LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 20.2.2018

 

kien-van


Đời sống ư? Đôi lúc thấy buồn và tẻ nhạt. Có lúc hân hoan rộn rã tiếng nói cười. Nhưng rồi, lúc tĩnh tâm, ngồi một mình nhìn xuống lòng mình thấy gì? Chẳng thấy gì hay chỉ có một sắc trắng, một âm thanh trống rỗng đã phủ kín từ cảm xúc đến thể xác? Đến một lúc nào đó, nhìn lại chặng đường dài đã đi qua, y hài lòng hay dửng dưng? Biết nói thế nào bởi lẽ năm tháng trôi qua, y đã giữ được gì trong mười ngón tay? Có gì hay chẳng có gì? Nào có thể cân dong đo đếm chính xác. Chỉ biết rằng, cố gắng mỗi ngày làm sao sống trọn vẹn ngày ấy.

Thế nào là sống?

Câu trả lời khó quá. Mỗi người một lựa chọn. Lựa chọn nào cũng được miễn là họ hài lòng. Chẳng ai có thể sống giùm cho ai cả. Đôi khi người ta không dám sống. Y chứ ai. Có đôi lúc quay về một cõi khác để tránh đi cái nhìn phải nhìn, cái nghe phải nghe của thời cuộc đang diễn ra mỗi ngày. Bịt tai nhắm mắt. Và lầm lũi đi trong một cõi khác. Cõi thư hương bộn bề sách vở. Mà sách vở có là gì, chẳng là gì so với nhịp sống đang diễn ra từng ngày, từng giờ với biết bao biến động, đổi thay…

Mà thôi, đôi khi đọc sách cũng là một cách chia sẻ nhiều điều muốn nói. Đêm qua, đọc lại Kiến văn tiêu lục (NXB Trẻ -2013) của Lê Quý Đôn. Nghiệm ra rằng, một khi đất nước loạn lạc, đổ đốn, “Vua chèo còn chẳng ra gì/ Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề” thì ngay cả người trí thức cũng tha hóa, không giữ được tư cách. “Từ năm Đoan Khánh trở về sau, lời bàn luận sáng suốt bẵng đi, thói cầu cạnh mỗi ngày một thịnh, người có chức vị ít giữ được phong độ thanh liêm nhún nhường, trong triều đình không nghe có lời can gián, gặp có việc thì rụt rè cẩu thả, thấy lúc nguy thì bán nươc để toàn thân, đâu có người là bậc danh nho, cũng đều yên tâm nhận sùng vinh phi nghĩa, rồi nào thơ ca trao đổi, khoe khoang tán tụng lẫn nhau, tập tục sĩ phu thối nát đến thế là cùng, tệ hại biến đổi lần này không thể nào nói cho xiết được” (tr. 27).

Đoan Khánh là niên đại Uy Mục đế. Sử sách ghi nhận, Lê Uy Mục (1505-1509) là “vua quỷ”. Năm 1509, Giản Tu công Lê Oanh từ Tây Đô kéo quân về đánh chiếm lại Đông Kinh và bức tử Uy Mục. Oanh sai người đặt xác Uy Mục vào miệng súng lớn, bắn cho tan xương cốt. Xong, Oanh tự lên ngôi, tức vua Lê Tương Dực rồi cũng lao vào đường tửu sắc trụy lạc. Tương Dực sai người thợ có tên là Vũ Như Tô làm cung điện 100 nóc, xây Cửu trùng đài hao tốn biết bao tiền của; lại bắt đóng những chiến thuyền để đàn bà khỏa thân chèo thuyền chơi trên Hồ Tây! Chỉ có dân đen sống trong cùng cực, phải gánh chịu bao thuế má nặng nề. Giặc giã trong nước nổi lên khắp nơi. Tiếng than khóc vọng đến trời xanh. Sử sách ghi nhận, Lê Tương Dực là “vua lợn”!

Thời bấy giờ, theo Lê Quý Đôn các bậc cao sĩ có khoảng trên dưới một trăm, thế nhưng ông chỉ liệt kê chỉ liệt kê được vài người có “cao phong khí tiết”. Chẳng hạn, Lý Tử Cấu, Nguyễn Thì Trung, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hãng… Về khoa cử nước nhà, còn có thể biết thêm chi tiết mà xưa nay các nhà nghiên cứu ít lưu tâm đến. “Gặp lúc người nhà Minh sang xâm lấn nước ta đặt làm quận huyện, họ đặt các khoa “Sơn lâm ẩn dật, hoài tài bảo đức” (ý nói người ẩn dật nơi núi rừng, người tài ba, có đạo đức) để tìm kiếm nho sĩ đưa về Kim Lăng dùng làm quan ở châu huyện. Hỡi ôi “lúc ấy, người hơi có tiếng tăm một chút đều nhận mệnh lệnh” (tr.28), ngoại trừ Lý Tử Cấu, Vũ Mộng Nguyên, Nguyễn Mộng Tuân…

Mục đích của việc học là để làm gì? Các cô nàng, “Chẳng ham ruộng cả ao liền/ Chỉ ham cái bút cái nghiên anh đồ”, “Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau” - có như thế mới “Bõ công trang điểm má hồng răng đen”… Ngay cả sau này, còn có câu: “Phi cao đẳng bất thành phu phụ”... Học là điều tốt quá. Nhưng học để làm gì mới là điều đáng bàn. Nếu học để ra làm quan, thì phải thông qua khoa cử. Đọc Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1937 do Lại Nguyên An sưu tầm, biên soạn (NXB Trí Thức -  2014) mới biết vua Đồng Khánh cũng cực siêu “thu phục nhân tâm” bằng khoa cử.

Rằng, sau vua Hàm Nghi bị bắt vào đêm 30.10.1888 rồi bị đày sang Algérie. Tình hình chính trị không chỉ Trung kỳ mà trong cả nước cực kỳ rối ren, làm sao để giới trí thức thôi tham gia kháng chiến, lãnh đạo cuộc kháng chiến? Cứ đem khoa cử ra mà nhử. Phan Khôi viết: “Khoa thi hương Mậu Tí, Đồng Khánh năm thứ ba, hai trường Thừa Thiên, Bình Định thi chung tại trường Thừa, gọi là “Thừa Bình hiệp thí” lấy đỗ đến 50 cử nhân, 150 tú tài, làm cho sĩ phu rất là mãn nguyện, dư luận rất là thỏa thiếp. Họ đua nhau ca tụng ông vua mới vẽ mày vẽ mặt cho họ mà quên bẵng ông vua cũ vừa bị đày đi. Họ cũng không còn nhớ mới vừa rồi cơn quốc biến mà vì đó họ đã khởi nghĩa Cần vương. Tôi nói thế, bởi tôi thấy trong đám họ có người năm trước ra đầu thú rồi năm sau thi đậu” (tr.173).

Biết các chi tiết này, càng nhận ra các nhà nho cấp tiến thuở ấy, cỡ các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp…, dù đỗ đạt nhưng cũng vứt béng, đi làm cách mạng. Rõ ràng một nhận thức đi trước thời đại rất xa. Câu chuyện này còn dài. Chẳng lẽ ngày Tết ngày nhất lại lụi cụi mày mò tìm hiểu thêm? Hãy để dịp khác. Đọc ca dao, tục ngữ thú hơn.Chẳng hạn, “Em là con gái đồng trinh/ Em đi bán rượu qua dinh ông nghè”; hoặc “Ngựa ai buộc cửa ông cai/ Hoàn ai mà lại ở tai bà nghè” - hoàn là vòng, khoen, Đại Nam quấc âm tự vị (1995) giải thích. “Ngựa ai buộc ngõ ông nghè/ Gà ai gáy ở đầu hè ông Cai”.  Trong bài thơ Ngày xưa của Nguyễn Nhược Pháp có đoạn: “Trên lầu mấy thị nữ/ Cùng nhau rúc rích cười:/ “Thưa cô đừng thẹn nữa/ quan nghè trông lên rồi”.

Nghè là gì?

Trong tác phẩm Lược khảo khoa cử Việt Nam, nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp căn cứ vào tài liệu của nhà bác học Lê Quý Đôn: “Từ bản triều (thời Lê trung hưng), ai đỗ tiến sĩ lại càng được sang trọng lắm: nào được ban áo, ban mũ; vinh quy về làng, cờ mở trống giong, nào các quan đốc thúc dân làng  làm sẵn đài đệ cho ở; nào vào làm quan ở Hàn lâm viện ngay, nếu có đi các tỉnh cũng không bao giờ phải làm chức phó nhị v.v...” và kết luận: “Nghè tức là dinh thự dân phải làm như miếu, đền v.v... chỉ có ông tiến sĩ là được nhà của dân làm cho mà các quan phải đi đốc thúc, thế cho nên gọi là ông nghè, nên phương ngôn hãy còn câu “Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng”.

Còn có cách giải thích nào khác?

Trong tác phẩm Bút nghiên, nhà văn Chu Thiên cho rằng: “Ở trong điện nhà vua, cái điện nào cũng có cái mái chạy dài ra hẳn quá sân, để khi mưa nắng che cho các đại thần cao cấp. các mái ấy gọi là nghè. các tiến sĩ vào đình thí phải đứng ở đấy, tức là tiến lên vua rồi, cho nên người ta mới gọi gộp là các ông nghè”. Việt Nam từ điển của Lê Văn Đức giải thích: “Nghè: điện của nhà vua. Tiếng gọi các quan làm việc trong điện nhà vua, thường là các ông đỗ tiến sĩ”.

Thế nhưng trên Kiến thức ngày nay số 255 (20.8.1997), căn cứ vào bài ca dao có câu: “Em đi bán rượu qua dinh ông nghè”, ông An Chi trả lời bạn đọc chuyên mục “Chuyện Đông chuyện Tây”: “Ông nghè đây chỉ ông quan chứ đâu phải là “quan làm việc trong điện nhà vua”, cũng chẳng phải là ông tiến sĩ, mà cũng chẳng nhất thiết là ông quan có học vị tiến sĩ. Nghè là từ Việt gốc Hán bắt nguồn từ một từ ghi bằng chữ mà âm Hán Việt chính thống hiện đại là “nha”, còn âm xưa chính là... “nghè”.

Sau khi liệt kê các mối tương ứng âm vị ng-nh, ông viết tiếp: “Nha” có nghĩa là công đường, là nơi làm việc của quan lại. Ngoài ra trong Đường thư nó còn có nghĩa là chỗ làm việc của vua nữa”. Sau đó, ông kết luận: “Từ trên đây suy ra, danh từ “nghè” ban đầu được dùng để chỉ công đường (nơi quan lại làm việc) hoặc cung vua (nơi vua ở và ngự triều) rồi về sau mới có nghĩa phái sinh bằng hóa dụ để chỉ các quan làm việc nơi công đường hoặc cung vua. Ngày nay, “nghè” đã trở thành một từ cổ nên người ta không còn biết rõ nghĩa và công dụng của nó nữa. Vì vậy mà về nghĩa gốc của nó, có người giảng rằng đó là mái hiên trong cung vua, có người lại nói rằng đó chính là cung điện của nhà vua, còn về nghĩa phái sinh của nó thì có người giảng rằng đó là ông tiến sĩ, nhưng có người lại giảng rằng đó là ông quan làm việc trong cung điện nhà vua. Xét kỹ ra, như trên đã nói, thì nghĩa nào cũng có cả. Ngoài  ra trong tiếng Việt “nghè” còn có nghĩa là miếu thờ thần nữa nhưng vì nghĩa này không liên quan đến vấn đề đang xét nên chúng tôi mới không nêu lên”.

Tuy nhiên, trong tác phẩm Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử Việt Nam thời phong kiến (NXB Giáo Dục - 1998), ông Nguyễn Tiến Cường không đồng tình với lập luận của ông An Chi. Có thể tóm tắt: Thứ nhất, tự dạng của chữ nghè là chữ Nôm không liên quan gì đến chữ nha, chữ nhã. Thứ hai, nếu nói nghè có nghĩa là ông quan nói chung hoặc quan triều đình thì khi thay chữ quan bằng chữ nghè trong trong các từ: quan thượng thư, quan thị lang... để xem thế nào. “Nói quan thị, quan hoạn thì bình thường quá, nói nghè thị, nghè hoạn thì nó mới lố bịch làm sao!”. Thứ ba, nếu nói đó là nơi quan làm việc thì cũng không ổn. “Người ta nói dinh quan tuần phủ, công đường của quan huyện, quan bố... không ai nói nghè của quan tuần, quan bố, quan án thậm chí quan huyện. Thứ tư về bài ca dao trên thì phải hiểu khác đi v.v...

Qua các tranh luận thú vị này, rõ ràng để hiểu thấu đáo một từ cổ tiếng Việt trong lãnh vực giáo dục quả không dễ dàng. Với từ ông nghè, ông Nguyễn Tiến Cường cho rằng, cách lý giải của cụ Trần Văn Giáp là xác thực, thuyết phục nhất. Lập luận ấy càng thuyết phục hơn khi ta từng biết đến câu đối xưa: “Đá xanh xây cống, hòn dưới nống hòn trên/ Ngói đỏ lợp nghè, lớp sau đè lớp trước”.

Mà này, có thật khi đậu tiến sĩ, vị tân khoa trở về làng thì được quan sở tại sai dân làm nhà cho ở không? Để tìm hiểu vấn đề này, không chứng cứ nào thuyết phục hơn bằng những ghi chép trong tác phẩm Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (1768- 1839): “Lệ cũ ai đỗ khoa Đông các, khi vinh quy dân bản tổng phải đến phục dịch; làm nhà tư thất bằng gỗ lim, lợp ngói, độ ba gian, tất cả dân phu trong bản tổng, bản huyện phải đến ứng dịch. Khi Phạm Khiêm Ích đỗ khoa Đông các về vinh quy, ông thương hại người hàng tổng bần cùng, nên miễn cho, không bắt chịu cái phí tổn làm nhà nữa. Ai cũng lấy làm cảm ơn, sau tôn ông làm hậu thần, thường năm xuân thu cúng tế, mổ trâu vào đám, báo cái ơn đức ấy. Sau khi nhà Lê mất, hậu thần các làng thường bỏ không cúng tế nữa, duy có giỗ hậu Phạm công thì làng vẫn làm lợn thay trâu bò cúng tế, không dám bỏ. Xem thế mới biết cái ơn di ái ở người ta vẫn nhớ mãi không quên.

Triều Lê đãi học trò rất hậu, nào là trâm, hốt, hoa bào, du nhai, tử yến, lại phong cho cha mẹ, ấm cho con cháu, vinh quy áo gấm về làng, rất vinh dự. Hậu đãi như thế là đủ rồi. Còn đến như làm nhà tư thất, phục dịch việc gì cũng đổ vào đầu dân cả, thì dân hàng tổng chịu làm sao được. Vả lại, người học trò mới đỗ đại khoa, mà cả hàng tổng đến phục dịch, làm nhà cửa cho mình, lại phải mở yến tiệc khao mừng, đãi dân hàng tổng để đền công lao, thế tất phải xoay sở đi vay mượn cho xong việc. Thậm chí có kẻ chỉ dòm lấy con gái nhà giàu mà bỏ vợ tào khang; hoặc chịu tiếng luồn lỏi đi vay lãi mà ký liều vào văn khế. thói quen ấy tích tệ từ lâu, nên đã có tiếng “Ông nghè đeo nợ, bà nghè mua chồng”! Thế mà mong người ta ra làm quan giữ liêm khiết, không trái phép làm càn, thì làm sao được”.

Ngày xưa, là thế nhưng nếu phải bỏ tiền mua chức chạy quyền thì khi ra làm quan e rằng "giữ liêm khiết, không trái phép làm càn" còn tệ hại gấp bội phần.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 17.2.2018

BIA-TINH-TU-AM-DUONG3Rxuan


Những ngày Tết. Nhìn xuống bàn tay với những rãnh dọc ngang chằng chịt, hằn nếp, đã thấy thời gian đi qua. Đi qua lặng lẽ. Đi qua vội vã. Bền bĩ. Và cứ thế, đến một lúc nhìn lại, dù không nói ra nhưng trong tâm tưởng đã có tiếng nói dịu dàng: “Sắp lục thập rồi đó Q”. Thế à? Ngạc nhiên quá. Vậy mà bấy lâu vẫn cứ nghĩ là còn trẻ. Rất trẻ nữa là khác. “Đi cho biết đó biết đây/ Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”. Ấy thế, hơn cả nửa đời người, y chỉ ở với mẹ. Mà một khi có mẹ, đứa trẻ con trong y vẫn không chịu rời bỏ đi, nó cứ ở lì với cái sự ỷ lại, chẳng chịu lớn vì cứ nghĩ, dù gì đã có mẹ. Mẹ lo tất. Thế thì đứa trẻ ấy làm sao trưởng thành?

Năm nay, y đã lớn. Đã phải tự lo lấy phần kiếp, số phận của mình, chứ không còn là nấp sau váy mẹ nữa. Phải lớn lên thôi. Không thể chần chừ mãi.

Hình bóng của tình đầu, tình sau, tình cuối vẫn là nỗi ám ảnh của “Hương gây mùi nhớ, trà khan gọng tình” nhưng rồi đến một lúc nào đó chỉ còn là kỷ niệm êm đềm, rất êm đềm của tháng ngày vàng son đã có. Bấy lâu nghĩ rằng, chuyện tình lứa đôi vẫn là dấu vết tươi đẹp nhất đời người. Cảm xúc ấy thăng hoa tạo ra tơ lụa giăng mắc mọi rung động để bật ra tiếng tơ đồng. Bật lên giai điệu ru đời. Ru tình Trải dài theo năm tháng. Có phải trải dài theo năm tháng? Không đâu. Đôi lúc chỉ là một khoảnh khắc. Mà khoảnh khắc ấy lại là dấu vết khó có thể xóa nhòa, delete khỏi ngăn trí nhớ. Nghĩ là nghĩ vậy. Nhớ thương da diết là vậy. Rồi đến một lúc đã trưởng thành, đã bước ra khỏi vòng tay mẹ, đứa trẻ ấy phải biết nghiến răng để quên đi. Quên để làm gì? Để bắt đầu tự lập, tự chỉnh đốn lại cái thần xác, tâm tình của chính nó.

Nếu không như thế, sức mấy nó có thể viết bằng tâm thế của một người đã chín chắn, chững chạc: “Mầm đời xanh biếc mỗi ngày/ Tôi đang sống với bào thai tượng hình/ Đường dài ấm nắng bình minh/ Ru đêm ơn nghĩa nặng tình phu thê”. Hai từ “phu thê” nghe lạ tai không? Ít ra với y. Bây giờ đã khác. Trong Gia huấn ca có câu: “Có âm dương có vợ chồng/ Làm người ai thoát khỏi vòng phu thê”. Vậy à? Sao bây giờ mới biết? Có chậm quá không? Không gì nhanh và chẳng gì chậm. Vấn đề đặt ra vẫn là “Mầm đời xanh biếc mỗi ngày”.

Điều này, từ ngày 28.X.2001, y đã ý thức: “cuộc đời anh nhân đôi/ đó là lần đầu tiên hái ngôi sao trên trời/ đặt tên Sự Sống/ những mệt mỏi chán chường hư vô trống rỗng/ bây giờ xa lạ với chính anh/ đó là lần đầu tiên chạm đến mùa xuân/ đặt tên Nhân Loại/ như người nông dân gắn bó với luống cày/ được thu hoạch mùa vàng vĩ đại/ anh biết từ nay anh tồn tại/ vĩnh viễn giữa trần gian/ giọt máu vẫn chảy/ vẫn chảy/ vẫn chảy/ dẫu sau khi anh đã mất đi rồi/ được nhân đôi cuộc đời/ sợ quái gì cái chết”. Thật ra, ai rồi cũng đi về một cõi khác. Nhưng họ vẫn tồn tại trong tâm trí của máu thịt của chính họ đã tạo ra. Máu thịt ấy là sự tiếp nối, là nhân đôi cuộc đời.

Chinh phụ ngâm xao xuyến lòng người, còn là lúc tiễn chồng ra trận hiện lên trước mắt vẫn cái cảnh bùi ngùi, cảm động: “Đường giong ruổi lưng đeo cung tiễn/ Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa”. Nếu, “Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt/ Xếp bút nghiên theo việc đao cung” vẫn độc thân, chưa vợ con thì đâu não lòng đến thế, bất quá chỉ là “Lá còn xanh nhu bao anh còn trẻ/ Lá trên cành như anh trong đoàn quân/ Gió rung cây cành lá tưng bừng đùa vui/ Anh trai làng có đi chiến dịch mùa xuân”. Nhẹ nhàng, phơi phới, không gì vướng víu, bận bịu. Chàng trai ấy, làm sao có thể thốt ra câu chỉn chu, không chỉ lo chu toàn phận sự làm trai mà còn phải dặn dò, quán xuyến cả việc nhà: “Nàng về nuôi cái cùng con/ Anh đi trẫy hội nước non Cao Bằng”. Rồi còn do tiếng khóc của vợ lúc tiễn chồng: “Cái cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”, buổi lên đường tòng quân, không hề có tiếng cười. Phải rồi, vợ xa chồng, chồng xa vợ ra nơi trận mạc đối đầu với hòn tên mũi đạn, sống chết chưa biết ngày sau ra sao thì nỗi buồn ấy rất nhân văn.

