LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 22.6.2017

PDF.InEmail

 

hahuong-phong-nguyet-truyen-1R

(nguồn ảnh: http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k940658d/f1.image)


Bạn bè chơi thân thiết bao nhiêu năm, nhưng chắc gì đã hiểu nhau. Có những người, lâu nay, nghĩ là thế, quả quyết là vậy. Nhưng “đùng một cái” với những gì họ đã làm, y giật mình và việc đầu tiên là há miệng ra “ồ” một tiếng rõ to. Ngạc nhiên. Khâm phục.
 

Chừng 30 năm trước, lúc tập tễnh bước chân vào nghề báo, phải tập viết từ cái tin, chụp tấm hình rồi dần dần viết được bài tường thuật, phản ánh, ghi nhanh... Thuở ấy, tòa soạn báo Tuổi Trẻ giao y cho nhà báo Trần Nhật Vy hướng dẫn. Mỗi cái tin viết xong, anh duyệt trước, chỉnh sửa xong, y mới nộp lên trưởng ban. Cuối tuần, phải viết báo cáo tuần, ghi lại những gì đã nắm bắt trong lãnh vực được phân công. Từ ghi nhận này, anh phân công đề tài phải viết, viết theo theo thể loại gì, viết ra làm sao v.v….

Thời gian trôi cái vèo. Mở miệng nhe răng ra cười, chưa kịp khép môi là đã xong béng nửa đời người.

Thời còn tiểu học, học thuộc lòng bài này, chẳng mảy may nghĩ ngợi gì. Nay đã khác. Hoàn toàn khác. Thử nhớ lại. Rồi ngâm nga đọc chơi trong buổi chiều đã hoen ố bóng nắng mà năm tháng cũng đã vượt qua và đang đi dần về phía bóng đêm của một cõi nhân sinh. “Tôi là quyển lịch Tây/ Chỉ rõ năm, tháng, ngày/ Mỗi ngày một tờ giấy/ Một năm chóng hết thay/ Hỡi cậu bé có hay/ Mỗi lần xé tờ giấy/ Là mất đi một ngày/ Không bao giờ lại thấy/ Một ngày đã qua đi/ Cậu làm được những gì?/ Có học hành chăm chỉ?/ Đã giúp ích việc chi?”. Câu hỏi từ thời học lớp Ba ở Trường Nam Tiểu học ở Đà Nẵng đấy. Nay trả lời đi? Biết trả lời thế nào?

Ông Vũ Hoàng Chương có viết tập sách Ta đã làm chi đời ta. Cũng là một câu hỏi. Vọng lại âm thanh gì chăng? Có hay không? Mỗi con người đều kết thúc phần kiếp, cái còn lại là gì vậy? Y từng thốt lên não nùng: “Mỗi lần yêu là một lần suýt chết/ Cớ sao tôi phải chịu đựng quá nhiều?”. Đáng đời chưa? Ông Vũ Hoàng Chương cho biết rất thích câu thơ cổ: “Bán sinh phong cốt lăng tằng thậm/ Nhất phiến nhu hoài chỉ vị khanh”, và đã dịch: “Nửa đời sương gió ngang tàng/ Trái tim mềm chỉ vì nàng đấy thôi”.

Câu thơ dịch hay quá đi chứ? Nhưng rồi ông vẫn chưa ưng ý: “Phải để nguyên chữ ‘khanh’ kia, chứ sao lại chuyển lại thành ‘nàng’?”: “Nửa đời sương gió ngang tàng lắm/ Mềm chỉ vì khanh, một trái tim”. Ừ, giữ được từ “khanh” nhưng xem ra ngượng ép lắm. Sở dĩ lan man cũng bởi nghĩ rẳng, chính ái tình đã đi qua cuộc đời y, vậy y có hay không/ được hay mất? Chẳng nên thắc mắc làm gì. Cứ việc đi và đi cho hết một dặm đường dài của đời sống như nó đã vốn có.

Thật lạ, có những bè bạn anh em, lâu nay, nghĩ họ chỉ đi trên con đường vốn có, nhưng bất ngờ thay, họ lại ngoặc qua một ngã rẽ khác. Có những người, chỉ "tay ngang", không được đào tạo trường lớp, bài bản trong lãnh vực sưu tập, khảo cứu văn bản học hoặc phê bình, lý luận về văn học - báo chí, thế nhưng công trình của họ đã khiến giới nghiên cứu chuyên nghiệp phải "ngả nón" thán phục và kinh ngạc.

Trong số đó, có thể kể đến nhà báo Trần Nhật Vy.

Qua những tập sách vừa ấn hành từ dăm nay trở lại đây như Mười tám thôn vườn trầu; Chữ Quốc ngữ: 130 năm thăng trầm; Kim Vân Kiều truyện; Từ Bến Nghé đến Sài Gòn; Báo Quấc ngữ ở Sài Gòn cuối thế kỷ 19; Ba nhà báo Sài Gòn - Dương Tử Giang, Trần Tấn Quốc, Bà Bút Trà; Sài Gòn chốn chốn rong chơi, mới đây nhất là tập sách Văn chương Sài Gòn 1881-1924… Có thể nói, anh đã cung cấp được những văn bản gốc, những tài liệu mới mẻ, những phát hiện có liên quan đến đời sống xã hội, văn học, báo chí của Sài Gòn thế kỷ trước mà trước đây chưa mấy ai đề cập chu đáo, đầy đủ.  

Vậy hóa ra, với tấm lòng yêu dấu vùng đất đã gắn bó, với tình yêu sâu sắc về một lãnh vực nào đó đã đeo đuổi từ nhiều năm liền, ai cũng có thể góp thêm một "tiếng nói" tích cực nhất? Điều này hoàn toàn đúng. Chúc những ai đã và đang thực hiện những tập sách từ những giọt mồ hôi.  Từ những trang giấy ố vàng, nhuồm bụi thời gian. Công việc này, nhọc nhằn mà hữu ích. Bởi lẽ, không ai, không việc gì có thể bị lãng quên.

Suốt mấy hôm nay, đã nghiền ngẫm quyển Văn chương Sài Gòn 1881-1924. Một khi muốn nhận định, phê bình về một tác giả-tác phẩm phải tiếp cận từ văn bản, nếu không chỉ là “ăn theo nói leo” nhận định, ghi nhận từ người khác. Do không có tài liệu, xưa nay hầu như lãnh vực văn chương miền Nam đầu thế kỷ XX, ít ai có thể nói “có đầu có đũa”. Cụ Nguyễn Du bảo: “Trăm năm tính cuộc vuông tròn/ Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông”. Trách nhiệm của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học cũng vậy thôi. Nay, với bộ sách trên chỉ mới tập trung phần văn xuôi, còn ấn hành thêm nhiều tập với thể loại truyện dịch, văn vần - nhà báo Trần Nhật Vy đã làm công việc thu thập văn bản chu đáo.

Vì sao chọn cái mốc bắt đầu từ năm 1881?

Anh cho biết: “Từ tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên là Gia Định báo, năm 1866 Trương Vĩnh Ký cho ra đời tác phẩm văn xuôi quốc ngữ đầu tiên. Đó là “Chuyện đời xưa" nhằm "lựa nhón lấy những chuyện hay và có ích”. Tiếp đó là những sáng tác văn xuôi quốc ngữ thuộc nhiều thể loại báo chí. Trong quá trình tìm hiểu về lịch sử báo chí Sài Gòn, tôi phát hiện ra một điều đáng chú ý. Đó là sự thay đổi đột ngột của mục Thứ vụ trên Gia Định Báo vào ngày 01.12.1881. Trước đó, mục Thứ vụ là mục viết những thông báo linh tinh của chánh quyền từ những văn bản thúc thuế cho đến việc rao bán đấu giá những mặt hàng dành cho quân đội, chánh quyền.

Tới ngày 01.12.1881, trong mục này bỗng xuất hiện ba bài viết văn xuôi ngắn chiếm nửa trang báo khổ A3, không có tên tác giả, gồm: "Cách thế cứu người chết ngột", "Tên chăn bò""Thằng ăn trộm với con heo". "Cách thế cứu người chết ngột" (đúng ra là chết ngộp) là một bài khoa học thường thức. Còn hai bài kia là truyện. Phải chăng đây là những truyện đầu tiên được đăng trên báo quốc ngữ? Nhưng tác giả là ai? Sau đó, khi được đọc cuốn "Phansa diễn ra quấc ngữ" của ông Trương Minh Ký in năm 1884 và tái bản năm 1886, tôi phát hiện trong đó có đăng hai truyện nầy, "Thằng ăn trộm với con heo" mang số 110, còn "Tên chăn bò" thì mang số 119. "Phansa diễn ra quấc ngữ" là những truyện “chuyển thơ ngụ ngôn La Fontain thành văn xuôi” của ông Trương Minh Ký. Với tôi, dù là chuyển thể từ thơ, nhưng đây là những truyện đầu tiên, viết bằng văn xuôi, in trên báo quốc ngữ Sài Gòn. Vì vậy tôi chọn thời điểm 1881 làm cái mốc bắt đầu cho văn chương Sài Gòn”…

Vì sao chọn cái mốc kết thúc vào năm 1924?

Anh cho biết: “Tôi mong mọi người biết rằng, trước khi "Tố Tâm" - tiểu thuyết hiện đại đầu tiên ra đời năm 1925, thì trước đó bốn mươi năm, Sài Gòn đã có rất nhiều truyện, tiểu thuyết, dài ngắn khác nhau rồi. Trong quãng thời gian ấy, đã có nhiều tác giả, dịch giả, sáng tác và dịch thuật rất nhiều tác phẩm, đủ các thể loại đăng trên các tờ báo ở Sài Gòn và ở Nam Kỳ, hình thành nên một thứ tạm gọi là “văn chương Sài Gòn” đủ sức khơi dậy và nuôi lớn nền văn học phong phú, đẹp đẽ như ngày nay. Thế nhưng, gia tài văn chương chữ quốc ngữ quý giá ấy “bỗng dưng biến mất" trong lịch sử văn học nước nhà từ giữa thế kỷ XX”.

Chẳng rõ từ đâu, lâu nay đã hình thành nếp suy nghĩ: Hễ đã thực hiện một công trình nghiên cứu nào, việc đầu tiên của tác giả/tập thể ấy nghĩ đến vẫn là làm thế nào “moi” cho bằng được… tiền tài trợ của Nhà nước. Đã có nhiều công trình đồ sộ được “vận hành” nhờ bầu vú sữa béo bở ấy, không dám quơ đũa cả năm nhưng dư luận cũng đã từng phàn nàn “con sâu làm rầu nồi canh” bởi không ít sản phẩm ra đời mà chất lượng quá kém. Và cũng cũng không ít xào xáo, điều tiếng, gấu ó, thậm thụt cãi vãi nhau về chuyện ăn chia tiền nong không sòng phẳng.

Nghĩ mà buồn.

Cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác, Trần Nhật Vy đã chọn cách bỏ tiền túi ra để mua tư liệu, tài liệu. Dân chơi sách cũ bao giờ cũng muốn sở hữu bản gốc/bản chính, anh lại không. Chỉ mua bản photo. Hoặc mày mò tìm kiếm trong các thư viện đã công bố trên mạng. Chắc rằng, với nhuận bút đã nhận được, không thể bằng số tiền mà anh đã bỏ ra. Chẳng hề gì. Miễn là được thực hiện điều mà mình yêu thích, say mê. Về văn bản văn chương miền Nam, những năm gần đây đã có những quyển như Tiểu thuyết Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Nguyễn Kim Anh chủ biên), Văn xuôi Nam bộ nửa đầu thế kỷ (Cao Xuân Mỹ sưu tầm)… đã là những đóng góp tích cực.

Và bây giờ, vời việc làm của Trần Nhật Vy có thể nói bài bản hơn cả. Anh trưng ra các tác phẩm của Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quãn, Nguyễn Dư Hoài, Lê Hoằng Mưu, Trương Duy Toản, Nguyễn Kim Đính, Lương Dũ Thúc…; kể cả những tên tên tuổi, có thể lần đầu ta mới nghe đến như  P. Génibrel, Paul Nhượng, A. Vạn, Nicolas Lục, Jean Nguyễn Nhuận Ốc…

Trong tập sách này, lần đầu tiên in lại tiểu thuyết Hà Hương phong nguyệt truyện của nhà văn Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Kim Đính,  in năm 1914. Tác giả thổ lộ: "Dòm thấy trong xứ cứ ôm truyện Tàu mà dịch mãi, chưa thấy ai viết bộ tiểu thuyết nào cả. Tưởng rằng dầu hay dầu dở cũng của mình. Tôi khởi đầu viết bộ Hà Hương phong nguyt”. Theo Phó GS-TS Võ Văn Nhơn: “được xem là tiểu thuyết tâm lý xã hội đầu tiên của văn học Việt Nam hiện đại. Ngòi bút có phần táo bạo của tác giả Lê Hoằng Mưu khiến ông bị kết án là xúc phạm thuần phong mỹ tục. Sách bị tịch thu, tiêu hủy, nhưng cũng đã gây ra một cuộc bút chiến dữ dội”. Trước đây đã có nhiều nhà nghiên cứu đi tìm lại tác phẩm này, và nay, Trần Nhật Vy đã công bố. Há không phải cũng là một đóng góp đó sao?

Sống trong đời, khi nhận ra ai đó đã làm một việc tốt cho cộng đồng, hà cớ gì ta lại hà tiện một tiếng vỗ tay, hoan nghênh? Dù rằng, chẳng là gì, dù có hay không, họ vẫn tiếp tực đi trên con đường đã chọn. Tuy nhiên tiếng vỗ tay ấy lại là sự tuyên dương, khuyến khích để họ thêm bền lòng. Cần lắm chứ. Với công trình này, Trần Nhật Vy chia sẻ: “Mong các bạn hôm nay biết, đọc và thấy được rằng, tiền nhân của chúng ta đã có công, có sức gầy dựng một mảng văn chương đáng kính trọng của thuở ban đầu chữ quốc ngữ”. Tâm sự này, đáng trân trọng và ghi nhận.

Trước đây, nhà văn Nguyễn Văn Xuân cũng đã từng quả quyết: “Miền Nam vốn có một một địa vị về văn nghệ và có ảnh hưởng sâu rộng trong quảng đại quần chúng lan tràn đến cả miền Trung lẫn miền Bắc. Miền Nam đã gây phong trào tiền phong về mọi phương diện văn nghệ: báo, tạp chí, truyện ngắn, truyện dài, truyện dịch, đặc biệt là tiểu thuyết Trung Hoa, truyện phóng tác tiểu thuyết Tây, phong trào xuất bản rộng lớn các loại thơ bình dân và rất phồn thịnh… Văn nghệ miền Nam phải có quyền được các học giả nghiên cứu sâu rộng” (Khi lưu dân trở lại - NXB Thời Mới -1969).

Lại nhớ đên câu thơ của Vũ Hoàng Chương: “Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ”. Tính cách rất sen ấy, cần thiết lắm. Nhìn rộng ra chung quanh, mỗi ngày nếu được cảm nhận sự tốt đẹp ấy, từ những con người với việc làm cụ thể thì vui quá đi chứ?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.6.2017

PDF.InEmail

 

20150807-030454-2-520x692

“Quan nhất thời, dân vạn đại”. Sực nhớ đến câu này vì lý do: có một quan chức nọ bị kỷ luật, cái ghế ngồi không rõ có còn vững hay không, e rằng không. Do nghĩ vậy nên đã có một, hai đơn vị kinh doanh đã từng trải chiếu hoa mời ông ta đến bèn nghĩ ra một cái trò rất láu cá.

Trò gì? Khoan vội bàn đến.

