LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 7.9.2017

cao-xuan-son-tet-dinh-dau

NHÀ THƠ CAO XUÂN SƠN

 

Chiều đã sẫm tối. Ngoài trời đang mưa tầm tả. Viết một câu lên facebook than rằng: “Đang buồn”. Ngay lập tức cái “cùi bắp” rèng réng reng như tiếng kèn xung trận giục giã: “Vậy, tìm một chỗ ngồi ngắm mưa đi Q ơi”. Nhìn ra ngoài trời mù mịt mưa bay, chập chờn những gió,  sấm sét đùng đùng, thử hỏi làm sao không cảm động?

Sống ở đời dễ hay khó? Chẳng rõ nữa. Nhưng lúc đơn độc trong bốn bức tường vây quanh là sách, mùi thời gian ẩm mốc từng ngày, lúc ấy, vâng, chỉ trong tích tắc lại có người chia sẻ, thử hỏi cuộc đời dễ chịu quá đi chứ? Rồi lại những cuộc ngồi ở lề đường, dưới tàn cây xanh, một chút men, một chút mưa nhập nhoàng trong đáy cốc. Và câu chuyện lại mở với những chữ nghĩa, văn chương, những câu thơ đọc cho nhau nghe. Lòng thêm vui một chút.

Với y, đã có những ngày như thế với bạn thơ Cao Xuân Sơn.

Đôi lúc lẩn thẩn tự hỏi, đã quen nhau từ lúc nào? Khó có thể trả lời chính xác. Chỉ nhớ rằng, ngày nọ lúc cà kê dê ngỗng tâm tình, Sơn bảo: “Nhiều người ít quan tâm đến văn học thiếu nhi, cứ tưởng mãi sau này mình mới viết cho tụi nhỏ. Kỳ thực, văn học thiếu nhi với mình như một định mệnh”. Nghe lạ tai quá! Thì đây: "Bài thơ đầu tiên mình in khi chuyển trường từ Hà Nội vào Sài Gòn là trên Trang thiếu nhi thứ năm hằng tuần của báo Sài Gòn Giải phóng năm 1981. Cuốn sách đầu tay Con chim xanh ngoài ô cửa xuất bản năm 1987 là tập truyện ngắn viết cho thiếu nhi, in tới ba chục ngàn bản.

Thêm một kỷ niệm đáng nhớ: truyện ngắn Bức tranh Tết của chú bé họa sĩ in nửa trang báo Xuân Phụ Nữ TP.HCM năm 1982 cũng là một truyện thiếu nhi, được trả tới 500 đồng. Cũng năm đó, bài thơ Mùa phấn hoa bay in trên báo Xuân Công nhân giải phóng, tiền thân báo Người lao động - cũng được nhuận bút những 500 đồng. Trong khi học bổng hàng tháng của nam sinh viên 22 đồng. Mình thật sự kinh ngạc. Số tiền đó thừa sức mua vài chiếc... xe đạp”.

Rời ghế giảng đường ngành ngữ văn Sư phạm (khóa 1978-1982), Sơn ghé qua bục giảng trường PTTH Ngô Quyền (Biên Hòa) hai năm, sau bỏ sang Hội Văn nghệ theo hẳn nghiệp viết lách. Bảy năm sau (1991), một biến cố bất ngờ buộc Sơn bỏ xứ Đồng Nai về hẳn Sài Gòn làm báo, tiếp tục công việc "góp gió thành báo, góp báo thành sách" nuôi cậu con trai hai tuổi mồ côi mẹ.

Trong khoảng trên dưới một thập niên sau đó, dường như Sơn đã kịp hoàn chỉnh những nét chân dung của mình trong mắt bạn bè với 5 tập thơ riêng: Tự tình (1989), Đêm giã biệt (1990), Cánh cửa khép hờ (1994), Chuông lá (1999), Phố và em (2002) và 5 tập truyện, thơ khác cho thiếu nhi. Như có sự xếp đặt của duyên phận, tháng 4.2001, Sơn bỏ tạp chí Thanh Niên, về NXB Kim Đồng (Chi nhánh TPHCM) theo lời mời của một người làm sách rất đáng kính trọng là nhà giáo dục Nguyễn Thắng Vu. Sơn về với thế giới tuổi thơ, với những trang sách ngộ nghĩnh, vui nhộn, hồn nhiên, trong sáng mà Sơn là một trong những người đã góp phần như Mèo khóc chuột cười (2006), Con chuồn chuồn đẹp nhất (2010), Hỏi lá hỏi hoa (2016)…

Dấu ấn đậm nét với giới làm sách Sài Gòn là từ ngày Sơn về, NXB Kim Đồng có thêm một Ban biên tập tại Chi nhánh TPHCM, hàng năm tổ chức hàng trăm đầu sách mới thiếu nhi. Sơn chính là người được giám đốc Nguyễn Thắng Vu giao nhiệm vụ tạo dựng Tủ sách Tuổi mới lớn với mục tiêu "giãn biên": mở rộng biên độ lứa tuổi của sách Kim Đồng, bao gồm luôn tuổi mới lớn từ 15 đến 18 với phương châm: khách quan, công bằng, chấp nhận mọi xu hướng sáng tác. Từ tủ sách đó, hàng trăm sáng tác đầu tay của các cây bút trẻ và rất trẻ ở mọi miền đất nước được trình làng, được công chúng lần đầu biết đến.

Vậy chẳng phải định mệnh là gì? Ừ, cứ cho là thế.