Bấy lâu nay, sức mấy y được sống trong tâm thế đó. Mọi việc cũng chỉ là: “Đêm khuya nguyệt tận từ lâu/ Chon von chót vót ngôi sao khóc òa/ Tôi đột nhiên thấy người ta/ Trong gương soi lại bước ra mỉm cười”. Chỉ hình và bóng của y đấy thôi. Thê thảm chưa? Cô độc chưa? Nay đã khác. Rất khác. “Môi hôn ghé xuống môi hôn/ Ôm lấy trái đất vuông tròn trong tay/ Mỗi ngày cúi xuống nghiêng tai/ Lắng nghe nhịp thở đất đai nẩy mầm…”. Ngày đã mới. Ai lại không mong chờ một ngày mới đầu tiên trong cõi người? Đoàn Tuấn bảo; “Thơ như khát vọng bao đời/ Như mùa xuân đến đất trời hoan ca”.
Mùa Xuân. Ngày Tết. Lặng lẽ với từng dòng Nhật ký. Đôi lúc lại nhớ về những chuyến vui Xuân đón Tết của những mùa vàng vẫn còn rực rỡ trong ký ức. Nhớ về Hội An. Nơi ấy, trước cửa nhà hầu hết đều có vẽ hình con mắt. Con mắt của thời gian. Tại sao lại vẽ con mắt? Gọi nôm na Thần cửa. Nhiều tài liệu đã giải thích rồi. Không nhắc lại. Chỉ cần Google là tìm ra ngay thôi.

Có phải đôi mắt ấy bắt nguồn từ cái tích này không? Cái tích gì vậy?

Đọc Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn bản dịch, chú giải của Phạm Vũ và Lê Hiền (NXB Miền Nam - 1973), ở phần Phẩm vật loại, có đoạn: “Sách Loại tụ nói: “Cái khóa cửa, tất phải làm hình con cá, lấy nghĩa con cá không nhắm mắt, để giữ đêm”. Lại nói rằng: “Ở biển Đông, có loài cá, đuôi như đuôi chim cắt, hễ nó phun sóng thì trời mưa; cho nên đời Đường đến nay, hễ làm nhà thì đắp hình con cá  ở nóc nhà để trấn hỏa tai”. Từ cái khóa cửa hình con cá, về sau đã “cách diệu” thành hình con mắt ngay trước cửa nhà? Suy luận này, liệu có đúng không?

Thôi thì, cứ nghĩ thế, chứ biết hỏi ai bây giờ? Nghĩ như thế vì từ “nguyên mẫu” đã có, khi du nhập vào nước Nam thì nó đã “cải tiến” ít nhiều. Ví như ngày trước trong đám cưới từ làng này qua làng nọ luôn gặp cảnh giăng dây. Nhà văn hóa Phan Kế Bính có viết trong Việt Nam phong tục (MXB TP.HCM-1990): “Trong lúc đi đường thì những kẻ hèn hạ hoặc lấy sợi chỉ đỏ, hoặc mảnh vải, lụa đỏ giăng ngang giữa đưòng, đám cưới đi đến, phải nói tử tế mà cho chúng nó vài hào, thì chúng nó mới cởi dây cho đi. Chỗ thì chúng nó bày hương án, chờ đi đến, đốt một bánh pháo ăn mừng, chỗ ấy phải đãi họ một vài đồng mới xuôi. Nếu bủn xỉn mà không cho chúng nó tiền, thì chúng cắt chỉ cắt dây nói bậy nói bạ, chẳng xứng đáng cho việc vui mừng, vì vậy đám nào cũng phải cho” (tr.58).

Đọc Vân đài loại chí, càng xác tín rằng thói xấu bắt chẹn/ bắt chẹt này là do người nước Nam ta bắt chước theo Trung Quốc và có “cải tiến”. Lê Quý Đôn cho biết: “Sách Thông điểu chép: “Đời Đường Huyền tông, Đường Thiệu dâng sớ lên vua tâu: “Trong ngày sĩ thứ nghênh hôn, những kẻ hèn hạ quê mùa đem xe ra chận đường đòi cơm rượu. Tục ấy trở nên thịnh hành đến cả những bậc vương hầu. Chúng nhóm nhiều bè lũ ra đón đường giữ đám cưới lại, làm mất nhiều thời giờ mà đòi tiền của, đến nỗi tiền cho bọn ngăn đường nhiều hơn tiền cưới. Vậy xin cấm hẳn. Nhà vua chuẩn việc ấy”. Tục ấy gọi là tục đón ngõ, giăng dây bây giờ”. Rõ ràng từ chỗ “đem xe ra cận đường” đã trở thành “giăng dây” (SĐD, tr. 199-200).

Này, tra trong từ điển có từ “bắt cóc”, Đại từ điển tiếng Việt giải thích: “Bắt người đem đi một cách lén lút, bất ngờ, mau lẹ rồi đem giấu kín ở một nơi không cho ai biết, nhằm đòi tống tiền hoặc những mục đích khác”. Thử đặt câu hỏi, tại sao phải là cóc/ bắt cóc chứ không là con gì khác? Ắt phải có duyên cớ gì đây. Người xưa khi sử dụng từ nào là có lý do của nó, chứ không thể bốc đồng, ngẫu hứng, tùy hứng. Vậy duyên cớ ấy là do đâu? Câu trả lời ấy, nếu phải trả lời e khó quá đi mất.

Lâu rồi tình cờ đọc quyển Quảng tập viêm văn (in năm 1898) của Edmond Nordemann, NXB Hội nhà văn tái bản năm 2006, Nguyễn Bá Mão biên dịch và chú thích, có đoạn liên quan đến từ bắt cóc: “Tinh thần tương tế (giúp đỡ nhau) rất phát triển ở An Nam cũng như ở người Trung Hoa. Ở An Nam, không có xóm nào không có hội hưu dưỡng của tuổi già gọi là hội “kỳ lão”, hội lễ bái Khổng giáo gọi là “hội tư văn”, hội cựu học sinh của một trường gọi là “hội đồng môn” (chủ yếu là để cung dưỡng thầy dạy họ), hội bảo đảm tang lễ gọi là “hội hiếu”, hội cho vay lẫn nhau gọi là “họ” và hội âm nhạc gọi là “hội nhạc sinh”. Tất cả nhũng hội này đều hoạt động giống như các hội của người Pháp. Người An Nam không có hội kín. Ở Trung Hoa trái lại, các hội kín tương đối nhiều, hầu hết đeo đuổi việc lật đổ triều Mãn Thanh.

Tín dụng hầu như không có như chúng tôi đã nói ở trên. Bởi vậy sự phòng xa của người Trung Hoa và người An Nam thường là chôn xuống đất tất cả của để dành của họ. Những của để dành này thường được tiêu biểu bằng các khối kim loại quý nhỏ có dáng hình con cóc. Từ đó, có từ ngữ An Nam “bắt cóc” để nói sự bắt phải chuộc. Những bản đồ được vẽ ra và đánh dấu tỉ mỉ dùng để tìm lại những chỗ cất giấu” (tr. 287).

Thế nhưng “Bắt cóc bỏ dĩa/ Bắt cóc bỏ nong” thì ở đây rõ ràng là bắt lấy con cóc. Có lẽ, những ai đơn thân độc mã, một mình một ngựa ít khi có tính cách “chôn của để dành” như vừa nêu. Bởi vì rằng, họ chẳng phải lo toan gì sâu xa cả. Có đồng nào xào đồng đó. Làm gì có “của để dành”. Y cũng vậy thôi. Ngày Tết lại nhớ về thuở còn nhỏ, dịp đó, mẹ thường mua cho con heo đất nhằm để dành tiền lì xì ngày Tết. Xa xưa hơn nữa, con người ta tiền để dành trong ống tre. Chặt một khúc tre có hai “đầu mắt” tức ống tre đã bịt kín, khoét rãnh ngang để nhét tiền để dành vào trong đó, vì thế mới gọi “tiền bỏ ống”. Cái con heo đất đó, trẻ con Quảng Nam gọi là cái lùng binh/ bùng binh.

Ngày Tết, cái bẽ bàng nhất của y vẫn là quán xá đóng cửa. Tự tay nấu nướng thì đã chán. Ăn riết món ăn do chính tay mình nấu, khác gì cực hình. Biết làm thế nào? Thế thì chiều nay ăn cháo vậy. Ông Lê Quý Đôn có chép lại từ sách Giới am mạn bút, bài thơ như sau (dịch): “Nấu cơm ăn đâu bằng nấu cháo/ Cùng trẻ em thử thảo luận coi/ Một thưng dễ biến thành hai/ Ba bữa thành sau ngày dài đỡ sao/ Có khách chỉ thêm vào nước lửa/ Khỏi tốn tiền sắm sửa chi chi/ Cháo đâu kém vị ngon gì/ Cháo lạt nhưng khỏe vị tì hơn cơm” (SĐD, tr.472). Ca ngợi cháo đấy chăng? Chẳng phải đâu cũng là một cách tự bào chữa của con nhà nghèo đất thôi. Chứ không phải đã chán cao lương mỹ vị đến cổ, bèn đổi qua món cháo cho lạ miệng. Còn y nấu cháo chẳng qua không biết nấu món gì khác.

Chẳng rõ, hiện nay ở trong Nam còn giữ tục nấu nồi cháo ám hay không? Hãy nghe ông Vương Hồng Sển kể lại: “Ba ngày Tết trong này ăn dồn thịt kho thịt, lạp xưởng và vịt phơi khô, nhiều ngày quá nên lợm giọng vì thế qua ngày mồng bốn Tết có lệ “cúng tết”, tết nhà tết cửa. Ngày ấy, nấu bữa cơm cúng đất đai ông bà, lễ tất, đại để có tục lệ cắt giấy kim ngân ra hình vuông, hình hồ lô để dán vào cột cửa tủ bàn và dâng lên bàn thờ Tổ tiên “nồi cháo cá ám”. Cũng thì cháo cá nhưng nấu cháo kiểu cá luộc chần, thì vẫn cá luộc sơ và xắt khúc, không để nguyên con; còn trái lại “cháo cá ám” là nấu nồi cháo rất kỹ, cá để nguyên con không chặt khúc và khi nấu cháo vẫn không đậy nắp vung (nấu ám). Theo tôi đây là món thuốc vệ sanh trừ độc của ông bà lưu truyền lại, vì ba ngày Tết ăn mỡ đã nhiều, qua mồng bốn ăn tô cháo ám có rau ghém chát xắt nhỏ, chuối cây non và rau thơm, vừa nhẹ nhàng khoang khoái thêm ngon miệng, trở bữa, nghệ thuật là quyết trường sanh đó” (Tạp san Sử Địa số 5 - tháng 1.1967).

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 13.2.2018



in-bao-li-xi-hoa-van-tho

 

Trong những ngày này, như một kẻ vô công rỗi nghề, y vẫn cắm cúi cùng trang sách. Mặc kệ ngoài kia nắng vàng, gió rét nhè nhẹ, nhịp sống đang rạo rực từng giờ, từng ngày. Sao không mở toang cánh cửa, bước xuống phố, hòa nhịp vào dòng đời đang tất bật, vội vã kia hả Q? Đã qua rồi cái thời: “Trời giăng mây trắng/ Trẻ thơ nô đùa/ Níu vạt áo mẹ/ Gì cũng đòi mua/ Kìa hoa vạn thọ/ Củ kiệu cải chua/ Phong bì đỏ chói/ Thơm lời dạ thưa…”. Một khi đã mất mẹ, sẽ không bao giờ con người ta có được niềm sung sướng chân thành, hồn nhiên trong trẻo ấy nữa. Nghĩ mà buồn. Vì thế, cắm mắt vào trang sách là thế. Dù có thế, cũng sẽ tìm mua hai chậu hoa vạn thọ màu vàng nghệ,  thuở sinh thời mẹ y rất thích chưng vào dịp Tết.

Sáng nay, đọc nhẩn nha lại về lai lịch nghệ nước nhà. Rằng, từ những năm cuối thế kỷ XIX đã có một vài đoàn kịch Pháp sang nước Nam biểu diễn. Chắc chắn sự kiện này đã tạo được sự kích thích cho những nhà hoạt động nghệ thuật thời bấy giờ. Tại Sài Gòn, Nhà hát lớn đã khánh thành vào tháng 1.1900. Năm 1918, Ông đốc phủ Lê Quang Liêm và ký giả Đặng Thúc Liêng cho công diễn vở Hoàng tử Cảnh du Tây (Gia Long tẩu quốc), nhưng chưa phải là kịch nói và không được công chúng hoan nghênh. Mãi đến năm 1925, người đầu tiên viết kịch nói của Sài Gòn là Trung Tín đã viết các vở như Toa toa moa moa, Kẻ ăn mắm, người khát nước… trong đó có xen lẫn vài điệu hát cải lương, nhưng lại không công diễn trên sân khấu.

Trong khi đó, tại Hà Nội, năm 1911 Nhà hát TP Hà Nội mới xây dựng xong. Ngày 25.4.1920, tại đây đã diễn vở Người bệnh tưởng (Le malade imaginaire) của Molière do Nguyễn Văn Vĩnh dịch sang tiếng tiếng Việt. Báo chí đã ghi nhận sự kiện này và “mong rằng sân khấu Việt Nam sẽ diễn những vở hài kịch theo lối Thái Tây để bổ ích cho nhân tâm, phong tục nước nhà” (Thực Nghiệp dân báo số 7/1920). Sau đó công chúng được xem những vở kịch khác như Ai giết người của Tô Giang - phỏng theo truyện ngắn của Mân Châu in trên Nam Phong tạp chí số 28, rồi Già kén kẹn hom của Phạm Ngọc Khôi, rồi Mảnh gương đời, Bình địa ba đào của Trần Tuấn Khải v.v…

Sân khấu kịch nói Việt Nam đang đi những bước đầu tiên trên đường hình thành. Thế nhưng, phải đợi đến ngày 22.10.1921 người ta mới thật sự tin tưởng vào loại hình nghệ thuật này. Đó là ngày công diễn vở kịch Chén thuốc độc của Vũ Đình Long (tại Nhà hát Hà Nội) do Bắc Kỳ Công thương Đồng nghiệp Ái hữu tổ chức. Sự kiện này đã đánh dấu một cột mốc quan trọng cho sân khấu kịch nói.

Hầu hết các báo chí lúc bấy giờ như Thực Nghiệp, Hữu Thanh, Nam Phong hoặc L’avenir du Tonkin, France-Indochine v.v… đều có bài tường thuật, phê bình. Nhà thơ lừng danh Tản Đà nhận định: vở kịch đó “đáng có giá trị”. Ông Nguyễn Mạnh Bổng không tiếc lời ca ngợi: “Ngày hôm 22 Octobre 1921 này là một ngày kỷ niệm lớn trong văn học sử nước ta” và “ văn học sử nước ta sau này chép đến lối văn kịch có lẽ sẽ kể đầu từ bản kịch Chén thuốc độc của Vũ Đình Long”. Trong Nhà văn hiện đại, nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan ghi nhận: “Vũ Đình Long là người đã có ý kiến soạn những vở kịch có thứ lớp theo lối Âu Tây trước nhất”, “là nhà soạn kịch lối mới trước nhất ở nước ta” và “vở kịch Chén thuốc độc là cái mốc đầu tiên trên con đường hài kịch Việt Nam lối mới”.

Xin ghi lại nguyên văn đánh giá của tác giả Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý khi biên soạn Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nói Việt Nam (NXB Văn Hóa - 1978): “Vở Chén thuốc độc ra đời đã có tiếng vang lớn. Đối với đương thời, Chén thuốc độc là một thành công báo hiệu sau những lần thử thách, lần mò. Kịch nói Việt Nam đến đây đã hình thành và chính thức gia nhập đại gia đình sân khấu Việt Nam”(trang 26). Mới đây, trong chuyên đề Lướt qua một thế kỷ, Hội khoa học lịch sử Việt Nam đã ghi nhận Chén thuốc độc là: “Vở kịch đã đi vào văn học sử và sân khấu Việt Nam với tư cách một sự mở đầu cho kịch nói dân tộc” (Tạp chí Xưa - Nay số 1.2000).

Nhân đây xin được nói qua đôi nét về Vũ Đình Long: ông sinh năm 1896 và mất ngày 14.8.1960 tại Hà Nội. Ngoài vở kịch Chén thuốc độc, ông còn viết Tây sương tân kịch, Tòa án lương tâm (1923)… Sau đó, từ năm 1925 ông chuyển hẳn sang hoạt động xuất bản, làm chủ nhà in nổi tiếng Tân Dân và chủ trương nhiều tờ báo như Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Ích Hữu, Tao Đàn, Phổ thông bán nguyệt san; sau năm 1954, ông là ủy viên BCH Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Nhân kỷ niệm 100 năm của ông, GS Phong Lê đã trân trọng đánh giá công bằng: “Không thể không thấy Vũ Đình Long là người đã có công góp phần tổ chức nên đời sống văn học có mặt sôi động vào những năm 30, đã cho ra đời một khối lượng khổng lồ các tác phẩm gồm nhiều thể loại, với nhiều khuynh hướng sáng tác và các giá trị rất khác nhau”.

Dù chưa tìm được bản in vở kịch này lần đầu tiên, nhưng trong tủ sách của y hiện đang có một bản quay ronéo dành cho kịch sinh Trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn (1970). Ở trang trong có viết: “Hí kịch lối mới, ba hồi, chia làm 36 xen”. Thú chơi sách là vậy, khi mà người ta có được bản in tác phẩm nổi tiếng, dù chỉ là hình thức quay ronéo thời đó khá phổ biến tại miền Nam. Tài liệu này cho thấy khoa kịch nghệ miền Nam không xa lạ với vở kịch Chén thuốc độc của Vũ Đình Long.

Nhà văn Vũ Ngọc Phan tóm tắc nội dung như sau: “Cả ba hồi đều chung một cảnh, cảnh nhà thày thông Phu, một nhà “phú quý” bậc trung. Thày thông Phu là một thiếu niên huy hoắc tiền tài ở xóm cô đầu và chiếu bạc, mẹ thày và vợ thày say mê đồng bóng, em gái thày vì không người dậy bảo nên cũng hư hỏng mà chửa hoang, rút cục thầy nợ quá nhiều, nhà bị tịch biên và thầy định liều thân với chén thuốc độc. May có bạn thày là thày giáo Xuân can ngăn được; sau, nhờ có cái măng-đa sáu nghìn của em trai thày gửi ở Lào về, thày cứu vãn được tình thế, rồi cả nhà tu tỉnh, lại sống vui vẻ như xưa” (Nhà văn hiện đại, NXB Thăng Long tái bản 1960, tr.667).

Vở kịch này tạo ra tiếng cười, hài hước, vui nhộn là ở các cảnh đồng bóng, lên đồng mà Vũ Đình Long đem ra nhễu nhại, gây cười nhằm mục đích đả phá một khi hầu đồng đã trở thành nơi buôn thần bán thánh. Nhân vật chính là thày thông Phu. Vậy “thông” là gì? Trước hết, đọc lại bài thơ của Tú Xương: “Nào có ra gì cái chữ Nho/ Ông nghè, ông cống cũng nằm co/ Chi bằng đi học làm thầy phán/ Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò”. Phán ở đây là chỉ những người làm việc trong công sở của Tây, gọi thông phán, cao hơn thông ngôn một trật. Vợ thầy thông Phu mê đồng bóng? Thế, đồng bóng là gì? Chà, trả lời câu hỏi này, gay go đây. Đã đồng bóng ắt có hầu đồng, ngồi đồng, thanh đồng, thanh tiên đồng tử, ông đồng bà cốt…

Rắc rối quá.

Vậy hãy hỏi “đồng” là gì?

Tục ngữ có câu “Thứ nhất ngồi đồng, thứ nhì chồng quan”. Làm vợ của quan được ăn sung mặc sướng, kẻ thưa người bẩm, cơm bưng nước rót, quyền lực lừng lững “Lệnh ông không bằng cồng bà”, kẻ hầu người hạ ắt sung sướng là phải rồi, dễ hiểu  rồi. Thế thì sao vẫn thua ngồi đồng? Đơn giản, một khi thoát khỏi cái xác phàm trần tục, được thánh thần nhập xác thì khi ấy “Nói có người nghe, đe có người sợ”. Há chẳng phải sướng sao? Dù rằng, chỉ là “quyền lực” chốc lát, nhưng ít ra đó chính là sự hãnh diện, nở mày nở mặt bởi trong đời thường với thân phận dân đen như họ, mấy ai có thể có được. Nói cách khác ngồi đồng cũng là một cách đi tìm ảo tưởng để được niềm an ủi, nhất là với người phụ nữ vì hằng ngày bợt mặt kiếm ăn, đã thế lại còn “Cha mẹ nói oan, quan nói hiếp, chồng có nghiệp nói thừa”, họ khó ngóc đầu khẳng định vai vế của mình. Khi hầu đồng lại khác, quan cũng xưng con, cũng vái, cũng quỳ, cũng lạy, chứ huống gì… chồng! “Có họa lấy vợ hầu đồng/ Khi thì làm chồng, lúc lại làm... con”, nghe ra hài hước, bông lơn nhưng lại trúng chóc.