Chỉ nhắc lại rằng, ối dào, ngày chưa xa ấy, lúc gặp nhau đôi bên luôn tuôn ra dào dạt bao nhiêu lời vàng, ý ngọc. Vị quan chức nói một lời, chỉ đạo một câu, ngay lập tức cả hội trường cung cúc cúi rạp người mà rền vang lời thưa/tiếng dạ. Thưa rồi dạ, dạ rồi thưa cứ nhịp nhàng tân cổ giao duyên. Đã thế, họ còn nhanh chóng rỉ tai cho cánh báo chí, cơ quan truyền thông vì thông tin, hình ảnh ấy được truyền tải cũng là một cách P.R đánh bóng sang trọng cho thương hiệu kinh doanh của đơn vị mình.

Đùng một cái, gió đã xoay chiều. Khi truy cập vào trang web của đơn vị kinh tế đó đã thấy bị xóa sạch, hầu như không lưu lại một vết tích nào về việc quan chức đó đã từng ghé thăm. Giải thích thái độ kỳ quặt này thế nào nhỉ? Có thể do họ sợ bị liên lụy, dính dáng đến một người thôi “lên voi” mà đã “xuống chó” chăng?

Nếu thế, sự đời lật lọng, tráo trở mạt hạng đến thế là cùng.

Không phải ngẫu nhiên, nhiều quan chức nhà ta cực kỳ ám ảnh một nỗi sợ hãi, nhăn rúm cả người, toát mồ hôi hột khi nghe đến hai chữ “về hưu/kỷ luật”. Về nhà đuổi gà cho vợ ư? Không phải đâu. Lúc rời chốn quan trường, dẫu thừa sức “ho ra bạc, khạc ra tiền” nhưng rồi họ cũng không thể thỏa mãn được nỗi nghiện ngập đã thấm sâu vào máu thịt: quyền lực.

Phải tiền hô hậu ủng, tả phù hữu bật, lên ngựa xuống xe, đội trời đạp đất. Phải micro oang oang chỉ đạo. Phải một chữ ký cũng thừa sức khiến kẻ này khiếp vía, dái thọt lên cổ; khiến kẻ kia sung sướng tràn trề, “ngất ngây con gà Tây”. Quyền lực là phải thế chứ. Riết rồi đâm ra nghiện.

Vậy, khi lui về hậu trường là mất hết sự oai phong lẫm lẫm liệt liệt, khiến nhiều quan chức sợ hãi, âu lo là vậy. Thế nhưng, có lẽ họ cũng không thể lường đến cái trò “cạn tàu ráo máng” là xóa sạch hình ảnh vừa nêu trên. Cay cú và đau.

À, chuyện khôi hài đó là bịa, chứ làm gì trên đời làm gì có trường hợp éo le đến thế? Có thể là tiểu phẩm của nhà văn chuyên viết trào phúng chăng?

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền”. Có những kẻ tiền nhiều, rất nhiều tiền lại là khác nhưng tiếc thay lại… văn hóa lùn. Một trong những sự việc đình đám có tính thời sự là anh chàng nọ chẳng biết giàu đến cỡ nào, lại có lối hành xử chẳng giống ai, nếu không muốn nói là quái đản và trơ trẽn.

Rằng, để ra mắt một quyển sách, đại loại như bàn chuyện dám làm giàu, anh ta tổ chức tại Huế bằng cách đứng trên kinh khí cầu và thả tiền xuống… chơi! Bố thí hay khoe tiền? Tiền nhiều đến cỡ nào mà dám khoe khệnh khạng đến phản cảm như vậy? Nếu không bố thí, đó là cách cho tiền chăng?

Ông bà ta từng dạy: “Của cho không bằng cách cho”. Khi thông tin này vừa diễn ra, y đã nhận được nhiều điện thoại của anh em văn nghệ sĩ ngoài Huế, họ cho rằng đây là hành động, chỉ có thể gọi đúng tên là “kém văn hoá”. Và họ cho biết đang kêu gọi tẩy chay “tác phẩm” này vì cách rải tiền ấy, dù có mệnh danh cho sự “cao đẹp” gì gì đi nữa cũng xúc phạm đến người dân ở Huế.

“Một người xử lý đồng tiền cẩu thả, không hề quý trọng mà ném tiền một cách “trời ơi, đất hỡi” lại vỗ ngực xưng tên, truyền cho thiên hạ “cảm hứng” dám làm giàu ư? Xem ra ngô nghê và phản cảm quá đi mất” - một họa sĩ ở Huế đã nói thẳng. Nghe thế, y bèn “bào chữa” giúp cho tác giả: “Có phải người Huế các anh khó tính quá không?”. Anh bảo: “Hành động thô lậu này, dù diễn ra bất cứ ở đâu thì người Việt mình cũng đều phản ứng như thế”. Anh nói đúng lắm.

“Đói cho sạch, rách cho thơm”. Dù có nghèo đi nữa, ai cũng ý thức rằng, chỉ một khi kiếm đồng tiền bằng giọt mồ hôi, mới là đồng tiền lương thiện, tiền sạch. Chứ không phải thấy kẻ “trưởng giả học làm sang”, ném tiền ngoài đường mà ùa chạy đến, tranh nhau cấu xé, chụp giật cho bằng được.  Ô hô! Một người tự khoe khoang dám làm giàu lại thể hiện “đẳng cấp giàu” theo kiểu “chơi cha thiên hạ”, vậy, mọi cái gọi là “thông điệp” trong sách có đáng tin không? Tôi hiểu, anh em văn nghệ ngoài Huế đồng lòng tẩy chay quyển sách đó, họ hoàn toàn có lý.

Khi bàn tán về chuyện này cùng đồng nghiệp, y giật mình khi có nhà báo bảo: “Các bạn ngây thơ quá đi mất. Một khi cánh báo chí chúng ta lên tiếng tiếng phê phán tức là đang… sập bẫy đó”. Y ngạc nhiên quá, anh cười mà rằng: “Sao lại không nghĩ rằng, đây cũng là một chiêu trò P.R hẳn hòi? Vì rằng, có bị mạt sát chê bai đến đâu chăng nữa thì tác giả cũng lãi to. Cái lãi ấy là cái tên/cái danh của mình đã được làng trên xóm dưới đều biết tất. Mà lại tốn không nhiều tiền bằng cách thuê quảng cáo!”. Y lại cãi: “Ừ cứ phỏng đoán, cứ cho là thế. Nhưng thiên hạ biết đến qua sự xú danh thì nên chăng?”.   

Câu trả lời này, còn tùy thuộc vào sự lụa chọn của mỗi người. Sự lựa chọn ấy, còn tùy thuộc vào tầm văn hóa. Mà không phải ngẫu nhiên anh bạn nhà báo nêu ra nghi vấn đó, bởi dạo lâu nay các chiêu trò gây sốc đã quá phổ biến. Nếu muốn ai ai cũng biết đến mình một cách nhanh chóng nhất, thì cứ việc giở trò ma mãnh ấy là xong. Xong, như một cách tạo ra sự xú danh.

Lại có nhiều người có tiền nhung chắc gì đã “nứt đố đổ vách” mà đã vội rãi tiền tung tóe? Phản cảm quá đi mất. Cuộc đòi cũng kỳ quặt, có những người một khi đã có tiền lại xem người khác không ra gì cả. Chuyện mới vừa xẩy ra tại Hà Nội, theo thông tin từ báo chí: chiều tối ngày 15.6, cô nhân viên quét, thu nhặt rác có nhắc nhở chủ nhà nọ nên đổ rác đúng nơi quy định. Đôi bên cãi cọ nhau, sau đó, cô tiếp tục công việc của mỉnh. Tưởng thế là thôi, nào ngờ, lát sau, có người người phụ nữ đột nhiên  lao tới, vừa chửi vừa đánh, liên tiếp tát vào mặt, vào gáy. Đến lúc tỉnh dậy, cô mới biết mình đang nằm cấp cứu tại bệnh viện Thanh Nhàn.

“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Chẳng thanh lịch cũng là người Tràng An”.

Nghe ra mỉa mai quá.

Thật lòng, khi viết những dòng này, vâng, y chỉ muốn tin chỉ là chuyện bịa. Nghĩ vậy, cho nhẹ đầu. Và tôi lại nghĩ về sự tốt đẹp, hướng thiện mỗi ngay vẫn đang hiện diện, lấy đó làm niềm vui. Nhưng nhố nhăng này nọ, hãy tin rằng chỉ là cá biệt. Riêng lẽ. Không bao giờ trở thành phổ biến. Nếu không, tính cách người Việt ngày càng xấu đi à? Không đâu. Hãy cứ tin là thế.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 15.6.2017

PDF.InEmail

bui-kiem-damhan-thu-bat-tuy-kieu

 

Trước một sự việc, mỗi người đều có góc nhìn, tùy theo nhận thức và nhất là thông tin mà họ đã có. Y không có gì cả, ngoài những gì đã đọc trên báo chí nên chỉ chọn cách im lặng. Rồi lại lầm lũi với công việc của mỗi ngày. Mỗi ngày, chẳng có gì khác lại ngoài gõ bàn phím viết vặt vài bài báo, đọc quyển sách nọ kia. Chỉ có thế, vòng quay của 24 giờ trong một ngày đã trôi qua như nháy mắt.

Chiều này, như mọi chiều, lại đọc Truyện Kiều. Đọc chỉ để mà đọc. Thế thôi. Lật hú họa, gặp trang nào đọc trang đó. Có những quyển sách cực hay, hay đến độ, dù đọc bất kỳ trang nào cũng bị cuốn hút như đọc trang dầu tiên. Đọc lần thứ nhất. Phụ nữ cũng thế, có nhan sắc đã khiến ta mê mẫn tâm thần, quên đi mọi sự khôn ngoan, mê muội mộng du, tiêu diệt sự tỉnh táo để tận hưởng thịt da ấy như lần thứ nhất. Và bao giờ cũng là cảm giác dịu vợi mê đắm của lần thứ nhất. Truyện Kiều là một nhan sắc. Vô tiền khoáng hậu. Làm nên hấp dẫn của kiệt tác này, còn là các câu đối thoại giữa Kiều với các nhân vật khác trong nhiều tình huống.

Một trong những tình huống hay nhất là lúc Kiều cả tin, theo Sở Khanh chạy trốn khỏi lầu xanh. Sau, Tú Bà bắt lại. Nàng phải hứng lấy trận đòn: “Uốn lưng thịt đổ, máu sa dập đầu”. Cô Mã Kiều thương bạn mà an ủi nàng và bật mí: Sở Khanh đã sử dụng chiêu/mẹo lừa này với nhiều cô gái khác rồi. Và đây cũng là lối thông đồng giữa tay lưu manh với Tú Bà: “Đà đao một chước sẵn dùng/ Lạ gì một cốt một đồng xưa nay”. Thế nào là “đà đao”? Có thể hiểu là mẹo giả vờ thua chạy, người ta tưởng bở đuổi theo, bất thình lình quay dùng đao chém. Đố đỡ nổi. Đo ván là cái chắc.

Thông thường một khi đã làm xấu với ai việc gì, con người ta mắc cỡ, xấu hổ mà lánh mặt, không dám gặp lần nữa. Sở Khanh thì không. Trong lúc hai chị em đồng cảnh ngộ đang tâm sự, Sở Khanh lại vác mặt tới. Thế mới biết, cụ Nguyễn Du đã đẩy tính cách nhân vật đi đến tận cùng, không nửa vời. Ngay lúc đó, Sở Khanh liền mắng phủ đầu rằng, nghe đồn có con nào ở đây phao tin ta rủ rê, quyến rũ trốn đi theo? Đừng có nõ mồm, nói nhảm. “Phao cho quyến gió, rủ mây/ Hãy xem có biết mặt này là ai?”. Nhìn kỹ lại cái mặt đi chứ? Chớ có hồ đồ, ăn nói điêu toa. Cách nói ấy xem ra cứng cựa lắm. Cứ như thể hoàn toàn không dính líu gì đến tội vạ của Kiều do chính hắn gây ra.
 

Kiều trả lời ra làm sao?

“Nàng rằng: “Thôi thế thì thôi/ Rằng không thì cũng vâng lời rằng không”. Nhịp đi của câu thơ với 2 từ “rằng không” lặp lại đến 2 lần, tưởng nhẹ nhàng, nhưng thật ra đó là cách trả lời đay nghiến, ngọt nhạt, rành rọt, phủ định hoàn toàn thách thức của Sở Khanh. Bên trong lời lẽ mềm mỏng, nhún mình ấy lại ngầm sắc lẹm như dao. Không dễ đầu hàng. Không dễ bắt nạt. Sở Khanh nào biết thế, ngốc dại lấn tới bước nữa vì nghĩ đang thắng thế. “Sở Khanh quát mắng đùng đùng/ Bước vào, vừa rắp thị hùng ra tay”. Những muốn ăn tươi nuốt sống ngay tắp lự. Kiều né ngay bằng cách kêu trời: “Trời nhẽ có hay”. Ai cũng thế thôi, lúc ngặt nhất, phút 89 nguy ngập bao giờ người ta cũng réo trời, dù trời xa thăm thẳm: “Nàng rằng: Trời nhẽ có hay/ Quyến oanh, rủ yến sự này tại ai?/ Đem người đẩy xuống giếng thơi/ Nói lời rồi lại ăn lời được ngay”.

Những từ “ăn lời/ nuốt lời”, khó có thể thay thể bằng từ nào đắc địa hơn, nhằm chỉ sự thất hứa/ hứa lèo.

Chua hết. Không để cho Sở Khanh mở miệng phân trần, cãi cọ, nàng liền lật bài ngửa: “Còn tiên Tích Việt ở tay/ Rõ ràng mặt ấy mặt này chứ ai!”. Chứng tích còn đây rành rành. Dám cãi không?

Hãy chú ý, ban đầu, Sở Khanh mạnh miệng: “Hãy xem có biết mặt này là ai?”. Sau đối đáp, Kiều đã ném vào mặt rành rọt từng chữ một: “Rõ ràng mặt ấy mặt này chứ ai?”. Ăn miếng trả miếng. Đâu vào đó. Không còn dám cự cãi gì nữa cả, Sở Khanh đuối lý. Hơn nữa, Kiều lại: “Lời ngay đông mặt trong ngoài/ Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương”, khiến tên lưu manh hạng bét đành cút xéo.

Tại sao chiều nay lại lật đúng vào trang có những câu thơ gì? Thử liên hệ với thời sự đang xẩy ra, có liên hệ gì chăng?

Bàn về Truyện Kiều xưa nay đã nhiều. Tuy nhiên vẫn chưa nhiều lắm những khảo cứu, tìm hiểu về các tác phẩm của các nhà văn Nam bộ lấy cảm hứng từ kiệt tác này. Vừa rồi, cũng do cái thú lang thang trên mạng, vào thư viện nọ của người Pháp, tình cờ phát hiện ra tập sách Hoạn Thư bắt Túy Kiều vịnh tích in năm 1921 của nhà văn Lê Hoằng Mưu (1879-1941). Không rõ vì sao người miền Nam thuở ấy gọi Túy Kiều, chứ không là Thúy Kiều? Ông Mưu còn là người viết tác phẩm Hà Hương phong nguyệt truyện, đình đám trên văn đàn miền Nam đầu thế kỷ XX. Không ngờ, tình huống Thúy Kiều sa vào tay Hoạn Thư, ông kể lại tuyệt khéo, cực hay. Chỉ trích lấy những dòng mà ông đã thêm thắt, qua đó, nhân vật có tính cách gần gũi hơn với người Nam.