Tuy nhiên, những người quen biết, đọc thơ Sơn từ hơn ba chục năm nay đều hiểu, mảng sáng tác mà Sơn tâm huyết nhất là thơ, không phải và không riêng thơ cho thiếu nhi. Lặng lẽ, bền bỉ, gần như vắng bóng trong các bàn tiệc lễ lạt, hội hè, Sơn đã sớm tìm được cho mình một giọng thơ riêng với khá nhiều bài thơ được người yêu thơ và bạn bè nhắc nhớ: Tiếng hát xương rồng, Khóc ông nội, Độc ẩm, Nợ, Viết giữa những hồi chuông điện thoại, Tự họa, Chuông lá...

Một trong những bài thơ hay nhất của anh, theo y và nhiều người bình vẫn là Tiễn em trai đi Hàn Quốc. Câu chuyện xuất xứ của bài thơ này kể ra cũng ngang trái lắm. Ngày xa xưa, những năm tháng chiến tranh, cụ thân sinh của Sơn - một nông dân cày cuốc ở làng Vạn Thọ, xã Nhân Bình, huyện Lý Nhân (Hà Nam) đi bộ đội. Ngày trở về, ông mang trên mình nhiều vết thương, trong đó có cả vết thương từ khẩu súng của lính đánh thuê Park Chung Hee. Sau hòa bình, em ruột của Sơn - một bộ đội biên giới - xuất ngũ về, chẳng biết làm gì nuôi vợ con, lại phải tìm đường sang đánh Pắc (kiếm sống) ở xứ Pắc (Park Chung Hee).

Thử hỏi có tréo ngoe không?

Lúc ấy, về thủ tục, giấy tờ chẳng có gì phải bàn thêm, đã đầy đủ nhưng lạ thay, muốn đi được, dù là “hợp tác lao động” nhưng thông lệ “đầu tiên” vẫn rạch ròi, lạnh lùng, sòng phẳng: “Phải 30 triệu việc này mới xong”. Thời điểm đó, số tiền đó, dẫu Sơn có nằm mơ đi nữa cũng không thể biết nó mặt tròn mặt dẹt ra sao. Khó lắm. Đành rằng, “quyền huynh thế phụ” nhưng rồi “tiền đâu?” vẫn là câu hỏi không lời đáp. Mọi việc sẽ dẫm chân tại chỗ nếu không có sự tận tình của một người anh, một người lính cùng thời với với anh Văn Lê giúp đỡ: nhà thơ Vũ Duy Chu. Bấy giờ, anh Chu đang công tác tại Công ty Hợp tác nước ngoài của Bộ Giao thông vận tải, đã đứng ra bảo lãnh.

Đêm chia tay, bịn rịn người đi kẻ ở, hai anh em Cao Xuân Sơn đã bày cuộc nhậu ra trò. Lúc đã ngà ngà say, thấy chú em cứ loay hoay ngắm nghía tấm bản đồ tìm xem xứ Hàn là xứ nào, đột nhiên Sơn đứng bật dậy, quơ bút viết luôn những câu thơ vừa vụt ngang trời. Tưởng như chỉ cần với tay, nhón gót là hái được những sáu, tám du dương đang vang vọng loáng thoáng hơi men: “Đừng săm soi nữa bản đồ/ Dẹp đi cả chuyện múi giờ lệch chênh/ Nước Hàn ở phía… mông mênh/ Dĩ nhiên chẳng phải nước mình, vậy thôi/ Hàn là lạnh đấy, em ơi / Nhưng… đâu chả thế - đất trời người ta/ Ngày mai em như Kinh Kha/ Rắp mong một trận này qua khó nghèo”. Câu thơ tự sự. Thủ thỉ. Tâm tình. Một người anh dành cho em. Xúc động lắm.

Do em là bộ đội đã từng cầm súng đánh quân bành trướng ở phía Bắc, vì thế, câu nối tiếp: “Đã mòn chân suối với đèo/ Mấy năm lính, hẳn ít nhiều gió sương/ Liều thêm, ừ, một đoạn đường/ Con thơ, vợ dại, thương suông ích gì?”. Đọng lại trong trí nhớ người đọc: “Liều thêm, ừ, một đoạn đường”. Nghe ra chua chát. Ừ, "liều thêm” vậy, chẳng còn cách nào khác. Những câu thơ cuối khác gì tiếng thở dài: “Áo cơm nặng lắm, đi đi/ Chiếc ba lô cũ thích thì cứ mang/ Dặn em sức vóc là vàng/ Đừng đem vắt kiệt giá băng xứ người/ Rủi may ai biết hở trời/ Đêm nay… anh rót rượu mời Kinh Kha…”.

Hỡi ôi,  lúc ấy, chàng “Kinh Kha” đã nằm say ngất ngưởng, không còn biết trời trăng mây gió gì sất. Bài thơ Tiễn em đi Hàn Quốc in trên tạp chi Văn nghệ quân đội nhân một cuộc thi thơ. Bấy giờ, quan hệ Việt Nam -Hàn Quốc đã mở ra trang sử mới của tình hữu nghị, vì lẽ đó, lúc chấm giải nghe nói nhiều người chần chừ, đắn đo. Chẳng sao cả, có một điều thú vị hơn nhiều, mãi sau này, khi sang đến “Nước Hàn ở phía… mông mênh”, nghe nhiều ngươi đồng cảnh ngộ chép và đọc bài thơ này, cậu em mới hay anh mình đã tặng riêng cho một bài thơ đầy ám ảnh.

Với tôi, một khi chơi với bạn, luôn nghĩ rằng, chiến hữu ấy là người có tài. “Trời đất cho ta một cái tài/ Giắt lưng dành để tháng ngày chơi” (Nguyễn Công Trứ). Này, xin hỏi, bạn bè văn nghệ của y có tài gì? Câu hỏi ấy hóa ra rất thừa, bởi lẽ, dưới gầm trời này, trông ra sáu cõi hỗn mang của trời đất, ai lại không biết Cao Xuân Sơn vốn là tay thơ thứ thiệt? Thơ vận vào người. “Người thơ phong vận như thơ ấy”. Câu thơ của Hàn Mặc Tử vụt ngang qua trí nhớ khi nhớ đến bạn mình, như một lẽ tự nhiên.

