LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 22.10.2017

 

ngay-di-tren-chu-2Rrr

 

Trở về với cuộc sống, nếp sinh hoạt cũ dễ hay khó? Đang cố gắng dần. Phải hòa nhịp lại với những gì lâu nay đã trở thành thói quen. Phải cố gắng dần. Cảm thấy chống chếnh. Bỡ ngỡ. Chẳng gì ra cái gì. Cố gắng giữ nguyên, giữ lấy mọi sinh hoạt đã có. Không thay đổi. Đời sống của mỗi người, phải biết chấp nhận một sự thật nào đó. Và nhận ra rằng, tất cả đều bình thường. Phải là thế. Và cứ thế, mỗi ngày lại đi qua. Dù muốn, dù không, cũng không thể, vậy, hãy chấp nhận lấy nó. Mở lòng ra và nhận lấy một cách an nhiên. Trong những ngày nay, tự nhủ như thế. Tự dặn dò lấy chính mình. Không một lời khuyên nào có thể thay đổi một người, ngoại trừ lời khuyên của chính nó.

Sài Gòn vẫn mưa, thỉnh thoảng những cơn mưa ùa đến. Dai dẳng. Nặng hạt. Sấm chớp ầm ầm. Rồi lại nắng. Sáng hôm qua, đi xuống phố. Ghé lại nhà sách của NXB Tổng hợp TP.HCM. Mua vài quyển sách. Cũng là một cách thư giản, vì rằng, trong nhà đã quá nhiều sách, không nhất thiết phải mua thêm nữa. Nhưng rồi vẫn thích la cà những nơi bày bán sách. Một thói quen đã định hình từ ngày còn thơ bé, đến lúc ngoài ngũ thập vẫn không thể bỏ. Sách có ma lực gì mà khi đã vào đó, bao giờ lúc bước chân ra thì trên tay cũng cầm theo một hoặc nhiều quyển sách? Trả lời câu hỏi này, có thể viết thành một bài tuy bút đấy chứ? Hẹn dịp khác.

Sáng hôm qua, mua lấy nhiều quyển, trong đó có Hậu Kiều Đoạn trường vô thanh của Phạm Thiên Thư. Có lần gặp nhau, ông bảo: “Tôi đặt bút xuống là thấy cỏ cây. Chắc chắn vì ảnh hưởng hồi nhỏ. Năm tôi lên 3, cha mẹ đã đem tôi lên rừng. Lúc ấy, cha tôi từ Hải Phòng tới vùng Cổ Vịt tại huyện Chí Linh khai hoang và lập trang trại Đá Trắng tại đây. Tôi ở trong rừng suốt tám năm, lớn lên nơi lưng một ngọn núi hoang vu, suốt ngày chỉ biết hát ca với cỏ cây, chạy nhảy với đàn chó săn hay nằm trên đỉnh núi trọc nhìn hoàng hôn. Mảnh đất màu xanh này ám ảnh tôi, và được dựng thành quê hương của Thúy Kiều trong Đoạn trường vô thanh”.

Bản in của NXB Nến Hồng in năm 1972, lấy tựa Đoạn trường vô thanh; năm 2012, NXB Tổng hợp TP.HCM tái bản là Hậu Kiều Đoạn trường vô thanh.

Mua, một phần vì nhớ đến ông bạn già đã lâu không gặp. Không còn buổi chiều lên Tân Bình, đến chơi với ông ở quán cà phê Động hoa vàng. Ngồi nói chuyện linh tinh lang tang. Rồi về. Mua, vì lật vào trong, thấy có in dòng chữ: “Một đêm năm mơ, ở đất Tân Bình - gặp Người Đẹp tặng tấm gương soi và cây bút. Tỉnh dậy, mới biết ấp trang Vô Thanh trên ngực mà ngủ quên. Tự nghĩ mặt mày còn phải rửa lại, huống chi là hư truyện đã viết cách đây trên hai mươi năm - đọc lại lắm chỗ chẳng được như lòng… Nên đêm nay, khêu đèn dầu hao, tựa mảnh trăng tròn hơn ngoài cửa, mượn Người Đẹp ngọn ý bút, nhuận sắc lại Vô Thanh, cốt để tự soi mình vậy. Nay thêm đôi dòng tạ tội” (21.4.1992).

Việc sửa lại thơ mình từ bản đã in, không lạ, nhiều nhà thơ đã làm việc này. Có thể qua đó, câu thơ hay hẳn lên, nhưng cũng không ít trường hợp “trâu lành thành trâu què”. Bản thân y không thích sửa lại những câu thơ đã in, đã công bố, thôi thì cứ giữ nguyên dấu vết ấy, dù  biết rằng nếu sửa sẽ gột bỏ được sự thô vụng.

Với Phạm Thiên Thư, nhiều lần qua trò chuyện, ông cho biết sẽ chỉnh sửa chỉ vì vấn đề Phật học sau này ông tinh tấn hơn, có nhận thức khác hơn thuở còn trẻ, vì thể muốn “nhuận sắc” là vậy. So sánh của 2 bản in, quả đúng như thế. Chẳng hạn, bản in 1972: “Đất trời mừng đón Thánh minh/ Dân gian mở hội thái bình bốn phương/ Thiền sư quẩy gói lên đường/ Bước chân tịnh mặc áo vương mầu trời”; bản in năm 2012: “Đất trời thắm lại bình minh/ Dân gian mở hội thái bình bốn phương/ Thánh nhân quẩy gói lên đường/ Bước chân Tự Chỉnh mặc áo vương mầu trời”. Tự chỉnh là gì? Hãy nghe tác giả  giải thích… Mà thôi. Đọc thơ chứ phải đọc sách nghiên cứu đâu. “Ẩn Lan ơi mái tóc thề/ Gió xuân nay có vỗ về hương xưa/ Đêm nao học dưới trăng mờ/ Nến leo lét lụi, chữ hờ hững in”; nay: “Ẩn Lan ơi mái tóc thề/ Gió xuân nay có vỗ về suối hương/ Đêm nao ngồi học bên tường/ Nến leo lét lụi, chữ vương vắt chìm” v.v… và v.v…

Sự hồn nhiên, vô tư, tự nó bộc phát ra ngay trong một thời điểm nào đó bao giờ cũng chân thật, thật lòng hơn cả. Dù rằng, sự chân thật ấy, chưa tròn trịa như người khác mong muốn, nó còn gai góc, còn va vấp nhưng đó mới là sự chân thật. Nếu đã tính toán thận trọng, đã cân nhắc chu đáo dù rằng có chân thật đi nữa nhưng nó lại không có dấu vết của sự hồn nhiên, vô tư. Trong đời sống, y thích làm bạn với những ai khi sử lý tình huống vẫn còn có dấu vết của sự hồn nhiên, vô tư ấy, miễn là thật lòng. Và thơ cũng cần những dấu vết ấy. Đoạn trường vô thanh bản in năm 1972 của Phạm Thiên Thư là một thí dụ.

Sáng nay, chủ nhật. Ngồi thừ trước bàn phím. Chẳng viết được gì cả. Dù rất muốn trở lại thói quen của mỗi ngày. Ngày trong nếp ngày. Ngày viết mỗi ngày. Ngày sống đời thơ. Ngày đi trên chữ. Nhưng rồi chữ nghĩa có là gì? Bài thơ cuối cùng viết về mẹ là lúc 24 giờ của ngày 12.10.2017 - ngày mẹ mất, lúc 5 giờ sáng. Những câu thơ trào ra ngoài ngọn bút. Vẽ lại cảm xúc của khoảnh khắc ấy. Một khoảng khắc tột cùng của sự mất mát: từ nay không còn có mẹ.

Một khi đối mặt cùng sự đau đớn, cách hóa giải tốt nhất vẫn là nghĩ đến nỗi bất hạnh của người khác, biết đâu họ gánh chịu còn lớn lao hơn mình gấp bội phần. Nói như thế, bởi nhớ đến nhà văn Võ Phi Hùng, một đồng nghiệp nghèo, mồ côi cha mẹ, thuở bé sống trong cô nhi viện, nay đã mất. Năm tháng cuối đời của Hùng, y gặp luôn vì anh thuê phòng trọ và hay uống ở quán cà phê gần nhà. Có lần anh tâm sự: “Tôi đã dành nhiều thời gian đi tìm mẹ, đi tìm lấy cội nguồn của mình, nhưng rồi bất lực. Không thể tìm được mẹ, dù đã nhiều lần cố gắng hết sức. Khi đã ngoài 60, tôi ngộ ra rằng, đó là một sự thật mà tôi đành phải chấp nhận”. Còn có sự chấp nhận nào bất hạnh hơn thế không? Nghĩ đến hoàn cảnh của người khác, để thấy rằng, dù gì mình cũng còn may mắn hơn.

Ngày về tiễn mẹ là bài cuối cùng, y viết về mẹ. Viết lúc còn nhìn thấy mẹ trên cõi trần. Một gương mặt thanh thoát, thanh thản như đang ngủ sau một chặng đường dài. Chặng đường 90 năm của cụ bà Lương Thị Ân (1927-2017). Lúc ấy, y nằm dài dưới đất, hướng mặt về bàn thờ Phật, phía sau là cỗ quan mẹ. Và đặt bút viết: “Tiếng kinh cầu dịu dàng hương sen/ Hoa huệ trắng của một đêm về sáng/ Ngoài trời mưa từng giọt, mẹ ơi/ Đã từ đây không gặp lại trong đời/ Giọng nói, tiếng cười, dáng người của mẹ/ Con ước gì quay về thơ bé/ Vẫn có mẹ dỗ dành”. Những ai còn có mẹ, một khi nghĩ đến câu: “Đã từ đây không gặp lại trong đời”, có thể cảm thấy bình thường, nhẹ hếu, nhưng rồi lúc mất mẹ mới cảm thấy điều ấy khủng khiếp biết dường nào. Cảm nhận rất rõ một sự trống rỗng đang đè ập xuống lòng mình. Tưởng chừng như nghẹt thở.  

Mẹ mất, nếu đã có vợ/ chồng/ con cái thì người ta sẽ nghĩ gì? Y không biết vì không là hoàn cảnh đó. Vẫn đơn thân độc mã. Đường xa lẻ loi. Đơn độc dặm dài. Vì thế mới vụt nghĩ đến ngày mai, lúc đã không còn mẹ: “Trên đường đi cho hết cuộc hành trình / Lúc vấp ngã - ai người an ủi/ Lúc niềm vui - ai người san sẻ/ Mẹ đã ra ngoài bể dâu/ Ngàn sau mây trắng về đâu? Lại trở về cát bụi”. Đã viết rõ nẻo về của mẹ. Rồi tự hỏi, hỏi lấy chính mình: “Và bây giờ con đang đứng ở đâu?”.

Đang đứng ở cõi nào mà trong tâm tưởng, trí nhớ, ký ức vẫn không có gì khác. Vẫn như mọi ngày còn quấn quýt bên chân mẹ: “Hình bóng cũ vẫn còn nguyên vẹn mới/ Con vẫn thấy ngoài trời xanh nắng tới/ Tiếng chim reo trong trẻo của mỗi ngày/ Vẫn có mẹ ra vào/ Vẫn bếp lửa, vẫn cửa nhà, vẫn mỗi ngày đi chợ/ Vẫn từng ngày con gọi mẹ/ Tiếng gọi âm vang đã máu thịt hình hài”. Và khi mất mẹ, chính là lúc tưởng chừng như máu của mình đang đọng lại. Khô cứng lại. Sự sống không còn. Nhưng rồi, con người ta vẫn tiếp tục phải sống. Sống như vẫn đang còn có mẹ.

Lúc ấy, ngoài trời đang mưa. Đà Nẵng. Con đường Triệu Nữ Vương. Đường phố vắng. Gió thổi lành lạnh. Ngước mặt nhìn ra ngoài trời. Nhìn lên vòm trời tối đen. Và viết tiếp: “Đêm nay từng giọt mưa rơi/ Con ngồi yên lặng lẽ/ Lắng nghe tiếng lòng rất khẽ/ Tiếng kinh cầu tiễn bước mẹ đi/ Thắp nén nhang trầm âm thầm nước mắt/ Thấy trên trời một vầng sáng bay đi/ Mẹ đã đi qua đời con vĩnh viễn/ Vẫn vẹn nguyên dấu nhớ lại quay về…”. Vẫn là thế. Mãi mãi là thế.

Bây giờ, Sài Gòn, chiều nay đã xuống. Ngoài trời lại đang mưa. Phải làm gì cho hết buổi chiều? Như mọi lần, đọc Truyện Kiều vậy? Tất nhiên. Lật ra, ứng vào câu: “Tưởng bây giờ, là bao giờ/ Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 17.10.2017

 

phoca_thumb_l_le-minh-quoc-6ANH_nay

 

Sáng nay, thả bộ trên con đường Triệu Nữ Vương (Đà Nẵng), đi về nhà. “Về nhà? Tôi lại về quê/ Quê nhà muôn thuở là quê của nhà/ Bỗng nghe tiếng khóc oa oa/ Tôi lọt lòng mẹ bước ra cõi người”. Tự dưng lại nhớ đến câu văn của Thanh Tịnh: “Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học”.

Một câu văn giản dị, quay trở về trí nhớ nhưng lần này, đem lại một cảm giác khác hẳn. Cũng về nhà nhưng hụt hẫng. Bùi ngùi. Nhìn xuống hai bàn tay, có cảm giác như ngọn gió yêu thương của ngày tháng xa xăm ấy đang thoáng qua. Vậy, cớ sao ngậm ngùi? Vậy, cớ sao lạc lõng? Vậy, cớ sao rưng rưng? Tưởng chừng như có tiếng nói dịu dàng nào đó vừa loáng thoáng đâu đây…

Ở Sài Gòn bình thường mọi ngày, chiếc điện thoại bao giờ cũng đem vào tận phòng ngủ. Nhưng rồi, đêm trước mẹ mất, y lại cố tình không đem theo. Không phải quên. Chủ động để lại phòng làm việc. Đêm ấy, chuyện gì đã xẩy ra? Từ lúc 5g sáng đã có nhiều cuộc điện thoại của cô em dâu út, gọi từ Đà Nẵng. Y hoàn toàn không hay biết. Vẫn ngủ say. Vẫn bình thản ngủ ngon như mọi ngày.

Suốt ruột quá, ông y mới qua tận nhà gọi cửa. Vẫn không nghe. Vẫn ngủ ngon. Thế là anh y bèn lấy chìa khóa mở cửa. Lúc ấy, ngay ô cửa để thò tay vào ổ khóa bên trong, có một con bướm bà đã đậu tự bao giờ rồi. Tại sao khoảnh khoắc thiêng liêng của lúc mẹ mất, y lại không hay biết gì cả? Có phải vì chỉ luôn nghĩ rằng: “Hình bóng cũ vẫn còn nguyên vẹn mới/ Con vẫn thấy ngoài trời xanh nắng tới/ Tiếng chim reo trong trẻo của mỗi ngày/ Vẫn có mẹ ra vào/ Vẫn bếp lửa, vẫn cửa nhà, vẫn mỗi ngày đi chợ/ Vẫn từng ngày con gọi mẹ/ Tiếng gọi âm vang đã máu thịt hình hài”? Phải chăng sự linh cảm ấy đã hữu hình thành cánh bướm đậu ngay ô cửa mở khóa vào nhà?

Thế thì, tại sao trước đó y lại không hay biết?

Rồi, sáng ngày cuối cùng tiễn mẹ vào nghĩa trang Hòa Sơn, lúc dừng lại làm lễ Tế đầu trung, anh em y thắp nén nhang. Khói nghi ngút bay. Nghi lễ chính thức bắt đầu. Lúc ấy, đột nhiên, lại thấy một con chuồn chuồn bay là đà ngay trước mắt, buộc miệng kêu lên: “Mẹ đã về”. Cánh bướm bay theo nhang khói ấy như chào lấy mọi người lúc mãi mãi đi xa. Chào một lần cuối cùng. Chập chờn bay. Lưu luyến. Rồi mất hút.

Từ cõi nào mẹ đã về? Từ cõi nào cái bóng của mình đã về? Mẹ đi đâu mà về? Chẳng đi đâu cả. Chẳng người mẹ nào đi xa cả, vẫn ở nhà đón đợi con đang mải mê rong chơi trên đường xa vạn dặm. Thức từng đêm ngóng. Đợi từng ngày chờ. Ngóng đợi con quay trở về chỉ vì bà mẹ nào cũng nghĩ, dù thế nào, con của mình vẫn trẻ người non dạ: “trên đường đi, ta đã gặp hoa tươi/ gặp tiếng cười, gặp niềm vui hạnh phúc/ là lúc ấy mỗi ngày mẹ bạc tóc/ âu lo nhìn theo mỗi bước ta đi/ ta lớn lên xa vòng tay của mẹ nhu mì/ ta xa những ngày mẹ một mình tựa cửa/ ta đâu biết trong từng hơi mẹ thở/ vẫn trái tim độ lượng gọi ta về/ vẫn ân cần giọng nói/ gọi tên ta ngay cả lúc ngủ mê/ vẫn từng đêm chờ đợi/ đợi ta về...”. Lúc ta về, mẹ đã đi. Mẹ đi đến cõi nào?

Lúc bất ngờ nhìn thấy cánh chuồn chuồn, y lại nhớ đến những gì đã suy ngẫm: “Hỡi ôi! Con người ta khi sinh ra đời, dù đi khắp bốn phương trời, giang hồ khắp cõi thì bao giờ trong lòng cũng ấp ủ một nỗi niềm là được gửi nhúm xương tàn ở quê nhà, nơi từng chôn nhau cắt rốn. Mà mấy ai được như thế? “Quê nhà  xa lắc xa lơ đó / Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay” (Nguyễn Bính). Quê nhà? Nơi nào có mẹ cha ta, nơi ấy chính là quê nhà. Đứa trẻ sinh ở Việt Nam, sống lên ở Mỹ cùng cha mẹ, hẳn sẽ nghĩ nơi ấy là quê nhà của mình.

Tình cảm ấy, tâm lý ấy đã phá vỡ cấu trúc về địa lý trong tâm thức con người. Ba y nằm lại Đà Nẵng, và bây giờ là mẹ, với y là quê nhà. Nghĩ cũng lạ, khi bước vào khu nghĩa trang là lúc ấy, y tin rằng, ai cũng nghĩ đến sự Hư không của đời mình. Có có không không. Như bỡn như đùa. Và sẽ nghĩ đến phận mình sao ngắn ngủi, nhỏ nhoi và chật hẹp đến thế. Chỉ vài ba thước đất là xong. Xong một kiếp người”.

Tại sao ngày đưa mẹ về với ba, về nơi chốn “chỉ vài ba thước đất”, y lại thấy cánh chuồn chuồn lẻ loi ấy?