Hầu đồng có tốn kém không? Ắt có. “Thánh một cân, trần một yến”. Một cân là 600 gr, một yến nặng bằng mười cân. Ấy là nói về sự xa hoa, lãng phí, đua nhau làm vàng mã, cúng kiếng, phát lộc... Không phải ngẫu nhiên, ông bà ta tổng kết: “Chết đường chết chợ không bằng lấy vợ ngồi đồng”. Lại có câu: “Ghen vợ ghen chồng không bằng ghen đồng ghen bóng”, hiểu thế nào? Trên trang mạng xã hội nọ, có người giải thích: “Ghen đồng ghen bóng là trò của mấy ghế đồng chưa rõ niêm luật, vai vế, thứ bậc của ông thánh mà sinh ra ghen ghét, đố kị nhau; hoặc ganh đua nhau về “con nhang đệ tử”. Mỗi người mỗi phép, thấy họ làm không giống mình thì ghen với họ, cho là họ làm sai, phải làm như mình mới đúng; rồi cho người này thấp căn hơn mình sao nó lại lam thế nọ thế kia? Vì vậy họ lao vào cãi nhau, xô xát, tranh luận rồi đổ thừa là do bóng ghen. Nhưng bản chất của đạo Mẫu ta đâu có như vậy? Trần có luật trần, âm có luật âm, có phép tắc, nền nếp rất quy củ, thứ bậc rõ ràng, công việc rất cụ thể thế nhưng các ghế của nhà ngài ai cũng tài, cũng giỏi, bảo thủ không chịu học hỏi thêm nên mới đi ghen tuông với nhau, chứ bóng giá nào ghen nhau?”. Ấy là câu nói về tính đố kỵ của người Việt trong việc cùng hầu đồng.

Trở lại với câu hỏi “đồng” là gì?

Từ điển Việt - Bồ - La (1651) của A de Rhodes giải thích: “Doũ, cái doũ (đồng, cái đồng): Gương, kiếng. Gương cùng một nghĩa/ Soi doũ: Nhìn vào gương để làm phù chú. Làm doũ làm cốt: Bà phù thủy nhìn vào gương để làm phù chú. Thầy doũ: Thầy phù thủy sử dụng gương, chiếu kính. Mời doũ: Mời những thầy phù thủy sử dụng gương, chiếu kính. Quỉ phụ doũ: Bà phù thủy đã được quỷ nhập”. Cách giải thích này chưa đúng về ý nghĩa của việc hầu đồng/ ngồi đồng nhưng cho ta biết rằng, thời trước người ta sử dụng đồng, đồng được đánh bóng sáng loáng để soi mặt vào lúc “làm phù chú”. Vâng, về gương, kiếng dùng để soi mặt thì mãi đầu thế kỷ XX mới du nhập vào Việt Nam. Trên báo Nông cổ mín đàm số 149 ra ngày 24 Juliet 1904 tại Sài Gòn, có in mẩu chuyện “Kiến soi” thuộc thể loại “chuyện tiếu đàm”. Ghi lại văn phong và lỗi chính tả để thấy được cách hành văn của hơn một trăm năm trước:

“Đời trước người ta mới bày cái mặt kiến, đề dùng mà soi mặt, ai có thì lấy làm quí, bán mắc tiền, thường chánh nơi thành thị có một hai người giàu có lớn mới sắm, còn nơi thôn giả thì chưa ai hề thấy cái mặt kiến bao giờ. Có một tên trai kia giàu có lớn, buôn bán xứ xa, thấy người ta có cái mặt kiến, anh ta chạy lại mà coi, dòm vô thì thấy rỏ ràng khuôn mặt của anh ta tạc hết hình kiến, lấy làm lạ và năn nỉ mua cho đặng cái kiến, mắc rẻ thì cũng chẳng nại, anh ta mua đặng cái kiến rồi quầy quẩy trở về giấu cái mặt kiến trong rương không cho ai coi.

Từ ngày anh ta có cái mặt kiến thì anh ta cứ ở trong buồn luôn luôn, săm soi hoài, coi rồi nói lầm thầm với hình bóng anh ta trong cái kiến như là đứa điên vậy, vợ va rình coi thì lấy làm lạ mà không rỏ ý chi, vã lại anh ta ham mê cái kiến đó, thì ý ăn ở với vợ lơ lẵng, nên vợ đổ ghen, càng nghi lắm.

Bữa kia anh ta có việc cần kíp chi đó phải đi, dặn vợ ở nhà đừng có lục đồ trong rương mình. Khi căn dặn vợ đôi ba lần ắt chất, anh ta ra đi, vợ anh ta ở nhà lấy làm mừng lén coi cho biết cái chi mà chồng mình mê sa đến đổi coi tưởng hơn mình, mới vô dở rương lục coi thấy cái kiến, chị ta dòm vô, thấy mặt chị ta trong cái kiến, liền phát ghen, quăn cái kiến chạy ra kêu bà mẹ chồng rồi khóc và nói rằng: “-Nè mẹ, ở nhà tôi nó hết thương tưởng đến tôi nữa rồi, bỡi vậy cho nên nó đi chuyến buôn đó nó mê sa theo đỉ điếm nên ở lâu, e sau sự sảng phải hết, bây giờ nó lại đem cái chơn dung con đỉ đó về, nên ngày đêm nó coi hoài.”.

Mẹ nó nghe nói cũng nỗi giận, hỏi đâu nà? Cái hình con đỉ đó đâu đưa cho tao coi thử, con nọ lại lấy cái gương ra cho mu mẹ coi, mụ nầy dòm vô rồi nói: “-Cái con đỉ già rồi mà còn nhí nhảnh”. Đoạn vừa giức tiếng, chú chàng lơn tơn về, thấy hai mẹ con đang săm soi cái mặt kiến, nổi giận, la rầy, kế vợ đổ ghen theo cằn nhằn, lại thêm mụ mẹ mắng chưởi om sòm, ảnh ta nổi xung giận đạp đồ đạt rồi nắm đầu vợ mà đánh, vợ la làng xóm om sòm, nói chồng mình mê sa theo đỉ mà còn về làm hung.

Vừa may có anh xã đi nhóm về đi ngang qua đó, nghe la làng xóm om sòm, biếu trùm vô bắt hết đem ra nhà việc tra hỏi, thấy con nọ bị lổ đầu chảy máu, mới hỏi: “-Vì cớ làm sao mà chồng thiếm đánh thiếm hung vậy?”. Chị ta khai rằng: “-Thưa cậu ,vợ chồng tôi ăn ở với nhau ba bốn năm nay rồi, tuy không con cái, chứ tình ưa ý hiệp, thương yêu nhau lắm, nay nó mê sa theo một con đỉ mà phải nát cửa hại nhà nên mới ra rầy rà như vậy”.

Chú xã nghe khai đầu đuôi tự sự, biểu con nọ đưa cái hình cho va coi thữ. Mới lấy cái kiến dòm vô rồi nói rằng: “-Không phải con đỉ, nó là thằng điếm ma, có bịt khăn-be đây nữa, hai mẹ con thiếm nói bậy nên sanh sự bất hòa, thôi tôi xử hòa cho hai đàng về đừng có rầy rà nữa, và phải chịu phạt hai quan tiền vạ về sự la làng”. Ba mẹ con lấy cái mặt kiến trở về giận chú xã xữ hiếp, lại biểu chịu phạt hai quan tiền vạ, khi về tới nhà, ba mẹ con cằn nhằn nhau, mụ mẹ biểu con dâu lấy cái kiến coi lại coi là con đỉ hay là thằng điếm. Con nọ lấy cái kiến dòm vô, thấy chị ta trong kiến liền kêu mẹ mà rằng: “-Nè mẹ thật rỏ ràng là con đỉ mà, sao chú xã lại nói là thằng điếm”.

Hai mẹ con giắc nhau tới huyện mà kiện chú xã.

Quan huyện tra hỏi ba đàng xong xuôi rồi, ngài mới biễu đưa cái hình cho ngài coi, ngày dòm vô và hỏi rằng: “-Vậy chớ lảo là người gì, ở đâu vậy?”. Cái hình trong kiến cũng nhóp nhép hỏi lại. Ngài giận nổi xung mà rằng: “Tôi hỏi lảo, lảo lại hỏi tôi, không phải chổ chơi mà diễu cợt được”. Ngài thấy cái hình trong kiến cũng đối đi đối lại; Ngài giận nổi xung đập bể cái kiến tang nát. Ngài không thấy cái bóng nữa, ngờ là biến mất nên nói rằng: “Trốn đi đâu? sao không ở mà diểu cợt nữa”. Ngài mới kêu 3 mẹ con và tên xã mà quở rằng: “Sao mấy người dám đem cái hình lão nào mà diễu cợt với ta, lẽ thì ta làm tội mấy người, song ta lấy lòng nhơn mà tha cho mấy người về, sao đừng kiếm chuyện mà diễu cợt nữa”.

Té ra cả 3 đều tin sự quấy mà sanh sự bất hòa, có một quan huyện cũng tin như thế, người đập bể kiến mà gỡ rối xong”.

Mẩu “chuyện tiếu đàm” này dù viết với mục đích hài hước, gây cười nhưng qua đó ít nhiều ta cũng thấy được cái kiếng soi mặt đối với người Việt Nam thuở ấy cũng chưa phổ biến lắm. Từ mẩu chuyện này, lại căn cứ vào Từ điển Việt - Bồ - La, rõ ràng, ngồi đồng là ngồi soi mặt vào kiếng/ kiếng (còn gọi là đồng). Nay, ngồi đồng đã khác, người ngồi đồng được phủ khăn màu đỏ như tượng trưng cho sinh lực của thần thánh, hơn nữa cũng là một cách tập trung tư tưởng… Và cũng đừng quên rằng, trong tiếng lóng “ngồi đồng” lại hàm nghĩa khác. Chẳng hạn, dù không có xu teng nhưng hai bạn vẫn hiên ngang bước vào quán, gọi món bảnh tỏn như ai; sau đó, một người đi kiếm tiền, một người ngồi lại chờ bạn đem tiền về “chuộc”, đích thị là “ngồi đồng”.

Thế thì, ngồi đồng, nếu giải thích theo các nhà ngiên cứu về đạo Mẫu thì đồng là gì?

Đọc tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 195 (2000), trong bài viết Hầu đồng - một hình thức sinh hoạt sân khấu dân gian, Võ Hoàng Lan giải thích: “Đồng có nghĩa là trẻ con. Con người khi sinh ra thường bị cuộc sống nhân tạo chi phối, kìm hãm khả năng tiếp cận với sức ẩn tàng của thiên nhiên, vũ trụ. Và, chỉ trong khi lên đồng, bằng xuất thần, để trở về với tâm hồn trẻ thơ mang bản chất trong trắng hồn nhiên, người  ta mới tạm thời gác bỏ được những sự ràng buộc nhân tạo đó. Ngươi ta tin rằng, có như vậy mới đồng cảm được với thần linh, hòa hợp được với thiên nhiên, vũ trụ và mới hiểu biết được sự dạy bảo của đấng thiêng liêng. Đồng còn cùng: con người bằng xuất thần đẩy linh hồn ra khỏi xác thần để tìm lấy một linh hồn đồng điệu trong hệ tứ phủ vạn linh, để vị thần đó mượn xác thân con đồng mà tiếp cận với chúng sinh” (tr.85).

Y tán thành cách giải thích này. Âu cũng là một cách tìm về tiếng Việt qua từ “đồng”, nay đã hiểu thêm một chút nữa, dù ít nhưng vẫn lấy làm thích thú, chẳng khác gì đang chiều nhạt miệng bỗng đâu có tin nhắn: “Bia không?”.

Sài Gòn, những ngày này phố xá rộn ràng sắc màu. Một không gian của Tết. Một không khí của Tết. Đường phố vắng hơn mọi ngày. Người nhập cư kiếm sống đang lần lượt về quê ăn Tết. Với y, “về quê ăn Tết”, bốn từ ấy bao giờ cũng vọng một nỗi niềm thiêng liêng và háo hức. Về quê cũng là một cách nạp lại năng lượng, để sau Tết, rời quê, tiếp tục với cuộc mưu sinh nhiều ở đất khách quê người. Mà “đất khách quê người” thời buổi này có là ghê gớm như thuở xa xưa đâu, muốn về, nhảy một phát lên xe đò, xe lửa, máy bay, thậm chí xách chiếc cà tàng phóng về quê cũng đặng. Thế nhưng “về quê ăn Tết” lại có một ý nghĩa khác. Hoàn toàn khác. Không chỉ “về quê” còn là về với “cội nguồn”, ít ra là trong suy nghĩ của mỗi người lúc vui Xuân đón Tết.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 11.2.2018

 

27751718_1638400479559229_4226908136318741670_n

 

Ngày đã Tết. Không vui. Không buồn. Dửng dưng. Trong lòng chộn rộn một điều gì đó. Không rõ nét. Chiều. Những câu thơ Đọc Kiều lại vọng ngang qua trí nhớ. Những năm gần đây, thỉnh thoảng lại tìm cảm hứng từ Truyện Kiều. Năm nay cũng thế. Đặt bút là viết. Từng dòng. Từng chữ của khoảng khắc tẻ nhạt nhất trong ngày. Cũng là một cách tự an ủi, xoa dịu lấy chính mình.

“Tưởng rằng nước chảy chân cầu/ Ngờ đâu dậy sóng bể dâu vẫn còn/ Thịt xương ngày nọ héo hon?/ Không đâu, còn đó xanh non chập chờn/ Hồn oan nức nở cô đơn/ Lạc xiêu cát bụi oán hờn hắt hiu/ Bao nhiêu năm hỡi em Kiều/ Lại nghe máu chảy tiêu điều quẩn quanh / Ầm ầm vọng tiếng ruồi xanh/ Ngợi ca xương máu có tanh miệng mồm/ Rầu rầu tiếng khóc chiều hôm/ Sương đêm lụn xuống rạ rơm phận người/ Tú Bà toe toét cười tươi/ Sở Khanh hớn hở hát lời nguyên xuân/ Bắt phong trần phải phong trần/ Nỗi niềm Sáu Tám sái vần đó chăng?/ Hỏi rằng, răng rứa là răng?/ Kiều thưa, vâng ạ, nhùng nhằng bấy lâu/ Tưởng rằng nước chảy chân cầu/ Ngờ đâu dậy sóng bể dâu vẫn còn/ Biết bao giờ mới vuông tròn / Hỡi trời, hỡi nước, hỡi non nước nhà/ Câu thơ Kiều khắc trên da/ Mười lăm năm ấy, hóa ra bây giờ?”.

Thơ viết về điều gì đã và đang ngổn ngang tâm hồn?

Lại những ngày nhẩn nha đọc sách. Mặc kệ những chộn rộn ngoài cửa sổ, ồn ào trên các trang mạng xã hội. Một khi đã chạm vào cánh cửa lục thập, ấy là lúc con người ta tự ý thức thời gian không còn nhiều nữa. Cố gắng làm cho hết những công việc đã và đang yêu thích. Chẳng mấy chốc, tụt qua bên kia dốc của đời người, mỏi gối chồn chân, liệu có nên cơm cháo gì nữa? Hóa ra, với y, cái thú tìm mua sách đã hình thành từ bé xíu đến nay vẫn không thay đổi. Vẫn chưa bưa. Vẫn chưa ngán. Vừa tìm mua quyển Tranh dân gian Việt Nam (NXB Văn hóa Văn nghệ -  2018) do Maurice Durand sưu tầm, nghiên cứu; Nguyễn Thị Hiệp, Olivier Tessier dịch và giới thiệu.

Trong lời giới thiệu cho biết: “Viện Viễn Đông Bác Cổ xuất bản lần đầu tiên vào năm 1960. Bộ sưu tập này bao gồm hơn 400 tác phẩm hội họa dân gian kèm theo nghiên cứu, phân tích, bình chú uyên bác, tỉ mỉ và toàn diện của tác giả. Đây là kết quả của nhiều năm nghiên cứu, sưu tầm trên các phố phường Hà Nội và các vùng lân cận thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Cuốn sách đặc biệt thú vị khi văn hóa dân gian Việt Nam được nhìn qua lăng kính của một học giả ngoại quốc tài năng vốn là thành viên của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp vào những năm giữa thế kỷ XX. Những quan sát, cảm nhận và bình giải của tác giả vào thời kỳ mà văn hóa truyền thống vẫn còn đậm nét ở Bắc Bộ đã góp phần không nhỏ trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc”.

Cái sự sung sướng nhất của người mê sách vẫn là lúc đầu tiên cầm lấy quyển sách mới. Hồi hộp lật từng trang, giấy còn thơm mùi mực, lật từng trang, đọc loáng thoáng vừa nhanh vừa chậm, cứ thế cho đến hết quyển sách, tự nhủ: “Sẽ đọc kỹ hơn, vào dịp khác” rồi cẩn thận đặt trên kệ sách. Có quyển nằm ở đó thời gian ngắn, lại lấy xuống đọc; có quyển mãi mãi thời gian phủ bụi. Chẳng sao cả. Chắc chắn sẽ có lúc cầm lấy nó, lại có cảm giác tươi mới như lần thứ nhất.

Với quyển Tranh dân gian Việt Nam, thích thú với bức tranh dân gian vẽ nhảy đầm. Tại sao gọi “nhảy đầm”? Câu hỏi ấy, trả lời thế nào? Có những từ quen thuộc, vẫn sử dụng, nào có xa lạ gì nhưng bất ngờ nghe hỏi, muốn trả lời cũng không dễ. Tập sách này chú thích: “Khiêu vũ Pháp. Nhảy đầm “điệu nhảy của các bà đầm” hoặc “nhảy với đầm” (tr. 249). Suy luận rằng, do cùng mẫu từ “đ” nên từ “nhảy đầm”, người Việt mới “sáng chế” ra từ “nhảy đực” chăng? Hay từ “nhảy đực” dân gian đã dùng từ trước đó rồi mới gọi cái lối nhảy mới du nhập là “nhảy đầm”? Hay “đầm” là cách phiên âm của “danser” và được gọi “nhảy đầm”?

Từ nửa đầu thế kỷ XX, nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải  có viết bài thơ Xem hội Tây: Nhảy đầm, ăn tiệc, ông Tây sướng/ Liếm chảo, leo đu, đứa trẻ mê”. Rõ ràng thời buổi ấy, đã có sự “tân cổ giao duyên” giữa văn hóa phương Tây với lối chơi truyền thống của người Việt. Trước đó, thời Nguyễn Khuyến chưa có, bằng chứng cũng viết về hội Tây nhưng cụ chỉ miêu tả: “Cậy sức cây đu nhiều chị nhún/ Tham tiền cột mỡ lắm anh leo”. Một khi đã có nhảy đầm ắt phải có đăng xinh (dancing) tức nhà hàng khiêu vũ, vũ trường. Dấu vết ấy, có thể tìm thấy qua thơ Tú Mỡ: “Cái hồ ấy, khi đã thành đất phẳng/ Tôi sẽ xin dựng một trường 'Cao đẳng đăng-xinh'/ Rước những ông du học tài tình/ Dạy những món văn minh nghệ thuật”. Đọc mấy câu thơ của Tú Mỡ lại nhớ đến Tú Xương. “Cái hồ ấy, khi đã thành đất phẳng”, tưởng chừng như vẫn còn vang vọng tiếng kêu não ruột: “Sông kia rày đã nên đồng’.

Thì ra, thời buổi nào cũ thế. Sự thay đổi trong đời sống xã hội dễ dàng nhìn ra nhất vẫn từ đất đai. Đừng nói đâu xa, cứ như mỗi lần về Đà Nẵng dù là nơi chôn nhau cắt rốn nhưng rồi, lắm lúc lạc đường bởi đường sá thênh thang ngang dọc vừa mới hình thành. “Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nà cửa chỗ trồng ngô khoai”. Thời buổi này, ngô khoai đi chỗ khác chơi. Phí đất. Phải là chung cư, khách sạn, cao ốc, nhà cao tầng… 

Với xã hội miền Nam, lúc người Mỹ đổ quân sang đây, năm 1965, tất nhiên dancing cũng mọc lên. Có phải nó cũng bị nhìn nhận là nơi “Dạy những món văn minh nghệ thuật” như Tú Mỡ đã mai mỉa? Hay đã có cái nhìn thoàng hơn? Câu trả lời này ra làm sao? Khó lắm. Y không biết. Chỉ biết rằng, nhân chứng của thời cuộc là nhà văn Bình Nguyên Lộc có viết truyện ngắn Hạ bệ, in trong tập Ký thác (NXB Cửu Long tái bản năm 1968). Rằng, lúc Hùng vào chơi vũ trường: “Bỗng Hùng nín lặng. Cả bọn đều ngạc nhiên nhìn anh chàng lắm lời này. Vẻ mặt kinh hãi của anh ta khiến họ đoán thấy anh ta đang tái mặt trong bóng mờ. Họ nhìn theo hướng ngó của anh ta thì tầm mắt họ chạm phải một đôi giày không có gì đặc sắc, nhưng phủ trên giày ấy, một miếng ống quần màu hơi quen. Mắt họ leo ống quần, thấy nó to lần lần và ở phía trên nó to quá, cho họ biết rằng người mặc quần ấy là một ông bụng bự. Họ chợt hiểu và ngước nhìn lên thì thấy quả đó là ông Ích Thành”.