Từ nhiều năm nay, Cao Xuân Sơn vẫn là một người đứng ra ngoài mọi thi phi, náo nhiệt, ồn ào. Thế nhưng, nếu cần, vì bạn bè, anh cũng không kém gì ai nhất là trong nhưng cuộc vui thân tình tràn ngập men say bốc lên óc và những câu thơ lại vọng đến. Lúc ấy, chỉ có thơ. Nếu có ai đó, quan sát lúc các nhà thơ ăn nhậu ồn ào, ắt sẽ kinh ngạc không rõ vì đâu những câu chữ du dương cứ mãi tuôn trào một cách lớp lang, chỉn chu?  

Cao Xuân Sơn cũng thế. Có điều, đáng sợ, đáng nể nhất không rõ đọc từ lúc nào, nhớ từ khi nào mà lúc ấy, Sơn có thể đọc vanh vách các bài thơ theo yêu cầu của bạn bè. Làm sao có thể quên, lúc ngoài trời đang mưa tầm tã. Cao hứng lên, Sơn đọc vanh vách luôn những bài thơ Đường. Tiếng đọc thơ của anh, dù nhỏ nhưng đã khiến thiên hạ đang ồn ào, phải lặng đi, im phăng phắt. Và lắng nghe thơ. Phải nói rằng, Sơn là người có trí nhớ cực tốt.

Hỏi ra mới biết, Sơn là dân học chữ Hán. Đang học năm thứ 3 ở Đại học Sư phạm Hà Nội, Sơn chuyển vào TP.HCM, học chung với bạn bè mà nay đã có tên tuổi như nhà báo Quốc Kế, nhà thơ Đặng Nguyệt Anh... Ít ai biết, trước đó, niên luận năm thứ 2, Sơn đã viết Tinh thần phản chiến trong thơ Đỗ Phủ. Thời điểm 1979, quân bành trướng đang tràn qua phía Bắc, tiếng súng vọng đến tận mũi Cà Mau. Sơn đã phê phán sự hiếu chiến, phi nhân ấy bằng chữ nghĩa của chính ông cha chúng. Đó mới là Cao Xuân Sơn. Một ý thức chính trị rõ rệt khi bàn về một thi hào được văn học Trung Quốc xếp vào một trong hai nhà thơ vĩ đại nhất, bên cạnh Lý Bạch. Lúc ra trường Sơn có niên luận về Giáo học pháp (phương pháp giảng dạy) với số điểm dành cho thủ khoa.

Và Sơn đi dạy học, năm 1982. Thật hay, hay thật, Sơn dạy ở Trường PTTH Ngô Quyền (Biên Hòa) - nơi mà nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đã từng học. Mọi việc sẽ chẳng có gì thay đổi, nếu vào một ngày đẹp trời cuối năm 1984, nhà văn “đường rừng” tài hoa Lý Văn Sâm không tình cờ gặp Sơn ở Hội Văn nghệ. Bấy giờ Sơn đã có thơ, truyện ngắn in lai rai trên các báo, trong đó có cả tờ Văn  nghệ Đồng Nai của Hội Văn nghệ Đồng Nai mà tác giả Kòn Trô đang là chủ tịch. Chẳng rõ thế nào ông lại "bỏ nhỏ" vào tai Sơn: "Về Hội đi cháu. Trường Ngô Quyền không có cháu đã có người khác...".

Rồi cuối năm 1991, Sơn về TP.HCM làm việc tại Ban đại diện của Tạp chí Thanh Niên chung với nhà thơ Đinh Đức Thướng. Bấy giờ, người vợ đầu của Sơn ở TP.HCM vừa mất, đứa con trai mới 2 tuổi, Sơn phải đảm nhận vai trò “gà trống nuôi con”. Có chuyện này, kể ra không nhỉ? Ừ, chẳng sao. Ấy là lúc Sơn xin nhập hộ khẩu, cán bộ đòi hỏi phải có người bảo lãnh theo quy định. Ai bảo lãnh bây giờ?

Có lẽ trong toàn bộ hồ sơ xin nhập hộ khẩu tại nước Nam ta, cái đơn của Sơn là quái chiêu, độc đáo nhất. Đơn rằng: “Tôi tên là Khương năm nay 2 tuổi xin được bảo lãnh cho bố tôi là Cao Xuân Sơn về nuôi tôi”. Phía dưới có ký tên bằng cách điềm chỉ ngón tay nữa chứ. “Cái khó ló cái khôn” chăng? Không, là một cách tếu táo, tinh nghịch của một nhà thơ đã từng tự bạch: “Thơ tôi là nước mắt niềm vui tôi, là sắc màu lộng lẫy nỗi buồn tôi. “Người làm sao của chiêm bao làm vậy”, tôi luôn tự nhủ: cái điệu tâm hồn mình thế nào cứ rót lên trang giấy như thế, dối trá biển lận mà làm gì. Thơ hay thì hay với muôn đời, hoặc chỉ hay trong chốc lát - với một người cũng thế thôi”.