Rồi, đêm đầu tiên trong chập chờn mộng mị của một giấc ngủ vĩnh viễn từ nay, không còn có mẹ, lúc nửa khuya đã nghe rõ mồm một bên tai, nghe rất rõ, từng câu, từng tiếng nói của mẹ: “Đừng nói cho thằng Q biết là mẹ đã mất”. Nghe rất rõ. Mất chứ không phải chết. Nghe rất rõ âm sắc thổ ngữ của tiếng nói người bà mẹ dân dã, quê mùa đất Quảng. Nghe như mọi ngày quanh quẩn chân mẹ đã từng nghe. Vẫn giọng nói ấy. Vẫn gương mặt ấy. Giật mình tỉnh giấc. Đêm vẫn tối đen. Căn phòng im lặng. Không một ai khác, ngoài chính y đang trơ trọi, cô độc. Do y không ngủ nhà, vì vậy, mẹ đã không nhìn thấy nên mới dặn dò cả nhà câu nói ấy chăng? Đó là câu nói cuối cùng của người mẹ, y đã nghe lúc nửa đêm về sáng.

Câu nói ấy có ý nghĩa gì?

Tiếng nói ấy, vọng về từ tiềm thức? Từ một cõi tâm linh nào? Nghe từ nơi xa lạ, chứ không phải từ căn nhà mà y đã miêu tả trong bài thơ tặng Tẹo - em trai út: “Ngôi nhà của tuổi ấu thơ/ Tôi về sung sướng lật tờ giấy thơm/ Thấy từ ký ức rạ rơm/ Những ngày đi học rập rờn nắng mưa/ Vòng tay ngoan ngoãn dạ thưa/ Vẫn còn ba mẹ đón đưa ân cần”.

Căn nhà ấy, trong những ngày tiễn mẹ, anh em ruột thịt từ Úc, từ Sài Gòn đã về tề tựu đông đủ. Căn nhà ấy, từ nơi xa các anh, các bạn đồng nghiệp như Tổng biên tập NXB Trẻ Nguyễn Minh Nhựt, nhà báo Dương Thành Truyền, Nguyễn Xuân Minh, Lưu Đình Triều, Đào Tuấn Anh, đồng đội cựu chiến binh như Trần Đào Hiền Nhân, Võ Đình Chiến, nhà biên kịch Đoàn Tuấn… cũng đã về đến. Căn nhà ấy, dù thay đổi mới, xây dựng lại nhưng lúc về, bao giờ, y cũng nhìn thấy trên nền nhà còn hằn vết dấu chân của thuở mới vừa chập chững. Bao giờ cũng nghe từ trong mỗi bức tường nhà vọng về tiếng nói của tình thân máu mủ.

Căn nhà ấy, lúc sinh thời ba mẹ y dặn dò muốn “tạm nghỉ” trước lúc đi vào Hư Vô, về với cõi Phật. Với tâm nguyện này của bậc sinh thành, trong đạo làm con ai lại không hiểu rằng, dù không thể mãi mãi ở lại vui vầy, sum họp cùng cháu con nhưng dù ở một cõi nào, dù Âm - Dương cách trở thì tình phụ tử, tình mẫu tử vẫn mãi mãi nguyên vẹn. Không bao giờ có sự chia cách. Về trách nhiệm cháu con, ai lại không cùng một lòng một dạ vâng theo?

Thế nhưng ngay trong đêm đầu tiên mẹ đã nằm ở nghĩa trang, y không lại ngủ nhà. Do đã đã bốn đêm ngủ dưới chân bàn thờ Phật, phía sau là linh cữu của mẹ, y muốn tìm một nơi xa lạ. Chỉ nằm một mình. Suy ngẫm một mình. Suy ngẫm giây phút còn nhìn thấy mẹ chỉ còn lại trong khoảnh khắc từng ngày, từng giờ chờ tiễn đưa mẹ. Và đau đớn nhất là biết rõ, rất rõ thời điểm của giây phút cuối cùng sẽ đến: “Tiếng kinh cầu dịu dàng hương sen/ Hoa huệ trắng của một đêm về sáng/ Ngoài trời mưa từng giọt, mẹ ơi/ Đã từ đây không gặp lại trong đời/ Giọng nói, tiếng cười, dáng người của mẹ/ Con ước gì quay về thơ bé/ Vẫn có mẹ dỗ dành/ Trên đường đi cho hết cuộc hành trình/ Lúc vấp ngã - ai người an ủi/ Lúc niềm vui - ai người san sẻ/ Mẹ đã ra ngoài bể dâu/ Ngàn sau mây trắng về đâu?”.

Câu hỏi ấy đã vang lên trong tâm tưởng. Trong bài thơ cuối cùng y còn nhìn thấy sự hiện hữu của mẹ ở cõi trần.

Từ nay và vĩnh viễn không bao giờ có được cảm giác của ngày còn mẹ. Không bao giờ. Mẹ đã mất. Đã trở về Đất. Đã trở về Hư Vô. Đã dịu vợi xa cách ngàn trùng. “Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp”. Câu nói ấy, sống cho đến đến khoảnh khắc cuối cùng của một kiếp đời, với y, chỉ còn trong ký ức. Mẹ đã mất. Bấy giờ, như một lẽ tự nhiên đột ngột nhớ đến câu thơ của Berton Brech. Đoàn Tuấn đã kịp nhắc lại để y đọc trước huyệt mẹ: “Ra khỏi cuộc đời trở về với Đất/ Hoa mọc lên cánh bướm vờn bay/ Phải nặng nhọc bao nhiêu ngày tháng/ Mẹ hôm nay mới thanh thản dường này”.

Trong cuộc đời đã nhiều lần đọc thơ, nhưng ngày hôm qua mới là ngày tiếng thốt ra đau đớn đến tận cùng. Tê dại từng sợi máu. Nức nỡ từng gân máu. Một dòng máu của chính y đã mất. Đã ngưng chảy. Đã hóa thành Cát bụi trong một cõi Vô cùng. Câu thơ âm vang ấy, đã theo mẹ xuống tận huyệt sâu. Ngồi dưới chân mộ phần của mẹ, y đã nhìn thấy từng bông hoa ùa theo như mưa. Như nắng. Như hạt thóc. Như hạt gạo. Như lòng biết ơn của một sự cưu mang chín tháng mười ngày. Lúc ấy, lại nhìn thấy từng hạt cát trắng xóa của bãi biển Mỹ Khê, Non Nước, Thanh Bình, Sơn Chà… ùa xuống theo. Dần dần, phủ đầy một màu cát trắng.

Màu trắng như hạt muối, như gừng cay muối mặn của một tấm lòng hướng thiện đã vì con, đã lo cho con suốt hành trình của 90 năm. Và bây giờ, đã hài lòng, đã mãn nguyện mới nhẹ nhàng xuôi tay khép mắt. Một giấc ngủ ngon. Một giấc ngủ sâu. Một giấc ngủ không còn vướng bận, lo toan gì nữa. Mọi việc đã xong. Mẹ thanh thản về trời. Nơi lưu dấu mẹ nằm nhẹ nhàng, siêu thoát tượng hình ơn nghĩa Quê hương đã chôn nhau cắt rốn. Đã tượng hình tiếng khóc oa oa từ ngày y lọt lòng mẹ.

Bây giờ, bất hạnh thay, lần này cắn răng lại vào môi. Cắn nữa đi, cố ghìm lại những giọt nước mắt bật ra như một lẽ tự nhiên. Đừng khóc. Đừng khóc. “Mẹ ơi”, tự dặn lòng đừng khóc. Đã lớn rồi. “Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học”.

Bài học khó khăn nhất của đời người vẫn là tiếp tục sống trong đường đi vạn nẻo, từ nay, không còn có mẹ. Rồi ai cũng học được. Nhưng có lẽ một bài học gian nan nhất vẫn là phải biết quên. Quên đi nỗi nhớ đã tượng hình sâu thẳm từ trong ký ức. Sự dai dẵng ấy, mới là nỗi đau khốc liệt và bền bĩ song hành cùng năm tháng. Mà cũng phải biết quên. Sự thương nhớ của chính mình sẽ khiến người đi mãi ngập ngừng, chần chừ, lưu luyến mãi, khó rời xa Cõi tạm, khó có thể nhẹ nhàng về nơi Vô Cùng. Bài học ấy, bao giờ y mới có thể học xong? Lúc này, chỉ gọi thầm “Mẹ ơi” lại ứa nước mắt. Đó là lúc con người ta đã vĩnh viễn mất mẹ. Không bao giờ, không bao giờ còn được nhìn thấy cái bóng của chính mình một lần nào nữa. Dù chỉ một lần. Không bao giờ.

Bài học không ứa nước mắt lúc gọi thầm “Mẹ ơi”, dù khó, rất khó nhưng phải học cho bằng được. Hãy cứng rắn lên. Hãy đứng lên. Đi đi. Đừng có khóc.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.10.2017

22195762_761769090673520_6272056190313197394_n

Quái quỷ cho chữ với nghĩa, chỉ mẫu tự ghép lại, thế nhưng có những câu chữ dù không gì ghê gớm lắm, nhưng đã đọc xong ắt phải bật ra tiếng cười. Cười tự nhiên. Không gì phải cố gắng. Người ta viết như chơi, như đùa, như thật ấy mà tự dưng vừa đọc dứt câu là phải há miệng ra cười cho sướng cái sự đời. Đời có lúc vui, có lúc buồn, chẳng việc gì phải ca thán một cách ồn ào và kém hiểu biết: “Sự đời như chiếc lá đa/ Đen như mõm chó chém cha sự đời”. Đọc xong, chẳng thấy hay ho gì cả, bất quá cũng chỉ là câu nói buột miệng thiếu kiềm chế.

Có câu ca dao này mới là hay, mới là điệu nghệ cá tính của nữ nhi của miền Nam nước Việt: “Ba bốn nơi sang cả, phụ mẫu em muốn gả/ Em chấp tay: khoan đã, chưa tới duyên phần/ Phụ mẫu nói em bất tuân giáo hóa/ Em trèo lên cây bần cho kiến nó bu”. Câu cuối cha chả là hay. Hay vì bất ngờ khiến người ta phải cười cho bằng được bởi vì rằng, giận cha mẹ mà leo lên cây bần thì cũng dễ hiểu nhưng để làm gì? Cô gái bảo: “Cho kiến nó bu”. Chi vậy thôi. Đơn giản vậy thôi. Cam đoan bất kỳ bà mẹ nào, một khi nghe con gái nói dỗi, nói hờn như vậy cũng cất tiếng cười xòa.

Ở miền Trung có cây bần hay không? Chẳng rõ nữa. Chỉ biết, Nam bộ có câu này cũng lém lỉnh không kém: “Nước chảy cặc bần run lẩy bẩy/ Gió đưa dái mít giãy tê  tê”. Cặc bần là cái chi chi? Thôi thì, hãy đọc Việt Nam từ điển (1970) của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ: “Cặc bần (danh từ, thực vật): Rễ cây bần, rễ cứng đuôi nhọn đâm ngược và ngay lên chôm chổm khỏi mặt đất từ 20 đến 40 cm” . Theo ông Huình Tịnh Paulus Của (1895), cái cây có tên thô kệch kia lại có “tên chữ” cực kỳ duyên dáng, yểu điệu ra phết: “Đóm đeo thủy liễu đôi chùm/ Biết ai nhơn đạo chỉ giùm làm ơn”.

Xét ra, cách gọi nôm na dân dã bao giờ cũng ấn tượng hơn. Ví như trái sầu riêng, cách gọi này dịu vợi quá chừng chừng, nếu gọi bằng cái tên Châu Liên, e nghiêm nghị quá đi thôi, mất đi một sắc thái tình cảm do từ đồng âm mà có: “Ngó lên trăng chúc sao nghiêng/ Vui chung với bạn sầu riêng một mình”; câu này cũng day dứt không kém: “Buồn trông lửa tắt nhang tàn/ Dế kêu rủ rỉ thương nàng sầu riêng”.

Sầu riêng là gì? Là nỗi sầu ấy chỉ mình biết, chỉ mỗi mình gặm nhấm lấy nó, “tận hưởng” lấy nó, nếu nói như câu chữ thời thượng của mấy ông văn nghệ sĩ phải là “thú đau thương”. Có lẽ Lưu Trọng Lư là người trước nhất dẵ sự dụng cụm từ đó chăng? Thì đây, từ năm 1939, Con nai vàng ngơ ngác đã kêu lên: “Xin để gối nằm im chỗ cũ/ Hãy lịm người trong thú đau thương/ Giờ đây ta đốt nén hương / Trên tay ta buộc dải tang cho tình”.

Có một câu ca dao cực hay khi nói về tâm sự của sự sầu riêng, chỉ cho thể chọn lấy: “Lan huệ sầu ai lan huệ héo/ Lan huệ sầu tình trong héo ngoài tươi”. Phạm Duy có “mắt xanh” khi thấu hiểu về sự thẩm mỹ trong cung bậc sắc thái tình cảm, do đó, ông đã chọn lấy những câu ca dao trữ tình bậc nhất để lồng vào trong ca từ của một ca khúc. Nếu loại bỏ “Lan huệ sầu ai”, loại bỏ “Tóc mai sợi vắng sợi dài/ Lấy nhau không đặng thương hoài ngàn năm”,  chắc chắn sức sống của nó không âm vang, day dứt, da diết như đã có.

Y có sầu riêng không? Thời trẻ, có đấy. Có nên mới có thể viết: “tôi đứng trước cây khế mỗi đêm/ để nhìn trộm em tắm/ nhưng chỉ gặp hương hoa huệ trắng/ thoang thoảng bay qua/ tôi trở về nhà/ suốt một đêm mất ngủ/ từ đó, tôi yêu hoa/ muốn tặng em một đóa hoa mới nở/ nhưng lại sợ/ hoa không thơm như môi em/ hoa không trắng như da em/ và hoa không tinh khiết như em/ từ đó, mỗi đêm/ biết rằng khi em tắm/ tôi lại tương tư/ hương hoa huệ trắng”. Sở dĩ có hình ảnh cây khế cũng vì quá thích câu thơ của Phạm Công Thiện: “Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn/ Cây khế đồi cao trổ hết bông”. Sở dĩ có nhìn trộm em tắm cũng vì quá thích mấy câu thơ của Bạc Văn Ùi: “Sao anh lại rình/ Trộm xem em tắm? Da của em ngần trắng/ Da của mẹ, của cha/ Tay của em lấm lem/ Tay của than của bụi/ Tay của rừng của núi/ Tay của đất của nương/ Em tắm xong lại sạch/ Vẫn ngát thơm hoa rừng/ Da của em trắng ngần/ Là của anh tất cả/ Không phải người xa lạ/ Việc gì mà trộm xem”.

Đôi khi đọc lấy ca dao lại thấy sự hấp dẫn khó gì có thể sánh nổi. Vẫn là những câu chữ còn thô mộc, dân dã nhưng lại duyên dáng. “Ruộng gò cấy lúa Nàng Co/ Thương anh thì thương đại, đừng để anh gò mất công”. Ruộng gò là cuộc đất cao, ít nước, nói cách khác là ruộng cao: “Ruộng thấp tát một gàu giai/ Ruộng cao thì phải đóng hai gàu sòng”. Mà gầu giai là thế nào? Là gàu không có cán, buộc bốn sợi dây dài dành cho hai người cầm lấy, đứng bên miệng ao, bờ ruộng mà tát nước. Gàu sòng là gàu có cán dài, treo vào ba cái cọc, một người tát.

Nhờ hiểu vậy, khi đọc Tát nước của Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương mới biết nhân vật trong thơ tát gàu sòng: “Đang cơn nắng cực chửa mưa tè/ Rủ chị em ra tát nước khe/ Lẽo đẽo chiếc gầu ba góc chụm/ Lênh đênh một ruộng bốn bờ be/ Xì xòm đáy nước mình nghiêng ngửa/ Nhấp nhổm bên ghềnh đít vắt ve/ Mải việc làm ăn quên cả mệt/ Dạng hang một lúc đã đầy phè”. Một bài thơ đa nghĩa, đọc ngược đọc xuôi mới lại càng nhận ra một bậc thầy sử dụng tiếng Viết đến mức thượng thừa. Nông thôn ngày càng hiện đại hóa, liệu chừng không ít người khi đọc ca dao sẽ vấp phải vài ba từ, có thể không hiểu rõ ngọn ngành. Vì lẽ đó, ở trong nhà luôn cần có những quyển tự diển tiếng Việt là thế, khi cần có thể tra cứu ngay.

Mà câu ca dao ”Ruộng gò cấy lúa Nàng Co/ Thương anh thì thương đại, đừng để anh gò mất công” hay chỗ nào? Vẫn là từ “gò”. Gò là tán tỉnh, dỗ dành, là o mèo, là cua gái. “Ruộng gò cấy lúa Ba Xe/ Thấy em còn nhỏ anh ve để dành”. Ve cũng là gò. Sự dí dỏm, tinh nghịch gói gọn trong từ “để dành”. Khôn quá là khôn. Sực nhớ, sáng Chủ nhật vừa rồi đi dự kỷ niệm nhân 130 năm ngày sinh nhà văn hóa Phan Khôi. Gia đình mời đến một quán ăn “chuyên trị” món ăn xứ Quảng. Trên đường đi lại nhớ đến vài câu thơ của ông Phan Khôi viết năm 1921. Nhớ rằng, trong thơ này cũng có từ gò đấy chứ?

Bài thơ Viếng mộ Lê Chất của Phan Khôi như sau: “Bình Tây trấn Bắc sử nghìn thu/ Ấy cỏ mờ rêu đất một u/ Ấy dũng ấy trung là thế thế/ Mà ân mà nghĩa ở mô mô/ Chim gào hờn sót xuân ầm ỹ/ Hùm thét oai lưa gió vụt vù/ Cái chuyện anh hùng ai giở đến/ Hồ Tây còn vẳng tiếng chuông bu”. Nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan bình: “Thật là một bài thơ mà vận rất oái oăm và ý rất chặt chẽ. Đọc lên nó có một giọng ai oán thê thảm như cái vang ngân của tiếng chuông chùa “bu lu bi li” trên mặt nước Hồ Tây. Lời lại rất cứng cáp, có cái giọng cảm khái, bất bình trong câu tam, tứ. Cuối câu đầu bằng ba chữ “sử nghìn thu” và câu kết hạ bằng ba chữ “tiếng chuông bu” gây nên một âm điệu rất buồn, làm cho bài thơ thêm giọng thê lương. Những chữ “thế thế”, “mô mô”, “chim gào”, “hùm thét” đưa lời thơ lên rất mạnh. Thơ Đường luật gần đây ít bài được như thế” (Nhà văn hiện đại, NXB Thăng Long tái bản năm 1960, tr. 268).