Ông Ích Thành là cha  của Hùng. Và cậu có suy nghĩ gì?

“Hùng thấy cha cậu già quá, già hơn ngày thường nhiều, giữa đám vũ nữ trẻ trung ấy, và cậu có cảm giác đang đọc một bài thất ngôn bát cú in xen vào một tập thơ tự do. Mà đó là một bài Đường luật rất xoàng. Đó không phải là một người cao niên vốn sành ăn chơi, cố vui vớt vát, mà là một ông cụ thật thà, tập tành son trẻ. Nhưng dầu thuộc hạng già nào, ông cụ cũng chẳng coi được, khi vào đây. Khi ông Ích Thành và vũ nữ trôi trở lại, Hùng thấy ông thở hổn hển mà quay, cậu tưởng chừng như nghe hơi thở ồ ồ của cha, một ông cha lỗi lạc mà trước kia cậu thấy làm cái gì cũng trôi chảy, dễ như chơi. Hồi nãy cậu ta hoảng sợ khi bị cha bắt chợt giữa chốn ăn chơi. Nhưng bây giờ, chẳng những cậu không còn sợ hãi nữa, mà còn có bụng khinh thường ông cụ là khác”.  

Sao lại khinh thường. Khiêu vũ cũng chỉ một lối chơi thư giản, như tập thể dục, chứ nào có… vi phạm thuần phong mỹ tục? Lạ nhỉ. Sau đó, lúc về nhà, chỉ còn hai cha con, chuyện gì đã xẩy ra? Ông Ích Thành chớng chế: “Độ này ba viết về các tiệm nhảy, nên ba hay la cà ở các nơi đó để thu thập tài liệu”. Nghe câu đó, Hùng bỗng chợt hiểu; cậu buồn cười quá, không cầm được, nên bật cười to lên. “Sao con lại cười?” - Ông Ích Thành ngạc nhiên hỏi. “Thưa ba, - Hùng đáp sau cơn cười - Ba không cần gì cố cắt nghĩa sự có mặt của ba trong Móng Trời đêm đó. Con đã lớn thì con phải hiểu biết rằng ai cũng có quyền sống riêng cả! Không, con không dám khinh ba đâu, con không đạo đức lắm đâu. Nhưng con thú thật với ba rằng con bớt kính phục ba hơn khi trước. Bớt kính phục nhưng thương hơn vì thấy ba trễ đò và yêu hơn vì thấy ba là bạn của con. Sao con lại bớt kính phục ba thì ba đã biết. Và ba không làm gì được để gây uy tín lại cả. Nếu ai xô ba xuống khỏi bệ, thì ba có thể leo trở lên và người thân của ba sẽ giúp ba trong công việc ấy! Nhưng khi mà chính ba tự hạ bệ, và con đã trót thấy thì không làm sao... “.

Nay, đọc lại, ngỡ ngàng nhận ra cái dancing này, thời đó, đã khác nay nhiều lắm. Rất nhiều. Cha con, cả gia đình tìm vui giải trí nơi ấy, nay là cái sự bình thường, chẳng có gì ghê gớm đến mức người cha đã bị “hạ bệ” trong suy nghĩ của đứa con. Thì ra, một lẽ hiễn nhiên ai cũng thừa biết, mỗi thời mỗi khác. Cái thú đọc sách cũ còn là chỗ đó nữa. Những tình tiết, những câu chữ có thể cho thấy sự khác biệt về quan niệm đạo đức của mỗi thời.

Nếu không hiểu rõ ý nghĩa của từng từ, từng chữ mà tác giả đã sử dụng, e rằng, có lúc ta cũng không hiểu nốt về giá trị của văn hóa đã từng tồn tại và phổ biến. Chỉ xin đơn cử rằng, lúc viết tập sách Mẹ đã đi chợ về, y có trích dẫn câu ca dao: “Đêm đêm thắp ngọn đèn trời/ Cầu cho cha mẹ sống đời với con”. Ơ hay, “đèn trời” là gì? Khó hiểu quá. Trong các loại đèn, làm gì có đèn trời? Đúng không nào? Để khỏi tranh cãi lôi thôi, xin liệt kê các loại đèn mà Đại từ điển tiếng Việt (1999) của Bộ GD và ĐT, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam đã ghi nhận. Chọn lấy từ điển này, vì rằng, đây vẫn quyển sách ghi nhận nhiều nhất các vốn từ hiện nay, cho đến thời điểm này: Đèn, đèn ba cực, đèn bàn, đèn bán dẫn, đèn biển, đèn cảm ứng, đèn cây, đèn cầy (nến), đèn chạy quân (đèn cù), đèn chiếu, đèn chớp, đèn cồn, đèn cườm, đèn dầu, đèn đất (đèn khí đá), đèn điện, đèn điện tử, đèn đóm, đèn lồng, đèn măng sông, đèn nê ông (neon), đèn trứng vịt, đèn xếp, đèn xì…

Kìa, còn có cả “đèn trời” nữa đấy chứ? Thế mà y lại bảo rằng không.

Hãy xem từ điển giải thích thế nào? “Đèn giời/ đèn trời: Sự sáng suốt của người bề trên, ví như ông trời, có thể nhìn thấy thấu suốt mọi uẩn khúc, éo le của người đời: nhờ đèn trời soi xét”. Với cách giải thích này, rõ ràng là hiểu theo nghĩa bóng. Thật ra có đèn trời theo nghĩa đen, do không biết nên có dị bản với câu ca dao trên: “Đêm đêm thắp ngọn sao trời/ Cầu cho cha mẹ sống đời với con”. Ítt ra “ngọn sao trời” vẫn dễ hiểu hơn vì nó còn giúp người tiếp nhận liên tưởng đến ngôi sao mọc hằng đêm. Mới đây, nhờ đọc quyển Đặc khảo về tín ngưỡng gia thần (NXB Văn hóa Văn nghệ - 2013) của Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc, y mới biết ngọn ngành. Hai nhà nghiên cứu này căn cứ vào quyển  La vie intime d’un Annamite de Cochinchine et ses croyances vulgaires (1907) của Lê Văn Phát giải thích rõ ràng, có liên quan đến bàn thờ Thiên, tức bàn thờ đặt ngoài trời:

“Tập tục thờ Trời ở bàn Ông Thiên này được tiến hành hàng ngày, gia chủ thắp nhang vái trời, đất, bốn phương cầu cho gia đình được an lành và đặc biệt là cầu thọ cho cha mẹ. Tập tục đốt một ngọn đèn chong suốt đêm ở bàn thờ Thiên là nhằm cầu thọ. “Đêm đêm thắp ngọn đèn trời/ Cầu cho cha mẹ sống đời với con”. Lễ trọng nhất trong năm là lễ vía Trời vào ngày mồng 8 rạng ngày mồng 9 tháng Giêng hằng năm theo lệ “Mồng 9 vía Trời, mồng 19 vía Đất” có nguồn gốc từ người Hoa. Lễ gọi là vía Trời với nghi thức hành lễ gọi là “Thắp đèn trời”: Đốt một ngọn đèn sáp lớn tỏa sáng rực và đốt lò trầm hương. Cả hai cháy suốt đêm. Mục đích nhằm cầu an và cầu thọ cho cha mẹ. Đặc biệt trong lễ này, người ta trang hoàng nhà cửa tươm tất, dùng chén bát, đồ sứ sang trọng và mời dàn nhạc tấu mở tiệc đãi cha mẹ và bạn bè suốt  đêm” (tr. 160-161).

Thế nào là “đèn trời”? Đã hiểu rõ. Có điều đây cũng là cái Tết đầu tiên trong đời, y ăn Tết không còn chỗ dựa lớn lao, vững chải, tin tuỏng ở phía sau nữa: Mẹ đã mất.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 21.1.2018

 

 

26991700_1172929096177094_4970082692218834590_n

Bạn Thành Luân Nguyễn tặng thư pháp bài tứ tuyệt Q ngẫu hứng lúc 8 g ngày 19.1.2017 hóa vàng tập sách MẸ ĐÃ ĐI CHỢ VỀ tại Nghĩa trang Hòa Sơn (Đà Nẵng): Mẹ đã đi chợ về/ Con hoá vàng trang viết/ Nhang khói vọng trời cao/ Mầm đời đang xanh biếc...

 

Vừa mới đi Đà Nẵng về. 100 ngày của mẹ. Sáng sớm, trời trở gió. Lạnh. Một cái rét nhẹ nhàng quen thuộc. Đường phố vẫn thế. Chỉ có tâm hồn đã khác. Mẹ đã về cõi khác. Anh em, bạn bè gặp mặt. Những ly rượu đã rót. Một tập sách đã hóa vàng tại nghĩa trang Hòa Sơn. Lúc ngồi tại sân bay Tân Sơn Nhất, viết loáng thoáng đôi dòng trong sổ tay. Những câu thơ vọng về từ khoảng trời xa lắc xa lơ nào đó. Vọng về từ đâu? Chẳng có thể biết. Chỉ đặt bút là viết. Chọn lấy thể ngũ ngôn. Nhịp thơ đi nhẹ nhàng. Mơ màng. Cứ thế mà đi. Từ nay, hãy cứ thế. Đi hết một vòng đời.

“Một trăm ngày của mẹ/ Gió thổi ngoài thời gian/ Một đời con xa mẹ/ Tưởng xa lại rất gần/ Huyền bí một hạt mầm/ Mẹ bao dung gửi lại/ Trời đất thêm một người/ Đã bây giờ đang thấy/ Này một dòng sông chảy/ Mát mái lại xuội chèo/ Con ẳm bồng hoa trái/ Nặng trĩu tiếng cười reo/ Căn nhà thôi  quạnh hiu/ Ấm tình đời bếp lửa/ Nâng chém cơm mỗi ngày/ Đã có đôi có đũa/ Vẫn như mẹ muôn thuở/ Là trẻ thơ nói cười/ Con khai sinh lần nữa/ Tiếp nối thêm cuộc đời/ Thêm tiếng nói niềm vui/ Con hóa vàng trang viết/ Mẹ đã đi chợ về/ Một mầm đời đang biếc”.

Câu cuối trong bài thơ này, ngụ ý một điều gì sẽ có và đã có?

Những gương mặt bạn bè thời chiến trường K đã có mặt cùng tập sách Mùa chính chiến ấy của Đoàn Tuấn. Lai rai tại nhà Trần Tuấn Bảo - chiến sĩ A10, C7, Trung đoàn 29. Thời gian nhanh như một nháy mắt, thoáng đó đã tròn 40 năm. Ngắn hay dài. Chẳng rõ. Vẫn cứ nghĩ như đang thời thanh xuân 18. Hèn chi, Trần Hoàng Nhân bảo: “Anh cứ mãi là chàng thanh niên nhiều tuổi”. Một nhận xét ngộ ngĩnh lúc cùng Dương Thanh Truyền, Nguyễn Văn Sanh, Võ Đình Chiến… cựu chiến binh lai rai tại nhà của Tẹo, em út. Lúc về nhà, cứ nghĩ sẽ uống lại nước chè của vùng quê xứ Quảng. Một thói quen mà mẹ từng uống hằng ngày. Nhưng rồi, vẫn là những giọt men. Niềm vui nỗi buồn dậy men. Có như thế, trong khoảnh khoắc ấy tâm trí con người ta phiêu linh hơn. Vâng, y phiêu linh đến độ “xuồng chìm tại bến”, không có cơ hội thưởng thức tô mì Quảng do cô em dâu nấu cực ngon. Y đã say mềm như cọng bún chỉ vì uống.

Này Q, có phải đôi khi chỉ qua thức uống, có thể nhìn ra tính cách của cư dân vùng miền. Nghĩ thế, có sai? Lúc mới chân ướt chân ráo vào Sài Gòn, hấp dẫn và ấn tượng nhất đối với y vẫn là ly trà đá. Trong khi đó, lúc ở chung nhà, mẹ y vẫn giữ nguyên cốt cách nếp uống chè/ trà từ ngoài Trung. Cốt cách ấy thế nào? Nói đúng hơn, đó là phong cách “Đã ăn no phải uống đậm”, hãy nghe nhà văn hóa  Nguyễn Văn Xuân giải thích: “Người ta không dùng ly tách mà là bát, lớn thật lớn. Đổ nước lạnh nửa bát, lấy cái kẹp tre kẹp nồi nước chè Tiên Phước sôi sùng sục ra, từ trên cao đổ xuống nước nổi bọt và bưng bát nước đen quánh lên, ngửa cổ đổ vào, uống hớp nào phát ra âm thanh ột ột hớp ấy. Đã nghiền” (Giai phẩm Hương vị quê nhà - Báo Sài Gòn tiếp thị ấn hành năm 2000, tr.76).

À, “đã ghiền” chứ không chỉ “đã khát”. Thế thì, trong cái sự uống ấy còn có cả một nghệ thuật của sự thưởng thức, thỏa mãn cơn nghiền loại lá cây có ủ/ướp cả phong vị đất trời xuân hạ thu đông, chứ nào phải “đói ăn khát uống”. Sực nhớ, từ năm 1999, y đã viết bài thơ Uống trà. Đọc lại, nghe chơi: “Bỏ bia bụng bớt béo/ Nâng ly trà khề khà/ Uống tà tà buổi sáng/ Nhai luôn cả xác trà/ Một ly thì cảm hứng/ Dạt dào như gió reo/ Hai ly mây gió thổi/ Đưa tôi lượn qua đèo/ Ba ly như mọc cánh/ Bay lên cõi trời xa/ Bốn ly thì cảm thấy/ Thiên thai dưới mái nhà/ Năm ly thôi uống nữa/ Thấy nhũng nhẵng mồ hôi/ Giọt giọt tuôn nóng hổi/ Hương trà thơm gấp đôi/ Uống từ khuya đến sáng/ Một ly rồi một ly/ Thấy hồi xuân mộng mị/ Như đứa trẻ dậy thì/ Bỏ bia bụng bớt béo/ Trân trọng tri ngộ trà/ Trống trơn nộ ái ố/ Bụng xẹp vào sát da...”. Cái sự ngỗ ngáo, tinh nghịch của một thời tuổi trẻ đã nhìn thấy dấu vết qua câu “Nhai luôn cả xác trà’. Rất phàm phu tục tử. Mà thôi, lúc trẻ, ai lại không có những lúc tâm trí phiêu bồng ngang ngược?

Với ly trà đá của người Sài Gòn, đơn thuần chỉ nhằm thỏa mãn cái nóng cháy hừng hực lửa đang bỏng trong cuống họng. Lưỡi cứng đờ. Nước bọt đặc quánh. Phải uống. Phải có một dòng mát lạnh, phảng phất một chút hương vị trà pha loãng, lổn nhổn đá cục, càng lạnh càng tốt. Có như thế mới đã đời khoái trá.

Thử nghĩ, từ khu làng đại học ở xa tít ngoài Thủ Đức, trưa nắng chang chang, hì hục cỡi con ngựa sắt cà tàng leo lên dốc cầu Sài Gòn, mồ hôi mồ kê túa ra cay cả mắt, ướt đằm áo, nếu lúc ấy có được ly trà đá thì sung sướng lắm đây. Qua chân cầu bên kia, dừng lại, cởi phanh áo ngực, ngửa cổ uống cạn ly trà đá mát lạnh, lại có gió từ sông thổi qua thì có cảm tưởng rằng, Lưu Nguyễn lạc lối Đào nguyên cũng khoái trá đến thế là cùng. Mà Sài Gòn không là chốn thiên thai. Lúc nào cũng ầm ầm ngựa xe, khói mịt mù, người chen ngang xuôi ngược như trẫy hội. Sự tất bật, lo toan, chạy đua cùng thời gian chính là tính cách năng động của cư dân nơi này. Con người ta từ nơi xa đến, ban đầu còn e ngại, rụt rè nhưng dần dần về sau cũng bắt nhịp theo. Trước hết, sự bắt nhịp đó thể hiện qua ly trà đá đặc trưng của người Sài Gòn.

Uống trà thì uống trà. Ở đậu chẳng uống trà? Thế thì có gì mà y phải la toáng lên thế? 

Ừ, một khi lá còn tươi, nếu nấu uống gọi uống chè/ chè xanh; nhưng lá đã sao khô ắt gọi trà. Hãy nghe nhà văn hóa Nguyễn Đổng Chi miêu tả về cách uống trà/ uống chè của vùng Nghệ Tĩnh - một vùng đất “chó ăn đá gà ăn sỏi” nhưng con dân hiếu học, nơi này đã sản sinh ra nhiều con người kỳ tài. Cần đọc để hiểu thêm vê một thú vui tao nhã của người Việt xưa. Cái sự uống ở đây đã đạt đến một mỹ cảm thuộc hàng “kinh điển”, không rõ nay có còn duy trì?

“Đặc biệt là chỗ nấu lần đầu rất đặc, rất chát, gọi là chè cốt hay nước chát. Người xứ Nghệ có câu nói cường điệu: “Khăm (cắm) đũa vào không bổ (ngã)” để chỉ đặc điểm món đồ uống của họ. Nói chung, ở đâu cũng vậy, nước chè thường dùng sau bửa ăn, như câu: “Cơm sốt, canh sốt, nước chè cốt mới nấu”, hay là vào lúc tiếp đãi bạn bè khách khứa, như câu: “Chè ngon, nước mát xin mời/ Nước non non nước nghĩa người chớ quên”. Nhưng ở xứ Nghệ không nhất thiết như vậy. Ở nông thôn người ta thường uống chè vào những buổi riêng biệt cách bữa ăn.

Chưa tiến lên thành trà đạo như ở Nhật Bản, nhưng ở đây có tục uống chè ngồi đàm đạo giữa những người hàng xóm láng giềng. Họ chẳng có quy định gì chặt chẽ, nhưng cũng có ước lệ nho nhỏ: những bạn bè nghiện chè xanh ở gần nhau, mỗi lần nhà ai nấu một nồi nước chè, thường múc ra nhiều bát (lớn hơn bát ăn cơm, độ ¼ lít gọi là bát đàn hay đọi nạy) đặt lên mâm nan, rồi chủ nhà (hoặc cho vợ con) đi “ới” lên một tiếng gọi những ông bạn dăm bảy người quanh nhà, tới dự cuộc. Họ ngồi chõng hoặc đòn (ghế thấp) chuyện trò, thường là chuyện làm ăn, chuyện thời sự trong làng ngoài xã. Có khi uống lúc rãnh rỗi hoặc đêm khuya họ thường khuyến khích một người trong bọn đọc truyện Nôm hay thoại chèo đã thuộc lòng, hoặc ngâm vè hoặc kể chuyện cũ mới mua vui. Trò chuyện chán chê, đợi nước nguội mới uống.

Mỗi nồi thường nấu một “rộp chè” cả cành lẫn lá. Người ta cho nấu cả cành như vậy, nước mới ngon. Mỗi người dự cuộc có thể làm được vài tuần nước cốt cho đến cạn. Đói bụng uống vào có thể say nhưng những bạn nghiền thì cho rằng có thế mới đã, thậm chí có người già còn uống nước chè thay cơm, có nghĩa là cơm chỉ cần ăn ít cũng được, miễn là được nước chè cốt hàng ngày… Sau khi cạn nồi nước chè cốt, chủ nhân lại đổ nước lã vào nấu lần thứ hai, thứ ba, họi là chè giạo, để cho những người trong nhà, nhất là trẻ em giải khát, hoặc uống ít nhiều sau bữa ăn” (Địa chí văn hóa dân gian Nghệ TĨnh, NXB Nghệ An- 1995, tr.440).

Rõ ràng, uống chè ở đây không chỉ phong cách “đã nghiền” như người xứ Quảng, còn là dịp bà con xóm giếng túm tụm cùng nhau, sau một ngày lao động mệt nhọc cùng cởi mở tâm tình, rôm rả chuyện trò. Tình làng nghĩa xóm, qua bát nước chè thêm cảm thông, hiểu nhau hơn mà cũng gắn bó hơn. Ngay cả người Huế cũng thế. Phải uống bát to, nước chè đậm đặc. “Uống như thế, theo họ “uống mới đã”. Nước chè đặc quánh”, còn nếu loãng họ “cằn nhằn than phiền là “đem ra chi thứ nước lạt nhách, như thứ “nước chè bà chúa” (Bùi Minh Đức - Dấu ấn văn hóa Huế - NXB Văn Học -2007, tr.120).