Trong trí nhớ ấy, trí nhớ của Cao Xuân Sơn nếu chia nhiều ngăn, chắc chắn luôn có thơ. Tận sâu thẳm tâm hồn của Sơn vẫn là thơ. Chính vì thế, trong phép ứng xử với nhau cũng thơ nốt. Chẳng hạn, vào một chiều trời mưa dầm dề, lúc y đang đặt dấu chấm xuống trang Nhật ký: ‘“Đang buồn””, lập tức một cuộc điện thoại của Sơn gọi đến: “Rượu đỏ nhé?”. Thân tình ấy, khiến cảm động không nguôi. Sơn là vậy. Dù không nhiều lời, ít gặp nhau nhưng Sơn hiểu và hiểu rất rõ về bạn. Bạn đang vui hay buồn. Chỉ đọc loáng qua những gì bạn vừa viết, đã viết là Sơn có thể cảm nhận được ngay.

Thế đấy, ai dám bảo nhà thơ vốn lơ tơ mơ thả tâm hồn bay lên cõi địa đàng với cây đàn lia (lyre), chứ không hề dẫm chân dưới đất?

Từ cây đàn ấy, những bài thơ của Cao Xuân Sơn rung lên những câu thơ nhói lòng: “Nghiêng bình dốc cạn chiêm bao/ Bóng ai trên vách… hao hao bóng mình” (Độc ẩm). Trong thần thoại Hy Lạp, Orpheus phải xuống tận địa phủ đi tìm Eurydice. Sơn cũng đi nhưng anh đi qua tâm hồn của chính anh. Hình bóng xa khuất ấy cũng là bạn của tôi, của Sơn từ những ngày trai trẻ. Vì thế, đọc những câu thơ ấy cứ rưng rưng mãi. Rồi, Sơn lại yêu. Ai cũng thế. Tình yêu lại đến cũng là lúc mở ra những cảm hứng mới cho Thơ và Đời.

Đời lặng lẽ và giản dị như chính Sơn đã cảm nhận: “Nảy tự bùn đen hoa vẫn sen/ Sắc hương lịm tắt cả sang hèn/ Từ đâu duyên khởi, anh nào biết?/Chỉ biết từ em, nắng mới nhen”. Đọc những câu thơ ấy, cám ơn nhà thơ ư? Không, phải cám ơn người phụ nữ đã đem lại cho Sơn cảm xúc trong trẻo ấy. Dù rằng, một mảng thơ của Sơn là thế sự, một mảng khác là thơ dành cho thiếu nhi, nhưng y vẫn thích nhất, nhớ nhất là thơ tình: “Thôi mặc kệ một ngày hay một kiếp/ Chỉ đã kim, hương đã lửa, nước đã bèo/ Mình có nhau, đời thêm nhộn nhịp/ Và bốn mùa yêu dấu cũng về theo”. Nghe nhẹ nhàng, xao xuyến và cứ vang ngân mãi.

Trong móng tay của nhiều nhà thơ đã thành danh tại Sài Gòn, y đồ rằng vẫn còn đó một chút bùn của quê nhà trên đồng cạn dưới đồng sâu, thì Cao Xuân Sơn cũng thế. Sâu thẳm trong anh những ngày nắng hanh khô tại Sài Gòn, muốn uống một chai vang đỏ phải ngồi phòng máy lạnh, ai biết rằng, lúc ấy, giữa ngày xuân xanh phơi phới mà trong lòng thi sĩ đang rét mướt những giọt mưa phùn ở Hà Nam xứ Bắc? “Anh nhắm mắt nghe mưa / đếm từng cơn nghẹt thở” như chính anh đã tự thú.

Có như thế, cuối cùng sự còn lại ở đời sống này là gì, nếu không là thơ? Mà đã vậy thì: “... Thôi thì mình tay cứ nắm lấy tay/ học chim chóc cứ vừa bay vừa hót/ học dòng sông vừa trôi vừa dào dạt/ học bếp than hồng vừa cháy vừa reo... (Nợ - CXS). Phải thế không, bạn mình ơi?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 6.9.2017

cung-voi-me-ngayCùng với mẹ ngày 31.8.2017 tại Sài Sòn



Thế là mẹ đã về quê. Có lẽ là lần cuối cùng mẹ ở chung nhà với y.  Mãi mãi không bao giờ còn nghe câu nói trìu mến từ dưới sân nhà vọng lên: “Con ăn gì, mẹ nấu?”. Mãi mãi không bao giờ gặp lại hình ảnh, mỗi sáng dắt xa ra khỏi nhà, lại nghe: “Trưa về, con ăn gì mẹ nấu?”. Tình cảm của người mẹ, nhất là lúc đã già lại thường nghĩ đến món ăn dành cho con. Thời bé, “Con ăn nhanh, ăn nhiều, mẹ thương”. Lúc gần đất xa trời, suy nghĩ ấy cũng không thay đổi. “Ăn vóc học hay”. Ăn cho nên vóc nên dáng, khỏe mạnh; học cho hay, cho giỏi. Người mẹ nào cũng nghĩ về con như vậy thôi.

Chừng mươi năm trước, lần đầu tiên du lịch Thái Lan, lúc quay về nhà, mẹ đã về Đà Nẵng. Cảm giác thế nào? “Lang thang sang Thái Lan/ Trở về không gặp mẹ/ Căn nhà rộng gấp hai/ Con hóa thành đứa trẻ/ Đây giường nằm của mẹ/ Sợi tóc bạc vẫn còn/ Bảy mươi còn xuôi ngược/ Cũng vì cháu với con/ Chập choạng bóng hoàng hôn/ Bếp lửa giờ tắt ngúm/ Buổi sáng nắng mai lên/ Con mải mê ngủ nướng/ Không được nghe từng tiếng/ Gọi con dậy đi làm/ Bốn mươi còn làm biếng/ Mẹ không lời than van/ Lang thang sang Thái Lan/ Mơ về nhà gặp mẹ/ Bây giờ chỉ mình con/ Bơ vơ như đứa trẻ”. Bài thơ viết lúc “tứ thập”, nay ngoài năm mươi với hình hài đã là những sợi tóc bạc trắng mà nào nên cơm cháo gì đâu. Vẫn “Bơ vơ như đứa trẻ” thì rõ ràng ông trời chơi khăm quá. Mà đổ lỗi cho ông trời làm cái gì, sao không tự nhủ: “Lỗi tại tôi”, có phải chính xác hơn không?

