LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 17.10.2018

aln-huong44126977_1174435859372889_2162620207967764480_n

Ảnh: Lan Hương chụp ngày 17.10.2018

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 3.10.2018

41392533_2231451857091911_6345596351983648768_n

“Muốn tĩnh tâm, anh cứ hỏi lòng mình”. Câu thơ viết lúc nào? Chẳng nhớ nữa. Chắc hẳn trong tâm thế nhiều người, vẫn luôn nghĩ đến sự lạc quan để có niềm vui sống. Vậy là cớ gì, lúc gặp nhau đang vui lại gieo rắc những sắc màu u ám? Mới vừa đi Đà Nẵng về. Giỗ đầy năm của mẹ. Thời gian trôi qua cái vèo. Lá đang xanh nõn, một chiều héo rụng. Mất hút. Đời người cũng phù du mây trắng. Ngụm cà phê vừa tan trong lưỡi, ngọt đắng. Ngoài trời mưa bay. Lặng lẽ ngắm nhìn lại con đường đã từng ngày, nhiều ngày lưu giữ bước chân hoa niên. Nhớ và quên. Đột nhiên một người bảo: “Phải đến lúc đưa con vào bệnh viện mới biết thế nào là sự bi đát của lúc làm cha”. Rồi thao thao kể lại những nhọc nhằn, gian khó, lo sốt vó, bạc cả tóc, tái cả mặt… Một người nhắc khẽ: “Chớ nói gở”. Một người bảo: “Không sao, cũng cần phải biết trước, chứ sao không?”.
Y chỉ im lặng. Mỉm cười.
Nghĩ đi nghĩ lại, mới thấy sự vận hành trong hỗn man trời đất rất diệu kỳ. Có người trong đời sống cực kỳ hanh thông, bạc tiền như nước lại rơi vào trường hợp éo le là phải bỏ ra hàng trăm triệu mới có thể tay bế tay bồng; ngược lại, có người trên răng dưới ca-tút lại sinh nở sồn sồn dễ dàng như gà đẻ trứng. Thế thì về tiền của, cả hai nào có khác gì nhau? Lại nghĩ, một người nuôi con nhỏ nhưng nó không bệnh hoạn, ốm đau thì khác gì người được trúng số độc đắc? Ai đó đã nói một câu, ngẫm lại chí lý ghê: “Hạnh phúc là bằng lòng với những gì đang có”. Một khi người ta đã bằng lòng, mình nói thêm làm chi, nhất là những gì thuộc về riêng tư như chuyện con cái chẳng hạn. Vì thế, tâm tình với nhau, tốt nhất hãy hướng đến sự lạc quan cho người đang nghe. Chẳng việc gì phải chia sẻ những nỗi khổ mà mình đã trải qua. Để bày tỏ sự quan tâm là mình cũng đã từng có kinh nghiệm? Thật ra, kinh nghiệm người này, khó có thể áp dụng hoàn hảo cho người khác. Hơn nữa dù mình đã trải qua, những chắc gì người khác sẽ gặp? Vậy, nói ra những “dự báo” u ám ấy để làm gì?
Sực nhớ đến mẫu chuyện thời còn nhỏ, ngày xưa ngoại y luôn dặn dò, khi nghe người lớn nói những chuyện thù hằn, chết chóc, quái gỡ, đâm chém, gây gổ, xích mích… thì phải bịt tai, lánh đi nơi khác. Thậm chí từ miệng thốt ra cũng không nên sử dụng các từ hắc ám, xúi quẩy ấy. Âu cũng là cách dạy con của người xưa. Xét ra không khác gì nhà văn hóa Phạm Đình Hổ đã có sự lựa chọn ngay từ thời trẻ: “những trò chơi thanh sắc, nghề cờ bạc, rủ rê chơi đùa thì ta bịt tai không muốn nghe”. Có được ý thức đó, do sự giáo dục từ gia đình chứ còn gì nữa?
Lúc y lớn lên một chút, bà ngoại lại kể câu chuyện xưa thời bà đã trải qua. Rằng, vùng Nam, Ngãi, Bình, Phú - dọc theo miền Trung rất nổi tiếng với trò hát bài chòi. Vào đời vua Đồng Khánh, dịp hội hè nọ có bà chánh phi muốn khoây khỏa bèn la cà trong đám đông nghe những câu hô bài chòi lúc trầm, khi bổng, du dương vần điệu. Đột nhiên bà nghe đám đông cười rộ lên, khoái chí, vỗ tay ầm ĩ khi anh hiệu vừa dứt lời. Anh ta hô con bài gì mà nhộn thế?  À, anh ta hô con Đỏ mỏ: “Nàng dâu để chế mụ gia/ Bận quần lãnh trắng lại tra lưng điều”. Chế là tang chế, để chế, mặc đồ chế. Khi người thân mất thì phải để tang, con dâu mà lại quần lãnh trắng, thắt lưng màu đỏ, còn ra thể thống gì? Nổi giận lôi đình, bà chánh phi sai người nọc anh hiệu ra giữa sân rồi phết cho dăm roi, căn dặn từ đây cấm không được hô những câu xấc láo, xấc xược ấy nữa. Xin một tràng pháo tay tán thưởng cho thái độ chấn chỉnh kịp thời này. Còn nhớ, ca dao Nam bộ có câu: “Bậu để chế cho ai mà tóc mai rành rành rạnh/ Để chế má chồng, chớ hiếu hạnh bậu đâu?”.
Cà chớn nhất trên đời vẫn là những tay ba lăm (35), hễ gặp dịp là “thả dê” lố bịch. Thí dụ như cô nàng nọ đang tang chồng, hắn ta bèn sỗ sàng “thả thính”: “Em để chế cho ai? Xé cho tôi phân nửa”. Nghe ra cũng cảm động, cứ như muốn xẻ chia nỗi khổ đau của người đối diện. Cô ấy trả lời: “Em để chế cho chồng”, lập tức hắn ta ngoác mồm trơ trẽn: “Chất lửa đốt đi”. Tán gái kiểu này mà không ăn cái tát mới là lạ.Trên đời, liệu có những gã đàn ông ba láp ba xàm cỡ ấy không? Có chứ sao không? Nếu không, làm sao nó lại đi vào ca dao? Những gã tầm phào, chớn cháo ấy đích thị là loại 35 dê.
Mà này, vì sao người ta lại dùng con số 35 lại ám chỉ con dê - khi đi vào tiếng lóng lại hàm nghĩa chỉ những kẻ chuyên giở trò tán tỉnh, sàm sỡ, rù quến phụ nữ? Tùy theo cấp độ còn có dê xồm, dê cụ. Dám quả quyết rằng, từ trò đỏ đen của dân chơi số đề, con số này dần dà trở nên phổ biến chung. Trong quyển Đoán điềm giải mộng - chơi chữ, tìm số, in trước năm 1975 tại miền Nam giải thích: “35: Cát phẩm; tên riêng: Con dê”. Loại nhảm nhí này, chỉ có thể gọi “sách rác”, chớ nên đọc. Đề đóm chớ nên chơi làm chi, chỉ có ngày vác chiều lác ra đê Yên Phụ, kênh Nhiêu Lộc mà náu thân. Thời y còn bé, có nghe tay làm chủ đề tuyên bố: “Tiền thắng đề không bao giờ giữ được trong nhà, chỉ trừ khi lấy tiền đó đem xây mồ mả”. Đã biết, vậy chớ dại lao đầu vào.
Hãy trở lại với chuyện hô bài chòi vẫn lý thú hơn.
Chẳng hạn, về con Đỏ mỏ vừa nêu trên, ở quê y có anh hiệu hô như vầy: “Con chim mỏ đỏ lông vàng/ Đậu trên cây khế đố chàng giống chi?/ Giống chi hỏi giống con chi/ Đậu trên cây khế tức thì giống chim/ Chẳng tin em cứ nhìn xem/ Nó là con chim mỏ đỏ lại thêm lông vàng”. Ngày xưa, khi chơi bài chòi trong phủ chúa ở ngoài Huế, về hai con Bạch tuyết (Bạch huê), Nọc đượng (Nhứt nọc), các bà chánh cung phi cho là thô tục nên anh hiệu phải đổi câu hô cho thanh nhã.
Trong khi đó, trò chơi này phổ biến trong dân gian lại khác. Ở Quảng Nam, khi ra con Bạch tuyết, anh hiệu ngang nhiên gióng mồm: “Đàn bà sao quá vô duyên/ Mặc quần thủng đáy hớ hênh kia kìa/ Có chi mà nọ nọ kia kia/ Chẳng qua vô ý mới chìa nó ra…”. Thiên hạ chỉ mới nghe đến đó đã cười cái rần. Chưa hết, lại có lúc nghe hô: “Có bông có cuống không cành/ Ở trong có nụ, bốn vành có tua/ Nhà dân cho chí nhà vua/ Ai ai có của cũng mua để dành/ Tử tôn do thử nhi sanh/ Bạch huê mỹ hiệu xin phành ra coi”. Cái cười trong quảng đại quần chúng xét ra khỏe khoắn, không gì phải úp úp mở mở. Thích thì hô lên thôi, miễn là không quá thô tục: “Xu xoa chị bán mấy đồng/ Chị ngồi chị để cái mồng chị ra/ Con gà tưởng hột ổ qua/ Nó mổ cái đớp chị la quớ làng”. Thử hỏi, ai không cười?
Thế nhưng cũng con Bạch huê đó, nhưng khi xuất hiện trong phủ chúa, phục vụ cho các tầng lớp vương quyền, ăn trên ngồi tróc, anh hiệu phải khôn ngoan hô kiểu khác, nếu không muốn bị mắng té tát. Những câu vừa nêu trên, có thế áp dụng? Tất nhiên là không. Chớ dại. Bà ngoại của y kể, người ta phải lồng nó vào trong điển tích, điển cố văn chương nhì nhằng, khác hẳn cảm thức của người bình dân ít chữ. Anh hiệu phải hô như vầy: “Đổng Trác bẻ nạng chống trời/ Nuôi thằng Lữ Bố nối đời làm con/ Dốc lòng chiếm đoạt áo son/ Nối đuôi thiên tử gả con Điêu Thuyền/ Chỉ vì đám ruộng con Điêu Thuyền/ Cho nên Đổng Trác trao duyên má đào/ Thương thay Vương Doãn mưu cao/ Đem dâng Lữ Bố cho vào Đổng Chương/ Nhất điền lưỡng chủ lươn ươn/ Cho nên phụ tử hai đường cản tranh/ Lữ Bố xưa thôi một anh/ Giết người Đổng Trác lưu danh trận tiền/ Cũng vì đám ruộng con Điêu Thuyền…”. Tích xưa, không bàn đến, chỉ quả quyết hình ảnh con Bạch tuyết đã ngụ ý trong cụm từ “đám ruộng”/ “nhất điền”.
Vậy, cách hô bài chòi cũng mang tính “giai cấp” đấy chứ? Tùy đối tượng chơi mà chữ nghĩa về từng con bài  cũng phải biến hóa đi.
Đã nói đến con Bạch tuyết, sao lại không nói đến con Nọc đượng? Can cớ gì phải né tránh? Ở Hội An,  có câu hô: “Đói no, no đói mặc lòng/ Đàn bà cứ thiếu, đàn ông cứ thừa/ Cả ngày cứ việc đong đưa/ Ban đêm vừa gáy lại vừa đóng nêm/ Nọc đượng ra bớ chị em/ Ai cần tới hắn thì lên trên này”. Gợi tình gợi ý nhất vẫn là hai từ “đong đưa/ đu đưa”. Trong văn học dân gian ở Quảng Nam, nhiều người còn nhớ đến đoạn hò đối đáp cũng có hai từ này. Nữ hò: “Gặp anh Ba đây mới khiến hỏi anh Ba/ Làm ăn lâu nay vẫn khấm khá hay vẫn sát da như bọn mình?”. Không một chút ngại ngùng, chàng trai cất giọng bỡn cợt một cách kín đáo: “Thời buổi bây chừ công việc sớt sưa/ Dư không dư, thiếu không thiếu, vẫn đu đưa như mọi ngày”. Câu hò chỉ có thế, ủa, cơn cớ làm sao các cô thôn nữ rộ lên tiếng cười mà lại đỏ mặt tía tai?
Ngày xưa, một trong cái thú ở nông thôn còn là những dịp la cà hội hè đình đám, nghe tiếng hát câu hò dù quê kệch, bình dân nhưng lại có được há mồm ra một phát cho sướng. Chẳng hạn, bàn về chuyện nghiêm túc như chống xâu cao thuế nặng thời Pháp thuộc, sau đó, đã nổ ra cuộc chống thuế long trời lở đất vào ngày 3.11.1908, người dân quê y vẫn lạc quan trong hò đối đáp: “Em ơi! Chừ anh muốn làm đàn bà, không muốn làm đàn ông/ Khỏi xâu cao thuế nặng, khỏi ba đồng sáu mao/ Thôi! Chị em ơi! Đừng nói lao xao/ Có chị mô đi Huế, tôi gửi rèn một con dao cho tinh thần/ Tôi về, tôi hớt trất cục gân/ Hớt luôn cái nớ cho ra thân đàn bà”. Nghe khoái chưa? Cũng cái “cục gân” đó, anh hiệu hô bài chòi lại vận dụng rất khéo vào con Nọc đượng: “Năng cường, năng nhược/ Năng khuất, năng sanh/ Nói thiệt cục gân/ Ngồi gần con gái trân trân chẳng xìu”.
Sở dĩ ghi lại những dòng này vì mới đây lúc về Đà Nẵng đã thấy khác trước nhiều lắm. Phố xá đã đổi thay. Chỉ cần bước chân qua bên kia cầu sông Hàn, chạm ngay vào một khu đô thị mới. Nhà hàng, khu nghỉ mát vui chơi đã mọc lên như nấm, nếu không nhìn các bảng hiệu tiếng Việt thì cứ nghĩ đang du lịch ở một xứ sở hào hoa, sang trọng nào đó. Cảm thấy xa lạ. Cảm giác này ùa về lúc cùng Sanh phóng xe lên chiêm bái chùa Linh Ứng nằm trên bán đảo Sơn Chà. Thiên nhiên thoáng đãng. Lòng nhẹ nhàng. Và mới thấy đây mới chính là sức sống của một vùng đất. Bạt ngàn cỏ. Cỏ biếc xanh.
Lúc ấy, chợt nhớ đến một đoạn văn trong tập tùy bút 100 ngày trước tuổi hai mươi của Tuấn sẽ in nay mai: “Lá cỏ rụng xuống, héo dần, se lại. Nhưng từ những nắm cỏ se se ấy, chúng tôi ngửi thấy mùi thơm. Một mùi thơm với rất nhiều hương. Vừa nồng nàn vừa hoang dại; vừa có hương của rừng vừa có vị của đất trung du. Và tôi đã thèm, đã thử. Trong khoảnh khắc, hãy biến mình thành con dê, con bò, thử nhai cỏ xem sao. Có những lúc, chúng tôi phải cắt cỏ. Nhưng ít ngày sau, cỏ lại mọc lên. Tinh khôi. Thanh mảnh. Như chưa từng đau đớn. Có những ngày, vì công việc, chúng tôi phải cuốc cỏ lên. Những rễ, những mầm cỏ trắng ngà, bật tung, lộn ngược. Nhưng ít ngày sau, từ những rễ, những mầm bị cắt ấy, những ngọn cỏ lại bật ra, nhú lên. Tôi nhìn cái mầm nhỏ nhoi ấy mà lòng đầy cảm phục. Và có những chiều, chúng tôi phải đốt cỏ. Lửa cháy đùng đùng trên cỏ. Thân cỏ cháy, nổ lép bép. Và những đống than ân ỉ cháy trên cỏ. Nhưng chỉ sau một trận mưa, chính chỗ đất ấy, chính chỗ cỏ ấy, những ngọn xanh nhọn hoắt lại tua tủa mọc lên. Tôi thầm hỏi: cỏ ơi, mày là ai mà sức sống bền bỉ vậy?”.
Câu kết đã khiến lòng y dịu lại. Vừa rồi, bài chòi được UNESCO vinh danh di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Liệu chừng những nơi đô thị hóa tương tự như ở quê y, mai này, còn có nghe vang lên những câu hô bài chòi nữa không? Bi quan làm chi, hãy đọc lại câu kết đoạn văn trên. Nghĩ cho cùng các loại hình sinh hoạt nghệ thuật dân gian cũng là một thứ cỏ đấy thôi. Làm sao có thể tàn lụi và mất đi?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.9.2018

 

 

xe-noi-nguyen-nhat-anhQuà của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh  tặng bé Lê Minh Quốc Ấn ngày 17.9.2018

 

Thời còn trẻ, đọc sách nghĩ một đàng; lớn lên một chút, đọc lần nữa, lại nghĩ qua kiểu khác. Trước kia, đọc truyện ngắn Thạch Lam, không thích lắm. Hầu như chẳng có tình tiết xung đột gì ghê gớm, gây cấn, hồi hộp. Phải là Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao… thì mới đã, mới sướng. Bởi vì rằng, tình huống ấy dữ dội khiến đôi lúc phải phì cười cay đắng, phải ngậm ngùi dào dạt. Thế rồi, vừa đọc lại Thạch Lam, bỗng dưng xao xuyến không nguôi. Tại sao trước đó, lại không cảm nhận? Câu chuyện này thật, rất thật, y mới vừa trải qua nên thấm thía quá đi mất.