Thời bé, đọc Vang bóng một thời lấy làm khâm phục và kinh ngạc cho một sự thưởng thức Chén trà trong sớm. Nhân vật của nhà văn Nguyễn Tuân cho biết: “Cả ạ, thày cho nước pha trà không gì thơm ành bằng cái thư nước đọng trong lá sen. Mỗi lá chỉ có ít thôi. Phải gạn vét ở nhiều lá mới đủ uống một ấm. Hồi thày còn ít tuổi, mỗi lúc được quan Ðốc truyền cho đi thuyền thúng vớt những giọt thủy ngân ấy ở lá sen mặt đầm, thày cho là kỳ thú nhất trongđời một người học trò được thày học yêu như con”. Ấy là một trong những cách uống trà của người Hà Nội xưa. Dù cầu kỳ, nhưng rồi, dám nói rằng, vùng miền nào cũng chọn lấy nước trà/ chè đậm đặc.

Riêng người Sài Gòn lại khác. Khác xa một trời một vực. Suy luận rằng, cách uống trà của người Việt một khi đã vào đến vùng đất phương Nam, do nhiều lý đo, chẳng hạn về nếp sống, nhịp hoạt… nên đã thay đổi. Nước trà cần loãng. Không phải đậm đặc. Một sự thay đổi căn bản, từ chỗ uống trà/ chè để thưởng thức, ngâm vịnh, uống cho “đã nghiền” thì nay chỉ là “đã khát”. Vâng, chỉ thỏa mãn nhu cầu đó là đủ.

Có chủ quan không?

Đọc Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ ắt nhận ra ngay cách uống trà của người Đàng Ngoài, rất khác với ly trà đá của người Sài Gòn: “Khi dạy học rảnh, ta thường cùng với người đàn anh trong làng là Tô nho sinh dạo chơi chùa Vân, pha chè uống, hoặc trèo lên cái gò ba tầng ở phía tây xóm ấy, rồi múc nước suối pha chè uống chơi. Trông thấy những cảnh mây nổi hợp tan, chim đồng bay lượn, cùng là cỏ cây tươi tốt hay tàn tạ, hành khách lại qua, ta thường thường gửi tâm tình vào câu ngâm vịnh.”. Sống ở chốn phồn hoa đô hội Sài Gòn, mấy ai có thời gian uống trà/ chè mang phong vị khoáng đạt, phiêu dạt trữ tình ấy? Hơn nữa, Sài Gòn là vùng đất của khách tha phương tứ xứ, gặp nhau sơ giao, mời nhau ly trà rồi đường ai nấy đi thì khó có thể phong cách uống trà của tri âm, tri kỷ “hai người một bóng” như ông Phạm Đình Hổ vừa kể.

Sư thay đổi về uống trà qua cái sự loãng đã nói lên điều đó. Và qua đó nó còn thể hiện sự hòa đồng rộng rãi, dù ít hoặc nhiều cũng chấp nhận, không câu nệ. Bất quá, cũng như khi trong nhà có thêm khách đến, chỉ “thêm bát thêm đũa”, chứ có gì “trầm trọng” lắm đâu. Một cách giải quyết sự thích ứng, dung nạp nhanh chóng dễ dàng. Đó chính là tính cách của người Sài Gòn. Không phải ngẫu nhiên, từ thế kỷ XIX, nhà văn hóa Trịnh Hoài Đức nhận xét: “Ở Gia Định, khi khách đến nhà thời mời ăn trầu trước, thết nước chè rồi đến ăn cơm ăn bánh, cốt phải phong hậu. Không kể là người thân hay sơ, lạ hay quen, tông tích thế nào, đã đến tất phải tiếp nhận tiếp thết đãi. Cho nên người đi chơi không mang theo lương thực, mà người lậu sổ, người trốn tránh khá nhiều vì có chỗ nuôi khách” (Gia Định thành thông chí - Viện Sử học- NXB Giáo Dục -1999, tr.146).

Sở dĩ nhạc Bolero được nhiều người yêu thích, ngoài giai điệu còn là ca từ đã chia sẻ sự bao dung, cảm thông cho những người xa xứ đến đến đây, cùng thân phận: “Thương cho kiếp sống tha hương/ thân gầy gò gởi cho gió sương”. Vì nên, một ly trà đá san sẻ cho nhau là lẽ thường tình. Có lẽ chỉ ở Sài Gòn mới có những thùng trà đá miễn phí. Đặt ngay trước nhà. Ai thích cứ việc đừng lại. Uống rồi đi. Nhẹ nhàng. Tấm lòng đến với tấm lòng không nhiều lời, tùy khả năng mà san sớt cho nhau, và phổ biến nhất vẫn là ly trà đá để khách thân, sơ đều có dịp đã khát, hứng lấy cơn gió mát một cách khoan khoái, tự tại cũng như mình. Chẳng phải lăn tăn nghĩ ngợi gì nhiều. 

Đôi khi không phải nghĩ ngợi gì nhiều lại hay. Chiều qua, lúc bước xuống sân bay, tự dưng lại có cảm giác sợ đi xa. Bởi vì rằng, nhịp sống mỗi ngày đang quen thuộc, xa Sài Gòn vài ngày, lúc quay trở lại phải sắp xếp lại sự trật tự, ổn định quen thuộc ngay từ tâm trạng của chính mình. Cái sự hoang mang, rã rời ấy bàng bạc, ngây ngất, không định hướng và lại cảm thấy có gì đó chông chênh và hoang mang không rõ nét…

Sáng nay, chủ nhật. Thảnh thơi viết đôi dòng, Dừng lại với câu thơ: “Mẹ đã đi chợ về/ Một mầm đời đang biếc”.  Câu cuối trong bài thơ này, ngụ ý một điều gì sẽ có và đã có?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 12.1.2018


tiuengrao-habg-tren-duongpho-ha-noi-1R

(nguồn: Les marchands ambulants et les crisde la rue à Hanoi (Hàng rong và tiếng rao trên đường phố Hà Nội),

 

Thói quen, hễ ra khỏi nhà luôn có cây bút giắt túi áo, quyển sổ tay nhét túi quần, với y không thể quên. Và cũng không thể quên một thứ này nữa. Thứ gì? Lúc ra khỏi nhà, chẳng hạn, sáng hôm ấy bỗng dưng nhớ đến phở. Phải là tái nạm giòn. Chà, bánh phở mềm, nước dùng trong, cọng hành xanh, khói thơm ngát…Ngon ơi là ngon. Thèm ơi là thèm. Bèn hiên ngang tạt vào quán. Lúc chuẩn bị ngồi xuống ghế, chợt sực nhớ ra điều gì đó, giật thót cả người: “Chà, đễnh đoãng quá đi mất. Chết thật”. Dù rằng, sắp có phở. Phở rất ngon. Đang thèm thuồng. Nhưng rồi, y cũng đành nghiến răng mà quay ra khỏi quán, và phóng xe về nhà ngay tắp lự. Không thể chần chừ, dù chỉ một giây, một phút. Quên cái gì mà quan trọng quá vậy ta?

Xin thưa, quên cái gì cũng được, hạ hồi phân giải, không gì phải vội nhưng không thể quên cái điện thoại di động.

Trước đây chừng hai mươi năm, ai sở hữu được “con dế” ấy cũng đều có thể hất mặt lên trời: “Em ơi đừng chê anh nghèo/ Điện thoại di động nó reo trong quần”! Oách lắm! Bây giờ mọi việc đã khác. Từ hoa hậu quý bà, chân dài siêu mẫu một bước lên ngựa xuống xe cho đến bà bán chuối chiên, chị rao hột vịt lộn, cô thu mua ve chai... cũng đều sở hữu “dế” cưng! Thậm chí, đứa nhóc còn nằm nôi cũng được mẹ sắm cho một chiếc để khi khát sữa, đòi bú là có thể réo ầm ĩ hoặc lập tức nhắn tin. Cụ già mắt mũi kèm nhèm dẫu gần đất xa trời cũng lận lưng một chiếc, lúc nào yêu đời phơi phới cũng có thể “a lô” người “cõi trên” hỏi han chuyện “hậu sự” lúc viễn du về đến Suối Vàng. 

Hôm trước ngồi nhậu lai rai, nghe anh B giải thích về gà tắc, lạ tai quá, bèn nghe anh em bồ tèo chung bàn nhắc nhở: “Sắm cái điện thoại thông minh, có phải tiện hơn không? Chỉ cần bật may ghi âm là xong”. Chưa chắc đâu. Chỉ lúc ngồi một mình, rảnh rỗi, không biết làm gì giết thời gian, hứng thú nhất vẫn là lật quyển sổ tay đặt trên bàn rồi hý hoáy viết gì đó. Viết rồi quên. Không quan tâm đến nữa. Có lúc tình cờ lật sổ tay ra lại nhớ mồn một về kỷ niệm nào đó đã qua. Chẳng hạn, ngày 27.8.2016 là ngày y có mặt tại Hà Nội dự cuộc họp chia tay nhà văn Trung Trung Đỉnh. Anh rời khỏi chức vụ Giám đốc NXB Hội Nhà văn để nghỉ hưu. Sáng hôm đó, nhà thơ Trần Quang Quý rủ đi ăn phở Bát Đàn. Ngạc nhiên, vì phải xếp hàng, tự tìm ghế ngồi. Ăn xong, viết ngay vào sổ tay đôi dòng:

Bát Đàn

Xếp hàng

Nghi ngút

Khói thơm

Từng bước chân

Nhích dần

Không chen ngang

Từng bước chân

Bước tới

Không ai nói

Chẳng ai cười

Gương mặt người

Nhẫn nại

Hà Nội

Không vội

Bốn ngàn năm

Sức sống

Tô phở ngon

Như lửa ấm…

Ước gì lúc này có tô phở thì ngon quá. Đang thèm thuồng. Chiều rồi. Bụng lưng lửng đói. Không có phở thì ăn gà tắc vậy. Thú thật, y chưa bao giờ nghe đến, chỉ mới thưởng thức gà xé phay, gà luộc, gà kho gừng, gà xào bông cải, gà xào nấm, gà xối mỡ, gà xào sã ớt, gà rô ti… Thế gà tắc là gì? Có phải nó là một loại gà như gà tre, gà xiêm, gà xước, gà tồ, gà sao, gà rừng, gà ri…? Hãy nghe anh B giải thích, đại khái khi du lịch đến vùng Hà Tĩnh, Nghệ An, anh đã được bạn bè chiêu đãi món gà tắc. Thay vì phải cắt tiết, người ta bèn vặn cổ gà nghe kêu cái tắc. Ấy là cách làm gà bắt chước theo người Mường. Vì thế, miếng thịt gà có màu đỏ bầm, chứ thịt không trắng. Nghe ra, lạ tai bèn ghi lại là vậy. Ghi để làm gì? Nào ai biết để làm gì? Thích thì ghi vậy thôi.

Rồi anh lại kể, thời gian dạy học ở Phan Rí, các cô cậu học trò tinh nghịch đố anh: “Con gì khi chết đầu chui vào bụng?”. Đoán mãi không ra, anh bèn trả lời hụ hợ cho qua truông: “Con kỳ cục”. Học trò phá lên cười và giải thích đó là con cá nục. Bà con vùng biển Phan Rí khi kho cá nục, họ nhét lại cái đầu cá vào trong bụng con cá đó cho ngọt nước. Kể ra cũng là một nghệ thuật nấu nướng. Ở Quảng Nam không hề kho như thế. Kho nguyên con. Ăn cá nục cuốn bánh tráng, muốn đạt đến cái ngon cổ điển, mẫu mực thì chỉ có thể ăn kèm theo rau muống. Thế có lạ không? Chẳng lạ gì. Cái sừng sực của rau đi chung với sự mềm mại của báng tráng là một giao hòa êm ái; cái mềm ngọt bùi của cá đi chung với nước mắm dằm ớt, có pha thêm chút nước cá kho là sự du dương trữ tình.

Sống trên đời, được thưởng thức món ngon, đặc sản của từng vùng miền, có lẽ con người đó phải tu mười kiếp. Y vụng tu nên lúc nào cũng quanh đi quẩn lại vài ba món. Đọc sách thấy miêu tả món này món kia, chỉ nuốt nước bọt cái ực cho đã thèm. Tự dựng lúc này, lại thèm một tô mì gõ. Tại sao phải mì gõ, mì của người Hoa chứ không món gì khác? Đơn giản chỉ do sực nhớ lại, lúc mới chân ướt chân ráo vào Sài Gòn. Ngày đó còn ở tạm nhà bạn trên khu Tân Bình, nửa khuya tỉnh giấc bởi nghe tiếng rao mì gõ. Tiếng rao của nó chỉ là âm thanh phát ra từ hai miếng tre già gõ nhịp nhàng vào nhau. Tiếng nhặt. Tiếng khoan. Âm thanh của nó dứt khoát, từng tiếng một, không lẫn lộn vào đâu được. Thật lạ, hầu hết các bảng hiệu của xe mì của người Hoa đều có chữ ký, chẳng hạn, Thiệu Ký, Hải Ký, Hương Ký, Dìn Ký v.v… Đại khái thế. Thế “ký” có nghĩa là gì? Muốn trả lời chính xác, phải cậy đến cậy đến ông An Chi - nhà nghiên cứu từ nguyên số dzách hiện nay.

Vâng ạ, ông An Chi cho biết: “Chúng tôi đã hỏi một số người Hoa quen biết ở quận 5 thì nhận được mấy cách giải đáp như sau: 1. Ký là nhớ. Vậy Tường Ký, Chánh Ký, v.v… là để cho khách hàng nhớ đến cửa hàng của mình là Tường, là Chánh, v.v… mà không đi mua ở chỗ khác. 2. Ký là ghi chép. Ta thấy các cửa tiệm của người Hoa ngày xưa thường có bàn toán (bàn tính) và sổ ghi chép. Vì vậy nên mới gọi là Ký. 3. Chữ Ký có hàm ý là danh dự và uy tín của cửa hàng, tên bảng hiệu có chữ “ký” tức là cửa hàng làm ăn có tín nhiệm. 4. Ký chẳng qua là dấu hiệu, tín hiệu, là hiệu. Vậy Tường Ký chẳng qua là hiệu Tường, Chánh Ký chẳng qua là hiệu Chánh, v.v…

Các giải đáp 1, 2 và 3 trên thực chất chỉ là những cách hiểu theo từ nguyên dân gian. Nếu có nhiều thời gian để đi điều tra thêm thì có thể ta sẽ được biết thêm những cách giải đáp khác, có khi còn hấp dẫn hơn và nghe ra còn… có lý hơn. Chỉ có cách giải đáp thứ 4 mới hoàn toàn đúng sự thật. Mathews’ Chinese - English Dictionary đối dịch Ký là a sign, a mark và Ký hiệu là trade-mark, Trade-mark, chẳng phải gì khác hơn là nhãn hiệu, thương hiệu.

Vậy cái là nghĩa gốc chính xác của chữ Ký trong Tường Ký, Chánh Ký, v.v… chẳng qua chỉ là “hiệu”. Chính vì thế nên chủ một số cửa hàng người Hoa mới đặt bảng hiệu của mình bằng một danh ngữ mà “ký” là trung tâm (đứng cuối) còn đứng trước là một trong những chữ dùng làm tên riêng cho cửa hàng của mình” (nguồn: Báo SGGP số ra ngày 16.8.2006).

Với cách giải thích này, y gật gù tâm phục bèn thốt lên câu thơ Kiều: “Mấy lời ký chú đinh ninh/ Ghi lòng để dạ cất mình ra đi”. Đi đâu? Y đi theo âm thanh của cách tiếp thị mì gõ rất ư độc đáo. Tại sao không cất lên tiếng rao mà lại là hai thanh tre/ thanh gỗ va vào nhau tạo ra tiếng kêu lóc cóc?

Suy luận rằng, thuở mới sang Việt Nam buôn bán, người Hoa chưa rành tiếng Việt, họ tạo ra sự chú ý của khách bằng cách đó. Họ thừa biết, phải rao, nhưng vốn từ ít ỏi, lại khó có thể nhấn nhá câu chữ ngân nga, du dương nên “thay lời muốn nói” bằng cách đó? Đúng thế. Với người Việt, đã bán hàng thì phải rao. Vừa rồi đọc trên trang web của nhạc sĩ Trần Văn Khê & Trần Quang Hải, có đoạn đã lý giải: “Những tiếng rao không chỉ chứa đựng giai điệu ngọt ngào, trong nó còn có cả hương thơm, mùi vị, màu sắc, có tính kích thích tất cả các giác quan của chúng ta. Tiếng rao của những người bán hàng rong khiến cho phố phường tại các đô thị của Việt Nam trở nên rất sinh động. Điều này khiến cho những người nước ngoài cảm thấy thú vị. Tuy vậy, rào cản ngôn ngữ thường khiến cho họ không hiểu gì cả”.

Vậy thì, tiếng gõ lóc cóc của mì gõ người Hoa, không phải ngẫu hứng, tùy tiện mà nó có giai điệu hẳn hòi đấy chứ? Giai điệu ấy thế nào? Xin dành lại cho các nhà nghiên cứu âm nhạc. Với y, âm thanh ấy là sự thúc giục khiến can tì bao tử hòa nhịp theo và đòi phải dược tiếp nhận lấy tô mì gõ. Có phải làm nên “bản sắc” cùa tô mì của người Hoa chính là bí kíp làm nên sợi mì? Trả lời đi? Y có phải tay làm bếp đâu mà dám há mồm há miệng ra, chỉ biết ngậm miệng mà nghe ông chủ quán mì trên dòng kênh Nhiêu Lộc từng bật mí: “Sợi mì được làm từ bột mì, trứng vịt và nước tro tàu. Các nguyên liệu này, hoàn toàn được dùng tay trộn đều, nhồi nhuyễn để đảm bảo độ dai, giòn của sợi mì”. Tương tự, một trong những điều làm nên sự khác biệt của món phở, ngoài chất liệu căn bản có tính quyết định cho sự khoái khẩu là nước lèo thì còn kể đến bánh phở nữa.

Khi nghe tiếng gõ của mì gõ, chỉ cần ngồi yên tại nhà, í ới một tiếng, lập tức sẽ có người mang tô mì đến tận nơi. Kể ra cũng nhanh và gọn. Chẳng cần mất công đi đâu xa. Tiếng gõ ấy, len lỏi vào tận ngóc ngách hẽm, kiệt, xuyệt trong khu dân cư. Nghe riết, tự dưng một ngày nào đó không nghe là cảm thấy thiêu thiếu một cái gì đó. Một cái gì đó rất thân mật và gần gũi.

À, có một điều lạ, theo nhận xét của y là ở miền Trung, cụ thể Quảng Nam và ngay cả chốn thị thành Đà Nẵng cũng không có tiếng rao lóc cóc của mì gõ. Tại sao thế? Đơn giản, chỉ món ăn của người Hoa khó có thể thâm nhập vào vùng đất này. Một vùng đất mà cư dân luôn trung thành tuyệt đối với món ăn của địa phương. Phải là mì Quảng, bún bò Huế, bún chả cá, bánh bèo, bột lọc, bánh nậm… Đã thế, phải mặn ra mặn, cay ra cay thì mới sung sướng ông thần khẩu. Trong khi đó, món mì của người Hoa lại khác. Nó gần với cao lầu Hội An. Về Đà Nẵng, đi khắp hang cùng ngõ hẻm, đường ngang dãy dọc, chỉ có mỗi con đường chéo ngay đường Phan Châu Trinh là có bán mì của người Hoa mà thôi.

Khi đến chơi Hội An, ông nhà văn Võ Phiến ngạc nhiên về món cao lầu và không hiểu tại sao món ăn này không thể xuất hiện ở nơi khác? Đừng nói đâu xa, ngay cả Đà Nẵng chỉ cách Hội An chừng 30 cây số nhưng cao lầu vẫn không thể nhập hộ khẩu. Ông ngắc ngứ: “Thật khó hiểu: nếu nó sa sút, sao nó không bị tiêu diệt vì sự cạnh tranh của những thứ khác? Nếu nó có gì xuất sắc, sao cái xuất sắc ấy lại chỉ vừa đủ mức để tự vệ mà không thể dùng để tấn công lấn lướt tới một ly nào?” (Tràng Thiên - Quê hương tôi - NXB Thời Đại tái bản năm 2012, tr.247-248). Trong khi đó, món mì của người Hoa dù gần với cao lầu nhưng vẫn phát triển ngon lành.

Tại sao thế?

Có lẽ do từ ban đầu, món mì đã chọn được “điểm rơi” lý tưởng:  Sài Gòn - một vùng đất cư đân đông đúc lại nghĩa hiệp, dễ làm dễ ăn, bất kỳ thời kỳ nào cũng đủ sức cuu mang người người tha phương nhập cư. Mà đã xa quê, ở đâu quen đó, dần dà họ làm quen với món mì của người Hoa mà không câu nệ, vì dù rằng, đôi lúc có nhớ đến món ăn đặc trưng của “quê mình” nhưng làm sao có thể? Thôi thì, ăn để sống, phải ăn. Ăn riết rồi quen. Rồi cảm thấy nó gắn bó, gần gũi không thể thiếu trong cái ăn sự uống.