Đã trải qua những ngày phải tính toán, cân nhắc từng chút một. Rằng, làm sao đưa mẹ lên máy bay để về quê? Khó quá đi thôi. Lúc ấy, vừa đám tang ông anh, mẹ lại nằm bệnh viện với sức khỏe đang từng ngày tụt dốc. Ngoài 90 rồi còn gì? Cuộc chạy đua từng giờ. Nếu phải về bằng xe đò, tàu lửa, nào khác gì một chuyến hành xác cả hàng chục tiếng đồng hồ với đường dài hàng ngàn cây số? Có nỡ đành lòng không? Ấy là chưa kể, nếu chẳng may mẹ Về trời lúc trên dọc đường đi thì bất hạnh biết dường nào? Đã ngưng hơi tắt thở, trong quan niệm của người Việt phải là nằm xuôi tay nhắm mắt trong căn nhà của mình. Không thể có một lựa chọn nào khác, nếu có sự lựa chọn cuối cùng. 

Ơn trời, mọi việc đều suông sẻ.

Thật lạ, với đấng sinh thành, dù nằm bệnh, dù hơi tàn lực kiệt, thở không ra hơi, nói ra tiếng, từng ngày, từng ngày chỉ nằm một chỗ nhưng lại là điểm tựa tinh thần cho của gia đình. “Đêm đêm thắp ngọn sao trời/ Cầu cho cha mẹ sống đời với con” là nằm trong ý nghĩa nhân văn đó. Mẹ sống từng ngày phải thuốc thang, cơm bưng nước rót nhưng lại là niềm an ủi lớn lao nhất mà con người ta còn có thể nhận ra được dưới gầm trời này.

Một khi mất cha/mẹ là lúc con người ta mới thật sự chia lìa vĩnh viễn với cội nguồn của sự hình thành, tạo dựng nên thân xác, hình hài của chính họ. Sự ràng buộc căn bản nhất, then chốt nhất đã không còn, dù rằng có anh có em, cô dì chú bác nhưng cũng chỉ là yếu tố cần chứ chưa phải là đủ. Bấy giờ, con người ta chính thức lẻ loi, đơn độc trong cõi hỗn mang của trời đất, của vũ trụ, của cõi nhân sinh này. Mãi mãi, không bao giờ họ còn được sống trong cảm giác: “Khi gai đời đâm ứa máu bàn chân/ mấy kẻ đi qua/ mấy người dừng lại?/ sao mẹ già ở cách xa đến vậy/ trái tim âu lo đã giục giã đi tìm” (Đỗ Trung Quân). Ấy là sự linh cảm của tình mẫu tử mà không một sự huyền bí nào có thể sánh nổi. Đơn giản chỉ vì rằng, tình cảm mẹ dành cho con là một lẽ tự nhiên. Sự tự nhiên ấy, làm sao có thể lý giải nếu điểm xuất phát không là tình máu mủ từ ruột thịt do chính người mẹ sinh ra?

Một bài viết cũ, viết đã lâu. Đọc lại vẫn bùi ngùi. Đã viết trong những ngày mẹ phải nhập viện. Viết rằng:

“Một mẹ già bằng ba lần giậu”.

Đến một lúc nào đó, một hoàn cảnh nào đó, con người ta mới thấm thía câu thành ngữ này. Có đôi lúc, trong cuộc sống bề bộn, bận rộn của mỗi ngày, ở chung với mẹ, ta cảm thấy “xốn mắt” lắm. Làm sao có thể chìu được người già? Khoảng cách giữa hai thế hệ là một vực thẳm. Cả hai khó có thể hiểu, chia sẻ những mối quan tâm chung. Đứa con bước ra khỏi nhà, tự trong lòng đã gánh lấy một áp lực từ công việc, từ mối quan hệ ngoài xã hội; trong khi đó với người mẹ lại khác, chỉ là những chuyện vặt vãnh, bếp núc. Có cũng được, không cũng chẳng sao, nếu cần, thuê lấy Osin là xong tất. Chẳng gì phải bận tâm.

Nghĩ là nghĩ thế. Nhưng rồi, lúc mẹ nhập viện, ở nhà thui thủi một mình/với vợ con mới ngộ ra rằng, phải là mẹ, có mẹ thì mọi việc mới chu toàn đâu ra đó. Thích nhất trong đời của nhiều người, với nhiều người có lẽ vẫn là câu nói: “Con ăn gì mẹ nấu cho”. Một sự tự nguyện, tự giác mách bảo từ tình mẫu từ, chỉ biết rằng hễ con ưng ý, hài lòng là vui.  

Niềm vui của người mẹ già đơn giản lắm. Chỉ cần con ăn ngon, ngủ ngon, không bệnh tật là vui. Niềm vui ấy, đã có, ngay từ lúc đứa con vừa lọt lòng cất tiếng khóc oe oe và thầm lặng suốt một đời. Chẳng người mẹ nào kể công đã nuôi con cực nhọc như thế nào, nếu nhắc lại cũng chỉ kể về niềm vui. Vui gì? Vui, lúc con bập bẹ tiếng nói đầu tiên gọi ba, gọi mẹ. Vui, lúc còn son trẻ, mỗi lần đi chợ về, con ùa ra níu áo: “Mẹ ơi, quà con đâu?”. Thế rồi, khi đã đủ lông đủ cánh, đủ sức bay nhảy giữa trời cao đất rộng, có lúc nào ta nhớ đến món quà, tấm bánh dành cho mẹ? Hay có nhớ, nhưng rồi bận rộn quá, tặc lưỡi: “Dịp khác”.