Rằng, vợ chồng Tân vừa có đứa con đầu lòng. “Tân cúi xuống giường vợ chàng đương ngồi, và hai tay giữ chân đứa bé đặt nằm trước mặt. Hai bàn tay nhỏ nhắn của đứa bé đang cọ quậy, giơ lên giơ xuống, hai con mắt bé lờ đờ, như hơi ngạc nhiên nhìn. Vợ chàng sung sướng hỏi: “Có phải nó nhớn hơn hôm nọ nhiều không?”. Nàng giơ ngón tay cho đứa bé nắm rồi tiếp: “Này, cậu xem nó nắm chặt chưa này!”.  Ơ hay, Thạch Lam viết cho chính y đấy chăng? Một cảm giác, một nhận xét mà y vừa trải qua. Rõ ràng, lúc ở Từ Dũ, có lúc đang khóc, con bé đỏ hỏn đầu lòng cũng nắm chặt tay y, chẳng khác gì. Ở Thạch Lam là sự tinh tế. Nếu không, sức mấy ông có thể viết những trang bàng bạc cảm xúc, tình cảm dịu vợi qua Hà Nội 36 phố phường.


Thêm chí tiết này nữa, “Buổi sáng nay, vừa bước chân vào trong nhà, Tân đã hỏi vợ: “Em đâu?”. “Nó ngủ, cái gì thế?”. “Tôi có cái này hay lắm”. Tân giơ lên cho vợ xem một đôi bít tất len trắng xinh đẹp. Chàng bước lại bên cạnh cái nôi rủ màn trắng sạch sẽ. Vợ chàng vội nói: “Ấy, khẽ chứ cậu, để nó ngủ. Tôi vừa mới đặt xong”. Tân rón rén, khe khẽ giở tấm màn tuyn, nhìn thấy đứa trẻ nằm gọn trong vải trắng. Chàng cúi mình xuống, yên lặng đợi trên cặp môi nhỏ bé một nụ cười. Và Tân thấy trong lòng rung động khẽ như cánh bướm non, một tình cảm sâu xa và mới mẻ chàng chưa từng thấy”. Ai đã làm chồng, làm cha lại không trải qua giây phút ấy?


Có một điều, nghĩ lại, buồn cười thật. Đại khái, lúc còn trẻ, chưa lập gia đình, nhiều người tự nhử: “Sau này, con mình do vợ mình đẻ ra, phải thế này, phải thế kia”. Tức phải cỡ ông này, bà nọ mới xứng với danh phận, ước mơ to tát của đời mình. Nhưng rồi, lúc ngồi trước phòng đợi, chờ vợ vào sanh, trăm người như một đều quên béng đi cái khát vọng ngông nghênh và đáng yêu đó. Vậy, lúc đó họ nghĩ gì? Y đồ rằng, họ chỉ nghĩ đến bốn chữ “Mẹ tròn con vuông”. Chỉ cần được như vậy, đã là hạnh phúc, là món quà vô giá.


Với mỗi giai đoạn cuộc đời, món quà vô giá ấy cũng khác nhau. Trước kia, với y, chỉ có sách. Tìm mua, được tặng một quyển sách hay là nâng niu trum trủm, khẽ lật từng trang, suốt ngày ngắm nhìn mãi không chán. Vâng, đúng là thế. Cái thời chưa có internet, thử hỏi, với những người chơi sách cũ chẳng hạn, nếu vớ được quyển Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, bản in năm 1909 của nhà nho Nguyễn Liên Phong thì sao? Thì sướng đến độ ngất trên cành quất, chứ còn gì nữa?


“Đây là bộ sách ít ai giữ được và trở nên một tập phẩm hiếm có của những người chơi sách”. Cụ Vương Hồng Sển đã viết như thế trong Sài Gòn năm xưa. Do đó, từ lâu, y cố gắng phải tìm mua cho bằng được. Tất nhiên, bao của cũng tìm đến người, nếu thật sự có duyên với nhau. Trưa nay, ngồi nhìn bé đang ngủ,  nghe văng vẳng bên tay lời của của vợ, tưởng chừng như nàng đang nhắc lại câu văn của Thạch Lam: “Này, cậu xem nó nắm chặt chưa này!”. Ừ, thì chặt. Ngủ ngon. Không nhè, khóc quấy. Nhờ thế, y có giây phút yên tĩnh đọc lại quyển sách đã mua, đã gìn gìn từ thời sinh viên mới chân ướt chân ráo vào Sài Gòn.


Quyển sách này in theo khổ 16 x 27 cm, 50 trang do “Phát Toán-Libraire Imprimeur, 55-57 rue d’Ormay” ấn hành năm 1909. Đường d’Ormay, nay là đường Mạc Thị Bưởi. Trong phần tựa, tác giả viết: “Năm Nhâm dần, tháng giêng, ngày vọng/ Nhơn lúc nhàn vó lộng bút nghiêng/ Dạo Nam Kỳ sáu tỉnh sơn xuyên/ Xem nhơn vật, đủ miền mọi chỗ/ Ơn tứ hải, đệ huynh điều độ/ Giúp hành trình, phi lộ kim ngân/ Hơn năm dư, chép thảo lần lần/ Thành một cuốn xa dần cát hạt/ Cách đặt dùng quấc âm lục bát” v.v… Qua bài tựa này, y hiểu rằng, tác giả đã ngao du đây đó, những điều mắt thấy, tai nghe đã được chắt lọc để đưa vào thơ. Chính nhờ “thâm nhập thực tế” nên trong tập sách này ngồn ngồn tư liệu, những sự việc. Ở đây không có chỗ cho trí tưởng tượng, hư cấu. Nhờ vậy, tập sách rất có giá trị cho những ai muốn tìm hiểu về Nam Kỳ thuở đó.


Sau phần tựa, tác giả dành 220 câu lục bát miêu tả địa thế, địa lý Nam Kỳ, đi sâu miêu tả từng vùng đất: Vũng Tàu, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một. Tây Ninh, Gia Định. Sài Gòn, Chợ Lớn, Tân An… Chẳng hạn về Sài Gòn, tác giả ghi nhận: “Thứ nhứt đường Ca-ti-na/ Hai bên lầu cát, phố nhà phân minh/ Bực thềm lót gạch sạch tinh/ Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều”. Hàng hóa thời đó, khá phong phú: “Những đồ Đại Pháp, Huê Kỳ/ Ăng-lê, Nhựt Bổn món gì cũng sang”. Từ đó, nẩy sinh một tầng lớp lao động mới: “Chực đường có trẻ cu-li/ Kêu đâu sẵn đó đem đi lẹ làng/ Lớp thời xuống bến Nam Vang/ Lớp qua Khánh Hội, lớp sang Nhà Rồng/ Lớp xe về lối ngoài trong/ Lớp đi theo dõi mấy ông dọn nhà”.


Khung cảnh Sài Gòn những năm đó đã được miêu tả hết sức sống động: “Phong lưu cách điệu ai bằng/ Đường đi trơn láng, đèn giăng sáng lòa”. Nhà hát lớn được xây dựng “lối năm 1898, đến ngày 1 tháng giêng năm 1900 ăn lễ lạc thành lớn lắm” (Vương Hồng Sển) thì 9 năm sau, nó được ông Nguyễn Liên Phong đưa vào thơ như thế này: “Thứ năm, thứ bảy, thứ ba/ Với đêm chủ nhựt hát Nhà hát Tây/ Nước nào tục nấy cũng hay/ Tiếng đàn nghe hát, nghe say tính tình/ Nhà hát cất giữa châu thành/ Họa đồ lấy kiểu bên thành Ba-ri”. Kế đến, tác giả miêu tả Nhà thờ Đức Bà - đặt viên đá đầu tiên vào ngày 7.10.1877, đến ngày 11.4.1880 làm lễ khánh thành: “Đá xây bốn phía vách thềm/ Mặc nền hoa thạch trơn êm làu làu/ Lầu chuông chót vót vọi sâu/ Hai cây thành giá hai đầu trên cao/ Đồng hồ chỉ đúng khắc sao/ Người qua kẻ lại nhắm vào phân minh”. Hiện nay, nhà thờ đang trùng tu với các vật liệu y chang thuở ban đầu, vì thế những người thực hiện đã đến làng Bray-et-Lû là  nơi duy nhất ở Pháp chuyên sản xuất tôn kẽm ngày xưa; rồi đến Roumazières-Loubert, cách đó 500 km để tìm đúng ngói mũi tên (ngói Marseille) v.v… Dự kiến 2, 3 năm nữa sẽ hoàn thành.


Bên cạnh nhà thờ, còn “Có tòa dây thép coi phần điển thơ”, với các phương tiện vận chuyển bưu chính: “Biên Hòa còn dạng xe tờ/ Mới bây bảy giờ xe máy Tây Ninh”. Xe tờ, y tìm hiểu là một thứ xe bốn bánh gỗ bọc sắt, cao lêu đêu, trước có băng ngang hẹp dành cho người cầm cương, sau đó hai băng dọc đối diện dành cho hành khách, do hai con ngựa kéo. Vì xe chở công văn, tờ trát của nhà đương cuộc nên gọi tắt “xe tờ”. Tác giả cũng nhắc đến Trường Chasseloup Laubat (nay Trường Lê Quý Đôn), Trường Taberd (nay Trường Cao đẳng Sư phạm): “Nam Kỳ sĩ tử tinh chuyên/ Nhiều người thành đạt liền liền trước sau/ Taberd trường lập đã lâu/ Dekerland trước làm đầu khơi ra”. Qua những câu thơ này, ta biết Trường Taberd, còn gọi là Trường Thầy Dòng do cha Henri De Kerlan thuộc Hội Truyền giáo lập ra năm 1874.


Một trong những nơi quen thuộc với Sài Gòn xưa là “Bồn Kèn” - góc nhà hàng Continental và nhà hàng Pancrazi. Tác giả kể lại chi tiết thú vị: “Gặp Tường thời Trị mắng ngay/ Bởi vì tà tửu ít hay kiêng dè”. Phan Văn Trị mất năm 1910, rõ ràng cuộc bút chiến giữa ông với Tôn Thọ Tường  đã gây được tiếng vang và ảnh hường chính trị thời bấy giờ. Thế thì, vì sao gọi “Bồn Kèn”? Tác giả giải thích: “Mu-dích nơi các bồn kèn/ Vui lòng hứng chí nghe bèn giải khuây”. Cụ Vương Hồng Sển cho biết cụ thể: “Mỗi chiều thứ bảy tại bệ này, có mấy chú lính săn-đá trỗi nhạc Tây cho đồng bào ta thưởng thức”. Mu-dích là phiên âm từ musique, tiếng Pháp. Không những thế, đôi lúc còn đọc thành “mủ-di”. Bằng chứng, Sài Gòn xưa có câu vè: “Thượng Thơ bán giấy/ Thủ Ngữ treo cờ/ Nào ai núp bụi núp bờ/ Mủ-di đánh dạo, bây giờ bỏ em”.


Thời đó, đã có lệ báo giờ vào buổi trưa: “Có chỗ cân giờ nhựt trung/ Trên tàu Ông Thượng đặt vòng địa la/ Có năm ba phút vậy mà/ Đem đồ hiệu lịnh kéo qua cột cờ/ Đợi đến đúng mười hai giờ/ Đồ kia rớt xuống, súng hờ giựt dây/ Nổ lên một tiếng vang vầy/ Châu thành bốn phía sum vầy giấc trưa”. Về lãnh vực báo chí, tác giả cho thấy hồi ấy ở Nam Kỳ đã khá phát triển: “Phan Sa, quốc ngữ nhựt trình/ Mỗi tuần in bán sự tình lăng xăng/ Gia Định là báo công văn/ Phát ra các hạt lệ hàng không sai”. Riêng địa danh Bến Nghe đến nay vẫn còn nhiều cách giải thích khác nhau, thì theo tác giả: “Nguyên xưa rậm rạp còn rừng/ Trâu thường dằm tắm hoặc chừng nghé kêu/ Ngày nay phong cảnh tốt đều/ Tàu ghe lớn nhỏ đậu bèo hai bên/ Đò dọc rước mối xuống lên/ Giành nhau xâu xé vang rên cả ngày/ Ghe bầu xắp lớp đậu ngay”. Những câu thơ này cho thấy cảnh sầm uất của Bến Nghé những năm đó.


Đọc sách xưa cũng là một cách quay ngược về quá khứ. Anh ngon trớn đọc ngân nga tiếng trầm giọng bổng như một cách ru con, bỗng đâu giật mình cái thót. Vợ bảo: “Bây giờ là lúc anh nên tìm đọc các sách nuôi dạy con là hợp tình, hợp lý nhất”. Rồi lại nói luôn một hơi: “Đã biết cách ẳm con chưa? Chưa. Biết thay tã chưa? Chưa. Biết pha sữa chưa? Chưa. Thế thì còn “nai” lắm. Cố gắng lên anh”. Ừ, thì cố. Mà đôi khi tri thức ở trên đời nào có phải thu nhận từ sách. Với một đứa trẻ, lọt lòng mẹ, ngay lúc ở bệnh viện đưa về nhà thì sao? Vợ của nhà biên kịch Đoàn Tuấn dặn dò qua điện thoại: “Ngày ấy, anh phải bôi son vào trán bé, phải đem theo con dao nhỏ, đôi đũa, củ tỏi nữa”. Ấy là một cách “làm phép” dân gian, tuy nhiên cũng có người bảo lấy lọ nồi bôi vào trán. Đại khái thế, nào ai biết đúng sai nhưng rồi cũng phải làm theo.


Lại nữa, sách vở nào dạy nếu bà mẹ vừa sinh con đầu lòng chưa có sữa cho con bú thì phải làm “mẹo” gì? Câu hỏi này, hay lắm. Cô nàng đã làm theo và hiệu nghiệm ngay tức thì. Thì nay, ghi lại cho những ai cần tham khảo. Rằng, mua lấy men làm rượu nếp, giã nát hòa tan với rượu trắng xoa hai bên “Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm”. Đơn giản mà hiệu quả. Mẹo này, sách vở nào ghi? Sực nhớ đến câu văn của Thạch Lam viết về tâm trạng của một người đàn ông lần đầu, lần thứ nhất trong đời được làm cha, bao giờ cũng là lúc: “thấy trong lòng rung động khẽ như cánh bướm non, một tình cảm sâu xa và mới mẻ chàng chưa từng thấy”. Y cũng thế thôi.


Hôm nọ, lần đầu tiên có trong nhà là chiếc nôi xinh xắn, quà của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đem đến tặng cho bé. Thích quá. Thay mặt bé mà viết rằng: Mai này, khi khôn lớn/ Bé nói với mẹ ba:/ "Từ chiếc nôi ngày ấy/ Nay vạn dặm đường xa/ Thế nào con cũng đến/ Con dẫn mẹ cùng ba/ Tung tăng đi mua sắm/ Tìm thiệt nhiều món quà/ Tặng lại cho bác Ánh". Câu thơ đang ngon trớn nhả ngọc phun châu, dạt dào thì hứng bỗng đâu nghe réo rắt âm vang như tiếng đàn sắt, đàn cầm hòa nhau: “Anh ơi, con mới tè ướt cả gường. Mau mau thay tã cho con”. Nghe hay đấy. Cũng là cảm hứng của thơ đấy thôi, phải không nào?


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 16.8.2018

 

31841749_2133394090011217_543228966836633600_nRR

 

 

Những ngày này, các sự kiện thời sự vẫn diễn ra dồn dập, tấp nập, tràn ngập trên các phương tiện truyền thông. Mà thời buổi này, nghĩ ra cũng lạ, không hiểu sao thiên hạ lại quan tâm đến những chuyện chẳng ra làm sao. Với y, có thể chỉ “tào lao bí đao” nhưng với nhiều người lại khác. Chẳng hạn, doanh nghiệp nọ được khen/ bị chê náo nhiệt, ầm ĩ chỉ vì vợ chồng bất đồng trong việc chia tài sản, kinh doanh. Dấy lên chuyện này, còn một phần do người chồng có dăm năm tu tập trên non cao núi thẳm, nghe đâu tịnh khẩu. Khi “hạ san”, chỉ khoái tự xưng “qua” khi trò chuyện với người khác.

 

Không bàn về nội tình của cuộc hôn nhân bẽ bàng, kinh doanh chia uyên, nghĩa tình rẽ thúy ấy. Chỉ ngạc nhiên, không ít người lạ lẫm với từ “qua”. Trên tờ báo Tuổi Trẻ vừa phát hành, có người giải thích một cách quả quyết: “Nhiều người lầm tưởng “qua” là một từ mới nhưng thật ra đây là một từ địa phương Nam bộ giàu sắc thái biểu cảm, đã hình thành từ thời người dân nước Việt đi xuống phương Nam mở cõi”.

 

Có thật qua “là một từ địa phương Nam bộ”?

 

Thuở còn bé xíu, nói theo cách dân dã, bặm trợn, bông lơn của người Quảng Nam đó là “thời Bảo Đại còn cởi truồng tắm mưa”, y đã nghe đến từ qua.

 

Trước hết, hãy nhắc về lịch sử một chút: Năm 1602, Nguyễn Hoàng đi chơi núi Hải Vân, thấy núi non hiểm trở, nói rằng: “Chỗ này là đất yết hầu của miền Thuận, Quảng”. Rồi vượt qua núi, xem xét tình thế, sai lập dinh trấn, xây kho tàng chứa lương thực, vũ khí rồi sai con trai thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên (sau là Chúa Sãi) trấn giữ. Vì lẽ đó, năm 2002, tỉnh Quảng Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học “Vai trò lịch sử của dinh trấn Quảng Nam” - kỷ niệm 400 năm dinh trấn này ra đời. Ban đầu dinh trấn được dựng ở Cần Húc (huyện Duy Xuyên), ít lâu sau dời sang Thanh Chiêm, rồi năm 1833, vua Minh Mạng cho dời lỵ sở Quảng Nam qua làng La Qua (Điện Bàn). Ca dao địa phương có câu: “Tỉnh thành đóng tại La Qua/ Hội An tòa sứ vốn là việc quan”.

