. Trước đây đã có nhiều nhà nghiên cứu đi tìm lại tác phẩm này, và nay, Trần Nhật Vy đã công bố. Há không phải cũng là một đóng góp đó sao?

Sống trong đời, khi nhận ra ai đó đã làm một việc tốt cho cộng đồng, hà cớ gì ta lại hà tiện một tiếng vỗ tay, hoan nghênh? Dù rằng, chẳng là gì, dù có hay không, họ vẫn tiếp tực đi trên con đường đã chọn. Tuy nhiên tiếng vỗ tay ấy lại là sự tuyên dương, khuyến khích để họ thêm bền lòng. Cần lắm chứ. Với công trình này, Trần Nhật Vy chia sẻ: “Mong các bạn hôm nay biết, đọc và thấy được rằng, tiền nhân của chúng ta đã có công, có sức gầy dựng một mảng văn chương đáng kính trọng của thuở ban đầu chữ quốc ngữ”. Tâm sự này, đáng trân trọng và ghi nhận.

Trước đây, nhà văn Nguyễn Văn Xuân cũng đã từng quả quyết: “Miền Nam vốn có một một địa vị về văn nghệ và có ảnh hưởng sâu rộng trong quảng đại quần chúng lan tràn đến cả miền Trung lẫn miền Bắc. Miền Nam đã gây phong trào tiền phong về mọi phương diện văn nghệ: báo, tạp chí, truyện ngắn, truyện dài, truyện dịch, đặc biệt là tiểu thuyết Trung Hoa, truyện phóng tác tiểu thuyết Tây, phong trào xuất bản rộng lớn các loại thơ bình dân và rất phồn thịnh… Văn nghệ miền Nam phải có quyền được các học giả nghiên cứu sâu rộng” (Khi lưu dân trở lại - NXB Thời Mới -1969).

Lại nhớ đên câu thơ của Vũ Hoàng Chương: “Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ”. Tính cách rất sen ấy, cần thiết lắm. Nhìn rộng ra chung quanh, mỗi ngày nếu được cảm nhận sự tốt đẹp ấy, từ những con người với việc làm cụ thể thì vui quá đi chứ?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 1 trong tổng số 48

trinhduyson