Dịp khác ấy, bao giờ mới đến?

Ở trong nhà, vai trò của mẹ mờ nhạt lắm. Thế nhưng, khi không có mẹ mới thấy trống trải biết chừng nào. Thì ra, lâu nay nhà cửa gọn gàng, bếp núc đâu ra đó; cái bàn, cái ghế sạch sẽ không một hạt bụi; mọi vật dụng sắp xếp ngăn nắp, nề nếp… chẳng phải tự nhiên mà có. Một tay mẹ quán xuyến tất cả. Muốn tìm cái gì, hỏi cái gì, có khi chưa kịp hỏi, quyển “từ điển mẹ”. đã lặng lẽ trả lời. Một ánh sáng lặng lẽ phía sau lưng, khiến ta thấy cuộc sống của mỗi ngày ổn định, hài lòng.

Mà than ôi, người mẹ chẳng hề đòi hỏi gì cho riêng mình. Ngày nọ, y hào hứng ngồi vẽ. Tràn trề sắc màu hò reo nhảy múa. Bỗng nghe tiếng nói chậm rãi của mẹ, từ phía sau lưng: “Từ 11 giờ đến chừ, mẹ cảm sốt, không ngủ được”. Giọng nói ấy không hề than thở buồn rầu, nghe như bà cụ đang thủ thỉ, đang “méc” lại một chuyện oan ức gì đó. Cứ như thể thời còn bé bị ai đó bắt nạt; hoặc ấm ức điều gì chỉ đợi mẹ, chờ ba về đến nhà để “méc” cho bằng được. Già rồi, chỉ dựa vào con. Y vội trấn an: “Xoàng thôi. Mưa nắng thất thường, ai mà không cảm sốt. Không sao đâu”. Bà cụ im lặng. Không dám nói gì thêm, không “mè nheo” nữa. Mãi đến lúc vẽ xong tranh, y mới buột miệng một câu hú họa làm ra vẻ như đang an ủi: “Hay con đưa mẹ đi khám bệnh?”. Bà cụ mừng rỡ, gật đầu ngay, chứng tỏ nẫy giờ muốn nói nhưng không dám thổ lộ. Đưa mẹ đi khám bệnh. Và bác sĩ… cho nhập viện luôn.

Thế đấy, đôi khi chúng ta vô tâm vô tư, vô ý vô tứ quá thể.

Mỗi lần vào bệnh viện thăm, bao giờ bà cụ cũng hỏi: “Con ăn gì chưa?”. Rồi lại nói: “Chịu khó vài ngày, ít bữa nữa về nhà, mẹ nấu cho”. Hỡi ôi, y chẳng ra làm sao cả. Ở với mẹ nhưng rồi có hiểu gì về mẹ, có bao giờ trò chuyện gì không? Chỉ năm thì mười họa. Chỉ là những câu hỏi nhát gừng. Hỏi bâng quơ rồi đắm đuối với những hư ảo, mộng mị xa vời. Vẫn đong đưa theo những cuộc chơi phù phiếm mơ mơ màng màng chẳng nên tích sự gì: “Ta cầm hương hoa vung vãi khắp nơi/ cho mối tình đầu, tình sau, tình cuối/ thì lúc ấy mẹ ngồi trong bóng tối/ tựa cửa một mình chống chọi với mùa đông”.

Đến một lúc nào đó, một hoàn cảnh nào đó, con người ta mới thấm thía câu thành ngữ: “Một mẹ già bằng ba lần giậu”. Chẳng phải đâu, hãy ngay tự bây giờ, mỗi một ngày, cần dành lấy một khoảnh khắc nghĩ về mẹ. Nghĩ về những ngày còn có mẹ, chỉ cần thế, sẽ cảm nhận được biết bao điều có ý nghĩa nhất trong cuộc đời này”.

Bây giờ, đã là lúc nghĩ đến giây phút vĩnh viễn không còn gặp mẹ.

Ngày đó, sẽ đến. Từng ngày đi qua là từng ngày đưa mẹ về với cõi hư không ấy. Phải biết trước, nhận thức trước, chấp nhận trước để không gì bất ngờ, ngỡ ngàng. Biết để chu toàn hơn. Biết để lo lắng chu đáo hơn. Để biết rằng, không bao giờ còn có dịp: “bất chợt ta nhìn hai hố mắt mẹ sâu/ đã thấy sự lo toan, buồn phiền, mệt mỏi/ mẹ chỉ âm thầm và suốt đời lặng lẽ/ gương mặt đăm chiêu ngay thảnh thơi nằm”. Câu thơ ấy, viết vào lúc nào? Y không nhớ nữa. Sẽ không còn là sự đánh thức trách nhiệm một khi đã sa đà, ngao du phù phiếm dẫu là lúc đang trên đỉnh trời của cõi địa đàng du hí...Lúc ấy, “Chẳng có gì níu kéo anh rời khỏi cơn mê” nhưng rồi lại giật mình, sực nhớ đến một điểm dừng: “Ngoài một điều duy nhất/ Mẹ/ Vâng, mẹ tựa cửa mẹ hiền lành mẹ nhẫn nại như đất/ Chờ anh về từ lúc chiều đã khuất...”.