 

Và La Qua đã đi và câu đối với sự chơi chữ qua đồng âm: “Con gái La Qua, qua hôn, qua hít, qua vít, qua véo, qua chọc, qua ghẹo, qua biểu em đừng có la qua” (la :la mắng; qua: tôi). Có câu đối lại cũng sát sàn sạt về chữ nghĩa, ý tứ: “Đàn bà Phước Chỉ, chỉ xấu, chỉ xa, chỉ lười, chỉ nhác, chỉ bài, chỉ bạc, chỉ có chồng là may phước chỉ” (chỉ: chị ấy). Không riêng gì Quảng Nam, vượt qua đèo Hải Vân ngược ra Bắc, nếu dừng chân tại Quảng Bình, ta còn nghe câu hát huê tình: “Răng chừ đá nổi lắc lư/ Lạch Ròn kia cạn, qua mới từ nghĩa em”. Sổ tay lời ăn tiếng nói Quảng Bình (NXB Lao Động - 2011) của Nguyễn Tú đã ghi nhận, giải thích: “Tôi, từ tự xưng một cách lễ độ âu yếm”.

 

Trước đó, từ năm 1931, khi các học giả người Bắc thuộc Hội Khai trí Tiến Đức khi biên soạn Việt Nam từ điển đã giải thích rành mạch: “Ta, chúng ta”. Hoàn toàn trùng hợp với Đại Nam quấc âm tự vị ở trong Nam, từ năm 1895 đã giải thích. Do đó, không gì ngạc nhiên khi từ Quảng Nam đi xuôi về phương Nam, ta cũng còn nghe: “Xa xôi chưa kịp nói năng/ Từ qua tới bậu như trăng xế chiều”. Sổ tay các từ phương ngữ Phú Yên của Trần Sĩ Huệ giải thích: “Tiếng người lớn (chú, thầy, anh…) xưng khi nói với người nho tuổi hơn”.

 

Với các dẫn chứng này, rõ ràng, qua không chỉ “là một từ địa phương Nam bộ”.

 

Mà một đã tự xưng qua với nghĩa là tôi, tay doanh nhân ấy gọi người đang đối thoại là “người anh em/ anh em thiện lành”. Thật ra, phải là bậu/ em bậu thò mới… đúng catalogue! Từ xa xưa qua thường đi chung với bậu. Có những câu ca dao huê tình thật hay, bay bướm: “Bậu với qua gá nghĩa chung tình/ Dầu ăn cơm quán, ngủ đình cũng cam”; “Bậu buồn, qua dễ chẳng buồn/ Cá dưới sông biếng lội, chim trên nguồn biếng bay”.

 

Lẩn thẩn với  chữ nghĩa, có cái thú của nó. Là một cách nhẩn nha tìm về ý nghĩa của tiếng Việt. Ai cũng biết, xới từ xứ mà ra. “Bỏ xới” là “bỏ xứ”, bỏ quê nhà, quê cha đất tổ đi đến một nơi khác. Từ đó, có ý kiến cho rằng “xừ” trong “bỏ xừ” cũng là một cách đọc trại của “xứ” -  và lập luận: “Như thế, nói: “Bỏ xừ rồi, phải bán xới thôi” là đã vô tình dùng điệp ngữ để tăng độ hùng hổ của ý định”. Cách lý giải này, có đúng không? Hoàn toàn không. Xừ là do mượn từ tiếng Pháp. Mượn như thế nào? Tầm nguyên từ điển Việt Nam của nhà ngôn ngữ Lê Ngọc Trụ cho biết, xừ (sieur): ông, người. Và còn hướng dẫn xem thêm từ “mông-xừ (monsieur): mon = của tôi; sieur = ông, tiếng xưng hô trong xã giao  đối với người đàn ông, qua lời nói hoặc thư từ”. Cách gọi này, trong ngữ cảnh nào đó, còn thể hiện sự tinh nghịch, hài hước, thân mật lẫn trêu chọc. Chẳng hạn, nhà thơ Tú Mỡ trêu hai ông Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh: “Nước Nam có hai người tài/ Thứ nhất xừ Vĩnh, thứ hai xừ Quỳnh”.

 

Tuy nhiên, không chỉ có thế. Khi cụ Vương Hồng Sển viết: “Cãi thầy, ôm gà ra đá thì chỉ có món “thua bỏ xừ”: mười độ mất tiền đủ mười” (Phong lưu cũ mới - NXB TP.HCM tái bản năm 1991, tr.143) - rõ ràng, xừ đã lái qua nghĩa khác, cũng tựa như một người thản thốt: “Bỏ xừ! Tháng này sếp lại nợ lương”. Câu này, có thể thay thế bằng “Bỏ mẹ/ tía/ cha/ bu… Tháng này sếp lại nợ lương”. Rõ ràng, xừ không còn nghĩa như ban đầu vay mượn tiếng Pháp, nó đã biến hóa khôn lường. Thế mới là sự lắt léo của tiếng Việt.

 

Với người cầm bút, điều đáng quý nhất còn là sự yêu mến tiếng mẹ đẻ mà họ sử dụng mỗi ngày. Mà chữ nghĩa ấy, mỗi thời lại hiểu theo khác đi, có thể không còn giống nghĩa ban đầu nữa. Cũng có thể ban đầu họ hiểu không đúng nhưng sau lại hiểu đúng. Chẳng hạn, hai từ “nhựt trình” khi du nhập vào Việt Nam với sự ra đời của Gia Định báo cùng vai trò của Trương Vĩnh Ký. “Nhựt trình Vĩnh Ký đặt ra/ Chép làm một bổn để mà xem chơi” - đây là hai câu mở đầu trong bổn thơ Thầy thông Chánh lưu hành tại Nam Kỳ đầu thế kỷ XX.

 

Chưa hết, ngay cả người miền Trung, cụ thể ở Phú Yên trước năm 1945. khi hô bài chòi cũng mở đầu: ““Nhựt trình Vĩnh Ký đặt ra/ Bà con lẳng lặng nghe mà tôi hô”. Về hiện tượng này, khi biên khảo Đất trời Phú Yên (NXB Hội Nhà văn -2018), nhà nghiên cứu Trần Sĩ Huệ lý giải hoàn toàn có lý: “Lúc ấy, các hiệu buôn trong Nam có in những tập thơ mỏng với mục đích quảng cáo hàng hóa như Tống Trân Cúc Hoa, Chàng nhái kiến tiên v.v… Người dân thôn quê Phú Yên coi đây cũng là một thứ “nhựt trình” tương tự tờ nhật báo, hoặc báo chí nói chung. Và người ta cũng chỉ biết có một người làm nhựt trình nổi tiếng là ông Trương Vĩnh Ký, nên tưởng “nhựt trình” nào cũng của Trương Vĩnh Ký cả. Những câu bài chòi dùng trong tập thơ này để hô, tức là hô theo “Nhựt trình Vĩnh Ký đặt ra”, hô theo sách vở. Những câu tự sáng tác cũng bắt đầu như vậy, mượn cái nhãn “nhựt trình Vĩnh Ký”, ngụ ý rằng đây cũng là “nói có sách, mách có  chứng”, nói những điều có dán ten, đáng tin cậy” (tr. 360).

 

Chưa hết, tờ tuần báo Nam kỳ phát hành từ năm 1899, có ghi rành rành: “Nhựt trình Nam kỳ in ra mỗi ngày thứ 5 trong tuần lễ”. Ngộ chưa?

 

Ở đời có nhiều điều ngộ lắm, tài thánh gì có thể biết hết. Chẳng hạn, tháng 11.1999 Đại hội đồng UNESCO đã quyết định công bố ngày 21.2 hằng năm là Ngày quốc tế tiếng mẹ đẻ. Nhân dịp kỷ niệm lần thứ nhất ngày này tại trụ sở UNESCO, câu: "Trong dãy ngân hà các ngôn ngữ, mỗi từ là một vì sao" đã được dịch ra 84 thứ tiếng. Câu cực hay này, không thấy trong từ điển mở vi.wikipedia. Này, có phải thời Trung cổ, người ta dùng chữ để… chữa bệnh?  Trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (NXB Đà Nẵng - 1997) ghi nhận: "Định thức ABRACADABRA khá thông dụng trong suốt thời Trung cổ. Người ta quan niệm, chỉ cần đeo ở cổ một lá bùa chữ sắp xếp theo hình tam giác như dưới đây, là có thể giải trừ nhiều bệnh tật - kể cả bệnh sốt rét:


ABRACADABRA

ABRACADABR

ABRACADAB

ABRACADA

ABRACAD

ABRACA

ABRAC

ABRA

ABR

AB

A

 

Từ này phát sinh từ một thành ngữ tiếng Do Thái cổ: "Abreg ad brôbra" có nghĩa là: "Hãy đánh sét đến chết". Trong tiếng Do Thái cổ, nó có 9 chữ cái. Sự bố trí chữ A ở cạnh trái của hình tam giác có ý nghĩa phương thuật, do sự lặp lại 9 lần chữ cái này. Cần phải xem xét cái hình này theo ba chiều: khi ấy nó sẽ biểu thị cho một cái phễu, mà ở đó những chữ cái mầu nhiệm chạy chéo từ miệng phễu xuống dưới cổ thắt lại, tạo thành những tuyến lực của một nơi nước xoáy mãnh liệt; thật bất hạnh cho những sức mạnh nào bị cuốn vào đấy: chúng sẽ biến mất vĩnh viễn khỏi thế gian này và chìm xuống vực thẳm, mà từ nơi ấy không một cái gì có thể trở lại dương thế. Định thức ABRACADABRA, theo tinh thần ấy, ứng với những mối âu lo khiến con người phải sáng chế ra các thứ bùa yểm, bùa chú, bùa hộ mệnh” (tr.1).

 

Mà những chuyện lý thú này, thời chưa có internet phải mày mò, cắm đầu vào từng trang sách, ghi ghi chép chép. Nay, đã khác. Xét ở một góc độ nào đó, ông Google khiến cho người ta cảm thấy khó viết hơn. Viết làm gì nữa, khi mà thông tin gì cần tìm hiểu cũng đầy ắp, chỉ cần một cú click chuột là xong. Nghĩ cũng nản. Nhìn lại những gì đã một thời mày mò, tìm hiểu để viết -  rồi so với thông tin đã có trên internet cũng nản nốt. Ngày kia trao đổi chuyện này với chị bạn đồng nghiệp đã về hưu. Chị kể, đại khái, với những gì đã viết suốt năm tháng thanh xuân, chị đều giữ lại. Ngày kia, sau một cuộc cãi vã với vợ, ông chồng tình cờ đọc lại và nhận xét: “Trời, những chuyện này, trên internet có đầy. So ra, thời đó, cô viết như hạch".  Nhận xét ấy, kể ra ác quá đi chứ. “Thế chị trả đũa ra làm làm sao?”. Chị tủm tỉm cười: “Lúc đó, cáu quá chị mới bảo: Suốt hơn hai mươi năm trời, tôi đã nuôi bố con ông bằng nhuận bút từ cái… như hạch ấy đấy!”.

 

Đáo để thật.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 18.7.2018

 

37373971_1773072106144491_7846790041589252096_n

 

Với những chuyện không thể xẩy ra, người Việt có nhiều cách nói ví von. Chẳng hạn, “Cóc chết có minh tinh”, ta hiểu là kẻ hèn mọn, tầm thường mà được trọng vọng, tót vời, đề cao quá mức; tuy nhiên cũng còn được hiểu theo nghĩa đừng nói chuyện hão huyền - chuyện đó không thể xẩy ra. Cứ nghĩ là thế, nhưng rồi nó vẫn cứ xẩy ra dễ như bỡn. Cứ tưởng như đùa.

 

Vừa rồi, báo chí đồng loạt đưa tin về vụ gian lận kỳ thi trung học phổ thông tại Hà Giang. Rằng, 114 thí sinh (TS), với hơn 330 bài thi có tổng điểm đã công bố chênh lên hơn 1 điểm so với điểm chấm thẩm định. Không ít TS có tổng điểm chênh lên hơn 20 điểm. Cá biệt có những TS tổng điểm chênh lên đến 26,8 điểm, thậm chí 29,95 điểm so với điểm chấm thẩm định. Báo Thanh Niên cho biết Môn nào cũng bị can thiệp để “làm đẹp” điểm. Theo đó, 102 bài thi toán, điểm chấm thẩm định: 1, điểm công bố: 9; 86 bài thi vật lý, điểm chấm thẩm định: 1, điểm công bố: 8,75; 56 bài thi hóa, điểm chấm thẩm định: 0,75, điểm công bố: 9,5l; 52 bài thi tiếng Anh, điểm chấm thẩm định: 1,2; điểm công bố: 9,0 v.v… Nói như báo Tuổi Trẻ: “Vụ gian lận thi chưa từng có”.

 

Sự dối trá đến thế là cùng. Từ sự việc tồi tệ này, hình như đã manh nha câu “thành ngữ” mới: “Học sinh đi thi, phụ huynh làm điểm”. Thế nào là “làm điểm”? Là lạnh lùng sòng phẳng giữa “bán điểm” và “mua điểm”. Tiền trao cháo múc. Sự xấu xa thuở nào cũng có, kể cả thời Nghiêu Thuấn đi nữa, nhưng ở đâu kia, chứ xẩy ngay trong lãnh vực “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” thì đúng là một cú tát vào mặt ngành giáo dục. Mà có phải chỉ Hà Giang, còn các địa phương khác thì sao?

 

Gian lận trong thi cử nào phải bây giờ mới có. Sử còn ghi lại chuyện thi sĩ tài hoa Cao Bá Quát khi được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, trong lúc chấm bài ông thấy có những quyển khá nhưng lại phạm lỗi “trọng húy” lúc viết tên nhà vua. Nghĩ thương tình, ông cùng người bạn là Phan Nhạ dùng muội đèn để chữa lại. Việc làm này bị giám sát Hồ Trọng Tuấn phát giác và ghép vào tội chết. Lúc án đưa lên, vua Thiệu Trị giảm từ tội trảm quyết xuống tội giảo giam hậu (hoãn tội chết, giam lại đợi lệnh). May mắn, Cao Bá Quát được đưa đi “dương trình hiệu lực” sang Indonésia để chuộc tội!

 

Xét ra, việc làm của Cao Bá Quát và ông trưởng phòng khảo thí tỉnh và quản lý chất lượng của Sở GD-ĐT Hà Giang hoàn toàn khác nhau. Một bên vì tiếc tài thí sinh phạm luật lệ hà khắc, vô lý của trường quy; còn một bên vì cái gì? Có những câu hỏi, tự mỗi người đều có câu trả lời chung.

 

Đôi khi, ôn cố tri tân cũng là điều thú vị. Nghĩ thế, bèn lật sách ra đọc. Đọc gì? Đọc những gì liên quan đến thi cử. Thử đọc lại đề thi ngày xưa. Trước đây, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Thành ủy - UBND Hà Nội chỉ đạo nhiều dự án, trong đó, có “Tủ sách Thăng Long 1000 năm”. Nay, căn cứ vào đó, cụ thể quyển Văn sách thi Đình Thăng Long - Hà Nội (NXB Hà Nội-2010); và so sánh, đối chiếu thêm bản dịch đã in trên tạp chí Văn hóa châu Á số tháng 12.1960 - đọc lại đề thi Đình năm 1865 của vua Tự Đức. Thời điểm đó, với hiện tình đất nước, nhà vua đã hỏi gì với kẻ sĩ về kế sách giúp nước? Để thi như sau:

 

“Hiện nay công việc rất nhiều, không kể xiết được; nay ta đem điều thiết yếu hỏi các sĩ tử, mong được nghe mưu chước hay để mà bổ cứu. Vì lòng thể tất, cho sĩ tử được chọn một ngày để được bày tỏ hết hoài bão của mình: Cái lý trời và người tương ứng, không phải là viễn vông. Làm điều lành thì được phúc, làm điều giở thì bị họa, cho nên mới có thuyết điềm lành và tai biến. Vậy, thuyết này bắt đầu từ đâu? Các sách Hồng phạm ngũ hành, Thiên văn chí ghi chép những chứng nghiệm về điềm lành, điềm dữ thì thực sự có ứng nghiệm hết không?

 

Đời hữu đạo, chưa hẳn không có tai dị; đời vô đạo, chưa hẳn không có điềm lành. Có khi nhiều điềm lành mà vong quốc; có khi gặp tai dị mà lại hưng quốc. Có khi không tai dị mà phải răn sợ; có khi họa lớn mà trời không quở phạt; có khi việc làm lúc này mà ứng nghiệm lúc khác; có khi việc làm ở gần, mãi đến sau mới ứng nghiệm; có khi tin ở trời, biết tu tỉnh mà ứng nghiệm có lúc chậm, có lúc chóng; có khi không tin, không theo mà tai dị có lúc có ứng nghiệm, cũng có lúc không. Làm thế nào mà biết được? Những điều trên đó vị tất không có lý do, đạo chí thành có thể biết trước được, vậy thì tu tỉnh thế nào, hành vi thế nào, mới đến được như thế?

 

Đức Khổng Tử không nói quái dị, thế mà lại có câu: “Phượng hoàng không đến, Hà đồ không thấy?”. Đời vua Nghiêu có nước lụt chín năm, đến đời vua Vũ mới bình trị được, bấy giờ mới có gạo ăn. Đời vua Thang, có đại hạn bảy năm đến nổi phải lấy đồng trong kho ra đúc tiền để chẩn cấp cho dân. Vậy thì điều người đời sau nói: Các đời vua ấy, tích trữ nhiều để phòng bị, sở kiến ở đâu mà nói thế? Huống chi đại hạn bảy năm, (vua Thang) mới có lần cầu đảo ở Tang Lâm. Vậy thì trước đó há thờ ơ, mặc kệ hay sao? Đều thật không sao hiểu được.