Thế thì, món mì ấy, từ cái xe mì cố định và được người tiếp thị bằng cách gõ lóc cóc để trở thành tên gọi “mì gõ” đã trở thành quen thuộc. Rất đỗi quen thuộc. Cũng tựa như ở Quảng Nam, lúc chiều chiều hoang hoải nắng, thèm ăn một chút gì đó cho đỡ nhạt miệng thì bỗng dưng nhớ đến tiếng rao: “Ai bánh bèo, bánh bột lọc hông?”. Mà cũng phải nói thật rằng, tiếng rao ấy ngày càng ít dần. Hôm trước về Đà Nẵng, có những chiều ngồi trước sân nhà ngong ngóng chờ đợi tiếng rao nhưng rồi chẳng cũng lúc có, lúc không. Lại cảm thấy năm tháng tuổi thơ đã xa dần. Đã xa dần: “Ai đậu doáng, chè đậu đen hông?” đã từng ngọt lịm trong miệng con trẻ mà mẹ đã mua cho ăn ngày thơ bé. Nhớ và tiếc nuối.

Nói thì nói thế, nghĩ thì nghĩ thế nhưng dù gì đi nữa, dù vật đổi sao dời đi nữa thì tiếng rao ấy thể hiện qua cách gõ để tạo ra âm thanh vẫn còn. Cũng tựa như tiếng rao của người bán hàng rong ở ngoài Trung, ngoài Bắc vẫn còn. Nói như thế, chẳng lạc quan tếu đâu. Một khi cứ ngỡ rằng, nó sẽ mất đi, mất hút nên đã có những nhà nghiên cứu ghi lại, vẽ lại hình ảnh để đời sau có thể xem lại chứng tích của một thời. Chẳng hạn, từ năm 1929, nhà nghiên cứu người Pháp là F. Fénis đã xuất bản một cuốn sách mỏng Les marchands ambulants et les crisde la rue à Hanoi (Hàng rong và tiếng rao trên đường phố Hà Nội), chừng 40 trang đã mô tả khá đầy đủ về các loại hình hàng rong và tiếng rao tương ứng ở Hà Nội thông qua hình ảnh và khuôn nhạc minh hoạ. Nay xem lại, vẫn tưởng chừng như tập sách đã thực hiện trong thế kỷ XXI này.

Vậy hóa ra, với món ăn dù có thêm nhiều hình thức mới theo thời gian nhưng rồi cách tiếp thị cũ vẫn tồn tại song hành, chứ không mất đi. Vâng, làm sao có thể mất đi nếu môi trường sống, nếp sinh hoạt vẫn không thay đổi?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 7.1.2018

mya_hoc_tuog_do

 

Hôm nào thư thả, thong thả, tìm thử xem trong nhà có tập sách nào in lại các tuồng, chèo hay không? Sĩ dĩ như thế, bởi đêm qua nằm đọc lại Nội dung xã hội và mỹ học tuồng đồ (NXB Khoa học Xã hội - 1984) của Lê Ngọc Cầu và Phan Ngọc. Mới biết rằng, đại khái, có hai loại tuồng căn bản: tuồng thầy và tuồng đồ.

Sự phân biệt ra sao?

Hiểu một cách nôm na, tuồng thầy có nội dung, thể tài về đạo thờ vua, giúp nước, quốc sự trong triều, ngôn ngữ trau chuốt điêu luyện…; trong khi đó, tuồng đồ lấy cảm hứng từ cuộc sống hằng ngày, thiên về cái hài chứ không bi hùng như tuồng thầy, cách ăn nói mộc mạc, bình dân, chĩ lưu hành trong dân gian, không “có cửa” chen vào chốn cung đình đạo mạo… Có thể tạm gọi bên này, “văn chương bác học”; bên kia, “văn chương bình dân”.

Lâu nay, với y, một khi nói về tuồng phải là ông Hoàng Châu Ký, thân phụ của nhà thơ Ý Nhi. Ông cùng con rể là GS Nguyễn Lộc (chủ biên) và nhiều nhà nghiên cứu đã thực hiện Tự điển nghệ thuật hát bội Việt Nam (NXB Khoa học Xã hội -1995) - một công trình rất giá trị. Ngày đó, tác giả Người đàn bà ngồi đan còn phụ trách NXB Hội Nhà văn ở phía Nam, y đến chơi, chị có tặng tập sách này. Nhân đây nói luôn, việc NXB Hội Nhà văn mới đây tái bản 10 tác phẩm của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, phải là một cố gắng của nhà thơ Ý Nhi. Nhiều năm liền, chị đã tìm mọi cách để sách có thể in lại sau năm 1975. Khi biên tập bộ sách này, nhờ đó, y mới có thêm những hiểu biết về vốn từ miền Nam của thập niên 1950 mà chị Vũ đã sử dụng. Đọc cũng là học. Học lấy tiếng Việt biết bao giờ mới có thể vỡ vạc ra đôi điều? Y tự nhủ. Mà thôi chuyện này, bàn sau, không khéo lạc đề.

Ừ, tại sao gọi tuồng đồ?

Có phải các vở tuồng do các ông thầy đồ sáng tác nên mới “chết tên” như vậy? Phỏng đoán mà chi, phải nói có sách mách có chứng, thiên hạ mới tin. Thì đây, đêm qua gạch đậm dưới câu này: “Trong khái niệm tuồng đồ, có người cho rằng “đồ” có nghĩa là vẽ, là mạc theo nét có sẵn. Ngày xưa các thầy chữ Hán thường viết chữ mẫu trên giấy riêng, để cho học trò phủ giấy mỏng lên, rồi nhìn những nét của chữ mẫu hiện ra mà mạc lại. Như thế gọi là thầy dạy, trò đồ. “Đồ” cũng có nghĩa là phỏng đoán (tôi đồ rằng ngày mai anh sẽ đến). Từ điển tiếng Việt cắt nghĩa “đồ” là hấp chín bằng hơi nước như đồ xôi, đồ sắn. Với  cách hiểu đó, có người cho “tuồng đồ” là loại tuồng vẽ lại, mạc lại những chuyện cũ, cũng có người cho là loại vở phỏng đoán, đồ chừng, chưa có gì xác thực. 

Giáo sư Huỳnh Lý và Hoàng Châu Ký cho “tuồng đồ” là những vở thuộc loại đồ ngôn, đồ thuyết. Nhà văn Đặng Thai Mai cho rằng chữ “đồ” còn bao hàm cái nghĩa là học trò, như trong hai tiếng “sinh đồ” và “tuồng đồ” nghĩa là tuồng của trò, để phân biệt tuồng của thầy, đó là loại chưa được xem là mẫu mực, là loại quê mùa của dân gian. Mới đây trong tập sách Hý trường tùy bút mà Ty Văn hóa Nghĩa Bình xác định là của Đào Tấn, lại có định nghĩa “đồ” là con đường. “Tuồng đồ” có nghĩa là loại vở dựa theo con đường đã vạch sẵn của người xưa mà sáng tác ra” (SĐD, tr.30-31).

Rõ  ràng có nhiều ý kiến khác nhau, y có nghĩ gì khác không? Nào dám múa rìu qua mắt thợ, chỉ biết lắng nghe, nói như người Quảng Nam hễ một khi thưởng thức món ăn nào ngon hết chỗ chê, không chê vào đâu được thì chỉ còn có nước gật gù “ngậm mà nghe”. Trong trường hợp này cũng thế, y nào dám cãi gì. Chỉ xin ghi nhớ nằm lòng. Tuy nhiên, một trong những cái thú của người đọc sách là thỉnh thoảng cao hứng cãi lại với tác giả. Có thể mới rộn ràng trang sách, vui cùng chữ nghĩa.

Về từ “đồ” biết đâu trong “tuồng đồ” lại hàm nghĩa khác? Nghĩa gì? “Sáng trăng em ngỡ tối trời/ Em ngồi em để cái sự đời em ra/ Sự đời như cái lá đa/ Đen như mõm chó, chém cha cái sự đời”. Cái  sự đời có nói văn vẻ, văn hoa cũng nhằm tránh nói đến cái đồ đó thôi. Thử đọc lại một bài hát nói khuyết danh Diễu thầy đồ Cổ Nhuế:

Thầy đồ Cổ là người tài bộ

Quẩy cầm thư đi giáo thụ phủ Vĩnh Tường

Trước nha môn thiết một học đường

Dạy dăm đứa chi hồ dã giả

Nhân lúc đồ ngồi nhàn hạ

Ra hồ sen xem ả hái hoa

Ả hớ hênh ả để đồ ra

Đồ trông thấy đồ ngâm ngay tức khắc:

“Phong tiền lạn mạn hoa sinh sắc!

Thuỷ diện vi mang bạng thổ thần”

Đồ ngâm rồi đồ đứng tần ngần

Đồ nọ tưởng đồ kia thêm thắc mắc

Suốt năm canh, đồ nằm biếng nhắp

Những mơ màng đồ nọ tưởng đồ kia

Đồ đâu gặp gỡ làm chi!...”.

Hai câu: “Phong tiền lạn mạn hoa sinh sắc/ Thuỷ diện vi mang bạng thổ thần”, có người dịch : “Trước gió phất phơ hoa nẩy sắc/ Một dòng thấp thoáng hến thè môi”. Hến là cái ngao, cái hĩm, là cái đồ. Thế thì, một khi gọi tuồng đồ là cách gọi rẻ rúng của tầng lớp có học, sính chữ nghĩa dành gọi các vở lưu truyền trong dân gian mà họ cho là ba lăng nhăng, chẳng khác gì “Nôm na là cha mách qué”. Một khi nghe câu: “Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm” thì đồ này phải hiểu theo nghĩa trên, chứ không phải: “1. Đồ vật do con người tạo ra để dùng hay làm thức ăn nói chung: đồ ăn thức uống, đồ chơi, giặt bộ đồ; 2. Người theo học chữ nho để thi cử: thấy đồ, cụ đồ; Loại hay người đáng khinh (dùng để nguyền rủa, mắng nhiếc): đồ ngu, đồ hèn, đồ mặt người dạ thú”- như Đại từ điển tiếng Việt đã phân loại, mà nó nằm ở nghĩa “4. Âm hộ (dùng trong cách nói tục tĩu, chửa rủa”.

Thế thì, các thứ tuồng đồ ấy không thể diễn chốn cung đình cũng phải thôi. Tầng lớp trên “Cho là loại tuồng ba lơn, chỉ có ích trong việc làm trò cười cho trẻ con, đàn bà” (SĐD, tr.21). Ai đời trước mặt các quan “Trông lên mặt sắt đen sì” mà bọn đào, kép há mồm ra: “Để dạo chơi phường phố/ Chở hàng hóa lên tàu/ Thiếu chi đĩ đĩ đào đào/ Biết mấy cờ cờ bạc” (Vở Giáp Kén Xã Nhộng). Chỉ có mà roi vụt nát mông. Hơn nữa, tuồng đồ rặt tiếng cười. Không nghe câu nói vang bên tai, chỉ đọc là cười. Cách viết khéo quá. Tố cáo xã hội khéo quá. Chẳng hạn trong vở Ngao Sò Ốc Hến, lão thầy bói Lữ Ngao bị Trùm Sò, Lý Hà cùm chân ở điếm canh, giao bọn tuần đinh canh giữ. Lợi dụng lúc chúng ngủ say, Trần Ốc lẻn vào tháo cùm giải thoát cho lão. Khổ thay, lão lại tưởng chúng thả cùm vì đuối lý, do đó, lão ứ chịu. Một tình huống kịch cực hay. Lão thốt ra:

“A! A! Thầy biết rồi. Thằng Trùm Sò mời thằng Lý Hà về uống rượu, rồi bàn bạc với nhau thấy bắt cùm thầy là thất lý, mới cho người ra mở cùm cho thầy, để thầy đi đằng thầy cho trôi. Chớ giải thầy lên quan thì phải tốn kém. Thầy dại gì cho bây mở cùm. Tao nằm đây, con dòi to bằng cổ tay tao chưa về. Phen này Trùm Sò phải hết cửa hết nhà với thầy cho coi. Bọn bây giải thầy lên quan, trước hết phải mua chai rượu làm lễ ra mắt quan, quan huyện nhận chai rượu đó mới đưa vào trong cho bà huyện. Quan mới xử lăng nhăng chi đó, rồi quan nạt, quan nộ, lão Trùm Sò phải lén ngõ sau mua chai rượu của bà huyện, để thưa bẩm lần nữa. Vậy là nay khai, mai báo, chai rượu đó cứ luân hồi ngõ trước ngõ sau làm cho Trùm Sò phải hết nhà! Hết nhà! Hà hà… Bây có khôn ra đây, thầy bày cho! Bay sắm khay trầu, cau rượu với chừng dăm quan tiền thôi, bây thưa với mụ thầy là con vợ lão đây, nói khó với nó một tiếng, nó qua nó nhận thầy về. Vậy mà chắc chi thầy đã về cho! Em chết rồi em Sò của thầy ơi! Hà hà…”.

Đọc xong và cười thích thú. Cực hay. Không rõ, nhà văn Nguyễn Quang Sáng có xem tuồng Ngao Sò Ốc Hến? Trong truyện ngắn Cây gậy ba số của ông, gói thuốc ba con 5 cũng đóng vai trò luân chuyển như chai rượu của Trùm Sò. Lại nữa, hãy nghe thêm lời ca thán của người đàn bà khi hay tin chồng tằng tịu, nhăng nhít mèo mỡ lăng nhăng. Đọc qua một lần, tưởng chừng như hiện ra trước mắt hình ảnh người đàn bà quẫn trí đang gào, đang thét, tiếng kêu, tiếng rú quyện vào nhau, khi thở dài, lúc nộ khí xung thiên cực kỳ sống động. Ấy là lúc nàng Phương Khanh trong vở Bình Hoài truyện nhận được tin chồng ngoài biên ải đã lấy nữ tướng Phiên làm vợ. Không biệt trút giận vào đâu cho đã máu ghen, nàng đã nhè đầu người đưa thư mà đấm mà thoi mà cấu mà cào mà cắn mà véo:

Nó chíu chít như mèo thấy mỡ

Tao bồn chồn như chó chạy khào

Điên! Điên! Điên!

Đào chỗ thấp, tấp chỗ cao!

Tệ! Tệ! Tệ!

Đặng buồng này, khoay buồn nọ

Nó, của lạ, nằm hoài trong trướng gấm

Tao, đồ quen, ngồi giữ xó vườn hoa

Xung! Xung! Xung!

Say máu ngà ngà

Sướng! Sướng! Sướng!

Múa mồm nguây nguẩy!

Mồ cha con đĩ! Con đĩ!

Lấy gạnh chồng tao! Chồng tao!

Đau! Đau! Đau!

Ngứa! Ngứa! Ngứa!”

Một đoạn văn quá xuất sắc. Khó thể viết hay hơn. Sinh động hơn. Thành ngữ có câu: “Đau đẻ, ngứa ghẻ, hờn ghen” là vậy. Cách hờn ghen của của cô nàng Phương Khanh là phổ biến theo kiểu “người ta thường tình”. Còn cách của Hoạn Thư lại khác hẳn. Cao cơ. Kín đáo. Thâm trầm. Khiến Kim Trọng, Thúy Kiều phải tởn một phép. Lưu ý câu, “Nó, của lạ/ Tao, đồ quen” thì “của”/ “đồ” cùng một nghĩa. Từ “của” nay đã từng xuất hiện trong câu đối của nhà nho Trần Bình bỡn cô Tư Hồng: “Bốn chữ sắc phong hàm cụ lớn/ Ba thuyền tế độ của bà to!”. Đem “hàm cụ lớn” đối chan chát, đặt khín khìn khịt với “của bà to” thì đểu quá đi mất. Đấy, tuồng đồ đấy. Tuyệt chưa? Vậy mà bấy lâu nay, y chẳng hề đọc lấy một vở nào. Tệ quá.

Có thể nói, sự ra đời của tuồng đồ, thơ ca hò vè châm biếm, đả kích dù xuất hiện ở thời nào cũng là cách lên tiếng phản ứng, thái độ phản kháng của tầng lớp khố rách áo ôm đối với tầng lớp ăn trên ngồi trốc. Hoàn toàn đồng ý với nhà nghiên cứu Lê Ngọc Cầu và Phan Ngọc rằng, dù quan niệm về tuồng đồ xưa nay (như trên đã liệt kê) có khác nhau: “Nhưng lại nhất trí ở một điểm căn bản là tạo ra một lá chắn, một tấm bình phong để đỡ đòn cho tác giả khi bị vua quan phong kiến liệt vào loại tà ngôn, tà thuyết” (SĐD, tr. 31). Lật lại quyển Tự điển nghệ thuật hát bội Việt Nam do GS Nguyễn Lộc chủ biên, có đoạn: “Loại tuồng đồ thường không có văn bản ghi chép, thường không có tên tác giả, mỗi lần diễn người ta thường thêm thắt, nên các văn bản tuồng đồ được ghi chép về sau này nhiều khi chúng rất khác xa nhau” (tr. 612).

Thay vì phải cắp vở vào trường đại học ngồi học hết tiết này qua tiết nọ, chỉ chịu khó đọc những quyển sách nghiên cứu về vấn đề đó, con người ta cũng có thể nắm bắt được nhiều kiến thức.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 5.1.2018

leminhquoc1989

Lê Minh Quốc (ảnh: Nguyễn Công Thành chụp năm 1989 tại xưởng làm giấy của báo Tuổi Trẻ)



Khi vàng đứng bóng im trưa

Tiếng khô lá rụng làm thưa phố phường

Thơ Hồ Dzếnh. Câu thơ có ma lực gì khiến y mỗi lần đọc lên lại cảm thấy quạnh vắng hun hút, một tiếng thở dài như gió lùa qua trí nhớ? Nhớ gì? Nhớ về những trưa im ắng, từ trong nhà ngồi nhìn ra đường, con đường Triệu Nữ Vương (Đà Nẵng) của thập niên 1960. Ngày ấy, đường phố vắng, người vắng. Những trưa im ắng tưởng chừng như còn nghe và thấy tiếng lá lào xào. Nhìn ra con đường chỉ thấy nắng vàng trải dài. Nhìn vào lòng mình chỉ là những vu vơ của tháng ngày thơ dại. Tịnh không tiếng động. Lặng lẽ. Con phố ngủ trưa. Nay đã khác. Đông đúc. Ồn ào. Nhộn nhịp. Câu thơ ấn tượng nhất vẫn là “thưa”. Ngẫm nghĩ lại đi. Nếu không nghe tiếng lá rụng thì làm sao câu thơ đủ sức cựa quậy trong tâm tưởng?

Từ “Tiếng khô lá rụng làm thưa phố phường” lại nhớ đến: “Dịu dàng em nói dạ thưa/ Đôi môi lễ độ ngàn xưa vọng về”. Câu thơ ấy, y viết lúc nào?

Đôi khi nghĩ lại thấy rằng, cuộc đời này hay quá đi mất. Bấy giờ, tập thơ Tôi vẽ mặt tôi đã gây ồn ào dư luận. Phê phán gay gắt. La ó dữ dội. Trên báo chí từ Nam chí Bắc “ném đá” tơi bời. Nào ngờ, chẳng thể ngờ, ngay thời điểm ấy đó trên tạp san Nữ sinh (số tháng 2.1999) có bài viết bênh vực y. Bằng cách nào? Bằng cách bình lấy bài thơ Dạ thưa. Bùi Tá Phạm Vinh viết bài Lời thưa dịu dàng là ai? Y không rõ. Nhưng rõ ràng là kịp thời có một tiếng nói khác. Cần thiết lắm. Nay đọc lại, cảm thấy vui vui một chút.

Vấn đề vẫn là ở chỗ kịp thời, có một tiếng nói khác trong dòng chảy ồn ào của dư luận lúc bấy giờ. Trong đời, có những lúc tai ương, hoạn nạn, bất ngờ có bàn tay đưa ra, níu ta đứng dậy. Ơn ấy sẽ nhớ mãi? Chưa chắc. Con người ta vốn mau quên. Quên nhanh lắm. Nói về ai thế? Chính y đã tự thú từ năm 1989 đấy thôi: “Trên đường đời một lần tôi vấp ngã/ Có cánh tay nâng đỡ giúp tôi ngồi/ Tôi suýt soa. Quên cám ơn. Là lúc/ Ngẩng mặt lên. Người ấy đã đi rồi”. Trong đời dù nhớ, dù không, ai cũng có “người ơn” lặng lẽ, lặng thầm ấy. Âu cũng là cái sự may mắn. Nếu không, “Một người bèn ra ven sông buông theo nước cuồn cuộn mau” (P.D) làm sao có thiện nhân cứu vớt, hỡi cô em Thúy Kiều, cô nàng Kiều Nguyệt Nga?

Thời trẻ, y thích đọc thơ của ai? Mà cái thời trẻ qua rồi, nói về lúc này có phải hay hơn không? Vâng. Đến một tuổi nào đó, y lại quay ngược về xuôi cùng dòng thơ Huy Cận và Hồ Dzếnh. Thâm trầm. Sâu sắc. Âm hưởng thơ mênh mang không gian của Đường thi, dù ngôn từ cực kỳ thuần Việt. “Khi vàng đứng bóng im trưa/ Tiếng khô lá rụng làm thưa phố phường” là một thí dụ. Sực nhớ, đã lâu lắm rồi, y có dịp diện kiến nhà thơ Quê ngoại. Ấy là khoảng tháng 4.1991 lúc ra Hà Nội.