Sẽ mãi mãi không bao giờ còn được sống trong tâm cảnh kỳ diệu nhất của tình mẫu tử: “những miếng ngon vật lạ trên đời/ con đã nếm chân trời góc biển/ vẫn không ngon hơn một củ khoai lùi/ mẹ bóc vỏ mớm cho con ngày thơ ấu/ những miếng ăn từ bàn tay mẹ nấu/ còn có cả tấm lòng/ cả gió rét mùa đông/ mẹ tất tả giật gấu vá vai kiếm từng xu ngoài chợ/ một đồng lãi gánh mười đồng nợ/ ăn mắm mút dòi/ dè sẻn chắt chiu/ ngay cả lúc cơm sôi/ còn có cả giọt mồ hôi/ của mẹ/ ngay cả khói chiều/ bếp lửa reo cũng ấm êm hạnh phúc/ làm sao có thể quên?/ sống để dạ chết mang theo/ làm sao có thể quên một điều giản dị:/ “thượng đế nhân từ không có mặt ở khắp mọi nơi/ ngài đã sinh ra các bà mẹ”/ mẹ là hiện thân của từng giọt lệ/ đã vì con mà khóc/ vui cũng khóc/ buồn phiền cũng khóc/ đã vì con gạt đi nước mắt/ lao ra giông tố cuộc đời/ xòe cánh tay mỏng manh như nắng lụa/ chở che con bóng mát dưới vòm trời/ may mắn cho ai còn có mẹ”. 

Ngày không còn ấy, mãi mãi không còn. Sẽ đến.

Có những cuộc chia tay, biệt ly đằm đìa nước mắt, nhưng cũng có thể đó là ngày hội. “Trẻ làm ma, già làm hội”. Khi đã ngoài 90 được trở về với Đất, trở về với Cát bụi há chẳng phải là ngày hội đó sao? Đã không thể nào giữ lại được, phải chấp nhận lấy cuộc chia ly ấy. Một lẽ sinh tồn trong trời đất. Không thể nào khác. Ngày ấy, hãy tự nhủ với lòng mình, hãy lắng nghe tiếng nói thầm vọng lên rất khẽ, rất khẽ như sự cựa mình của một hạt mầm vừa nhú lên khỏi mặt đất để gặp Ánh sáng ngàn đời bất tuyệt: “tưởng tượng một ngày kia/ trăng treo trên vòm trời Đà Nẵng rất khuya/ mẹ khỏe mạnh giã gạo/ hương cau thơm rụng đầy sân nhà ông ngoại/ thuở ấy mẹ mới về với cha/ mới nghĩ vậy thôi con sung sướng khóc òa/ một niềm vui vĩnh cửu...”.

Niềm vui vĩnh cữu ấy, đã có thì hãy giữ gìn và nâng niu như một hành trang trong cõi nhân sinh này. Rồi đến một lúc nào đó, chính mình cũng sẽ là một sự nối tiếp. “Trăm năm như chớp mắt/ Mẹ đã đi chợ về”. Và sung sướng thay, hạnh phúc thay, đó cũng chính là lúc ta cùng mẹ, cả hai mẹ con cùng “đã đi chợ về”. Đã rời khỏi chợ/ cõi chợ đời - nói như triết gia Hermann Hesse: “Dù đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này” nhưng một khi trần gian đã chối bỏ thì cũng gì phải sợ hãi bởi lẽ trên hành tình hư vô ấy mỗi chúng ta vẫn còn có mẹ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 30.8.2017

 

nuocman_RXEGnuoc_mam7

 

Lâu qua không gặp Z. Sau khi tanh bành banh chành, ra môn ra khoai, đen ra đen, trắng ra trắng về cuộc chiến giữa nước mắm truyền thống và công nghiệp, hắn ta bị buộc nghỉ việc. Thôi nghề làm báo. Lúc ấy, nhận định về phi vụ khét tiếng này, ông Bộ trưởng Bộ Thông tin truyền thông cho rằng đã có dấu hiệu của sự cấu kết bất lương trong truyền thông của doanh nghiệp, thậm chí vi phạm pháp luật.. Ai đời, họ quả quyết như đinh đóng cột rằng, nước mắm truyền thống “có chứa thạch tín vượt ngưỡng”. Ăn vào chỉ có nước sớm về chầu ông vãi. Khiếp. Những trang sử thăng trầm về nghề nước mắm truyền thống sẽ còn ghi lại sự việc này.

Tưởng rằng, từ đây chẳng ai còn đụng gì đến nước mắm nữa. Cứ để yên cho người ta làm ăn như hàng ngàn đời nay có phải tốt hơn không?

“Nước mắm ngon dầm con cá liệt/ Em có chồng rồi nói thiệt anh nghe”. Âm điệu câu ca dao du dương quá đi mất. Nhịp nhàng bằng trắc. Cách gieo vận lưng ở giữa câu đã cho thấy một “ý tại ngôn ngoại”  - giữa anh/em đã là một sự gắn kết, dù không nói ra nhưng người đọc đã tự hiểu lấy, bởi “liệt” đã bắt nhịp với “thiệt”, đố ai gỡ cho ra?

Nghĩ thế, rồi tự nhủ, hôm  nào về Đà Nẵng phải mua cho bằng được vài lít nước mắm Nam Ô đem vào Sài Gòn. Có nước mắm nhỉ ở ngoài quê, bữa cơm ngon hơn. Yêu đời hơn và yên tâm hơn. Lại nhớ đến câu: “Nước mắm xem màng màng, Thành hoàng xem cờ quạt”. Hiểu nôm na “màng màng” là váng nổi trên mặt chất lỏng, nói cách khác là nước mắm “dậy mùi”, có như thế mới là nước mắm ngon. Xem cờ quạt, cờ xí lộng lẫy, rực rỡ cỡ trong ngày lễ, ngày hội thì mới biết Thành hoàng của làng đó được trọng vọng ra làm sao.

