LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 16.5.2018

Le-Hoang-Muu-Ha-Huong-Phong-Nguyet-bia-5

 

Nói láo mà chơi nghe láo chơi

Giàn dưa lún phún hạt mưa rơi

Chuyện đời chán hẳn, không thèm nhắc

Thơ thẩn nghe ma đọc mấy lời

Tứ tuyệt của Vương Ngư Dương đề từ Liêu trai chí dị; bản dịch Tản Đà. Đôi lúc cũng nên như thế, phải là thế. Bồ Tùng Linh viết chuyện ma, âu cũng bàn về chuyện đời. Những ngày này, lật qua trang báo, leo lên mạng xã hội đã thấy những gì? Trả lời câu hỏi ấy, đôi lúc nín lặng rồi buông ra tiếng thở dài. Chẳng lẽ, cứ mãi đứng phía bên ngoài thời cuộc? Chẳng biết trả lời ra làm sao. Thôi thì nằm đọc sách.

Mấy hôm nay đọc Hà Hương phong nguyệt của nhà văn Lê Hoằng Mưu. Rồi nghĩ rằng: Trước đây, các nhà nghiên cứu đã chọn Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách là quyển tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam. Gần đây, cái nhìn đó đã có xu hướng thay đổi, thí dụ, nên chăng chọn Truyện thầy Larazo Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản thì hợp lý hơn? Rồi lại có ý kiến nên chọn Hà Hương phong nguyệt? Từ tháng 7.1912, Lê Hoằng Mưu đã cho đã in từng kỳ trên báo Nông cổ mín đàm, mãi đến năm 1914 mới lần đầu in thành sách. Lập tức, tác phẩm này gây chấn động dư luận. Cứ theo như tài liệu viết về cuộc tranh luận thì nó bị nhà cầm quyền thu hồi vì “dâm thư”, “góp phần làm hư thuần phong mỹ tục nước nhà”. Từ các cuộc bút chiến trên Công luận báoLục tỉnh tân văn từ năm 1923, trở về sau, khi bàn đến Hà Hương phong nguyệt, các nhà nghiên cứu đều xác định đó là lý do chính. 

Những ngày này, một trong những vấn đề thuộc về văn bản học đáng lưu ý, theo y vẫn là lần đầu tiên công bố trọn vẹn tác phẩm Hà Hương phong nguyệt (NXB Văn hóa Văn nghệ - 2018). Người có công tìm tòi ấy chính là nhà nghiên cứu Võ Văn Nhơn, đã tìm ra văn bản in cách đây đúng 105 năm. Tập sách dày gần 500 trang in, cứ mỗi ngày đọc nhẩn nha để lý giải xem vì sao thời ấy, nó đã bị thu hồi?

Ơ này, một quyển sách đã ra đời từ đầu thế kỷ trước, nay ngồi bàn vì lý do nó bị thu hồi há chẳng phải là kẻ ngớ ngẫn ư? Nghĩ thế, y bèn lảng qua chuyện khác. Chuyện gì? Rằng, nếu Hà Hương phong nguyệt bị thu hồi vì lý do “dâm thư”, vậy hãy xem nhà văn Lê Hoằng Mưu đã miêu tả các pha hấp dẫn ấy như thế nào? Hay đấy! Thú vị đấy! Ít ra cũng có thể biết, cái chuyện phòng the kín đáo này đã được diễn tả bằng ngôn từ văn chương ra làm sao. Diễn ra làm sao mà dư luận đương thời lên án dữ dội?

Muốn có một ý kiến gì về quyển sách nào, hãy đọc, chứ không thể ăn theo nói leo, nghe hơi nồi chõ. Thí dụ lúc đêm thanh vắng, vợ chồng gặp lại nhau sau những ngày xa cách: “Hà Hương thêm núng má hồng, Nghĩa Hữu càng trông càng khoái. Thương quá nên hóa dại, Hữu không nói được một lời, ôm vợ mà hun như bướm lại với hoa, nhan sắc thiệt mặn mà! Hữu uống nước lao canh mà càng khát”. Chỉ có thế. Liệu có là “dâm thư”?

Lúc thầy Đề lẻn vào phòng Nguyệt Ba: “Dong mây mưa cho phỉ khát khao, xắn tay vô mở cửa động đào, cho bướm bạc liệng vào nút nhụy. Tội nghiệp cho Nguyệt Ba! Mấy đêm chẵn mắt không ngưng lụy, thêm đàng dài nghỉ mệt mê man, bởi vậy cho nên, bướm ong bay đáo lại nghinh ngang, nào khác vườn hoang hoa bạ. Quả là nồi nhỏ khôn vừa vung cả, tiểu thuyền mà thả ra khơi, gió dập sóng dồi ắt rã. Vừa tỉnh giấc thấy đâu người lạ, kề bên mình thân đã lõa lồ, Nguyệt Ba hổ mặt muốn hô, chợt nhìn lại mình cô cũng vậy”. Cô sẽ khóc? Tất nhiên. “Thầy Đề liền bước lại gần kề, vói níu nhành huê mà bẻ. Miệng nói tợ kiết ma đọc kệ, tay lần như thầy bói lần song, nguyệt hoa hoa nguyệt não nồng, đêm xuân khó cầm lòng cha chả”. Chỉ có thế. Liệu có là “dâm thư”?

Và đây nữa, lúc chú Bảy người Chà Và chung chạ với Hà Hương: “Chú Bảy làm tợ như cửu hạn phùng cam vũ, khác nào bằng điểu ngộ lam phong, Hương thì khổ như thuyền bị sóng giữa dòng, chặc lưỡi rên là dường như sấm”. Chỉ có thế. Liệu có là “dâm thư”?

Nhìn chung, những cảnh giường chiếu chỉ táo bạo đến cỡ đó là cùng, thế nhưng thời ấy, thiên hạ đã phản ứng ầm ầm, liệu có đúng như các bài báo bút chiến thời ấy đã phê phán?

Lý do thu hồi, nhà nghiên cứu Võ Văn Nhơn phân tích chuẩn xác hơn: “Việc đưa một nhân vật phản diện làm nhân vật chính, tô đậm những sắc thái của một thứ tình yêu quay lưng với đạo lý, chạy theo những hấp dẫn của xác thịt thuần túy, là nguyên nhân chính khiến cho Hà Hương phong nguyệt bị dư luận lên án mạnh mẽ. Nàng Hà Hương xinh đẹp, còn biết làm thơ nhưng không phải là nhân vật lý tưởng như trong truyền thống mà lại mang rất nhiều tính xấu: đua đòi, cờ bạc, lợi dụng nhan sắc của mình để quyến rũ đàn ông. Kiểu nhân vật biểu tượng cho sự cám dỗ của sắc dục này chưa hề có trong văn học truyền thống. Tác phẩm của ông bị lên án vì đã chuyển tải một quan niệm không truyền thống về tình yêu, luân lý trong thời điểm nhân dân Nam bộ cần cổ súy cho đạo đức truyền thống, cho tình yêu nước để có sức mạnh chiến đấu với giặc ngoại xâm hơn là những tình cảm cá nhân ngang trái, buông thả”.

Qua các pha hấp dẫn vừa nêu trên, cũng là phong cách nhất quán của của Lê Hoằng Mưu. Theo y, phong cách ấy, gọi chính xác nhất vẫn là truyện thơ, một sự nối dài của truyện thơ nôm khuyết danh Lâm tuyền kỳ ngộ, Phạm Công - Cúc Hoa, Chàng Chuối tân truyện, Thạch Sanh, Lưu nữ tướng… Có khác chăng, là hình thức biểu hiện của từng câu thơ không xuống dòng đấy thôi. Do lẽ đó, y không đồng ý khi cho rằng đây là tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam, có thể “soán ngôi” Tố Tâm như các ông Bằng Giang, Bình Nguyên Lộc, Võ Văn Nhơn… đã khẳng định.

Mà thôi, ấy là chuyện của các nhà nghiên cứu học, còn y, bất quá chỉ là người làm người ham đọc sách mà lộng ngôn đấy thôi. Chấp làm gì. Hãy cứ để y bàn tiếp tục bàn chuyện gối chăn như Hà Hương phong nguyệt, có phải tốt hơn không? Thì cứ tiếp tục đi. Nào ai có nói gì đâu. Được lời như cởi tấm lòng, y hứng chí và nhớ lại đã đọc mẩu chuyện này: Trong kháng chiến chống Pháp, có một lần đi thực tế lấy cảm hứng sáng tác, nhà thơ Xuân Diệu đã chứng kiến một pha đối đáp cực kỳ có văn hóa. Khoái quá! Về sau, nhà thơ có ghi lại trong một tập tiểu luận văn học của ông.

Lúc ấy, trời ngã về chiều, mọi người đang đứng bên bến đò để chờ đưa qua sông. Giây lát sau, cô lái đò cập thuyền vào bến. Vì cô có nhan sắc, dễ nhìn nên một câu học trò láu lĩnh đã buông lời trêu chọc: “Hoa kia tươi tốt rườm rà/ Tuy rằng tươi tốt nhưng mà ong châm”. Mọi người cười ồ lên. Nhà thơ Xuân Diệu cũng cười, nhưng ông lại hồi hộp vì không biết cô lái đò sẽ phản ứng ra sao? Vì “hoa tươi” mà bị “ong châm” ắt hoa héo, hương tàn, nhụy rữa! Đùa cợt với người phụ nữ như thế kể ra cũng hơi bị ác. Nhưng cứ thong thả như không, chờ cho mọi người lên thuyền, xong, cô lái đò đẩy sào ra khỏi bến và bắt đầu cất giọng... ngọt như mía lùi: “Hoa tàn nhưng nhụy không tàn/ Muốn xem chị vén bức màn cho xem”. Ba chữ “vén bức màn” quả đắc địa! Cậu học trò lúc ấy có lẽ phải... nhảy xuống sông cho đỡ thẹn chăng? Chi tiết này không nghe nhà thơ Xuân Diệu kể!

Cụ Vương Hồng Sển là người sưu tập đồ cổ rất nổi tiếng, không những thế, cụ còn viết khá nhiều sách khảo cứu rất có giá trị. Đọc sách của cụ, điều khiến ta thích thú là thỉnh thoảng bên cạnh những vấn đề cực kỳ nghiêm túc, cụ lại chêm vào những câu ba lơn rất dí dỏm, thú vị, giống như ăn bún bò Huế mà ớt cay xé lưỡi vậy!

Chẳng hạn, trong tập Tự vị tiếng Việt miền Nam (NXB Văn hóa Thông tin -1993), có một đoạn viết về “Câu hát xưa của vùng Ba Cụm, Chợ Đệm”: “Đệm sút vun, bàng vẫn là bàng/ Anh đi ghe ở bạn, chị ở nhà bịt cái răng vàng, đợi ai?”. Đó là câu hát của trai kia chọc gái, gái có chồng chèo ghe chài; gái ở nhà không thủ trinh. (“Vun” là cơi đắp lên, làm cho cái viền bao đệm thêm dày thêm; “bàng” là cọ bàng, dùng đan “đệm”, đan “bao” gọi  đệm bàng, bao bàng).

Câu này có nghĩa hay ho của nó, thế mà một hôm có một học giả quê ở Chợ Đệm, đi kháng chiến về là Bảy Trấn, đến đọc cho tôi nghe một câu như vầy, và bảo tôi nếu nhớ thì xin bổ túc: “Đệm ba đu, em còn chê chưa khéo”. Lúc đó tôi đành chịu bí, và nhớ đâu như vầy: “Đệm ba đu, em còn chê chưa khéo/ Chờ cho trăng lặn rồi, em đòi đắp xéo mới nghe”. Cố nhiên anh Trấn chưa chịu. Nay vỡ lẽ ra tôi mới rõ, có lẽ anh nghe thấp thố: “Đệm sút vun...” rồi người nào đó nói lái lại là “Đ... suốt đêm” nhớ ba chớp ba nháng thành ra “Đệm ba đu...” v.v... Ấy tiếng Việt ta ác ôn như thế, chứ danh từ “đu” là vô nghĩa và vẫn không có trong nghề đương dát. Câu này tôi chịu rằng tục, để hay không là quyền người in từ điển, còn tôi có nhiệm vụ lượm một tiếng xưa, thì phải ghi chép lại đây, vì có như vậy mới gọi là làm giàu cho tiếng nói” (tr.396).

Người Việt vốn thích đùa. Dầu là người của cửa Khổng sân Trình, đạo mạo là thế, nghiêm nghị là thế, nhưng các cụ nhà Nho cũng nghịch ra phết. Cụ Nguyễn Khuê (1825 - 1896) ở thôn Vân Sơn (Bình Định) vốn giỏi chữ nhất trong vùng, dạy dỗ bao nhiêu nhân tài cho xã hội. Cụ có làm bài thơ như sau: “Bốn phía trông chừng thấy chúng xa/ Hai tay khe khẽ trụt quần là// Gành ngao lún phún rêu mờ đá/ Bãi hạc lao xao sóng trổ hoa/ Kiến ngỡ mưa giông tha trứng chạy/ Cóc ngờ lụt ói cõng con ra/ Cũng vì méo mó nên che đậy/ Giữ nắng gìn mưa của mẹ cha”. Bài thơ tả... danh lam thắng cảnh nào đó hay tả mưa giông, lụt ói? Nhầm tất! Ấy là một sáng đẹp trời các văn nhân thi sĩ ngồi uống trà đàm đạo văn chương. Bỗng họ thấy từ hàng rào nhà hàng xóm có một yểu điệu thục nữ bước ra vườn, ngó quanh quất rồi ngồi xuống... tồ tồ! Chứng kiến cảnh ấy nên bậc túc nho Nguyễn Khuê ở thế kỷ XIX đã có bài thơ như trên!

Đã có “cái ấy” thì phải kể thêm “cái này” cho “hòa hợp âm dương vậy”. Đầu thế kỷ XX, thời Pháp thuộc, có viên Thừa phái và quan Thiếu bảo trong huyện Kiến Xương (Thái Bình) thích hát cô đầu, nhưng keo kiệt nên thường quên tiền “bo”. Để “sửa lưng” khách, một hôm cô đầu trẻ xin hát tặng một bài ‘hát nói”. Khi khách vừa nổi tiếng trống chầu rôm rã, cô đầu cất giọng”mưỡu” ngọt ngào: “Người ta đều gọi ông Thừa/ Mà em nhìn mãi chẳng thừa cái chi/ Cái thừa là cái chi chi/ Vứt đi là hết còn chi là thừa”.

“Tom chát tom...” vút lên như khen, như khích lệ giọng ca. Cô đầu chuyển qua “hát nói”: “Ông thừa gì thế?/ Bấy lâu nay ôm bế tiếng ông Thừa/ Em nhìn xem mặt mũi đều vừa/ Mà nhìn kỹ cái thừa đâu chẳng thấy/ Có phải cái thừa là “cái ấy”/ Thì đây này “cái thiếu” của em đây!/ Đem thừa kia bù với thiếu này/ Cho khít khịt từ nay vừa vặn cả”. Chỉ mới nghe đến đây, khách hứng chí “tom chát tom” và cười sảng khoái. Cô đầu bình tĩnh hát tiếp: “Ông Thừa vì vét tiền thiên hạ/ Cụ Thiếu càng ham của thế gian/ Thiếu Thừa âu cũng là quan”. Câu hát vừa dứt. Mặt khách đỏ bừng bừng nhưng cũng cố... nhoẻn một nụ cười!

Còn nhớ, năm xưa, y có mua được quyển Văn hóa làng Quỳ Chử (NXB Văn Học) của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trọng Miễn, chỉ in 500 bản. Làng này nằm cạnh quốc lộ 1 A và đường xe lửa Bắc Nam - cách thị xã Thanh Hóa 10 km về phía Bắc, có một bề dày văn hóa rất đáng nể. Xin chọn nhón một mẩu chuyện này đã in trong sách: Trong làng có tay lý trưởng hách dịch chẳng may bị đau răng, thường chửi quàng, chưởi bậy làm điếc tai làng xóm. Bữa ấy, cụ Cử Quỳ, đang tiếp khách văn nhân tao nhã mà cứ nghe những “lời có cánh” ấy, cụ bực mình lắm. Để dạy cho lý trưởng một bài học, cụ bèn viết câu đối, sai học trò sang dán trước nhà lý trưởng: “Thèm ăn, răng đã lung lay rụng/ Chán đ..., cu còn lủng lẳng đeo”. Chỉ có mấy chữ mà từ đó về sau, dù đau răng, nhức buốt nhưng tay lý trưởng đó cũng phải ngậm tăm, không dám há mồm chửi tục nữa!

Đấy! Ông cha ta cười cũng “độc”, phải không?


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 2.5.2018

 

anh-nghia-pham-le-minh-quoc

Lê Minh Quốc - Nghĩa Phạm chụp khoảng năm 2000 tại nhà riêng


Lại vừa đi Đà Nẵng về. Lần đầu tiên lên chơi chùa Linh Ứng tại Sơn Chà. Ngày lễ, người đi như trẫy hội. Trưa nắng. Đứng trên núi nhìn về khơi xa. Tưởng chừng như còn nghe tiếng sóng vỗ. Sóng vỗ trong lòng. Kỷ niệm cũ ùa về. Tất cả đã cũ. Lãng quên. Chỉ còn lại “Bạch vân thiên tải không du du”? Ngàn năm mây trắng trên đầu còn bay. Không đâu. Những hình bóng đã qua dù gì đi nữa cũng đã là là một phần đời sống của dĩ vãng. Làm sao có thể phủ nhận? Làm sao có thể lãng quên đi một mùa son phấn trong một ngày lãng du? Ừ, cứ cho là thế. Nhưng rồi mỗi người lại có một mối quan tâm khác. Một đường đi. Một nẽo về. Phải vậy thôi.

Lại nhớ đến câu thơ ngẫu hứng của bạn thơ Trương Nam Hương đã đọc trong ngày họp mặt gia đình. Một tiếng thơ hòa tan trong sóng gió bên một bến sông, nơi ấy, y đã từng bơi lội thời còn đi học. “Tình yêu lộng lẫy sông Hàn/ Đêm nay trăng mật trên làn da nhau/ Trái tim hòa nhịp hồng cầu/ Một nhà thơ nữa bắt đầu hoài thai”. Thơ tặng cho nhau. Tình bạn. Làm sao quên? Câu thư tư đã ngụ ý gì? Lúc nghe thơ tặng, y đã nhớ lại câu thơ đã viết tặng bạn từ năm 1990, lúc nhìn bạn ru con: "...Như là vượt núi trèo non/ Ru con - tôi đã già hơn mấy lần/ Cảm thông là tiếng chim ngân/ Cùng ru con có một vầng trăng kia/ Ngủ đi con. Đêm đã khuya".