“Ấy cỏ mờ rêu đất một u”. U trong ngữ cảnh này đích thị là gò/ gò đất. Nhắc đến u, lập tức trong trí nhớ nghĩ câu thơ của nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà, nhiều người nhầm tưởng ca dao: “Ong bầu đậu đọt mù u/ Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn”. Câu ca dao thứ thiệt này mới thần sầu quỷ khốc: “Mù u bảy lá mù u/ Vợ chồng hờn giận,… giảng hòa”. Cách nói thiệt thà quá đi mất, cứ nói toẹt ra, chẳng thèm phải úp mở xa gần gì cả. Âu cũng là sự khỏe khoắn, lạc quan trong đời sống tinh thần của người Việt. Đọc lên đã thấy rạo rực sức sống, cứng bần bật, không hề “Nước chảy cặc bần run lẩy bẩy/ Gió đưa dái mít giãy tê  tê”.

Bài thơ của Phan Khôi, dù dùng theo cách phát âm của người miền Trung, nhưng không khó hiểu. Riêng 2 câu luận: “Chim gào hờn sót xuân ầm ỹ/ Hùm thét oai lưa gió vụt vù” thì “hờn sót” là nỗi căm hờn còn sót lại; “oai lưa” là oai thừa, cái oai ấy vẫn còn. Khi đọc đến câu cuối, thú thật, y không thể không bật ra tiếng cười nho nhỏ: “Hồ Tây còn vẳng tiếng chuông bu”. Tiếng chuông bu nó ra làm sao? Phải là chuông bong/ bong bong mới dễ hiểu hơn chăng? Thật bất ngờ khi Việt Nam tự điển (1931) do Hội Khai trí tiến đức ở ngoài Bắc khởi thảo có ghi nhận: “Bu lu: cái chiêng, do tiếng kêu mà đặt tên”. 

Trong cái sự ngân vang của “tiếng chuông bu” ấy, ông Vũ Ngọc Phan nghe ra: “có một giọng ai oán thê thảm như cái vang ngân của tiếng chuông chùa “bu lu bi li” trên mặt nước Hồ Tây”. Ở truyện ngắn Chém treo ngành, nhà văn Nguyễn Tuân lại cảm nhận: “Một tiếng loa. Một tiếng trống. Ba tiếng chiêng. Rứt mỗi hồi chiêng mớm, thì một tấm linh hồn lại lìa khỏi một thể xác. Tùng! Bi li! Bi li!”. Thì ra, với âm thanh mỗi người có cách cảm nhận khác nhau.

Từ “bu” này cũng lắm chuyện. Cái chụp đan bằng tre, nứa giống như cái nơm dùng để nhốt gà, ngoài Bắc gọi cái bu, trong Nam lại gọi cái bội. “Trong chay ngoài bội” thì bội trong thành ngữ này lại là hát bội. Lan man chuyện chữ nghĩa xưa cũ mà không ghi nhận cách từ mới là một thiếu sót. Chẳng rõ tài trí của người Việt thông minh đến cỡ nào, đã sáng chế ra những gì thuộc lãnh vực kỹ thuật, muốn biết rõ cần phải đọc, phải tìm hiểu chán chê chứ không thể phán bừa một câu cho xong. Thiên hạ cười cho. Vì lẽ đó, y không dám trả lời. Chỉ biết rằng, hiện nay nay người Việt rất có khả năng, trình độ nhằm biến hóa từ ngữ.

Xin đưa ra một thí dụ, báo Tuổi Trẻ số ra ngày 8.9.2017 đăng tin Làm rõ clip cảnh “tiếp thị sữa” hỗ trợ CSGT. Khỏi cần giải thích lòng vòng, ai cũng biết tiếp thị sữa là gì rồi, nhưng ở đây lại hoàn toàn mang một ý nghĩa khác hẳn. Trên báo Tuổi Trẻ cười số số 532 ra ngày 1.10.2015, qua báo Sự kinh ngạc của Thị Mịch khi lên Kẻ Chợ, cây bút trào phúng Tú Hợi giải thích: “Khi thấy mấy chiếc xe chạy sai chiều, phu-lít cứ việc chổng khu thổi tu huýt nghe hoét hoét, lập tức chúng dừng lại cái rụp. Cứ việc ghi biên lai phạt là xong. Nếu chúng ương ngạnh, cãi cọ lôi thôi, cãi chày cãi cối à? Việc gì phải đôi co với bọn khố rách áo ôm ấy? Chỉ cần nháy mắt ra hiệu, lập tức có ngay vài thằng đầu trâu mặt ngựa đang đứng xớ rớ đâu đó nhảy vào đấm đá túi bụi. Đánh luôn một trận ra trò. Đánh cho nhớ cho chừa. Lần sau, phải xìa tiền phạt ra. Chớ có ngu ngốc cãi nha con. Nhẹ thì thuốc thang vài tháng. Nặng thì chầu Diêm vương”. Ấy là bọn “tiếp thị sữa”.

Mới đây, lại nghe thêm câu thành ngữ mới: “Đầu tư quan hệ, công nghệ phong bì”. Không rõ ai là người đã có “sáng kiến” vận dụng cái phong bì ngày càng “siêu việt”. Tất cả những gì cần “thay lời muốn nói” đều phải thông qua cái phong bì. Nhanh và gọn. Vừa công khai, vừa kín đáo. Trong nhiều mối quan hệ, đều phải cần sử dụng đến nó. “Đường vào biên chế quanh co / Muốn đi đường tắt phải lo phong bì”. Đại khái là thế. Mà một khi sử dụng phong bì như một “công nghệ” thì chẳng còn gì để nói nữa. Sự méo mó ngữ nghĩa của tiêng Việt bi hài đến thế là cùng.

Trời đã chiều. Rồi chiều cũng đã chiều nốt. Một ngày đã cạn dần. Một buổi chiều. Nhiều buổi chiều. Chẳng gì khác. Chẳng mấy chốc lại bước sang bên kia dốc của đời người. Năm tháng lại trôi đi. Biết thế, hãy cứ vui lên đi. Đôi lúc cười cợt một lúc cho nhẹ nhàng. Tìm kiếm trong dòng chảy của đời sống mỗi ngày, nếu cảm thấy khó quá thì cứ việc lui về chốn thư hương. Mở rộng cửa phòng nhẩn nha cùng vài trang sách. Đôi khi niềm vui chỉ có thế, ai cũng có thể có, việc gì phải than phiền khi đã ngoài ngũ thập tìm kiếm niềm vui sao lại khó quá. Thôi thì hãy cứ tự nhủ: “Vẫn còn đây sợi tơ lòng đồng vọng/ Dẫu hư vô sự vật vẫn hữu hình/ Trong bóng tối vẫn chói ngời ánh sáng / Muốn tĩnh tâm, anh cứ hỏi lòng mình”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 6.7.2017

chuyen_muc_dan_cho_tuoi_hoc_tro

Một chuyên mục trên báo Thiếu Nhi


“Cáo lỗi cùng độc giả toàn quốc: Vì tờ Bút Học Trò gặp trở lực lớn lao trên trường văn, trận bút nên phải đình bản và thay thế bằng tờ Bút Mới. Chúng tôi quyết san bằng mọi khó khăn nguy khốn để đáp lại thịnh tình của bạn đọc bốn phương, đồng thời nỗ lực đóng góp vào công cuộc phát huy tương lai văn hóa dân tộc”.

Nếu biết ai viết và tại sao có câu văn “hoành tráng” này, chắc chắn nhiều người sẽ… tủm tỉm cười. Vì rằng, ấy là lời “phi lộ” trong tập san in thạch bản của một nhóm học trò trung học “mặt búng ra sữa”, mê văn chương sống tại Hà Nội vào thập niên 1950. Chi tiết ngộ nghĩnh này, nhà văn Nhật Tiến đã kể lại trong hồi ký Thuở mơ làm văn sĩ, đăng feuilleton trên báo Thiếu Nhi ở miền Nam trước năm 1975.

Bấy giờ, thế hệ bọn y cũng không khác gì các cô cậu học trò Hà Nội ngày ấy. Ghi lại dấu ấn đáng yêu của một thời, sau này, qua truyện dài Lá nằm trong lá của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh cũng có kể lại. Thật ấn tượng bởi bút nhóm Mặt trời khuya, gồm những “cây bút” dù còn mài đũng quần trên ghế nhà trường nhưng tự nhận “tương lai của văn chương nước nhà” như Cỏ Phong Sương, Trầm Mặc Tử, Hận Thế Nhân, Lãnh Nguyệt Hàn… Tác phẩm này hấp dẫn, chân thực, độc đáo bởi nhà văn Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ không hề tưởng tượng mà lấy chất liệu có thật trong sinh hoạt văn nghệ của thế hệ anh.

Các “mầm non văn nghệ” ấy học chung trường, có thể cùng hoặc khác lớp, họ quy tụ thành một bút nhóm, thi văn đoàn để động viên, góp ý sáng tác cho nhau. Và tất nhiên, để phổ biến “tác phẩm”, họ cũng ra báo như ai. Đó là tập san được in thạch bản, mỗi kỳ chỉ “phát hành” vài chục số, chủ yếu lưu hành trong lớp học, chuyền tay nhau đọc.

Cách “in” dễ lắm. Mua xu xoa trắng, đem về nhà nấu ra rồi đổ vào mâm đồng. Khi nó đã đông đặc, lật ngược mâm lại, ta đã có một “bàn in” bằng phẳng. Bấy giờ, ai có “hoa tay” viết chữ đẹp thì được phân công viết các sáng tác thơ, văn, truyện ngắn...  trên giấy trắng. Mực viết phải chọn phẩm tím, mực tàu loại tốt, chờ lúc giấy khô mực đem úp lên mặt “bàn in”, vuốt đều để mực thấm vào đó. Sau khi lấy tờ giấy đó ra, ta đã có một “bản in” hoàn chỉnh. Rồi cứ đem các tờ giấy trắng khác úp lên, vuốt khẽ là có thêm bản thứ hai, thứ ba... Nếu mực tốt có thể in một lúc 50 bản, về sau mực càng mờ dần. Muốn “in” thêm trang khác thì cho xu xoa vào nồi, đổ thêm nước nấu lại để có “bàn in” mới.

Không những tự lập bút nhóm nhằm có điều kiện “giao lưu văn nghệ”, bọn y còn tham gia sinh hoạt chung với các “bạn văn” ở Sài Gòn nữa. Năm học lớp 8, cùng một lúc, y gia nhập bút nhóm, thi văn đoàn Việt Nam, Thoáng hương, Hồn trẻ, Mây trắng… Mọi việc rất đơn giản, chỉ cần điền tên vào cái mẫu đơn quay ronéo, gửi kèm theo hai tấm ảnh chân dung 4 x 6 cm. Ít lâu sau, ắt nhận được thẻ hội viên gửi qua đường bưu điện. Thỉnh thoảng, nếu tổ chức làm nội san thì trưởng nhóm gửi thư kêu gọi hội viên gửi bài. Nếu bài đạt yêu cầu, được chọn đăng vào tập.

Ừ, ở Sài Gòn có khác.

Trong lúc ở miền Trung nhằm “phát huy tài năng tột bực” với hy vọng sẽ trở thành “ngôi sao sáng chói, lẫy lừng nhất trên vòm trời nghệ thuật”, bọn y chỉ mới phổ biến “tác phẩm” bằng cách in thạch bản thì ở Sài Gòn các “bạn văn” đã quay ronéo - tức viết tay hoặc gõ máy chữ trên giấy stencil. Hiện đại quá. Oách quá. Dù tờ đặc san ấy số lượng in rất ít ỏi, chỉ vài chục bản, trăm bản là cùng nhưng với “công nghệ tiên tiến” ấy đã khiến chúng tôi “sướng rêm mé đìu hiu”.

Nếu ai đó còn giữ lại các nội san học trò này, ắt sẽ còn bật cười sung sướng, khoái chí vì không ngờ lúc đó mình và các “bạn văn” lại đặt bút danh “sáng láng”, “sang trọng” đến cỡ đó. Chẳng hạn đặc san Xuân Nhâm Tý (1972) của thi văn đoàn Việt Nam cho biết có cả thảy 305 hội viên như Khóe Mắt Tím, Kim Huyền Giao Giao, Bạc Phận “F”, Thy Hoang Mùa Đông, Mặc Thế Thái, Băng Hàn Tuyết Sương, Hoàng Liên Tử, Sao Rơi, Vạn Sầu Nhân, Cát Sa Mạc, Hoàng Dũ Linh, Thiên Bất Hủ... Còn nhớ, lúc y gia nhập bút nhóm Mây trắng, bút nhóm trưởng có tên rất “yểu điệu”: Thảo (Phú Lâm). Nào ngờ sau này tôi mới bật ngửa ra khi hay biết ấy chính là bút danh của nhà thơ Nguyễn Hải Thảo cũng trạc tuổi y, mới học lớp 9 - nay anh là hội viên Hội Nhà văn TP.HCM.

Sau một thời gian sinh hoạt chung cùng các “văn hữu” ở Sài Gòn, y và các bạn cùng xóm Hải Châu (Đà Nẵng) thành lập bút nhóm Phù Sa. Rồi cũng mày mò bắt chước theo cách quay ronéo - một hình thức in giá rẻ, tiện lợi và phổ biến nhất thời đó. Sau khi thực hiện xong, bạn bè chia nhau đem vào trường bán cho các lớp khác, không phải nhằm thu hồi vốn mà chính là tiếp tục… quảng bá “tác phẩm”.

Thêm một điều cần ghi nhận, sở dĩ các “mầm non văn nghệ” thuở ấy không bỏ cuộc nửa chừng còn thêm lý do này: Tại Sài Gòn có những nhà văn đi trước, khi chủ biên một tờ báo, họ cũng lập sân chơi nhằm quy tụ đối tượng độc giả của báo như nhà văn Nhật Tiến qua Thiếu Nhi thành lập Gia đình Thiếu Nhi, nhà thơ Nguyễn Vỹ qua Thằng Bờm tổ chức Gia đình Thằng Bờm… và mở rộng đến nhiều địa phương khác; các tuần báo dành cho tuổi mới lớn như Tuổi Hoa có chuyên mục Đồng cỏ non, thậm chí nhật báo như  của báo Chính Luận cũng có Gia đình Mai Bê Bi…  dành đăng các sáng tác của các cây bút học trò.

Nhờ vậy, một khi có “tác phẩm mới” ngoài việc “in” ở các nội san thi văn đoàn, bút nhóm, bọn y còn có thêm “đất dụng võ”, nhiều sân chơi khác. Thỉnh thoảng những tờ báo trên cũng in lại “tác phẩm” từ các tập đặc san học trò đã in thạch bản, quay ronéo như một cách ưu ái, động viên các “mầm non văn nghệ”. Chẳng hạn, báo Thiếu Nhi số 125 ngày 1.6.1974 - nhà văn Nhật Tiến chọn in Lục bát ngày xa mái trường lấy từ tập san của bút nhóm Phù sa:

1. THIÊN BẤT HỦ

Bé ghi kỷ niệm ngày xanh

Bao nhiêu thương nhớ trên nhành yêu thương

Gọi lòng tình nghĩa vấn vương

Bé ghi lưu bút xanh hương học trò

2.  CỎ NON

Lá me bay, tóc hoa cài

Xếp cho nhung nhớ ẩn hoài ngăn tim

Kỷ niệm chừ cũng làm thinh

Sân ga sáng sớm một mình về quê

(Bút danh của Nguyễn Văn Sanh, hiện nay ở Đà Nẵng).

3. HOÀNG DŨ LINH

Hạ ơi! Ta gửi đôi lời

Nhắn cùng nhành phượng và mời chú ve

Đừng sầu bi thảm sang hè

Cho tình ta gửi gió nghe trộm lời

(Bút danh của Nguyễn Văn Phú hiện ở Sài Gòn).

4. HOÀI NGUYÊN GIANG

Vòng tay siết chặt bên nhau

Trao nhau lưu bút lệ sầu vương rơi

Đôi ta cách biệt phương trời

Trong ba tháng hạ đầy lời nhớ mong

(Bút danh của Nguyễn Phát, em con bà dì ruột ở Đà Nẵng, đã mất sớm, đúng như câu thơ Phát đã viết: “Đôi ta cách biệt phương trời”.

5. MỪNG HOANG VU

Thơ làm em tặng trường xưa

Rong rêu lá phủ thầy xa, bạn về

Hè sang ve hát lê thê

Còn em sân nắng buồn ghê là buồn

(Bút danh của Phan Vân Sơn, trưởng Gia đình Thiếu Nhi ở Đà Nẵng).

6. LƯƠNG VĂN BÌNH

Mây chiều lộng nắng vàng hoe

Bước chân giẫm nát cây hè phượng rơi

Đưa tay ôm lấy gió trời

Bỏ quên sách vở tình khơi giữa hè

(Có thể tên thật của Hùng Vỹ, trong Gia đình Thiếu Nhi ở Quảng Tín, Tam Kỳ. Không rõ nay thế nào, chưa biết mặt.

7. NGUYỄN TRƯỜNG ANH

Trong đôi mắt thơ dại khờ

Một niềm lưu luyến mong chờ hè sang

Hàng dương rũ bóng chiều tan

Hàng cây phượng đỏ theo làn tóc mây

(Tên thật Nguyễn Lặc ở Diên Khánh (Nha Trang). Sau đó, đổi bút danh Nguyễn Tường Anh. Không rõ nay thế nào, chưa biết mặt).

8.ĐẰNG LINH

Nhớ thương ơi! Những đợi chờ

Dãy bàn năm cũ phai mờ mực chưa?

Trường yêu xa mấy cho vừa

Tình thương thầy, bạn bây giờ vời xa

(Trong gia đình Thiếu Nhi ở Quảng Tín, Tam Kỳ. Không rõ nay thế nào, chưa biết mặt.

Không chỉ quanh quẩn chuyện sáng tác làm thơ viết văn, một khi tự thành lập bút nhóm hoặc tham gia các "gia đình" nêu trên, bọn y còn được các anh chị đi trước tổ chức sinh hoạt cộng đồng. Đó là những cuộc cắm trại ở nơi xa, trại hè và sinh hoạt tập thể định kỳ tại địa điểm cố định vào mỗi sáng chủ nhật hằng tuần. Hầu như “kỹ năng sống” của lũ nhóc thế hệ yêu thơ văn bọn y đã được “đào tạo” trong khoảng thời gian này. 

Nhớ lại năm tháng của “thuở mơ làm văn sĩ”, nhiều bè bạn ngày ấy đều cho rằng, nhờ trao đổi thơ văn, đọc và góp ý cho nhau các sáng tác trong sinh hoạt cộng đồng, họ đã trưởng thành lên.