 

Cứu đói không chính sách nào hoàn bị. Mười hai chính sách cứu đói trong sách Chu Lễ đều theo thời mà làm cho thích hợp. Còn như để “có phòng bị thì không lo”, vậy thì phải làm thế nào mới là tốt nhất? Chính sách cứu đói của đời sau trừ những việc phát chẩn, xuất thóc, quyên tiền cho dân vay, giàu nghèo giúp lẫn nhau, thông suốt chỗ có chỗ không, khuyến khích trồng trọt, giảm thuế, tạo điều kiện cho dân có việc làm…; ngoài cách này ra, còn có kế sách gì hoàn thiện hơn không?

 

Hiện bây giờ tai dị luôn thấy, đói kém mất mùa dồn dập, Trẫm rất lo sợ không biết làm thế nào. Chẳng phải là đức chính còn nhiều thiếu sót chăng? Hay là dân tình, thói tệ của quan lại còn bế tắc, uất ức chăng? Vì thiếu đức, mờ trí cho nên công việc khó chu đáo, đều là lỗi của Trẫm.

 

Nếu bảo rằng: “Mặt trời có biến thì phải tu sửa đức; mặt trăng có biến thì phải tu sửa chính trị; ngôi sao có biến thì phải kết liên, hòa hảo lân quốc; lại có câu rằng: “Thứ nhất là tu sửa đức, sau đến tu sửa chính trị, rồi sau nữa lo tu cứu (cứu chữa), thứ nữa phải tu nhương (cầu đảo cho tai qua)”. Sao lại  phân biệt quá thế? Vậy phải theo cách nào?

 

Bây giờ việc dụng binh, chi phí rất nhiều, mọi làng xã đều bị đói kém, tô thuế nhiều lần miễn, công tư không đủ chi, mọi chính sách cứu đói đều khó thi hành. Nay muốn cầu hòa khí của trời, mong mệnh nước được dài lâu, chữa mối tệ lâu ngày, làm vững gốc của nước mà nghĩ qua, nghĩ lại vẫn chưa tìm được cách nào.

 

Các sĩ từ chăm chỉ học vấn, sẽ phải ra kinh bang tế thế, há chỉ dựa vào đó để cầu danh? Mỗi người phải hết lòng, suy nghĩ sâu xa, bày tỏ cho Trẫm hay, đừng nói phiếm, đừng ẩn giấu cho xứng đáng với ý Trẫm. Nếu còn kế nào hay hơn, để có thể tìm được nhiều hiền tài, làm cho các nước láng giềng phải tin phục, dẹp bình được giặc Tàu, để đường biển được yên lặng thì cũng cứ bày tỏ hết, để bổ ích thực dụng”.

Khoa thi này, kết quả xếp hạng nhất thuộc sĩ tử 27 tuổi là ông Trần Bích San (1838-1877), tự Vọng Nghi, hiệu Mai Nham người làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc (Nam Định). Do ông đậu Giải nguyên, Hội nguyên và Đình nguyên nên được người đời gọi là Tam nguyên Vị Xuyên; vua Tự Đức mến tài nên đổi cho tên Trần Hy Tăng - ví  như Vương Tăng đời Tống. Kế tiếp, sĩ 31 tuổi là ông Nguyễn Trọng Hợp (1834-1902), sau khi mất được truy tặng Cần chánh điện Đại học sĩ.

 

Với câu hỏi làm sao “dẹp bình được giặc Tàu, để đường biển được yên lặng”. Ông Nguyễn Trọng Hợp cho rằng, “đua với sở trường của chúng thì khó mà chắc thắng, mà dùng trí của ta thì dễ thành công. Cốt ở tướng lĩnh cầm quân biết tính bày mưu kế, chứ không nhất thiết phải tăng thêm binh lính”. Ông Trần Bích San nêu lên hiện trạng: “Tướng chưa hết lòng, sĩ tốt chưa ráng sức… Đến như quân Thanh, Nghệ vẫn được tiếng dũng cảm nhưng khó nhọc vất vã đã lâu năm, không còn nhuệ khí; quân lính Bắc kỳ thì tài sức khốn kiệt, không tinh nghề. Đem quân lính như thế mà đối địch với quân tử chiến của chúng thì khó mà giữ toàn thắng được”.

 

Vậy phải làm sao?

 

Theo ông San, về tướng thì thăng chức hàm để khuyến khích, về binh lính thì nâng lương. “Lại bắt dân ở duyên giang, duyên hải phải lập điều ước ứng cứu lẫn nhau; chọn người văn thân, tổng lý hay thổ hào được việc, quản đốc bọn dân ấy, phỏng theo cách đời Hán, quân Hồ xông vào cướp nội địa mà ngăn cản được bọn cướp ấy thì được thưởng hậu, để cho dân tự làm chiến sĩ, tự giữ lấy nhà mình, tuyệt hẳn bọn quân vào cướp bóc. Lại dụ các quan địa phương phụ cận phải tuyển thủy quân, huấn luyện chiến trận, sắm chiến thuyền, sắm sửa khí giới, cấp đủ lương thực” v.v… Xét ra ý kiến ông San rất gần với quan điểm hiện đại về nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

 

Cái học của sĩ phu ngày trước có thật sự hữu ích để sau này ra giúp nước? Chẳng hạn, kỳ thi năm 1472 như sau: Kỳ 1: Ra 8 đề về Tứ thư, thí sinh chọn lấy 4 đề làm 4 bài văn; ra đề về Ngũ kinh, mỗi kinh 3 đề, thí sinh chọn 1 đề mà làm; riêng kinh Xuân thu chỉ ra 2 đề nhưng gộp lại thành 1 đề để thí sinh làm. Kỳ 2: thi chế, chiếu, biểu mỗi loại 3 đề. Kỳ 3: thi thơ, phú mỗi loại 2 đề; phú thì dùng thể Lý Bạch. Kỳ 4: thi 1 bài văn sách hỏi những điểm khác nhau, giống nhau về nghĩa lý của Kinh và Thư, về những điều hay dở trong chính sự mỗi đời. Đại thể nội dung thi Hội là như thế. Dưới đời vua Gia Long quy định nội dung trên không riêng gì dành cho thi Hội mà thi Hương cũng vậy. Nhưng dưới đời vua Minh Mạng, nội dung thi kỳ 2 tức làm chế, chiếu, biểu bị loại bỏ, mãi đến đời vua Tự Đức mới khôi phục lại.

 

Thế thì, dám nói rằng, khi ra là quan, va chạm thực tế công việc, hơn ai hết lúc bấy giờ họ mới thật sự là học. Dù cùng một thời điểm, cùng được học một chương trình giáo dục nhưng lịch sử đã chứng minh đất nước ta đã có được những tài năng xuất chúng. Tại sao? Do họ tự học, học từ thực tế lúc làm ra quan, chứ nào phải chỉ vận dụng sách vở đã học ở nhà trường.

 

Nếu tìm kiếm nhân tài qua thi cử nặng về thi phú, hoặc lấy điểm làm trọng, nghĩ cho cùng nào phải thực chất của ý nghĩa đích thực của sự học. Sực nghĩ đến cái vụ gian lận điểm thi ở Hà Giang gây chấn động dư luận cả nước, ngao ngán quá. Tối sấm cả trời đất. “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, câu nói trứ danh, muôn đời vẫn đúng của danh nhân Thân Nhân Trung đặt trong ngữ cảnh này, mỉa mai quá.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: NHẬT KÝ 14.7.2018


Bn_tu_ca_B_L_ngy_10_thng_5_nm_Thnh_Thi_th_6_.1894_._v_vic_lp_n_v_cc_nghi_thc_ca_l_t_n_m_Hn

Bản tấu của Bộ Lễ ngày 10 tháng 5 năm Thành Thái thứ 6  (1894). về việc lập đàn và các nghi thức của lễ tế đàn Âm Hồn


Có bạn tri kỷ, tri âm

 

Là người hạnh phúc trăm năm cõi đời

 

Câu thơ của ai vậy? Của hắn ta, chứ còn ai “trồng khoai trên đất này”. Vừa nhận qua email. Bạn bè chơi với nhau tròm trèm đã 30 năm rồi còn gì? Tri kỷ, tri âm là gì? Giải thích ra làm sao? Chỉ biết rằng, đó là khi nhìn về các khiếm khuyết nhất thời của bạn; hoặc với lý do gì đó, bạn đang bị lời ong tiếng ve, người ấy cứ nhẹ tênh như không, vẫn nhìn nhận về bạn như trước đó.

 

Anh chàng nọ, có lúc đàn đúm, nhậu nhẹt, đã say sỉn lại còn kéo bồ tèo chiến hữu kéo bè vể nhà nhậu tiếp. Cả lũ hũ chìm ngất ngưỡng. Rồi nôn thốc, nôn tháo đầy nhà, cho “chó ăn chè” đầy sân. Rồi nằm la liệt như các chiến binh bỏ mạng nơi sa trường. Lúc tỉnh dậy, bọn họ sẽ xắn tay áo lên mà dọn dẹp chăng? Không. Chúng lại kéo nhau đi hát karaoke. Cứ xem như chưa có chuyện gì xẩy ra. Thời gian trôi qua, chẳng mấy chốc tối mịt, anh chàng nọ lết thếch quay trở về nhà.

 

Lạ thay, cửa nhà đã ngăn nắp, sạch sẽ, tinh tươm. Ai đã ra tay ngoạn mục thế kia? Mẹ của anh chàng nọ đấy. Biết chuyện, nhiều người cằn nhằn, góp ý: “Cụ chiều con quá. Nó ỷ lại đâm hư”. Nào ngờ, bà cụ chỉ cười. Tại sao có sự độ lượng ấy? Vì rằng, chính người mẹ biết con mình chưa bao giờ như thế, nay lại thế ắt có cơn cớ gì đây. Trước mắt, chấp nhận chứ không nghĩ khác về con như đã nghĩ.

 

Một hai người bạn của y cũng có tâm thế tựa như thế. Lần nọ, do cao hứng quá, y có cử chỉ thế này, thể hiện thế kia. Sau mọi việc, nghĩ lại cảm thấy áy náy, bèn hỏi ý kiến bạn bè. Có người phê bình, có kẻ quăng ngay “cục lơ”. Riêng hắn ta, cứ cười to như không: “Đó mới là tính cách của bạn mình”. Xong, không bàn gì về chuyện đó nữa.

 

Lại có những người bạn, khi gặp chuyện, hỏi ý kiến của họ thì câu chuyện ấy lại trở nên trầm trọng lắm lắm. Riêng cậu bạn nhỏ của y lại khác. Lúc nào hắn cũng cười: “Chuyện vặt. Anh để ý làm gì?”. Ngay cả việc chăm con thế nào, đang lo sốt vó, hắn quả quyết: “Dễ ẹt. Rồi anh khắc biết. Tắm cho con trẻ cứ như trong vòng tay anh đang ôm lấy cái bình thủy, chứ có gì khó”. Rồi hắn ta đứng dậy ngay trong quán phở làm động tác này, động tác kia, do đó, sự âu lo trong lòng y vơi dần đi và tự tin hơn. Mỗi lần nhớ lại, y cứ tủm tỉm cười, tin cậy và lại nhớ câu thơ hắn ta đã tặng: “Phong trần nhưng vẫn mặc quần/ Thư sinh dẫu đã cởi trần từ lâu”.

.Thế đấy. Tri âm tri kỷ chính là người đã biết rõ tính cách, tính nết, tâm tính của bạn. Biết từ sâu thẳm lòng mình. Chỉ nói ra khi cần thiết, bằng không, im lặng. Khi gặp chuyện cần hỏi han, người ấy lại tiếp thêm sự lạc quan, không gieo bi quan để trầm trọng câu chuyện. Nói cách khác, tri âm tri kỷ là cùng tiếp cho nhau năng lượng để mỗi ngày vui sống. Thậm chí, thích một quyển sách, một bộ phim, tranh vẽ, món đồ cổ… mà mình đang đọc, đang xem, đang gìn giữ, nghĩ cho cùng cũng là một cách tri âm, tri kỷ với tác giả/ chủ nhân đã từng sáng tạo/ sở hữu. Đời sống bao giờ cũng có nhiều biến động, thay đổi nhưng từ trong sâu thẳm lòng người, từ ngóc ngách sự việc vẫn có những chi tiết, dù nhỏ nhoi nhất khiến ta ấm lòng.

 

Nhìn xa hơn một chút, ngay cả người đã chết hàng trăm năm trước vẫn có tri âm, tri kỷ đang sống trên cõi trần.

 

Nói như thế, vì mới đây, trang thông tin điện tử của Trung tâm Lưu trữ quốc gia I vừa công bố Châu bản triều Nguyễn về lễ tế đàn âm hồn tại Huế, do vua Thành Thái “châu phê”. Sự kiện này thế nào? Khi dịch văn bản này, nhà nghiên cứu Nguyễn Thu Hoài giải thích: “Đêm ngày mồng 4.7.1885 tức đêm ngày 22 rạng sáng ngày 23.5 năm Ất Dậu lợi dụng việc Khâm sứ Trung kỳ Champeaux mở tiệc nghênh tiếp Toàn quyền De Courcy đến thăm Huế, Tôn Thất Thuyết, một trong số các quan đứng đầu phe chủ chiến của triều đình nước Nam đã ra lệnh tấn công Tòa Khâm sứ Pháp… Trong trận chiến hỗn loạn đó nhiều quan lại, binh lính và dân thường tại Huế đã bị giết hại. Ngày đó trở thành một trong những ngày đẫm máu và đau thương nhất trong lịch sử xứ Huế. Chín năm sau ngày Kinh đô Huế thất thủ, năm 1894 vua Thành Thái đã cho lập một đàn tế Âm Hồn để thờ cúng vong linh những người đã tử nạn trong sự kiện lịch sử đó”.

 

Văn bản này, ngoài liệt kê các phẩm vật, còn có câu: “Hỡi hỡi chư linh, chẳng thể không xót xa, hoặc theo phò vua, hoặc vì nước mà phong trần, bỗng động binh lửa, mà thành thây ma, tụ thành hồn phách, đất trời sầu thảm, cỏ cây xót thương. Lời niệm lòng thành, cập đến tâm can, thê lương bù đắp, ân điển lớn lao, chút nào đắc dụng, ngầm mong an ủi, xin về thượng hưởng”. Tưởng niệm sự kiện này, hiện nay ngày 23.5 âm lịch hằng năm tại Huế gọi “Ngày quẩy cơm chung”. Há chẳng phải là ngày của những người tri âm, tri kỷ cùng gặp gỡ đó sao? Trên dương thế, vẫn còn có người thương xót, mủi lòng, đồng cảm với số phận đã khuất, đã bỏ mình trong một sự kiện vì nghĩa lớn. Nhìn nhận từ góc độ này, ắt sẽ thấy mối liên kết bất biến, bất đi bất dịch của con dân sinh ra trong cùng một bọc, có chung tên gọi là “đồng bào”.

 

Tri âm, tri kỷ còn đáng quý ở chỗ, do cùng chí hướng, cùng mục đích mà họ gắn kết thực hiện chung một chủ trương nào đó. Nghĩ đến điều này, khâm phục nhất đối với y vẫn là các nhà nho cấp tiến đã khởi xướng phong trào Duy tân đầu thế kỷ XX. Khi đánh thức tinh thần quốc dân về lợi ích của việc buôn bán nói nói chung, trước hết là phải cổ động, tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng về ý thức “Dân giàu nước mạnh”. Không chỉ đổi mới trong tư duy, các cụ còn xắn tay áo thực hiện “những việc càng làm ngay” để quốc dân noi gương.

 

Từ năm 1904 tại Bình Thuận, các cụ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Trọng Lợi, Hồ Tá Bang, Nguyễn Hiệt Chi... thành lập Công ty thương mãi Liên Thành. Chỉ riêng việc lập công ty này, ta đủ thấy các cụ “chịu chơi” như thế nào. Ai đời các bậc uyên thâm Nho học, thi đậu, có tên chói ngời trên bảng vàng nhưng không thèm ra làm quan “ăn trên ngồi tróc” mà lại rủ nhau đi kinh doanh!

 

Chẳng hạn, cụ Huỳnh Thúc Kháng lập Thương hội công ty, trụ sở đóng tại gần chùa Cầu Hội An; cũng tại Quảng Nam, cụ Phan Thúc Duyện lập Hợp thương Phong Thử, cụ Trần Quý Cáp lập Nông hội ở phủ Điện Bàn v.v....; tại Nghệ An, cụ Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn lập Triêu Dương thương quán... Ngoài Bắc, cụ Đỗ Chân Thiết, Phương Sơn buôn gạo từ Thái Bình, Hải Dương về Hà Nội, mở hiệu buôn Đồng Lợi Tế (nghĩa là hội họp nhau cùng sinh lợi) tại phố Mã Mây chuyên bán đồ nội hóa; cụ Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Quyền mở Công ty Đông Thành Xương bán hàng tạp hóa ở phố Hàng Gai; cụ Tùng Hương lên Phúc Yên mở hiệu buôn Phúc Lợi Tế; cụ Nguyễn Trác mở hiệu buôn Sơn Thọ ở Việt Trì v.v... Trong Nam, cụ Nguyễn An Khương mở khách sạn Chiêu Nam lầu; cụ Trần Chánh Chiếu lập Minh Tân khách sạn ở Mỹ Tho, lập Nam kỳ Minh tân Công nghệ theo phương thức cổ đông v.v...