Những lúc về quê, một trong những điều thích thú nhất vẫn là món ăn. Món ăn quan trọng lắm. Tất nhiên rồi. Không cần phải dài dòng cà kê dê ngỗng làm gì. Chỉ xin nói thêm rằng, món ăn còn đóng vai trò nhịp cầu gắn kết của tình hữu nghị. Những ngày này, sự kiện về cuộc họp thương đỉnh liên Triều tại Bàn Môn Điếm đang được cả thế giới quan tâm. Tò mò hỏi rằng, dịp đó, họ sẽ ăn những món gì? Căn cứ vào nguồn tin của hãng thông tấn Reuters, báo Thanh Niên ngày 24.4.2018 cho biết: “Cụ thể, món rosti Thụy Sĩ (khoai tây bào chiên) sẽ xuất hiện trên bàn tiệc để phục vụ ông Kim. Theo Nhà Xanh, món ăn được chọn như một sự gợi nhớ về thời thơ ấu ông Kim từng sống tại Thụy Sĩ. Trên thực tế, Triều Tiên chưa bao giờ xác nhận thông tin lãnh đạo Kim từng học tập ở Thụy Sĩ, nhưng nhiều bạn học cũ và giáo viên khẳng định điều này. Cũng trong thực đơn, món John Dory nướng, làm từ cá Dory sẽ dành cho Tổng thống Moon nhớ về tuổi thơ ở thành phố cảng Busan.

Ngoài ra, món mì lạnh kiểu Bình Nhưỡng, hay còn gọi là naengmyeon, cũng được phục vụ trên bàn tiệc thượng đỉnh. Nhà Xanh cho biết đây Tổng thống Moon đã đề nghị món mì này từ tiệm Okryu Gwan, nhà hàng nổi tiếng của Triều Tiên, và phía Bình Nhưỡng đã đồng ý. Món ăn đặc biệt sẽ được đích thân bếp trưởng của Okryu Gwan tới Bàn Môn Điếm làm.

Hai nhà lãnh đạo cũng sẽ được thưởng thức rượu làm từ đỗ quyên. Bên cạnh đó, trên bàn tiệc cũng phục vụ rượu munbaeju truyền thống, vốn bắt nguồn từ miền Bắc nhưng giờ rất nổi tiếng ở Seoul”.

Nhân đây lại nhớ, vào khoảng tháng 11 năm 2017, khi Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in chủ trì đãi người đồng cấp Mỹ Donald Trump trong cuộc gặp chính thức tại Seoul, AFP cho biết, trong thực đơn có món sườn bò. Vấn đề thiên hạ quan tâm vẫn là ở chỗ miếng sườn bò ấy, có rưới nước sốt gì? Thưa, nước sốt làm từ món tương 360 năm tuổi. “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét”. Không rõ, kỹ thuật làm tương Bần của nước Nam ta và Hàn Quốc trong tương đồng có gì dị biệt?  

Thử hỏi, vì sao lại Hàn Quốc đãi cả “món tương 360 năm tuổi”? Đơn giản chỉ vì rằng món tương này làm từ năm 1657, là năm sinh của một trong những vị cha già của nước Mỹ là Benjamin Franklin. Thế thì mọi việc không hề ngẫu nhiên mà đã khái quát được sự tinh tế trong nghệ thuật ngoại giao, từ thức ăn đấy chứ?

Với y, một trong những khoái trá của lúc về quê vẫn lên đèo Le, nơi ấy nổi tiếng với món gà luộc. “Quảng Nam ta có đèo Le/ Bà con ta nói cứ đè mà leo”. Lại nhớ, thời còn trai trẻ, chưa hết xí quách, còn sung, nhà thơ trào phúng Cung Văn lên chơi nơi này đã ngẫu hứng nghĩ ra vế đối cực kỳ ba trợn: “Lên đèo Le, đá đứng leo/ Xuống dốc Dựng, chưn đừng nới”. Chưn là chân, phát âm theo kiểu Quảng Nam hay cãi. Không chỉ hay cãi mà còn biết nói lái một cách tài tình nữa. Mà hầu như người dân vùng miền nào cũng biết nói lái.

Rằng, ở xứ Nghệ có anh chàng nọ làm nghề phá núi, lấy đá. Ngày nọ, cũng theo bạn bè đi hát ví, anh chàng mới thò mặt đến, có cô nàng trêu:

Đố ai đội đá vá trời

Ai chôn con nuôi mẹ, ai khóc trời cho măng lên?

Chữ nghĩa không bao nhiêu, lại không đọc Nhị thập tứ hiếu nên anh chàng ngắc ngứ. Không trả lời được. Cáu ba xương sườn, nhưng đành chịu. Trong lúc bí rị, sượng trân, anh chàng bực mình buột miệng:

Sự đâu có sự lạ đời

Đá em leo thì có, đá vá trời có đâu?

Ai nấy cười rần rần. Khen ngợi câu đối lại quá tài tình. Còn cô nàng đỏ bừng mặt vì ba chữ tuyệt hay “đá em leo” mới... ý vị làm sao! Đấy! Cười với chữ với nghĩa như thế mới thâm trầm!

Đá là đá. Nhưng đá đi chung với vàng trở thành “đá vàng” lại hàm nghĩa khác. Truyện thơ Nôm Ngọc Kiều Lê do Lý Văn Phức chuyển thể từ tiểu thuyết chương hồi cùng tên của Trung Quốc có câu: “Đá vàng đá tạc một lời/ Cầm bằng đá nát vàng phai cũng liều”.  Sực nhớ đến câu hát ví cũng ở xứ Nghệ, rằng, có một vị quan lớn về hưu, dù tuổi cao sức yếu nhưng còn ham vui, thường chỉ đứng sau “gà” cho các o phường vải. Ngày nọ, biết có đám bạn phường rèn kéo đến, ông ta “gà”:

Một lời vàng đá chi chi

Mặc ai thì thụt, thụt thì mặc ai

Câu này nói lên được động tác của nghề rèn. Biết vị quan lớn “gà” cho câu oái oăm quá, đám thợ rèn bèn “láu cá”:

Một quan thì vẫn chưa dài

Còn đây thì thụt kiếm vài ba quan!

Câu hát đối lại ác quá. Ác ở chỗ tráo nghĩa của chữ “quan” và “thì thụt”.

Hãy trở lại với món gà đèo Le khét tiếng là ngon. Dù món ăn quen thuộc nhưng cái ngon của nó chính là ở sự chế biến. Nghĩ thế, bởi từng tự tay làm bếp nhưng rồi chính y cũng phát ngấy lên. Không hề gợi lên một sự thèm thuồng nào. Tại sao? Y hoàn toàn không biết cách nấu nướng. Làm thơ cũng vậy thôi. Phải biết sử dụng các con chữ điêu luyện như tay đầu bếp lúc xử lý các nguyên liệu. Họ thừa sức biết, món gì sẽ cần các loại gia vị gì để cuối cùng đạt đến sự khoái khẩu. Nhà thơ cũng chẳng khác gì khi quan sát, tìm tòi từ các con chữ.

Mà các con chữ đôi lúc cũng oái ăm quá đi mất. Chẳng hạn, tục ngữ có câu: “Vắng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm”; vế sau còn có dị bản “gà vọc niêu tôm/ gà vọc niêu cơm”. Lâu nay đã có nhiều tranh luận chán chê, mới đây nhất, khi bàn về tục ngữ này, nhà nghiên cứu An Chi cho rằng: “chuyện tranh cãi có vẻ như vẫn… chưa đến hồi kết” (Báo Thanh Niên ngày 22.4.2018). Xem ra, để hiểu lời ăn tiếng nói từ ngàn xưa để lại, quả không  dễ chút nào.

Trước hết, cần bàn về từ “vọc”, có phải đó là tính cách của “Con gà tục tác lá chanh?”. Theo Việt Nam từ điển (1931): “Vọc: Vầy, mó”. Hiểu theo nghĩa này, ta có các câu cửa miệng “Hoài hồng ngâm cho chuột vọc, hoài hạt ngọc cho ngâu vầy”. Động tác vọc, Tự điển Việt Nam (1971) bổ sung: “Đá động, thò tay vào, vầy mó, nặn bóp cho sướng tay”. ”. Phương ngữ Nam bộ (2014) của Nam Chi Bùi Thanh Kiên cũng giải thích: “Thò tay vào trong mà mằn mò rờ bóp cho sướng tay”. Lại nhớ đến câu ca dao: “Ngồi buồn vọc nước giỡn trăng/ Nước xao, trăng lặn buồn chăng hỡi buồn?”.

Động tác vọc là vậy. Đã bao giờ, có ai nghe đến gà vọc? Cũng nói về lúc chủ vắng nhà, ai lại không nhớ đến câu: “Vắng chủ nhà gà bươi bếp”?  Bươi là bới, là vạch ra, moi ra, lật, xáo từ dưới lên để tìm kiếm vật nào đó bị khuất ở dưới. Thời trẻ đi học, cô cậu nào chữ viết xấu quá, thầy cô thường chê: “Chữ viết như gà bươi”. Lại còn có câu vè nói ngược: “Gà cồ hay ủi/ Heo nái hay bươi/ Nước kém ba mươi/ Mồng mười nước dẫy”. Thế thì gà vọc là vọc ra làm sao?

Hơn nữa đâu phải lúc nào cái “niêu cơm/ niêu tôm” ấy, chủ nhà cũng để hớ hênh, quên đậy nắp khiến con gà có thể dễ dàng vọc? Ừ, cứ cho là gà có động tác vọc đi nữa nhưng cớ sao, con gà chỉ vọc “niêu cơm/ niêu tôm” chứ không vọc gì khác? Một câu thành ngữ/ tục ngữ ra đời thì nó phải có sức khái quát, phổ biến và hợp lý trong mọi tình huống.

Từ những dị bản nêu trên, y cho rằng cách ghi nhận của Việt Nam từ điển (1931) hợp lý hơn cả: “Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”. Tại sao đuôi tôm? Bởi vì rằng, con tôm hay quẫy, búng, nhảy liên tục. Một khi nói “Hàng tôm hàng cá” ngoài nghĩa bóng “Nói năng hỗn xược, kích bác, kèn cựa nhau” (Thành ngữ tiếng Việt - NXB Khoa học Xã hội - 1978, tr.159), ta còn thấy rõ tính chất của sự quẫy động liên tục của tôm cá. Vì lẽ đó mới có câu so sánh “Mồm mép tép nhảy” là vậy. Mạnh ai nói, giành phần hơn về mình, nói không ráo mép, cái lưỡi liên tục cựa quậy đến… mỏi miệng. Thế thì, câu thành ngữ “Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”, có thể hiểu có lúc vắng chủ nhà/ người đứng đầu thì kẻ dưới tự tung tự tác, ngang ngược, quậy đầu này, phá đầu kia, tự ý làm những việc không phải phép.

Có ý kiến cho rằng: “Tình trạng vắng chủ nhà (thì cũng giống như) gà (giai đoạn) mọc đuôi tôm; và hiểu: Trẻ con phá phách nghịch ngợm nhất là lúc bố mẹ vắng nhà; gà con hiếu động, quấy phá nhất là lúc mọc đuôi tôm, tách mẹ (Báo Người lao động ngày 14.11.2015). Đâu phải đợi đến lúc “gà (giai đoạn) mọc đuôi tôm” mà ngay cả lúc còn “chíp hoi chanh cốm” nó đã có tính cách “Vắng chủ nhà gà bươi bếp” rồi kia mà!

Trở lại với từ “vọc”, nhân đây xin nói luôn, với người miền Trung, vọc còn có thể hiểu là phá, quấy. Khi giải thích như vậy, trong Sổ tay lời ăn tiếng nói Quảng Bình, nhà nghiên cứu Nguyễn Tú nêu thí dụ: “Cụ thật tội nghiệp, được một thằng con trai, nó đi theo bọn cờ bạc, rượu chè, cứ vài tháng lại về vọc cụ, chán lại bỏ đi” (tr.350); Tự điển Việt Nam (1971) còn ghi nhận hàm nghĩa “Lựa chọn nhiều lần: Vọc hết thúng trái cây”.

Nào có ai thấy ma hình thù nó ra làm sao nhưng rồi có những trường hợp, người ta vẫn tin do ma vọc. Chẳng hạn, thức ăn đã nấu chín, chưa hề có ai đụng đũa vào nhưng chỉ sau khoảng thời gian ngắn lại bị thiu, người ta cho rằng “ma vọc”. Không những thế, với những trái mít có nhiều dấu đen, không ăn được lại bị gọi “mít ma vọc”. Với người miền Nam thưở trước còn sử dụng cách nói làm vọc nhớt/ đánh vọc nhớt là làm không nên việc, đánh không đau như Đại Nam quấc âm tự vị (1895) đã cho biết.

Ngày tháng trôi qua nhanh. Có những câu nói cửa miệng ấy, theo thời gian đã chìm dần vào lãng quên. Từ mới lại xuất hiện. Đời người cũng chẳng khác gì. Thế hệ này đã tre già thì lại có sự nối tiếp của măng mọc. “Trái tim hòa nhịp hồng cầu/ Một nhà thơ nữa bắt đầu hoài thai”. Đó chính là ngày tháng của y đã từng bước bắt đầu. Và ngoài cửa sổ phòng văn mỗi ngày, nắng đã lên, mưa đã về và bắt đầu xum xuê hoa trái. Tạ ơn đời. Tạ ơn người. Ngày vui đang đến…

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 14.4.2018

 

ME-DA-DI-CHO-VE-3-Ranh-nay

Thời buổi này, trong một ngày, thử hỏi, có ai không leo lên mạng xã hội? Thế giới đó, hầu như đang thu hút sự quan tâm của rất nhiều người, khi cần tìm kiếm/ chia sẻ thông tin, thư giản, buôn dưa lê, chém gió… Chẳng việc gì phải bàn về chuyện này. Ai thích, leo lên. Bằng không, tụt xuống. Thoát ra ngoài.

Với y, những ngày này có 2 chuyện gây ầm ĩ nhất thuộc lãnh vực y đang quan tâm, vẫn là thơ và nghiên cứu về học thuật. Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay. Ai cũng cho mình là đúng. Kệ họ. Can cớ gì mình phải có ý kiến ý cò. Chỉ quan sát. Và giật mình nhận ra bây giờ, hầu như không còn là chuyện tranh luận. Chỉ là những tiếng nói mạt sát, mắng nhiếc sa sả, cứ như thể hàng tôm hàng cá ngoài chợ. Mà vẫn chưa khiếp bằng các comment hùa theo, luận tội tơi bời. Nện cho chết. Không thể ngóc đầu lên. Nhiểu nhại. Chế giễu. Phỉ báng. Đọc tranh luận còn là lúc qua các ý kiến khác nhau, người đọc thấu hiểu, sáng tỏ thêm một vấn đề nào đó. Nay, quyết là không. Chỉ là những lời rủa, mắng không khác gì đào đất mà chôn. Ai cũng cho mình có cái quyền luận tội/ kết tội người khác. Ngẫm ra, dành cho nhau một lời nói tốt đẹp sao mà khó quá. Khó tìm thấy qua các cuộc tranh luận trên mạng xã hội.

Mà thật ra, chuyện này chẳng có gì ghê gớm, chẳng đáng bận tâm. Còn có nhiều chuyện khác đáng quan tâm hơn. Chẳng hạn, mới vừa rồi dư luận báo chí “dậy sóng” với Ký ức Hội An - một chương trình nghệ thuật thực cảnh do ông Mai Soái Nguyên người Trung Quốc làm tổng đạo diễn. Thậm chí báo Văn Hóa - cơ quan chủ quản của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch còn đặt vấn đề: “Ký ức Hội An” hay “Uất ức Hội An”?

Trong bài báo này, có ghi lại phát biểu của nhà văn Trần Kỳ Trung: “Lần đầu tiên tôi thấy trên sân khấu người con gái Việt Nam mất hẳn mái tóc nuột nà, đen mượt mà thay vào đó là sợi dây lạ lùng, trông giống như đuôi sam của mấy ông quan triều Thanh mà tôi thấy trong phim Trung Quốc hay chiếu. Sao lại có sự “cách điệu” xuyên tạc những người phụ nữ Việt Nam đến như vậy. Đó là chưa kể những người được đóng vai cư dân Hội An toàn cởi trần, mặc quần thụng, đầu quấn khăn… giống y như người dân ở vùng Nội Mông (Trung Quốc). Còn nhiều chi tiết “lạ” trong “Ký ức Hội An” tôi không thể miêu tả hết, nhưng tôi có thể khẳng định rằng, “Ký ức Hội An” truyền đi một thông điệp về hình ảnh Trung Quốc, tinh thần Trung Quốc, biểu đạt tư tưởng Trung Quốc rất rõ ràng… Chỉ khi hình ảnh cuối cùng của “Ký ức Hội An”, họ kéo một mô hình chùa Cầu to gần bằng thật ra góc sân khấu cho mọi người chiêm ngưỡng. Lúc đó tôi mới nghĩ rằng, trên sân khấu họ đang nói về Hội An”.

Mà thật ra, chuyện này chẳng có gì ghê gớm, đáng bận tâm. Còn có nhiều chuyện khác đáng quan tâm hơn. Chẳng hạn, à, chẳng phải nên liệt kê ra làm gì. Vì sực nhớ đến mẩu câu nói của cụ Phan Châu Trinh. Lúc cụ kêu gọi các ông nhà nho hãy cắt tóc ngắn, ai nấy đều chần chừ, cụ bèn nói khích: “Nào! Thử ‘cúp’ đi có được không? Đừng nói là việc nhỏ; việc này mà các anh không làm được, tôi đố các anh còn làm được việc gì!”. Đúng thế, hễ cứ gặp việc/ chuyện gì cũng cho “nhỏ như con thỏ”, làm sao kham nổi việc lớn? 