Từ sân chơi ngày đó, từ Hoài Mộng Diễm Thư đã có Nguyễn Nhật Ánh, từ Thiên Bất Hủ đã có Lê Minh Quốc, từ Trần Quang Đoàn đã có Đoàn Vị Thượng v.v…Từ Gia đình Thằng Bờm có Hy Yên, Nguyễn An Trung - nay đã là nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên, doanh nhân Nguyễn Hữu Cứ - nay thành viên của Hội Xuất bản Việt Nam, đạo diễn Thái Loan (HTV)…; từ Gia đình Thiếu Nhi đã có Bạc Hà - nay nhà thơ Nguyễn Văn Nhân; nhà thơ Nguyễn Thanh Xuân; Mừng Hoang Vu nay nhà văn Phan Vân Sơn… Rồi ở Gia đình Mai Bê Bi có Lê Nguyễn Mai Trắng - nay nhà báo Bạch Mai (Báo Phụ Nữ TP.HCM) v.v…

Nhớ lại kỷ niệm một thời, thật vui khi biết các thế hệ hiện nay cũng đã có những sân chơi tương tự như bút nhóm Vòm Me Xanh (báo Khăn Quàng Đỏ), Gia đình Áo Trắng (NXB Trẻ - báo Tuổi Trẻ)… Tình yêu dành cho văn chương của tuổi học trò thời nào cũng cần, rất cần những “bệ phóng” tương tự.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 3.10.2017

 

ngay-di-tren-chu-5Ryyy

Tranh vẽ trên giấy dó của Lê Minh Quốc

 

Vừa đi Đà Nẵng về.  

Thành phố của năm tuổi thơ vẫn nguyên vẹn trong trí nhớ. Vẫn đi lại những con đường cũ. Vẫn những thức ăn của ngày xa xưa. Vẫn tháng 9 có cơn mưa tầm tã vào buổi sáng sớm. Vẫn giọt cà phê đắng môi. Vẫn âm vang tiếng gió tiếng mây tiếng lao xao từ vòm trời xa thẳm réo gọi. Vẫn mùi biển mặn trong không gian ngút ngàn kỷ niệm. Vẫn thế. Không gì khác. Đời người, hạnh phúc nhất vẫn còn một nơi chốn để quay về, tìm về. Những cuộc tình đã qua. Những cuộc tình đã mất. Tưởng là còn, ngỡ là mất nhưng rồi tất cả chỉ là một làn hương thoáng qua một chốc nhưng vạn kiếp ngàn đời đã hóa thành máu thịt.

“Xa xăm điện thoại một, hai/ Bốn, năm, sáu, bảy... chờ mai ngóng chiều/ Tưởng rằng nỗi nhớ mọc rêu/ Ngờ đâu nguyên vẹn màu yêu vẫn còn/ Tưởng rằng chiều xuống héo hon/ Ngờ đâu nắng đẹp tươi non bắt đầu/ Mưa nguồn chớp biển tiễn nhau/ Lúc quay lại vẫn ngọt ngào như xưa”. Cứ thế, sự ngọt ngào ấy chỉ còn trong tâm tưởng nuôi con người ta lớn lên, già đi và cuối cùng là một sự trống rỗng, rỗng không, vô hình hài hình tướng.  

Đôi khi tự nhủ, phải viết mỗi ngày. Rồi lại phân vân, viết để làm gì? Câu hỏi ấy trả lời ra làm sao. Thôi thì, cũng là một cách giết thời gian. Giết dần từng khoảng khắc của ngày. Một ngày. Vạn ngày. Đến ngày nào mới thôi? Chẳng thể biết được. Đôi khi con người ta cũng tự chán lấy mình. Một ngày tẻ nhạt quá đi mất. Quanh đi quẩn lại cũng chừng ấy nhúm chữ. Xáo đi, trộn lại và trải dài ra trước mắt. Là viết đấy à? Ngày nào cũng thế. Quanh đi quẩn lại cũng chừng ấy gương mặt. Lại nhớ đến câu thơ của Lưu Quang Vũ: “Tôi chán cả bạn bè/ Mấy năm rồi họ chẳng nói được câu gì mới/ Tôi bỏ ra đi, họ ngồi ở lại/ Tôi đi một mình trong phố vắng ban đêm”. Đi đâu? Y chẳng bao giờ dám đi đâu ngoài bốn bức tường nhà. Chán là thế.

Sực nghĩ, chung quanh mình còn có những con người tầm vóc lớn lao ghê gớm. Họ đã vượt ra ngoài ý nghĩ thông thường như y đã nghĩ. Họ đã biết nghĩ về người khác. Nghĩ về sự tồn tại của cả một cộng đồng. Tại sao họ thế sống trong tâm thế ấy? Câu này có thể trả lời bằng nhiều cái “gạch đầu dòng”, nhưng rồi, dù có liệt kê dài dòng đến cỡ nào cũng không thể thiếu đi một yếu tố quan trọng bậc nhất: môi trường xã hội mà họ đang sống.

Môi trường ấy cho phép họ có thể toàn tâm toàn ý suy nghĩ về những gì vượt ra ngoài cơm áo nặng nợ mỗi ngày, không phải đối mặt với những vụn vặt nhiễu sự, không phải thắt lòng đau đớn trước các thông tin chẳng ra làm sao về tham ô tham nhũng, ô nhiễm môi trường, chạy quyền chạy chức, con ông cháu cha, "con vua thì lại làm vua/ Con sãi ở chùa lại quét lá đa", lợi ích nhóm, bè phái cánh hẩu, an toàn thực phẩm, tranh tụng nhì nhằng, "Con kiến mà kiện cành đa/ Leo phải cành cộc leo ra leo vào/ Con kiến mà leo cành đào/ Leo phải cành cộc leo vào leo ra"… rất ư đúng quy trình. Vâng, rất đúng quy trình. “Tài thật! Tài thật! Tài đến thế là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo” - nhân vật của nhà văn Nam Cao, nếu bước ra ngoài trang văn cũng lại thốt lên câu ấy đấy thôi.

Thỉnh thoảng trong Nhật ký, đã đôi lần y biểu dương, thán phục những con người có tầm nhìn lớn lao đã biết sống cho người khác, vì người khác. Gần đây, sự thán phục ấy lại quay về trong sự suy nghĩ cỏn con của y. Rằng, thời đi học, ai cũng biết rằng, nếu muốn được công nhận một quốc gia mới thì phải có đủ điều kiện: dân số, chính phủ, ranh giới lãnh thổ và có khả năng tương tác với các nước khác. Rằng, nếu Liên Hiệp quốc công nhận thì sắp đến đây, trên thế giới sẽ có thêm một quốc gia nữa, nâng con số lên 194.

Quốc gia nào vậy?

Theo báo Tuổi Trẻ ngày 29.9.2017, “quốc gia” này có quốc kỳ, hộ chiếu, tem bưu chính, thậm chí cả quốc ca, tổng tuyển cử, đội tuyến bóng đá: “Nhưng điều đáng nói nhất là lãnh thổ của nó không phải dất đai mà hoàn toàn là… rác thải”. Đây là sáng kiến của Công ty truyền thông LADbible (Anh) cùng với tổ chức phi chính phủ Plastic Oceans Foundation (Mỹ) khởi động từ tháng 9.2017 - khi họ phát hiện, khảo sát khối rác thải nhựa rộng nửa triệu kilômet vuông đang bềnh bồng ngoài khơi Thái Bình Dương - diện tích gần bằng nước Pháp! “Quốc gia” này được đặt tên Trash Isles (Đảo Rác) cũng lên chiến dịch mà họ vận động Liên Hiệp quốc công nhận.

Công nhận để làm gì?

Là để mong muốn các chính phủ cùng chung ta “xóa sổ” nó đi, “nhấn chìm” nó đi. Và tổ chức trên sẽ tiếp tục “gây ồn ào” cho đến bao giờ mọi người chịu lắng nghe và hành động. Được biết, thông qua chiến dịch này, họ đã thiết kế sẵn quốc kỳ, hộ chiếu và cả tiền giấy (gọi là đồng debris, nghĩa là mảnh rác, tem bưu chính, tất cả làm từ vật liệu tái chế. Hiện nay, “quốc gia” nay đã có 130.000 người đăng ký trở thành công dân, thông qua mạng trực tuyến chage.org, tất nhiên họ không phải đến “an cư lạc nghiệp” tại Trash Isles. Công dân danh dự đầu tiên  của “quốc gia” này là cựu Tổng thống Mỹ Al Gore; nữ diễn viên 83 tuổi người Anh là Juli Dench đã đồng ý làm “nữ hoàng”, đơn giản bà từng thủ vai nữ hoàng Anh Elizabeth trong phim Shakespeare đang yêu và đã đoạt giải Oscar.

Những thông tin này, ngoài ý nghĩa lớn lao của nó, điều khiến nhiều người thích thú còn là sự trẻ trung, vui nhộn khi họ phát động chiến dịch Trash Isles nữa. Cũng là vấn đề về rác, thử hỏi rằng, nước Nam ta có gì để khoe không? Có chứ. Cùng với dịp, cuộc vận động này được tiến hành thì, thì sao?

Thì cứ theo như nguồn tin của báo Thanh Niên số ra ngày 8.9.2017, đây là ngày: “Công ty an ninh mạng Kaspersky công bố báo cáo 'Spam và lừa đảo trong quý 2/2017'. Theo đó, nhìn chung số lượng thư rác trung bình đã tăng lên 56,97%. VN trở thành quốc gia có nguồn phát tán thư rác đứng đầu (chiếm12,37%), vượt qua Mỹ (10,1%) và Trung Quốc (8,96%). Lượng thư rác độc hại đã tăng mạnh sau cuộc tấn công của WannaCry vào tháng 5, gây ảnh hưởng tới hơn 200.000 máy tính trên toàn cầu, dẫn tới sự hoảng loạn lớn cho người dùng và những kẻ gửi thư rác ngay lập tức đã tận dụng cơ hội này. Một trong những xu hướng chính là số lượng thư rác được nhắm mục tiêu đến hệ thống doanh nghiệp. Bên cạnh đó, số lượng thư kèm theo các Trojan, được gửi dưới danh nghĩa các dịch vụ chuyển phát quốc tế cũng gia tăng”.

Đọc xong mẩu tin này và tủm tỉm cười.

Lại tủm tỉm cười. Cười với gì nữa? À, cười với một “bài thơ” lục bát, chẳng rõ tác giả. Ghi lại trong Nhật ký để thấy rằng các công chức ăn lương như y đây, hiện nay đang quan tâm đến điều gì khi bước vào công sở. Trước hết, xin nhắc lại sự việc tại thành phố nọ đã ban hình Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp khối Nhà nước, trong đó có việc cán bộ, công chức không mặc quần jean, áo thun khi thực thi nhiệm vụ, là nhằm tiến đến chính quy hiện đại. Một quan chức giải thích:  “Trước khi soạn thảo, chúng tôi đã có nghiên cứu, tham khảo các tài liệu thì thấy quần jeans có xuất xứ từ các nước Châu Âu, dành cho những người lao động để người ta mặc đi lao động, sản xuất hoặc là đi chăn bò, chăn cừu”.

Thiên hạ có nhiều ý kiến khác nhau.

Và đây là những câu vần vè tếu táo: “Nội quy cấm được mặc quần/ Bò tới công sở, một tuần trừ lương/ Sếp thì đang rất là cương/ quyết phải thực hiện chủ trương cái quần/ Ai ai mặt cũng đầy phân/ vân là không biết có quần thay không!/ Rồi phải đeo phù hiệu công/ ti ở trước ngực hồng hồng xinh xinh/ Mình thì cũng hết cả tinh/ thần để làm việc nên mình im ru/ Thân thì chả khác gì cu/ li pha trà nước rồi thu dọn phòng/ Buồn ra quán gọi đĩa lòng/ lợn ngồi chễm chệ xơi xong rồi về”. Nội dung không có gì đáng bàn, sở dĩ gây cười vì nó viết theo phong cách tân hình thức với lối xuống câu cực kỳ ba trợn, dù vẫn tuân theo nhịp 6/8.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 20.9.2017


thio-le-rtan-21-R

 

À, thì ra thế. Y ồ lên một cách sung sướng.

Do đọc đi đọc lại nhiều lần mới vỡ lẽ ra rằng, có những câu thơ đã đọc, thích thú, thỉnh thoảng hay lẫm nhẫm trong đầu nhưng chắc gì đã hiểu rõ nghĩa. “Hư vô bóng khói trên đầu hạnh/ Cành biếc run run chân ý nhi” (Xuân Diệu). Nhịp của câu thơ thất ngôn như đang bước đi và dừng lại. Sự nhịp nhàng của trắc và bằng đã tạo ra cảm giác ấy. Sau giây phút băng khoăn ấy, có lúc tự hỏi: “Hư vô bóng khói trên đầu hạnh. Vậy hạnh là gì?”. Lâu nay, hễ một khi ngắc ngứ câu chữ gì đó, y lại nhờ cậy đến nhà nghiên cứu An Chi. Dẫu biết rằng, không nên một chút nào. Nhưng rồi bí quá, đành làm phiền là thế.  

Lần này, nhờ lật bộ Hán Việt từ điển của cụ Đào Duy Anh nên đã có thể tự giải thích một cách ngon ơ: “Hạnh: Một thứ cây, lá giống lá mơ, tên gọi là cây mận”. “Bấy giờ mận mới hỏi đào/ Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?”. Câu ca dao quen thuộc lắm. Mà đã xong đâu. Ông Xuân Diệu “nhiễu sự” thật. Đã thế lại còn: “Cành biếc run run chân ý nhi. Vậy ý nhi là gì?”. Thoạt định điện thoại hỏi nhà thơ Người đàn bà ngồi đan, thân phụ của chị - nhà nghiên cứu tuồng Hoàng Châu Ký đặt tên Ý Nhi cho chị là ngụ ý gì? Chẳng nhẽ, cái gì cũng hỏi?

Thôi thì, cứ hãy chịu khó tra từ điển đi nhé. Rằng, Hán Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng giải thích: “Tên một loài chim, có thuyết bảo là chim yến. Bản dịch Chinh phụ ngâm khúc: “Nay quyên đã giục oanh già/ Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo”; Tên một bậc hiền sĩ thời cổ, thấy chép trong thiên Đại tông sư của sách Trang tử”.  

À, thì ra thế. Y ồ lên một cách sung sướng.

Ngày trước, thuở mới quen nhau, cô người yêu thường bảo: “Đuôi mắt của anh như đuôi cá dolphin”. Dolphin là con cá heo. Y tuổi Kỷ Hợi lại là sự trùng hợp về tên gọi. Càng hay. Ý nàng muốn nói là “ con mắt có đuôi” đấy thôi. Nhờ thế, bèn có thơ: “con cá dolphin lặn lội suối khe/ được gặp em là vui như đứa trẻ/ Trương Vô Kỵ cũng chỉ là đứa trẻ/ bước chân đi không quá sợi lông mày”. Đọc lằng lằng trên mạng, mấy trang bói toán gì gì đó lại quả quyết, “con mắt có đuôi” -  là kiểu mắt của tướng người đa tình. Có trúng? Có trật? Nếu thế, “Đa tình con mắt Phú Yên” (Tản Đà), hóa ra người dân Phú Yên đa phần đều sở hữu con mắt có đuôi? Tầm bậy. Làm gì có chuyện đó.

Cái thú của đọc thơ, đôi khi không cần phải hiểu rõ nghĩa. Chỉ cần cảm. Cảm nhận vần điệu du dương, lúc nhịp nhàng khi trúc trắc, dẫu chẳng rõ nghĩa nhưng vẫn thích. Cần gì phải cân, đong, đo, đếm từng ngữ nghĩa, mệt lắm, hãy để âm điệu nhịp đi của câu thơ lướt ngang qua như gió thổi qua bờ tre, khóm trúc: “Ngõ ban sơ, hạnh ngân dài/ Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua” (Bùi Giáng). Không cần hiểu. Chỉ cần cảm. Nói thì nói thế. Hiểu rõ nghĩa vẫn thích hơn chứ? Vâng, thích hơn là cái chắc.

Cầm quyển sách nhẩn nha đọc, chậm rãi đọc, từ từ đọc, vẫn khoái hơn cả. Dù ai nói gì thì nói, chê “cùi bắp” cũng chẳng sao, y vẫn thích đọc từ trang sách giấy trắng mực đen. Chữ nghĩa sờ sờ ra đó. Đọc đi, đọc lại vẫn thích. Thích thì ghi thêm bên lề trang sách dăm ba câu cảm nhận; hoặc, nếu lúc đó bận rộn gì đó, có thể làm dấu, dăm ngày sau lại đọc tiếp. Ấy, cũng là cái thú đọc sách.

Mà đôi lúc cũng nản quá. Cuộc sống cuồn cuộn ngoài kia, có phải như sách vở đâu. Khác nhau lắm. Đọc tập sách Sống đẹp của Lâm Ngữ Đường, chương bàn về cái thú uống rượu, ta nhận ra rằng, muốn thưởng thức cái ngon của men, nồng nàn của một thứ chếnh choáng: “Đất say, đất cũng lăn quay/ Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười?” (Tản Đà) thì tâm trạng nào, cuộc vui nào cũng phải chọn không gian, lẫn thời gian phù hợp.

Thế thì, cái thú đọc sách cũng chẳng khác gì đâu. Một trong những yếu tố cấn có đầu tiên vẫn phải là sự lành mạnh của một môi trường sống. Nhìn ra ngoài của sổ, ùa vào tai, đập vào mắt bao nhiêu chuyện “khởi nghiệp” của một vài quan chức, họ cho biết nhờ chạy xe ôm, bán chổi đót, làm vườn đến thối cả móng tay, nuôi lợn… mà trở thành giàu sụ, giàu nứt đố đổ vách. Nghe phì cười. Cứ như thể đám đông chỉ trẻ con. Rồi lại có quan chức đó lúc mới ngồi vào cái ghế đó còn trẻ lắm, tuyên bố rất dữ dằn nhằm thể hiện sự trong sáng, trong sạch, đạo đức ngời ngời. Thiên hạ vỗ tay hoan nghênh vì hắn ta đang trẻ. Trẻ chưa hư hỏng. Trẻ còn nhiệt tình. Trẻ luôn nhiệt huyết mà cam tâm làm "đày tớ" cho Dân cho Nước. Phải ủng hộ người trẻ. “Đùng một cái” Thanh tra Chính phủ kết luận hắn ta sử dụng bằng giả, dính dáng mờ ám về nhà cửa, đất đai… Sao lại tha hóa, hư hỏng nhanh đến thế? Chẳng ra làm sao. Trong khi đó, y vẫn đóng cửa phòng, lơ mơ làng màng cùng sách vở có phải ngớ ngẫn lắm không?

Nếu chọn lấy một truyện truyện ngắn hay nhất cả văn học Việt Nam, có tầm thế giới, có tính nhân loại phổ quát, theo y vẫn là Chí Phèo của Nam Cao. Câu nói: “Tao muốn làm người lương thiện!” là bi kịch không lối thoát. “Ai cho tao lương thiện” là câu hỏi tàn khốc nhất, bi thảm nhất của hạng người muốn hoàn lương; hoặc muốn giữ lấy thiên lương. Tâm trạng cay đắng tột cùng của Chí Phèo đã lỗi thời chăng? Tự hỏi rồi nhếch mép cười.