Theo Truyện Kiều, về mối quan hệ dăng díu trăng gió với Thúc Sinh, Kiều thận trọng dò hỏi chàng về chuyện đã có vợ, ý của ông bố ra làm sao v.v… Thúc Sinh ưỡn ngực: “Đường xa chớ ngại Ngô Lào/ Trăm điều hãy cứ trông vào một ta”. Đừng có sợ gì cả. Mọi việc nàng đang nghi ngờ, e ngại, một tay ta thu xếp là xong. Có đáng tin cậy không? Ấy là chuyện về sau. Mà này, có phải đây là tính cách lửa rơm chung của bọn đàn ông khi tán gái đó không? Đọc Truyện Kiều, quái lạ, hầu hết các đấng mày râu khi gặp nàng đều thốt ra toàn những lời “có cánh”. Một tấc đến trời. Vỗ ngực xưng tên. Sau đó, chẳng ra làm sao cả, ngoại trừ Từ Hải. Vậy nên, đàn bà con gái khi đọc 3.254 câu lục bát dịu vợi ngàn trùng, ngọc không tì vết, vang động ngàn đời thì xin lưu ý giúp điều này, cứ lấy từ kinh nghiệm của Thúy Kiều mà cảnh giác vậy.

Ở đoạn trao đổi với Kiều, Thúc Sinh mạnh miệng: “Đá vàng đã quyết, phong ba cũng liều". Oách quá đi chứ? Thử hỏi, nghe câu hoành tráng ấy người phụ nữ nào lại không xúc động đầm đìa, rưng rưng tâm cảm? Qua cách kể của Lê Hoằng Mưu, Thúc Sinh không chỉ hứa hẹn mà còn: “Trước lo dọn cho nàng căn phố/ Sau sắm cho đủ bộ nữ trang/ Chuỗi đeo tay, neo đặt chiềng vàng/ Cà rá nhậm kim cang ba hột/ Hàng cách-sơ-mia Bon-nê thiệt tốt/ Sắm cho nàng ra tột bực sang/ Mua ô-tô hứng cảnh thừa nhàn/ Xe ca-lết dạo chơi hóng mát”. Rõ ràng, Thúc Sinh rất ư “anh Hai Nam bộ”. Chơi đẹp lắm. Không hề ki bo, bủn xỉn, tính toán gì cả. Làm rõ thêm cái ý “Trăm nghìn đổ một trận cười như không”.

Sực nghĩ rằng, câu nói trên nếu đặt vào miệng mồm bất kỳ người đàn ông nào đang si tình, lụy gái thì cũng đúng chóc. Giây phút tương ngộ giai nhân, hỡi ôi, sự thông minh tỉnh táo, lý trí tót vời đã rủ nhau trốn biệt, chỉ còn là nhịp đập của trái tim. Cảm xúc dạt dào. Ồn ào sóng biển. Họ đang say. Say một thứ rượu có nồng độ cực kỳ, không một thứ men nào có thể sánh nổi. Rượu tình ái. Rượu của hương thơm da thịt nồng nàn lửa bén. Ông thi sĩ tài hoa Cao Bá Quát chỉ mới thưởng thức vài be rượu, có thể rượu làng Vân, Cây Lý, Ba Xi đế, Phú Lễ… đã thế này: “Ngoảnh mặt lại cửu hoàn coi cũng nhỏ/ Khoảng trời đất cổ kim, kim cổ/ Mảnh hình hài không có, có không/ Lọ là thiên tứ, vạn chung”, chứ huống gì va phải rượu tình.

Vì lẽ đó, xin thưa quý ngài, chớ có cười Thúc Sinh dại gái.

Mà này, có phải nhờ những câu Lê Hoằng Mưu đặt vào miệng Thúc Sinh, ta mới biết thêm lối sống của hạng người giàu sang ở phương Nam đầu thế kỷ trước? Đúng lắm. Đọc sách xưa, qua miêu tả của nhà văn, căn cứ vào đó mà người đời sau có thể biết được trang phục, lời ăn tiếng nói… của một thời. Dấu ấn này, ở phía Nam có thể thấy rõ nét trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh và những nhà văn cùng thời.

Chẳng nhẽ, đọc xong mấy câu thơ miêu tả thêm tính cách “quen thói bốc trời” của Thúc Sinh, ta lại lảng qua chuyện khác? Không. Vậy, xin hỏi: “Chuỗi đeo tay, neo đặt chiềng vàng”. “Chiềng” là gì? Tra nhiều từ điển rồi cũng bí rị, may quá, trong tập sách Phương ngữ Nam bộ, ở từ “chiêng chiêng", ông Nam Chi Bùi Thanh Kiên giải thích: “loại cà rá có hoa văn chạm nổi; chiêng chiêng cà rá: từ chỉ chung loại trang sức nhỏ đeo vào ngón tay”. Suy luận ra,”chiềng” là cách nói gọn của “chiêng chiêng” đấy thôi. Căn cứ vào  mạch nối theo của câu thứ hai càng rõ cái ý ấy: “Cà rá nhậm kim cang ba hột”. “Nhậm” là khảm, chạm, cẩn, nhận.

Câu tiếp: “Hàng cách-sơ-mia Bon-nê thiệt tốt”, ông Nam Chi cũng cho biết: “Cách-sơ-mia/ Cachemire - hàng len đẹp dệt bằng lông cừu dê ở xứ Cachemir (Ấn Độ). “Ô-tô” thì dễ hiểu rồi, còn “xe ca-lết” là loại xe ra làm sao? Chịu chết. Không thể trả lời.

Ngoài ra, phụ nữ thời ấy, còn phục trang gì nữa không? Đọc lại quyển Bùi Kiệm dặm của Nguyễn Văn Tròn, in tại Sài Gòn đầu thế kỷ XX xem sao. Ông Tròn là ai? Chẳng thể biết rõ tông tích. Lấy cảm hứng từ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, ông viết thêm lúc Bùi Kiệm tán cô Kiều Nguyệt Nga, quyết lấy làm vợ cho bằng được. Kiệm đã nhìn thấy nàng: “lỗ tai đeo đôi bông nhẫn hột, cổ đeo cây kiềng vàng, bận cái áo lưỡng đoạn, đội cái khăn lục soạn, bận cái quần lãnh, lưng rút, khiến tâm bào anh Kiệm chết tê”. Chết là phải đạo. Phụ nữ đã đẹp, sắc nước hương trời lại ăn vận sang trọng, quý phái, điệu đàng thì có ngủm củ tỏi cũng xứng mặt đàn ông, đúng không? Ngay lập tức Kiệm nổi máu dê, ca rằng: “Hèn chi tôi ở trên kinh, tôi nóng nẩy bực bội, tôi lội tôi về hay là ông Tơ bà Nguyệt xe má phấn dựa kề môi son?”

Hãy khoan theo dõi đối đáp của cô Nguyệt Nga, ta hãy dừng lại một chút và hỏi rằng, nàng mặc “áo lưỡng đoạn” là loại áo thế nào, hình thù ra làm sao? Dù đã cố gắng mọt sách mày mò, tầm chương trích cú nhưng rồi cuối cùng đành chịu thua. Cô còn đội khăn lục soạn. Ca dao có câu: “Cái ô lục soạn cầm tay/ Cái khăn xếp nếp, cái dây lưng điều”. Lục soạn là thứ vải lụa, mỏng, trơn.

Sực nhớ, ngày trước, ông Tú Xương cực bợm, đã từng cô đầu đàn ca hát xướng, phong lưu tài tử, đĩnh đạc dân chơi. Có lúc đến đàn ca sáo trúc tại nhà cô đầu: “Năm canh to nhỏ tình dơi chuột/ Sáu khắc mơ màng chuyện nước mây”. Lúc tỉnh dậy, ông mới hay mất cái ô: “Đêm qua anh đến chơi đây/ Giày chân anh dận, ô tay anh cầm/ Rạng ngày sang trống canh năm/ Anh dậy, em hãy còn nằm trơ trơ/ Hỏi ô, ô mất bao giờ/ Hỏi em, em cứ ậm ờ không thưa/ Chỉn e rầy gió mai mưa/ Lấy gì đi sớm về trưa với tình?”. Dám cá cược rằng, ông Tú Xương bị mất cái ô, đúng rồi, nhưng phải là ô lục soạn, tiếc lắm. Nếu cái ô tầm xoàng thì tiếc cái nỗi gì. Không tiếc cái nỗi gì, làm sao có thể bật ra thơ?

Rồi cô Kiều Nguyệt Nga còn đeo kiềng vàng. Đọc câu dao này, tự dưng thấy thương thương, cảm động: “Kiềng vàng em chẳng muốn đeo/ Em đeo kiềng bạc đỡ nghèo mẹ cha”. Còn “quần lãnh” là may bằng loại vải đắt tiền, mặt trơn, bóng láng. Cứ như theo nhà nghiên cứu Nam Chi, có các loại lãnh như lãnh Bắc (dệt ở ngoài Bắc), lãnh Tàu, lãnh Tây: “Theo cách dệt chúng ta có: lãnh bông - loại lãnh dệt chữ Hán, hoa lá cành trên mặt vải; lãnh bông chanh/ lãnh hoa dâu - loại lãnh dệt có bông nhỏ lấm tấm như bông chanh; lãnh chữ kiết: loại lãnh dệt có nổi chữ kiết/ cát (tốt lành); lãnh Mỹ A - loại lãnh đen bóng, mịn, mặc thấy mát rượi, thường dùng để may quần phụ nữ; lãng trơn - lãnh không bông hoa”.

Vậy đó, mỗi ngày đọc thoáng vài trang sách. Cũng vui vui. Ghi chép đôi dòng. Cũng vui vui nốt. Tự lấy làm hài lòng. Noi theo ông Tú Xương cho nhẹ nhàng cái sự đời: “Khăn khăn áo áo thêm rầy chuyện/ Bút bút nghiên nghiên khéo giở tuồng”. Chẳng việc gì phải nhăng nhăng nhố nhố, hếnh hoáng “gồng mình” lên nọ nọ kia kia cho nhọc xác, đúng không?

Dạ, đúng ạ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 13.6.2017

PDF.InEmail



0thong_loai_khoa_trinh

 

Đọc sách báo xưa còn thú vị ở chỗ, đôi lúc gặp vài từ, vài chữ thông dụng một thời, nay chẳng mấy ai còn nhớ đến nữa. Lời ăn tiếng nói ấy, đọc to lên, dù chỉ mới hiểu nghĩa mang máng nhưng cũng có thể hình dung ra cái thời xa xưa ấy.

Vừa đọc một câu ca dao, tự dưng lại nghĩ về một chàng trai lam lũ, tráng kiện, có gương mặt khôi ngô, thông minh, lý trí mạnh hơn cảm xúc: “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề/ Thăm em một chút anh lộn trở về/ Kẻo mà trăng lặn tứ bề núi non”. Rõ ràng, từ nhà chàng đến nhà nàng phải là một khoảng cách rất xa, có khi phải băng đồi lội suối. Sá chi. “Yêu nhau tam, tứ núi cũng trèo/ Ngũ, lục sông cũng lội; thất, bát đèo cũng qua”. Trai trẻ hiện nay, dù nông thôn hay thành thị khó có thể trải qua tâm trạng âu lo, thắc thỏm khi “trăng lặn tứ bề”. Nghe câu chia tay, nàng bèn làm mặt giận, lẫy: “Thăm em một chút anh lộn trở về/ Hay là lập kiểng, trồng huê nơi nào?”. Phụ nữ lúc đang yêu là chúa nghi ngờ. Anh đã có, đang tăm tia người khác rồi phải không?

Kiểng là Cảnh, có phải do người miền Nam kỵ húy Đông cung hoàng tử Cảnh - con cả của vua Gia Long? Chẳng nhẽ, ngay cả con vua mà dân đen cũng phải kỵ húy nữa sao? Đọc sách của Vương Hồng Sển mới biết, thuở trước, trong Nam không dám gọi Lê Văn Duyệt, phải nói trại ra “Lê Văn Dượt”. Thế mới biết uy quyền của ông Tổng trấn Gia Định ghê gớm biết chừng nào. Mà với người Việt, một khi dùng từ trại đi cũng là cách gây cười, hài hước. Bằng chứng, trong Hồ Gươm phú, Tú Mỡ viết: “Tòa nhà Khai Trí bên đền, trống bài điếm chát tom! Thái bường quá nhỉ!/ Vườn cảnh Bônbe trước mặt, khách phồn hoa nhộn nhịp, vui vẻ xiết bao!”. Thái bình trại ra thái bường, vui ra phết.

Thành ngữ có câu, đọc lên, mày râu phì cười, nữ nhi thẹn đỏ mặt: “Da bần quân tụt quần không kịp”. Trong Nam lại gọi trại qua tên khác: Muồn quân/ Buồn quân. Trong tờ báo Thông loại khóa trình, cụ Trương Vĩnh Ký có kể: Tục truyền thuở xưa, người đem quân đi mà hết lương đói lắm, quân gia buồn bực, may mà có trái cây ấy trông như viên đạn, sắc màu tím bầm, mùi ngọt ngọt, hái ăn đỡ đói. Vì vậy trong chữ kêu là ngộ quân”. Cách giải thích này, thú lắm. Cũng tựa như giải thích về trái loòng bong ở Quảng Nam, khi nó còn có tên Nam trân.

Y thích ca dao này của Nam bộ: “Ra về thấy kiểng thêm thương/ Nhành mai ủ dột, vách tường nhện giăng”. Nghe ra, tâm trạng quá đi mất. Thử hỏi, chàng trai ấy, từ nơi đâu ra về? Từ Hóc Bà Tó chăng? Là ở chốn nào? Chẳng ai có thể giải thích rành rọt, dù ai cũng ngầm hiểu cụm từ này chỉ nơi xa xôi hẻo lánh, khỉ ho cò gáy, chó ăn đá gà ăn sỏi, đồng không mông quạnh ít ai lui tới. Lại nữa, “Ngó qua bên kiểng Tô Châu/ Thấy em dệt lụa trên đầu giắt trâm”. Tô Châu ở đâu?

Đọc sách báo cũ, đôi khi gặp một vài địa danh, tưởng ra xa lạ nhưng nào ngờ nơi ấy có thể mình đã từng lui tới. Địa danh, tự nó đã là một giá trị, có liên quan đến những sự kiện về văn hóa, lịch sử, kinh tế, con người… hiện diện từ quá khứ. “Đồng thời còn là những chứng tích về ngôn ngữ và có thể cả về văn tự mà các cộng đồng đã đặt, đã dùng và lưu lại trên địa bàn cư trú và phát triển của mình” (Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX - NXB Khoa học xã hội, 1981). Vì lẽ trên, địa danh còn có thêm một yếu tố quan trọng khác là đã thuộc về tâm thức, ký ức không thể xóa nhòa của con người sống trên vùng đất đó. Địa danh không chỉ là một tên gọi, còn là tinh thần từ sức mạnh của quá khứ, thôi thúc con người hiện đại biết sống, hướng về tương lai như thế nào cho phải đạo, ít ra không phụ lòng với quá khứ vô hình đã có.

Những ai đã từng sống lâu năm tại Sài Gòn, có còn nhớ đến Phiên An?

Từ thành Phiên An đến thành Gia Định là một câu chuyện dài. Khi viết Gia Định thành thông chí, một trong “Gia Định tam gia” là Trịnh Hoài Đức (1765-1825), ở phần “Cương vực toàn thành” viết tỉ mỉ gồm các trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên. Căn cứ vào đó, ắt biết trấn Phiên An phía bắc giáp Biên Hòa, nằm trong khu vực địa lý từ sông Thủ Đức đến sông Bến Nghé, chuyển quanh xuống ngã ba Nhà Bè, thẳng ra cửa Cần Giờ. Ban đầu gọi Dinh phiên trấn, năm 1808 vua Gia Long đổi thành trấn Phiên An.

Trải qua thăng trầm lịch sử, tên gọi Phiên An biến mất.