Thời buổi này ngày nào cũng có chuyện cà chớn, nhố nhăng cả. Mà thôi. Chẳng việc gì phải suy nghĩ lăn tăn, vơ lấy vào người những gam màu nhăng nhố ấy. Mỗi ngày, tìm lấy một niềm vui. Có thể ảo tưởng. Có thể niềm vui sống. Tùy lựa chọn của mỗi người. Có người nhìn thấy hiện nay, “Việt Nam là cường quốc của thơ”; ngược lại có ý kiến “Việt Nam: "cường quốc" rượu bia, gánh nặng bệnh tật”. Nghe choáng chưa? Ai lại dám thốt ra câu nói liên quan đến bia bọt thế kia? Liệu có đáng tin cậy không? Sáng nay, tình cờ đọc báo Sức khỏe & đời sống - cơ quan ngôn luận của Bộ y tế, số ra ngày 14.4.2018 thấy thông tin rành rành như sau:

“Hiện chỉ số phát triển con người Việt Nam (HDI) đứng thứ 116/182 trên thế giới, nhưng chỉ số sử dụng rượu bia của Việt Nam đang đứng ở vị trí 29 trên thế giới. Tỉ lệ đó minh chứng Việt Nam đang là một cường quốc về sử dụng rượu, bia. Thông tin trên được đưa ra tại Hội thảo lấy ý kiến về Dự thảo Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia do Bộ Y tế và Tổ chức Y tế thế giới tổ chức ngày 13/4. Cũng tại hội thảo này, những con số về tỷ lệ sử dụng rượu, bia tại Việt Nam khiến nhiều người phải giật mình.

Phân tích bức tranh toàn cảnh về việc sử dụng rượu bia tại Việt Nam, bà Vũ Thị Minh Hạnh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách y tế, Bộ Y tế cho biết, hiện tỷ lệ sử dụng rượu, bia ngày càng tăng báo động. Năm 2017, sản lượng bia chạm mốc 4 tỷ lít, tăng 10,4% so với năm 2016 và bình quân mỗi người dân tiêu thụ 42 lít bia/năm. Sản lượng rượu thủ công năm 2016 đạt 188 triệu lít trong đó sản lượng rượu thủ công sản xuất nhằm mục đích kinh doanh được cấp phép năm 2016 là 32 triệu lít”.

Tại sao người Việt hiện nay đã, đang và sẽ tiếp tục phấn đấu trở thành đệ tử Lưu Linh?

Câu hỏi này, đặt ra bằng thừa. Các bộ óc uyên bác đã phân tích nát nước rồi. Nhắc lại làm chi, chỉ rườm lời. Có điều, y chưa nhận ra ý kiến nào cho rằng, biết đâu cái sự mê đắm bia rượu ấy còn do tác động từ… thơ! Nghe lạ tai quá phải không? Một khi thú vui nào đã được nâng lên tầm mỹ cảm bằng nghệ thuật ắt sẽ có tác động đến công chúng. Công chúng đón nhận lấy nó như một sự tao nhã, khác hẳn những thú vui khác. Và quên đi tác hại của nó. Rượu là một thí dụ. Thơ ca kim cổ xưa nay, một khi đã nói về rượu thì các thi nhân đã dành cho nó biết bao lời lẽ hoa mỹ, ca ngợi tót vời há chẳng phải đó sao? Với từ khóa “Thơ về rượu”, chỉ bằng một cú nhấp chuột, Google cho biết: “Khoảng 7.960.000 kết quả (0,35 giây)”. Khiếp chưa?

Dám đồ rằng, đã là người cầm bút, có lẽ không nhà thơ nào không một lần/ nhiều lần viết về rượu? Đúng không nào?

Dám đồ rằng, đã là người cắp sách đến trường, ai lại không từng nghe thầy cô giáo khuyên răn chớ nên uống rượu. Lời khuyên ấy ra làm sao? Đại khái cũng tựa như bài học trong Quốc văn giáo khoa thư: “Các anh hãy trông người kia đi ngoài đường. Mặt đỏ gay, mắt lờ đờ, quần áo xốc xếch, chân đi xiêu bên nọ, vẹo bên kia, múa chân múa tay, mồm nói lảm nhảm, chốc lại ngã chúi một cái. Lũ trẻ đi theo sau, reo cười chế nhạo. Thỉnh thoảng anh lại đứng lại, nói những chuyện gì ở đâu đâu. Người qua lại, trông thấy cũng phải tránh xa. Người ấy vừa ở hàng rượu ra. Chỉ tham mấy chén rượu mà thành ra say sưa, mất cả tư cách con người, có khi như là con vật vậy, thật là đáng khinh bỉ. Hỡi các anh, các anh đã trông thấy người say rượu như thế, thì nên lấy đó làm gương mà giữ mình”.

Thế rồi, khi đã lớn, đã trưởng thành, hỡi ôi, cậu học trò ngày xưa đã quên. Quên tuốt luốt. Cứ nốc tì tì. Thì y đó chứ ai.

Nhân nhớ về bài học Người say rượu vừa nêu trên, lại nhớ đến một bài học thuộc lòng khác. Anh bạn thơ Đỗ Trung Lai cho biết thời học cấp III (1965-1968) ở miền Bắc, đã học trong sách giáo khoa môn Văn: “Ban ngày quan lớn như thần/ Ban đêm quan lớn tần mần như ma/ Hai tay quan lớn gian tà/ Toa xoa cát phẩm, tay sà hạ chiêu”. Sách giảng rằng, đó là: “Ca dao chống phong kiến” (Báo Lao động cuối tuần số 15 từ ngày 13.4 đến 15.4.2018). Không rõ, nếu học trò cắc cớ hỏi cát phẩm, hạ chiêu là gì thì thầy/cô giáo sẽ trả lời ra làm sao?

Sắp đến, lại về Đà Nẵng. Ngày ấy, có bia rượu không? Ắt có. Mà có theo cách khác, chứ không phải tâm trạng của thời trẻ: “Tôi mường tượng dáng em về yểu điệu/ Lúc con sông bẽn lẽn áo vu quy/ Chim chóc ơi bay về đây uống rượu/ Chia sớt cùng tôi men đắng buổi chia ly/ Dốc nghiêng chai một lần như từ biệt/ Trăng mỡ màng loáng thoáng nước sông lên/ Tôi ảo giác tìm em trong ảo ảnh/ Ảo tưởng trăng gầy gương mặt giống như em”.

Dòng đời trôi đi mải miết. Chẳng mấy chốc mà già. Chẳng mấy chốc, mỏi gối chồn chân. Chẳng mấy chốc, con người ta chẳng còn ham hố gì nữa. Ngày tháng trôi qua, không bận tâm, không thèm đếm xỉa gì đến thời gian nữa. Ấy là chuyện của thiên hạ. Còn y, thời gian này chỉ mới bắt đầu. Nói như bồ tèo Đoàn Tuấn là y đang bắt đầu của một đời sống khác: “Mặc bao biến động cuộc đời/ Ngôi nhà yêu dấu tình người tỏa hương”.

Ghi nhớ nhé. Vâng, ạ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.4.2018

 


biatrebn-duobg-dai-hanh-phuc-1

 

Những ngày bận rộn, chộn rộn rồi cũng đi qua. Đã hoàn thành cái ngày mà trước kia, y đã từng hứa hẹn: “Tôi muốn lấy em làm vợ/ để dạy dỗ tôi nên người”. Một sám hối. Một thức tỉnh. Một cuộc lột xác. Một thay đổi lớn lao. Vâng, rất ghê gớm, cỡ như: “tôi chọn cho tôi duy nhất một cửa nhà/ để mỗi đêm bước vào tìm chỗ ngủ/ để từng đêm được nghe vợ dạy dỗ/ chuyện nợ nần và chuyện áo cơm/ chuyện phải về nhà trước lúc hoàng hôn/ chuyện đi ra đường không nhìn ngang liếc dọc/ chuyện ru con lúc nửa khuya chợt khóc/ chuyện ngày xưa... đay nghiến chuyện ngày nay/ từ gã đàn ông tôi hóa thành đứa con trai/ ngoan ngoãn lắng nghe lời em răn dạy”. Tưởng là thế. Nhưng rồi bong bóng bay lên trời. Bong bóng vỡ. Gẫy đổ. Những ngày vừa qua, y được trở lại với niềm mơ ước của thời thanh tân trẻ người non dạ.

Ngày hôm ấy, ngày 3.4.2018, ngồi tại nhà hàng Ái Huê tranh thủ lúc chờ quan khách đến chung vui, y đã trao đổi nội dung cùng Đoàn Tuấn để viết bài thơ. Một bài thơ có tựa giản dị Bắt đầu. Tất cả chỉ mới vừa bắt đầu. Trong hôn nhân không bao giờ tồn tại khái niệm sớm/muộn. Nó đến như một lẽ tất nhiên của số phận. Mọi sắp xếp, cố tình, chủ ý trước đây không là gì so với ngẫu nhiên của hiện tại. Ấy mới là sự ghê gớm kỳ diệu đã xẩy ra dưới gầm trời này. Chẳng một ai có thể biết trước. Thế rồi mọi việc diễn ra chỉn chu đến từng chi tiết, dẫu nhỏ nhất. Thế thì, đời sống của mỗi người đã có sự “lập trình” trước đó đấy chứ? Một khi đã đến, ắt không gì có thể thay đổi. Có thế, mọi việc mới hanh thông, tốt đẹp mà trước đó, dù có lên “kịch bản” chi tiết cũng không thể sánh bằng.

“Mừng em - mừng đến vu quy/ Từ đây ngày tháng tập đi bắt đầu/ Chung vui nối những nhịp cầu/ Đôi ta gắn kết bắt đầu cùng đi/ Mừng em - ngọn nắng xuân thì/ Vỗ về chăn gối nhu mì Liên Anh/ Mùa tình tuổi trẻ đang xanh/ Từng đêm giấc ngủ an lành có nhau/ Mừng em - mừng đến xưa sau/ Tượng hình sự sống dạt dào tinh khôi/ Niềm vui từ một vành nôi/ Từ đây đi, đứng, nằm ngồi… an nhiên/ Tạ ơn trời đất linh thiêng/ Ngày hôm nay đã chung riêng sum vầy/ Hạt mầm gìn giữ trong tay/ Từ nay hoa trái - từ nay nặng tình”.

Mừng em cũng là mừng cho chính y đấy thôi. Bởi vì rằng, đã hôn nhân chính là lúc hai người một bóng. Khi đưa thông tin này lên báo Thanh Niên, đồng nghiệp Lê Công Sơn đã nói hộ một điều rất quan trọng: “Nhà thơ Lê Minh Quốc cho biết: “Do mẹ tôi vừa mới mất ở Đà Nẵng nên đám cưới chỉ tổ chức một bữa tiệc đơn giản, độ khoảng 6 bàn trong gia đình và anh em trong nhà. Khi nào điều kiện cho phép, tôi sẽ có cuộc gặp gỡ khác hoành tráng dành riêng cho những bạn hữu. Vì vậy, nếu có thất lễ chưa mời được đông đủ thì mong những tình thân xa gần hãy lượng thứ cho vợ chồng tôi…”. Mọi người từ bi hỷ xả, không ai phàn nàn, cảm thông và chia sẻ, y lấy làm mừng. Lại nhớ  đến lúc bạn thơ Trương Nam Hương đã đọc ngẫu hứng trong ngày ấy: “Đêm nay, bạn hữu động phòng/ Có trăm em khóc động lòng đó nghe/ Cái phòng động, cái giường phê/ Gối chăn còn biết đê mê, huống người/ Đêm thơ hoa chúc - hai người/  Dìm nhau đến tận đỉnh trời khát khao”.

Trưa qua, một cuộc họp mặt nho nhỏ tại tòa soạn báo Phụ Nữ TP.HCM - một địa chỉ đã gắn bó từ lúc mới chân ướt chân ráo, còn nghênh ngang ngựa sắt đi săn tin, tập tễnh bước vào làng báo Sài Gòn. Thoáng đó, đã tròm trèm 30 năm rồi đó. Thời gian lướt qua nhanh, nhất là lúc ngoái lại về phía sau. Chẳng mấy chốc sắp đến tuổi cầm lấy quyển sổ hưu. Mà cũng là ngày tháng của Bắt đầu.

“Chung vui nối những nhịp cầu/ Đôi ta gắn kết bắt đầu cùng đi”. Một chân trời mới. Một niềm hân hoan mà trước đây chưa từng trải qua. Nay bắt đầu trải nghiệm. Và cứ như thế, mọi việc lại đi về phía trước. Đi về hoa trái. Đi về nặng tình. Đời người ư? Cuối cùng cũng là một bến đỗ. Một ý thức không gì thay đổi nữa: “duy nhất một cửa nhà/ để mỗi đêm bước vào tìm chỗ ngủ”.

Những ngày bận rộn, chộn rộn đã qua. Bây giờ mới có thể thu xếp lại cảm hứng một cách ngăn nắp, trật tự để trở lại với thú vui hằng ngày: viết. Đúng thế, chỉ có thể là viết. Viết như đã từng. Mà viết cũng là một cách để kiếm sống. Y có gì ngoài khả năng này? Chẳng có gì. Ngoài những con chữ. Và lấy làm niềm vui sống. Hôm nọ, trả lời phỏng vấn HTV, nói rằng, điều lớn lao nhất của một con người sống với niềm đam mê chữ nghĩa không phải là những tiếng vỗ tay, những bó hoa tươi thắm, những lời ngợi ca - những động viên đấy, rồi cũng đi qua, điều cần thiết nhất vẫn là tìm thấy niềm vui từ công việc lẻ loi, đơn độc mỗi ngày vẫn miệt mài. Trước đây, trên tập san Áo Trắng, đã trả lời bạn đọc rằng: “Viết cũng như chọn lấy một trò chơi thanh nhã. Có người thích chơi sách, chơi cây kiểng, chơi hòn non bộ, chơi đồ cổ v.v… thì sáng tác với tôi cũng là một cái thú như vậy. Miễn sao đừng làm phiền lòng vợ con, bà con láng giềng, chòm xóm, vì thú chơi của mình”.

Thật ra, văn chương chữ nghĩa không phải nhằm thỏa mãn một thú chơi nào đó. Đây là một cuộc lao động bền bĩ và nghiêm túc. Leo lên núi mỗi ngày. Tưởng lên đến đỉnh ư? Lại ngã lăn chiêng đèn cù. Rơi tuột xuống đất. Lại mò mẫm leo lên. Cứ thế, chẳng mấy chốc đời người trôi cái vèo. Tóc trắng như mây. Về bên này dốc của đời người. Biết là thế, may mắn thay, hạnh phúc thay, niềm vui của công việc nhọc nhằn này, với y, vẫn còn đây. Không thay đổi.

Sáng nay, thức dậy sớm. Sớm như mọi ngày đã có thể nhẫn nha ngồi đọc báo, bên ly cà phê - một thói quen đã mọc rễ, đã thâm căn cố đế từ thời tóc xanh. Dừng lại với một chi tiết vì cảm thấy lạ quá. Cơn cớ tại làm sao, một trò lừa đảo đã từng xuất hiện tại Việt Nam cừng hơn mươi năm trước nhưng nay vẫn còn có “đất sống”, vẫn còn có nhiều người nhẹ dạ sập bẫy. Cứ theo như báo Thanh Niên vừa đưa tin: 3 “phù thủy” lừa đảo tẩy đô la sa lưới thì bà A: “được Martial dẫn vào phòng và mở vali cho xem bên trong có nhiều cọc giấy giống cọc tiền. Martial rút ra 3 tờ rồi lấy một loại hóa chất nước đổ vào, 3 tờ giấy trắng biến thành 3 tờ 100 USD. Xong, Martial đưa bà A. cất giữ và nói cần thêm 100.000 USD để mua hóa chất tẩy hết số tiền trong vali trên”.

Lật lại báo chí, mới hay, trò lừa đã này, lần đầu tiên “du nhập” vào Việt Nam là từ tháng 3.1998. “Con mồi” bị chủ mưu dụ khị bằng cách rót mật vào tai, đại khái, chúng tiết lộ có một số lượng ngoại tệ rất lớn đã đưa vào Việt Nam. Do số tiền lên đến hàng triệu USD nên không thể đưa vào một cách hợp pháp, vì vậy, chúng phải ngụy trang bằng cách nhuộm trắng toàn bộ số đô la trên giống như những tờ giấy trắng và đóng thành một “kiện hàng”. Tuy nhiên, hiện chúng không đủ tiền mua một hóa chất đặc biệt để “tẩy rửa” toàn bộ “kiện hàng” này thành đô la. Nếu đồng ý cho chúng mượn tiền, “con mồi” sẽ được “trả công” 50% trong tổng ngoại tệ mà chúng đang có! Để đưa tiếp tục dẫn dụ vào tròng, chúng đã dẫn còn cho “con mồi” tận mắt chứng kiến... “công nghệ chế biến đô la”!

Loại hóa chất mà chúng sử dụng thật ra rất đơn giản - sau này theo giám định của Bộ Công an - chúng hòa tan iốt, tức loại thuốc sát trùng rất rẻ tiền, có bán tại các nhà thuốc Tây trong cồn ở nồng độ cao để trở thành dung dịch có màu nâu đen. Khi thả tờ những giấy trắng được cắt bằng kích cỡ của tờ đô la, chúng cũng “nhanh tay lẹ mắt” thả luôn vào tờ đô la thật. Xong, chúng vớt những tờ đô la thật bỏ vào trong xô nước có pha sẵn xà phòng, những tờ giấy bạc này trở lại sắc màu như cũ. Quá trình thao tác này nhanh đến mức dù tận mắt chứng kiến, nhưng khó ai có thể phát hiện ra trò đánh tráo này.

Mà này, tại sao sáng nay lại chăm chú đọc thông tin này? À, vì nhớ đến một truyện ngắn Bạc đẻ của nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977). Hóa ra, từ thập niên 1930 của thế kỷ XX, ông Hoan đã “dự báo” một cách tài tình những thủ đoạn lừa đảo của bọn tội phạm quốc tế trong thời đại mà chúng ta đang sống?

Chuyện rằng: Ông Cửu Ấu ở trọ nhà ông Trưởng Sắc có hành tung rất  khả nghi, xài tiền như nước, thường hay vắng nhà. “Song hễ ở nhà thì ông ta thì ông ta hay mượn chiếc chậu thau đồng lên buồng làm gì, để hằng hai ba tiếng đồng hồ, rồi khi dùng xong thì tự tay đem ra ao, lấy trấu và cát đánh cho thực sáng rồi mới đem trả. Ông ta có một tính khác người thường, là hễ ở nhà, thì không thích cho ai lên buồng riêng của mình. Có một lần ông đã mắng đứa đày tớ vô ý trước khi mở cửa vào, không đánh tiếng hoặc gõ cửa. Nhưng khi ông đi vắng thì tha hồ, ai vào cũng được, tuy đồ đạt, quần áo ông để bừa bãi, mà có một lần ông Trưởng sợ quá, cái va li của ông Cửu, trong để rặt những đồng bạc, mà ông quên không khóa”.