Lại nhớ khi du lịch sang Hà Lan, được tham quan hệ thống máy móc của nhà máy chế biến sữa Campina. Quan sát sự sít sao của quy trình sản xuất, mỗi cái hộp giấy, cái chai nhựa kia tự nó vận hành theo những đường, những rãnh đã định sẵn, không chệch ra ngoài, cứ thế mà đi hết một chặng đường dài, y ngẫm nghĩ: “C’est la vie. Đời là thế. Bi kịch của con người lắm khi là anh rơi vào một guồng máy, dù ý thức nhưng không thể cưỡng lại được. Đến khi thoát ra được, muốn làm lại từ đầu thì than ôi tóc đã bạc, máu đã khô và mắt đã mờ không còn đủ hăm hở bước đi những bước mới”.

Nay, nghĩ thêm rằng, dẫu tự phản tỉnh, ý thức ngay từ lúc ấy, từ lúc còn trẻ trung thừa sức xóa ván cờ này chơi lại ván khác, nhưng rồi con người ta có được sự dũng cảm? Có thể thoát ra ra ngoài như ý muốn? Có đôi lần lan man nghĩ ngợi. Rồi lại quay về với thói quen đã mọc rễ từ ngay trong tiềm thức. Lại vẩn vơ vô thưởng vô phạt cùng những gì mà tiếng dội của thời sự khốc liệt không đập vào tai, không ùa vào mắt. Rồi lại đọc sách.

Sáng nay, đọc tập sách Thơ Lỗ Tấn do Phan Văn Các dịch - NXB Lao Động cùng Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây in năm 2002. Đã từng đọc tạp văn của một người đưa ra cái thuyết “Đả lạc thủy cẩu”, hiểu nôm na là đánh chó đã rơi xuống nước rồi, còn phải phải theo đánh mãi nữa để nó không lội ngược lên bờ mà cắn mình. Tính cách con người ấy, rất quyết liệt. À, bỗng dưng lại nhớ đến một câu văn của Nam Cao. Cũng là chuyện “rơi xuống nước”, cụ Bá Kiến - bậc tiên chỉ đạo cao đức trọng đã từng dạy rằng: “Một người khôn ngoan chỉ bóp đến nửa chừng. Hãy ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi dắt nó lên để nó đền ơn. Hãy đập bàn đập ghế đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi thì lại vất trả lại năm hào “vì thương anh túng quá”! Và cũng phải tùy mặt nữa: những thằng có máu mặt, vợ đẹp, con đàn chính là những thằng dễ bóp; trái lại những thằng tứ cố vô thân, giết chúng thì dễ, nhưng giết được, chỉ còn có xương; mà gây với chúng là mở một dịp tốt để cho các phe nghịch xoay lại mình”.

Ấy là sự ma mãnh, khốn nạn có thể xếp vào thói hư tật xấu bậc nhất của người Việt đấy chăng?

Trở lại với Lỗ Tấn. Nhà văn hóa Phan Khôi cho biết: “Tôi từng đọc một cuôn sách nào đó, thấy dẫn một câu nói của Mao Chủ tịch nói về Lỗ Tấn rằng: “Khổng Tử là thánh nhân của thời đại phong kiến, Lỗ Tấn là thánh nhân của thời đại vô sản”. Thật chẳng quá đáng chút nào hết như có người tưởng. Khổng Tử là người tạo lập cái nề nếp tư tưởng đạo đức cho xã hội phong kiến là thánh nhân, thì Lỗ Tấn, người phá đổ cái nề nếp ấy đi mà tạo lập cái nề nếp tư tưởng, đạo đức khác cho xã hội vô sản, sao lại không là thánh nhân?”. Đoạn văn này trích trong bài Lỗ Tấn, một đại văn hào Trung Quốc và thế giới, in báo Nhân dân, số ra ngày chủ nhật 28.8.1955 tại Hà Nội. Sau này, khi thực hiện tuyển tập Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn (NXB Hội Nhà văn - 2007), Lại Nguyên Ân có chọn in lại.

Trong lời Tựa việt cho tập Thơ Lỗ Tấn do Phan Văn Các dịch, Lý Gia Trung - Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam cũng cho biết: “Chủ tịch Mao Trạch Đông rất thích thú thưởng thức thơ Lỗ Tấn và đã từng tự tay chép thơ Lỗ Tấn thành tác phẩm nghệ thuật thư pháp tặng bạn bè quốc tế” (tr.11).

Thơ Lỗ Tấn thế nào? Lật hú họa một trang ngẫu nhiên xem sao. Ấy là trang 192, in bài Công dân khoa ca, Phan Văn Các dịch Bài ca khoa Công dân và cho biết: Bài thơ này Lỗ Tấn cho in năm 1931; bấy giờ tên quân phiệt phản động Quốc dân đảng Hà Kiện là Chủ tịch chính phủ tỉnh Hà Nam, chủ trương thiết lập “Công dân khoa” (môn Công dân) trong nhà trường để thực thi giáo dục nô dịch” (tr.194).

Hãy đọc: “Tướng Hà Kiệm cầm dao làm giáo dục/ Rằng trong trường nên đặt những môn gì/ Trước tiên “Khoa công dân” không biết dạy điều chi/ Tôi viết sách giáo khoa cho, xin các ông đừng nóng nảy/ Làm công dân quả tình đâu có dễ/ Xin mọi người hãy chớ “lơ-tơ-mơ”/ Điều đầu tiên là chịu đựng, hiểu chưa?/ Làm như trâu và ngu như lợn:/ Sống thì nai lưng chém to vác nặng/ Giết mổ rồi thì thịt để ăn/ Dẫu chết toi chết dịch bởi ôn thần/ Cũng còn rán được lên mà lấy mỡ/ Điều thứ hai cần nhớ:/ Là phải biết cúi đầu/ Trước lạy ông lớn Hà, sau lại ông Khổng Khâu/ Lạy không dẻo sẽ đem đầu ra chém/ Mà cấm được van xin khi trảm/ Hễ van xin là phản động chứ sao/ Đại nhân có con dao, còn ngươi có cái đầu/ Ai nấy phải lo tròn thiên chức/ Điều thứ ba: cấm ngặt/ Không được nói tình yêu/ Tự do kêt hôn là… cái con tiều/ Hãy ngoan ngoãn là dì Mười hay dì Hai chục/ Nếu cha mẹ cần tiền thì bán phứt/ Lấy dăm trăm hay lấy vài nghìn/ Vừa giữ thuần phong vừa kiếm được tiền/ Có cách nào còn tốt hơn thế nữa/ Điều thứ tư nên nhớ:/ Là phải viết vâng lời/ Đại nhân là ông Trời/ Bảo sao thì làm vậy/ Nghĩa vụ công dân còn nhiều nữa đấy/ Nhưng chỉ riêng đại nhân hiểu lấy… thôi mà/ Chỉ xin các ông chớ khư khư ôm sách giáo khoa/ Kẻo đại nhân ngộ không vui lại bảo “a - la” là phản động”.

Phan Văn Các còn chú thích: “A - la” (A lạp) là phương ngôn Ninh Ba nghĩa là “tôi”, tớ”; ông lớn Hà” tức Hà Kiện; Khổng Khâu tức Khổng Tử”. Y không rõ câu “Hãy ngoan ngoãn là dì Mười hay dì Hai chục” tức ám chỉ những ai và như  thế nào? Với Bài ca khoa Công dân của Lỗ Tấn, cũng như mọi lần, hễ đọc được bài thơ hay, lại reo lên: “À, thì ra thế. Y ồ lên một cách sung sướng”?

Có mà điên.

Bần thần hết cả người.

Chuyện xưa tích cũ thôi ư?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.9.2017

 

ACho-gia-an-chi-1R

 

À, thì ra thế. Y ồ lên một cách sung sướng.

Trước kia, y chỉ cảm về câu thơ hay nhất trong Tình già - mở đầu cho phong trào Thơ mới, Phan Khôi viết: “Liếc đưa nhau đi rồi! Con mắt còn có đuôi!”, nay, đã hiểu thêm rồi. Đọc là học. Tác giả viết những quyển sách ấy, xét theo một nghĩa nào đó, chính là thầy. Y vẫn luôn tâm niệm rạch ròi như vậy. Lần đầu tiên ấn tượng chạy dọc theo sống lưng, nay còn nhớ mãi là lúc đọc An Chi bàn về từ “mày ngài” trong câu thơ tả Từ Hải. Sau khi dẫn thêm câu thơ từ Truyện Trinh Thử: “To đầu vú, cả dái tai/ Dày nơi ngư vĩ, cao nơi ngọa tàm”, ông viết: “Nếu đối dịch từng tiếng một thì ngư vĩ sẽ là “đuôi cá”. Nhưng đây cũng là một lối nói của tướng thuật mà Từ nguyên giảng như sau: “Nhà tướng thuật gọi nếp nhăn ở khóe mắt là ngư vĩ”. Vậy, “Con mắt có đuôi” trong thơ Phan Khôi, đích thị là “đuôi cá” đấy.

Có những quyển sách, lúc đặt trên kệ, không nên xa tầm tay. Bởi cần đọc để tra cứu nhiều lần. Lúc cần có ngay. Khỏi mất công tìm kiếm. Sách của nhà nghiên cứu An Chi, y xếp vào hạng sách ấy. Mà An Chi là ai? Hãy nghe ông Tự vịnh (2017): “Tám mươi hai tuổi vẫn chưa già/ Nhờ mê đọc sách với chơi hoa/ Ưu thời mẫn thế lòng day dứt/ Ái quốc lân quần dạ xót xa/ Vùi trong ngôn ngữ quên ngày tháng/ Bơi giữa trần ai nhớ mẹ cha/ Mặc phường nuôi lợn xây sơn thự/ Ta thà đọc sách với chơi hoa”. Xin lưu ý, hoa đây chỉ hoa, chứ không phải hoa đã xuất hiện trong một câu thơ Kiều từng gây tranh cãi.

Nhắc lại một chút để thấy, ở tập sách mới nhất của ông: Chữ nghĩa Truyện Kiều (NXB Tổng Hợp TP.HCM) cực kỳ đáng đọc. Lâu nay đã có nhiều văn bản Kiều và nhiều học giả đã giải thích, chú giải thế nhưng với An Chi, qua cách lý giải thấu đáo, uyên bác, ông đã “lật ngược vấn đề” một cách ngoạn mục và rất bất ngờ. Ông đã có cái nhìn khác các học giả tiền bối tầm cỡ như các cụ Hoàng Xuân Hãn, Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ…; các ông Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Huệ Chi, Vũ Văn Kính… mà khó ai bắt bẽ.

Khi đọc cây thơ “Nhờ mê đọc sách với chơi hoa”, y tủm tỉm cười khi nhớ ông luận về câu thơ lúc Thúc Sinh trố mắt nhìn Kiều: “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà”. Lúc ấy, ngăn cách tầm nhìn còn có: “Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa”. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều chọn “tẩm hoa”. An Chi lại khác. Ông chọn “tắm hoa” và lập luận: “Đây là Thúy Kiều tắm. Tắm hoa - hoa là ẩn dụ để chỉ Kiều - chứ không phải “tẩm hoa” như nhiều bản đã phiên. Đây đâu là phải chuyện “bức trướng hồng tẩm hoa”. Đây là Thúy Kiều tắm. Có tí ti sexy đấy! Nếu chẳng phải như thế thì làm sao có được bức họa khỏa thân: “Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”. Nghe ra chí lý thay.

Lại thêm một thí dụ khác.“Tư gia nghỉ cũng thường thường bậc trung”. Cứ như các học giả lừng danh xưa nay, đều cho rằng, thi hào Nguyễn Du sử dụng từ “nghỉ” theo thổ ngữ của người Hà Tĩnh, nhằm chỉ đại từ nhân xưng ngôi thứ 3, có ý rẻ rúng, xem thường. An Chi lại không nghĩ thế. Ông đi ngược thời gian, đi tìm văn bản xưa cũ để chứng minh rằng, “nghỉ”, vốn từ cổ và thuộc ngôn ngữ toàn dân. Chứng cứ, ông đưa ra: “Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (Roma, 1651) lấy tiếng Đàng Ngoài làm nền tảng đã ghi nhận nói: “Nghỉ: Người ấy, kiểu nói rất lịch sự”. Chưa hết, ông còn cho biết trong Thiên Nam ngữ lục, nó đã được dùng đến 25 lần. Phải chịu là An Chi tinh tế, có “con mắt xanh” dành cho kiệt tác Truyện Kiều.

Dăm ba thí dụ này cho thấy rằng, một khi đã khảo sát từ, tranh luận về học thuật, An Chi luôn cẩn trọng và chu đáo. Chính vì lẽ đó, một khi đã đưa ra kết luận thì người đối thoại phải “tâm phục khẩu phục”, nếu vẫn “cãi chày cãi cối”, ông lại tiếp tục tranh luận tới cùng. Ông thuộc một mẫu người luôn tâm niệm: “Người ta chỉ nên tranh luận với nhau một cách thẳng thắn, thậm chí có khi gay gắt nữa, để tiếp cận với chân lý, chứ người làm học thuật chân chính ai lại chờ chực cơ hội để hạ bệ người khác bao giờ”.  

Mà sự truy về gốc của ngữ nghĩa, chữ/từ ở An Chi là cả một sự cẩn trọng, chỉn chu. Trong bộ sách Rong chơi miền chữ nghĩa, 3 tập (NXB Tổng Hợp TP.HCM), khi ông bàn về chợ búa, heo cúi, con nghêu, con ngao, hát nghêu ngao,  hổ lốn, xào bần, tả pín lù, mèo hóa cáo, gà hóa cuốc, lai lịch ông Ba Bị, hóc, hóc búa v.v., ta phải thừa nhận rằng, cái sự đọc và tra cứu của ông rất khiếp. Tầm uyên bác ấy, khi đọc, ta vỡ lẽ ra nhiều chuyện mà trước đây chưa hiểu rõ hoặc đã hiểu không đúng.

Không chỉ có thế, nếu chỉ thuần từ ngữ, chữ nghĩa nặng nề về chuyên môn thì bạn đọc trình độ “thường thường bậc trung” (như y đây) làm sao có thể tiếp thu? Thế thì, điều đáng quý ở An Chi, theo y còn ở chỗ trực giác của một người say mê, nặng tình với tiếng mẹ đẻ mà có. Muốn được như thế, người viết còn phải am hiểu cả về dân tộc tính, phong tục, tập quán, v. v., của người Việt nữa, nếu không ắt ông không thể truy nguyên, tìm về những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ bị phổ biến qua những dị bản khó hiểu, thậm chí vô nghĩa. Chẳng hạn, lâu nay, ai cũng nhớ rành rành: “Một mai thiếp có xa chàng/ Ðôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin”. Liệu chừng có đúng với văn bản ca dao từ ngàn xưa ông bà mình đã để lại? Phải là “Ðôi bông thiếp trả, con chàng thiếp xin”.

Sau khi phân tích về “tam cương”, “tam tòng” của lễ giáo phong kiến, An Chi lập luận: “Người phụ nữ bị cái cương thứ ba và ba cái tòng trói chặt và nói chung thì họ cam phận vì có như vậy thì mới chính chuyên. Mình mang nặng đẻ đau nhưng trên danh nghĩa thì con là con của chồng. Vì vậy nên nàng mới xin. Chi tiết này khiến ta cảm động vì tình mẫu tử thiêng liêng. Mà đứa con thực ra cũng còn là một phần hình ảnh - và cả huyết thống – của người chồng cho nên, với con mình, nàng vẫn còn được gần chàng về mặt tinh thần. Hai câu ca dao đậm màu sắc trữ tình này mang tính nhân văn sâu sắc. Đem hai cái vòng vàng vào mà truất chỗ của đứa con, người ta đã làm cho câu ca dao trở nên thô thiển và biến người thiếu phụ đáng thương, đáng mến thành một mụ đàn bà tham lam”.

Ấy cũng là một trong những cái thú đọc sách khảo cứu, biên khảo của An Chi. Y vẫn còn thích, thích nhất ở sự thẳng thắn, rạch ròi, minh bạch của ông. Phẩm chất ấy rất đáng quý, cần tôn trọng trong mọi cuộc tranh luận, có như thế mới thúc đẩy sự tiến bộ của học thuật. Mẫu người ấy, ngày càng hiếm, bởi sự uốn éo, nói vuốt đuôi, nói ngoài học thuật ngày càng phổ biến.

Có lần, ông bảo: “Tôi luôn chủ trương phải tra cứu đến đầu đến đũa để điểm được đúng đích. Mà khi tự mình thấy đã đạt được đến điểm đích rồi thì An Chi không “ngại lời” trước bất cứ tên tuổi lớn nào”. Do cách nói thẳng thừng ấy, “thẳng mực tàu đau lòng gỗ” nên không ít nguời đâm ra oán, ghét. Một trong những chiêu trò, họ nêu ra, vin làm cái cớ phản bác là An Chi không có học hàm, học vị sáng giá thì sao lại dám đụng đến những “cây đa cây đề”? Họ cố tình quên rằng, không dưới một lần khi bàn về Câu chữ Truyện Kiều, lúc tranh luận với học giả Đào Duy Anh, An Chi cho biết dẫu bàn một chữ, kể cả “bàn về nhiều chữ của ông cũng không mảy may làm lu mờ được tên tuổi của ông trong tòa lâu đài đó. Tuy nhiên đấy chỉ mới là nói đi. Còn nói lại, thì dù Đào Duy Anh có là nhà văn hóa lớn đến mấy, ông cũng không phải là một thần tượng bất khả xâm phạm”.

Thiết tưởng, các học giả chân chính bao giờ cũng đồng tình với tâm niệm này. Hơn nữa, một khi tranh luận học thuật mà người đó đã khuất, nếu An Chi viết sai thì liệu có yên với dư luận? Nói như thế, để thấy rằng sự tranh luận về chữ nghĩa bao giờ cũng cần thiết, bởi người đọc đương thời được tiếp nhận với thông tin chính xác do An Chi đã dày công cải chính. Và lúc tranh luận với người còn sống sờ sờ ra đó, đã là học giả thứ thiệt, chẳng một ai vì đuối lý mà đâm ra “không nhìn mặt nhau”.