 

Nhưng buổi ban đầu, muốn thực hiện chủ trương này không phải dễ. Trong quyển Đông kinh nghĩa thục, nhà văn Nguyễn Hiến Lê có kể lại chuyện thú vị xẩy ra ngoài Bắc vào đầu thế kỷ XX, khi nhà nho Đỗ Chân Thiết và Phương Sơn rủ nhau đi buôn. Hai cụ mướn thuyền về Hải Dương, Thái Bình mua gạo chở lên Hà Nội bán. Dù đi buôn nhưng hai cụ vẫn giữ vẻ quan cách đĩnh đạc, vẫn áo xuyến, khăn lượt chỉnh tề! Thuyền đậu ở bến cột Đồng hồ Hà Nội, có mấy o xinh đẹp xuống hỏi mua. Nhưng khi nhìn thấy trong khoang thuyền nào là tráp khảm, sách vở mấy pho, treo vài câu đối đỏ lại vang rền tiếng ngâm thơ nên tưởng là các nhà nho đùa, mấy o liền ù té chạy. Hai cụ gọi hết hơi nhưng cũng chẳng ai tin!

 

Họ chẳng tin vì lâu nay hình ảnh nhà nho trong mắt họ và trong suy nghĩ của họ: “Cái tên nhà nho không những là để chỉ người biết chữ, học đạo thánh hiền trong Nho giáo; lại là chỉ một giai cấp trong xã hội, tức là hạng thượng lưu trí thức trong nước. Vì xưa kia ngoài Nho học không có cái học nào khác nữa, nên phàm người đi học là học đạo Nho hết cả. Đạo Nho có cái địa vị độc tôn, nên hầu như thành một tôn giáo; mà thực ra cũng chính là cái quốc giáo của nước Nam từ xưa đến giờ. Những người phụng sự cái quốc giáo đó, tức là nhà Nho. Vậy thì nhà Nho là kẻ có học hành, biết chữ nghĩa; nhà Nho là bậc thức giả xã hội trong nước; nhà Nho là tín đồ của cái tôn giáo họ Khổng. Về đường xã hội, về đường chính trị, về đường tri thức, tinh thần đều có một cái địa vị đặc biệt, đối với một chức vụ đặc biệt. Chức vụ này cao quý, có thể gọi là một thiên chức được, vì là chức vụ hướng đạo cho quốc dân, làm tiêu biểu cho cả nước” (Phạm Quỳnh - Tạp chí Nam Phong số 172, tháng 5.1932).

 

Thế thì, làm sao họ có thể chia sẻ được hình ảnh nhà nho trở thành “con buôn”, “tư thương” được chứ?

 

Tất nhiên, thay đổi tận gốc rễ một quan niệm cũ, xây dựng một ý thức không phải là việc làm của ngày một ngày hai mà là cả một quá trình lâu dài. Ngoài yếu tố khách quan, y còn muốn nhấn mạnh đến cái tình tri âm, tri kỷ của nhau. Bởi vì rằng, nền tảng cho việc khởi xướng ấy trước hết xuất phát từ mục tiêu chung, từ chỗ “hợp gu”, “hợp cạ” với nhau. Phải tri âm, tri kỷ như ruột thịt thì các lãnh tụ phong trào Duy tân mới có thể đồng tâm hiệp lực. Sức mạnh là ở đó. Một tinh thần của điển tích Lưu Bình - Dương Lễ, chứ nào phải bị ràng buộc vì các quy định hiểu theo văn bản hành chánh. Ấy còn chính là khí phách, bản lĩnh, phẩm chất của kẻ sĩ nước Việt đầu thế kỷ XX.

 

Đã tri âm, tri kỷ thì mới thật sự gắn bó lâu bền, vượt lên trên mọi quan hệ nhất thời “Có qua có lại mới toại lòng nhau”, “Ông mất chân giò, bà thò chai rượu”. Trước đây, y đã viết loạt bài về tình bạn trong văn chương - nhằm chứng minh rằng, trong văn học Việt Nam xưa nay đã có những đôi bạn tri âm, tri kỷ. Họ chia sẻ buồn vui từ cuộc sống đến tác động lẫn nhau trong sáng tác văn chương, sáng tạo nghệ thuật. Giá trị của tình bạn ấy không chỉ là nét non tươi đẹp, ấm áp, chỗ dựa tin cậy trên đường đời của họ mà qua đó, bạn đọc còn được thưởng thức những áng thơ văn có giá trị hoặc cùng thực hiện chung hoài bão nào đó. Có thể kể đến Phan Châu Trinh - Huỳnh Thúc Kháng, Trần Trọng Kim - Bùi Kỷ, Ngô Tất Tố - Vũ Trọng Phụng, Nhất Linh - Khái Hưng, Đông Hồ - Mộng Tuyết, Xuân Diệu - Huy Cận, Nam Cao - Tô Hoài, Sơn Nam - Kiên Giang…

 

Có chi tiết cảm động ít người biết đến, về trường hợp cụ Phan Bội Châu bị đưa ra Hội đồng đề hình ngày 23.11.1925 tại Hà Nội. Lúc quan tòa đang luận tội, từ phía xa, vượt qua hàng rào nhân viên an ninh lẫn khán giả đang ngồi chật ních xem xử án, có người đã chạy vụt lên phía trước. Lính canh giữ chặt lại, người này chìa ra lá thư xin nhờ chuyển lên viên chánh thẩm. Lá thư ấy, nội dung viết gì? Là xin nhận tội chết thay cho cụ Phan. Người đó là ông Tú Khắc, tức Tú tài Nguyễn Khắc Doanh, người huyện Nam Trực (Ninh Định). Dù mới lần đầu biết mặt, chưa hề “gặp gỡ bắt tay cười to một tiếng cho thoả” nhưng há chẳng phải tri âm, tri kỷ của nhau đó sao?

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.7.2018

dao_hoc_ngay_nay_da_chan_roi_1R

 

Chừng hơn hai mươi năm trước, lúc mới chân ướt chân ra ra Hà Nội, có đồng nghiệp cắc cớ: “Đố Q ở Thủ đô một năm có mấy mùa?”. Tréo ngoe chưa? Thế mà cũng hỏi. Bèn trả lời. Trật lấc. Thật ra, có đến 5 mùa. Có thêm cả… mùa chạy giải thưởng, kết nạp hội. Bạn của y, tạm gọi nhà văn A, vốn nổi tiếng trong lãnh vực viết truyện thiếu nhi, uy tín sáng láng nên được mời vào hội đồng chấm giải chuyên ngành. Ban đầu, anh hào hứng vì thỉnh thoảng được mời ra thủ đô họp bàn, bỏ phiếu chung khảo… Cuối cùng, anh tự nguyện xin rút lui. Hỏi, tại sao? Anh cười mà rằng, đại khái do không thể chịu nổi áp lực phải nhận quà cáp, mời mọc bia bọt của nhiều đồng nghiệp bởi họ cần ở anh lá phiếu bình chọn. Ngồi cái ghế có quyền “ban phát” nọ kia, lại được nhiều người săn đón, điếu đóm, cầu cạnh nhưng anh A vẫn rút lui, há chẳng phải người có tư cách đó sao?  

Mà, thật lạ, từ nhiều năm nay, hễ khi công bố kết quả giải thưởng văn chương, phong tặng danh hiệu nghệ sĩ, nhà giáo nhân dân, phong chức danh giáo sư, phó giáo sư v.v…. lập tức lại ầm ĩ dư luận không đồng thuận. Gần đây nhất, báo chí lại “dậy sóng” với việc phong danh hiệu sĩ. Có hai điều lạ: một là, không chỉ không công khai số phiếu, không công khai danh sách Hội đồng cấp nhà nước xét duyệt hồ sơ nghệ sĩ; hai là, theo quy định thì nghệ sĩ phải làm đơn xin phong tặng danh hiệu! Đã “xin” thì mối quan hệ qua lại thuộc cơ chế “xin-cho”, chứ nào còn phải tặng, phong tặng nhằm tôn vinh tài năng của người nghệ sĩ?

Ông Nghè, ông Thám vô mây khói

Đứng lại đời sau một Tú tài

Sử sách còn ghi rành rành, cứ tưởng đùa, có những người dù không đậu Trạng nguyên, nhưng do có “công trạng đặc biệt” nên cũng được dân phong là “trạng”. Trạng dân phong có sức sống lâu bền, thậm chí còn hơn cả trạng do nhà nước phong. Bởi vì rằng, một khi những gì đã thuộc về dân, dân chấp nhận, dân tôn vinh thì sức sống ấy có thể vượt qua bụi mờ thời gian. Vấn đề đặt ra ở đây không phải đã thi đậu, đã học hàm, học vị gì mà họ đã làm được cái gì?

Về các ông trạng do dân phong tặng, có thể ghi nhận là một chuyên đề lý thú trong Folklore học Việt Nam, chắc chắn sẽ có các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đi sâu tìm hiểu và lý giải vấn đề này. Trước mắt, có thể kể đến: Trạng Ăn (Lê Như Hổ), Trạng Quét (Lê Quát), Trạng Gióng (Đặng Công Chất), Trạng Bùng (Phùng Khắc Khoan), Trạng Vật (Võ Phong), Trạng Cờ (Vũ Huyên), Trạng Quỳnh (Nguyễn Quỳnh), Trạng Lợn (Dương Chung Nhi), Trạng Tả Ao (Vũ Đức Huyền), Trạng Ngộ (Nguyễn Xiển, còn gọi là Xiển Bột) Trạng Ngọt (Hứa Tam Tỉnh)... và một số trạng không rõ tên như Trạng Gạt, Trạng Độn, Trạng Khiếu...

Có một số ông trạng, dân gian không gọi tên thật mà kính trọng gọi bằng cái tên khác - với nhiều lý do như trạng có sở trường về chuyên môn đó; hoặc có công truyền nghề cho dân; hoặc gắn liền với địa danh sinh ra Trạng. Chẳng hạn, Trạng Trình (Nguyễn Bỉnh Khiêm) - do được vua nhà Mạc phong tước Trình Tuyền Hầu, ngụ ý đề cao ông có  công khơi nguồn Lý học như anh em Trình Di và Trình Hạo ở Trung Quốc...; rồi ông lại được thăng tước Trình Quốc Công; Trạng Me (Nguyễn Giản Thanh) - do sinh ở làng Hương Mạc, tên nôm là Me, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc; Trạng Lường (Lương Thế Vinh) - do giỏi về tính toán, có để lại đời sau bộ sách Đại thành toán pháp; Trạng Chiếu (Phạm Đôn Lễ) - do có công dạy dân nghề làm chiếu; Trạng Bịu (Nguyễn Đăng Đạo) - do sinh ở làng Hoài Bảo, tên nôm là Bịu, huyện Tiên Du, Hà Bắc... Có Trạng do đi sứ có tài biện bác, ứng đối thông minh nên được vua Trung Quốc phong là “Lưỡng quốc Trạng nguyên” như trường hợp Mạc Đĩnh Chi, Phùng Khắc Khoan - dù ông Phùng không đậu Trạng, chỉ đậu Hoàng giáp...

Dù không đậu Trạng nguyên, chỉ mới Tú tài, trong số đó, còn có Tú Xương. Đời sau đã ca ngợi một thi sĩ tài hoa bậc nhất đất Nam Định, dù rằng thuở sinh thời, nhiều lần lều chõng đều trợt vỏ chuối. Âu cũng là… cái may cho nền văn học nước nhà. Nếu thí sinh Tú Xương thi đâu đậu đó thì sức mấy: “Kìa ai chín suối Xương không nát/ Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn”. Tú tài mà làm thơ cỡ như Tú Xương kể ra hiếm lắm. Một khi đọc kỹ thơ của anh chàng tự trào: “Vị Xuyên có Tú Xương/ Dở dở lại ương ương:/ Cao lâu thường ăn quịt/ Thổ đĩ lại chơi lường” ắt nhận ra rằng đó là… một nhà báo chuyên nghiệp. Có điều, ông viết phóng sự bằng… thơ trào phúng! Do tài năng tót vời, một khi thời sự đi qua nhưng các câu thơ ấy vẫn “đứng lại”, vẫn tạo thành một bức tranh chính trị-xã hội của một thời quá vãng. Trong cõi trường văn trận bút trùng trùng điệp văn tài chữ nghĩa, vàng thau lẫn lộn ấy; trong chốn quan trường nhộn nhạo mua quan bán chức lẫn có thực tài ấy, điều gì sẽ khiến đời sau còn nhớ đến họ?

Về thơ trào phúng, đồ đệ của Tú Xương nhiều lắm, thí dụ Tú Mỡ. Khi ta gọi Tú Mỡ,  đó chỉ là bút danh của Hồ Trọng Hiếu; nhưng gọi Tú Xương thì nó vừa bút danh, vừa phản ánh cả học vị của Trần Tế Xương. Thế thì sao lại không lẩn thẩn tìm hiểu một vài nhà thơ đã có bút danh gắn với học vị? Âu cũng là một cách tìm hiểu về khoa cử của ngày xưa. Lý thú quá đi chứ? Chẳng rõ, có thể nhàm chán với người này nhưng hữu ích với người kia, mà thôi, tranh cãi làm chi, ít ra đọc và ghi chép cũng là một cách học đó thôi.

“Rớt Tú tài anh đi trung sĩ/ Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con/ Bao giờ xong nợ nước non/ Anh về anh có Mỹ con, anh bồng”. Câu đùa tếu táo của một thời vẫn còn trong trí nhớ của nhiều người. Thế thì, Tú tài ra đời từ lúc nào nhỉ?

Xưa nay, các nhà cầm quyền muốn tìm nhân tài ra giúp nước, thông thường phải thông qua con đường khoa cử. Do sử sách không ghi chép hoặc tài liệu đã thất lạc, tiêu hủy trong binh đao nên khoa cử Việt Nam từ đời nhà Đinh, nhà Lê trở về trước rất khó khảo cứu. Ngay cả trong Lịch triều hiến chương loại chí, nhà bác học Phan Huy Chú (1782-1840) cũng chỉ viết: “Khoa cử bấy giờ còn thiếu, triều đình dùng người không câu nệ, không theo phép tắc cụ thể nào, sự cân nhắc còn rộng rãi, mà thực ra nội quy thi cử cũng chưa được tường. Điều này cũng dễ hiểu vì bắt đầu xây dựng, sự thể cũng phải như vậy”. Trải qua các triều đại, qua từng khoa thi có khác, nhưng đại thể như sau:

Từ năm 1396, vua Trần Thuận Tông quy định lại phép thi cử đặt ra thi Hương để chọn lấy cử nhân: cứ năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội, ai đậu thì được tiếp tục thi Đình, do chính nhà vua ra đề để phân cấp bậc, thứ tự cao thấp. Thi Hương là do các địa phương tổ chức. Thi Hội là cấp thi Trung ương do triều đình tổ chức. Thế nhưng trước khi vào thi Hương, các thí sinh phải qua kỳ thi khảo hạch ở địa phương. Năm 1915, nhà văn Ngô Tất Tố đỗ đầu kỳ khảo hạch toàn tỉnh Bắc Ninh nên còn được gọi Đầu xứ Tố. Sau khi khảo hạch, những thí sinh đủ tiêu chuẩn mới được dự thi Hương gọi là Cống sĩ. Những người chỉ thi đậu qua ba trường (trường nhất, trường nhì, trường ba) hay còn gọi là ba kỳ thi Hương thì được gọi Sinh đồ, nhưng nếu có ông cha làm quan viên tử hoặc quan viên tôn thì được gọi Nho sinh; thi đậu bốn trường gọi là Hương cống, còn gọi Hương tiến. Đời nhà Nguyễn, những người thi đậu qua ba trường (trường nhất, trường nhì, trường ba) gọi là Tú tài (tương đương Sinh đồ đời Lê); đến trường tư, các Tú tài vào thi, người nào đậu thì xếp hạng Cử nhân (tương đương Hương cống đời Lê), số còn lại đều gọi là Tú tài. Nếu đậu đầu thi Hương được gọi là Giải nguyên, khi đi thi Hội được gọi là Cống sinh.

Đọc sử sách thấy có những người là Tú Đơn, Tú Kép, Tú Mền, Tú Đụp - nghĩa là sao? Tú Kép là những người hai lần thi Hương đều đậu Tú tài - như trường hợp nhà thơ trào phúng Hoàng Thụy Phương, thường gọi Trà, hai lần thi Hương tại trường thi Nam Định, khoa 1897 và 1909 chỉ đậu Tú tài nên người đời gọi là Kép Trà; Tú Mềm là những người ba lần thi Hương đều đậu Tú Tài - như trường hợp cụ Nguyễn Tông Khởi, bố của Tam nguyên Yên Đỗ, ba lần đậu Tú tài trong các khoa thi năm 1825,1841 và 1852 nên được gọi là cụ Mềm Khởi; Tú Đụp là những người bốn lần thi Hương thì bốn lần đậu Tú tài. Nhà thơ trào phúng tài hoa Tú Xương 8 lần lều chỏng đi thi nhưng cũng chỉ mỗi một lần đậu tới... Tú tài! Những người chỉ đậu như thế còn được gọi là Tú Đơn để phân biệt với các ông Tú khác.