Rồi trong một lần chè chén say sưa, ông Cửu “vô tình” cho ông Trưởng biết là mình đang nắm giữ “công nghệ” làm cho bạc đẻ thêm nhiều, cứ một đồng thì đẻ ra một đồng! Mà bạc nó cũng ở cữ nên ông phải đi xa khi nó thụ thai, nếu ở gần thì bạc tịt lại, không đẻ được gì cả. Nghe “nhỏ to tâm sự” như thế, ông Trưởng nổi máu tham, đưa tiền cho ông Cửu làm cho bạc đẻ và đúng như vậy. “Tiếng lành đồn xa”. Sau đó, cả làng đều biết chuyện và ùn ùn đưa tiền cho ông Cửu.

“Cả làng, từ ông già cho chí trẻ con, ai cũng tấp nập rủ nhau đến nhà ông Trưởng để đưa bạc đi đẻ. Thôi thì có bao nhiêu bạc giấy, hào, xu, họ đổi thành bạc đồng, và đánh cho thật bóng nhoáng. Ông Cửu mỏi tay biên sổ trong hai ngày, vì từ thằng khố dây trong làng, củng cố cầm cố bán chác đồ đạc trong nhà để kiếm vài đồng bạc trắng. Ông chánh Bá, giầu nhất tổng, đưa đẻ hẳn năm trăm, mà còn tiếc vì vội quá, không kịp bán nốt mấy chục mẫu ruộng, ông lý Thới, ông lý Sang, ông phó Ung, ông cả Sích, vân vân, và những nhà có máu mặt, đều cùng nhau đưa làng trăm; còn hạng đụa hàng chục, hàng đồng, thì tên biên vừa đen kịt hai mươi trang giấy. Khi cộng sổ, ông Cửu phải lắc đầu lè lưỡi nói với ông Trưởng:

- Sáu nghìn bảy trăm sáu mươi tư đồng, chà! Có lẽ tôi phải lánh đến bảy tám hôm chắc! 

Ông Trưởng cười gượng:

- Chúng tôi chỉ dám phiền ông có lượt này nữa thôi đấy ông chịu khó vậy.

- Vâng, tôi có dám phàn nàn đâu!

Vừa xẩm tối, mọi người đã chen chân nhau vào nhà ông Trưởng để được xem phép lạ. Nhưng họ có được trông thấy gì đâu, vì phải đứng cả ở ngoài sân, mà ông Cửu thì ở tận trong buồng để làm việc. Hàng năm sáu giờ đồng hồ sau, bỗng ông Trưởng, vẻ mặt quan trọng như ông tướng chạy ra hè hô lớn: “Bây giờ ai phải về nhà nấy để bạc dưỡng thai. Cấm không ai được dòm, vì nếu có hơi người lạ thì bạc tiểu sản, biến ra bùn mất cả. Ai không tuân lệnh mà làm hỏng mẻ này thì phải đền sáu nghìn bảy trăm sáu mươi tư đồng, một thành hai!”.

Mọi người thấy câu nói đều sợ thiệt đến của riêng, bèn kéo ồ cả ra về. Độ năm phút sau, sân nhà vắng vẻ, ông Cửu đi dò la chung quanh hàng rào, rồi một mình khênh bạc ra vườn, lúi húi làm nốt công việc. Lúc chôn xong thì vừa hai giờ sáng, ông Cửu mệt nhoài, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, nhưng theo phép, ông phải lánh xa chỗ bạc dưỡng thai, nên ông vội vã khăn áo ra đi, và dặn lại ông Trưởng: “Bốn giờ kém năm sáng thứ bảy sau, tôi sẽ trở lại. Trong chín hôm tôi không có đây, ông phải cấm không cho ai lai vãng ra vườn nhé!”

Thế là sau khi cầm gọn một số tiền lớn, ông Cửu... biến luôn!

Một ngày, sáng bảnh mắt, ngồi đọc nhẩn nha vài thông tin. Qua đó, nhớ lại một truyện ngắn hay. Cũng đủ năng lượng vui sống cho một ngày. Phải không? Tất nhiên.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 25.3.2018

10-hoithao-nguyen-binh_2667102RR

 

 

Sáng qua đến Hội Nhà văn TP.HCM tham dự Lễ kỷ niệm 100 năm sinh Nguyễn Bính. Dịp này, y suy ngẫm về “Cánh bướm - một ám ảnh hồn thơ Nguyễn Bính”. Dù chỉ bước đầu khảo sát, hy vọng cũng là một sự gợi ý mới mẻ khi cùng tìm về thơ Nguyễn Bính.  

Hầu như với thi sĩ, trong tiềm thức của họ từ muôn năm ngàn kiếp đã có một sự ám ảnh không nguôi về một biểu tượng/ hình ảnh nào đó. Có lẽ ngay cả họ cũng không thể giải thích. Mà họ cũng chẳng bao giờ tự hỏi vì sao lại có sự ám ảnh đó. Tự nó đã hình thành trong máu thịt; khi cảm hứng đến, thâm tâm lại nhớ đến. Với Nguyễn Bính, y quả quyết chính là cánh bướm. Người đọc ngạc nhiên một cách thú vị bởi ông đã có tìm lấy nhiều cách diễn đạt như đang đi giữa đôi bờ hư thực.

Về “sự tích” ra đời của cánh bướm/ con bướm, theo ông: “Em ạ, ngày xưa vua nước Bướm/ Kén văn tài mở Điệp lang khoa”. Cuộc thi này, “Con bướm vàng tuyền đậu Thám hoa”. Cũng như trong mọi chuyện cổ tích “có hậu” của nền văn học cổ điển Việt Nam, tân khoa thường được nhà vua gả công chúa, Nguyễn Bính cũng tuân thủ theo “mô-típ” này. Khi Lục Vân Tiên nhớ mẹ, khóc đến mù mắt, ai cứu cho chàng? “Nửa đêm nằm thấy ông Tiên/ Đem cho chén thuốc mắt liền sáng ra”. Còn đôi vợ chồng bướm lúc đi lạc “Sụt sùi ngồi khóc dưới hoa lê” thì sao? “Bỗng thấy bà Tiên hiển hiện ra” và bảo, đường về nước Bướm còn xa lắm, thôi thì: “Về tạm nhà ta, ngủ với ta”. Thế rồi, “Đêm ấy, chăn êm với gối êm/ Vợ chồng ăn bánh với bà Tiên/ Ăn xong thoát chốc liền thay lốt/ Chồng hóa làm anh, vợ hóa em”.

Nguyễn Bính tự nhận mình chính là con bướm.

Lúc đưa cánh bướm cụ thể vào thơ, Nguyễn Bính đã có cái nhìn rất mới, ngộ nghĩnh. Chẳng hạn, vào dịp cuối tháng ba: “Mặt hồ vừa đúc khối tiền sen/ Bươm bướm đông như đám rước đèn”. Một cách so sánh rõ ràng không “đụng hàng”, khiến người đọc đã cảm nhận được sự rộn ràng, tươi trẻ, nhộn nhịp. Tạm dừng lại một chút, tự hỏi: “Mặt hồ vừa đúc khối tiền sen”. Vậy “tiền sen” là gì? Có thể nhiều người sẽ ngắc ngứ đây, trong đó có y. Vì thế, lục lại từ sách vở tìm hiểu xem sao. Âu cũng là một cái thú đọc thơ. Lâu nay, vẫn nghĩ, thơ không cần giải thích. Chỉ cần cảm là đủ. Thí dụ như “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà” (Nguyễn Xuân Sanh). Khó có thể giải thích. Chỉ có thể cảm về hình ảnh và nhạc điệu. Tuy nhiên, lại có những câu thơ rất thật. Thật vì chính nó đã từ một vật chất đi thẳng vào thơ. Cần tìm hiểu là vì lẽ đó.

Tiền đúc sen đã mấy phen

Lửa hương nghĩ đã vẹn tuyền lâu nay

Đây là hai trong 2.926 câu thơ trong truyện Nôm lục bát Ngọc Kiều Lê (NXB KHXH -1976) do Lý Văn Phức chuyển thể từ tiểu thuyết chương hồi cùng tên của Trung Quốc. Cụ Trần Văn Giáp giải thích: “Tiền đúc sen: Cây sen về mùa đông tàn lụi hết, tới đầu mùa hè, những lá non bắt đầu mọc, nổi trên mặt nước thành những hình tròn nho nhỏ, trông như đồng tiền, do đó, gọi tiền sen. Câu này ý nói đã qua mấy mùa sen nảy lá tức đã qua mấy mùa hè, đã mấy năm qua”.

Vậy, đã rõ nghĩa câu thơ Mặt hồ vừa đúc khối tiền sen. Hãy trở lại với tâm cảnh của Nguyễn Bính. Rồi lúc tình còn xanh, niềm thơ còn nõn: “Bên hoa thấy bướm không buồn đuổi/ Chỉ mải mê nhìn bướm ủ hoa”. Giữa bướm và người thân mật, gần gũi đến độ: “Chim ca buổi sớm, khuyên nàng học/ Bướm dạy nàng thêu, gió dạy đàn”. Ngay cả lúc “đôi trẻ” còn học Trường Huyện, “Đội đầu chung một lá sen tơ”, cánh bướm ấy đã là “nhân chứng”: “Lá sen vương vấn hương sen ngát/ Ấp ủ hai ta chút nhuỵ hờ/ Lũ bướm tưởng hoa cài mái tóc/ Theo về tận cửa mới tan mơ”.

Nếu năm tháng mãi êm đềm đến vậy, chẳng mấy chốc họ nên duyên vợ chồng chăng? Nào ngờ, “Nàng về mãi xứ bên kia/ Cam thôi màu đỏ, bướm chê hoa vàng”. Một khi tình đã mất, thâm tâm dội lại nỗi nhớ về cái thuở trong trẻo: “Qua giậu tầm xuân thấy bướm nhiều/ Bướm vàng, vàng quá, bướm yêu yêu/ Em sang bắt bướm vườn anh mãi/ Quên cả làng Ngang động trống chèo”. Ngược lại, lúc giang hồ vặt đến chơi “Xóm Ngự Viên ở cạnh đường Gia Hội, Huế, tức vườn Thượng uyển ngày xưa”, hình ảnh trước nhất Nguyễn Bính ghi nhận lại là: “Giậu đổ, dây leo, suồng sã quá/ Hoa tàn, con bướm cánh nghiêng nghiêng” - khiến ông nhớ về cái thuở đã từng có lúc: “Gót sen bước nhẹ lầu Tôn Nữ/ Ngựa bạch buông chùng áo Trạng nguyên”. Câu thơ mở ra một vàng son đã mất. “Hoa tàn, con bướm cánh nghiêng nghiêng” gợi lên một âm hưởng đến nao lòng.

Về cuộc đời Nguyễn Bính, có một điều không thể chối cãi là ông yêu nhiều, rất nhiều người. Và chính các nhan sắc ấy là nguồn cảm hứng để lại những bài thơ tình ghi dấu trong tâm thức sau nhiều thế hệ. Trong nguồn cảm hứng ấy, “Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng/ Có con bướm trắng thường sang bên này/ Bướm ơi, bướm hãy vào đây/ Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi/ Chả bao giờ thấy nàng cười/ Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên”. Chàng thi sĩ hỏi lấy con bướm trăng đang vẩn vơ, nhởn nhơ bay trước mắt chăng? Không, Nguyễn Bính hỏi lấy chính ông.

Con bướm ấy chỉ là cái cớ nhằm che giấu lấy lòng ông đang thổn thức. Trong thơ, có những câu hỏi buông ra với đối tượng khác, thật ra cũng là lúc chàng thi sĩ đang tự vấn, tự hỏi lòng mình. “Bướm ơi, bướm hãy vào đây/ Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi”. Lòng yếu đuối, hồn rụt rè, Nguyễn Bính phải vời đến cánh bướm, dù là lúc “chiêm bao rất nhẹ nhàng”. Để rồi khi bước ra với đời thực “Tầm tầm giời cứ đổ mưa” cho đến lúc “Hôm nay giời tạnh mưa rồi”, tâm thế ấy có gì khác? Nguyễn Bính chỉ thấy “Tơ không hong nữa, bướm lười không sang”. Con bướm ấy không sang nữa, biết hỏi ai?

Hỡi ôi, “Đêm qua nàng đã chết rồi/ Nghẹn ngào tôi khóc, quả tôi yêu nàng”. Đến đây tác giả đã chuyển mạch đột ngột: “Hồn trinh còn ở trần gian/ Nhập vào bướm trắng mà sang bên này”. Với câu kết này, bài thơ bật lên một nỗi niềm, một bất ngờ mà trước đó người đọc cứ ngỡ là cánh bướm thật, cụ thể. Hóa ra không phải. Người hàng xóm: “Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn”, “hồn trinh nữ” là hiện thân của cánh bướm trắng.

Sực nhớ, thuở nhỏ còn ngốc dại, có thể ai đó đã từng bắt bướm ép vào trang vở chăng? Với y, sau khi đọc truyện ngắn Bóng người trên sương mù của Nhất Linh, không bao giờ dám. Rằng, một người đàn ông nọ, làm nghề lái tàu lửa, dù vợ đang bệnh nặng nhưng vẫn phải nhận lệnh đưa quan Toàn quyền đi công cán. Không thể chần chừ. Không thể thoái thác. “Nhà tôi thấy tôi có vẻ lo nghĩ, hỏi nguyên cớ vì sao, tôi liền đem việc ấy kể lại cho nhà tôi nghe. Nhà tôi nghe xong, vẻ mặt tươi hẳn lên bảo tôi rằng: “Thế cậu đi chứ! Việc gì phải ngần ngừ! Tôi không việc gì đâu, đã thấy đỡ nhiều. Chiều mai về mua cái gì làm quà cho tôi đấy”. Tôi thấy nhà tôi cười nói vui vẻ, tôi vững tâm, thay quần áo ra ga. Đến ga đúng mười giờ”.

Chuyến tàu lăn bánh.

“Xe đi vào khe núi, hết cao lại xuống thấp như có vẻ nhọc nhằn. Tôi thò đầu ra cửa nhìn thẳng trước mặt, nhưng đêm ấy sương mù đầy trời, không nhìn rõ gì cả, chỉ một màu trắng xóa dưới ánh hai cái đèn ở đầu toa. Bỗng tôi thấy... rõ ràng, tôi thấy in trên sương mù một cái hình người đàn bà mặc áo rộng đứng dang tay. Tôi dụi mắt tưởng mình trông hoảng, nhưng không, hình người đàn bà vẫn đấy. Tôi gọi người “ét” lại cửa toa, bảo ông ta nhìn rồi hỏi:

- Bác có thấy gì không?

Vừa nói xong hình người vụt biến mất. Bác “ét” thò đầu ra và bảo tôi:

- Chỉ thấy sương mù! ông lại mê ngủ rồi.

Không rõ ràng tôi thấy có hình người đàn bà in trên sa mù nhưng vừa biến mất.

 Người “ét” cười ra vẻ không tin, lấy xẻng xúc than cho vào lò, còn tôi vẫn đứng nguyên chỗ cũ đăm đăm nhìn thẳng trước mặt. Được một lát, hình người đàn bà lại hiện ra, lần này rõ ràng hơn, hai tay ngăn thẳng như muốn ngăn đường không cho xe chạy lên nữa”; “Xe tiến đến đâu, cái hình người lại đến đấy, có lúc mờ, lúc rõ, lơ lửng giữa lưng trời. Rồi cái hình người ấy vẫy hai tay một cách thong thả, như có ý bảo chúng tôi đừng tiến lên nữa, có sự gì nguy hiểm”.

Cuối cùng, người đàn ông lái tàu quyết định cho dừng tàu một cách đột ngột. Mọi người xuống tàu quan sát. “Vừa đi được một quãng thì nghe trước mặt có tiếng nước chảy ầm ầm. Tôi định tâm mới nhớ ra rằng đó là cầu N.G.. Mấy đêm ấy mưa lũ, nước chắc chảy xiết, nên mới réo to như vậy. Đến bờ sông, giơ đèn lên soi, mấy người đều kinh hoảng: cái cầu N.G. bị nước nguồn chảy về xoáy gẫy làm đôi. Một tí nữa, nếu không hãm kịp thì cả một chuyến xe riêng chở quan Toàn Quyền đâm nhào xuống sông sâu, chắc không sống sót một ai; tưởng không có cái tai nạn nào ghê gớm hơn, thế mà chính vì tôi nên mới không có cái tai nạn ấy. Tôi đứng ngẩn người không hiểu sao cả”.

Vậy, lý giải thể nào về “cái hình người đàn bà mặc áo rộng đứng dang tay” mà bác tài đã thấy?

"Tôi đi trở lại và thoáng thấy cái gì bám ở cái đèn để đầu toa, nhìn kỹ thì ra một con bướm thật to, vướng vào đen, đương đập cánh để tìm đường thoát. Chính là con bướm trong cái hộp này đây. Trông thấy con bướm tôi thốt nghĩ ra ngay. Chính phải rồi, chính cái hình người đàn bà lúc nãy là cái bóng con bướm này in lên trên sương mù, đầu con bướm là đầu hình người mà hai cánh con bướm đập là hai cái tay người vẫy.

Tôi bắt con bướm rồi định thả cho nó bay đi, sau nghĩ con bướm đã giúp mình được việc, nên giữ lại làm kỷ niệm. Tôi nhìn vào đồng hồ trong toa, thấy kim chỉ đúng hai giờ đêm... Hôm sau tôi vừa về tới cổng nhà thì thằng nhỏ chạy ra báo tin nhà tôi mất, mất vào khoảng một giờ đêm qua”.

Thật lạ lùng, mẹ Y mất ở Đà Nẵng lúc 5 giờ sáng ngày 12.10.2017 ở Đà Nẵng, lạ lùng thay, tại Sài Gòn, sáng ngày hôm ấy ngay trên cánh cửa mở vào nhà y đã có cánh bướm ngài đậu ở đó tự bao giờ rồi.

Trở lại với Nguyễn Bính. Khi chọn cánh bướm làm biểu tượng của thơ, ông đã hóa thân vào đó. Và từ sự hóa thân này, ngay cả nhan sắc đi qua đời mình, ông cũng nhìn thấy họ cũng chính là cánh bướm trắng. Màu trắng ấy còn là sự ám ảnh không cùng một khi đã mất đi một bóng dáng cụ thể: “Đem đi một chiếc quan tài trắng/ Và những vòng hoa trắng rợn người/ Có một chiếc xe màu trắng đục/ Hai con ngựa trắng bước hàng đôi”. Màu trắng này xuất hiện cũng chỉ là một cách nhắc lại: “Tôi chỉ thèm yêu được một lần/ Có người đi giữa xứ mùa xuân/ Thấy con bướm trắng bay thơ thẩn/ Ý hẳn đi tìm Hương, cố nhân”.