Lúc đọc quyển Những tiếng trống qua các nhà sấm (NXB Tổng Hợp TP.HCM), y thích thú biết thêm chi tiết sau những tranh luận về đôi từ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan: quốc quốc/cuốc cuốc/ nước nước; da da/ đa đa /gia gia?, “nhà Kiều học” Nguyễn Quảng Tuân nhắn nhủ: “Lẽ nào vì chữ “gia gia”/ Mà ông quên cả bạn già tình xưa”. An Chi trả lời: “Không đâu, tôi không hề quên đâu, bác Tuân. Tôi chỉ thẳng thắn trong học thuật mà thôi. Nếu gặp bác, tôi vẫn tay bắt mặt mừng như xưa. Tôi vẫn chờ bác điện thoại đến hỏi vợ tôi: “Sao, ông ấy đang làm gì đấy? Ông ấy đã dậy chưa?”. Tôi vẫn chờ điện thoại của bác đấy”. Chi tiết thân mật này khiến tôi nhớ đến một lớp học giả thời trước, lúc các cụ, các ông Trần Trọng Kim - Phan Khôi, Hồ Hữu Tường - Nguyễn Văn Xuân đã tranh luận về Nho học, về nghệ thuật đánh trống thúc quân; rồi lại nhớ đến Những bức thư đầm ấm trao đổi giữa các ông Quách Tấn - Nguyễn Hiến Lê…

Mà An Chi cũng “không phải dạng vừa đâu”, nếu tranh luận với những ai cố tình dùng ngôn từ thô tục, mạt sát, biếm nhẽ một cách chợ búa thì ông chẳng ngần ngại gì mà không trả lời thích đáng. Rằng, có người vì đuối lý mà vu lên, đại khái sự giải thích của An Chi “kết quả của cách suy luận vỉa hè và óc tưởng tượng phong phú”, ông lại tiếp tục tranh luận rồi “chốt hạ”: “Ai vỉa hè, ai chính thống, trong trần ai ai dễ biết ai”; hoặc: “Điều này chẳng gì lạ, vì từ cổ làm sao dễ hiểu cho được, nhất là khi nó được bàn dưới góc độ của từ nguyên học! Huống chi, nếu có muốn hiểu thì cũng phải thông minh một chút”. Cách nói “toạc móng heo” ấy xác đáng lắm, bởi vì rằng không ít người núp dưới một cái tên khác, không dám lộ mặt; hoặc chỉ là cha căng chú kiết vẩn vơ nào đó lại quyết cãi trối chết với An Chi hòng mong “ăn theo” sự nổi tiếng của ông.

So với nhiều người, An Chi xuất hiện muộn, lúc ngoài ngũ thập, đến năm 1990 ông mới bắt đầu viết và cộng tác với Kiến thức ngày nay, rồi “đứng tên” chuyên mục Chuyện Đông chuyện Tây của tạp chí từ gần cuối năm 1992 cho đến 2008. Và lập tức, đã nhận được sự ái mộ. Nay với bộ sách cùng tên, ông đã xuất bản 6 tập cả hàng ngàn trang in. Bấy giờ, bậc học giả Cao Xuân Hạo đã tuyên dương: “Nhiều bài giải đáp của An Chi làm cho người đọc thấy hé mở ra những luận điểm khoa học quan trọng và thú vị”; “Thêm vào đó là lời văn trong sáng, đĩnh đạc, nhiều khi dí dỏm một cách nhã nhặn và tuệ minh, làm cho việc đọc anh trở thành một lạc thú thanh tao”.

Đến nay, có thể quả quyết, sự xuất hiện của An Chi trên trường văn trận bút vẫn còn khiến nhiều người kinh ngạc, khó có thể “giải mã” về kiến văn của ông. Không hề giấu giếm, An Chi từng cho biết, từ thuở nhỏ, ông được học tiếng Pháp, sau đó lúc vào trường Tây Chasseloup-Laubat (nay là địa điểm của trường PTTH Lê Quý Đôn), ngoài tiếng Anh là sinh ngữ bắt buộc, ông còn chọn thêm tiếng Tây Ban Nha là sinh ngữ thứ hai. Trước đó nữa, thời Nam bộ kháng chiến (9-1945), từ quê nhà ở xã Binh Hòa, Gia Định (nay thuộc TP. HCM), ông được gia đình cho ra Chợ Lớn học ở trường Tàu Tam Dân học hiệu, với tên Tàu là Han Ri Chou. Rồi ông vào học Lycée Franco-Chinois vừa học tiếng Tàu, vừa học tiếng Tây. Nhưng đáng nể nhất ở An Chi vẫn chính là tinh thần tự học mà ông khiêm tốn “học thêm theo kiểu du kích”, và bộc bạch: “Còn những thứ khác như La Tinh, Hy Lạp, Sanskrit, v.v… không từng đươc học “chính quy” trong nhà trường, thì hiển nhiên cũng chỉ là do tự học nên trình độ chắc chắc cũng chỉ ở mức… đựng trong một cái lá tre mà thôi”.

Vậy, “giải mã” An Chi thế nào đây? Có phải “Nhờ mê đọc sách với chơi hoa” hay cơ duyên nào khác? Y nghĩ rằng, trong cuộc giao lưu tại Đường sách do NXB Tổng Hợp TP.HCM tổ chức vào ngày 14.10.2017 tới đây, nhân một loạt sách mới của An Chi vừa xuất bản, bạn đọc sẽ được nghe ông trả lời câu hỏi thú vị này.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.9.2017

 

1438658077-anh-14hoa-dine-diunjejpg

 

Đi nhậu lai rai cũng là một cách tìm kiếm, ghi chép thêm một vài chữ. Chữ đã cũ. Chưa từng nghe. Thiên hạ đã nói nát nước rồi. Nhưng, với y lại mới. Chiều qua, ngoài trời loáng thoáng mưa. Trên đường đi, như thói quen mọi lần, vẫn là lẫm nhẫm một hai câu thơ bất chợt ùa đến trong đầu. Rồi khi đến quán, ngồi xuống bàn, lấy bút ghi lại là xong. “Từ Đà Nẵng đến Sài Gòn/ Tặng bạn quyển sách vẫn còn thư hương/ Giọt bia nhòe nhoẹt chiều sương/ Học theo lá nõn ven đường an nhiên”. Thế thôi. Đến mùa lá nõn. Cuối mùa lá rụng. Chớ lăn tăn gì. Cưỡng cầu mà chi.

Ngay lúc nhà hàng dọn ta món có bông điên điển ăn kèm, anh Biền nói rằng, ở Nam bộ có câu thành ngữ: “Rể điên điển”. Chẳng rõ câu này ngụ ý là gì?

Thời sinh viên năm thứ 2,  y đã đi thực tế ở An Giang. Đi ghi chép văn học dân gian. Đã thấy hoa điên điển vàng rực trên dòng kênh. Sáng sớm ngồi xuồng theo anh chủ nhà đi hái bông điên điển. Và tất nhiên, làm sao không có thơ được chứ? Tình yêu đôi lứa trong bài thơ Chèo xuồng trên kênh Sình Hù in ở tập Trong cõi chiêm bao (1989), chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng: “Dòng kênh lấp lánh tiếng cười/ Níu xuồng nghiêng phía chỗ ngồi của em/ Tôi đâu dám nói gì thêm/ Hương vú sữa rót lênh đênh dịu dàng/ Nói gì tôi cũng xin khoan/ Vầng trăng còn khuyết. Vội vàng làm sao?/ Ỡm ờ em ngó trời cao/ Tôi nhìn xuống nước xôn xao cớ gì?/ Chiếc xuồng chậm rãi trôi đi/ Còn tôi hóa đá ngồi lì tỉnh bơ/ Dối lòng nên lại ngó lơ/ Vàng hoa điên điển vật vờ trôi theo”.

Hái hoa điên điển đem về xào dầu, mỡ ăn rất ngon. Thời bao cấp xa xăm ấy, được thế, đã là ngon. Rất ngon. Còn nhớ mãi đến giờ.

Mà “Rể điên điển” là gì vậy? Lưu ý, ở đây “rể” dấu hỏi, là con rể, làm rể, “Ăn trầu không có rễ như rể nằm nhà ngoài”, “Dâu dâu, rể rể cũng kể là con”…; chứ không phải “rể” ngã qua dấu ngã để thành cái “rễ” -  một bộ phận của cây, đâm sâu xuống đất/ bùn để hút dinh dưỡng nuôi cây. Theo anh Biền, đặc điểm của rễ cây điên điển là nó theo con nước. Nước cạn nó chỉ dài chừng ấy; nước sâu thì nó lại dài theo. Nói cách khác, tùy thời, tùy lúc mà rễ cây điên điển có sự thể hiện khác nhau, chứ không phải trước sau như một.

Với người miền Nam, cây điên điển rất quen thuộc, do đó, họ mượn sự đồng âm của rể/rễ để có thành ngữ “Rể điên điển” - ngụ ý chê trách con rể ở ăn không ra gì với gia đình vợ, khi “năm nắng năm mưa”, lúc cà trật cà duột, lúc thế này khi thế khác. Thậm chí ngay cả lúc bên nhà vợ đang tang gia bối rối: “Hỏi nào chàng rể ở đâu?/ Chàng rể uống rượu đi sau nói xàm”. Thì còn ra cái thể thống gì nữa? Loại rể ấy, làm sao có thể thốt được câu khiến ba má/ tía má vợ nghe mát cả ruột: “Thắp nhang cho sáng bàn thờ/ Kẻo cha mẹ quở không nhờ rể con”.

Có những câu thành ngữ, rõ ràng không xuất hiện từ rễ/rễ cây nhưng khi đi sâu vào tìm hiểu thì lại thấy. Thế mới là sự lắc léo của tiếng Việt. Chẳng hạn, đã từng nghe “Lục lăng củ trối”. Xin hỏi, củ trối là củ gì vậy? Đại từ điển tiếng Việt (1999) hoàn toàn không có từ củ trối. May quá, Đại Nam quấc âm tự vị cho biết củ trối đích thị là... cái rể. Kỳ quái chửa? “Rễ cái lớn ở dưới sâu. Nguyên củ cái lâu năm nằm ở sâu khó bấng khó đào. “Bấng cho được củ trối” thì là lấy cho hết gốc, làm cho hết cái khó”. Nhân đây nói tạt qua một chút, “bấng” tức “bứng” theo cách nói của người  Nam thuở xưa. Thỉnh thoảng đọc ca dao lại thấy sự biến âm tương tự: “Canh tư cất tiếng thề nguyền/ Khứ lai miêng bạch cho tuyền thủy chung”; “Phụ phàng chi mấy phụ phàng/ Keo sơn bậu đành dứt, ngỡi vàng bậu đành vong” v.v… Rõ ràng là miêng/ minh; ngỡi/ nghĩa...

Tại sao “lục lăng” lại kết model với “củ trối” để trở thành một câu cửa miệng của người miền Nam? Trước hết phải hiểu “lục lăng” là cái quái gì trước đã. Cũng theo Đại Nam quấc âm tự vị: “Cây tròn mà có khía; cây bền chắc; đứa ngang tàng không biết phép”. Cả hai loại ấy đều thuộc hạng gan lì, lì đòn, lì lợm như ta đã biết, do đó lúc kết hợp là nó dùng để chỉ hạng người cứng đầu cứng cổ, to gan lớn mật, ngang tàng, khó dạy bảo, sai biểu, ương bướng thầy chạy, hết thuốc chữa.

Mà có thật đó là câu nói của người Nam bộ?

Lý lẽ của học giả An Chi là từ câu "Lục lâm thảo khấu" và ông cho rằng: “Lục lăng là do nói trại từ Lục Lâm mà ra. Hai tiếng Lục Lâm vốn là tên một ngọn núi ở phía Đông Bắc huyện Đương Dương, miền Kinh Châu, nằm trong dãy núi Đại Hồng, tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc) ngày nay. Núi này nguyên là nơi tụ tập của những người nổi dậy chống lại chính quyền Vương Mãng vào cuối đời Tây Hán. Sử Trung Quốc ngày nay gọi đó là cuộc khởi nghĩa Lục Lâm, những nhà nước phong kiến Trung Hoa ngày xưa thì coi đó là giặc cho nên đã dùng hai tiếng lục lâm để chỉ những người chống chính quyền hoặc những tên bạo tặc cướp phá tài sản của dân lành. Nghĩa này đã được Mathews’ Chinese-English Dictionary ghi nhận là: “a bandit” (tên ăn cướp). Trong phương ngữ Nam Bộ, do không biết rõ xuất xứ nên nhiều người đã nói trại hai tiếng lục lâm thành lục lăng và hiểu là “đứa ngang tàng không biết phép” như đã dẫn ở bên trên” (Chuyện Đông chuyện Tây, NXB Trẻ - 2005, tr. 81).

Còn có câu thành ngữ nào cũng ra đời tương tự?

Chắc là có. Trước mắt, nêu lấy câu Cán ống nhựt dạ, Đại Nam quấc âm tự vị giải thích: “Giấy việc quan phải đệ đi gấp, chẳng kì ngày đêm”. Thành ngữ này dần dần nói trại thành: “Cắn ống giựt nhợ” và còn tồn tại đến nay - nhằm chỉ phải hành động, thực hiện ngay việc gì do một cách nhanh chóng, gấp rút, không thể chần chừ. Rõ ràng, “nhựt dạ/nhật dạ” âm Hán Việt (chỉ ngày đêm) đã biến hóa thành “giựt nhợ/giật nhợ” một cách nôm na, ngon lành, dễ hiểu. Chỉ nghe thoáng qua đã dễ dàng liên tưởng tới một việc bức bách, phải làm ngay: “Ai về nhắn với ông câu/ Cá ăn thì giựt để lâu hết mồi”. Nhợ là dây đánh bằng sợi, xe bằng chỉ như nhợ câu dùng để câu cá.

Một khi nghe tới từ nhợ, lâp tức ta liên tưởng đến dây nhợ lằng nhằng, vướng víu, “Dây mơ rễ má”, chằng chịt đan xen, quấn chặt, níu vào nhau, khó tháo gỡ. Tỷ như hai người bạn thân thiết, đến lúc không còn hợp tánh hợp nết, họ chia tay nhau, ấy là lẽ thường tình. Nhưng rồi có trường hợp không dễ dàng đâu, nếu người A nợ người B; hoặc ngược lại mà không chịu trả nợ. Thế mới phiền. Thành ngữ miền Nam có câu: “Nợ đóng cúc” là nợ dai không chịu trả, có đòi, có réo cũng chỉ nghe hứa với hẹn, hứa hẹn dai như giẻ rách, như “Con ma nhà họ Hứa”. Thế không lằng nhằng là gì?

Có phải cúc là nút? “Áo đơm năm nút viền tà/ Ai đơm cho bậu hay là bậu đơm? ”Đóng cúc” trong ngữ cảnh nợ nần kia, lại là do “đinh cúc” nói gọn, ông Huình Tịnh Paulus Của cho biết: “Đóng cúc: Đóng thứ đinh có búp trên đầu, nghĩa mượn là dai hoi. Mượn vật chi không muốn trả thì kêu là đóng cúc”. Nay, từ đóng cúc đã mất. Nếu cần, chỉ mắng quỵt/quỵt nợ (thường chỉ về tiền bạc). Câu trên, ông Paulus Của viết từ những năm 1895, nay có từ cũng đã “Mất hút con mẹ hàng lươn”: Dai hoi - tức là “Bộ bền bĩ, bộ dùi thẳng; để lâu lắc”.

Như đã biết, dây nhợ phải cùng một loại dây, chứ không thể thứ nọ xọ thứ kia, nửa nạc nửa mỡ, vì thế, ở miền Nam mới có tiếng lóng: “Dây thép lạc dừa” là tin đồn, tin truyền miệng, nói như ngôn từ thời buổi này là tin thông tấn vĩa hè. Mà loại tin ấy, nếu thất thiệt, nói dóc, không có chứng cứ rõ ràng ắt bị xếp vào hạng tin vịt. Vì sao gọi tin vịt? Ối dào, trả lời câu này, mỗi người giải thích mỗi phách, chẳng hạn, từ điểnVi.wikipedia cho rằng: “Thuật ngữ "tin vịt" được nhập vào báo giới chữ Quốc ngữ Việt Nam theo các báo Pháp hồi cuối thế kỷ 19, được dịch từ tiếng Pháp "canard" có nghĩa gốc là con vịt, nghĩa bóng chỉ "tin tức giả mạo", ở mức nhất định là để chỉ "báo chí" với điển hình là tờ Le Canard enchaîné (Vịt bị xích)”.

Có cần phải liên hệ xa xôi đến thế không?

Theo y, vịt ở đây đơn giản chỉ là từ vờ vịt mà Đại từ điển tiếng Việt giải thích: “Làm ra vẻ thế nào đấy để người ta tưởng là thật, cốt để che giấu: Làm bài đi vờ vịt mãi - giả vờ giả vịt”. Ắt có người cãi: “Ơ hay, sao không là con gì khác? Mà cứ phải là vịt?”. Thưa, trong tâm thức người Việt quan niệm: “Nghe như vịt nghe sấm” là nghe chỉ để mà nghe, chẳng hiểu ất giáp gì sất, không nhận thức được gì. Một kẻ như thế dẫu có dạy dỗ cũng chẳng khác gì “Nước đổ đầu vịt”, có bổ đầu ra nhét thông tin vào đầu cũng bù trất. Nói cách khác, với con vịt thì nó hoàn toàn không thu thập được thông tin chính xác nào cả - bởi chỉ nghe "ù ù cạc cạc". Vậy thì một khi nghe thông tin bịa đặt, không có thật, không chính xác thì như một lẽ tự nhiên, người ta xếp ngay vào hạng tin vịt/ tin vờ vịt là vậy.

Thì tạm thời cứ cho là thế.

Rồi chẳng lẽ, cụm từ “Tin xe cán chó” cũng bắt nguồn từ sự vây mượn xa lắc xa lơ như “Tin vịt” nữa à? Không đâu. Thành ngữ có câu: “Chó chết hết chuyện”, mà con chó, trời ạ, với người Việt chẳng mấy lúc được nâng niu, chỉ xếp vào hạng thấp kém, chẳng ra làm sao. Này nhé: Treo đầu dê bán thịt chó, Mèo đàng chó điếm, Lơ láo như chó thấy thóc, Giỡn chó chó liếm mặt, Bẩn như chó, Chó mặc váy lĩnh v.v… và v.v…  Chó còn là tiếng chửi tục tằn. Ông Tú Xương trợt vỏ chuối khoa thi năm Qúy Mão (1903), cáu quá bèn lôi ngay con chó ra mắng: “Tế” đổi làm "Cao" mà chó thế!/ "Kiện" trông ra "Tiệp" hỡi trời ôi!”. Có kẻ thất chí, bất đắc chí, chẳng rõ tài cán bao nhiêu, chữ nghĩa thế nào, khi gặp cảnh ngộ không ưng ý cũng “phán” ngậu xị: “Sự đời như cái lá đa/ Đen như mõm chó, chém cha cái sự đời”!

Thậm chí cô nàng kia, chẳng rõ vì cơn cớ gì mà lúc đêm hôm, anh chồng không chịu nằm chung. Né tránh “giao ban”. Không chịu “trả bài”. Bực quá đi mất. Làm gì đây cho thỏa cơn hả trời? Dễ thôi. Cô nàng: “Nổi giận đùng đùng ném chó xuống ao/ Đến đêm chồng lại lần vào/ Vội vàng vác sọt đi chao chó về”. Nếu anh chồng không chịu “lần vào” ắt có lẽ con chó đáng thương kia đã “xong phim”. Mà trong vụ cà chớn cà cháo, cơm không lành canh không ngọt, con chó nào có liên quan gì mà phải chịu cảnh “Giận cá chém thớt”? Thì ra con chó dễ bị “bắt nạt” quá đi mất.

Tóm lại, thân phận con chó chẳng ra gì cả.