Trong thi ca trào phúng miền Nam, ở Vĩnh Long có nhà thơ Nhiêu Tâm, do đâu? Để tìm nhân tài, thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635) ở Đàng Trong đã mở những khoa thi tuyển gọi là “Xuân thiên quận thí”- chỉ diễn ra một ngày ở các trấn, quận - người thi đậu gọi là Nhiêu học. Khoa thi này thật ra chỉ tương đương với các kỳ khảo hạch trước khi thi Hương của vua Lê chúa Trịnh. Họ được miễn phu phen tạp dịch để có thời gian đèn sách trước khi dự thi Hương. Ông Đỗ Minh Tâm được gọi là Nhiêu Tâm là vậy. Nhà thơ Nguyễn Văn Lạc, quê ở Mỹ Tho sao lại gọi Học Lạc? Theo Theo nhà nghiên cứu Trịnh Vân Thanh: “Ông có trí thông minh từ nhỏ, nhưng nhờ học giỏi nên ông được tuyển thẳng vào ngạch học sinh, ngạch do triều đình nhà Nguyễn đặt ra, được cấp lương và được học tại trường của quan Đốc học. Do đó, người ta gọi ông là "học sinh Lạc", dần dần bỏ mất chữ "sinh", còn lại hai chữ "Học Lạc” (Thành ngữ điển tích danh nhân tự điển, in năm 1965 tại Sài Gòn, tr.501).

Đạo học ngày nay, có gì khác trước?

Không dám lạm bàn, chỉ xin nêu hai ý kiến nhận xét chung về lối học ngày trước, nhà Hán học uyên thâm Phan Kế Bính có ý kiến: “Cách học của ta chẳng nói thì ai cũng biết là trái phép sư phạm. Tự lúc nhỏ cho đến lúc lớn, chẳng qua chỉ học trong hai khoa luân lý với văn chương. Mà luân lý lại theo nghĩa hẹp hòi, bó mình vào trong lễ phép quá, làm cho người ta không thể theo được, văn chương thì cũng phù phiếm, người nước Nam mà bàn việc Nguyên, Minh, chuyện Đường Tống, ngồi xó nhà mà tả những cảnh Hoàng Hà, Thái Sơn, thực là “ngồi cầu Đơ mà nói quán Mọc”... Ngoài khoa văn chương luân lý thì không còn khoa gì nữa, thể thao chẳng có, kỹ nghệ cũng không. Ai học rộng ra đến thiên văn, địa lý, y khoa lý số một chút đã cho là “vạn sự xuất ư nho”, mà rút lại thì chẳng nghề gì là học cho đến nơi đến chốn. Học thuật của ta hủ bại như thế, trách nào mà trí thức của ta chẳng mờ mịt, văn minh của ta chẳng kém xa các nước” (Việt Nam phong tục, NXB TP.HCM tái bản 1990- tr. 158- 159).

Nhà giáo Phạm Thế Ngũ cũng có ý kiến tương tự: “Về kết quả đào tạo thì chương trình giáo dục ấy chỉ tạo nên một người trí thức tinh luyện về đạo đức, văn chương, lịch sử, triết lý, trong phạm vi hiểu biết của thế giới Trung Hoa xưa. Nó thiếu hẳn về phần chuyên nghệ. Nhưng cổ nhân có câu “Sĩ khả bách vi” hay “Vạn sự xuất ư nho”. Một khi thi đậu ra làm quan trị nước rồi mới tìm coi thêm những sách về pháp luật, binh bị, toán số, về chế độ, phong tục, lịch sử, địa dư nước mình. Đó là cái học trực tiếp thực hành coi làm phần phụ sau cái nồng cốt về văn hóa và lý thuyết ở trên kia” (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên –NXB Quốc học tùng thư in năm 1961- tr.79).

Ý kiến về “cái học trực tiếp thực hành” rất đáng suy nghĩ, bởi lẽ cái học ngày nay có hướng theo xu thế đó không?


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 7.7.2018


Thay_giao

Thời tiết nóng. Một ngày trôi qua nhanh chóng. Há miệng ra ngáp, chưa kịp khép lại đã trôi tuột một ngày. Ngay cả các sự kiện chính trị, xã hội vừa mới rôm rã, ồn ào, vài ngày sau đã lặn sâu; nổi lên trên bề mặt lại là thông tin khác. Cứ thế. Chẳng mấy chốc, hết một ngày. Thời buổi này, chẳng rõ, có còn ai kiên nhẫn chọn lọc, ghi nhận lại sự kiện mỗi ngày như trước kia ông Đoàn Thêm đã tẩn mẩn, tỉ mỉ ghi chép để có được các tập Việc từng ngày suốt nhiều năm liền? Khó lắm. Mỗi ngày còn phải lo toan biết bao nhiêu chuyện vặt vảnh, còn đâu thời gian? Mấy hôm nay, dự định sẽ ghi lại những gì liên quan đến ký thi tốt nghiệp trung học phổ thông vừa diễn ra từ ngày 25.6 đến 27.6, nhưng rồi cũng bỏ khuấy luôn. Có chăng chỉ là vài con số, chẳng hạn, hơn 925.000 thí sinh đăng ký dự thi; 45.000 là con số giảng viên từ các trường đại học sẽ tỏa đi 63 tỉnh, thành tham gia công tác coi thi. Thôi thì, lực bất tòng tâm. Đành chịu. Hãy quay về với chuyện thi cử ngày xưa.

Trước kia, cứ nghĩ, nhà văn Ngô Tất Tố vẫn là cây bút phóng sự lỗi lạc, từng trải chuyên viết về đề tài nông thôn ở miền Bắc. Nói cách khác, muốn tìm hiểu ngóc ngách thân phận đời thường của người nông dân thuở ấy, đọc gì thì đọc nhưng không thể bỏ sót tác giả Tắt đèn. Nào ngờ khi đọc Lều chõng, lại thấy một Ngô Tất Tố khác, đó là lúc ông dựng lại không khí thi cử ngày ấy. Có những sự việc, nếu đọc sách nghiên cứu ắt cảm thấy nặng nề, dù cần thiết, dù khoa học, dù chính xác nhưng vẫn không hấp dẫn bằng các trang viết mà nhà văn đã lồng vào tình tiết thông qua các nhân vật. Đọc Lều chõng với các nhân vật Vân Hạc, Đức Chinh, Đoàn Bằng, Đốc Cung…; hoặc Bút nghiêng của Chu Thiên, ta vẫn cảm thấy hấp dẫn hơn, dễ nhớ hơn.

Thi cử ngày xưa ra làm sao? Từ những gì đã đọc của  nhà văn Ngô Tất Tố, Chu Thiên và vài tài liệu khác, y ghi chép lại đôi dòng - dành cho những ai cần tìm hiểu nhưng không có thời gian ngốn vài trăm trang sách. Này, thử nêu vài nét khái quát chung về việc học tập của đứa trẻ thuở xưa? Rằng, hầu như làng nào cũng có những trường học dành cho trẻ em. Không phải là trường công lập của nhà nước; hoặc cũng không phải trường tư như quan niệm hiện nay. Mà phổ biến nhất là trường thiết lập tại nhà riêng của một người giàu có trong làng, tự nguyện đài thọ cho thầy để dạy dỗ con em trong nhà. Những người hàng xóm cũng đưa con đến học, họ xin góp chung tiền với chủ nhà để cùng lo cho thầy - với quan niệm “đạo thánh là đạo rộng” nên chủ nhà chẳng hẹp hòi gì. Nhưng trường cũng có thể là của bậc thức giả trong làng, không phải lo chạy gạo hằng ngày, ngồi dạy trẻ trong nhà rồi nhân tiện dạy luôn trẻ nhà người.

Thầy có thể là người giỏi chữ từ xa đến; hoặc người trong làng có học kinh sử nhưng chưa đỗ đạt, ngồi dạy học để chờ lúc triều đình mở khoa thi thì tiếp tục lều chõng, thường gọi là thầy đồ, thầy khóa. Trong thời gian dạy học, thầy ở luôn trong nhà người ta, mọi cơm bưng nước rót đều có người lo chu tất. Trong bài Phú đồ ngông, cụ Nguyễn Khuyến dẫu có viết những câu giễu cợt, nhưng đúng với “phong thái” của ông thầy ngày xưa: “Bốn cóng kê giường; vài chồng cặp sách/ Cơm trắng canh ngon; ghế cao chiếu sạch/ Chữ “thánh phù”/ Câu “thiên tích”/ Chậu thau rửa mặt tầm váo tầm vênh/ Điếu sứ long đờm, cóc ca cóc cách/ Thần Kiêu Kỵ xôi gà tùy thích, ông đã nên ông/ Bụt Nam Xang oản tẻ chẳng từ, khách thời mặc khách”. Chỗ ngồi dạy của thầy thường là gian nhà ba gian, kê cái giường cho thầy nằm ngủ, một cái sạp để tiếp khách, một cái phản để thầy dạy học, chấm bài... Học trò dù lớn nhỏ cũng đều trải chiếu ngồi dưới đất, hoặc ngồi trên giường thấp hơn phản ngồi của thầy.

Đứa trẻ muốn thọ giáo với thầy thì cha mẹ phải làm lễ “khai tâm”. Lựa ngày lành tháng tốt cha mẹ đứa trẻ đem xôi gà, rượu... đến thưa với thầy và chủ nhà cho con em mình nhập học. Thầy mặc áo dài, đầu chít khăn đen khi khấn lễ khai tâm, còn đứa trẻ cũng lễ ba vái bốn lạy. Sau đó, mọi người cùng ăn lễ, đứa trẻ ưu tiên được ăn mắt gà với ngụ ý mắt sáng để tiếp thu nhanh chữ của thánh hiền, không cho ăn chân gà sợ khi viết run tay... Nếu gia đình khá giả hơn thì họ làm cỗ cúng, cáo yết gia tiên mời thầy và bà con xóm giềng đến nhà chứng kiến lễ khai tâm cho con em mình. Ăn uống xong, nếu trong làng có nơi thờ Đức Khổng Tử thì thầy dẫn trò ra đó ân cần giảng cho trò nghe về đạo Thánh hiền để trò ý thức về việc học của mình sau này.

Buổi sáng, nghe tiếng gà gáy đầu thôn, thầy đã dậy, khăn áo chỉnh tề, uống trà và cũng là lúc học trò lũ lượt kéo đến trường. Trước tiên đứa trẻ được thầy dạy tập viết, nhưng nó chưa được cầm bút lông mà cầm que tre vạt nhọn một đầu. Thầy cầm tay trò lấy cây que thấm nước viết những chữ ít nét trên tấm ván gỗ cho quen tay; hoặc chỉ cho nó viết trên mảnh gỗ có khắc nét chữ sâu xuống, đầu “bút” dựa theo những đường rãnh đó mà không chệch ra ngoài... Tập dần cho quen tay để nó thuần thục trước khi cầm bút lông để viết.

Dần dần, thầy viết bút son cho trò cầm bút lông tô nét mực lên trên, khi viết phải tập kéo bút chỉ một lượt mà tô kín nét son của thầy. Rồi thầy lại viết chữ trên một tờ giấy, đặt xuống dưới trang giấy của trò, bảo nó nhìn theo đó mà “đồ” theo bóng chữ của thầy. Trong quá trình tập viết, thầy dạy cho trò biết nét nào viết trước, nét nào viết sau, chữ nào viết trước chữ viết nào sau. Chẳng hạn, chữ Minh, ghép bởi chữ Nhật bên trái và chữ Nguyệt bên phải; nếu viết ngược lại là “trái cựa”, đứa trẻ bị thầy lấy bút khuyên tròn miệng gọi là phạt “vòng mép” suốt ngày không cho rửa; nếu viết chữ như gà bươi thì thầy lấy roi ghè vào tay.

Học xong lớp học của thầy trong làng, các học trò mới đến tập làm văn, nghe giảng sách ở trường của các ông Nghè, ông Bảng là những bậc cao; hoặc lên huyện, lên tỉnh học tiếp. Học để làm gì? Đi thi. Biết bao giờ này mới thay đổi? Ngày xưa, sĩ tử bước vào trường thi bị ràng buộc bởi những luật lệ nghiêm ngặt, hà khắc của “trường quy” - những quy định trong việc làm bài! Có thể kể đến một vài quy định:

“Trọng húy” là không được dùng bất cứ chữ gì có dính dáng đến tên nhà vua; “khinh húy” là tên những bà vua, mẹ vua, hay tiên tổ lâu đời của nhà vua.  “Khinh húy” khi làm bài nếu dùng chữ đó thì phải viết bớt đi một nét, nhưng “trọng húy” thì tuyệt đối cấm. Nếu thí sinh phạm “khinh húy” thì bị đóng gông phơi nắng suốt mấy ngày liền và suốt đời cấm thi; phạm “trọng húy” thì chẳng những thí sinh bị tù tội mà đến cả những ông huấn, giáo, đốc học dạy dỗ họ cũng bị khiển trách giáng cấp.

Nếu lỡ viết rồi thì có xóa đi được không ? Không! Theo quy định, muốn xóa bỏ một chữ nào thì, chỉ cần chấm ba cái vào mặt chữ để quan trường còn nhìn rõ chữ đó; nếu bôi đen không ai đọc ra thì phạm vào tội “đồ bất thành tự”. Vậy cách tốt nhất là xé bỏ tờ giấy đã viết, nếu trang đó không có đóng dấu “giáp phùng”, còn không thì phải thay nguyên cả quyển bài thi! Dấu "giáp phùng" là gì? Thí sinh phải làm bài bằng quyển thi nhận từ tay ban tổ chức trước khi vào trường thi, trong đó có đóng dấu “giáp phùng” - để thí sinh không thể tráo những tờ khác vào và phải viết đè lên chỗ đóng dấu. Nếu thí sinh viết sai, muốn xé bỏ một tờ trong đó thì phải lấy giấy đóng thành quyển thi khác và xin quan trường đóng lại dấu “giáp phùng”. Dù phải viết đè lên dấu “giáp phùng” và ngay cả trong bài thi tuyệt đối cấm “đồ, di, câu, cải” tức là tẩy xóa, sửa chữa... nếu không sẽ bị tội “thiệp tích” vì bị nghi ngờ là có ý đồ đánh dấu thông đồng với quan chấm thi.

Tròng thời gian làm bài, lúc trời gần đứng bóng thì có tiếng trống báo hiệu cho họ cầm bài thi chạy nhanh ra nhà Thập đạo để lấy dấu "nhật trung”. Đây là chứng cớ bài làm tại trường thi chứ không phải viết sẵn ở ngoài đưa vào và thí sinh không được viết đè lên dấu này. Lúc trời về chiều thì có tiếng trống “thu quyển” - tức nộp quyển thi. Bấy giờ, trước khi đem nộp, thí sinh phải cộng các chỗ mà mình đã “đồ, di, câu, cải” và viết dưới chữ “cộng quyển nội” - để phòng quan trường gian lận chữa thêm vào. Nhưng nếu thí sinh nào để quá mười lỗi “đồ, di, câu, cải” thì cũng bị tội “thiệp tích”. Những thí sinh không được nộp bài trong trường hợp này gọi là “ngoại hàm”. Xong, hòm đựng bài được khiêng vào nhà Thập đạo.

Thông thường, trước mỗi kỳ thi, quan trường cho dán trước cửa trường thi bảng chữ húy. Trong đó, có cho biết những chữ “trọng húy dĩ hạ”. Thậm chí, khi viết bản thông báo như thế, nhưng người ta cũng không dám viết rõ chữ trọng húy. Vì viết rõ ra thì người viết cũng phạm tội “trọng húy”! Do đó, khi viết người ta phải giải thích làm sao đó để đạt đến nội dung cần thiết để thông báo. Chẳng hạn, khi đọc thấy câu như “Nhất tự tả tòng nhân, hữu tòng nhâm” thì phải biết đó là chữ “nhậm” (tên thật của vua Tự Đức: Nguyễn Phúc Hồng Nhậm) - vì bên trái chữ “nhân”, bên phải chữ “nhâm”, có nghĩa là “nhậm”. Hoặc đọc thấy câu “Nhất tự tả tòng nhật, hữu tòng ương” thì phải biết đó là chữ “ánh” (tên thật của vua Gia Long: Nguyễn Phúc Ánh) v.v...

Ngoài ra, còn có quy định “kính khuyết nhất bút” nghĩa là vì húy nhẹ của nhà vua mà cung kính bỏ đi một nét. Trong tờ làm bài thi, dòng trên cùng gọi là “du cách”, dưới là hàng thứ nhất, dưới nữa là hàng thứ hai và kế đến là hàng thứ ba. Thí sinh phải biết rõ như thế để khi gặp những chữ như thiên địa, giao miếu thì viết lên hàng “du cách”; gặp những chữ như hoàng đế, thánh thượng, long nhan... nghĩa là những chữ chỉ bản thân nhà vua thì phải viết vào hàng thứ nhất; nếu gặp những chữ tả đức tính, hành vi của nhà vua thì phải viết vào hàng thứ hai. Còn những chữ khác thuộc về văn bài thì thí sinh cứ việc viết ở hàng thứ ba. Quy định này gọi là “lệ đài”. Nếu “khiếm đài” là cho dù bài làm văn hay chữ tốt đến cỡ nào thì dứt khoát cũng bị đánh hỏng.

Còn nếu “khiếm trang” - là thiếu sự kính trọng với nhà vua thì không những bị đánh hỏng mà thí sinh còn phải chịu tù tội. Chẳng hạn, dùng những chữ như hôn (tối), bạo (dữ), sát (giết)... vô tình đặt trên những chữ có nghĩa là vua như quân, vương, đế thì không thể tha thứ được. Ví dụ, câu văn: “Thần vũ bất sát, đế đức quảng phu” (Oai vũ thiêng liêng không cần giết ai, đức nhà vua vẫn cứ lan rộng) - là câu ca ngợi công đức nhà vua. Nhưng do chữ “sát” đặt cạnh chữ “đế” nên có thể hiểu là “giết vua”- như thế là vi phạm vào lệ “khiếm trang”! Hoặc câu “Tam bách niên xã tắc chi trường, ninh phi lại ư thử tai” (Xã tắc nhà Đường dài đến ba trăm năm, há chẳng phải nhờ đến điều đó  hay sao!) thì hai chữ “trường ninh” đi cạnh nhau, khiến người ta liên tưởng đến cung của bà hoàng thái hậu thì cũng phạm húy!