Nhà văn Võ Hồng có tác phẩm Hương cố nhân thì phải. Trong đời, ai cung có cố nhân cho riêng mình. Được thế, may quá. Không rõ, lúc gặp lại cố nhân, cả hai sẽ trò chuyện với nhau những gì? Bài thơ Tình già của Phan Khôi, lúc gặp nhau sau “Hai mươi bốn xưa”, “Tình cờ đất khách gặp nhau”, họ đã nói những gì? Im lặng vẫn tốt hơn cả. Nói gì bây giờ? Chỉ thêm bẽ bàng. Chỉ thêm luyến tiếc. Biết là thế nhưng lúc liếc mắt tiễn nhau mới ghê gớm làm sao, còn hơn cả hàng ngàn câu hàn huyên tâm sự: “Liếc đưa nhau đi rồi/ Con mắt còn có đuôi”...

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 17.3.2018

IMG0486_0b21d


Những ngày nắng nóng.

30 năm sự kiện Gạc Ma, Trường Sa (14.3.1988 - 14.3.2018) đã được tuyên truyền đậm trên các phương tiện truyền thông. Thông tin mới nhất, theo báo chí, Gạc Ma là sự kiện dự kiến đưa vào sách giáo khoa môn lịch sử và địa lý. Một sự kiện lịch sử, 30 năm sau mới dự kiến, vâng, chỉ mới dự kiến đưa vào sách giáo khoa. Những đứa trẻ của thế hệ sau sẽ hiểu rõ một thông tin không gì có thể vùi lấp, lãng quên. Rồi, những gì đã học/ đọc từ thời bé sẽ gắn bó mãi theo năm tháng.

Sực nghĩ, ngay xửa ngày xưa chưa có nhiều loại hình giải trí, thư giãn lẫn học tập thì đọc sách vẫn tối ưu nhất. Đọc lại các cổ ngôn, thấy rằng người xưa tuyên truyền về “văn hóa đọc” như “chiến lược” lâu dài nhằm xây dựng cốt cách, nhân cách của một con người. Chẳng hạn, Gia huấn ca khẳng định như đinh đóng cột: “Đọc sách là chí nam nhi”. Ơ hay, chí nam nhi chẳng lẽ có thế? Đã thế, lại còn có câu này nữa, thú thật, y chưa thể giải thích tường tận: “Chữ rằng: “Loạn độc thư cao/ Khi nên cũng thế, khác nào người xưa”. Đời loạn đọc sách là cao hơn cả. Chẳng rõ do ai nói hoặc dẫn theo điển tích, điển cố gì? Nhưng xét ra thấy có hợp lý hay không? Rất khác với: “Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt/ Xếp bút nghiên theo việc đao cung/  Thành liền mong tiến bệ rồng/ Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời “ (Chinh phụ ngâm).

Thử hỏi, trong sách có gì?

Ta hãy đọc tiếp: “Chẳng sợ kẻ lắm thầy nhiều tớ/ Thấy ta nghèo ra sự rẻ khinh/ Thư trung lắm kẻ hiển vinh/ Dập dìu hầu hạ, linh đình ngựa xe/ Chẳng sợ kẻ lắm tiền, nhiều lúa/ Nghĩ mình rằng có của thì hơn/ Thư trung kim ngọc vô vàn/ Đầy khè chung đỉnh, chứa chan bạc vàng/ Chẳng sợ lắm kẻ thê nhiều thiếp/ Đã hẳn rằng tốt đẹp hơn ai/ Thư trung có gái tuyệt vời/ Những người mặt ngọc là người vẻ vang/ Chẳng sợ kẻ tòa ngang dãy dọc/ Khinh nhau rằng hàn ốc thê lương/ Thư trung tuấn vũ điêu tường/ Lầu hồng gác phượng cột giường liền mây”.

Với những câu du dương lục bát du dương, nói tắt một lời, sở dĩ phải đọc sách, cứ theo thứ tự từng câu thơ là bởi trong sách có nhiều người hầu hạ, linh đình ngựa xe; có vàng ngọc, châu báu; gái đẹp; có nhà cao cửa rộng v.v… Ngạc nhiên quá, chẳng lẽ vì những thứ ấy mà đọc sách? Nếu đúng thế, ý nghĩa việc đọc sách đã trở nên tầm thường chăng? Chẳng phải đâu, phải hiểu rằng, nếu chăm chỉ đọc sách (cũng là học) thì sau này mới có cơ hội thi đậu, ra làm quan. “Mai ngày treo biển tên đề/ Khôi khoa lại được gặp kỳ thánh minh”.

Ra làm quan thì những thứ nêu trên đều trong tầm tay, thế thì mặc kệ thiên hạ, phận mình là hãy cứ lo “độc thư”. Xét ra, ý nghĩa của việc đọc sách cũng tầm thường nốt chăng? Tầm thường, bởi dám nghĩ rằng, trước hết phải lấy sự mở mang tri thức làm trọng, chứ nào phải chỉ nhằm phục vụ cho việc đạt đến mục đích cuối cùng như nội dung các câu thơ trên. Suy nghĩ này, có ai nói khác gì không? Cái vui của đọc sách còn là chỗ đó. Việc gì phải nhất nhất tin vào sách, lấy đó làm khuôn vàng thước ngọc, kể cả Gia huấn ca mà cần có cái nhìn khác về một vấn đề đã cũ. Sự trao đổi ấy, há chẳng phải là niềm hứng chí của những kẻ đồng hội cùng thuyền đó sao?

Lại sắp đến ngày khai mạc Hội sách TP.HCM lần thứ X. Trước đây, do không gõ vi tính, chỉ viết bằng máy đánh chữ, viết xong nộp tòa soạn; bài in xong, chẳng lưu giữ, vì thế y chẳng thế nhớ nổi Hội sách lần I diễn ra thế nào nữa. Ngày hôm kia, một vài anh em cùng viết báo ở vực văn hóa văn nghệ lai rai, có đồng nghiệp hỏi, đại khái, người làm sách với người buôn sách có gì giống và khác nhau? Y phát biểu rằng: “Người làm sách là những người sẵn sàng bỏ ra nhiều tâm huyết, tiền bạc, thời gian để sản xuất ra những cuốn sách mà họ tâm đắc, mà họ yêu thích và cho rằng có giá trị, Bất chấp những đầu sách đó kén độc giả. Người buôn sách là những người cứ thấy loại sách nào có lời thì làm, bất kể sách có nội dung không hay, có tác động xấu, tiêu cực tới đạo đức, hành vi hoặc lối sống”.

Đồng nghiệp Lệ Chi - Giám đốc Chibooks bổ sung: “Người làm sách là những người luôn sống với một lý tưởng riêng, có tham vọng tạo ra những giá trị tinh thần cho mình và một số người khác thông qua một số dòng sách mà họ cho rằng có giá trị, có ích lợi cho cộng đồng. Họ sẵn sàng dùng trọn thanh xuân, tiền bạc để đeo đuổi, thực hiện tâm huyết đó. Họ luôn sống đắm đuối với lý tưởng của họ. Họ có khả năng đánh thức, lay động tâm hồn của hàng ngàn, hàng triệu con người thông qua các sản phẩm của họ.  Với độc giả, người làm sách còn là người thủ lĩnh tinh thần, vừa là người cứu rỗi linh hồn, là kẻ tưới tắm suối nguồn tươi trẻ lên những tâm hồn đang khô cạn, là người truyền bá tri thức, là người tạo thêm hy vọng và niềm tin vào cuộc sống, là bạn đồng hành âm thầm mà tin cậy, luôn chìa tay ra giúp đỡ và định hướng cho cuộc đời bạn theo hướng tốt đẹp hơn.

Người làm sách là những người tạo hy vọng và buôn tương lai, bất chấp mọi rủi ro và những cái giá phải trả đắt đỏ. Họ mê mải đắm đuối lao vào làm sách như một sự đeo đuổi tín ngưỡng, tôn giáo sùng tín nhất. Với dư luận xã hội, người làm sách là một lũ ảo tưởng, mơ mộng viển vông, sống trên mây và thừa tiền mới đầu tư vào làm những đầu sách kén người đọc.

Người buôn sách luôn là những kẻ kinh doanh thực tế, nhìn nhận đúng giá trị vật chất hiện tại của từng đầu sách nhưng không thể nhìn thấy và cũng không thể tận hưởng được giá trị tinh thần từ chúng. Sự cân bằng và tỉnh táo quá mức của kẻ buôn sách có thể đem lại nhiều thắng lợi về tiền bạc nhưng khó có thể tạo ra những giá trị văn hoá đúng mực cùng những đầu sách hay, mang đậm cá tính và dấu ấn văn hoá cùng trình độ của người làm sách”.

Xét ra, ý kiến của Lệ Chi chí lý lắm. Xét ra, trong các cuộc ăn nhậu bù khú, đừng say quá, vẫn có thể trao đổi được nhiều vấn đề, dù nhỏ nhưng hữu ích gấp triệu lần những lời buôn dưa lê “đâm bị thóc chọc bị gậy” lằng nhằng chẳng đâu vào đâu. Mà này, có phải xưa nay, ở Việt Nam đã xuất hiện tầng lớp những người làm sách đúng theo nghĩa cao quý của nó? Vâng. Có thể kể đến tên tuổi của nhiều nhà xuất bản, nhiều cá nhân. Mà thôi. Một người gieo hạt, trồng cây chẳng bao giờ kể đến công lao của mình; miễn cây cao ấy, tạo ra trái ngọt, bóng mát cho người đương thời, thời sau tận hưởng/ hưởng thụ thì họ đã hài lòng, mãn nguyện.

Này, ở Việt Nam ai là người yêu sách vào hạng thượng thừa? Với y, ở thế kỷ XX, chỉ có thể chọn lấy người đứng đầu bảng là Trần Văn Giáp (1902-1973).

Từ năm 1957, được sự khuyến khích của người bạn thân Nguyễn Văn Xước - Giám đốc Thư viện Quốc gia, Trần Văn Giáp đã giành phần nhiều thời gian biên soạn cuốn sách Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - nguồn tư liệu văn học, sử học Việt Nam (2 tập). Ông cho biết đã lấy những thiên thư mục của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú làm gốc, nhưng ông đã vượt lên trên các bậc tiền bối vì trong công trình Tìm hiểu kho sách Hán Nôm đã thu nhặt, giới thiệu cả thảy 429 tác phẩm. Số lượng này gấp đôi số sách mà Phan Huy Chú giới thiệu trong Văn tịch chí; gấp bốn lần số sách mà Lê Quý Đôn giới thiệu trong Nghệ văn chí. Về giá trị thông tin, ông cố gắng cung cấp bức tranh toàn cảnh về tình hình thư tịch của nước Nam từ đời Lý đến trước Cách mạng tháng Tám.

Trần Văn Giáp đã nói rõ về công việc của mình: “Nguồn văn học của Việt Nam, theo các sách còn sót lại, có đã từ lâu, ít ra tới hàng ngàn năm nay. Những tư liệu nói về sách vở cổ của một nước, một dân tộc thông thường gọi là thư tịch chí hay kinh tịch chí. Chính các kinh tịch chí là nguồn gốc tư liệu văn học hay còn gọi gọn là nguồn văn hiến của một dân tộc”. Chính vì quan niệm rạch ròi và có trách nhiệm đối với di sản văn hóa của dân tộc nên ông đã nỗ lực thực hiện với thành quả cao nhất. Bộ sách quý này tập 1 được phát hành năm 1970, và tập II được phát hành năm 1990 đã gây được tiếng vang lớn trong dư luận trong và ngoài nước.

Từ đây, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm có thể nói là bộ thư mục độc đáo được thực hiện theo “Mô hình Trần Văn Giáp”, đã tổng kết nửa thế kỷ lao động không mệt mỏi của một học giả uyên bác, là công trình khoa học lớn nhất đời ông, là một bước phát triển mới trong lịch sử thư mục học (bibliographie) của Việt Nam. Từ đây, khi nói đến lãnh vực thư mục học thì sau hai bậc tiền bối đi trước là Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú, chúng ta có thể xếp nhân vật tiếp theo là Trần Văn Giáp. Thế nhưng, do công việc của một cá nhân nên ông vẫn chưa phân loại, xử lý hết được toàn bộ kho sách khoảng 5.000 cuốn Hán - Nôm hiện còn lưu giữ. Công việc này vẫn còn chờ đợi công sức của những người tâm huyết khác. Ai sẽ là người tiếp tục nối theo chí hướng của Trần Văn Giáp để góp phần nghiên cứu, khai thác kho thư tịch tài liệu Hán Nôm đang đề ra một cách cấp thiết hiện nay?

Có những nhà khoa học với nhiều mà công trình để lại, càng lùi xa thời gian, không những không bị thời gian phủ mờ mà còn lấp lánh giá trị hiện hữu. Hội nghị quốc tế về Việt Nam học được tổ chức lần đầu tiên tại Hà Nội (7.1998), qua đó ta càng thấy việc làm đơn độc, bền bỉ, nhẫn nại của Trần Văn Giáp đối với kho sách Hán Nôm vẫn còn mang ý nghĩa thời sự.

Trần Văn Giáp mất ngày 25.11.1973 tại Hà Nội. Và trong căn phòng tá túc ở trường Bác Cổ Viễn Đông, người ta không tìm được tài sản gì của ông để lại, ngoại trừ những pho sách! Đó là thứ tài sản quý báu mà không phải ai cũng có được, dù giàu có nhất. 

Nhưng rồi, sách có là gì không? Đặt câu hỏi này, liệu có thừa? Vẫn biết mà vẫn hỏi ắt cớ cớ sự gì đây? Vâng, thông tin mới nhất khiến người yêu sách chấn động: “Giật mình tin tiêu hủy hơn 10 ngàn quyển sách ở Thư viện Uông Bí” (Báo Nông nghiệp Việt Nam ngày 15.3.2017). Theo bài báo này: “Tôi nghĩ rằng hàng vạn quyển sách như thế mà lại mang đi tiêu hủy thì vấn đề không đơn giản. Ở đây, ai cho phép tiêu hủy thì người đó phải chịu trách nhiệm đầu tiên”, ông Nguyễn Hữu Giới - Chủ tịch Hội Thư viện Việt Nam nói”.

Trở lại với sự kiện Gạc Ma, tự dưng nhớ đến Hoàng Sa. Đã có nhiều sách về Hoàng Sa-Truong Sa khẳng định hai quần đảo này thuộc chủ quyền Việt Nam. Với y, một trong những tài liệu về Hoàng Sa cần phải đọc vẫn là Kỷ yếu Hoàng Sa (NXB Thông tin và Truyền thông). Tập sách này do Ủy ban Nhân dân huyện Hoàng Sa thuộc UBND thành phố Đà Nẵng in năm 2012. Đặc biệt nhất còn là thủ bút của những người đã từng sống tại Hoàng Sa. Trước đây, khi đọc Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1782 - 1840), y thích thú với những dòng, những dòng chữ ghi nhận cách đây gần 200 năm như đang thả hồn xuôi về một vùng cổ tích với nhiều điều kỳ diệu, lạ lẫm:

“Ngoài biển phía đông bắc có đảo Hoàng Sa, nhiều núi lớn nhỏ, đến hơn 130 ngọn núi. Từ chỗ núi chính đi ra biển sang các đảo khác ước chừng hoặc một ngày; hoặc vài trống canh. Trên núi có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước chừng 30 dặm, bằng phẳng rộng rải. Trong bãi có dòng nước trong suốt đến đáy. Sườn đảo có vô số vỏ yến sào; các thứ chim có đến hàng nghìn vạn con, thấy người vẫn cứ đỗ quanh, không bay tránh. Bên bãi cát, vật lạ rất nhiều, có thứ ốc có vằn gọi là ốc tai voi to như cái chiếu, trong bụng có hột châu to bằng ngón tay cái, nhưng sắc nó đục, không bằng ngọc châu ở trong con trai; vỏ nó đẽo làm bia được, lại có thể nung làm vôi để xây tường…”.

Tạm dừng ở đoạn văn này, tự hỏi, “có thứ ốc có vằn gọi là ốc tai voi to như cái chiếu”, liệu có thật không? Ngạc nhiên quá. Có thật đấy. Không những thế, trong Kỷ yếu Hoàng Sa, ông Trần Văn Sơn sinh năm 1947 tại phường Mỹ Khê, quận Sơn Trả (Đà Nẵng) đã kể lại ngày tháng đã sống, chiến đấu tại Hoàng Sa vào năm 1973: “Ấn tượng khó quên khi tôi ở Hoàng Sa trong một đêm trăng sáng, tôi cùng một vài anh em đi rình bắt rùa biển. Tôi nhớ có một con rùa to, rất to, hai người đứng trên lưng nó, nó vẫn bò đi được. Khi nó bò đến mép nước thì hai người mới nhảy xuống. Phải nói là chưa bao giờ, tôi được thấy con rùa to như vậy” (S.Đ.D tr.145).

Tình yêu quê hương, non sông đất nước, còn là những câu chuyện kể từ các nhân chứng nữa. Nếu sách, báo không ghi lại, làm sao đời sau có thể biết?


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 14.3.2018



nguyen-an-ninh-1


“Đường ray đay nghiến ngất ngư/ Toa tàu nghiêng ngửa tựa như phút này/ Tôi thèm được nắm bàn tay/ Níu em thơ dại lại ngày sắp xa”. Những câu thơ này, y đã viết tại sân ga Hòa Hưng từ những ngày “chân ướt chân ráo” vào Sài Gòn lập nghiệp. Có lẽ sẽ chẳng bao giờ y có thể quên đi cảm giác náo nức, chen lấn, hồi hộp chờ đợi mua được chiếc vé tàu về quê. Trong trí nhớ, nơi ấy, lúc nào cũng nhộn nhịp người ra kẻ vào, hành lý đùm đề, thỉnh thoảng lại nghe từ loa phát thanh thông báo của nhà ga. Cảm giác ấy, thân thiện và gần gũi lắm.

Nhiều bài thơ hay nhất trong nền thơ Việt Nam hiện đại đã lấy cảm hứng từ sân ga. “Hai người bạn cũ tiễn chân nhau/ Kẻ ở sân toa kẻ dưới tàu/ Họ giục nhau về ba bốn bận/ Bóng nhòa trong bóng tối từ lâu”. Lúc ấy, kẻ ở người đi, lòng còn đang bịn rịn thì đã nghe còi tàu giục giã. Phải chia tay nhau thôi. Tàu chuyển bánh nghe rền vang từ đường ray một âm thanh nặng trĩu. “Sao nhà ga ấy sân ga ấy/ Chỉ để cho lòng dấu biệt ly?”. Câu thơ Nguyễn Bính viết từ năm 1937, vẫn còn nguyên vẹn trong tâm tưởng nhiều thế hệ. Nhất là câu này: “Buồn ở đâu hơn ở chốn này?”.