Tất nhiên, sự thay đổi ấy mỗi thời đều có cái lý của nó, chỉ vất vả cho thế hệ sau, khi học/học sử về những sự kiện có liên quan đến thành/trấn Phiên An như vụ nổi dậy của Lê Văn Khôi chẳng hạn, khó thể hình dung ra một vị trí cụ thể. Nếu tên gọi không thay đổi, có lẽ sự nhận thức, nối tiếp về lịch sử thuận lợi hơn và cũng gần gũi hơn với các thế hệ sau.

Theo y biết, “hội văn nghệ” đầu tiên của Sài Gòn chính là Bạch Mai Thi Xã. Giữa thế kỷ 19 đã xảy ra cuộc bút chiến dữ dội giữa các nhân vật lừng lẫy: Phan Văn Trị, Tôn Thọ Tường, Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Lê Quang Chiểu… Địa điểm sinh hoạt của thi xã này ở chùa Cây Mai (còn có tên gọi Mai Sơn tự). Tự điển Sài Gòn - TP.HCM (NXB Trẻ - 2001) cho biết chùa này dựng vào năm 1816 và “Tháng 5.1860, Pháp đóng quân ở chùa để tiến đánh đại đồn Chí Hòa”; “Trước năm 1945, đường Nguyễn Trãi tiếp giáp với đường Hùng Vương được đặt tên Rue de Cây Mai” (tr.658).

Với tên gọi này, tự nó đã là nhân chứng của một giai đoạn hào hùng và bi thương của lịch sử. Những bài thơ bút chiến của một thời diễn ra tại chùa Cây Mai đã khái quát được tinh thần dấn thân, thái độ chính-tà rạch ròi của kẻ sĩ trước thời cuộc. Chính cuộc bút chiến này đã cho thấy miền Nam - “vùng đất mới” còn là nơi hội tụ những hào kiệt văn chương lừng lẫy. Nếu tên gọi của con đường này - một tên gọi đường bình dị, dân dã như tính cách người của vùng đất này - “Cây Mai” vẫn còn giữ nguyên như trước, có lẽ âm vang về quá khứ, về hồi ức của một thời sẽ có sức sống mãnh liệt hơn với người đương thời.

Dù vẫn biết tên gọi của nhiều địa danh đã thay đổi do nhiều lý do khác nhau nhưng nếu không xáo trộn, không thay đổi thì vẫn tốt hơn khi nhìn lại bề sâu, chiều dài của một vùng đất. Ý nghĩa tích cực nhất của lịch sử, văn hóa lúc “ôn cố tri tân” là gì nếu không là nguồn năng lượng tinh thần tiếp sức cho đời sau?

Này, tiếp sức năng lượng cho đời sau, có thể tìm qua sách bao cũ, được chăng? Tại sao không? Ai cũng biết, Sài Gòn có nhiều nơi trồng cây giá tỵ, tức cây tếch. Thử đố khó một câu: “Loại cây này du nhập vào Nam bộ tự thuở nào?”. Nghe câu đố ấy, chắc chắn nhiều người sẽ cầu cứu đến ông Google. Y cũng thế, nhưng rồi cuối cùng bó tay toàn tập. May quá, mày mọ tìm lại tờ báo Thông loại khóa trình số 3 (6.1888) do nhà văn hóa Trương Vĩnh Ký chủ biên, mới biết tường tận. Đọc sách biết cái hay, lý thú, ích kỷ gì mà không ghi chép lại cho nhiều người cùng biết? Thì đây:

“Chính tên cây thường hay kêu dầu xiêm là cây giá tỵ (Le teck siamois). Cây nó dẻo, lại mịn thịt cũng có vân, xuống nước nổi là đà. Nó ở khô, ở ướt cũng bền. Bấy giờ, Tây cũng dụng mà đóng tàu. Nó được cái hay là nó không nhớt, lại đinh đóng vô thịt nó thì không hay bị sét. Đinh mà sét thì sau nó rã sét thì nó lỏng nó sút ra; mà đóng vô giá tỵ thì không hề sét, nên người ta dụng nhứt trong việc đóng tàu là vậy.

Annam biết nó mà đặt tên cho nó là giá tỵ là từ đời Gia Long, Minh Mạng về sau.

Làm thứ cây này thì phải có ý mới được: dạo rừng coi lựa rồi thì phải lấy rìu mà rong da gốc nó một vòng, rồi để đó cho nó héo, nó chết, nó khô lần, qua năm sau hãy đốn, hãy hạ nó xuống thì nó không có xé, có nứt hai đầu ra. Bằng đốn tươi nó đi thì làm sao nó cũng xé, cũng tách đầu nó ra chẳng khỏi đâu.

Nguyên đời quan Nguyên soái Gia có xin giống mà trồng, nên ông Lưỡi đen (tên Pinklào) là ông vua nhì (vannà) trong Xiêm mới cho ương cây cùng lấy hột, vào bao bì rồi sai quan Annam là ông Thái làm chức “Luổng  phlỏng sặt thướng chào kròm sái” ở trong Bangkok đem ra cho quan Nguyên soái”.

Dù câu văn lủng củng nhưng đọc lại, khác nào được nghe người xưa kể câu chuyện cổ tích? Dám đồ rằng, chuối sứ là do quan ta đời Nguyễn đi sứ Thái Lan đem về mà có giống này. Không những thế, còn có vịt xiêm, mãng cầu xiêm, dừa xiêm v.v… Cũng theo cụ Ký, ở miền Nam có loại ghe Tam Bản là do nói trại từ “sam” thành “tam”: “Sam bản là loại như ván thông, dùng mà đóng xuồng nhỏ nhỏ”. Do không hiểu như vậy, nên khi định nghĩa về ghe tam bản trong từ điển vẫn là: “loại ghe lớn hơn xuồng, đóng bằng ba tấm ván”. Ghe còn có nghĩa là nhiều. Bài ca chúc Tết thanh niên của cụ Phan Bội Châu có câu: “Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn/ Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan/ Dây thành bại quyết ghe phen liên hiệp lại/ Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi/ Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần”.

Khi đọc quyển Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn in năm 1897 của Paulus Của Huỳnh Tịnh đốc phủ sứ, thấy có nhiều câu khuyên chớ nên cờ bạc. Rồi lại hỏi, có phải người Việt cũng khoái hũ chìm với men say? Tự hỏi, bởi trong Thông loại khóa trình, thỉnh thoảng cụ Ký có cho đăng bài về cái tệ uống rượu. Chẳng hạn, “Một chén hãy còn phân tử tế/ Hai ve rồi lại nói câu mâu/ Mắt kia trợn trạc như mắt khỉ/ Môi nọ phều phào tợ môi trâu/ Lẽo đẽo nước trong mà độc địa/ Nuốt vào khỏi cổ lại nhức đầu”. Còn cờ bạc thì sao? “Đặt một chung ba nhiều kẻ muốn/ Tham vui chịu lận ít ai dè/ Tham giàu đòi thuở lâm nghèo ngặt/ Hào kiệt ghe phen phải sụt sè/ Trước mắt hư nên gương sẵn để/ Răn mình trước liệu kẻo nghiêng xe”.

Đấy, ai dám bảo những trang sách báo cũ với bài vở như trên đã lỗi thời?

Làm nên sự khác biệt từng vùng miền còn là thổ âm, thổ ngữ nữa. Nói thế, chẳng ai thèm cãi làm gì cho nhọc xác, hiển nhiên phải là vậy. Những ngày này, đọc lại ca dao trong sách xưa, lại càng nhận ra rằng, chính Nam bộ là nơi đã phá cách thể thơ lục bát quyết liệt nhất. Khó có thể tìm thấy nhiều như ở ca dao Trung bộ, còn Bắc bộ là càng không có, bởi thể loại này đã ổn định, định hình ngàn năm trong sự chỉnh chu trở thành sự mẫu mực.

Dứt tình thương cho bậu lấy chồng

Bậu lấy chồng rồi đừng qua đừng lại

Bậu gối tay qua đầu, bậu nghĩ lại thương qua

Hoặc:

Một vũng nước trong, năm bảy dòng nước đục

Một trăm người tục đôi ba chục người thanh

Biết đâu cao nấm ấm mồ, bậu ôm duyên chờ đợi Hớn Hồ mất công

Hoặc:

Anh tủi thân anh như trái chanh chai ngắt, như trái tắc bị đèo

Thương nhau đứt ruột ngặt nghèo khó phân

Lúc nào rảnh rỗi sẽ chọn nhón thêm từ các quyển Câu hát đối theo bạn cấy, Câu hát góp… in ở Sài Gòn đầu thế kỷ XX. Âu cũng là một cách giúp bạn đọc mua vui, vì các câu như trên chẳng còn thấy phổ biến nữa. Trở lại sự phá thể, biến thể trong nhịp ca dao 6/8 đã phản ánh điều gì trong tính cách con người ở vùng đất phương Nam. Câu hỏi gợi ý này, biết đâu về sau có  người chú tâm lý giải thì tốt quá.


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 12.6.2017

PDF.InEmail

18739927_1554458074599632_3690166915815592033_n

 

Những ngày này, có gì khác lạ? Không. Vẫn thế. Mở mắt ra, nếu đọc báo chí, lướt web thì y như rằng, khó có thể nén tiếng thở dài. Một và nhiều sự kiện đang diễn ra từng ngày, dù có bình tâm, có lạc quan, có yêu đời đến mấy thì con người ta cũng cảm thấy mệt mỏi. Chán chường. Bẽ bàng. Và lại tự nghĩ, phía chân trời có còn ánh sáng? Đừng quá đỗi bi quan. Sau cơn mưa, trời lại sáng. Những tăm tối, bùng nhùng, lằng nhằng rồi cũng sẽ đi qua. Hãy tin là thế.

Trước một thực tại u ám, bao giờ, con người ta cũng có sự chọn lựa để vui sống. Từ năm 2012, trong trường ca Hành trình của con kiến, y đã có sự lựa chọn:  “như chọn một thói quen/ để ảo tưởng về vòm trời xanh/ chim vẫn hót tuyết vẫn rơi hoa vẫn nở/ người vẫn sống vẫn yêu vẫn thở/ nắng vẫn hồng/ người vẫn người huýt sáo thong dong/ ca ngợi rằng cuộc đời vẫn đẹp/ vâng, cuộc đời vẫn đẹp/ vậy buồn làm chi?”.

Đã tự nhủ, nhưng rồi không thể dưng dưng với một vài thông tin đang rất thời sự. Ngày 8.6.2017, báo Tuổi Trẻ có in bài gây chấn động dư luận: “Bên trong sân golf Tân Sơn Nhất có gì?”. Thật ra, từ lâu vấn đề xây dựng sân golf đã từng dấy lên dư luận với rất nhiều tranh cãi. “Năm 2011, Báo Thanh Niên đã có loạt bài phân tích rất kỹ về những hệ lụy của dự án sân golf Tân Sơn Nhất nhưng sau đó, dự án này vẫn được tiến hành xây dựng” - đó là chapeau của bài “Sân golf Tân Sơn Nhất uy hiếp an toàn bay” đăng báo Thanh Niên sáng nay.

Cũng trên số báo này, chuyên mục Chào buổi sáng gọi đó là "Dự án bí ẩn" với thông tin cực kỳ bí ẩn: "Lật lại “lịch sử” dự án sân golf Tân Sơn Nhất, bất cứ ai cũng không khỏi kinh ngạc về sự kín tiếng đến mức bí ẩn của nó. Dự án được nghiên cứu từ năm 2006, phê duyệt năm 2007, nhưng tới năm 2011 mới được công bố. Suốt 5 năm đó, không ai biết về dự án này, kể cả những người làm trong ngành hàng không và những người sống cạnh sân bay, những đối tượng trực tiếp liên quan đến dự án. Ngay khi công bố, dự án vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ dư luận nhưng một lần nữa, dự án lại rút vào vòng bí mật. Đến nay, sau 6 năm kể từ khi công bố, rất nhiều hạng mục được xây dựng như nhà hàng, khách sạn, khu tiệc cưới, biệt thự, sân golf... nhưng hầu như không có thông tin nào lọt ra ngoài".

Đọc bài báo trên, suy nghĩ với phát biểu của PGS-TS Nguyễn Lê Ninh, Ủy viên Hội đồng Tư vấn khoa học kỹ thuật môi trường - Ủy ban Mặt trận Tổ quốc TP.HCM: “Việc Bộ Quốc phòng cho phép công ty tư nhân hợp đồng kinh doanh trên đất sân bay và việc Bộ GTVT cũng như quy hoạch của Cục Hàng không khi mở rộng sân bay đều nhất quyết “né” sân golf là biểu hiện của những hành vi không ngay ngắn. Đất sân bay là phải làm nhiệm vụ phục vụ sân bay; an ninh quốc phòng cũng phải cho sân bay. Đằng này lại mở ra một khu vui chơi giải trí xa xỉ không phù hợp với đời sống người dân. Khi dân cần, nước cần lại không chịu thu hồi thì lý do ở đâu? Lợi ích ai hưởng? Tất cả thể hiện ý thức kém của các cán bộ thực thi thể chế, tầm nhìn hạn hẹp, đặt quyền lợi cá nhân, lợi ích nhóm lên trên lợi ích của dân, của nước”.

Đọc và đau.

Trước đó, trên báo Tuổi Trẻ ngày 11.6.2016, đồng nghiệp Bùi Thanh đã viết sổ tay “Từ chuyện sân bay - sân golf: Cái gì nặng hơn lòng dân?”. Ngắn, gọn, sắc lẹn từng chữ:

“Hơn 4.500 ý kiến bạn đọc dội về tòa soạn Tuổi Trẻ mấy ngày qua. Và rất nhiều cuộc điện thoại gọi vào đường dây nóng của báo. Các ý kiến ấy đều lên tiếng một chuyện thôi: sân golf Tân Sơn Nhất!

Và họ đã bỏ phiếu chống.

Chuyện không phải bây giờ. Câu hỏi cử tri cứ vang lên ngày càng gay gắt mỗi khi Quốc hội, Hội đồng nhân dân TP.HCM sắp họp, rồi họp xong.

Nhưng câu trả lời hình như vẫn nằm đâu đó trong sân golf mênh mông.

Sân golf mênh mông 157ha đó, chỉ cho vài trăm người chơi. Những biệt thự, cao ốc sắp mọc lên đó, cho mấy trăm người ngụ. Lợi nhuận đó, cho 1, 2, 3, 4 người và lợi ích đó cho những “nhóm lợi ích”…

So được không, hàng ngàn chuyến bay, hàng triệu hành khách, triệu tấn hàng hóa.
So được không, ngoài kia: quá tải, tắc đường, rồi lạ kỳ “giải cứu sân bay”.

Hơn 4.500 ý kiến gửi về Tuổi Trẻ. Đọc mà thấy lòng còn nhói hơn đại biểu Quốc hội Nguyễn Phước Lộc.

Vậy thì, cái gì nặng hơn lòng dân đây?

Xin đừng nói đó là tiền!”.

Đọc và đau.

Trong bài viết này, Bùi Thanh có nhắc đến đại biểu Quốc hội Nguyễn Phước Lộc. Vậy, ông Lộc đã phát biểu câu gì? Ông ấy nói: “Đây là việc mà nếu chúng ta không giải quyết thì lòng dân sẽ bất an” (Báo Tuổi Trẻ ngày 1.6.2017). Ai ai cũng nhận thức như vậy và nếu có phát biểu,  họ cũng nói thế thôi. Chẳng gì khác. Vấn đề cốt lõi, quan trọng nhất một khi “lòng dân sẽ bất an”, nếu không điều chỉnh, thay đổi thì điều gì sẽ xẩy ra?