Rằng, Sau khi uống cạn ly bia Vạn Lực ở 51 Trần Hưng Đạo - Hội nhạc sĩ Việt Nam - anh Nguyễn Thụy Kha bảo: “Bọn mình ghé sang thăm cụ Hồ Dzếnh nhé”. Lời đề nghị ấy đã làm y hoàn toàn vui sướng. Trong trí nhớ của y đã hiện lên hình ảnh một nhà thơ nổi tiếng từ thời “tiền chiến” với tập thơ Quê ngoại và những tập truyện như tập Chân trời cũ… Con người mang hai dòng máu Hoa - Việt ấy là ai? Là một người như thế nào mà đã viết những vần thơ rất bay bướm? “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở/ Đời hết vui khi đã vẹn câu thề”. Vẫn còn nhớ như in đoạn văn của Mai Thảo viết về Hồ Dzếnh in trên tạp chí Văn năm 1973. “Và một buổi chiều kia rầu rầu úa héo trên thiêm thiếp quê cũ chẳng dung người, quê cũ đã phụ rồi, vòm trời mây trắng bao la của nước Trung Hoa lạ lùng đã in cái hình bóng bé nhỏ li ti di động của một người Hoa nghèo khổ bỏ một nước Trung Hoa nghèo khổ mà lên đường. Đi qua Vân Nam. Đi từ Dương Tử đi tới Hông Hà. Đi từ Trung Hoa đi tới Việt Nam. Và từ cuộc gặp gỡ trong mưu sinh buồn rầu trên đất khách giữa một người Hoa bán thuốc dạo và một cô lái đò Việt trên một dòng sông Thanh Hóa, đã có một gã làm thơ Hồ Dzếnh Minh Hương”.

Thời trẻ, đọc ít nhớ nhiều; nay, đọc nhiều nhưng rồi chẳng nhớ gì mấy.

Tuổi thanh xuân, y đã chép những vần thơ của ông trong trí nhớ. Đã quên. Đã nhớ. Có lẽ, niềm hạnh phúc nhất của người nghệ sĩ là một khi thiên hạ đau khổ, bất hạnh giữa trần gian này lại bấu víu vào thơ ca của mình để mà yêu, mà sống. Với Hồ Dzếnh, y cũng đã có những lần bấu víu vào thơ của ông để tâm hồn vơi nhẹ nỗi nhọc nhằn, phiền muộn. Nguyễn Thụy Kha và y đã đến nhà ông vào lúc đúng Ngọ. Phía trước là quầy bán sách báo đã đóng cửa nghỉ trưa, có cẩn thận ghi dòng chữ: “Giờ nghỉ trưa xin đừng gọi cửa”. Mặc dù biết như vậy nhưng bọn y vẫn gọi. Con trai của nhà thơ đã dẫn vào ngõ sau. Leo lên những bậc cầu thang. Ô! Nhà thơ mà y đã từng mến yêu đây sao? Với gương mặt nhăn nheo, bình dị trong bộ quần áo mặc ở nhà, y đã thất vọng vì không tìm thấy được nét phong trần, gió bụi của những vần thơ: “Tôi là người lữ khách/ Màu chiều khó làm khuây/ Ngỡ lòng mình là rừng/ Ngỡ hồn mình là mây/ Nhớ nhà châm điếu thuốc/ Khói huyền bay lên cây”. Lời thơ đó, Dương Thiệu Tước phổ nhạc quyến rũ, lãng mạn bao nhiêu thì trước mặt y là một ông già móm hiền lành khiến y hẫng bấy nhiêu.

Sau lời giới thiệu của Nguyễn Thụy Kha, ông đã đưa tay nắm lấy tay y. Bàn tay lạnh và gầy. Rồi ngồi nói chuyện về thơ ca. Điều làm y ngạc nhiên là ý kiến đánh giá của ông về phong trào Thơ mới: “Tôi khác hẳn mọi người về nhận định này. Thơ bây giờ hay, đúng là thơ mới. Chớ không phải như phong trào Thơ mới trước đây. Vì sao ấy à? Thơ mới ngày ấy, kể cả những đại biểu tiên phong nhất cũng cố gắng gỡ ra khỏi từ ngữ chứ không gỡ khỏi tư tưởng. Ngày xưa, phong trào Thơ mới với Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Chế Lan Viên, Xuân Diệu... làm cho từ ngữ trong sáng lên, đẹp lên chứ tư tưởng chưa chắc đã mới lắm. Còn bây giờ, các nhà thơ đã nói thẳng tư tưởng của họ, theo tôi mới là thơ mới”.

Phát biểu của ông đã mở cho y thấy phía sau một thân thể già nua, lọm khọm ấy là một tâm hồn tha thiết với thơ biết bao nhiêu. Y còn nhớ là đã đọc được những câu thơ mà ông đã viết từ thời tiền chiến như một bộc bạch tâm sự: “Đừng mơ ước cả thiên đường/ Hãy xin lấy nửa tấc vườn vắng hoa”. Ngôi nhà của ông nằm ngay mặt phố ồn ào, không có vườn để trồng hoa cỏ vui với tuổi già. Anh Nguyễn Thụy Kha bảo: “Cụ Dzếnh và những bài thơ của từ thời ấy, đáng quý như vàng. Tuổi già như lá, chẳng biết rụng lúc nào”.

Những ngày này đã vắt sang năm mới. 2018. Những tập sách của y lại tiếp tục đặt trên bàn biên tập của một, hai nhà xuất bản. Lại in sách mới. In gì nhiều thế? Có dăm người thốt lên và hỏi y. Trả lời ra làm sao? Bèn cười. Nếu con tằm mỗi ngày được ăn lá dâu non, không nhả tơ, chỉ mỗi ngày la cà quán xá buôn dưa lê, bà tám, chém gió thì có còn là tằm? Đã tằm thì nhả tơ. Đã họa sĩ thì vẽ. Đã cỏ thì xanh. Đã em Kiều thì 15 năm phiêu bạt. “Đã mang lấy nghiệp vào thân/ Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”. Thế thôi. Chẳng gì khác.

Sực nhớ vu vơ, thuở còn đàn đúm theo Sơn Nam, ông kể cũng đã có lần đã nghe câu hỏi ấy. Còn nhớ, ông cười khà khà rằng, nhiều người nói hay lắm, tốt lắm, khuyên rằng đừng nên viết nhiều mà hãy suy nghĩ về tác phẩm lớn. Không sai. Nhưng suy nghĩ mãi, đến lúc cầm lấy cây bút thì thói quen viết lách đã rơi rụng tự bao giờ rồi. “Tôi phải chịu trách nhiệm về tất cả những gì tôi viết, luôn cả những bài viết theo nhu cầu thị trường ngoài ý muốn. Nhiều bạn khuyên tôi nên bớt viết, viết nhựt báo là hư văn chương. Nếu bớt viết thì lấy gì có tiền mà xài? Chẳng lẽ mượn tiền của bạn rồi đi chơi lăng nhăng để giữ cho ngòi bút được thơm tho. Tới chừng hư thì soạn từ điển, viết khảo cứu cũng hư. Đại khái, bàn tay dính bùn là điều tốt, nghề gì, “sứ mạng” gì trong lúc này cũng vậy thôi”. Trong phỏng vấn “Những nhà văn ở phút nói thật” in trên tạp chí Văn trước năm 1975, Sơn Nam đã phát biểu như thế.

Lại nhớ hôm kia, sau chầu lai rai chia tay ra về, một người bạn ôm vai thân mật bảo y, đại khái, phải viết như quyển này, quyển nọ mới thật sự là ghê gớm. Quyển gì? Nghe kể ra một loạt quyển, bỗng giật mình tỉnh rượu. Vẫn là những quyển bàn về chính trị, thời cuộc mà y nào có quan tâm gì đến. Chính trị vẫn là một lãnh vực y vốn mù mờ, làm sao dám đặt bút viết? Lại nghĩ, tùy theo vị trí, thế đứng, mỗi người có góc nhìn khác nhau về một sự việc. Có người nhìn A, có kẻ nhìn B. Dẫu có hoặc không có thông tin thì liệu sự nhận định ấy có đúng? Đúng lúc này nhưng về sau chắc gì đã đúng? Bởi, tùy theo góc nhìn của mỗi người, mỗi thời. Mà thôi, mỗi người có mỗi sở trường, ham hố làm chi. Vấn đề căn bản nhất vẫn là nhìn nhận sự lao động của mỗi người, miễn là họ viết hết lòng, sống hết lòng cùng trang viết bằng giọt mồ hôi trên vầng trán. Nếu thích, hãy vỗ tay một tiếng, bằng không hãy im lặng để họ tiếp tục viết.

Thể loại Feuilleton, không bàn sâu về nó, chỉ nói rằng, đó chính là một trong những cách giúp nhà văn trở nên chuyên nghiệp hơn. Mỗi ngày phải viết. Đến hẹn lại lên. Đến giờ phải giao bài. Không thể chần chừ. Không đợi cảm hứng. Cảm hứng à? Làm gì có cảm hứng. Phải viết như mọi thói quen. Như đói thì ăn. Như sống  thì thở. Ngay cả lúc mày mò tìm cảm hứng, đã sống chết với nghề thì cũng có tác phẩm như ai. Tản Đà là một thí dụ. “Hôm qua chửa có tiền nhà/ Suốt đêm thơ nghĩ chẳng ra câu nào/ Đi ra rồi lại đi vào/ Quẩn quanh chỉ tốn thuốc lào vì thơ”. Trong cái sự quẩn quanh, bứt rứt bởi trong túi không còn xu teng nào mà ngày mai đã đến hạn đóng tiền nhà, vẫn ra thơ đấy chứ?

Lúc này, sẽ viết gì nữa? Chẳng thể biết. Thôi thì, ngày viết mỗi ngày, ngày sống đời thơ, ngày đi trên chữ, ngày trong nếp ngày như từng ngày vẫn thế. Vẫn rị mọ, mày mò, tiếp tục tìm hiểu về tiếng Việt như lâu nay vẫn làm. Miễn thấy thích, thấy vui là đã hài lòng. Hài lòng với chính mình là một nguồn vui sống. Tìm kiếm đâu xa. Mấy hôm nay vẫn đọc. Lại nhớ, ngày 7.4.2003 tại Hội Nhà báo TP.Hồ Chí Minh, bấy giờ anh, Lê Hoàng -  Giám đốc NXB Trẻ đã công bố với báo giới về “Việc mua bản quyền toàn bộ tác phẩm Sơn Nam”, có nhà báo “tò mò” đặt câu hỏi với ông già Hương rừng Cà Mau: “Thưa ông, ông có thể cho biết số tiền mua bản quyền là bao nhiêu?”. Ông đã nheo mắt hóm hỉnh: “Ai lại đi hỏi một người khác rằng, trong túi của anh có bao nhiêu tiền?”. Ai nấy đều cười vang vui vẻ. Âu đó cũng tính cách bông lơn thường gặp ở Sơn Nam.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 23.12.2017

25348555_1469132306540628_3941738160584164404LAP_n

 

Hôm qua, ngày 22.12, không hề có một cuộc điện thoại, tin nhắn nào như mọi năm. Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Dù gì, y cũng cựu chiến binh nhưng rồi chính y cũng quên béng. Đến nay, vẫn còn nhớ đến 1 trong những lời thề quân nhân: “Không lấy cây kim, sợi chỉ của nhân dân”. Chỉ còn nhớ đến đó, sau dằng dặc tròn 30 năm rời khỏi quân ngũ.

Sáng nay, đến Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP.HCM dự hội thảo Cao Xuân với Ngôn ngữ học Việt Nam do Hội Ngôn ngữ học TP.HCM tổ chức. Thông tin này, hoàn toàn không xuất hiện trên báo chí. Do nhà báo không quan tâm chăng? Do biết nhưng không đưa tin vì cứ nghĩ chẳng mấy ai quan tâm chăng? Đôi lúc, chẳng rõ thiên hạ đang quan tâm đến những gì? Thì cứ nhìn từ báo chí chính thống đến các trang mạng xã hội, có thể đo lường, kiểm chứng sự quan tâm của đám đông trong mỗi thời điểm khác nhau. Tốt thôi. Còn quan tâm, phản biện, đả kích, nâng bi, tán thành vấn đề gì đó đã là tốt, vẫn còn hơn sự dửng dưng, vô cảm.

Tuy nhiên sự kiện liên quan đến nhà ngôn ngữ học tài ba thuộc hạng cự phách mà ít ai biết đến, kể ra cũng lấy làm buồn. Buồn mà chi. Chỉ khi nào trong một xã hội mà sự ổn định và phát triển là gam màu chủ đạo, bấy giờ con người ta mới quan tâm đến học thuật, văn hóa, những giá trị lâu bền bằng không vẫn là những vấn đề thời sự sát sườn có tác động đến cơm áo gạo tiển mỗi ngày.

Trong tham luận Nhớ Cao Xuân Hạo và vững tin, nhà nghiên cứu An Chi cho biết, lúc ông Hạo bát tuần, ông đã có phác thảo trong đầu câu đối mừng. Nhưng rồi 7 năm sau, ông mới gửi tặng: “Ngữ học siêu quần - Văn khoa bạt tụy”. Điều đáng chú ý, trong tham luận này, về vấn đề từ láy, ông An Chi cho rằng: “Cái gọi là từ láy sở dĩ bị thấy thành láy thì chỉ là do cái cảm thức về mặt đồng đại của người sử dụng tiếng Việt, kể cả các nhà Việt ngữ học chứ tiếng Việt không bao giờ có kiểu tạo từ bằng phương thức “láy”.

Và ông dẫn chứng: “Tôi thấy trong bủn rủn, chẳng hạn thì cả bủn lẫn rủn đều là những thành tố có nghĩa hoặc vốn có nghĩa. Nếu không có nghĩa thì rủn không thể có mặt trong từ rủn chí, còn bủn thì hiện vẫn thông dụng trong phương ngữ Nam Bộ với nghĩa “mủn, mềm nhão; ươn, không còn tươi”. Trong bứt rứt thì bứt lẫn rứt đều hiển nhiên là những thành tố có nghĩa. Trong bời rời thì rời hiển nhiên là một từ độc lập có thể hành chức một cách tự do, còn bời không chỉ hiện diện trong bời rời, mà còn có mặt trong tơi bời. Khi một tiếng (âm tiết) có mặt trong hai cấu trúc khác nhau với cùng một nội dung ngữ nghĩa thì đó phải là (hoặc vốn là) một từ”.

Từ quan niệm này, ông An Chi đã tập trung khảo sát, phân tích và đưa ra một kết luận quan trọng: “Người sử dụng ngôn ngữ chỉ cần biết nghĩa của bịn rịn, bối rối, bời rời, mấp máy, nhấp nháy v.v… mà không cần biết bịn, bối, bời v.v… có nghĩa gì. Với anh ta thì trong những cặp đôi đó, hiện tượng láy là điều hiển nhiên nhưng mọi sự đều phải dừng lại đây, chứ nếu dựa vào đó mà khẳng định rằng “láy” là một phương thức tạo từ của tiếng Việt thì hoàn toàn sai. Chính từ quan niệm như thế nên tôi thấy muốn phủ nhận hiện tượng được phương thức “láy” như một biện pháp tạo từ thì phải làm từ nguyên, mà trọng yếu là từ nguyên của những từ Việt gốc Hán. Từ nguyên sẽ giúp ta giải mã cái bí ẩn lấp ló, thấp thoáng đàng sau hiện tượng “láy”. Nó sẽ giúp cho ta cảm thấy sảng khoái và thở phào nhẹ nhõm mỗi khi ta tìm ra được cái nghĩa đích thực của từng từ cổ hoặc hiện hành, bị gán cho cái nhãn “yếu tố láy”.

Sở dĩ ông An Chi lấy nhan đề tham luận Nhớ Cao Xuân Hạo và vững tin, vì rằng, ông cho biết “mừng như cá gặp nước” khi đọc bài Về cương vị ngôn ngữ học của tiếng của Cao Xuân Hạo công bố trên tạp chí Ngôn ngữ số 2.1985. Ông Hạo viết: “Không bao giờ chúng ta có thể dám chắc từ thứ hai của tổ hợp nào đó không có nghĩa thực trước khi tra hết bộ Từ Hải và tìm hiểu vốn từ của tất cả các thứ tiếng Việt - Mường, và rộng ra là các tiếng Môn - Khmer nói chung qua từng giai đoạn của chục ngàn năm diễn tiến”.

Chẳng phải ăn theo nói leo, té nước theo mưa, phải nói thật rằng, trước đây, khi mày mò tìm hiểu về tiếng Việt, y đã nghĩ ra điều đó một cách cảm tính. Trong bài báo Lập thân hèn nhất ấy văn chương, có đoạn: “Y nghĩ, gọi “tiếng đệm/ tiếng đôi” gì đi nữa, chắc chắn cả 2 từ đó đều có nghĩa, cùng nghĩa, dần dà về sau, do cách nói gọn, người ta bỏ đi 1 cho gọn nên thế hệ sau, nhiều thế hệ sau cứ ngỡ là từ đó vô nghĩa. Nói thì nghe hay lắm, thử nêu vài thí dụ đi. Xin vâng, chẳng tìm đâu xa, cứ lật Từ điển Việt-Bồ-La (1651) ắt rõ, chẳng hạn, mắng mỏ, mắng thì dễ hiểu rồi, mỏ là nổi giận.; sợ sệt thì sệt là sự kinh khiếp; yêu dấu thì dấu là mơn trớn, vuốt ve, gớm ghiếc thì ghiếc là buồn nôn cùng nghĩa với gớm ghỉnh v.v… Rõ ràng cả hai từ cùng một nghĩa đấy thôi. Rồi nữa nóng sốt. Sốt là gì? Cũng là nóng, há chẳng từng nghe đến “câu sốt câu nguội” là chỉ sự trò chuyện hàn ôn/hàn huyên rét ấm? (Ngày đi trên chữ - NXB Hội Nhà văn - 2017, tr.97).

Khác với các bậc thầy như Cao Xuân Hạo, An Chi đã chứng minh rành mạch, thuyết phục, cậu học trò là y chỉ “phát hiện” bằng sự cảm tính mà thôi. Đọc/ nghe một tham luận mà cảm thấy vỡ vạc ra nhiều điều, sáng nay với y, chính là bài viết của An Chi.  

Về ông Cao Xuân Hạo, còn nhớ chừng hai mươi năm trước, cô bạn người Nga Irina có kể mẩu chuyện nhỏ, đại khái trong khoảng thời gian đó, vì lý do riêng, cô không muốn nghe bất kỳ cuộc điện thoại nào của người Việt. Hễ các cuộc điện thoại nào gọi đến, qua các phát âm của họ, người nhà đều nhận biết người Việt hay người Nga mà cho gặp hay không. Ngày nọ, có cuộc điện thoại, người nhà gọi cô ra nghe, vì chắc mẫm người vừa gọi đó là người Nga chính hiệu. Nào ngờ, chính là ông Cao Xuân Hạo. Chi tiết này cho thấy, ông Hạo phát âm rất chuẩn tiếng Nga. Nghe nói, khi dịch tác phẩm văn học nước ngoài ra tiếng Việt, trong cùng một lúc ông dịch 2, 3 ngoại ngữ là sự thường tình. Cách dịch của ông là đọc từ nguyên bản, dịch đến đoạn nào, tiếng nước nào thì ông nói to lên cho thư ký ghi lại. Quá siêu.

Những ngày này, trời Sài Gòn trở rét. Lạnh nhiều hơn mọi năm. Mỗi sáng, ra khỏi nhà đã phải mặc thêm áo ấm. Vào dịp cuối năm, con người ta thường nghĩ về 365 ngày vèo vèo trôi qua đã làm được những gì? Y làm được những gì? Ngoài tái bản Chuyện tình các danh nhân Vệt Nam (2 tập) là 7 quyển sách mới: Trong tàn phai có nụ hồng thơm lên, Tình ta đang nhảy Rock, Ngày sống đời thơ, Lắt léo tiếng Việt, Yêu một người là nuôi dưỡng đức tin, Ngày đi trên chữ, Thật tuyệt, tình ta thôi trúc trắc. Kể ra cũng là một bút lực ghê gớm của một người kiếm sống bằng các con chữ. Tìm niềm vui lẫn giết thời gian từ các con chữ.

Do mê, thích các con chữ tiếng Việt nên thỉnh thoảng lưu tâm tư/ cụm từ vừa mới được sử dụng. Gần đây nhất, tạo nên sự bỡn cợt, tranh cãi nhiều nhất vẫn là cụm từ “Nâng đỡ không trong sáng”. Trang web của Đài Tiếng nói Việt Nam ngày 17.12.2017, có post bài Vụ bổ nhiệm “thần tốc” bà Quỳnh Anh: Hiểu thế nào là “nâng đỡ không trong sáng”? Ta hãy đọc: “Người thì bảo “là trong bóng tối”, người khác lại bảo “là tranh tối tranh sáng", "là nhá nhem"... Có người nêu nội dung: Vậy "nâng đỡ trong sáng" thì sao, có được không, có sai không? "Nâng đỡ" là khái niệm chỉ sự tác động ngoại lực vào một vật để dịch chuyển vật này lên vị trí cao hơn, và vẫn phải tiếp tục tác động ngoại lực để vật này không rơi xuống, nghiêng, đổ.