Có lẽ người trước nhất đưa tàu lửa vào thơ thất ngôn bát cú chính là nhà cách mạng Trần Cao Vân. Khi hoàng đế Duy Tân đồng lòng cùng tổ chức Việt Nam Quang phục hội làm cuộc khởi nghĩa, về ngày khởi sự, mọi người thống nhất chọn giờ ngọ, ngày ngọ, tháng ngọ, tức ngày mồng 2.5 năm Bính Thìn nhằm ngày 2.6.1916. Để giữ tuyết đối bí mật, Trần Cao Vân đã làm bài thơ Hỏa xa Huế - Hàn, có thể xem văn bản này là một “hiệu lệnh” của cuộc khởi nghĩa: “Một mối xa thư đã biết chưa?/ Bắc Nam hai ngả gặp nhau vừa/ Đường “ray” đã sẵn thang mây bước/ Ống khói càng cao ngọn gió đưa/  Sấm dậy tứ bề trăm máy chuyển/ Phút thâu muôn dặm nửa giờ trưa/ Trời sai ra dọn xong từ đấy/ Một mối xa thư đã biết chưa?”. “Ray” là mươn từ rail trong tiếng Pháp. Ray/rây hoặc rầy cũng là một. Ghi lại chi tiết này để thấy cảm hứng của thơ còn là chất liệu hiện thực từ đời sống.

Về đường “ray”, ca dao Nam bộ có câu cực hay, tài tình, dí dỏm: “Gá duyên không đặng hội này/ Em lên Chợ Lớn, nằm đường rầy cho xe lửa cán chơi”. Nghe cứ như nghịch như đùa. Thiệt tình. Chơi mà được à? Một cách nhỏng nhẻo đấy thôi. Chẳng khác gì: “Ba bốn nơi sang cả phụ mẫu em đành gả/ Em chắp tay khoan đã, chưa tới căn phần/ Phụ mẫu em nói: bất tuân giáo huấn/ Đem treo cây bần cho kiến nó bu”. Nghe cứ như giỡn chơi.

Căn nhà đang ở cạnh cổng xe lửa số 10, do đó, y nhớ tiếng còi tàu lắm. Có những đêm thức giấc bởi chuyến tàu đi ngang qua, từ ga Bình Triệu vào ga Hòa Hưng. Lúc ấy, lại nhớ đến ngày tháng đã từng ra ga đón mẹ từ quê vào lại Sài Gòn. Ngày tháng đó đã xa. Không thể tìm lại được nữa. Bùi ngùi nhớ. Rồi chẳng mấy chốc, y đã “bén rễ xanh cây” ở chốn này. “Có chí làm quan, có gan làm giàu”. Thì dân Sài Gòn có cái gan ấy. Không phải từ bây giờ, mà từ xa xưa đã có. Sở dĩ như thế vì đây là vùng đất hội nhập nhiều dòng chảy văn hóa, có cảng, tàu bè giao thương tấp nập... Đừng nghĩ nghề viết thư tình, đơn từ giao dịch bằng tiếng Anh, gửi ra nước ngoài qua đường bưu điện mới xuất hiện từ thập niên 60 thế kỷ XX - lúc người Mỹ sang Việt Nam tham chiến. Đọc Gia Định báo, đã thấy người Sài Gòn hành nghề này từ lúc Pháp mới sang, tức những tay thông ngôn có thể kiếm thêm chút đỉnh tiền cà phê cà pháo nhờ dịch vụ tự phát này.

Thay đổi quan niệm về việc kiếm ra tiền phải kể đến lúc các sĩ phu trong phong trào Duy Tân đã hô hào chấn hưng công thương, thức tỉnh hồn nước. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân: “Đó là hiện tượng mới lạ nhất, mở đầu cho một cao trào kinh tế Việt Nam từ trước chưa hề có. Cùng với cao trào đó, theo tôi, đã có thể nói tới sự hình thành lớp doanh nhân Việt Nam và phôi thai tinh thần doanh nghiệp lần đầu tiên trong lịch sử”. Vâng, điều quan trọng nhất, căn bản nhất vẫn là “sự hình thành lớp doanh nhân Việt Nam”.

Trước đó, đã có những nhà nho rất có y thức về làm giàu nhưng đếm không đủ mười đầu ngón tay. Chỉ có thể kể đến danh tướng Trần Khánh Dư. Ta hãy nhớ lại chuyện nón Ma Lôi. Ma Lôi là tên làng ở Hồng Lộ (thuộc Hải Dương), người dân có tài khéo đan nón bằng trúc thanh bì nên lấy tên làng để gọi tên nón.

Theo quan niệm thời đó, thứ tự trong xã hội là “sĩ, nông, công, thương”, nghề buôn bán xếp sau cùng nhưng Trần Khánh Dư lại có một tư duy táo bạo mà không phải ai cũng đồng tình. Lúc sa cơ thất thế, từ một người danh vọng cao ngất ngưỡng trong triều, ông sẵn sàng chọn nghề bán than kiếm sống. Dù thiên hạ cho nghề hèn mọn, chỉ dành cho kẻ bần cùng nhưng ông vẫn không màng - miễn nghề ấy nuôi sống bản thân mình. Nghề lương thiện nào cũng cao quý miễn phù hợp với khả năng và sự lựa chọn của mình. Tư duy của ông không khác với thời đại này: Qua kinh doanh buôn bán, con người ta có thể làm giàu một cách chính đáng.

Khi giữ chức phó đô tướng quân trấn giữ Vân Đồn, ngoài việc biện pháp an dân Trần Khánh Dư còn thể hiện được tầm nhìn của người biết kinh doanh. Vùng đất Vân Đồn xưa nay, người dân vẫn sinh sống bằng nghề buôn bán trên biển. Khách buôn từ phương Bắc đến giao thương nhiều nên dân quân đều mặc quần áo, đồ dùng theo cách của họ. Khi duyệt quân ở các trang hộ, Trần Khánh Dư ra lệnh: “Quân trấn giữ Vân Đồn là để ngăn phòng giặc phương Bắc tràn sang. Quân ta không nên đội nón của người phương Bắc, vì sợ khi có sự vội vàng khó lòng phân biệt, vậy phải đội nón Ma Lôi, ai làm trái tất phải phạt”. Mệnh lệnh của ông hoàn toàn toàn hợp lý nhằm bảo vệ sự an toàn cho dân được sự đồng tình. Nhân đó, ông đã sai người nhà mua nón Ma Lôi chất đầy thuyền, đậu ở cửa sông rồi sai thuộc hạ lẻn đi mách cho dân ở trang hộ biết nơi có thuyền bán nón. Thiên hạ tranh nhau mua. Ban đầu giá chưa tới một tiền, sau bán giá cao hơn, mỗi cái nón trị giá bằng một tấm vải. Nhờ vậy, Trần Khánh Dư thu về được hàng ngàn tấm vải!

Với cương vị, chức vụ đang giữ, Trần Khánh Dư có thể thu vén làm giàu bất chính nhưng ông đã có cách lựa chọn khác. Sự lựa chọn này phù hợp với quy luật cung cầu trong kinh doanh. Do quan niệm “trọng nông khinh thương”, đánh giá cao việc làm ruộng và xem thường buôn bán, nay đã lỗi thời, thuở ấy, Trần Kháng Dư phải chịu bao tai tiếng. Không có gì ngạc nhiên, một người phương Bắc tặng bài thơ mừng ông, trong đó có câu: “Vân Đồn kê khuyển diệc giai kinh” (Gà, chó ở Vân Đồn cũng đều sợ). Câu thơ này nói khéo phục sợ uy danh Trần Khánh Dư nhưng kỳ thật mỉa mai ngấm ngầm.

Trần Khánh Dư mất năm 1399 - thế kỷ XIV nhưng mãi đến đầu thế kỷ XX, quan niệm về nghề buôn ở tầng lớp nhà nho - Kẻ sĩ vẫn chưa mấy thay đổi. Quá chậm. Thử nêu một thí dụ về… việc mở quán ăn, chẳng hạn. Tiêu biểu cho bản lĩnh chịu chơi này, trước hết cần kể đến thân phụ của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, đó là cụ Nguyễn An Khương mở hiệu bán cơm ngay tại trung tâm Sài Gòn. Công việc này quá mới mẽ, do đó trên Lục tỉnh tân văn số 8, ra ngày 2.1.1908 cụ đã phải trình bày việc làm của mình để được mọi người đồng cảm:

“Thuở nay, trong bạn đồng bào ta những tay có tiền hay cho nghề bán cơm là nghề hèn cho nên không một ai mở tiệm cạnh tranh với Hoa kiều... Vả lại có nhiều người ăn theo cách Tàu không quen hay chê lạt lẽo mà cũng phải ăn, song ăn không đặng cơm thì đã tốn tiền bánh hàng mà lại trong mình không đặng khỏe, ấy là điều mắt thấy tai nghe chớ không phải tôi dám đặt điều... Bởi vậy, tôi muốn quyết một lòng rửa hổ, không sợ mang danh chú bán cơm, ráng sức kinh doanh, lập ra một tiệm tiên lầu tại đường Kinh Lấp (Boulevard) số 49 gần chợ Sài Gòn lắm. Hiệu tiệm là Chiêu Nam Lầu (nghĩa là tiệm tiên lầu mà chiêu đãi người An Nam)... Tôi lại ước ao cho các đồng bang đừng có ngại về danh tiếng hoặc xuất vốn nhà, hoặc rủ hùn mà lập lấy năm bảy tiệm hùn như vậy, mượn người Thanh nấu ăn cho khéo, đặng mà tiếp đãi đồng bào, mình với mình buôn bán với nhau vui biết chừng nào, đẹp biết chừng nào. Chú bán cơm, Nguyễn An Khương đốn thủ”.

Lúc bấy giờ, “Cái tên nhà Nho không những là để chỉ người biết chữ, học đạo thánh hiền trong Nho giáo; lại là chỉ một giai cấp trong xã hội, tức là hạng thượng lưu trí thức trong nước… Về đường xã hội, về đường chính trị, về đường tri thức, tinh thần đều có một cái địa vị đặc biệt, đối với một chức vụ đặc biệt. Chức vụ này cao quý, có thể gọi là một thiên chức được, vì là chức vụ hướng đạo cho quốc dân, làm tiêu biểu cho cả nước” (Phạm Quỳnh - Tạp chí Nam Phong số 172, tháng 5.1932), thế mà có cụ Nguyễn An Khương tự nhận “chú bán cơm”, há chẳng phải ghê gớm lắm sao?

Rồi ngay cả các cô cậu trò thuở ấy, cũng đã nghĩ ra cách kiếm tiền ngon ơ. Xin dài dòng một chút: Tại Sài Gòn từ ngày 1.8.1901 trên tờ Nông cổ mín đàm, ông chủ nhiệm Canavaggio đã dịch Tam quốc chí. Sau đó, chỉ dăm năm, sau năm 1905 các ông Nguyễn Chánh Sắt, Phụng Hoàng Sang, Nguyễn An Khương, Nguyễn Công Danh... ồ ạt tung ra thị trường sách hàng loạt tác phẩm dịch Thủy hử, Đông Châu liệt quốc, Liêu trai chí dị... Trong khi đó, ở Bắc Kỳ mãi đến năm 1907, Phan Kế Bính mới bắt đầu in bản dịch Tam quốc chí. Đọc truyện Tàu là một cái thú của dân Sài Gòn thời bấy giờ.

Thế thì các cô cậu học trò đầu thế kỷ XX kiếm tiền bằng cách nào?

Rằng, khi bắt tay viết tiểu thuyết lịch sử Nguyễn An Ninh - dấu ấn để lại (NXB Văn Học- 1997), thỉnh thoảng y có thu tập tài liệu ở nhà con ruột ông Ninh - ông Nguyễn An Tịnh. Trong khối tài liệu đó, y có đọc một tập hồi ký viết tay, viết năm 1926 với nhiều chi tiết thật thú vị, có thể trả lời câu hỏi trên:

“Kế cận nhà trọ của tôi là nhà bà Ba Ổn. Tôi biết bà Ba có mua được nhiều bộ truyện Tàu do các bậc túc nho Huỳnh Khắc Thuận, Nguyễn An Khương, Trần Phong Sắc... dịch ra Quốc ngữ. Một bữa trưa thứ bảy, bà Ba ngồi ngoáy trầu trên bộ ván gỗ đặt bên hông nhà. Đứng bên góc ván, tôi đương dán mắt vào cuốn Tam quốc, say sưa xem Quan Văn Trường quá ngũ quan trảm lục tướng của Tào An Man. Bỗng tôi nghe văng vẳng : “Đọc lớn lên nghe thử coi, cháu !”

Muốn tỏ lòng tri ân bà, lại gặp dịp “trổ tài”, tôi tằng hắng lấy giọng rồi chậm rãi đọc to. Bà lẳng lặng nghe, thỉnh thoảng gật đầu cười chúm chím. Khi tôi ngừng đọc bà phát biểu ý kiến: “Cháu đọc hay quá! Chó chết thằng Nghĩa ở nhà đây, đọc ngập ngừng ngập ngững, khó nghe khó hiểu lắm”.

Chiều lại. Cơm nước xong, tôi đứng dưới gốc me trước nhà trọ, lơ đãng nhìn khách qua đường. Trò Nghĩa lăn xăn chạy lại nắm tay tôi rồi nói: “Bà nội tôi biểu anh qua nhà đọc truyện cho bà nghe, rồi bà biếu anh tiền ăn bánh”. Đọc truyện hợp với sở thích của mình mà lại được tiền ăn quà nữa, thật là sướng mê. Tôi bằng lòng ngay. Rồi từ đây, mỗi đêm tối tôi mỗi đọc truyện để được lãnh hai xu. Thỉnh thoảng có con cháu hoặc bạn bè đến viếng bà Ba và lóng tai nghe tôi đọc truyện một cách thích thú. Khi biết lai lịch của đứa bé mồ côi, thông minh, đỉnh ngộ, ngoan ngoãn dễ thương, họ có cảm tình với tôi ngay. Về nhà họ bàn tán và loan tin rằng: “Tại nhà thầy giáo Nhứt có một trò nhỏ học giỏi, đọc truyện Tàu nghe mùi mẫn”. Họ quảng cáo cho tôi mà tôi nào có dè!

Chẳng bao lâu từ Cửa Đồn, Chợ Cũ đến ngã tư Chợ Mới, Ninh Thạnh nhiều nguời biết tiếng tôi, và muốn nghe tôi đọc truyện để coi thử có đúng với tiếng đồn hay không? Trọn bảy tháng trời, tôi đọc các bộ truyện Tam quốc, Thuyết Đường, Tây du, Lục mẫu đơn, Phong thần... của bà Ba. Vừa nghỉ đọc truyện tại nhà bà Ba, thì tôi được dượng Hai Sửu “mướn” rồi kế tiếp đến nhà bà Hai Lộc, cô Ba Nhiều, bà Tư Tùng... Thật là đắc mối. Từ đó, mọi người tặng tôi cái biệt danh “thằng nhỏ học trò đọc truyện mướn”. Mà nào riêng gì tôi, các bạn học của tôi khi đọc truyện mướn để có hai xu ăn quà cũng được mọi người trìu mến gọi như thế”.

Chi tiết cho ta thấy rằng, vì sao các tiểu thuyết, truyện dài của nhà văn Sài Gòn lớp trước dù bản in không nhiều, nhưng tại sao vẫn lan rộng, phổ biến đến nhiều bạn đọc.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 11.3.2018



3_mokrcuoc_thi_dau_tien_trong_vn_chuobntVN

Muôn năm tuổi trẻ. Hoan hô tuổi trẻ. Cái tuổi đẹp nhất của đời người. Nhìn sự vật, sự việc gì cũng thấy mới mẻ. Từng sợi máu căng ra. Hơi thở phập phồng. Quyết liệt. Say mê. Hào hứng. Và cứ thế, con người ta lại hăm hở lao tới. Bất chấp vực sâu. Mặc kệ đỉnh trời cao chót vót. Không bận tâm. Sự cuồng nhiệt ấy đã khiến tuổi trẻ đã làm được biết bao nhiêu kỳ tích. Thành công lẫn thất bại. Chẳng hề gì. Trước biển xanh, sóng dữ dội, nếu thích, sẵn sàng phiêu du. Không thèm chần chừ. Không thèm cân nhắc. Nhìn trước ngó sau. So đo tính toán. Sự hồn nhiên, vô tư ấy chính là một trong những phẩm chất của tuổi trẻ.

Mà này, một khi ca ngợi tuổi trẻ, ấy cũng là lúc con người ta đã già. Nói như thế, bởi trước tết, có bạn đọc, đã già, ở Hóc Môn tặng cho toàn bộ sưu tập về tờ Lao động chủ nhật. Ông nâng niu gìn giữ, từng ngày, từng số báo. Và nay, đã tặng lại cho y. Thì ra, cái gì của mình dù không tìm kiếm nhưng đến một lúc nào đó, tự nó sẽ đến. Nói thì nói thế, nhưng phải biết ơn người đã tặng. Khi cùng anh Ba Thợ Tiện lên tư gia của ông, nhận lấy vài chục ký báo ấy, lòng tự nhủ: “Sẽ đọc. Sẽ viết”. Nhưng rồi, từ đó đến nay thế nào? Vẫn nằm ở một vị trí trang trọng trong thư viện. Có lúc đi ngang qua, nhìn thấy, tự dưng lại nhớ về thời tuổi trẻ. Cái thời mới chân ướt cân ráo vào Sài Gòn, suốt ngày ngồi mài đũng quần ở Thư viện Khoa học Xã hội. Hễ thích gì thì mượn đọc. Ghi chép. Quên ngày tháng. Qua cơn đói. Nhờ thế, nay có thể hoàn thành bài viết Cuộc thi văn chương đầu tiên ở Việt Nam, chính là từ ghi chép thời ấy, nay bổ sung thêm. Nếu cũng tài liệu này, nay mới tiếp cận, liệu chừng y có thể đọc từng chữ, từng câu như lúc mới phơi phới chừng vừa ba mươi xuân xanh?