Y vốn nhát như cáy, do đó, không dám luận bàn gì thêm. Lại lựa chọn bằng cách mũ ni che tai, dù rằng, trong lòng rất thán phục, hoan nghênh những ý kiến phản biện có tính cách xây dựng vì lợi ích chung của cộng đồng. Một khi mình không dám nói, thì hãy ngầm có tiếng vỗ tay tán thưởng. Sự lựa chọn ấy, biết hèn nhát nhưng ít ra nó có tư cách, còn giữ được tư cách và nhất là không nói xằng.

Mới đây thôi, cả nước đang kiến nghị Thủ tướng về trường hợp của bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), nào ngờ, duy chỉ có tay nhà báo nọ lại quả quyết: “Sơn Trà không chỉ “lá phổi” mà còn là “dạ dày”. Anh ta lập luận cỡ như: “Sơn Trà có là kho vàng thì cũng phải khai thác, đưa vào sử dụng bởi nếu chôn dưới đất thì vàng khác gì đất đá. Có là “tiên nữ” thì cũng nên “đánh thức” để tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước chứ không thể để “người đẹp ngủ trong rừng”. Sơn Trà không chỉ là “lá phổi xanh” mà còn phải là “cái dạ dày” để nuôi cơ thể”.

Các trang mạng xã hội đã phãn biện, phê phán ý kiến tréo ngoe, lạc điệu này. Trước đây, y ít nhiều cáo cảm tình với tay nhà báo này qua dăm bài thơ này nọ, dù không xuất sắc lắm. Nhưng nay, đọc qua một bài báo, đã biết tỏng gan ruột, vậy là bao nhiêu thiện cảm đã có, y bèn nhanh chóng đổ béng xuống bùn cho nó xong.

Thế đấy, sống với nghiệp viết thời nào cũng khó. Khó ở chỗ phải giữ mình. Dù đã từng giữ tư cách với ngàn trang viết, hàng triệu con chữ nhưng rồi, có khi chỉ một chữ dù vô ý đi nữa thì thiên hạ cũng hiểu nhầm tấm lòng của mình. Sực nhớ đến trường hợp của Lê Tắc - đời nhà Trần mà ngao ngán cho một con người tài hoa, uyên bác. Nếu Tắc không cố tình viết An Nam chí lược vẫn tốt hơn. Như cây cỏ vô danh, mục nát theo lớp sóng thời gian vẫn còn hơn bị người đời sau nguyền rủa, xếp chung chiếu với bọn Trần Ích Tắc…

Năm 1961, khi An Nam chí lược được Viện Đại học Huế dịch ra tiếng Việt, ông Viện trưởng Cao Văn Luận nhận định: “Lê Tắc quên mình là người Việt Nam, dựa vào lập trường và quan điểm nhà Nguyên để soạn tập. Chẳng hạn những lời nịnh nọt a dua của soạn giả, những đoạn văn kiêu ngạo, tự tôn tự đại trình bày trong các chiếu chỉ nhà Nguyên và trong các bài tựa danh nhân hồi ấy, đều khiến chúng ta vô cùng uất ức và đau đớn” (An Nam chí lược - NXB Thuận Hóa- 2002, tr, 8).

Còn nhắc, chỉ vì Tắc để lại bộ An Nam chí lược, bằng không, đời sau chẳng ai nhớ đến nữa với cái sự xú danh, há chẳng phải Tắc dễ nhẹ nhàng siêu thoát hơn chứ?

Lập thân, có người bằng chữ, có kẻ bằng quyền lực. Chẳng khác gì nhau. Một chữ đã viết, một quyết định đã ký đều có thể trở thành thanh danh hoặc xú danh.

Từng quan niệm, đã nhật ký dù viết cho riêng mình hay số đông thì không thể lãng tránh thời sự trong ngày. Dù tự ý thức, nhưng do hèn nhát nên y có lúc vẫn không dám. Khác với mọi ngày, hôm nay, phát lệ một chút bởi lẽ khi bàn về vấn đề sân golf đã mọc lên trong sân bay Tân Sơn Nhất, đại biểu Quốc hội Nguyễn Phước Lộc khẳng định: “Đây là việc mà nếu chúng ta không giải quyết thì lòng dân sẽ bất an”.

Vậy xin hỏi hiện nay, những gì đã và khiến lòng dân bất an?

Báo Tuổi Trẻ ngày 9.6.2017 cho biết trong kỳ họp Quốc hội vừa rồi: “Ông Đặng Thuần Phong - Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội Quốc hội, dành 7 phút phát biểu tại phiên thảo luận kinh tế - xã hội để liệt kê những điều đang làm người dân lo lắng thời gian gần đây”. Theo ông Phong là có 6 bất an. Không liệt kê ra, bởi rằng chắc ai cũng đã biết. Chẳng hạn, mà thôi. Nhắc lại làm gì? Y dừng lại với bất an này, “Thực tế rất đau lòng, trong bụng mẹ đã chạy chỗ sinh đẻ. Học phổ thông các cấp, vào đại học cũng phải chạy trường chạy lớp. Rồi chạy chỗ, chạy chức, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển. Vi phạm pháp luật thì chạy điều tra, truy tố, chạy án thậm chí chạy khỏi Tổ quốc đến nơi Việt Nam chưa ký kết về dẫn độ tội phạm để an thân”.

Lại nhớ đến câu thơ đã in trong tập Yêu một người là nuôi dưỡng đức tin:

“đôi khi tôi tự hỏi, làm thế nào để sống vui hơn?

chẳng lẽ bước xuống dòng đời là bịt tai nhắm mắt

quên hết

lố nhố lăng nhăng đang thường trực trong đời?

có những ngày buồn bã ngó mưa rơi

tôi lại hỏi giọt mưa nào chưa hề hoen ố?

có những ngày ngao ngán nắng đang lên

tôi lại hỏi làm sao không hỉ, nộ?

sống với niềm tin là đang chơi vé số

làm sao dự đoán trước điều gì?”

Dấu vết của một thời đang sống đấy ư?

Ô hô.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 4.6.2017

PDF.InEmail

 

giao-luu-bungphe65-1RTừ trái: Bụng Phệ, Lệ Chi, Lê Minh Quốc

 

Ngày chủ nhật. Khác mọi lần. Phải đi ra Đường sách. Bởi lẽ đồng nghiệp Lệ Chi ra mắt tập sách đầu tay: Bụng Phệ nhanh chân (NXB Kim Đồng). Với người viết, quyển sách đầu tiên trong đời quan trọng lắm. Không khác gì người nam/nữ lần thứ nhất trong đời se duyên kết tóc. Sau này, có trục trặc đổ vỡ, có “đi bước nữa” dù một hay hơn một lần nữa thì dấu ấn ban đầu của cuộc hôn nhân đó cũng khó quên. Dù rằng, người sau có tốt hơn người trước vạn lần nhưng rồi người đầu tiên, với họ, cũng khó có thể xóa nhòa trong trí nhớ. Suy nghĩ này, áp vào chuyện hôn nhân liệu có đúng? Không rõ. Nhưng với quyển sách đầu tay, y nghĩ đó là điều chắc chắn. Nghĩ thế, đã từng nghĩ thế. Vậy nên, khi bạn bè bồ tèo có tập sách đầu tay, lúc nào y cũng tranh thủ góp thêm một một tiếng vỗ tay là vậy.

Trên đường đi, sực nhớ lại chuyện này: Gần 30 năm kiếm sống chỉ bằng nghề viết báo, được tòa soạn phần công viết về lãnh vực văn hóa văn nghệ, đến nay, có một trường hợp y khó quên. Rằng, ngày nọ, chừng mươi năm trước, có một “tay mơ” nhảy vào làng in ấn - đã làm một cú ngoạn mục khiến các tay lão làng kinh ngạc, thán phục. Đó là lúc hắn ta cho in một quyển sách cực kỳ đơn giản, thế mà bán chạy ầm ầm.

Quyển sách này dịch từ nguyên bản nước ngoài, chỉ là những trang dành cho bà mẹ sinh con đầu lòng. Đại khái, tên tuổi, ngày tháng năm sinh; tuần lễ đầu và tiếp theo, con có những biểu hiện gì; cao bao nhiêu, cân nặng bao nhiêu ký; trang dán hình của con; trong những ngày đó, bố mẹ có những kỷ niệm gì với con; con biết nói ngày nào v.v… Chỉ đơn giản vậy thôi, sách in đẹp, khổ lớn và bất ngờ là lúc đó nó bán rất chạy.    

Thì ra, với quyển sách ấy, tựa như những trang dành cho nhật ký mà bất kỳ bà mẹ nào cũng cần sử dụng - như một cách chia sẻ kỷ niệm, tình cảm dành cho con. Và chắc chắn, sau này, một khi đã trưởng thành ắt đây là “báu vật”, là quà tặng của mẹ mà đứa trẻ nhớ nhất trong đời. Ghi lại đôi dòng từ quan sát con thuở nó còn thơ ấu, không chỉ là niềm vui mà cũng là một cách để nhận ra và khắc phục các biểu hiện của trẻ về sức khỏe, tâm lý, tính cách… nữa.

Với phụ nữ Việt Nam, trước đây, hình thức này vẫn chưa quen với nhiều người bởi một phần do cơm áo gạo tiền, chật vật kiếm sống, rồi chiến tranh, thiên tai lũ lụt… biết bao nhiêu chuyện phải lo toan, do đó, họ ít có thời gian thực hiện. Ngày nay, các “bỉm sữa” đã khác trước. Đã có không ít bà mẹ trẻ đã viết/vẽ từ cảm hứng khi quan sát con từng ngày khôn lớn.

Với đồng nghiệp Lệ Chi, lúc ra mắt sách có nhiều bà mẹ trẻ cùng tham dự. Qua trò chuyện, họ bàn về cách viết sách cho con, chia sẻ cách nuôi dạy con... Thú thật, lần thứ nhất trong đời y mới biết, điều khiến họ cảm thấy khó khăn nhất vẫn là lúc con chưa biết nói, mới bi bô bập bẹ. Khó có thể biết nó đang đòi hỏi, đang cần thiết điều gì lúc đang quấy, đang khóc để các bà mẹ có thể chăm sóc, phục vụ kịp thời. Do đó, không phải ngẫu nhiên, khi viết sách, hầu như nhiều người đã ghi lại tâm trạng bối rối này. Thử nghĩ, 20 năm sau, đứa trẻ ấy lớn lên rồi được đọc dòng chữ ấy sẽ cảm thương mẹ mình biết bao.

Và y, khi nghe cô bé lên 5 là nhân vật chính trong Bụng Phệ nhanh chân đọc bài thơ do mẹ tặng, tự dưng thấy xúc động. Lệ Chi viết: “Có lần mama đi công tác nước ngoài, giữa những ngày đó Bụng Phệ bị ốm, sốt cao. Mắt mờ tịt, tay run lẩy bẩy, cô nhóc vẫn nhắn tin cho mama báo rõ tình hình bệnh sốt. Quá sốt ruột cho Bụng Phệ, mama đã viết bài thơ ngắn diễn tả nổi nhớ của cô nhóc, nhắn lại cho Bụng Phệ, động viên cô nhóc chịu khó uống thuốc, nhanh khỏi ốm, Nguyên văn bài thơ như sau: Bụng Phệ mũm mĩm/ Hai má phính hồng/ Nhắn tin se sẽ/ Mẹ nhớ em không?/ Em luôn nhớ mẹ/ Từng ngày, từng giờ/ Mong sao sớm gặp/ Để ôm vào lòng/ Nào bụng nào mông/ Nào cái ti hồng/ Thơm thơm mùi sữa/ Ngọt hơn kẹo hồng” (tr. 70).

Nào chỉ riêng các bà mẹ, đã có những ông bố viết sách cho con đấy chứ. Xưa nay, không chỉ viết về con mà có nhiều nhà văn, nhà thơ đã lấy cảm hứng từ cháu nữa. Vừa rồi một bài thơ của nhà thơ Tú Mỡ khi đưa vào sách giáo khoa gây tranh cãi về cách biên tập, cắt xén nhưng ai cũng “chịu” đó là bài thơ hay, giàu tính giáo dục. Ngày nọ chẳng may, ông bị té, đứa cháu đến an ủi: “Đôi mắt sáng trong/ Việt ta thủ thỉ:/- Khi nào ông đau/ Ông nói mấy câu:/ "Không đau! Không đau!"/ Dù đau đến đâu/ Khỏi ngay lập tức”. Thật hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đáng yêu quá đi mất.

Y có người bạn vốn là nhà báo chuyên nghiệp đã viết hàng ngàn bài báo, đã in 2 tập sách: Bật một que diêm, Tổ quốc không có nơi xa. Đó là Lưu Đình Triều. Đọc của bạn đã nhiều nhưng vẫn thích nhất cái tạp bút viết về cu Rơm - cậu con trai út. Cảm xúc ấy rất thật, và trìu mến tình nghĩa gia đình.

“Khi lập gia đình rồi, không chỉ ngày nghỉ mà ngay cả những buối tối ngày thường nếu không phải tiếp khách, bù khú bạn bè, tôi cũng hay mon men vào bếp. Với trình độ nấu ăn chưa thoát khỏi diện xóa mù, tôi chịu lép làm anh sai vặt. Bê cái này, lấy cái kia cho vợ. Thỉnh thoảng tôi lại chõ mũi vào cái nồi trên bếp, đang tỏa mùi thơm rất quyến rũ và buông lời khen một cách thật lòng:  “Chưa ăn đã thấy ngon”...

Rồi giữa bữa ăn, hai đứa con tôi lúc kể chuyện ở trường, lúc lại chuyện bạn bè, chuyện… đủ thứ. Như cô con gái Nấm Nhỉ tuổi 14 của tôi hay thích trao đổi với bố chuyện bóng đá, về U 23, về những trận đấu mới liên quan đến Gạch Đồng Tâm, đến M.U - hai đội bóng mà nó yêu mến… Những câu chuyện phiếm, không đầu không đũa, thỉnh thoảng sau bữa ăn lại tiếp nối ở khoảng sân nhỏ trước nhà, giữa 2 vợ chồng tôi. Bộ ghế đá nhỏ, cây cau kiểng đang vươn cao như muốn thoát khỏi kiếp kiểng, giàn bông giấy rậm rạp tạo vòm che tự nhiên trước nhà… Tất cả đều đã quá quen thuộc hàng chục năm nay rồi, nhưng sao có những tối ngồi bên chúng, tôi vẫn có cái cảm giác lâng lâng. Cái lâng lâng của một sự yên bình, thanh thản đến dễ chịu…

Sân nhà tôi còn là nơi để cu Rơm đặt công cụ thư giãn. Mới 6 tuổi nhưng Rơm đã có quá trình mê cá được vài năm. Thỏa lòng con, cả hai vợ chồng bỏ cả một buổi sáng lùng mua một chậu gốm cao, giữa đặt một tượng người cầm bình tưới nước… Bên dưới như một cái hồ nhỏ mà cu Rơm bắt bố phải mua lần lượt nhiều loại cá về thả vào. Chiều chiều, ngày nghỉ, cu cậu hay lảng vảng quanh bồn, lúc ngắm nhìn say mê những chú cá lượn lờ, lúc cặm cụi bỏ thức ăn vào cho  cá. Những tiếng cười giòn tan, hay ngược lại, những giọt nước mắt cũng lắm khi từ bồn cá mà ra. Ấy là những lúc cá mới sinh con, hoặc có chú cá nào đó bỗng dưng nằm chỏng bụng trắng hếu…

Nói về nước mắt hay nụ cười trẻ con thì bậc làm cha làm mẹ nào cũng đều cảm thấy đôi khi chúng có giá trị gần như nhau - chúng kéo ta lại gần hơn với trẻ, tạo ra trong  ta  một cảm giác ấm áp, một sự trìu mến da diết.. Một “bồ tèo” của tôi ở Hà Nội -  NSƯT Trịnh Lê Văn, thường hay khoe trong bàn nhậu về tiếng cười, tiếng nói của con mình. Anh bảo sau một ngày thừ người với hội họp, nhức mắt với màn hình vi tính, về đến nhà nghe tiếng con - mới lên 3 bi bô là cảm như mọi mệt nhọc trong người đều tan biến... Tôi hoàn toàn chia sẻ với bạn mình về điều này. Thậm chí phải động tay, động chân hơn, đổ mồ hôi vì lăn lê bò toài chơi trò bắn nhau với đối-thủ-con, tôi vẫn xem như một loại lao động chân tay cần có để cân  lại lao động trí óc diễn ra thường xuyên trong ngày.