Hoặc câu “Xuân sinh thu sái, đế đạo dữ thiên đạo nhi tịnh hành” (Mùa xuân sinh ra, mùa thu lại, việc đời của vua cũng đi đôi với việc của ông trời). Câu này thoáng đọc qua thấy bình thường, nhưng nó lại phạm vào tội “khiếm trang”! Đó là ở hai chữ “sái” và “đế”. Vì chữ “sái” nguyên là chữ “sát” (giết) mà chuyển âm, tuy đọc khác nhau nhưng mặt chữ cũng vẫn là một. Nó lại được đặt liền với chữ “đế” thì ta có thể đọc là “sát đế”! Hơn nữa, cho dù trong bài thi, thí sinh không chỉ rõ vào một ông vua cụ thể nào, hoặc phê phán ông vua Kiệt, vua Trụ vô đạo đâu đâu xa tít tận bên Tàu thì cũng bị ghép vào tội “khiếm trang”!

Trong quá trình viết bài, thí sinh phải tỉnh táo, cân nhắc từng chữ, chẳng hạn, chữ “sĩ” trong bài thi Hương nộp cho quan trường xem, cũng giống như chữ “thần” trong bài thi Đình nộp cho nhà vua ngự lãm - có nghĩa là “tôi” thì những chữ ấy phải viết nhỏ hơn các chữ khác, nếu viết lớn là phạm trường quy. Trong khi đó, oái oăm sao, các chữ “sĩ” khác trong bài thì vẫn viết bình thường, chỉ khi nào tự xưng mình thì mới viết nhỏ! Hoặc chữ “văn” (nghe) nhưng khi viết mình nghe thì viết bình thường, còn viết vua nghe thì dứt khoát phải “đài” lên, nghĩa là viết nhô cao hơn các chữ khác nếu không thì phạm tội bất kính với nhà vua.

Với quy định khắc nghiệt như thế nên không ít người văn hay chữ tốt, chỉ sơ sẩy một chút là hỏng! Đến nỗi nhà thơ tài hoa Tú Xương từng than “Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy”. Và ông từng hào hứng reo lên: “Phúc nhà nay được sạch trường quy”! Hai chữ “phúc nhà” nghe mới mỉa mai, cay đắng làm sao. Ấm sinh Nguyễn Hữu Chu dù nổi tiếng hay chữ, nhưng cũng không lấy nỗi Cử nhân vì thường phạm quy nên mới có câu đối chua chát:

Đã kinh luân, thi thố gì đâu, khi đắc ý, lúc rung đùi, nghĩ đỗ đến nọ nọ kia kia những...

Lọ khoáng đạt, phong lưu chi cả, kẻ tri âm, người nối khố, biết nhau ra đây đây đấy đấy thì...

Những chữ “nọ nọ kia kia”, “đây đây đấy đấy” và cuối mỗi vế đều bỏ lửng... cũng nhằm nỗi đến nỗi khổ của mình.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 24.6.2018


trang_bguyen_tr5ang_dabn_giabn_1R


Một khi đã không thể trình bày cặn kẽ suy nghĩ về một vấn đề nào đó, cách tốt nhất là hãy im lặng. Đã đọc đâu đó, ở trang sách nào đó, đại khái có người lên núi tu tập, một hôm xuống núi, thiên hạ hỏi: “30 mươi năm qua, ngài đã học được những gì?”. Ông ta đáp: “Tôi học cách im lặng”. Im lặng khó đến thế ư? Thời trẻ, hễ thấy gì trái trai gai mắt, thông thường con người ta há mồm ra xoèn xoẹt. Nhưng rồi, đến một lúc nào đó, họ lại chọn cách im lặng. Ấy cũng là lúc tuổi già đã đến; nếu chưa già, chỉ có thể là sự vô cảm.

Thời buổi này, chọn lấy thái độ nào cũng thấy khó. Thôi thì, hãy tự nhủ bằng câu thơ: “Khạc chẳng ra cho nuốt chẳng vào/ Miếng tình nghẹn lắm biết làm sao/ Muốn kêu một tiếng cho to lắm/ Rằng ối ai ôi, nó thế nào?”. Thơ Nguyễn Gia Thiều. Vấn đề là kêu lên với ai? Hay lại chọn cách như Tản Đà tiên sinh: “Bóng ơi mời bóng vào nhà/ Ngọn đèn khơi tỏ, đôi ta cùng ngồi/ Cùng nhau rãi một đôi nhời/ Ta ngồi ta nói, bóng ngồi bóng nghe”. Xét ra, tâm thế này cô đơn, não nùng quá đi mất.

Sao không chọn lấy cách nói với vợ? Thế lại hay. Y sẽ nói gì? Chớ dại nói năng, tâm sự, kể lể, chuyện trò về “miếng tình” đã qua. Dễ chịu nhất và khôn ngoan nhất vẫn là nói với nhau về “miếng ăn”. Nói rằng, thời buổi này, không khéo sẽ chết đói nếu học theo cách ăn của ngài Khổng Tử. Nghe lạ tai quá phải không? Tục ngữ Việt Nam có câu: “Đói ăn rau, đau uống thuốc”. Dễ dàng lắm. Dễ như lật bàn tay.

Thế mà, ừ, Khổng Tử có khác, ông ta bảo: “Cơm càng trắng tinh càng tốt, (càng thích), gỏi thái còn nhỏ càng tốt. Cơm hẩm và thiu, cá ươn mà thịt đã nhão thì không ăn. (Thức ăn mà) sắc đã biến, hư rồi, không ăn; mùi hôi cũng không ăn. (Có sách dịch là những vật trái mùa). Cắt không ngay ngắn (hoặc không đúng cách), không ăn. Nước chấm không thích hợp, không ăn. Dù có thịt, cũng ăn ít thịt hơn cơm. Duy có rượu là không hạn chế, nhưng không uống tới say. Rượu bán ở cửa hàng, không uống; thịt mua ở chợ, không ăn. Bữa nào cũng ăn gừng. Không ăn tới quá no. Tế ở công miếu rồi, được phần thịt thì phân phát ngay, không để cách đêm. (Vì thịt tế vào buổi sáng thì làm vào hôm trước, nếu để cách đêm nữa, qua ngày hôm sau là ba ngày, thịt ôi đi). Thịt cúng tổ tiên, không để quá ba ngày, quá ba ngày thì không ăn. Khi ăn, không đàm luận, khi ngủ không nói chuyện. Tuy là cơm thô, canh rau, mà trước khi ăn cũng cung kính cúng vái như lúc trai giới”. Đoạn này trích từ thiên Hương đảng của sách Luận ngữ, bản dịch Nguyễn Hiến Lê.

Bây giờ, mỗi ngày ra chợ, vào siêu thị ùa vào trong mắt không thiếu một thứ gì nhưng rồi vẫn nghi ngại, không dám mua bởi tự hỏi: “Có an toàn thực phẩm?”. Ước gì trở lại cái ngày mới chân ướt chân ráo vào Sài Gòn trọ học, dù thiếu thốn nhưng lúc được ăn là hoàn toàn yên tâm về chất lượng. Vẫn còn nhớ hoài dãy quán cơm bình dân dành cho sinh viên ở hẽm bên hông Trường Đại học Sư phạm ở đường Lê Văn Sỹ, ngay dưới dốc cầu Trương Minh Giảng. Nay hoàn toàn không con dấu tích. Con hẻm chật chội đã mở đường rộng, xuyên thẳng qua đường Nam Kỳ khởi Nghĩa. Mỗi thời mỗi khác.

Vừa rồi, tìm đọc lại quyển Hà Nội cũ in năm 1943 của Sở Bảo Doãn Kế Thiện (1891-1965), trong đó có kể về “xóm học trò” xưa. Đại khái, gần đến ngày thi, thí sinh các nơi tề tựu về Thăng Long. Tất nhiên họ phải ở trọ nơi gần Trường thi để thuận tiện việc đi lại và đỡ tốn kém, dần dần nơi ấy có tên gọi là “Xóm học trò”- tương tự như Xóm La-tinh ở Paris. Vị trí ấy khoảng đầu vườn hoa Cửa Nam cho tới ngõ Hội Vũ ở Hà Nội bây giờ. Cứ những năm Tí, Ngọ, Mão, Dậu có thi Hương thì hàng quán nơi này mọc lên, đón các thí  sinh đến ăn ở trở thành nơi đông đúc vui vẽ. Khoa thi càng đông thì các cô bán cơm, cho thuê phòng trọ ở Xóm học trò lại phát tài.

Các o Hà Nội đáo để, hóm hỉnh lắm, họ còn biết đặt ra bài vè để chào mời thí sinh. Nội dung như sau: “Ba gian nhà khách/ Chiếu sạch giường cao/ Mời các thầy vào/ Muốn sao được thế/ Mắm Nghệ lòng dòn/ Rượu ngon cơm trắng”. Sau khi “tiếp thị” hàng quán của mình, các o còn khôn khéo biết “đánh đòn tâm lý” vào những người đi thi: “Các thầy dù chẳng sá vào/ Hãy dừng chân lại em chào cái nao/ Đêm qua em mới chiêm bao/ Có năm ông Cử mới vào nhà em/ Cau non bổ, trầu cay têm/ Đựng trong đĩa sứ em đem kính mời/ Năm thầy tốt số hơn người/ Khoa này tất đỗ nhớ lời em đây”. Nghe thế, thí sinh nào mà không sướng phổng mũi? Dù mua bán nhưng lời mời chào lại thanh lịch, văn minh. Khác hẳn với thời buổi của phở quát, bún mắng, cháo chửi... cũng lên sóng truyền hình CNN (Cable News Network).

Có giai thoại cực hay mà ông Doãn Kế Thiện đã kể trong tập sách này. Thú lắm. Hãy ghi lại như một tài liệu cho những ai cần tham khảo vậy. Rằng, trong số các cô bán cơm có quán của cô Thanh. Ngày nọ, quán bên cạnh ồn ào tiếng đọc thơ, loạn xạ bình luận văn chương, thi phú của các sĩ tử. Ai đều cho thơ của mình là nhất, cãi nhau ỏm tỏi, ồn ào hơn cái chợ. Bấy giờ, ngồi chung quán có chàng trẻ tuổi tự xưng học trò nhưng chẳng hề thấy béng mảng vào trường thi, suốt ngày chỉ tì tì nốc rượu. Lúc nghe đám học trò cãi nhau rác cả tai, chàng bèn cất tiếng ngâm như cọp rống: “Thôi đừng đọc nữa, khổ tai tôi/ Cho cả nhà hàng bịt mắm thôi/ Tiếng súng bên thành kêu dậy đất/ Thần thi thánh phú ích cho ai?”. Từ "mắm" khiến ta nhớ đến câu thơ của Cao Bá Quát: "Ngán thay cái mũi vô duyên/ Câu thơ Thi xã, con thuyền Nghệ An". Thuyền Nghệ An thời ấy chuyên chở mắm bán xa gần. Ngon thì ngon nhưng so sánh câu thơ với mùi mắm thì éo le lắm lắm.

Biết bị chửi xéo, lũ cậu học trò nổi giận, lại đang say nên hùa nhau dạy cho kẻ lếu láo ấy bài học nên thân. Chẳng hề sợ hãi, chàng đứng dậy, lạ thay, chỉ với đôi đũa tre nhưng lại thừa sức gạt phăng các gậy, gộc đằng đằng sát khí. Lũ học trò hoảng sợ chạy tán loạn như vịt. Sau cuộc ẩu đả, chủ quán đuổi tất và buộc chàng phải trả hết tiền cơm rượu. Không nói, không rằng, chàng trả tiền nhưng lại thiếu 5 quan, bị cô chủ quán đòi lột áo. Quan sát nhìn nẫy giờ, cô Thanh tủm tỉm cười, bèn sai người mang tiền qua trả giúp. Về sau, có câu vần vè trêu chọc: “Cô kia kén cá chọn canh/ Đem tiền chực rước cái anh lạc loài/ Thực là đáng bực tài giai/ Có tài ăn bửa một hai đâm liều”. Cô Thanh cũng chẳng thèm “thanh minh thanh nga”, bỏ mặc ngoài tai lời đàm tiếu ấy.

Ít lâu sau, thiên hạ ngạc nhiên khi thấy cô kết duyên cùng lãnh binh Trần Thiện Minh - chính là anh chàng “lạc loài “ kia. Thì ra, lúc nước mất nhà tan, nghĩ rằng, cái học cử nghiệp chẳng hữu ích gì, chàng chuyên tâm theo võ nghệ, gia nhập quân đội và được danh tướng Nguyễn Tri Phương phong chức lãnh binh. Như vậy, giai thoại này diễn ra vào năm 1873 - năm giặc Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất.

“Có tài ăn bửa một hai đâm liều”. Nhân đây giải thích luôn vài từ có lên quan đến ăn, chẳng hạn, ăn bửa là ăn quỵt; ăn chõm là ăn chực; ăn gọ là ăn ghé - ăn của người khác, đồng nghĩa với ăn bòn, ăn khín, Nam bộ có câu “Ăn khín bà chín bẻ răng”; ăn mót là ăn nhặt - lượm đồ rơi rớt mà ăn, theo tự điển Việt-Bồ-La (1651) thì thuở ấy, ăn mót đồng nghĩa với ăn mày; ăn vả là ăn nhờ, ăn bám; ăn vã (dấu ngã) là ăn đồ ăn không v.v… Đủ kiểu ăn nhưng “ăn đất/ ăn bom/ ăn bùn” chắc chắn là ngủm củ tỏi; “ăn xôi nghe kèn” cũng là mặc áo sơ mi gỗ: “Giàu thì thịt cá cơm canh/ Khó thì lưng rau dĩa muối, cúng anh tôi đi lấy chồng/ Hỡi anh chồng cũ tôi ơi/ Anh có khôn thiêng thì anh trở dậy ăn xôi nghe kèn...". Kèn đây là kèn đưa đám. Đã thế, còn ăn cái nỗi gì?.

Thời trước, khoái chí nhất vẫn lúc được ăn yến tiệc do vua ban. Muốn thế, ngay từ trẻ nhỏ phải lo dùi mài kinh sử, rồi lều chõng, thi đậu, ra làm quan ắt có cơ hội. Mà thi cử ngày trước cũng không ít trường hợp oái oăm. Chẳng hạn, có trường hợp ngoại lệ dù không qua khảo hạch mà vẫn được thi Hương. Trong quyển Nam thiên trân dị tập của Vũ Xuân Tiên in năm 1917 cho biết: “Nguyễn Toàn An, người xã Thời Cử, huyện Đường An, sung làm lánh bính (lính coi  giữ và dọn cỏ ở cung điện) vào đầu niên hiệu Hồng Đức (1470- 1497). Nhân đêm trung thu, các quan vào triều chầu hầu. Bấy giờ ánh trăng mờ tối, vua ra đầu đề Trung thu vô nguyệt (Đêm trung thu không trăng) để các quan làm thơ vịnh. Vua nóng lòng chờ đợi mà chưa thấy ai lên tiếng.

Chợt thấy Toàn An quỳ dâng một bài thơ Đường luật. Mọi người cười ồ: “Lánh binh mà vẫn làm được thơ à?”. Vua sai xem lấy. Bài thơ làm bằng chữ Nôm, với câu kết như sau: “Chớ thấy phen này mà rẻ nguyệt/ Thu sau trông nguyệt, nguyệt càng cao”. Ai nấy đều thán phục, nhân đấy xin vua cho Toàn An được giải chức lánh binh để về quê đi thi. Sau đó, ông thi đậu Hương thí. Đến khoa Nhâm Thìn (1472), Toàn An đậu Bảng nhãn, lúc này ông mới 23 tuổi. Vinh quy được ít lâu thì cha mất.

Thời bấy giờ luật pháp rất nghiêm. Người nào trong khi để tang cha mà vợ có mang thì bị coi là vô đạo. Ông vì vậy thủ chế suốt ba năm, không dám gần vợ. Đến khi mãn tang thì ông mất, không có con nối dõi. Vua được tin này, lấy làm thương xót. Từ đấy mới bỏ lệ cấm sinh đẻ trong lúc cư tang” (Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam - tập II, , tr.1064, Viện Nghiên cứu Hán Nôm - NXB Thế Giới - 1997).

Mà giai thoại thú vị liên quan đến chuyện thi cử ngày xưa, kể ra cũng nhiều. Phạm Đình Hổ chép trong Vũ trung tùy bút, đọc lại, cứ như đùa: “Đầu đời Cảnh Hưng (1740-1786) có ông Ngô Thì Sĩ nổi tiếng là bậc hay chữ, bị bọn quan đương thời ghen ghét, khi đến thi Hội các khảo quan dò xét hễ thấy quyển nào giọng văn hơi giống thì bảo nhau: “Quyển này hẳn là khẩu khí Ngô Thì Sĩ”, thế là họ hết sức bới móc đánh hỏng đi. Trịnh chúa Nghị Tổ (Trịnh Doanh) biết có thói tệ ấy nên khi thi cử xong rồi, truyền đem quyển hỏng của Ngô Thì Sĩ ra duyệt lại. Các khảo quan bấy giờ, nhiều người bị truất phạt, nhưng vẫn không cấm chỉ được cái tệ ấy. Khoa Bính Tuất (1766), Ngô công bị bệnh tả, vào trường đệ tứ, cố làm qua loa cho xong quyển. Khảo quan chấm quyển bảo nhau: “Quyển này làm văn thì luyện đạt lắm, đáng là văn Hội nguyên, nhưng văn khí hơi yếu, không phải giọng văn Ngô Thì Sĩ”. Chấm đến quyển của ông Nguyễn Bá Dương lại bảo nhau: “Quyển này văn khí khác thường, giống giọng văn Ngô Thì Sĩ nhưng làm văn lại kém, Thì Sĩ tất không làm như thế”. Vì họ hồ đồ không biết định quyển nào là văn Ngô Thì Sĩ mà đánh hỏng nên Thì Sĩ mới đỗ hội nguyên”.