Mà này, đã viết những gì? Viết rằng:

Thuở báo chí hiện đại mới du nhập vào nước ta, việc tổ chức các cuộc thi văn chương là cực kỳ mới mẻ và cũng là lần đầu tiên giữa độc giả và người làm báo có sự giao lưu cùng một sở thích. Không ai khác, chính người Sài Gòn, nói cách khác chính nền báo chí Sài Gòn đã năng động tạo ra sự gắn kết ấy.

Trong tập sách Văn chương Sài Gòn 1881-1924 - Văn xuôi I (NXB Văn hóa Văn nghệ, 2017), nhà báo Trần Nhật Vy cho biết một chi tiết quan trọng: “Năm 1902, báo Nông cổ mín đàm ở Sài Gòn đã tổ chức cuộc thi thơ đầu tiên của lịch sử văn học VN với tên gọi Quảng văn thi cuộc (tr.10). Kiểm chứng lại từ tờ báo này, ta biết cuộc thi này chính thức diễn ra từ số báo 39 ra ngày 22.5.1902. Bổn báo có lời rao: Nay muốn mở cuộc thông đồng cho văn nhơn tài tử xa gần vui chơi với nhau cho dễ. Tuy xa cách mặc dầu, chớ cũng đồng thinh khí. Xưa nay ai nấy đều biết bài thơ Lão kỵ quy y là hay, không ai họa lại được cho bằng. Vậy nay đổi ngược lại ra đề như sau này mà làm thử coi có hay chăng: Thanh ny hồi tục. Xin chư dai nhơn tài tử có rảnh làm chơi, vận chi cũng được”.

Xin nhắc, Lão kỵ quy y (nay thường thấy ghi Kỹ nữ quy y, Lão kỹ quy y), là tác phẩm của Huỳnh Mẫn Đạt (1807 - 1883), người đã cùng Phan Văn Trị bút chiến với Tôn Thọ Tường đã tạo thành dấu ấn văn chương lừng danh của miền Nam đầu thế kỷ 20. Theo Tự điển văn học (bộ mới), Huỳnh Mẫn Đạt là người Gia Định nhưng cũng có tài liệu cho rằng ông quê Rạch Giá, dù gì thì Nông cổ mín đàm đã lấy thơ của thi sĩ người miền Nam. Bản tin trên còn cho biết, các từ đồng thinh (đồng thanh), dai nhơn (giai nhân) là cách viết/nói thuở ấy.

Không dừng lại đó, từ số 52 ra ngày 21.8.1902, cuộc thi được tổ chức lần 2 với “đề thi”: Tu đâu cho bằng tu nhà/Thờ cha kính mẹ mới là chân tu. Rõ ràng cuộc thi đã có tác động nhất định trong việc khơi dậy cảm hứng sáng tác cho các thi nhân miền Nam đầu thế kỷ 20. Theo khảo sát của nhà báo Trần Nhật Vy, từ cuộc thi này, đã có những tác giả “về sau trở thành những người có tên tuổi trong làng viết lách Việt” như các ông Trần Phong Sắc - nhà dịch thuật nổi tiếng đầu thế kỷ 20, Tống Hữu Định - người góp phần mở đường cho cải lương miền Nam, Đặng Lễ Nghi - người sáng tác nhiều truyện thơ…

Khi biên khảo Đất Sài Gòn và sinh hoạt của người Sài Gòn xưa (NXB Hội Nhà văn - 2017), nhà nghiên cứu Lê Nguyễn cho biết một thông tin cực kỳ quan trọng cũng từ Nông cổ mín đàm: “Năm 1906, tờ báo thực hiện một sáng kiến hiếm thấy là mở một kỳ thi viết truyện với tổng số tiền thưởng đến 150 đồng. Đáng tiếc là sáng kiến này khá mới mẻ nên chỉ có một người dự thi” (tr.170). Thử hỏi, 150 đồng là nhiều hay ít? Chỉ biết chắc chắn rằng, bấy giờ một bữa ăn tại nhà hàng Tây và cà phê mở tại đường Jaccaréo (nay là đường Tản Đà, Q.5) chỉ tốn 1,4 đồng.

Cuộc thi này, cụ thể ra làm sao? Khảo sát từ tờ báo trên, ta có thể biết được nhiều thông tin lý thú. Trên số 262 ra ngày 23.10.1906, ông chủ bút Gilbert Chiếu (tức chí sĩ, nhà văn Trần Chánh Chiếu 1868 - 1919) cho đăng lời rao Quốc âm thí cuộc, có đoạn: “Nay bổn quán xin ra đề “Tiền căng báo hậu”. Người Lang Sa gọi là Roman nghĩa là lấy trí riêng mình mà đặt ra một truyện tùy theo nhân vật phong tục trong xứ, dường như truyện có thiệt vậy. Diễn dẫn ra một cuốn chừng 50 tờ giấy lớn. Cách nạp đơn: kể từ ngày nay cho đến ngày 15.11.1906 vị nào chịu ra thì phải vào đơn cho Bổn quán chấp. Quá hạn thì không chấp đơn nữa. Vào đơn rồi phải công ra diễn dẫn, hạn đến tháng 2.1907 nạp vở. Cách nạp vở: phải phong cuốn sách của mình lại cho kỹ. Ngoài bì, trên đầu đề một câu chữ riêng của mình ngụ ý, kế đó đề: “Nhựt trình Nông cổ mín đàm, số 199 đường Bourdais - Sài Gòn”.

Đây là cuộc thi tiểu thuyết đầu tiên trong lịch sử nền văn học Quốc ngữ nước ta. Trên số báo 280 ra ngày 5.3.1907, cuộc thi kết thúc với kết quả được công bố như sau: “Nguyên khi mở hội thi thì có 3 vị vào đơn xin. Song đến hạn nạp thì có 1 vị nạp mà thôi là M.Pierre Eugene Nguyễn Khánh Nhương ở Thủ Đức, tỉnh Gia Định. Truyện của thầy này đặt tên là Lương Hoa truyện, lời nói vừa phải dễ nghe, không cao không thấp. Song việc tiền căng báo hậu còn sơ một thứ. Bổn quán nghĩ vì còn một vị nạp vở thì khó mà sánh tài lắm, cho nên Bổn quán định thưởng “khuyến công” cho M.N.K Nhương là 25 viên bạc (tức 25 đồng) và một năm nhật trình”.

Từ số báo này Lương Hoa truyện được đăng tải lên trên trang 8 của mỗi số báo. Nội dung có thể tóm tắt: Hai người bạn thân là Bổn và Huy hứa hẹn sẽ kết thông gia với nhau. Bổn có con gái là Hoa, Huy có con trai là Lương. Huy vì gia cảnh nên không đi học được, Huy giúp đỡ Bổn ăn học nên đỗ cử nhân. Khi Pháp đánh chiếm Nam kỳ, gia đình Huy bị cướp phá. Huy chết. Vợ con lưu lạc gặp nhiều tai ách gian truân. Rồi mẹ con lại gặp nhau, Lương đến nhà cậu nương tựa. Nhớ lời cha dặn, Lương tìm đến nhà ông Bổn để xin đính ước với Hoa, nhưng ông Bổn đã chết. Sau Lương thi đỗ được bổ làm thư ký ở Nam Vang (Phnom Penh), vẫn mang ý định tìm Hoa”.

So với trước, việc tìm kiếm tài liệu hiện nay dễ dàng hơn nhiều. Với tờ Nông cổ mín đàm, có thể ngồi ở nhà, mở máy lạnh, tìm đọc qua mạng internet. Nhanh chóng. Nhưng rồi cái gì cũng có hai mặt của nó. Vừa rồi, lên chơi nhà người bạn. Khách được gia chủ mời ngồi chung bàn, hai cháu nhóc - con gái chủ nhà ngồi bàn bên cạnh. Giây lát sau, thêm một khách khác dẫn theo bé nhóc đến; và bé được ngồi chung bàn với người lớn. Quan sát và thấy rằng, cả ba cháu gái tuổi lên năm, lên mười chẳng hề nói với nhau một lời nào, chỉ vừa ăn vừa cắm cúi vào chiếc điện thoại. Đâu rồi tiếng nói cười đùa nghịch của đứa trẻ khiến ba mẹ đôi lúc phải nhắc nhở: “Đùa nghịch vừa thôi, nói nhỏ lại để người lớn nói chuyện”. Viết đến câu này, tự dưng lại nhớ đến thuở hoa niên quá đi mất. Ai lớn lên trong đời, không từng nghe câu ấy từ ba, từ mẹ?

Sáng nay, cậu em trai út gọi điện thoại là sắp đến ngày dời mộ ba. Chuyển về nghĩa trang Hòa Sơn. Song thân lúc sống gần nhau thì mất đi cũng gần nhau. Con cái ai lại không mong muốn điều đó? Bất chợt, trong đầu đã nghe vọng lên nhịp đi của câu thơ lục bát:  “Lạy ba, xin dời mộ ba/ Ba về cạnh mẹ ngôi nhà tình chung/ Trời an lạc. Đất bao dung/ Xét phong thủy đã điệp trùng núi non/ Đã nghe nhịp sóng Thu Bồn/ Hòa cùng Non Nước sắt son Ninh Bình/ Từ bóng đã hiện hữu hình/ Hình và bóng mãi nặng tình ngàn sau/ Trải qua những cuộc bể dâu/ Cội nguồn còn đó nhớ nhau lại về…”. Ấy là ngày 26.4.2018.

À, ở Đà Nẵng - quê nhà của mẹ y có Ngũ Hành Sơn, người dân vẫn quen gọi Non Nước. Nào ngờ ở Ninh Bình - quê của ba cũng có danh lam thắng cảnh Non Nước. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Xét về thơ ca ngợi phong cảnh non sông cẩm tú ở Đà Nẵng, chắc chắn Ngũ Hành Sơn vẫn là nơi các tài tử phong lưu đề thơ/ vịnh thơ nhiều nhất. Riêng về Non nước ở Ninh Bình, không thể không nhắc đến bài thơ vịnh của Trương Hán Siêu. Đại Việt sử ký toàn thư nhận xét về ông: “Là người chính trực, bài bác dị đoan, có tài văn chương và chính sự”; được Hưng Đạo Vương chọn làm “môn khách”, có thể lui tới doanh trướng của ngài.

Chính Trương Hán Siêu là người đặt tên Dục Thúy cho Non Nước - hiểu theo nghĩa “núi có hình con chim trả đang tắm gội”. Bài thơ này, chép theo bản dịch của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học: “Sắc núi vẫn xanh tươi/ Sao người chậm về chơi/ Lòng sông bóng tháp đẹp/ Hang đá cảnh chùa vui / Cuộc thế từ nay biệt/ Thân nhàn biết trước sai/ Năm hồ trời đất rộng/ Câu cá muốn tìm vui”. Thơ góp phần tôn vinh vẻ đẹp của thắng cảnh. Ngược lại, thắng cảnh cũng tạo niềm cảm hứng cho thơ. Đọc Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình do Trương Đình Tưởng chủ biên (NXB Thế Giới - 2004) biết rằng, dưới chân núi Dục Thúy từ năm 1998, người dân Ninh Bình đã lập đền thờ Trương Hán Siêu.

Nhân đây, cũng cần ghi lại một giai thoại lịch sử. Rằng, năm 1282, nhằm đối phó với giặc, , triều Trần triệu tập các vương hầu quý tộc họp hội nghị ở bến Bình Than, ai nấy cũng thể hiện quyết tâm đánh giặc. Trần Quốc Tuấn dâng Hịch tướng sĩ lên vua Trần Nhân Tông. Tuy nhiên, ngài âu lo là làm thế nào có được cùng một lúc hàng trăm bản Hịch tướng sĩ chuyển đến các tướng sĩ đang trấn giữ ngoài các biên ải? Biết được điều này, Trương Hán Siêu đã có sáng kiến độc đáo là huy động, tập hợp các môn sinh viết chữ tốt.

Trên một khoảng sân rộng, đúng vào giờ ngọ, đứng trước hàng trăm môn sinh đang chỉnh tề chờ lệnh, ông dõng dạc: “Hỡi các ngươi, vận nước như chuông treo chỉ mành, mỗi chúng ta phải trăm người như một, phò vua cứu nước. Nay, ta truyền các ngươi chép Hịch tướng sĩ để ban bố khắp trong thiên hạ. Hỡi các ngươi! Chữ viết phải rõ, nét chữ phải đẹp. Phải toàn tâm toàn ý với lời vàng chữ ngọc để không phụ lòng Đại vương”.

Trương Hán Siêu vừa dứt lời, một tiếng trống hiệu hùng dũng vang lên. Lúc ấy, cả hàng trăm môn sinh bắt đầu miệt mài chép từng chữ, từng câu do ông đọc sang sảng. Khi nắng chiều ngã dài trên bến sông Bình Than, Hịch tướng sĩ cũng vừa viết xong. Hưng Đạo Vương rất lấy làm hài lòng. Nhờ sáng kiến này, các tướng sĩ ngoài biên ải đã kịp thời nhận được lời hiệu triệu phấn khích tinh thần chiến đấu, hừng hực khí thế “Sát Thát”. Khi Hịch tướng sĩ được phổ biến nhanh chóng, đồng loạt trong quân ngũ đã góp phần tạo nên sức mạnh chung.

Thoáng đó, vừa mới ăn Tết, đã thấy tết đi xa lắm rồi. Thời gian trôi qua nhanh quá đi mất. Chẳng mấy chốc nữa, y cũng sẽ sống như tâm thế trong câu thơ của Trương Hán Siêu: "Câu cá muốn tìm vui". Liệu có thanh nhàn được thế không?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 3.3.2018

cungcathan_mhlk

Người dân cúng bái cá “thần” ở Nghệ An - ẢNH: K.HOAN


Dấu vết của một thời còn có thể khảo sát từ thông tin thời sự trên báo chí.

Sáng nay, báo Thanh Niên in bài Bất ổn khi cái gì cũng cúng. Trong đó có đoạn: “Việc người dân nghe chuyện thánh thần nào cũng tin, bạ đâu cũng cúng, là một biểu hiện không ổn về văn hóa. Sáng 16.2 (mồng 1 tết), một người dân địa phương đang đi trên đường thì phát hiện một cá chép khá to dưới mương dẫn nước ở xóm Hòa Thành, xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An. Người này sau đó gọi thêm mấy người cùng xóm mang kích điện ra để bắt cá nhưng không bắt được và bỏ cuộc. Sau đó, con cá không bơi đi, vẫn quẩn quanh ở đoạn mương này, thỉnh thoảng nổi lên rồi lặn xuống, khiến nhiều người đồn thổi cho rằng đây là “cá thần” và nhiều người hiếu kỳ kéo đến xem, bàn tán. Hôm sau, một số người còn lập bàn thờ ngay bên bờ mương, mang hương, hoa đến thắp, khấn “cá thần” để cầu may.

Xác định đây chỉ là con cá thông thường, ngày 21.2, ông Nguyễn Bá Dược, một người dân ở xã Hiến Sơn, được sự đồng ý của chính quyền xã, đã quyết định dùng chài vây bắt “cá thần”. Đó là một cá chép bình thường, nặng 3,2 kg và có dấu hiệu bị bệnh. Theo ông Dược, nguyên nhân khiến con cá này nổi lên rồi lặn xuống trong mấy ngày qua có thể do bị người dân dùng kích điện bắt trước đó làm nó bị thương. Nhiều người dân hiếu kỳ hay tin ông Dược bắt được “cá thần” đã kéo đến xem và tận tay sờ vào con cá. Ít giờ sau khi bị vớt lên, con cá này yếu dần rồi chết, ông Dược mang vứt đi, câu chuyện đồn thổi “cá thần” mới chấm dứt.

Từ ngày 24.2 (mồng 9 tết) tại xã Quảng Văn, TX.Ba Đồn, Quảng Bình rộ lên thông tin xuất hiện một con rắn tại mộ vô danh nằm ven đường vào xã; sau đó xuất hiện thêm một con nữa. Nhiều người địa phương và ở nơi khác đã đến xem rồi cầu khấn, sờ lên con rắn vì cho rằng đó là rắn “thần” linh thiêng.

Tối qua 2.3, ông Trần Văn Trọng, Chủ tịch UBND xã Quảng Văn (TX.Ba Đồn, Quảng Bình), cho biết số lượng người tập trung tại ngôi mộ vẫn rất đông và họ thức suốt đêm nên lực lượng chức năng được triển khai để duy trì an ninh trật tự. Trước đó, tối 1.3, lực lượng UBND xã tổ chức tháo bóng đèn điện, tháo dỡ rạp che trên ngôi mộ nhưng bất thành vì bị số đông người dân ngăn cản. Trên khu mộ có điện thắp sáng được câu nối từ hồ nuôi tôm, UBND xã tiến hành cúp điện 2 lần và cũng bị người dân phản đối dữ dội nên phải mở lên lại. Trong khi đó, theo nhiều nguồn tin, tình hình tại đây càng trở nên phức tạp khi có hiện tượng nhập “đồng”, người nhập là bà N.T.P (50 tuổi, người địa phương) khiến nhiều người càng tin.

Theo ông Trần Văn Trọng, nhiều người cũng dâng cúng tiền, tổng cộng đến ngày 1.3 có đến khoảng 200 triệu đồng tại mộ”.

Sự mê muội này không gì mới. Theo yêu cầu của báo Thanh Niên, chiều qua, y đã kịp thời bổ sung bài viết Người xưa chống mê tín. Đọc lại vài tư liệu. Ghi thêm đôi dòng.  

“Than ôi! Cái tục thờ bái ma quỷ, cả nước như điên, như cuồng”; “Thậm chí ngay cả muỗi, rắn, nhện, ốc, phân hổ, xương trâu, cũng đều cho rằng có thể gieo họa phúc cho người ta. Chính tập tục ngu muội đó đã làm cho người ta hoảng sợ, do vậy mà phải lập đền miếu để quanh năm thờ cúng”. Lời than phiền này còn thấy ghi rõ trong tập sách Sơn cư tạp thuật, có khả năng được tác giả (khuyết danh) viết vào cuối đời nhà Lê.

Qua đến đời nhà Nguyễn, sự tệ lậu trên vẫn không mấy cải thiện, bằng chứng trong tập Bà tâm huyền kính lục của Trần Tân Gia in năm 1897, có đoạn: “Gần đây, cũng có những chuyện xúi giục mê hoặc dân gian như thơ tiên, thuốc thần, nước suối, rắn trắng... Đó thực là những chuyện làm loạn đời, mê hoặc quỷ thần. Dám xin những người học thức hãy cảnh giác răn dè bọn đệ tử nông cạn, ngu dốt chớ có nghe theo mà rước họa vào thân...”.