Sân nhà, những bữa ăn, những bộ phim truyền hình, DVD cả nhà cùng xem và nhiều công việc linh tinh, lặt vặt khác mà tôi phải “ra tay”như đóng lại cái mắc áo lên tường chẳng hạn, tôi cho rằng chúng đều ít nhiều chuyển tải một lượng vitamin thư giản. Sâu xa hơn chúng hướng tới một đích đến chung: chia sẻ lẫn nhau, tạo sự gần lại với nhau giữa những thành viên trong gia đình...

Trên một tờ tạp chí mới đây, cô diễn viên 20 tuổi Tăng Thanh Hà có nhận xét  rằng những chia sẻ nhỏ nhoi vẫn tạo cho người ta sự hạnh phúc. Vâng! Tôi cũng đã chìm trong cái bể hạnh phúc đó để tìm thấy  thêm một giá trị khác: lấy lại được sự cân bằng trong mối quan hệ giữa mình với công việc,với bạn bè,với vợ con về một tuần mới trôi qua hay nghìn ngày như chưa xa”.

Cảm giác ấy là niềm vui của người đàn ông đã làm chồng, làm cha. Còn y? Dám quả quyết rằng, khi các bậc phụ huynh lấy cảm hứng từ con mình để sáng tác thì cũng là lúc từ câu chuyện có tính cách riêng tư ấy, lại mang tính phổ quát dành cho nhiều người. Thật đấy. Với tập thơ Nghệ thuật làm ông của văn hào Victo Huygo là một thí dụ tiêu biểu: “Đẹp sao con trẻ! Với đôi môi chum chúm đáng yêu/ Lòng em dịu hiền tin cậy, giọng em muốn nói muôn điều/ Tiếng khóc em dễ dàng chóng nín/ Đưa mắt khắp nơi nhìn ngạc nhiên thương mến” (Xuân Diệu dịch). Lẩn thẩn nghĩ rằng, những đứa trẻ lên năm như Bụng Phệ, Việt, cháu của Victo Huygo, cu Rơm v.v… sau này lớn lên, đọc/nhìn lại những gì đã được bố mẹ, ông bà ghi/vẽ lại khoảnh khoắc của thời thơ ấu ấy sẽ sung sướng, hạnh phúc biết dường nào?

Vậy thì, tại sao mỗi một chúng ta không thử bắt tay vào ngay trong ngày hôm nay? Tại sao không thực hiện cái điều mà nhiều người đã từng ao ước, như Xuân Diệu chẳng hạn. Ông thủ thỉ, tâm tình: “Tôi ao ước, riêng cho mình, được làm một tập thơ chuyên nói lòng cha mẹ, ông bà, cô, bác, người lớn yêu thương trẻ con; khi mà đã yêu thương chúng thì yêu lạ lùng, yêu đến da diết, thiết tha; tóc chen những sợi bạc rồi, càng thêm tuổi, càng yêu mầm non, măng non, trẻ con, ánh sáng (Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy, NXB Tác phẩm mới - 1978, tr.298).

Lúc tâm tình cùng các bà mẹ trẻ, tác giả Bụng Phệ nhanh chân cho biết: “Cuốn sách như một cuốn nhật ký ghi lại năm tháng trưởng thành của bé, từ hồi bé xíu xiu, cho đến khi đi nhà trẻ rồi vào tiểu học. Bên cạnh những tình huống cười ra nước mắt về sự hồn nhiên của con trẻ, cuốn sách cũng như một lời kêu gọi các bậc phụ huynh nên dành thêm thời gian cho con cái, để quan sát từng ly từng tí những thay đổi về tâm lý của con, cùng chung tay với con trải qua mọi buồn vui trong những ngày đầu bỡ ngỡ khi đến lớp, khi va chạm với bên ngoài”. Cô nói đúng lắm. Y tin rằng nhiều người đồng tình.

Kỷ niệm đầy ắp tình yêu thương ấy, ai cũng có và cũng có thể tạo ra ngay từ trong ký ức của con, cháu mình. Có nhiều cách lắm. Ở đây, y vẫn nghĩ đến phương thức ghi lại nhật ký cho con, từ cái thuở: “Ngủ yên, ngủ yên, cò ơi, chớ sợ/ Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng/ Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân/ Con chưa biết con cò con vạc/ Con chưa biết những cành mềm mẹ hát/ Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân” (Chế Lan Viên). Tình cảm ấy, cuốn sách ấy, sau này trên đường đời vạn dặm sẽ mãi mãi là lửa ấm để đứa trẻ nhớ ơn về đấng sinh thành…

Với y, không hề có được những dòng nhật ký mà ba/mẹ đã ghi lại từ năm tháng tuổi thơ. May quá, như nhiều người khác, y lại có những tấm ảnh chụp từ bé dại. Nhìn mãi mà không chán, có lần cao hứng ư hử ngâm đôi câu thơ vừa vọng đến: “Cái thời thơ dại trôi xa lắc/ Nhìn ảnh, lòng ta gió hóa trầm/ Cái thời hoa mộng trong trẻo quá/ Bao giờ quay lại thuở lên năm?”. Tấm ảnh ấy hoặc nhật ký/ tập sách ấy mà ba mẹ đã dành cho con - món quà ấy, cực kỳ quý báu, vì thế bất kỳ ai nếu có cũng đều trân trọng và gìn giữ mãi mãi.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 2.6.2017

PDF.InEmail


TN_CN_GN_Paulus_Cua

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 26.5.2017

PDF.InEmail

images1811317_1

 

Chiều. Trời mưa. Rồi tạnh. Ngồi nghĩ vẩn vơ. Nghĩ rằng, giá trị vật chất cụ thể có tính khái quát, tiêu biểu cho văn hóa người Việt, trước nhất cần phải kể đến cái đình.

Qua đình ngả nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu

Trong tác phẩm Triết lý cái đình (NXB Hội Nhà văn - 2017), nhà văn hóa Kim Định cho rằng: “Cái đình có thể coi là đỉnh chót vót của nền văn minh Viêm Việt. Nền văn minh này đặt nền tảng trên gia đình, nhiều gia đình họp thành khu, xóm, ấp và đợt cuối cùng là làng. Nhà của làng là đình” (tr.29); “Đình là nơi hội tụ nhiều gia đình. Nói khác, đời sống cái đình cũng một loại với đời sống gia đình, nếu ở gia đình có ăn uống thì ở đình cũng có đình đám tức cũng là ăn uống, khác hẳn với việc làm khi người ta đến chùa cầu kinh chứ không phải để ăn uống như có thể xảy ra ở đình. Như vậy đình là nơi tụ họp của dân làng trong những ngày tư, ngày tết, ngày lễ lạt, ta quen gọi chung là đình đám. Chữ đám gắn liền với chữ đình làm tỏa ra cho các giác quan khứu, thị, thính, cảm một vẻ tưng bừng thơm ngát với những nét hân hoan tràn đầy sinh thú, những khuôn mặt say sưa” (tr.32).

Đình làng - nơi gắn kết các cư dân trong làng, sự gắn kết ấy được bao bọc bằng lũy tre làng, nó bền vững đến độ “Phép vua thua lệ làng”. Có thể dẫn chứng được không ? Tất nhiên là có. Hãy chọn lấy một chi tiết mà nhà thơ Hoàng Cầm đã kể lại. Với các nhà nghiên cứu, khi dẫn chứng một điều gì cần phải có nguồn trích dẫn từ tài liệu nào, bản in năm nào, nhà xuất bản nào, trang nào, tác giả nào v.v… vì khi cần, bạn đọc có thể kiểm chứng mức độ chính xác của thông tin đó. Với thông tin của nhà thơ Lá diêu bông lại không có những động tác đó, có thể ông đã từng nghe các cụ trong làng kể lại.

Câu chuyện kể - ký ức của cư dân trong cộng đồng cũng là một phần của lịch sử, dù rằng, sự kiện đó có thật nhưng sau đó cũng có thể đã được/bị thêm bớt qua thời gian, qua nhiều thế hệ sau. Mỗi người kể lại, dẫu từ cốt lõi đó nhưng nó đã “gia cố” qua lăng kính của họ. Vì thế, không ít sự kiện lịch sử đã nhuốm màu huyền thoại, giai thoại là vậy. Ký ức của cộng đồng còn sót lại trong các gia phả của mỗi nhà, trong câu chuyện kể từ đời này qua đời nọ tại mỗi địa phương, trong các bản hương ước do mỗi làng, xã quy định… Nhờ vậy, khi tìm hiểu về phong tục Việt Nam, ta mới thấy hiện rõ nhiều thông tin cực kỳ lý thú mà chưa chắc chính sử đã ghi chép.

Hãy trở lại với Hoàng Cầm. Ông cho biết: “Phép vua thua lệ làng”. Triều đình lắm khi thua cái đình. Ví dụ như thời chúa Trịnh, lính triều đình về bắt lính, cả đến người 50 tuổi, nhưng lệ làng đã định ra cái lệ “lên lão” ngay từ cái tuổi 45, lại ví dụ quân chúa Trịnh về bắt gái đẹp làm hầu trong phủ chúa, đến làng Chè (Hà Bắc) thì lệ làng đã định rằng con gái có nhan sắc từ 17 đến 25 tuổi đều đã là tì thiếp của thành hoàng rồi. Ai cướp đi một người thì thành hoàng bắt mất mùa một năm, bắt ba người thì mất mùa liền ba năm. Bô lão bảo vệ các cháu gái, lính nhà chúa đành rút lui” (Kiến thức ngày nay - số 15.2.1994).

Đình làng đã tồn tại hàng ngàn năm, ghi dấu ấn sâu đậm trong suy nghĩ, ý thức của mỗi con người. Sự tích cực của nó, xưa nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, không nhắc lại. Nhưng bên cạnh đó, “văn hóa cái đình” có kéo theo sự tệ hại gì?

Mỗi làng có một luật lệ riêng, dẫn đến sự cát cứ của địa phương. Lắm khi chính sách của trung ương hiệu lực trên cả nước nhưng lại vướng ở các vùng. Tư duy “Phép vua thua lệ làng” sẽ phá hỏng kỷ cương phép nước. Những lễ hội bị chỉ trích là dã man, mông muội như kiểu đâm trâu, chém lợn được đề nghị bỏ đi nhưng vẫn không thể bỏ vì “làng” không chịu, chính quyền cũng bất lực.

Dân gian đã đúc kết: “Một người làm quan, cả họ được nhờ”. Sự tệ hại ấy đã dần dần thay đổi, trước kia, các vua chúa thời quân chủ đã ra “luật hồi tị” và nay từ các nghị định, văn bản hành chánh của chính phủ đã ban hành, nhưng rồi làm sao có thể giải quyết triệt để? Vẫn còn nhiều, khá nhiều trường hợp ở địa phương nọ có cả dòng họ nọ nắm hết cương vị chóp bu trong làng, huyện, xã... Ngoài chuyện “một người làm quan” còn là suy nghĩ “Miếng giữa làng hơn sàng xó bếp”, vì thế, một khi đã nắm quyền lực, họ lại càng tìm mọi thủ đoạn chia phần “miếng” đó cho con cháu, dòng tộc nhà mình.

Ở nhiều ban ngành, đoàn thể hiện nay vẫn có tư duy “đình làng” đó. Nếu không làm sao họ có thể ban hành những văn bản quản lý đứng trên cả luật, thậm chí trên cả hiến pháp? Mới đây, khi Cục Nghệ thuật biểu diễn nổi hứng cấp phép phổ biến Quốc ca, đại biểu Quốc hội Lưu Bình Nhưỡng, Ủy viên Thường trực Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội phân tích: “Quốc ca đã được Quốc hội thông qua, ghi rất rõ trong điều 13 của Hiến pháp. Vậy nên một khi cấp phép cho “Quốc ca” thì cái giấy phép ấy đã "trèo" lên quy định của Hiến pháp, là một sự vi phạm pháp luật” (Báo Người Lao động ngày 24.5.2017).

Một thời dư luận xã hội rộ lên những đàm tiếu, cười cợt với dự thảo của Bộ Y tế, quy định tiêu chuẩn người dân muốn đủ điều kiện lái ôtô và xe máy phải đáp ứng được 83 tiêu chuẩn về sức khỏe. Trong đó, tiếu lâm nhất vẫn là “phải có vòng ngực trung bình không dưới 72 cm”! Nghe ra quá khôi hài.

Những tưởng những văn bản ấy chỉ xẩy ra một, đôi lần và sẽ chấm dứt khi “nghiêm khắc rút kinh nghiệm”. Nào ngờ, nó vẫn tiếp tục tái diễn ở các ban ngành khác. Các nhà bình luận khẳng định nguyên nhân nằm ở  trình độ, nhận thức của tầng lớp lãnh đạo mà ra. Y lại không nghĩ thế. Những người đứng đầu ban ngành đó có thể vẫn thừa biết không đúng, không phù hợp trong bối cảnh chung của xã hội, thậm chí là vô cùng ngớ ngẩn; nhưng rồi, họ vẫn cứ ung dung đặt bút ký như không.

Suy nghĩ ấy là do ảnh hưởng từ tiêu cực của “văn hóa cái đình”. “Làng” của mình tức ban ngành của mình là nhất, là một cõi đặc thù riêng biệt, là có quyền cát cứ một lãnh địa cụ thể. Do đó, họ cứ ra quy định - những quy định có lợi nhất cho “làng” của mình, bất chấp các quy định chung của Nhà nước. “Phép vua thua lệ làng”. Cùng lắm, “Liệu công mất một buổi quỳ mà thôi!” (Truyện Kiều); bằng không, các văn bản đó cũng thể hiện được quyền lực của cái quyền đang nắm trong tay.

Sự tệ hại hại này, theo y mới là then chốt dẫn đến sự việc ấm ớ đã xẩy ra. Và đã đến lúc cần phải thay đổi từ trong nhận thức. Thay đổi ở chỗ một khi làm việc nước tức làm chung cho sự vận hành chung của một đất nước, cho lợi ích của toàn dân, chứ không phải riêng biệt cho mỗi “làng” mình.

Nghĩ vẩn vơ đến đây, có thể dừng bút rồi chăng?

Tất nhiên. Nào có ai bắt buộc. Mà thôi, cứ nhẩn nha thêm đôi dòng nữa, cho hết một buổi chiều. Âu cũng là cái thú người thích viết. “Vậy, viết thêm gì nữa hả Q?”. Chưa rõ nữa. Thôi thì, thử nghe lại ca khúc Làng tôi của Văn Cao: “Làng tôi xanh bóng tre/ Từng tiếng chuông ban chiều/ Tiếng chuông nhà thờ rung/ Đời đang vui đồng quê yêu dấu/ Bóng cau với con thuyền, một dòng sông…”. Ai nghe cũng cứ nghĩ người nhạc sĩ tài hoa viết cho làng của mình. Hễ trong nghệ thuật xuất hiện hình ảnh cây đa, bến nước, mái đình, tiếng chuông chùa/nhà thờ, giếng/ao làng… và nhất là bóng tre xanh, lập tức thấy hiện lên rõ mồn một không gian làng quê ở Việt Nam.