Vậy thì, “Tin xe cán chó” là cái tin không quan trọng. Thừa “đất” thì đăng, bằng không ném sọt rác vẫn chẳng sao cả, chẳng mảy may ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới. 

Nói đi cũng phải nói lại. Dù xem con chó chẳng ra gì nhưng rồi lúc nó ngủm củ tỏi, con người ta phải nịnh/ lấy lòng nò đấy. Bằng chứng thành ngữ có câu: “Tiền cột cổ chó”. Đại Nam quấc âm tự vị giải thích; “Của bỏ, của bố thí. Ngu tục hiểu con chó chết rồi, hồn nó giữ cầu âm giái/ giới, cho nên phải cột tiền hối lộ mà tống táng, họa ngày sau nó đã không cắn mà lại đưa mình qua cầu âm ti”. Đành rằng, đây là “ngu tục” nhưng ngẫm lại vẫn là lòng nhân của con người dành cho con vật trung thành, sống có ích. Phải chăng, ông bà ta đặt ra tục ấy nhằm hạn chế đi sự sát sinh, giết chó ăn thịt chăng? Ước gì, “ngu tục” ấy trở lại trong thời buổi này, vì rằng đã không ít kẻ vì trộm chó mà chết thảm thương, phải trả giá sinh mạng ngang bằng con chó. Vào Google gõ từ khóa: “Chết vì trộm chó” lập tức có ngay kết quả: “Khoảng 308.000 kết quả (0,50 giây)”. 

Còn gì kinh khiếp hơn?


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 7.9.2017

cao-xuan-son-tet-dinh-dau

NHÀ THƠ CAO XUÂN SƠN

 

Chiều đã sẫm tối. Ngoài trời đang mưa tầm tả. Viết một câu lên facebook than rằng: “Đang buồn”. Ngay lập tức cái “cùi bắp” rèng réng reng như tiếng kèn xung trận giục giã: “Vậy, tìm một chỗ ngồi ngắm mưa đi Q ơi”. Nhìn ra ngoài trời mù mịt mưa bay, chập chờn những gió,  sấm sét đùng đùng, thử hỏi làm sao không cảm động?

Sống ở đời dễ hay khó? Chẳng rõ nữa. Nhưng lúc đơn độc trong bốn bức tường vây quanh là sách, mùi thời gian ẩm mốc từng ngày, lúc ấy, vâng, chỉ trong tích tắc lại có người chia sẻ, thử hỏi cuộc đời dễ chịu quá đi chứ? Rồi lại những cuộc ngồi ở lề đường, dưới tàn cây xanh, một chút men, một chút mưa nhập nhoàng trong đáy cốc. Và câu chuyện lại mở với những chữ nghĩa, văn chương, những câu thơ đọc cho nhau nghe. Lòng thêm vui một chút.

Với y, đã có những ngày như thế với bạn thơ Cao Xuân Sơn.

Đôi lúc lẩn thẩn tự hỏi, đã quen nhau từ lúc nào? Khó có thể trả lời chính xác. Chỉ nhớ rằng, ngày nọ lúc cà kê dê ngỗng tâm tình, Sơn bảo: “Nhiều người ít quan tâm đến văn học thiếu nhi, cứ tưởng mãi sau này mình mới viết cho tụi nhỏ. Kỳ thực, văn học thiếu nhi với mình như một định mệnh”. Nghe lạ tai quá! Thì đây: "Bài thơ đầu tiên mình in khi chuyển trường từ Hà Nội vào Sài Gòn là trên Trang thiếu nhi thứ năm hằng tuần của báo Sài Gòn Giải phóng năm 1981. Cuốn sách đầu tay Con chim xanh ngoài ô cửa xuất bản năm 1987 là tập truyện ngắn viết cho thiếu nhi, in tới ba chục ngàn bản.

Thêm một kỷ niệm đáng nhớ: truyện ngắn Bức tranh Tết của chú bé họa sĩ in nửa trang báo Xuân Phụ Nữ TP.HCM năm 1982 cũng là một truyện thiếu nhi, được trả tới 500 đồng. Cũng năm đó, bài thơ Mùa phấn hoa bay in trên báo Xuân Công nhân giải phóng, tiền thân báo Người lao động - cũng được nhuận bút những 500 đồng. Trong khi học bổng hàng tháng của nam sinh viên 22 đồng. Mình thật sự kinh ngạc. Số tiền đó thừa sức mua vài chiếc... xe đạp”.

Rời ghế giảng đường ngành ngữ văn Sư phạm (khóa 1978-1982), Sơn ghé qua bục giảng trường PTTH Ngô Quyền (Biên Hòa) hai năm, sau bỏ sang Hội Văn nghệ theo hẳn nghiệp viết lách. Bảy năm sau (1991), một biến cố bất ngờ buộc Sơn bỏ xứ Đồng Nai về hẳn Sài Gòn làm báo, tiếp tục công việc "góp gió thành báo, góp báo thành sách" nuôi cậu con trai hai tuổi mồ côi mẹ.

Trong khoảng trên dưới một thập niên sau đó, dường như Sơn đã kịp hoàn chỉnh những nét chân dung của mình trong mắt bạn bè với 5 tập thơ riêng: Tự tình (1989), Đêm giã biệt (1990), Cánh cửa khép hờ (1994), Chuông lá (1999), Phố và em (2002) và 5 tập truyện, thơ khác cho thiếu nhi. Như có sự xếp đặt của duyên phận, tháng 4.2001, Sơn bỏ tạp chí Thanh Niên, về NXB Kim Đồng (Chi nhánh TPHCM) theo lời mời của một người làm sách rất đáng kính trọng là nhà giáo dục Nguyễn Thắng Vu. Sơn về với thế giới tuổi thơ, với những trang sách ngộ nghĩnh, vui nhộn, hồn nhiên, trong sáng mà Sơn là một trong những người đã góp phần như Mèo khóc chuột cười (2006), Con chuồn chuồn đẹp nhất (2010), Hỏi lá hỏi hoa (2016)…

Dấu ấn đậm nét với giới làm sách Sài Gòn là từ ngày Sơn về, NXB Kim Đồng có thêm một Ban biên tập tại Chi nhánh TPHCM, hàng năm tổ chức hàng trăm đầu sách mới thiếu nhi. Sơn chính là người được giám đốc Nguyễn Thắng Vu giao nhiệm vụ tạo dựng Tủ sách Tuổi mới lớn với mục tiêu "giãn biên": mở rộng biên độ lứa tuổi của sách Kim Đồng, bao gồm luôn tuổi mới lớn từ 15 đến 18 với phương châm: khách quan, công bằng, chấp nhận mọi xu hướng sáng tác. Từ tủ sách đó, hàng trăm sáng tác đầu tay của các cây bút trẻ và rất trẻ ở mọi miền đất nước được trình làng, được công chúng lần đầu biết đến.

Vậy chẳng phải định mệnh là gì? Ừ, cứ cho là thế.

Tuy nhiên, những người quen biết, đọc thơ Sơn từ hơn ba chục năm nay đều hiểu, mảng sáng tác mà Sơn tâm huyết nhất là thơ, không phải và không riêng thơ cho thiếu nhi. Lặng lẽ, bền bỉ, gần như vắng bóng trong các bàn tiệc lễ lạt, hội hè, Sơn đã sớm tìm được cho mình một giọng thơ riêng với khá nhiều bài thơ được người yêu thơ và bạn bè nhắc nhớ: Tiếng hát xương rồng, Khóc ông nội, Độc ẩm, Nợ, Viết giữa những hồi chuông điện thoại, Tự họa, Chuông lá...

Một trong những bài thơ hay nhất của anh, theo y và nhiều người bình vẫn là Tiễn em trai đi Hàn Quốc. Câu chuyện xuất xứ của bài thơ này kể ra cũng ngang trái lắm. Ngày xa xưa, những năm tháng chiến tranh, cụ thân sinh của Sơn - một nông dân cày cuốc ở làng Vạn Thọ, xã Nhân Bình, huyện Lý Nhân (Hà Nam) đi bộ đội. Ngày trở về, ông mang trên mình nhiều vết thương, trong đó có cả vết thương từ khẩu súng của lính đánh thuê Park Chung Hee. Sau hòa bình, em ruột của Sơn - một bộ đội biên giới - xuất ngũ về, chẳng biết làm gì nuôi vợ con, lại phải tìm đường sang đánh Pắc (kiếm sống) ở xứ Pắc (Park Chung Hee).

Thử hỏi có tréo ngoe không?

Lúc ấy, về thủ tục, giấy tờ chẳng có gì phải bàn thêm, đã đầy đủ nhưng lạ thay, muốn đi được, dù là “hợp tác lao động” nhưng thông lệ “đầu tiên” vẫn rạch ròi, lạnh lùng, sòng phẳng: “Phải 30 triệu việc này mới xong”. Thời điểm đó, số tiền đó, dẫu Sơn có nằm mơ đi nữa cũng không thể biết nó mặt tròn mặt dẹt ra sao. Khó lắm. Đành rằng, “quyền huynh thế phụ” nhưng rồi “tiền đâu?” vẫn là câu hỏi không lời đáp. Mọi việc sẽ dẫm chân tại chỗ nếu không có sự tận tình của một người anh, một người lính cùng thời với với anh Văn Lê giúp đỡ: nhà thơ Vũ Duy Chu. Bấy giờ, anh Chu đang công tác tại Công ty Hợp tác nước ngoài của Bộ Giao thông vận tải, đã đứng ra bảo lãnh.

Đêm chia tay, bịn rịn người đi kẻ ở, hai anh em Cao Xuân Sơn đã bày cuộc nhậu ra trò. Lúc đã ngà ngà say, thấy chú em cứ loay hoay ngắm nghía tấm bản đồ tìm xem xứ Hàn là xứ nào, đột nhiên Sơn đứng bật dậy, quơ bút viết luôn những câu thơ vừa vụt ngang trời. Tưởng như chỉ cần với tay, nhón gót là hái được những sáu, tám du dương đang vang vọng loáng thoáng hơi men: “Đừng săm soi nữa bản đồ/ Dẹp đi cả chuyện múi giờ lệch chênh/ Nước Hàn ở phía… mông mênh/ Dĩ nhiên chẳng phải nước mình, vậy thôi/ Hàn là lạnh đấy, em ơi / Nhưng… đâu chả thế - đất trời người ta/ Ngày mai em như Kinh Kha/ Rắp mong một trận này qua khó nghèo”. Câu thơ tự sự. Thủ thỉ. Tâm tình. Một người anh dành cho em. Xúc động lắm.

Do em là bộ đội đã từng cầm súng đánh quân bành trướng ở phía Bắc, vì thế, câu nối tiếp: “Đã mòn chân suối với đèo/ Mấy năm lính, hẳn ít nhiều gió sương/ Liều thêm, ừ, một đoạn đường/ Con thơ, vợ dại, thương suông ích gì?”. Đọng lại trong trí nhớ người đọc: “Liều thêm, ừ, một đoạn đường”. Nghe ra chua chát. Ừ, "liều thêm” vậy, chẳng còn cách nào khác. Những câu thơ cuối khác gì tiếng thở dài: “Áo cơm nặng lắm, đi đi/ Chiếc ba lô cũ thích thì cứ mang/ Dặn em sức vóc là vàng/ Đừng đem vắt kiệt giá băng xứ người/ Rủi may ai biết hở trời/ Đêm nay… anh rót rượu mời Kinh Kha…”.

Hỡi ôi,  lúc ấy, chàng “Kinh Kha” đã nằm say ngất ngưởng, không còn biết trời trăng mây gió gì sất. Bài thơ Tiễn em đi Hàn Quốc in trên tạp chi Văn nghệ quân đội nhân một cuộc thi thơ. Bấy giờ, quan hệ Việt Nam -Hàn Quốc đã mở ra trang sử mới của tình hữu nghị, vì lẽ đó, lúc chấm giải nghe nói nhiều người chần chừ, đắn đo. Chẳng sao cả, có một điều thú vị hơn nhiều, mãi sau này, khi sang đến “Nước Hàn ở phía… mông mênh”, nghe nhiều ngươi đồng cảnh ngộ chép và đọc bài thơ này, cậu em mới hay anh mình đã tặng riêng cho một bài thơ đầy ám ảnh.

Với tôi, một khi chơi với bạn, luôn nghĩ rằng, chiến hữu ấy là người có tài. “Trời đất cho ta một cái tài/ Giắt lưng dành để tháng ngày chơi” (Nguyễn Công Trứ). Này, xin hỏi, bạn bè văn nghệ của y có tài gì? Câu hỏi ấy hóa ra rất thừa, bởi lẽ, dưới gầm trời này, trông ra sáu cõi hỗn mang của trời đất, ai lại không biết Cao Xuân Sơn vốn là tay thơ thứ thiệt? Thơ vận vào người. “Người thơ phong vận như thơ ấy”. Câu thơ của Hàn Mặc Tử vụt ngang qua trí nhớ khi nhớ đến bạn mình, như một lẽ tự nhiên.

Từ nhiều năm nay, Cao Xuân Sơn vẫn là một người đứng ra ngoài mọi thi phi, náo nhiệt, ồn ào. Thế nhưng, nếu cần, vì bạn bè, anh cũng không kém gì ai nhất là trong nhưng cuộc vui thân tình tràn ngập men say bốc lên óc và những câu thơ lại vọng đến. Lúc ấy, chỉ có thơ. Nếu có ai đó, quan sát lúc các nhà thơ ăn nhậu ồn ào, ắt sẽ kinh ngạc không rõ vì đâu những câu chữ du dương cứ mãi tuôn trào một cách lớp lang, chỉn chu?  

Cao Xuân Sơn cũng thế. Có điều, đáng sợ, đáng nể nhất không rõ đọc từ lúc nào, nhớ từ khi nào mà lúc ấy, Sơn có thể đọc vanh vách các bài thơ theo yêu cầu của bạn bè. Làm sao có thể quên, lúc ngoài trời đang mưa tầm tã. Cao hứng lên, Sơn đọc vanh vách luôn những bài thơ Đường. Tiếng đọc thơ của anh, dù nhỏ nhưng đã khiến thiên hạ đang ồn ào, phải lặng đi, im phăng phắt. Và lắng nghe thơ. Phải nói rằng, Sơn là người có trí nhớ cực tốt.

Hỏi ra mới biết, Sơn là dân học chữ Hán. Đang học năm thứ 3 ở Đại học Sư phạm Hà Nội, Sơn chuyển vào TP.HCM, học chung với bạn bè mà nay đã có tên tuổi như nhà báo Quốc Kế, nhà thơ Đặng Nguyệt Anh... Ít ai biết, trước đó, niên luận năm thứ 2, Sơn đã viết Tinh thần phản chiến trong thơ Đỗ Phủ. Thời điểm 1979, quân bành trướng đang tràn qua phía Bắc, tiếng súng vọng đến tận mũi Cà Mau. Sơn đã phê phán sự hiếu chiến, phi nhân ấy bằng chữ nghĩa của chính ông cha chúng. Đó mới là Cao Xuân Sơn. Một ý thức chính trị rõ rệt khi bàn về một thi hào được văn học Trung Quốc xếp vào một trong hai nhà thơ vĩ đại nhất, bên cạnh Lý Bạch. Lúc ra trường Sơn có niên luận về Giáo học pháp (phương pháp giảng dạy) với số điểm dành cho thủ khoa.

Và Sơn đi dạy học, năm 1982. Thật hay, hay thật, Sơn dạy ở Trường PTTH Ngô Quyền (Biên Hòa) - nơi mà nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đã từng học. Mọi việc sẽ chẳng có gì thay đổi, nếu vào một ngày đẹp trời cuối năm 1984, nhà văn “đường rừng” tài hoa Lý Văn Sâm không tình cờ gặp Sơn ở Hội Văn nghệ. Bấy giờ Sơn đã có thơ, truyện ngắn in lai rai trên các báo, trong đó có cả tờ Văn  nghệ Đồng Nai của Hội Văn nghệ Đồng Nai mà tác giả Kòn Trô đang là chủ tịch. Chẳng rõ thế nào ông lại "bỏ nhỏ" vào tai Sơn: "Về Hội đi cháu. Trường Ngô Quyền không có cháu đã có người khác...".

Rồi cuối năm 1991, Sơn về TP.HCM làm việc tại Ban đại diện của Tạp chí Thanh Niên chung với nhà thơ Đinh Đức Thướng. Bấy giờ, người vợ đầu của Sơn ở TP.HCM vừa mất, đứa con trai mới 2 tuổi, Sơn phải đảm nhận vai trò “gà trống nuôi con”. Có chuyện này, kể ra không nhỉ? Ừ, chẳng sao. Ấy là lúc Sơn xin nhập hộ khẩu, cán bộ đòi hỏi phải có người bảo lãnh theo quy định. Ai bảo lãnh bây giờ?

Có lẽ trong toàn bộ hồ sơ xin nhập hộ khẩu tại nước Nam ta, cái đơn của Sơn là quái chiêu, độc đáo nhất. Đơn rằng: “Tôi tên là Khương năm nay 2 tuổi xin được bảo lãnh cho bố tôi là Cao Xuân Sơn về nuôi tôi”. Phía dưới có ký tên bằng cách điềm chỉ ngón tay nữa chứ. “Cái khó ló cái khôn” chăng? Không, là một cách tếu táo, tinh nghịch của một nhà thơ đã từng tự bạch: “Thơ tôi là nước mắt niềm vui tôi, là sắc màu lộng lẫy nỗi buồn tôi. “Người làm sao của chiêm bao làm vậy”, tôi luôn tự nhủ: cái điệu tâm hồn mình thế nào cứ rót lên trang giấy như thế, dối trá biển lận mà làm gì. Thơ hay thì hay với muôn đời, hoặc chỉ hay trong chốc lát - với một người cũng thế thôi”.

Trong trí nhớ ấy, trí nhớ của Cao Xuân Sơn nếu chia nhiều ngăn, chắc chắn luôn có thơ. Tận sâu thẳm tâm hồn của Sơn vẫn là thơ. Chính vì thế, trong phép ứng xử với nhau cũng thơ nốt. Chẳng hạn, vào một chiều trời mưa dầm dề, lúc y đang đặt dấu chấm xuống trang Nhật ký: ‘“Đang buồn””, lập tức một cuộc điện thoại của Sơn gọi đến: “Rượu đỏ nhé?”. Thân tình ấy, khiến cảm động không nguôi. Sơn là vậy. Dù không nhiều lời, ít gặp nhau nhưng Sơn hiểu và hiểu rất rõ về bạn. Bạn đang vui hay buồn. Chỉ đọc loáng qua những gì bạn vừa viết, đã viết là Sơn có thể cảm nhận được ngay.

Thế đấy, ai dám bảo nhà thơ vốn lơ tơ mơ thả tâm hồn bay lên cõi địa đàng với cây đàn lia (lyre), chứ không hề dẫm chân dưới đất?