Dưới triều Nguyễn việc chống mê tín dị đoan rất quyết liệt thông qua các chính sách, quy định rạch ròi, cụ thể. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ ghi: “Nay cái tục tin theo quỷ thần, mê muội đã quá, hơi một tí cũng đi mời thầy vẽ bùa, đọc chú, nịnh hầu kẻ đồng cốt... Thậm chí có kẻ phụ đồng ấp bóng, bịa ra lời nói của thần, kiêng ăn cấm thuốc, kẻ đau ốm không cứu lại được. Lại có những thủ thuật làm người bằng giấy, làm ngựa bằng cỏ, ném gạch đá vào nhà, đốt cháy nhà cửa, cùng những bùa thuốc làm mê hoặc...”.

Xử phạt ra làm sao? Thời Gia Long: “Các người làm nghề phù thủy, làm đồng cốt, kẻ nào can phạm thì phạt xuy 100 roi, bắt đi giã gạo 6 tháng”; Thời Minh Mạng, phàm thầy cúng, đồng cốt, vẽ bùa chú, tà thuật, dị đoan “kẻ thủ phạm phải tội giam; kẻ tòng phạm phải phạt 100 trượng, lưu 3.000 dặm. Nếu là quân, dân đóng giả thần tượng, gỗ thanh la, đánh trống, đón thần mở hội, phải phạt 100 trượng, chỉ bắt tội kẻ đứng đầu thôi. Lý trưởng biết không tố cáo, phạt xuy 40 roi”. Năm 1843, thời Thiệu Trị, tại Hà Nội có tên Trần Văn Lập làm thầy phù thủy, phụ đồng chữa bệnh đã khiến người ngồi đồng là Hoàng Huy Triết nhảy nhót, ngã đập đầu vào tường tử vong. Tên Lập bị ghép vào tội “lầm lỡ làm chết người”, nộp tiền chôn cất người chết, “xử phạt 100 trượng rồi đem đày làm binh nơi biên giới xa”.

Cơn cớ tại làm sao, sự mê muội ấy vẫn tồn tại? Thật ra những thông tin trên, chỉ mới soi rọi từ phía người dân.

Nay, về phía quan chức thì sao? Chỉ cần gõ từ khóa “Quan chức đi lễ”, Google cho biết: “Khoảng 3.540.000 kết quả (0,27 giây); “Quan chức mê tín”: “Khoảng 2.000.000 kết quả (0,51 giây)”. Tại sao từ dân đến quan đều “cái gì cũng cúng”? Có nhiều câu trả lời. Trước mắt, ghi lại một thông tin thời sự của tháng ngày đang sống.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 20.2.2018

 

kien-van


Đời sống ư? Đôi lúc thấy buồn và tẻ nhạt. Có lúc hân hoan rộn rã tiếng nói cười. Nhưng rồi, lúc tĩnh tâm, ngồi một mình nhìn xuống lòng mình thấy gì? Chẳng thấy gì hay chỉ có một sắc trắng, một âm thanh trống rỗng đã phủ kín từ cảm xúc đến thể xác? Đến một lúc nào đó, nhìn lại chặng đường dài đã đi qua, y hài lòng hay dửng dưng? Biết nói thế nào bởi lẽ năm tháng trôi qua, y đã giữ được gì trong mười ngón tay? Có gì hay chẳng có gì? Nào có thể cân dong đo đếm chính xác. Chỉ biết rằng, cố gắng mỗi ngày làm sao sống trọn vẹn ngày ấy.

Thế nào là sống?

Câu trả lời khó quá. Mỗi người một lựa chọn. Lựa chọn nào cũng được miễn là họ hài lòng. Chẳng ai có thể sống giùm cho ai cả. Đôi khi người ta không dám sống. Y chứ ai. Có đôi lúc quay về một cõi khác để tránh đi cái nhìn phải nhìn, cái nghe phải nghe của thời cuộc đang diễn ra mỗi ngày. Bịt tai nhắm mắt. Và lầm lũi đi trong một cõi khác. Cõi thư hương bộn bề sách vở. Mà sách vở có là gì, chẳng là gì so với nhịp sống đang diễn ra từng ngày, từng giờ với biết bao biến động, đổi thay…

Mà thôi, đôi khi đọc sách cũng là một cách chia sẻ nhiều điều muốn nói. Đêm qua, đọc lại Kiến văn tiểu lục (NXB Trẻ -2013) của Lê Quý Đôn. Nghiệm ra rằng, một khi đất nước loạn lạc, đổ đốn, “Vua chèo còn chẳng ra gì/ Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề” thì ngay cả người trí thức cũng tha hóa, không giữ được tư cách: “Từ năm Đoan Khánh trở về sau, lời bàn luận sáng suốt bẵng đi, thói cầu cạnh mỗi ngày một thịnh; người có chức vị ít giữ được phong độ thanh liêm nhún nhường, trong triều đình không nghe có lời can gián, gặp có việc thì rụt rè cẩu thả, thấy lúc nguy thì bán nước để toàn thân; đâu có người là bậc danh nho, ai cũng đều yên tâm nhận sùng vinh phi nghĩa, rồi nào thơ ca trao đổi, khoe khoang tán tụng lẫn nhau; tập tục sĩ phu thối nát đến thế là cùng, tệ hại biến đổi lần này không thể nào nói cho xiết được” (tr. 27).

Đoan Khánh là niên đại Uy Mục đế. Sử sách ghi nhận, Lê Uy Mục (1505-1509) là “vua quỷ”. Năm 1509, Giản Tu công Lê Oanh từ Tây Đô kéo quân về đánh chiếm lại Đông Kinh và bức tử Uy Mục. Oanh sai người đặt xác Uy Mục vào miệng súng lớn, bắn cho tan xương cốt. Xong, Oanh tự lên ngôi, tức vua Lê Tương Dực rồi cũng lao vào đường tửu sắc trụy lạc. Tương Dực sai người thợ có tên là Vũ Như Tô làm cung điện 100 nóc, xây Cửu trùng đài hao tốn biết bao tiền của; lại bắt đóng những chiến thuyền để đàn bà khỏa thân chèo thuyền chơi trên Hồ Tây! Chỉ có dân đen sống trong cùng cực, phải gánh chịu bao thuế má nặng nề. Giặc giã trong nước nổi lên khắp nơi. Tiếng than khóc vọng đến trời xanh. Sử sách ghi nhận, Lê Tương Dực là “vua lợn”!

Thời bấy giờ, theo Lê Quý Đôn các bậc cao sĩ có khoảng trên dưới một trăm, thế nhưng ông chỉ liệt kê chỉ liệt kê được vài người có “cao phong khí tiết”. Chẳng hạn, Lý Tử Cấu, Nguyễn Thì Trung, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hãng… Về khoa cử nước nhà, còn có thể biết thêm chi tiết mà xưa nay các nhà nghiên cứu ít lưu tâm đến: “Gặp lúc người nhà Minh sang xâm lấn nước ta đặt làm quận huyện, họ đặt các khoa “Sơn lâm ẩn dật, hoài tài bảo đức” (ý nói người ẩn dật nơi núi rừng, người tài ba, có đạo đức) để tìm kiếm nho sĩ đưa về Kim Lăng dùng làm quan ở châu huyện. Hỡi ôi “lúc ấy, người hơi có tiếng tăm một chút đều nhận mệnh lệnh” (tr.28), ngoại trừ Lý Tử Cấu, Vũ Mộng Nguyên, Nguyễn Mộng Tuân…

Mục đích của việc học là để làm gì? Các cô nàng, “Chẳng ham ruộng cả ao liền/ Chỉ ham cái bút cái nghiên anh đồ”, “Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau” - có như thế mới “Bõ công trang điểm má hồng răng đen”… Ngay cả sau này, còn có câu: “Phi cao đẳng bất thành phu phụ”... Học là điều tốt quá. Nhưng học để làm gì mới là điều đáng bàn. Nếu học để ra làm quan, thì phải thông qua khoa cử. Đọc Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1937 do Lại Nguyên An sưu tầm, biên soạn (NXB Trí Thức -  2014) mới biết vua Đồng Khánh cũng cực siêu “thu phục nhân tâm” bằng khoa cử.

Rằng, sau vua Hàm Nghi bị bắt vào đêm 30.10.1888 rồi bị đày sang Algérie. Tình hình chính trị không chỉ Trung kỳ mà trong cả nước cực kỳ rối ren, làm sao để giới trí thức thôi tham gia kháng chiến, lãnh đạo cuộc kháng chiến? Cứ đem khoa cử ra mà nhử. Phan Khôi viết: “Khoa thi hương Mậu Tí, Đồng Khánh năm thứ ba, hai trường Thừa Thiên, Bình Định thi chung tại trường Thừa, gọi là “Thừa Bình hiệp thí” lấy đỗ đến 50 cử nhân, 150 tú tài, làm cho sĩ phu rất là mãn nguyện, dư luận rất là thỏa thiếp. Họ đua nhau ca tụng ông vua mới vẽ mày vẽ mặt cho họ mà quên bẵng ông vua cũ vừa bị đày đi. Họ cũng không còn nhớ mới vừa rồi cơn quốc biến mà vì đó họ đã khởi nghĩa Cần vương. Tôi nói thế, bởi tôi thấy trong đám họ có người năm trước ra đầu thú rồi năm sau thi đậu” (tr.173).

Biết các chi tiết này, càng nhận ra các nhà nho cấp tiến thuở ấy, cỡ các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp…, dù đỗ đạt nhưng cũng vứt béng, đi làm cách mạng. Rõ ràng một nhận thức đi trước thời đại rất xa. Câu chuyện này còn dài. Chẳng lẽ lại lụi cụi mày mò tìm hiểu thêm? Hãy để dịp khác. Đọc ca dao, tục ngữ thú hơn. Chẳng hạn, “Em là con gái đồng trinh/ Em đi bán rượu qua dinh ông nghè”; hoặc “Ngựa ai buộc cửa ông cai/ Hoàn ai mà lại ở tai bà nghè” - hoàn là vòng, khoen, Đại Nam quấc âm tự vị (1895) giải thích. “Ngựa ai buộc ngõ ông nghè/ Gà ai gáy ở đầu hè ông Cai”.  Trong bài thơ Ngày xưa của Nguyễn Nhược Pháp có đoạn: “Trên lầu mấy thị nữ/ Cùng nhau rúc rích cười:/ “Thưa cô đừng thẹn nữa/ Quan nghè trông lên rồi”.

Nghè là gì?

Trong tác phẩm Lược khảo khoa cử Việt Nam, nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp căn cứ vào tài liệu của nhà bác học Lê Quý Đôn: “Từ bản triều (thời Lê trung hưng), ai đỗ tiến sĩ lại càng được sang trọng lắm: nào được ban áo, ban mũ; vinh quy về làng, cờ mở trống giong, nào các quan đốc thúc dân làng  làm sẵn đài đệ cho ở; nào vào làm quan ở Hàn lâm viện ngay, nếu có đi các tỉnh cũng không bao giờ phải làm chức phó nhị v.v...”; và kết luận: “Nghè tức là dinh thự dân phải làm như miếu, đền v.v... chỉ có ông tiến sĩ là được nhà của dân làm cho mà các quan phải đi đốc thúc, thế cho nên gọi là ông nghè, nên phương ngôn hãy còn câu “Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng”.

Còn có cách giải thích nào khác?

Trong tác phẩm Bút nghiên, nhà văn Chu Thiên cho rằng: “Ở trong điện nhà vua, cái điện nào cũng có cái mái chạy dài ra hẳn quá sân, để khi mưa nắng che cho các đại thần cao cấp. các mái ấy gọi là nghè. các tiến sĩ vào đình thí phải đứng ở đấy, tức là tiến lên vua rồi, cho nên người ta mới gọi gộp là các ông nghè”. Việt Nam từ điển của Lê Văn Đức giải thích: “Nghè: điện của nhà vua. Tiếng gọi các quan làm việc trong điện nhà vua, thường là các ông đỗ tiến sĩ”.

Thế nhưng trên Kiến thức ngày nay số 255 (20.8.1997), căn cứ vào bài ca dao có câu: “Em đi bán rượu qua dinh ông nghè”, ông An Chi trả lời bạn đọc chuyên mục Chuyện Đông chuyện Tây: “Ông nghè đây chỉ ông quan chứ đâu phải là “quan làm việc trong điện nhà vua”, cũng chẳng phải là ông tiến sĩ, mà cũng chẳng nhất thiết là ông quan có học vị tiến sĩ. Nghè là từ Việt gốc Hán bắt nguồn từ một từ ghi bằng chữ mà âm Hán Việt chính thống hiện đại là “nha”, còn âm xưa chính là... “nghè”.

Vậy “nha” là gì? Ông An Chi giải thích: “Nha” có nghĩa là công đường, là nơi làm việc của quan lại. Ngoài ra trong Đường thư nó còn có nghĩa là chỗ làm việc của vua… Ngoài ra từ “nha” còn có biến thể văn tự, ngữ âm, ngữ nghĩa là “nhã” mà âm xưa cũng là nghè. Và có nghĩa là nhà khách nơi sang trọng, sảnh đường (nơi làm việc của quan lại), nhà trọ cho khách qua đường và cũng có nghĩa là cái hiên nhà nữa”.

Sau đó, ông kết luận: “Từ trên đây suy ra, danh từ “nghè” ban đầu được dùng để chỉ công đường (nơi quan lại làm việc) hoặc cung vua (nơi vua ở và ngự triều) rồi về sau mới có nghĩa phái sinh bằng hóa dụ để chỉ các quan làm việc nơi công đường hoặc cung vua. Ngày nay, “nghè” đã trở thành một từ cổ nên người ta không còn biết rõ nghĩa và công dụng của nó nữa. Vì vậy mà về nghĩa gốc của nó, có người giảng rằng đó là mái hiên trong cung vua, có người lại nói rằng đó chính là cung điện của nhà vua, còn về nghĩa phái sinh của nó thì có người giảng rằng đó là ông tiến sĩ, nhưng có người lại giảng rằng đó là ông quan làm việc trong cung điện nhà vua. Xét kỹ ra, như trên đã nói, thì nghĩa nào cũng có cả. Ngoài  ra trong tiếng Việt “nghè” còn có nghĩa là miếu thờ thần nữa nhưng vì nghĩa này không liên quan đến vấn đề đang xét nên chúng tôi không nêu ra”.

Tuy nhiên, trong tác phẩm Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử Việt Nam thời phong kiến (NXB Giáo Dục - 1998), ông Nguyễn Tiến Cường không đồng tình với lập luận của ông An Chi. Có thể tóm tắt: Thứ nhất, tự dạng của chữ nghè là chữ Nôm không liên quan gì đến chữ nha, chữ nhã. Thứ hai, nếu nói nghè có nghĩa là ông quan nói chung hoặc quan triều đình thì khi thay chữ quan bằng chữ nghè trong trong các từ: quan thượng thư, quan thị lang... để xem thế nào. “Nói quan thị, quan hoạn thì bình thường quá, nói nghè thị, nghè hoạn thì nó mới lố bịch làm sao!”. Thứ ba, nếu nói đó là nơi quan làm việc thì cũng không ổn. “Người ta nói dinh quan tuần phủ, công đường của quan huyện, quan bố... không ai nói nghè của quan tuần, quan bố, quan án thậm chí quan huyện”. Thứ tư về bài ca dao trên thì phải hiểu khác đi v.v...

Qua các tranh luận thú vị này, rõ ràng để hiểu thấu đáo một từ cổ tiếng Việt trong lãnh vực giáo dục quả không dễ dàng. Với từ ông nghè, ông Nguyễn Tiến Cường cho rằng, cách lý giải của cụ Trần Văn Giáp là xác thực, thuyết phục nhất. Nếu đúng, ta có thể hiểu nôm na nghè tức là dinh thự mà dân phải làm cho các ông thi đậu ông tiến sĩ; chỉ có tiến sĩ là được nhà của dân làm cho mà các quan phải đi đốc thúc, thế cho nên gọi là ông nghè.

Mà này, có thật khi đậu tiến sĩ, vị tân khoa trở về làng thì được quan sở tại đôn đốc, sai khiến dân làm nhà cho ở không?

Để tìm hiểu vấn đề này, không chứng cứ nào thuyết phục hơn bằng những ghi chép trong tác phẩm Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (1768- 1839): “Lệ cũ ai đỗ khoa Đông các, khi vinh quy dân bản tổng phải đến phục dịch; làm nhà tư thất bằng gỗ lim, lợp ngói, độ ba gian, tất cả dân phu trong bản tổng, bản huyện phải đến ứng dịch. Khi Phạm Khiêm Ích đỗ khoa Đông các về vinh quy, ông thương hại người hàng tổng bần cùng, nên miễn cho, không bắt chịu cái phí tổn làm nhà nữa. Ai cũng lấy làm cảm ơn, sau tôn ông làm hậu thần, thường năm xuân thu cúng tế, mổ trâu vào đám, báo cái ơn đức ấy. Sau khi nhà Lê mất, hậu thần các làng thường bỏ không cúng tế nữa, duy có giỗ hậu Phạm công thì làng vẫn làm lợn thay trâu bò cúng tế, không dám bỏ. Xem thế mới biết cái ơn di ái ở người ta vẫn nhớ mãi không quên.

Triều Lê đãi học trò rất hậu, nào là trâm, hốt, hoa bào, du nhai, tử yến, lại phong cho cha mẹ, ấm cho con cháu, vinh quy áo gấm về làng, rất vinh dự. Hậu đãi như thế là đủ rồi. Còn đến như làm nhà tư thất, phục dịch việc gì cũng đổ vào đầu dân cả, thì dân hàng tổng chịu làm sao được. Vả lại, người học trò mới đỗ đại khoa, mà cả hàng tổng đến phục dịch, làm nhà cửa cho mình, lại phải mở yến tiệc khao mừng, đãi dân hàng tổng để đền công lao, thế tất phải xoay sở đi vay mượn cho xong việc. Thậm chí có kẻ chỉ dòm lấy con gái nhà giàu mà bỏ vợ tào khang; hoặc chịu tiếng luồn lỏi đi vay lãi mà ký liều vào văn khế. thói quen ấy tích tệ từ lâu, nên đã có tiếng “Ông nghè đeo nợ, bà nghè mua chồng”! Thế mà mong người ta ra làm quan giữ liêm khiết, không trái phép làm càn, thì làm sao được”.

Ngày xưa dù học giỏi thi đậu đã là thế; còn nếu bất tài vô tướng phải bỏ tiền mua chức chạy quyền thì khi ra làm quan làm sao "giữ liêm khiết, không trái phép làm càn"? Sự tệ hại ấy ắt còn gấp bội phần.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 1 trong tổng số 53

trinhduyson