Nhà thơ Đoàn Văn Cừ là thi sĩ của làng quê ngày Tết, bởi lẽ hễ đọc bài thơ Chợ Tết dù ở độ tuổi nào, ngay lập tức trong lòng người ta vẫn dậy men nỗi xốn xang như thuở còn trẻ nhỏ nắm áo mẹ đòi theo ra chợ. Y thích nhất câu: “Con gà trống mào thâm như cục tiết/ Một người mua cầm cẳng dốc lên xem”. Câu thơ tả thực đến độ dẫu không phải nhà thơ đi nữa thì ai cũng buột miệng kể lại vậy thôi. Câu thơ giản dị, thô mộc nhưng lại giàu sức sống. Khó quên trong trí nhớ.

Đọc thơ Đoàn Văn Cừ, lúc nào y cũng cảm động với những câu như: “U tôi ngày ấy mỗi mùa xuân/ Dặm liễu mây bay sắc trắng ngần/ Lại dẫn chúng tôi về nhận họ/ Bên miền quê ngoại của hai thân“. Phải đến một tuổi nào đó, khi đọc những câu thơ bình dị này, người ta mới thấm thía, mới thấy nhịp thời gian trôi qua chóng vánh, khốc liệt trên mỗi phần đời. Không gì níu kéo lại nổi. Ngày mẹ còn son trẻ. Ngày mình còn thơ dại. Ngày Tết theo mẹ về quê. Ký ức thiêng liêng ấy đã là một phần máu thịt của ký ức. Mỗi lần nhớ lại, ai ai cũng bùi ngùi vì một lẽ tự nhiên, rồi lại thốt lên từ sâu thẳm của lòng mình: “Ngày ấy, còn có mẹ“.

Được mẹ dẫn về ngoại, ngày thơ bé, y cũng có nỗi sung sướng, hân hoan ấy, có điều, về thăm ông bà ngoại chỉ một đọan đường ngắn, nằm trong kiệt 7 đường Hoàng Diệu, không thể mở ra một tầm mắt, một cái nhìn: “Chiều mát, đường xa nắng nhạt vàng/ Đoàn người về ấp gánh khoai lang/ Trời xanh, cò trắng bay từng lớp/ Xóm chợ lều phơi xác lá bàng“. Còn nhớ, đầu ngõ vào nhà ngoại thuở ấy là bãi tha ma. Bao nhiêu kỷ niệm tuổi thơ với các trò chơi thả diều, trốn tìm... cũng là từ nơi đó. Nay, đã là dãy nhà ngang dọc của nhiều căn hộ. Dấu vết xưa không còn nữa. Ngay cả cái giếng nhà ông ngoại cũng không còn nữa. “quay về tuổi thơ không gặp ai/ chỉ gặp trên mái ngói tiếng chim lăn dài/ hàm răng nghiến chặt/ em đi qua vườn bàn chân dè dặt/ bước khẽ thôi lá rụng buồn tênh/ ngôi nhà mới mọc lên/ ai cũng có một đời sống riêng/ với nhiều lo toan với nhiều mệt mỏi…”. Những câu thơ đã viết từ năm 1999, đọc lại vẫn bùi ngùi thương nhớ…

Bấy giờ, khu vực nhà ông ngoại của y, làng xóm vẫn còn trồng tre xanh. Các lũy tre ấy, nay, không còn nữa. Những đình làng Nam Dương, Hải Châu, nay, cũng đã tàn tạ theo thời gian hoặc đã “chuyển đổi công năng”. Nếu học trò thành phố cùng thế hệ các cháu của y, cô giáo ra tập làm văn: “Hãy tả lũy tre làng mà em đã thấy”, các cô cậu sẽ bí rị, tha hồ ngồi cắn bút chăng? Chưa chắc. Biết đâu, từ hình ảnh đã thấy trên internet, các cháu sẽ tả ngon lành? Nhưng cô giáo bảo tả “ngòi bút lá tre” ắt các cháu sẽ botay.com.

“Làng tôi xanh bóng tre”. Có lúc tự hỏi, tại sao làng quê Việt Nam phải có lũy tre làng? Có ai giải thích giúp? Câu hỏi ấy, đã tìm ra câu trả lời từ một sử gia người Pháp, ông Pierre Gourou (1900-1999), tác giả quyển Người nông dân châu thổ Bắc kỳ - nghiên cứu địa lý nhân văn, in năm 1936 tại Paris. Công trình nghiên cứu giá trị này, mới đây thôi, năm 2015, NXB Trẻ, Viện Viễn đông Bác cổ Pháp và tạp chí Xưa và Nay đã phối hợp ấn hành bản tiếng Việt.

Hãy đọc: “Làng được bao bọc bằng một lũy tre mà các cành dày đặc và có gai tạo thành một lũy bảo vệ có hiệu quả chống trộm cướp. Làng hết sức chú trọng đến bờ lũy đó, nhiều hình phạt được quy định đối với những ai chặt tre không có phép, ngay cả những búp măng; trong những khoản phạt do làng quy định bao giờ cũng nói đến tiền thưởng đối với những người tố giác. Cũng với việc chống những tai họa đến từ bên ngoài, lũy tre con là một thứ ranh giới thiêng liêng của cộng đồng làng xã, dấu hiệu của cá tính và tính độc lập của làng. Vào thời loạn lạc, một làng đã tham gia vào cuộc nổi dậy hay cho những  kẻ phiến loạn trú ẩn, hình phạt đầu tiên là bắt phá bỏ lũy tre. Đấy là một vết thương lớn đối với lòng tự trọng, một dấu hiệu nhục nhã; làng đó cảm thấy như một con người bị lột quần áo và bỏ truồng giữa một đám đông đang mặc quần áo” (tr.282).

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 22.5.2017

PDF.InEmail


Trang_sch1R

 

Ngồi dưới một vòm lá xanh

Tháng giêng bước đến tôi thành trẻ thơ

Tay không vướng chút bụi mờ

Lòng thanh thản lật từng tờ giấy ngoan

Tôi ngồi đọc sách hân hoan

Bao nhiêu ý tưởng rộn ràng vây quanh

Tưởng chừng như chiếc lá xanh

Và tôi phút chốc hóa thành tháng giêng

Ấy là cảm giác, một hình ảnh khó quên trong ký ức. Mỗi lần nhớ lại, y vẫn còn giữ nguyên sự cảm phục: Một buổi trưa, vừa bước ra ngoài hiên đứng ngó đất nhìn trời, bất ngờ, thấy một chiếc xích lô dừng lại trước cửa nhà. Từ trên xa bước xuống là chị gái của y, ối dào, trên tay chị kệ nệ là sách, được gói cẩn thận, có cả nơ xanh, đỏ đính theo.

Sau khi chị bước vào nhà, y mới biết đó là phần thưởng của nhà trường dành cho học sinh giỏi. Những quyển sách ấy, chị cho mượn đọc, với y, từ năm tháng tuổi thơ là “bè bạn” chân tình. Y đã đọc ngấu nghiến, đọc từng trang và ước mơ sau này cũng được thầy cô tặng phần thưởng là sách. Bấy giờ, phần thưởng nhà trường dành cho học trò chỉ là sách.

Suôt năm tháng tiểu học, rồi sau này lên bậc trung học, thế hệ y đã bước đầu làm quen với sách từ niềm vui trong trẻo như thế.

Ngoảnh lại với thời gian, chẳng ngờ, bây giờ không phải đứa trẻ nào cũng có niềm vui ấy. Đơn giản chỉ là, do không có nhiều thời gian đưa con đi nhà sách, tự tay lựa sách cho con; vì thế, lúc con ngoan, đạt điểm cao hoặc nhân sinh nhật, dịp vui nào đó, bố mẹ chỉ chọn cách “nhanh, gọn, lẹ” bằng câu hỏi: “Con thích gì, ba mẹ mua cho con”. Câu hỏi ấy, đơn giản nghĩ rằng, cho con chọn tức đã khiến con hài lòng, thích thú với món quà đó. Mà ở đứa trẻ, sự yêu thích sách không phải ngẫu nhiên mà có. Nó còn cần được sự tác động, định hướng, hướng dẫn từ các bậc phụ huynh nữa.

Làm thế nào để thay đổi một quan niệm về cách tặng quà? Khó lắm. Khó ở chỗ hiện nay, thói quen tặng sách cho con, tặng cho người thân hầu như không còn mấy ai chú trọng. Nghĩ rằng, một khi đã tặng thì phải tặng vật gì đó đắc giá, “đáng đồng tiền bát gạo”, không “đụng hàng” càng tốt ắt mới đẳng cấp, sang trọng và người nhận mới hài lòng. Dần dần mọi người mặc nhiên thừa nhận phải là vậy. Tặng sách à? Dễ quá. Giá tiền chẳng bõ bèn gì, ai cũng có thì có gì là “độc”?

Nghĩ thế là sai lầm.

Khi tặng một/nhiều quyển sách cho ai đó, tức bản thân ta đã biểu lộ sự tôn trọng về tri thức, nhân cách, sự am tường của người đó. Rồi sau này, có dịp, ta cùng người đó tranh luận, trao đổi, chia sẻ về những câu chuyện, triết lý, vấn đề trong những quyển sách đó, há chẳng phải là tri kỷ, tri âm cùng có chung thú vui tao nhã đó sao?

Thuở sinh thời, khi đến thăm chung cư cao cấp của người dân, Thủ tướng Lý Quang Diệu đã từng phàn nàn là ông không thấy ở đó có sách, tranh nghệ thuật. Sự đáng tiếc đó, ở nước Nam ta cũng đang dần xẩy ra trường hợp tương tự. Y đố ai vào các chung cư hiện nay mà thấy chủ đầu tư có bố trí phòng đọc sách dành cho cư dân nơi đó. Hầu như không có. Ngày kia, có một bạn văn đã làm một điều khiến y cảm động và thán phục: Sau nhiều năm công tác tại nhà xuất bản, được sở hữu một số lượng sách không nhỏ, lúc về hưu chị đã dành tặng toàn bộ cho khu chung cư đang ở. Chị mong muốn rằng, nơi này, phải có thư viện mi ni dành chung cho mọi người. Việc làm này, sau đo đã được nhiều người chung tay tiếp sức.

Y nghĩ, để hình thành một thói quen, trước hết, phải có người thắp lên ngọn lửa từ những việc làm tốt đẹp. Dần dần, nó mới có sức lan tỏa từ sự kết nối của nhiều nơi, nhiều chốn.

Vấn đề tặng quà là sách cũng vậy thôi. Hãy bắt đầu từ mỗi chúng ta, ngay từ trong gia đình mình. Và chắc chắn những quyền sách đó sẽ là bạn đồng hành cùng người được tặng. Rồi lúc nhìn sách, họ sẽ nhớ đến người đã tặng. Đành rằng, các món quà khác cũng vậy nhưng quà là sách thì không chỉ là sách mà ở đó là những con chữ mở ra biết bao điều cần nói mà người tặng muốn gửi gắm.

Không phải ngẫu nhiên, có những người nhờ đọc sách mà thay đổi cuộc đời của mình. Y mạo muội nghĩ thêm rằng, một khi thay đổi thói quen là tặng sách cho nhau, có lẽ, từ đó sẽ nẩy sinh ra một mối quan hệ bền vững hơn mà cũng tri thức hơn. Còn nhớ, nhà văn Vũ Trọng Phụng từng chia sẻ với đồng nghiệp về sự tệ hại của gia đình nước Nam ta, đó là sự khoe mẽ. Bởi khi bước vào một căn nhà, chỗ trân trọng nhất lẽ ra phải là kệ sách/tủ sách thì người ta lại trưng bày một tủ rượu Tây!

Nói đi cũng phải nói lại. Trách làm sao được, bởi do mối quan hệ lâu nay, họ chẳng hề được tặng sách mà chỉ được tặng rượu thì sao? Thế thì, gia chủ cần xem lại chính mình. Cả đời không đọc sách, không yêu quý sách thì hà cớ gì người ta phải tặng sách? Một khi mình có yêu, có thích thì người ta mới biết mà “gãi đúng chỗ ngứa” chứ?  

Đúng lắm. Y có chị bạn đang làm ở HTV, hễ đến ngày sinh nhật của chị, luôn có món quà mà chị yêu thích nhất: Những quyển sách do cô con gái chọn mua tặng mẹ. Biết mẹ thích sách, cô nhóc đem lại niềm vui cho mẹ bằng cách đó. Hơn nữa, bản thân cô nhóc cũng thích sách bởi ngay từ lúc còn bé, người mẹ cũng đã từng tặng sách, tập thói quen thích đọc sách cho con.

Nhân đây, y ghi lại kinh nghiệm của bạn Nguyễn Hà (Vĩnh Phúc) đã “hiến kế” tạo thói quen đọc sách cho con - mà chị bạn ở HTV của y chắc cũng từng thực hiện: “Mỗi ngày đọc được 1 quyển sách thì cuối tháng bọn trẻ được chọn 1 món quà. Có thể là đồ chơi, đi chơi công viên hay ăn bún, cơm rang ở nhà hàng chúng thích. Một vài tháng tổ chức một bữa tiệc sách tại nhà. Sẽ có 5-7 bạn con bạn thân bố mẹ hoặc bạn học đến nhà cùng đọc sách và đánh chén pizza, mỳ Ý hay cơm cuộn. Rồi cả bọn sẽ thi nhau kể chuyện, ai được nhiều người bầu nhất sẽ có quà là dụng cụ học tập. Vậy mà rất hiệu nghiệm. Lũ trẻ coi đọc sách là trò chơi thú vị, có cạnh tranh, có thưởng và nhất là biết nhiều câu chuyện mới thú vị”.

Hãy bắt đầu từ một thói quen tốt, phải là từ gia đình của chính mình. Và y nghĩ, một khi xã hội hình thành thói quen thích đọc sách, tặng sách cho nhau, chính điều này sẽ góp phần thay thế cho một định lượng về giá trị của đẳng cấp mà lâu nay đã định hình trong cộng đồng.

Trở lại với kỷ niệm cũ từ năm tháng tuổi thơ, y nghĩ gì? Rằng, bà chị ruột đã mất, đã về suối vàng, những quyển sách mà chị nhận phần thưởng ngày xa xưa ấy cũng đả mất. Vậy nhưng, những gì đã đọc, những dòng chữ từ trang sách ấy vẫn còn, vậy chị y vẫn còn chứ nào đâu đã mất. Đúng không nào?

Tay không vướng chút bụi mờ

Lòng thanh thản lật từng tờ giấy ngoan

Tôi ngồi đọc sách hân hoan

Bao nhiêu ý tưởng rộn ràng vây quanh

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 18.5.2017

PDF.InEmail

unnamedcabn_loi

 

Nói tóm lại, rốt cuộc, cuối cùng, sau chót là y vẫn sử dụng cái “cùi bắp”, dù không ít bạn bè chê “củ chuối”. Chẳng sao cả, cái điện thoại di động quan trọng là thế nhưng y vẫn chỉ thích mỗi chức năng nhắn tin. Nếu có ai đó, có thể đọc hết các tin nhắn trên máy điện thoại của hạ? Chuyện gì sẽ xẩy ra?