Từ cây đàn ấy, những bài thơ của Cao Xuân Sơn rung lên những câu thơ nhói lòng: “Nghiêng bình dốc cạn chiêm bao/ Bóng ai trên vách… hao hao bóng mình” (Độc ẩm). Trong thần thoại Hy Lạp, Orpheus phải xuống tận địa phủ đi tìm Eurydice. Sơn cũng đi nhưng anh đi qua tâm hồn của chính anh. Hình bóng xa khuất ấy cũng là bạn của tôi, của Sơn từ những ngày trai trẻ. Vì thế, đọc những câu thơ ấy cứ rưng rưng mãi. Rồi, Sơn lại yêu. Ai cũng thế. Tình yêu lại đến cũng là lúc mở ra những cảm hứng mới cho Thơ và Đời.

Đời lặng lẽ và giản dị như chính Sơn đã cảm nhận: “Nảy tự bùn đen hoa vẫn sen/ Sắc hương lịm tắt cả sang hèn/ Từ đâu duyên khởi, anh nào biết?/Chỉ biết từ em, nắng mới nhen”. Đọc những câu thơ ấy, cám ơn nhà thơ ư? Không, phải cám ơn người phụ nữ đã đem lại cho Sơn cảm xúc trong trẻo ấy. Dù rằng, một mảng thơ của Sơn là thế sự, một mảng khác là thơ dành cho thiếu nhi, nhưng y vẫn thích nhất, nhớ nhất là thơ tình: “Thôi mặc kệ một ngày hay một kiếp/ Chỉ đã kim, hương đã lửa, nước đã bèo/ Mình có nhau, đời thêm nhộn nhịp/ Và bốn mùa yêu dấu cũng về theo”. Nghe nhẹ nhàng, xao xuyến và cứ vang ngân mãi.

Trong móng tay của nhiều nhà thơ đã thành danh tại Sài Gòn, y đồ rằng vẫn còn đó một chút bùn của quê nhà trên đồng cạn dưới đồng sâu, thì Cao Xuân Sơn cũng thế. Sâu thẳm trong anh những ngày nắng hanh khô tại Sài Gòn, muốn uống một chai vang đỏ phải ngồi phòng máy lạnh, ai biết rằng, lúc ấy, giữa ngày xuân xanh phơi phới mà trong lòng thi sĩ đang rét mướt những giọt mưa phùn ở Hà Nam xứ Bắc? “Anh nhắm mắt nghe mưa / đếm từng cơn nghẹt thở” như chính anh đã tự thú.

Có như thế, cuối cùng sự còn lại ở đời sống này là gì, nếu không là thơ? Mà đã vậy thì: “... Thôi thì mình tay cứ nắm lấy tay/ học chim chóc cứ vừa bay vừa hót/ học dòng sông vừa trôi vừa dào dạt/ học bếp than hồng vừa cháy vừa reo... (Nợ - CXS). Phải thế không, bạn mình ơi?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 6.9.2017

cung-voi-me-ngayCùng với mẹ ngày 31.8.2017 tại Sài Sòn



Thế là mẹ đã về quê. Có lẽ là lần cuối cùng mẹ ở chung nhà với y.  Mãi mãi không bao giờ còn nghe câu nói trìu mến từ dưới sân nhà vọng lên: “Con ăn gì, mẹ nấu?”. Mãi mãi không bao giờ gặp lại hình ảnh, mỗi sáng dắt xa ra khỏi nhà, lại nghe: “Trưa về, con ăn gì mẹ nấu?”. Tình cảm của người mẹ, nhất là lúc đã già lại thường nghĩ đến món ăn dành cho con. Thời bé, “Con ăn nhanh, ăn nhiều, mẹ thương”. Lúc gần đất xa trời, suy nghĩ ấy cũng không thay đổi. “Ăn vóc học hay”. Ăn cho nên vóc nên dáng, khỏe mạnh; học cho hay, cho giỏi. Người mẹ nào cũng nghĩ về con như vậy thôi.

Chừng mươi năm trước, lần đầu tiên du lịch Thái Lan, lúc quay về nhà, mẹ đã về Đà Nẵng. Cảm giác thế nào? “Lang thang sang Thái Lan/ Trở về không gặp mẹ/ Căn nhà rộng gấp hai/ Con hóa thành đứa trẻ/ Đây giường nằm của mẹ/ Sợi tóc bạc vẫn còn/ Bảy mươi còn xuôi ngược/ Cũng vì cháu với con/ Chập choạng bóng hoàng hôn/ Bếp lửa giờ tắt ngúm/ Buổi sáng nắng mai lên/ Con mải mê ngủ nướng/ Không được nghe từng tiếng/ Gọi con dậy đi làm/ Bốn mươi còn làm biếng/ Mẹ không lời than van/ Lang thang sang Thái Lan/ Mơ về nhà gặp mẹ/ Bây giờ chỉ mình con/ Bơ vơ như đứa trẻ”. Bài thơ viết lúc “tứ thập”, nay ngoài năm mươi với hình hài đã là những sợi tóc bạc trắng mà nào nên cơm cháo gì đâu. Vẫn “Bơ vơ như đứa trẻ” thì rõ ràng ông trời chơi khăm quá. Mà đổ lỗi cho ông trời làm cái gì, sao không tự nhủ: “Lỗi tại tôi”, có phải chính xác hơn không?

Đã trải qua những ngày phải tính toán, cân nhắc từng chút một. Rằng, làm sao đưa mẹ lên máy bay để về quê? Khó quá đi thôi. Lúc ấy, vừa đám tang ông anh, mẹ lại nằm bệnh viện với sức khỏe đang từng ngày tụt dốc. Ngoài 90 rồi còn gì? Cuộc chạy đua từng giờ. Nếu phải về bằng xe đò, tàu lửa, nào khác gì một chuyến hành xác cả hàng chục tiếng đồng hồ với đường dài hàng ngàn cây số? Có nỡ đành lòng không? Ấy là chưa kể, nếu chẳng may mẹ Về trời lúc trên dọc đường đi thì bất hạnh biết dường nào? Đã ngưng hơi tắt thở, trong quan niệm của người Việt phải là nằm xuôi tay nhắm mắt trong căn nhà của mình. Không thể có một lựa chọn nào khác, nếu có sự lựa chọn cuối cùng. 

Ơn trời, mọi việc đều suông sẻ.

Thật lạ, với đấng sinh thành, dù nằm bệnh, dù hơi tàn lực kiệt, thở không ra hơi, nói ra tiếng, từng ngày, từng ngày chỉ nằm một chỗ nhưng lại là điểm tựa tinh thần cho của gia đình. “Đêm đêm thắp ngọn sao trời/ Cầu cho cha mẹ sống đời với con” là nằm trong ý nghĩa nhân văn đó. Mẹ sống từng ngày phải thuốc thang, cơm bưng nước rót nhưng lại là niềm an ủi lớn lao nhất mà con người ta còn có thể nhận ra được dưới gầm trời này.

Một khi mất cha/mẹ là lúc con người ta mới thật sự chia lìa vĩnh viễn với cội nguồn của sự hình thành, tạo dựng nên thân xác, hình hài của chính họ. Sự ràng buộc căn bản nhất, then chốt nhất đã không còn, dù rằng có anh có em, cô dì chú bác nhưng cũng chỉ là yếu tố cần chứ chưa phải là đủ. Bấy giờ, con người ta chính thức lẻ loi, đơn độc trong cõi hỗn mang của trời đất, của vũ trụ, của cõi nhân sinh này. Mãi mãi, không bao giờ họ còn được sống trong cảm giác: “Khi gai đời đâm ứa máu bàn chân/ mấy kẻ đi qua/ mấy người dừng lại?/ sao mẹ già ở cách xa đến vậy/ trái tim âu lo đã giục giã đi tìm” (Đỗ Trung Quân). Ấy là sự linh cảm của tình mẫu tử mà không một sự huyền bí nào có thể sánh nổi. Đơn giản chỉ vì rằng, tình cảm mẹ dành cho con là một lẽ tự nhiên. Sự tự nhiên ấy, làm sao có thể lý giải nếu điểm xuất phát không là tình máu mủ từ ruột thịt do chính người mẹ sinh ra?

Một bài viết cũ, viết đã lâu. Đọc lại vẫn bùi ngùi. Đã viết trong những ngày mẹ phải nhập viện. Viết rằng:

“Một mẹ già bằng ba lần giậu”.

Đến một lúc nào đó, một hoàn cảnh nào đó, con người ta mới thấm thía câu thành ngữ này. Có đôi lúc, trong cuộc sống bề bộn, bận rộn của mỗi ngày, ở chung với mẹ, ta cảm thấy “xốn mắt” lắm. Làm sao có thể chìu được người già? Khoảng cách giữa hai thế hệ là một vực thẳm. Cả hai khó có thể hiểu, chia sẻ những mối quan tâm chung. Đứa con bước ra khỏi nhà, tự trong lòng đã gánh lấy một áp lực từ công việc, từ mối quan hệ ngoài xã hội; trong khi đó với người mẹ lại khác, chỉ là những chuyện vặt vãnh, bếp núc. Có cũng được, không cũng chẳng sao, nếu cần, thuê lấy Osin là xong tất. Chẳng gì phải bận tâm.

Nghĩ là nghĩ thế. Nhưng rồi, lúc mẹ nhập viện, ở nhà thui thủi một mình/với vợ con mới ngộ ra rằng, phải là mẹ, có mẹ thì mọi việc mới chu toàn đâu ra đó. Thích nhất trong đời của nhiều người, với nhiều người có lẽ vẫn là câu nói: “Con ăn gì mẹ nấu cho”. Một sự tự nguyện, tự giác mách bảo từ tình mẫu từ, chỉ biết rằng hễ con ưng ý, hài lòng là vui.  

Niềm vui của người mẹ già đơn giản lắm. Chỉ cần con ăn ngon, ngủ ngon, không bệnh tật là vui. Niềm vui ấy, đã có, ngay từ lúc đứa con vừa lọt lòng cất tiếng khóc oe oe và thầm lặng suốt một đời. Chẳng người mẹ nào kể công đã nuôi con cực nhọc như thế nào, nếu nhắc lại cũng chỉ kể về niềm vui. Vui gì? Vui, lúc con bập bẹ tiếng nói đầu tiên gọi ba, gọi mẹ. Vui, lúc còn son trẻ, mỗi lần đi chợ về, con ùa ra níu áo: “Mẹ ơi, quà con đâu?”. Thế rồi, khi đã đủ lông đủ cánh, đủ sức bay nhảy giữa trời cao đất rộng, có lúc nào ta nhớ đến món quà, tấm bánh dành cho mẹ? Hay có nhớ, nhưng rồi bận rộn quá, tặc lưỡi: “Dịp khác”.

Dịp khác ấy, bao giờ mới đến?

Ở trong nhà, vai trò của mẹ mờ nhạt lắm. Thế nhưng, khi không có mẹ mới thấy trống trải biết chừng nào. Thì ra, lâu nay nhà cửa gọn gàng, bếp núc đâu ra đó; cái bàn, cái ghế sạch sẽ không một hạt bụi; mọi vật dụng sắp xếp ngăn nắp, nề nếp… chẳng phải tự nhiên mà có. Một tay mẹ quán xuyến tất cả. Muốn tìm cái gì, hỏi cái gì, có khi chưa kịp hỏi, quyển “từ điển mẹ”. đã lặng lẽ trả lời. Một ánh sáng lặng lẽ phía sau lưng, khiến ta thấy cuộc sống của mỗi ngày ổn định, hài lòng.

Mà than ôi, người mẹ chẳng hề đòi hỏi gì cho riêng mình. Ngày nọ, y hào hứng ngồi vẽ. Tràn trề sắc màu hò reo nhảy múa. Bỗng nghe tiếng nói chậm rãi của mẹ, từ phía sau lưng: “Từ 11 giờ đến chừ, mẹ cảm sốt, không ngủ được”. Giọng nói ấy không hề than thở buồn rầu, nghe như bà cụ đang thủ thỉ, đang “méc” lại một chuyện oan ức gì đó. Cứ như thể thời còn bé bị ai đó bắt nạt; hoặc ấm ức điều gì chỉ đợi mẹ, chờ ba về đến nhà để “méc” cho bằng được. Già rồi, chỉ dựa vào con. Y vội trấn an: “Xoàng thôi. Mưa nắng thất thường, ai mà không cảm sốt. Không sao đâu”. Bà cụ im lặng. Không dám nói gì thêm, không “mè nheo” nữa. Mãi đến lúc vẽ xong tranh, y mới buột miệng một câu hú họa làm ra vẻ như đang an ủi: “Hay con đưa mẹ đi khám bệnh?”. Bà cụ mừng rỡ, gật đầu ngay, chứng tỏ nẫy giờ muốn nói nhưng không dám thổ lộ. Đưa mẹ đi khám bệnh. Và bác sĩ… cho nhập viện luôn.

Thế đấy, đôi khi chúng ta vô tâm vô tư, vô ý vô tứ quá thể.

Mỗi lần vào bệnh viện thăm, bao giờ bà cụ cũng hỏi: “Con ăn gì chưa?”. Rồi lại nói: “Chịu khó vài ngày, ít bữa nữa về nhà, mẹ nấu cho”. Hỡi ôi, y chẳng ra làm sao cả. Ở với mẹ nhưng rồi có hiểu gì về mẹ, có bao giờ trò chuyện gì không? Chỉ năm thì mười họa. Chỉ là những câu hỏi nhát gừng. Hỏi bâng quơ rồi đắm đuối với những hư ảo, mộng mị xa vời. Vẫn đong đưa theo những cuộc chơi phù phiếm mơ mơ màng màng chẳng nên tích sự gì: “Ta cầm hương hoa vung vãi khắp nơi/ cho mối tình đầu, tình sau, tình cuối/ thì lúc ấy mẹ ngồi trong bóng tối/ tựa cửa một mình chống chọi với mùa đông”.

Đến một lúc nào đó, một hoàn cảnh nào đó, con người ta mới thấm thía câu thành ngữ: “Một mẹ già bằng ba lần giậu”. Chẳng phải đâu, hãy ngay tự bây giờ, mỗi một ngày, cần dành lấy một khoảnh khắc nghĩ về mẹ. Nghĩ về những ngày còn có mẹ, chỉ cần thế, sẽ cảm nhận được biết bao điều có ý nghĩa nhất trong cuộc đời này”.

Bây giờ, đã là lúc nghĩ đến giây phút vĩnh viễn không còn gặp mẹ.

Ngày đó, sẽ đến. Từng ngày đi qua là từng ngày đưa mẹ về với cõi hư không ấy. Phải biết trước, nhận thức trước, chấp nhận trước để không gì bất ngờ, ngỡ ngàng. Biết để chu toàn hơn. Biết để lo lắng chu đáo hơn. Để biết rằng, không bao giờ còn có dịp: “bất chợt ta nhìn hai hố mắt mẹ sâu/ đã thấy sự lo toan, buồn phiền, mệt mỏi/ mẹ chỉ âm thầm và suốt đời lặng lẽ/ gương mặt đăm chiêu ngay thảnh thơi nằm”. Câu thơ ấy, viết vào lúc nào? Y không nhớ nữa. Sẽ không còn là sự đánh thức trách nhiệm một khi đã sa đà, ngao du phù phiếm dẫu là lúc đang trên đỉnh trời của cõi địa đàng du hí...Lúc ấy, “Chẳng có gì níu kéo anh rời khỏi cơn mê” nhưng rồi lại giật mình, sực nhớ đến một điểm dừng: “Ngoài một điều duy nhất/ Mẹ/ Vâng, mẹ tựa cửa mẹ hiền lành mẹ nhẫn nại như đất/ Chờ anh về từ lúc chiều đã khuất...”.

Sẽ mãi mãi không bao giờ còn được sống trong tâm cảnh kỳ diệu nhất của tình mẫu tử: “những miếng ngon vật lạ trên đời/ con đã nếm chân trời góc biển/ vẫn không ngon hơn một củ khoai lùi/ mẹ bóc vỏ mớm cho con ngày thơ ấu/ những miếng ăn từ bàn tay mẹ nấu/ còn có cả tấm lòng/ cả gió rét mùa đông/ mẹ tất tả giật gấu vá vai kiếm từng xu ngoài chợ/ một đồng lãi gánh mười đồng nợ/ ăn mắm mút dòi/ dè sẻn chắt chiu/ ngay cả lúc cơm sôi/ còn có cả giọt mồ hôi/ của mẹ/ ngay cả khói chiều/ bếp lửa reo cũng ấm êm hạnh phúc/ làm sao có thể quên?/ sống để dạ chết mang theo/ làm sao có thể quên một điều giản dị:/ “thượng đế nhân từ không có mặt ở khắp mọi nơi/ ngài đã sinh ra các bà mẹ”/ mẹ là hiện thân của từng giọt lệ/ đã vì con mà khóc/ vui cũng khóc/ buồn phiền cũng khóc/ đã vì con gạt đi nước mắt/ lao ra giông tố cuộc đời/ xòe cánh tay mỏng manh như nắng lụa/ chở che con bóng mát dưới vòm trời/ may mắn cho ai còn có mẹ”. 

Ngày không còn ấy, mãi mãi không còn. Sẽ đến.

Có những cuộc chia tay, biệt ly đằm đìa nước mắt, nhưng cũng có thể đó là ngày hội. “Trẻ làm ma, già làm hội”. Khi đã ngoài 90 được trở về với Đất, trở về với Cát bụi há chẳng phải là ngày hội đó sao? Đã không thể nào giữ lại được, phải chấp nhận lấy cuộc chia ly ấy. Một lẽ sinh tồn trong trời đất. Không thể nào khác. Ngày ấy, hãy tự nhủ với lòng mình, hãy lắng nghe tiếng nói thầm vọng lên rất khẽ, rất khẽ như sự cựa mình của một hạt mầm vừa nhú lên khỏi mặt đất để gặp Ánh sáng ngàn đời bất tuyệt: “tưởng tượng một ngày kia/ trăng treo trên vòm trời Đà Nẵng rất khuya/ mẹ khỏe mạnh giã gạo/ hương cau thơm rụng đầy sân nhà ông ngoại/ thuở ấy mẹ mới về với cha/ mới nghĩ vậy thôi con sung sướng khóc òa/ một niềm vui vĩnh cửu...”.

Niềm vui vĩnh cữu ấy, đã có thì hãy giữ gìn và nâng niu như một hành trang trong cõi nhân sinh này. Rồi đến một lúc nào đó, chính mình cũng sẽ là một sự nối tiếp. “Trăm năm như chớp mắt/ Mẹ đã đi chợ về”. Và sung sướng thay, hạnh phúc thay, đó cũng chính là lúc ta cùng mẹ, cả hai mẹ con cùng “đã đi chợ về”. Đã rời khỏi chợ/ cõi chợ đời - nói như triết gia Hermann Hesse: “Dù đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này” nhưng một khi trần gian đã chối bỏ thì cũng gì phải sợ hãi bởi lẽ trên hành tình hư vô ấy mỗi chúng ta vẫn còn có mẹ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 1 trong tổng số 50

trinhduyson