Về sau, ông Ngô Thì Sĩ để lại một sự nghiệp đồ sộ về văn chương, có tài kinh bang tế thế. Trong quyển Việt sử tiêu án, ông đã giải thích rõ ràng những từ thuộc khoa cử nước nhà mà nay không phải ai cũng tường tận. Về trạng nguyên, ai cũng rõ nhưng tại sao có lúc sử chép “Kinh trạng nguyên/ Trại trạng nguyên”? Ngô Thì Sĩ cho biết: “Đời nhà Trần thi cử có chia ra Kinh- Trại cũng như đời Thanh (Trung Quốc) chia ra Mãn - Hán. Vì đời Trần lấy Hoan - Ái (tức Thanh Hóa - Nghệ An) làm các châu ở xa, giáo dục chưa được thấm nhuần, nhân tài không nhiều bằng các kinh trấn, cho nên mỗi khoa thi lấy người giỏi nhất về bên Trại gọi là Trại trạng nguyên, cho ngang tài với Kinh trạng nguyên để tỏ ý khuyến khích”. Qua đó ta thấy sự phân biệt này là chính sách nhằm khuyến khích việc học, việc thi ở các vùng cao, vùng xa, không gần kinh đô.

À, lan man từ chuyện ăn qua chuyện thi cử, có chán không? Tất nhiên là không. Tại làm sao thế? Bởi vì rằng, đọc sách nhẩn nha rồi ghi chép đôi điều dù lộn xộn, lộn lạo cũng là một cách "Ta ngồi ta nói, bóng ngồi bóng nghe" đấy thôi.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 21.6.2018

 

ban_ba_dao_sap_bao

Đến một lúc nào đó, thỉnh thoảng, con người ta lại nằm nhớ lại thời trai trẻ. Có phải cái thời “Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư” như chàng Huy Cận lúc ngạc nhiên, tự nhủ: “Vậy đó, bỗng nhiên mà họ lớn”? Không, với y, trước đó nữa. Ấy là khoảng thời gian còn mới tiểu học. Có những buổi trưa, cả nhà đang ăn cơm, nghe lanh lanh tiếng trẻ rao bán báo, ba của y liền sai ra mua. Tiếng rao báo, bây giờ đã thuộc về dĩ vãng xa lắc xa lơ. Đã xa cái thời, tờ báo không chỉ nằm trên sạp đợi người đến mua, nó còn được giao cho người bán dạo để phổ biến rộng rãi đến tay người đọc.

Từ  đầu thế kỷ trước, có lẽ người đầu tiên nghĩ đến cách rao báo để bán  là nhà báo, nhà cách mạng Nguyễn An Ninh - chủ bút tờ báo nổi tiếng La Cloche Fêlée (Tiếng chuông rè) - số đầu tiên ra ngày 10.12.1923. Dân Nam kỳ thuở ấy rất ngạc nhiên khi bắt gặp hình ảnh: một thanh niên học giỏi  từ Pháp về, mặc áo dài đen đạo mạo, tóc bềnh bồng rất... bụi đời, đôi mắt sáng quắc, người thấp, chắc da chắc thịt đã ôm chồng báo bằng tiếng Pháp chạy trên đường Catinat (nay Đồng Khởi), Bonard (nay Lê Lợi), d’Espagne (nay Lê Thánh Tôn)... cất tiếng rao lanh lảnh với giọng Parisien: “Tiếng chuông rè đây! Xin mời quý ông, quý bà! Tiếng chuông rè đây!”.

Có thể nói, hình ảnh cậu bé bán báo quá quen thuộc trong đời sống đô thị xưa nay. Từ thập niên 30 của thế kỷ XX, nhà thơ trào phúng Tú Mỡ có bài thơ miêu tả tâm trạng “người phát hành” đắc lực của các tòa báo: “Cất tiếng ra lanh lảnh vang đường/ Tôi đem những món văn chương chào khách/ Này tạp chí, nào tân văn tôi cắp nách/ Đón mời chư mặc khách tao nhân”. Có lẽ, đây là bài thơ hiếm hoi nói về người bán báo dạo - một bộ phận không thể tách rời khỏi hệ thống phát hành báo chí nước nhà. Thời ấy, cách rao báo chỉ đơn giản là “Báo mới đây! Báo X, báo Y đây!”.

Trải theo năm tháng cách rao cũng thay đổi dần. Người bán báo không chỉ cất giọng rao lanh lảnh mà họ còn nhờ đến “hệ thống âm thanh” khác. Đó là soạn trước lời rao, ghi âm lại và mở máy cho máy phát ra với âm thanh... điếc tai! Áp dụng “khoa học kỹ thuật” vào cách rao báo là điều bình thường, nhưng điều bất thường là nội dung rao thường thêm thắt, bịa đặt mà người nghe cũng... nổi da gà rợn tóc gáy! Không phải ngẫu nhiên mà trên tờ Người làm báo - Tạp chí lý luận nghiệp vụ của Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam - số ra tháng 2.2000 có bài thơ nhắc nhở, nếu không muốn nói là phê phán một cách rao báo của tác giả Nguyễn Đình Quảng: “Lời rao không nêu tốt/ Chỉ toàn kể xấu thôi/ Dù xấu, rao chẳng nhỏ/ The thé thét vang trời:/“Cô gái tạt a-xít”/ “Chàng trai thiêu bốn người”/ “Con lại treo cổ mẹ”/ Cháu đâm ông, ruột lòi!” /Hẳn là người rao nghĩ:/ Càng kinh khủng, rụng rời/Hàng mình càng bán chạy/ Đắt như là tôm tươi/ - Hàng nào mà khiếp vậy?/ Có lời rao lạ đời?/ Xin thưa: - Hàng báo đấy!/ - Sao ghê thế, báo ơi!”. Cách rao này, phê phán là đúng rồi. Có điều đáng tiếc nhất, với nhiều người là hiện nay không còn nghe tiếng rao bán báo nữa. Ngay cả sạp báo bán lẻ cũng ngày một ít đi. Ngay tại Sài Gòn, Hà Nội muốn tìm mua tờ báo cũng khó, không còn dễ dàng như trước, chứ đừng nói ở các địa phương khác.

Mấy hôm nay, tự dưng lại nghĩ về cái nghề đã đeo đuổi từ thời trai trẻ. Quả thật,nhà báo đã khó sống hơn trước nhiều lắm. Nhiều tờ báo đã cáo chung. Lý do căn bản nhất vẫn là người đọc không còn náo nức tìm mua, cầm tờ báo như các thập kỷ trước. Đã qua rồi cái thời Nếu phải chọn lấy một nhà báo chân chính, không riêng gì y, với  nhiều người vẫn là… chàng Tintin của họa sĩ Bỉ Georges Remi (1907-1983).

Thời nhỏ, khi say mê đọc truyện tranh về các cuộc phiêu lưu của chàng ký giả tài ba này, y ước ao sau này sẽ được nối nghiệp. Muốn trở thành một nhà báo chuyên nghiệp phải được trang bị rất nhiều khả năng, có lúc phải là người có biệt tài điều tra cỡ Sherlock Holmes, phải có sức khỏe dẽo dai, có khi phải biết sử dụng nhiều phương tiện như biết lái máy bay, cỡi lạc đà, phóng xe hơi v.v… Rồi cần phải có sự dũng cảm, giỏi võ thuật, dám đương đầu với bọn xấu trong mọi tình huống. Nói cách khác đó là mẫu người sử dụng ngòi bút lẫn tấm lòng quả cảm, trung thực nhằm “trừ gian diệt bạo, cứu khổn phò nguy”.

Đủ chưa? Vẫn chưa đủ.

Thế thì, nhà báo còn phải trang bị thêm đức tính gì nữa?

Dám quả quyết rằng, từ đứa trẻ lên 9 đến cụ già 99 xuân xanh mỗi khi đã đọc Luky Luke đều mê “chàng hiệp sĩ bắn súng nhanh hơn cái bóng của minh”. Tại sao mê? Trả lời câu hỏi này, đã có lần y viết: “chàng làm gì? làm tấu hài? làm kịch?/ vạn lần không! chàng chỉ làm người/ giúp mọi người bằng tấm lòng hào hiệp/ rồi ra đi thăm thẳm phía chân trời/ chưa ngày nào chàng thư thả nghĩ ngơi/ rong ruổi đường xa cũng vì điều Thiện/ chàng không chết vì biết sống quên mình/ đơn giản vậy - chàng trở nên nổi tiếng”. Vâng một đức tính cần thiết cho nghề báo còn có thể nhìn qua chàng Luky Luke vẫn là “biết sống quên mình”. Thì hãy cứ xem, hễ hoàn thành bất kỳ nhiệm vụ nào, trong lúc thiên hạ bày tỏ lòng cám ơn bằng cách tổ chức chào đón linh đình, tuyên dương ầm ĩ thì chàng “cao bồi ròm” lại lặng lẽ, đơn độc, rong ruổi lên đường. Chàng Tintin cũng chọn lấy thái độ đó. Đó là sự chọn lựa của mẫu người phụng sự cộng đồng hoàn toàn không vì danh/ háo danh.

Từ ngày internet phổ biến toàn cầu - tín hiệu đáng mừng này cho thấy nghề báo không còn là “độc quyền” của một lớp người. Vai trò đó đã thuộc về cá nhân khi họ tham gia vào mạng xã hội với vài trò tìm kiếm, chia sẻ thông tin. Những thông tin nhanh nhậy đó, có lúc đã hỗ trợ cho các nhà báo chuyên nghiệp. Tuy nhiên, không loại trừ ai đó vì háo danh hoặc mục đích nào đó đã tung tin giả. Khôn khéo hơn vẫn là tin “nửa thật nửa giả” cứ như thật nhằm tung hỏa mù theo nghĩa “định hướng người đọc”. Phải chăng chỉ những ai tham gia mạng xã hội mới sử dụng chiêu này? Không. Không loại trừ, ngay cả có những người kiếm sống bằng nghề, đang hành nghề có giấy chứng nhận hẳn hòi cũng vậy thôi. Thế thì, y nghĩ rằng, điều cốt lõi làm nên uy tín của một nhà báo vẫn là bản thân họ, chứ không phải từ phương tiện “hành nghề”.

Hơn bao giờ hết, chúng ta đang sống trong năm tháng mà các nhà báo viết báo/ làm báo theo kiểu truyền thống đang âu lo, hoảng hốt thật sự hoay loay tìm cách níu kéo bạn đọc. Bạn đọc đang ở đâu? Họ đã ở trên các trang mạng xã hội, các nhà báo đang mất dần thị phần. Có phải thói quen tiếp nhận thông tin của bạn đọc đã thay đổi, đã khác trước? Đúng nhưng vẫn chưa đủ. Yếu tố thói quen ấy, không quen trọng. Có một điều cốt tử, quyết định sự tồn vong của nghề báo từ ngày báo chí ra đời đến nay vẫn là tính trung thực của người làm nghề.

Có trung thực với chính mình thì thông tin ấy ấy mới phản ánh đúng như sự thật vốn có. Bằng không đã là nguồn tin bị bóp méo, tô hồng thì dù công bố trên mạng xã hội hoặc theo lối báo chí truyền thống xưa nay cũng không thể níu giữ được bạn đọc. Bạn đọc thời buổi nào cũng thông minh, tỉnh táo và họ thừa trình độ, bản lĩnh nhận ra: “Một nửa cái bánh mì vẫn là cái bánh mì. Nhưng một nửa sự thật thì không còn là sự thật”.
 

Đến với nghề báo, y biết có những nhà báo không ngồi chờ những lời chúc tụng, biểu dương, ca ngợi. Với họ, lời cảm ơn ấy dù đáng quý, chỉ xin ghi nhận trong lòng. Mà điều cần thiết nhất, đây vẫn là khoảnh khắc mà chính họ soi rọi lại lòng mình. Liệu chừng thời gian qua, anh em nhà báo chúng ta có làm tròn trọng trách của một nhà báo Tintin, một hiệp sĩ Luky Luke mà đã công chúng tin cậy, gửi gắm lòng tin yêu?

Hiện nay tiện ích công nghệ đã cho phép “người người làm báo”, “nhà nhà làm báo”- thậm chí, trong chừng mực nào đó, họ còn có thể công bố thông tin nhanh hơn cách làm báo thời ông trùm báo chí Mỹ Pulitzer (1847-1911) đang “cực đỉnh”. Từ suy nghĩ này, y lại liên tưởng về sự đời dễ dàng của các tờ báo trước 1945. khi viết quyển hồi ức văn học Văn thi sĩ tiền chiến do Khai Trí in năm 1970 tại Sài Gòn, sau này NXB Hội Nhà văn tái bản (1994), nhà văn Nguyễn Vỹ có kể lại một câu chuyện, rồi kết luận: “Hầu hết những tờ báo của nhà văn, nhà thơ thời tiền chiến ở Hà Nội đều ra đời trong những trường hợp bất ngờ và lý thú đại khái như thế. Ấy là thời tự do lãng mạn, kỳ thú nhất trong văn học sử Việt Nam”.

Đại khái, thuở ấy, thập niên 1930 của thế kỷ XX có hai chàng trai trẻ đang nung nấu nhiều khát vọng, vào hôm tối chủ nhật, đi chơi về khuya, họ ngẫu hứng muốn ra tờ báo. Việc đầu tiên họ viết tay lá đơn bằng tiếng Pháp để sáng mai gửi ông Biện lý ở Tòa án đường Gambetta, trong đó nêu rõ: “Trân trọng báo cho ông biết rằng, trong 48 tiếng đồng hồ sau, chúng tôi sẽ ra một tờ báo bằng tiếng Pháp và Việt văn, tên là… chuyên về chính trị, xã hội và văn học. Tòa soạn đặt trên gác trọ sô nhà… phố Khâm Thiên, ngoại ô Hà Nội. Hai chúng tôi đều là chủ nhiệm”. Viết đơn xong, họ phân công viết bài, vẽ maquette để kịp sáng mai đưa nhà in. Không có tiền, họ xin nhà in cho in chịu 3 số. Và mượn thêm ít tiền để lo vài thứ lặt vặt như làm bãn kẽm tên báo, mua tem gửi báo... Chỉ có thế, đúng 8 giờ sáng ngày thứ Tư, tờ báo mới toanh ra lò. “Này tạp chí, nào tân văn tôi cắp nách/ Đón mời chư mặc khách tao nhân” vẫn là các đứa trẻ bán báo dạo, cất tiếng ra khắp Hà thành.

Nếu không là nhà văn Nguyễn Vỹ kể lại, ai dám tin có một thời như thế? Nhân đây nhắc lại, mới đây ngày 30.10.2017, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ngãi, Trường Đại học KHXH và Nhân văn - ĐH Quốc gia TP.HCM đã tổ chức Hội thảo Nguyễn Vỹ - cuộc đời và sự nghiệp. Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được tất cả 36 tham luận của 35 nhà nghiên cứu, trong đó có: 29 nhà nghiên cứu ngoài tỉnh; 06 nhà nghiên cứu trong tỉnh và 9 người có báo cáo là thân nhân gia đình Nguyễn Vỹ. Điều ấy cho thấy tình cảm và sự đánh giá rất cao của giới nghiên cứu, phê bình văn học dành cho Nguyễn Vỹ. Các tham luận này, đánh giá tác giả Tuấn, chàng trai nước Việt ở lãnh vực nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo… Thế mới thấy tầm vóc Nguyễn Vỹ không nhỏ.

Với riêng y, dù chưa gặp mặt nhưng bao giờ trong lòng cũng dành cho Nguyễn Vỹ nhiều thiện cảm. Đơn giản chỉ vì, ông là là người sáng lập, điều hành tạp chí Phổ Thông. Thuở sinh thời, ba của y là độc giả thường xuyên. Tủ sách gia đình dày thêm dần các số báo Phổ thông. Trong đời ai cũng có “người ơn” đấy chứ, chẳng hạn, Nguyễn Vỹ là một trong những người đó, vì bằng tài năng làm báo, cụ thể tờ qua Phổ thông, y đã học tập được trong đó nhiều, nhiều lắm. Thế thì, một khi yêu mến tờ báoo nào đó, ngoài các nhà báo “nung nấu tâm can, vò võ trán” như con tằm rút ruột mà viết, y còn nghĩ đến các ông chủ biên, chủ bút, chủ nhiệm nữa.

Còn nhớ ngày 14.12.1971, Nguyễn Vỹ bị tai nạn giao thông trên đường đi từ Mỹ Tho về Sài Gòn, thọ 61 tuổi. Bấy giờ, tờ Thằng Bờm do ông sáng lập, các cộng sự có thực hiện số báo tưởng niệm ông. Số 86, tuần lễ từ 19 đến 26.1.1972. Trong số báo này, có in tứ tuyệt thủ bút Vũ Hoàng Chương khóc nhà văn đã viết câu thơ cực kỳ nổi tiếng: “Nhà văn An Nam khổ như chó”. Dù đọc đã lâu, nay y vẫn còn nhớ bài thơ Chuyến xe định mệnh: “Hàng cây xõa tóc chạy đâm nhào/ Ngược với chiều xe chúi mũi lao/ Trước mặt có gì nguy? Hẳn thế/ Không dừng lại được biết làm sao!”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 1 trong tổng số 55

trinhduyson