Sáng nay, tình cờ đọc trên trang mạng nọ, bèn cười với những hình ảnh chụp lại từ tin nhắn. Chỉ có thể là trao đổi giữa mẹ với con gái. Tự dưng có cảm giác vui vẻ và thêm quý trọng tình mẫu tử của họ. Sức mấy, còn lâu, y mới có thể sống trong sự tếu táo, tinh nghịch, vui nhộn này. Mà trước khi chép lại, cần liệt kê ra một vài từ mới, với y chưa thể giai thích rành rọt, dù hiểu nghĩa. Thì ra, cách viết trên mạng của giới trẻ cũng đã khác trước nhiều lắm rồi. Chẳng hạn, cạn lời, quỳ lời, bói chữ, lầy/lầy lội, xì tin, bá đạo, quách tĩnh, bắt bài, troll, chất v.v…

“- Không biết đã bao giờ con nói với mẹ chưa nhỉ? Con yêu mẹ.

- Hôm nay, con định đi đến sáng hả con?

Lời bình: Mẹ vẫn "quách tĩnh" lắm, "bắt bài" nịnh nọt nhanh như một cơn gió!”.

Trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung có nhân vật Quách Tĩnh. Giới trẻ vận dụng luôn bởi từ “tĩnh” hiểu theo nghĩa bình tĩnh/tĩnh táo. Cũng tựa như đã hình thành cụm từ “Yết Kiêu” để chỉ những ai kiêu căng; hoặc lúc uống bia: “Dzô! 1,2, 3 dzô! Bắc Cạn!” là ngầm hiểu nghĩa của nó nằm ở từ “cạn”. Phải uống cạn. Uống 100%, không để lại “long đền”, không còn cặn, không còn một giọt nào trong ly.

“Bắt bài”, Việt Nam tự điển (1970) của Lê văn Đức và Lê Ngọc Trụ giải thích: “Bắt những con bạc đang ăn thua trong sòng: “Bắt bài phải có tiền tang”. Hát đối đáp theo nhịp trống trong tuồng hát bội giữa một đào một kép, chân quỳ chân chống, lưng day lại, ở hai góc sân khấu”. Theo nghĩa thứ nhất, “bắt” là bắt bớ nhưng người đang sát phạt trong sòng bài. Nhưng ở  mẩu đối thoại của tin nhắn thì “bắt bài” lại hoàn toàn không liên quan.

“Bài” có nhiều nghĩa, ở đây hiểu theo nghĩa là mưu chước, mưu kế, mánh lới. Trong Truyện Kiều, nhiều lần Nguyễn Du sử dụng “bài” theo nghĩa này: “Chiến hòa sắp sẵn hai bài/ Cậy tay thầy, thợ mượn người dò la”; Nàng rằng: Muôn sự ơn người/ Thế nào xin quyết một bài cho xong” v.v…

Vậy, cụm từ “bắt bài” hiện nay đang sử dụng, ta hiểu là ý định, kế hoạch, mưu chước của người này dù không nói ra, không tiết lộ nhưng người kia đã biết tỏng tòng tong, đã “đi guốc trong bụng”, đố mà giấu mà cãi.

“- Mẹ ơi, hôm qua con mua cho ông xã của mẹ một đôi giày, mẹ nhận được chưa ạ?

- Không nhận, có phải của tôi đâu mà tôi nhận?

- Không phải của mẹ nhưng cũng của nhà mẹ mà?

- Không quan tâm.

Lời bình: “Mua cho ông xã của mẹ chứ có phải mua cho mẹ đâu mà nhờ nhận hộ như đúng rồi!”.

Không rõ, do đâu ông xã/bà xã trở thành tiếng lóng để chỉ người chồng/ vợ. Phải chăng cách gọi tếu táo này là nhại theo chức vụ xã trưởng - người đứng đầu chính quyền trong một xã? Hay do ảnh hưởng từ tên gọi Xã Xệ - một nhân vật ngớ ngẩn, mập ục ịch, tốt bụng cùng cặp kè với Lý Toét ốm cà tong cà teo? Khó có thể quả quyết một cách rành rọt. Cách gọi này thân mật, chan chứa tình cảm yêu thương.

“- Con yêu mẹ.

- Cháu trả điện thoại lại cho con cô đi nhé. Mượn điện thoại bạn rồi nhắn tin linh tinh như thế không hay đâu.

Lời bình: "Đây là giọng ai, không phải giọng con tôi…".

“- Bố bảo mẹ đi mua thuốc cảm cho con đấy.

- Đừng nói chuyện với tôi, cô có biết tôi là người nổi tiếng không?

- Con nhức đầu lắmmmm…

- OK, hy sinh một chút cho fan vậy”.

Lời bình: Mẹ rất ít khi "troll" những một khi đã "troll" thì phải "chất" như này này!  

"Troll" là gì? Từ điển wikipedia giải thích: “Troll, người khổng lồ độc ác là nhân vật trong Thần thoại Bắc Ấu được mô tả dưới dạng một loài sinh vật đáng sợ”. Gần đây, bộ phim Trolls của đạo diễn Mike Mitchell (Mỹ) trình chiếu tại Việt Nam, dịch “Quỷ lùn tinh nghịch”. Suy luận ra rằng, “troll” trong mẫu đối thoại trên hiểu theo nghĩa là lúc bà mẹ nghịch đùa, tếu táo, tinh nghịch chứ không hiểu theo nghĩa gốc mà từ điển đã cho biết. Còn “chất” dứt khoát là cách nói gọn của “chất lượng”, là “đâu ra đó”, không chê vào đâu được.

“- Mẹ ơi, hôm nay con đọc được trên báo, người ra bảo hồi bé mà đánh mắng trẻ con để dạy chúng chẳng có tác dụng gì đâu. Giờ mới biết hồi đó mẹ đánh con  mất công rồi.

- Mất công gì đâu, hồi đó mẹ đánh mày là để xả cơn tức thôi, liên quan gì đến dạy dỗ.

Lời bình: Cạn lời”.

Trước một sự việc bất ngờ đến độ không thể lường trước, không nghĩ đến thế, vậy mà nó vẫn xẩy ra, vì thế, người ta không còn biết nói/bình luận một câu gì. “Cạn lời” là hiểu theo cái ý đó. Còn nhớ, vừa đọc một cái tựa thế này: “Quỳ lời” trước bài văn quá đỗi “hư cấu” của cậu học sinh cấp 3”. Quỳ lời, hiểu thế nào cho đúng? Có phải là dù không bình luận gì nhưng cũng ngầm thán phục, chứ không bỉ bai như “cạn lời”?

Tạm dừng với mẩu đối thoại đáng yêu trên, hãy đọc bài tập làm văn của cậu học sinh cấp 3. Bài này cô giáo chấm 6,5 điểm với lời phê bằng bút đỏ của: “Sợ anh quá! Anh toàn nói những chuyện không tưởng. Nói quá vừa thôi chứ”. Sau khi được đăng tải trên diễn đàn NUE Confessions bài văn bá đạo này đã nhận được hơn 23 nghìn lượt thích, hơn 3 nghìn lượt chia sẻ và gần 4 nghìn lượt tham gia bình luận. Nguyên văn như sau:
 

"Hải Phòng ngày 4 tháng 10 năm 2035

Tuyền thân mến!

Khang đây. Vậy là đã hơn 20 năm rồi kể từ lần cuối chúng mình gặp nhau nhỉ? Sao hôm trước lớp mình họp lớp cậu lại không đi, các bạn đến đông đủ lắm, thiếu mỗi cậu thôi. Bây giờ trông ai cũng xinh và sự nghiệp thành đạt lắm, gặp ngoài đường mà không nhận ra luôn. Trường mình cũng khác xưa nhiều rồi. Mình viết thư này để kể cho cậu nghe về sự thay đổi của trường trung học cơ sở 20 năm qua nhé.

20 năm trôi qua, đủ để cho mỗi người gây dựng cho mình một cơ ngơi vững trãi. Mình cũng vậy, ước mơ nhỏ bé thống trị thế giới của mình đang trở thành hiện thực cậu ạ. Hiện tại tớ đang giữ cương vị làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Bộ trưởng Bộ giáo dục.
 

Nếu cậu đang thắc mắc sao tớ vừa đẹp trai, thông minh và đa tài như vậy thì đây chính là bí mật mà tớ không thể bật mí. À mà cậu đã lấy chồng chưa? hình như là chưa hả. Tớ thì chủ nhật tuần này lấy vợ thứ 20 rồi, cô ấy 18 tuổi, là người mẫu ảnh, xinh lắm.

À hôm trước ngày 29 tháng 4, Nhi đạp xích lô sang nhà tớ để báo về ngày họp lớp, đang lắm việc nhưng cứ nghĩ đến việc gặp lại các bạn và ôn lại kỷ niệm xưa thì mình gấp luôn quyển sách 'Thôn tính nước Mỹ và cách trở thành bất tử' lại, nhảy lên xích lô để Nhi đèo đến lớp. Ôi, hôm đấy mới có cơ hội để ngắm nhìn con đường đến trường mà ngày xưa mình vẫn đi học.

Đường được làm mới hoàn toàn, những hàng cây phượng vỹ tỏa bóng xanh rờn, bông hoa phượng đỏ tỏa sắc dưới ánh nắng chói chang. Ngắm nhìn mãi mà tự nhiên cái cảm giác nôn nao, bồi hồi của ngày đầu tiên đi học ùa về. Ôi, ngôi trường Hồng Bàng thân yêu gắn bó 3 năm cuối cấp của ta đã thay đổi quá nhiều.

Nhìn từ xa, trường Hồng Bàng trông nổi bật hẳn với những ngôi nhà xây san sát bên cạnh trường, sơn lại màu trắng của hòa bình, của sự to do, bình đẳng, trường được mở rộng lan ra 5.000 m2, trên sân không có một mẩu rác nào cả. Thầy hiệu trưởng cho xây thêm 6 dãy nhà, mỗi dãy có 8 tầng, mỗi tầng được xây 5 phòng học, ở hành lang mỗi phòng học đặt 5 chậu hoa hồng đỏ và trắng, bông hoa nở rộ làm tôn lên vẻ thanh tú của chậu hoa đúc từ bạch kim và đính đá sa-phia đỏ.

Trường còn có sân đá bóng mini đủ rộng cho học sinh chạy vài chục vòng mỗi khi bị phạt, một sân golf với bãi cỏ xanh mướt như trong tác phẩm 'Cảnh ngày xuân' trích từ Truyện Kiều của Nguyễn Du. Đặc biệt là bể bơi sâu 25m, thách thức giới hạn của bất cứ vận động viên nào trên thế giới.

Trên mỗi dãy nhà có một khu vui chơi để giải tỏa tâm lý và stress của học sinh mỗi khi bị căng thẳng.

Khu căn tin của trường bây giờ được xây lại, đổi tên thành 'Thiên đường ẩm thực' có từ những món đơn giản như bánh đa, phở cuốn đến những món đặc biệt như thịt sư tử quay và trứng cá hồi và rắc vàng bốn số chín ăn được.

Ở mỗi dãy nhà luôn có thang máy để học sinh leo lên đỡ mỏi chân, trong thang máy luôn có tủ lạnh để thức ăn cho học sinh khi đợi lên lớp và đặc biệt nhất đồ ăn tất cả đều miễn phí.

Ghé tạm vào một phòng học, tớ thấy thiết bị ngày càng hiện đại hơn, phòng có 3 chiếc điều hoà, bàn ghế được làm từ gỗ lim nghìn năm tuổi với chiều rộng chưa từng có và chiều dài chưa từng gặp. Ở cuối lớp là tủ để chứa đồ, mỗi học sinh được phát cho một chiếc Ipad đính chi chít kim cương và một chiếc Ipad 18 được làm từ vàng ròng. Phát triển, hiện đại là vậy nhưng học sinh trong trường vẫn chăm ngoan học hành mà không hề lơ đãng. Ở khuôn viên trường vẫn có những cây xanh tốt, từ cây rau ngót đến cây ăn thịt người thải ra kim cương để giúp học sinh phát triển môn sinh học.

Thấy trường phát triển như vậy tớ cũng thấy vui vì dự án 200 nghìn tỷ đồng cho giáo dục nước nhà mà tớ thực hiện đã giúp trường ta mới, đẹp và có chất lượng tốt như vậy. Mặc dù mọi thứ thay đổi quá nhiều trong 20 năm qua nhưng ngôi trường mà những kỉ niệm khi xưa vẫn ùa về trong tâm trí tớ.

Đang rảo bước trên sân trường lát bạch kim thì bỗng nghe tiếng gọi 'Khang đẹp trai ơi', 'My idol, 'Oppa'… Thoạt đầu cứ tưởng fan hâm mộ của mình nhưng nhìn kỹ thì toàn bọn trong lớp. Trời ơi, thằng Thụ béo ngày xưa giờ đang làm phụ hồ ở trường mầm non nhìn mà mất hết cảm tình.

Thằng Đức, Thịnh, Phùng, Hạnh, Diễm ngày xưa học giỏi nên lúc ra trường bọn nó cùng thành lập công ty hết. Ban đầu phát đạt lắm nhưng về sau cả lũ phải vượt biên chốn nợ. Thấy cũng tội mà thôi cũng kệ. À, cậu nhớ Nguyệt ngày xưa gầy còm không, bây giờ lớn lắm, 1m70 rồi, làm siêu mẫu cho công ty con của tớ, vẫn dễ thương như ngày nào. Thu thì vừa bay từ Los Angeles về, nghe đồn là tú bà.

À, đúng rồi, còn Nhi nữa. Ngày xưa cao ráo, xinh gái là vậy nhưng do 'ăn mảnh' nên không lớn lên được phân nào. Cường bây giờ nổi tiếng lắm, làm đầu gấu nổi tiếng ở Hải Phòng. Biệt danh là Cường, đi đến đâu người ta cũng kiếng nể.

Đang nói chuyện thì nghe tiếng cô Như: 'Chà! Khang về rồi đấy à, em đi cùng bọn nào đấy'. Quay lại, thấy cô Như mỉm cười rơi nước mắt chạy đến ôm mình. Nghe cô kể Phú và Dũng đều lấy vợ rồi, vợ chúng nó xinh lắm, cô Như cũng được bế cháu rồi. Nói chuyện với cô một lúc mà thấy cô hiền hẳn đi, không như dạo trước. Cả lớp dẫn cô đi chuỗi nhà hàng 18 sao do Hạnh mở. Nói chuyện mãi, đến lúc cô phải về, mọi người đều ứa nước mắt mà tạm biệt cô. Đi đến cổng trường thì gặp cô Hải, cô không khóc mà cô mỉm cười chào đón bọn tớ. Con Bông nhà cô ấy bây giờ lớn rồi, xinh lắm, gần bằng vợ tớ luôn, có con rồi. Bọn tớ về nhà cô ăn bữa trưa rồi đứa nào về nhà đứa ấy.

Thời gian trôi qua nhanh thật đấy. Thấy lâu rồi cậu chưa về. Khi ra tù nhớ về chơi nhé, rồi chúng mình hẹn các bạn vào ngày đẹp trời, lúc đấy chắc chúng mình cũng phải 50 tuổi rồi nhưng tớ sẽ đợi cậu về để thấy sự đổi mới của trường ta. Mong cậu sớm ra tù!

Bạn gần thân,

Khang”.

Y có bình luận gì không? Có chứ. “Quỳ lời”. Thôi thì, đã hết buổi sáng. Đi làm thôi. Lựa nhón thêm một mẩu tin nhắn nữa.

“- Sao?

- Con hỏi mẹ một chuyện nhé?

- Có thắc mắc gì thì hỏi 1080, hỏi tôi làm gì?

- Không phải…

- Có yêu…

- Con chỉ muốn hỏi…

- Hết tiền rồi!

Lời bình: Còn chưa kịp hỏi 2 câu: "Mẹ có yêu con không?""Có thể gửi cho con ít tiền” thì đã bị “mẫu hậu” "bắt bài” ngay lập tức!

Đúng chóc. Đọc xong, y bèn cười. Vui một chút nữa cho đời thêm tươi.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 1 trong tổng số 47

298
trinhduyson