Theo nghĩa trên, trong công tác cán bộ nếu phải "nâng đỡ" mới có được cán bộ thì chúng ta sẽ tạo ra những cán bộ "dặt dẹo", không có năng lực để thực thi công vụ; mà phải giả dối, phải "chém gió", phải kiễng lên cho đúng tầm vị trí được nâng đỡ. Hậu quả là những "cán bộ cà kiễng" này sẽ làm cho bộ máy quản lý nhà nước kém hiệu quả, mất uy tín. Một hậu quả khác, cũng tất yếu theo quy luật nhân - quả, nhưng chỉ người "trong cuộc" mới thấm thía. Đó là "đứng kiễng chân thì không đứng được lâu".

"Đứng kiễng chân", như các cụ dạy, là khổ lắm, chẳng sướng đâu. Lúc nào cũng phải tính toán giấu dốt, diễn kịch, làm trò và lo lắng. Lo lắng đủ kiểu. Mà cái lo nhất là lo mất đi sự "nâng đỡ". Bởi để có thể "nâng đỡ" ai đó thì người "nâng đỡ" phải có quyền, có tiền. Nhưng quyền lực đến lúc nào đấy cũng mất đi, yếu đi, thường là tồn tại theo nhiệm kỳ; tiền cũng vậy, và không phải mọi trường hợp đồng tiền đều phát huy được sức mạnh vật chất của nó.

Vậy nên, khi sự "nâng đỡ" mất đi, các "cán bộ kiễng chân" thực sự lo sợ, lo không tìm được thế lực mới để "tầm gửi" thì "ngã ngựa" là kết cục. Vừa rồi hàng loạt cán bộ bị kỷ luật, cách tuột các chức vụ, thậm chí dính vòng lao lý, đã chứng minh điều đó. Tóm lại, "nâng đỡ" cho ai đó có chức, có quyền là hành vi sai trái đối với nhân dân và cả với người được "nâng đỡ". "Nâng đỡ" dù với tình cảm vô tư, không vụ lợi, thậm chí như vì con cái mà "hy sinh đời bố, củng cố đời con" thì suy cho cùng cũng không thể gọi là trong sáng được”.

Với họa sĩ LAP của báo Tuổi Trẻ Cười, anh vẽ tranh biếm liên hoàn - 1: “Nâng đỡ trong tối” là người đàn ông từ phía sau chui tọt vào váy cô gái đó; 2: “Nâng đỡ trong sáng” là người đàn ông đó cồng kênh cô gái đó ngồi trên vai và được cô xoa đầu; 3: “Nâng đỡ không trong sáng” là người đàn ông đó khom lưng cúi xuống, dưới chân có mấy cái vỏ ốc, trên vai lại cồng kênhngười đàn ông khác ôm chặt và thọc tay vào ngực cô gái đó. Bức tranh của LAP có nhiều comment, phổ biến  nhất vẫn là “kẻ ăn ốc người đổ vỏ”. Thế thì, cái nghĩa của “Nâng đỡ không trong sáng” là ở đó, chứ còn gì nữa.

Tạm ghi lại một vài sự kiện trong năm qua theo bình chọn của các trang mạng xã hội. Đại khái, chỉ lướt qua nhanh, chẳng hạn, Nhân dân của năm: Đồng Tâm; Người đi mây về gió của năm: Trịnh Xuân Thanh; Tiền lẻ của năm: BOT Cai Lậy; Nghề buôn phát đạt của năm: Buôn chổi đót xây biệt phủ;  Phát minh của năm: Cải cách tiếng Việt của PGS.TS Bùi Hiền; Cụm từ mới của năm: Nâng đỡ không trong sáng; Ca khúc của năm: Con đường xưa em đi; Hàng hóa đình đám của năm: Khaisilk; Câu nói của năm: Đám quần chúng không hiểu gì nhảy vào ném đá v.v…

Còn gì nữa không? Tất nhiên là còn. Tiện tay chép lại một đoạn ngắn trong bài báo Phụ huynh hốt hoảng vì không thể giải nổi đề lớp 2: “Một lần cô con gái lớp 2 mang về bài toán “có tất cả bao nhiêu số có 2 chữ số mà hiệu của hai chữ số đó bằng 6?”. Chị nói mình đã giảng hoài nhưng con vẫn không thể tự làm nên chép luôn cho con kết quả là 4 số (71, 82, 93, 60). Hôm sau đi học về, vừa bỏ cặp xuống bàn cô con gái la lớn “mẹ giảng cho con bài ấy sai rồi nhé. Cô con nói có 7 số kia (17, 71, 28, 82, 39, 93 và 60). Nói rồi con thắc mắc “sao số 17, số 28, số 39 lại đúng hả mẹ, số nhỏ đứng trước có trừ được cho số lớn đâu?”. Lúc này, chị mới hiểu ý của đề mà lúc trước chị cũng nhầm lẫn như thắc mắc của con nhưng để giảng cho một đứa bé 7 tuổi hiểu được vấn đề cũng chẳng hề đơn giản tí nào (nguồn: Trang điện tử Giáo dục Việt Nam ngày 17.12.2017).

Bài toán của học trò lớp 2 đấy.

“Con cái chúng ta giỏi thật”, đâu phải mỗi nhà văn Azit Nezin thốt lên câu này.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 16.12.2017



NGOIBUIONVECHOICHO_BVUI_6R

 

Chân trong chân ngoài”, thành ngữ này ngụ ý điều gì? Anh chàng nọ vốn “anh hùng râu quặp” bị cô vợ chì chiết: “Anh dạo này coi mòi đã “Chân trong chân ngoài”, đã thế, “chân ngoài” lại dài hơn “chân trong”. Liệu hồn đấy”. Chỉ cần nge câu ấy, gã Thúc Sinh nọ đã hoảng hốt, hồn xiêu phách lạc. Bởi vì rằng, chuyện léng phéng với “phở” đã bị “cơm” phát giác. Lại nữa, sếp cơ quan nọ phê bình nhân viên nọ: “Ăn cây nào rào cây ấy. Chớ có chân trong chân ngoài đấy nhá”. Đích thị sếp cằn nhằn việc chạy show, làm ăn thêm bên ngoài.

Y có “Chân trong chân ngoài”? Có, chứ sao không. Thỉnh thoảng vẫn viết cộng tác với nhiều tờ báo khác. Gần đây, từ nhiều năm mỗi tuần phải nghĩ ra một tình huống về tình yêu, hôn nhân gia đình. Viết ròng rã, liên tục. Nhờ thế sau này mới có các tập sách như Tôi và đàn bà, Gái đẹp trong tôi, Tình éo le mà lý oái oăm, Khi tổ ấm nhảy Lambada, Thật tuyệt tình ta thôi trúc trắc… Cơ quan ấy, thỉnh thoảng y vẫn đến lấy báo biếu, ký nhận nhuận bút. Từ phòng khách nhìn ra sân đã thấy cây khế, đến mùa thì hoa nở tím, rụng đầy sân. Tự dưng có cảm tình, gần gũi.

Mới đây, ghé lại, đã khác. Cơ quan ấy, dãy nhà một tầng ấy đã cho thuê bán cà phê. Ban bệ phòng ốc dành cho trị sự, phóng viên thu gọn lại về phía sau, đi cổng ngang hông. Tức là tòa soạn thu hẹp lại đến mức có thể “Để kiếm thêm tiền nuôi quân”, anh bạn phụ trách nơi ấy cho biết. Nói cách khác, làm báo bây giờ khó có thể sống bằng nghề báo, bán báo, phải kiếm thêm nguồn thu khác. Đã qua rồi cái thời nhà báo được trọng vọng, ăn trên ngồi trốc.

Còn nhớ thuở ấy, có những cuộc họp báo đôi lúc trễ giờ, không tiến hành đúng thời gian đã ấn định chỉ vì phóng viên thuộc báo của cơ quan Đảng bộ, đài truyền hình chưa vác xác đến. Còn nhớ thuở ấy, nhất là ngoài Hà Nội một khi tổ chức sự kiện long trọng gì, trong phần quà biếu đại biểu bao giờ cũng kèm theo tờ Nhân dân, trong đó có đăng bài viết về đơn vị đó. Qua đó thấy rằng, sự có mặt của những tờ báo trên, chính là “nhãn hiệu cầu chứng tại toàn”  - như cách nói quen thuộc của người miền Nam trước đây.    

Thời ấy, đã qua rồi.

Các trang mạng xã hội đã làm nên một sự thay đổi kỳ diệu. Phân tích chuyện này dài dòng lắm, chi bằng phớt lờ quách. Chỉ biết rằng, trước kia mọi việc phải cần đến báo chí chính thống lên tiếng, muốn được thế còn phải chờ nhà báo sàng lọc, chọn lọc, nhìn trước ngó sau, cân nhắc mọi bề; nay không nhất thiết. Ai cũng bình đẳng trong việc công bố thông tin, kể cả tin bịa đặt. Đã có lắm sự kiện rình rang trên báo chí, chính là “ăn theo” từ nguồn tin đã được công bố trước nhất trên các trang mạng xã hội. Ông/bà nhà báo chuyên nghiệp được cấp thẻ dù muốn dù không đần dần cũng ngang cơ với nhà báo tay ngang, độc giả trong việc sở hữu/ tìm kiếm/công bố thông tin.

Đừng nói đâu xa, có phải trước đây các đồng nghiệp của y nếu buổi sáng không cầm lấy tờ báo mới, cảm thấy thiếu sót, áy náy, không yên tâm. Phải tìm đọc cho bằng được. Nay, có hoặc không của một/ nhiều tờ báo chẳng gì quan trọng. Chỉ cần cầm cái điện thoại là xong tất. Tha hồ đọc/xem/ nghe thời sự đang diễn ra từng giờ, chứ chưa nói đến từng ngày. Điều này có nghĩa các nhà báo với cách làm báo truyền thống đang đứng nguy cơ… viêm màng túi. Tiền lương ngày một ít dần. Thu nhập ngày càng bèo. Số lượng in mỗi kỳ ngày một teo tóp dần.

Đôi lúc y tự an ủi, dù gì mình cũng đã sắp nghỉ hưu rồi, sắp rời khỏi cuộc chơi ngày càng thoái trào. Dù cố gắng đến mấy, thú thật cũng không thể tác nghiệp vụ nhanh chóng bằng cánh nhà báo trẻ. Cách viết đã khác. Thu thập thông tin đã khác. Ngày trước, trong cơ quan y đã từng cãi nhau chí chóe rằng, một khi đi tác nghiệp có cần phóng viên ảnh đi theo chụp hình hay không? Tùy mỗi bao có quy định riêng. Nay, cánh nhà báo trẻ không thèm quan tâm chuyện đó nữa. Không chỉ chụp hình mà họ còn quay phim, dựng thành các clip, đoạn phim ngắn minh họa cho các bài viết. Dụng cụ ấy có gì? Chỉ cần cái điện thoại là xong. Thế thì, đồng nghiệp thế hệ y còn biết kiếm cơm bằng cách nữa hả trời?

Viết đến đây sực nhớ không biết dạo này sức khỏe anh P ra sao.  Nhớ vì  thời mới tấp tễnh vào nghề báo, y có theo học lớp đào tạo nghiệp vụ do báo Tuổi Trẻ tổ chức. Lần nọ, anh P có kể lại kỷ niệm đáng nhớ nhất của anh. Qua đó, có thể thấy nhà báo oách như ông trời con. Rằng, theo sự phân công của ban biên tập, từ thủ đô anh đi về xã nọ, huyện nọ tìm hiểu để viết bài về mô hình hợp tác xã đang phát triển. Lúc đến nơi, các ông bà trong ủy ban nhân dân nọ thấy anh trẻ quá, mặt mũi non chẹt nên ơ thờ, không tiếp đón chu đáo, anh cáu lắm. Sau đợt thâm nhập thực tế ấy, anh về méc với tổng biên tập về thái độ xem thường vai trò của báo thuộc Đảng bộ. Chuyện gì xẩy ra? Tay tổng biên tập quyết định không tuyên truyền cho xã nọ trong vòng sáu tháng! Thế mới biết, báo chí thời bao cấp đó ghê gớm lắm, chớ có giỡn mặt.

Thời ấy, đã qua rồi.

Mấy hôm nay, vẫn còn bàn tán trên báo chí, trang mạng xã hội về nội tình vấn đề vừa xẩy ra đã khiến y ca thán: “Thế thì, bao nhiêu năm các con em chúng ta đã được học hành, học tập từ các bậc nhà giáo uyên bác và  đáng kính ấy?” (Nhật ký 14.12.2017). Bài báo Đề thi bế tắc, đọc thấy thất kinh là một thí dụ, có đoạn: “Vì sao chọn Chi Pu vào đề thi? Bản thân cái tên "Chi Pu" - dù mỗi cá nhân có quyền đặt "nghệ danh" cho mình - đã thấy lợn cợn, tối nghĩa. Về tên tuổi "ca sĩ" này cũng chưa đủ "trọng lượng" để người ta biết tới và để tâm. Mà phải chi chuyện Chi Pu và các đồng nghiệp là chuyện đẹp đẽ, đáng noi theo. Đó là chuyện xấu, vì hiềm khích mà công kích, miệt thị nhau. Có hay ho gì mà đưa vào đề thi? Có hay ho gì mà bắt học sinh phải hóa thân vào và viết tự sự?

Nên nhớ, thi cử là một hoạt động quan trọng của giáo dục. Đề thi là công cụ, là ngữ liệu của giáo dục. Văn học là nhân học. Nhân vật và câu chuyện trong thế giới văn chương thường có sức mạnh sai khiến người ta. Thế giới showbiz vốn lắm thị phi, điều tiếng, thực tế cho thấy đã gieo vào đầu óc giới trẻ mặt trái nhiều hơn tiếng lành. Vì thế, chọn một câu chuyện lùm xùm trong giới giải trí, chọn một cá nhân như Chi Pu vào đề Ngữ văn là một sự ấu trĩ, lố bịch, phi giáo dục. Còn có bao nhiêu chuyện khác tử tế hơn, phạm vi tỏa rộng hơn, sâu sắc và nhân văn hơn, sao không chọn? Những người ra đề đừng vin vào yếu tố "thời sự" để thể hiện sự ngây ngô và bế tắc của mình.

Sốc không kém là Trường THPT chuyên Nguyễn Huệ (Hà Nội) yêu cầu học sinh viết cảm nhận về đề xuất cải tiến tiếng Việt "gây bão" vừa qua của PGS-TS Bùi Hiền. Nội dung này có trong đề thi môn Ngữ văn lớp 12, thi học kỳ I vừa diễn ra. Một trường chuyên khác, ở Hà Nội, cũng đưa câu hỏi tương tự vào đề, chiếm đến 7.0 điểm! Những em học sinh khối 12 mới 18 tuổi thì làm sao đủ kiến thức về ngôn ngữ và trình độ, tư duy khoa học để mà đánh giá? Thầy - cô các em có chắc là viết nổi không mà bảo các em viết? "Gài" đề kiểu đó có khác nào lái các em viết theo hướng dư luận như thời gian qua, thiên về công kích PGS-TS Bùi Hiền. Đó là chưa nói đến việc nhiều em không quan tâm hoặc không biết đến chuyện này. Như vậy là phản giáo dục, là triệt tiêu sáng tạo.

Đáng nói hơn, đó là việc làm thất lễ. PGS-TS Bùi Hiền đã 83 tuổi, từng là phó Hiệu trưởng ĐH Ngoại ngữ, dành nửa cuộc đời nghiên cứu tiếng Việt. Đề xuất của ông mới chỉ là bài tham luận in trong kỷ yếu hội thảo khoa học, dù có thể gây ý kiến bất đồng nhưng không vì thế mà phải đem ra để cho các em học sinh "hỉ mũi chưa sạch" phán xét. Đọc cái đề mà thấy thất kinh! Làm người ai làm thế?! Các em học sinh dẫu làm gì cũng không có lỗi. Lỗi bất kính thuộc về những người ra đề và duyệt đề - những người dạy dỗ các em kiến thức lẫn những bài học làm người (nguồn: báo Người lao động ngày 12.12.2017).

Mà đâu chỉ có thế.

Trước đây, các bậc phụ huynh cũng từng choáng với các đề thi đậm mùi showbiz. Chẳng hạn, bình về bài “hit” Em gái mưa của ca sĩ Hương Tràm; chỉ ra thông diệp trong bài hát Lạc trôi của Sơn Tùng M - T vớ những câu lảm nhảm: “Bâng khuâng mình ta lạc trôi giữa đời/ Ta lạc trôi giữa trời”, thậm chí ca sĩ này đau răng cũng vào đề thi! Ối dào, “nữ hoàng nợi y” Ngọc Trinh với câu nói thực dụng: “Yêu mà không có tiền thì cạp đất mà ăn à?”, rồi Ba Tưng cũng quá nhiều tai tiếng cũng nhảy xổm vào đề thi. Tội nghiệp các em.

Thi sĩ Tú Xương có đội mồ sống dậy, các nhà báo đến hỏi cảm tưởng ra sao ắt cụ lại thở dài: “Học trò chúng nó tội gì thế/ Để đến cho ông vớ được đầu?”. Nếu phỏng vấn y thì sao? Y xin nhắc lại câu kết của bài báo in báo Người lao động vừa nêu trên: “Bộ Giáo dục và Đào tạo cần sớm có ý kiến chỉ đạo về tình trạng ra đề phản tác dụng như vậy. Đưa chuyện thời sự vào đề thi là bổ ích nhưng không phải vì thế mà lạm dụng hay làm càn. Ngay cả người làm giáo dục mà không biết đâu là giá trị chân xác của giáo dục, thể hiện sự lố bịch trong việc ra đề thi (như đã nêu), thì xã hội này biết trông chờ vào ai, biết trông cậy vào đâu để tiến bộ, văn minh!”.

Câu hỏi này, chẳng mới mẻ gì. Thiên hạ đã gào lên nát nước nhưng rồi bốn phương vẫn lặng như tờ. Chỉ là đá ném ao bèo.

Riêng về chuyện cải cách chữ Quốc ngữ gây tranh cãi dữ dội trong dư luận, y đã viết và phát biểu nhiều về vấn đề này, tựu trung vẫn nhấn mạnh: Mọi can thiệp theo ý chủ quan của cơ quan quyền lực/ cá nhân nào, cuối cùng chỉ dẫn đến sự thất bại thảm hại. Hoàn toàn đống ý vơi ý kiến của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh khi trả lời trên báo Thể thao & Văn hóa ngày 11.12.2017: “Chữ viết gắn liền với ký ức, kỷ niệm, tình cảm của con người nên phải hết sức thận trọng nếu muốn thay đổi, chuẩn hóa, hoặc luật hóa nó. Đáp ứng được yêu cầu khoa học nhưng làm tổn thương đến tâm thức cộng đồng có khi lại là... không khoa học. Ngôn ngữ là những ký hiệu có tính quy ước, được vận hành dựa vào sự đồng thuận của đám đông nên có khi tính hợp lý phải lùi bước trước tập quán. Đó là chưa nói những thay đổi đó, việc luật hóa đó có thật sự hợp lý và có tính thuyết phục cao hay không”.

Và anh nhấn mạnh: “Theo tôi, những cải tiến đơn giản, tiện lợi và không gây nhiều xáo trộn đến sinh hoạt xã hội thì có thể làm được. Chẳng hạn trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, việc thêm các phụ âm như j, f, w, z... vào bảng chữ cái để người Việt, đặc biệt là trẻ em, có thể đọc, viết được những từ thông dụng như quần jean, nhạc jazz, wifi, lướt web, bánh pizza... là rất cần. Chữ viết là công cụ giao tiếp, diễn đạt, do đó tiêu chí hàng đầu là thuận tiện cho người sử dụng - cả người viết lẫn người đọc. Mọi cải tiến, luật hóa nếu đưa đến sự bất tiện sẽ khó được cộng đồng chấp nhận, vì vậy tính khả thi không cao. Hiện tượng này không chỉ chữ Việt mới gặp phải mà xảy ra ở nhiều ngôn ngữ trên thế giới”.

Tuy nhiên, ta phải thừa nhận rằng, từ hình thức ký âm từ Từ điển Việt - Bồ - La của Nhà truyền giáo Đắc Lộ (1651) đến Đại Nam quấc âm tự vị (1895) của Huình Tịnh Paulus Của đã có sự thay đổi. Rồi sau đó vẫn còn thay đổi,  Sự thay đổi này, do nhà từ điển ghi nhận từ cách viết/ lời ăn tiếng nói đã phổ biến và được chấp nhận trong cộng đồng. Nói cách khác, chính cộng đồng đã “cải cách” và dần dần trở nên thông dụng, chứ không từ một can thiệp nào có tính cách hành chánh.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 1 trong tổng số 52

trinhduyson