Sáng nay, như mọi buổi sáng, từ lúc 5 giờ sáng thì người giao báo đã đưa báo đến tận nhà. Đọc và choáng với thông tin cực kỳ “cùi bắp”: Nước mắm phải dùng muối iod. Theo cơ quan chức năng giải thích là nhằm chống bệnh bướu cổ, đần độn và các rối loạn do thiếu vi chất này sinh ra. Báo Phụ Nữ TP.HCM đặt câu hỏi về quy định này, có phải: “Làm khó nhà sản xuất, bất cập với người tiêu dùng?”. Đọc xong, mới thấy câu trả lời là có. Có thật. Nhiều doanh nghiệp sản xuất nước mắm truyền thồng cho biết: “Nếu cứ bắt buộc phải dùng muối iod vào quá trình chế biến sẽ đánh mất mùi vị đặc trưng truyền thống của nước mắm nhà thùng”.

Sực nhớ, ở Huế vài năm trước, cơ quan chức năng cấp tỉnh đã  ra Quyết định Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận bún bò Huế. Quy chế này gồm 5 chương với 19 điều, 5 Phụ lục. Đọc và tủm tỉm cười. Âu cũng là cái thú của những ai thích thư giản với câu chữ. Nếu ngày trước, thực dân đế quốc Pháp cũng ra quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận phở An Nam thì chuyện gì sẽ xẩy ra?

Dứt khoát khi bàn về phở, Thạch Lam không thể viết câu: “Và người hàng phố tìm dấu hiệu để gọi tên anh cho dễ nhớ: anh phở trọc, anh phở Bêrê, anh phở Mũ Dạ, anh phở Cao... và dặn thằng nhỏ chớ mua hàng khác về "ông không ăn mà chết đòn". Sự tinh tế Thạch Lam còn ở câu này: “Như cái thứ phở thực cũng như bản tuồng, chèo. Để nguyên tuồng chèo cổ thì hay, chứ đã pha cải lương vào thì hỏng bét. Có chăng muốn cải cách thì để nguyên vị, mà cách làm tinh vi hơn lên. Cái nội dung và thể tài vẫn cũ, mà tinh thần thì ngày một sắc sảo thêm vào. Kẻ viết bài này vẫn trung thành với lối phở cổ điển cũng như ưa nghe tuồng chèo giữ đúng điệu xưa”. Và ông cũng có biết mỗi người bán phở có cách chế biến theo kiểu gia truyền. Không ai giống ai. Mội người một vẻ, mười phân vẹn mười. Dù vẫn là “lối phở cổ điển” hoặc “đã pha cải lương vào” đi nữa.

Nếu quán/ gánh phở nào cũng tuân theo một nguyên tắc bất di bất dịch từ sắc màu, mùi vị, nguyên liệu, công thức chế biến… y chang như nhau, có lẽ phở đã tự đào thải tư lâu rồi. Tương tự, cũng bún bò Huế nhưng o Sen khác với o Rớt lại khác với mụ X, Y, Z nào đó chứ? Nay, người ta quy định phải “đồng phục” trăm phần trăm từ “hình thức” đến “nội dung”, còn gì là cái thú ẩm thực nữa? Quy chế về bún bò Huế đã ban hành như thế nào? Thì đây. Đây là các “chỉ tiêu”:

“Trạng thái: Nước dùng trong, không đục, nóng, nổi nhiều váng mỡ trên mặt.    

Màu sắc: Sản phẩm hội đủ các màu tươi thắm tạo sự bắt mắt, ngon miệng: Trên bề mặt của tô bún có màu đỏ cam của ớt phi dầu (hoặc mỡ); màu trắng của sợi bún; màu nâu của thịt, huyết (tiết); màu vàng cam của chả cua, hồng nhạt của chả heo; màu xanh của hành, ngò; màu đỏ của lát ớt;…

Mùi: Sản phẩm phải dậy mùi thơm của nước bún, bao gồm mùi của thịt, sả, hành quyện vào nhau trong đó mùi sả thơm nồng hơn bên cạnh còn có mùi thơm nhẹ của các loại rau gia vị, ruốc và không có mùi lạ khác.

Vị: Ngon, ngọt đậm đà của các loại thịt và xương hầm, cay vị ớt, không có vị lạ khác. Ăn xong vẫn còn vị của bún bò Huế không lẫn với vị của thực phẩm khác.

Các loại rau và gia vị ăn kèm: Rau sống: cải con, rau thơm, xà lách, giá đỗ, bắp chuối. Các loại rau sống được thu mua từ các nhà cung cấp uy tín và chất lượng (có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng). Các loại rau có trạng thái tươi tự nhiên. Các loại gia vị như: nước mắm, ớt tươi, ớt tương, chanh”.

Chưa hết đâu. Còn đây là “tiêu chí”:

“Bún tươi: Là loại thực phẩm dạng sợi tròn, trắng, mềm, được làm từ tinh bột gạo với phụ gia bột lọc, được luộc chín trong nước sôi; sợi bún dài, hơi dai, không đứt gãy; sợi bún không có mùi chua, mùi lạ.

Các loại thịt và sản phẩm thịt: Thịt giò heo có khoanh tròn dày khoảng 2,5 - 3cm, được ninh vừa đủ độ chín để đảm bảo miếng thịt được giòn, ngọt và không bị nhừ; Thịt bò bắp, bò gân được cắt từ những miếng thịt đã hầm vừa đủ độ chín trong quá trình chế biến nước dùng. Chả heo, bò, cua; huyết (tiết) đã được luộc chín”… Ngay cả, “Bát (tô), thìa (muỗng), đĩa kê bằng sứ; đũa tre” cũng nằm trong “tiêu chí” nốt.

Phải răm rắp thực hiện đúng bài bản catlogue mới được cấp nhãn hiệu chứng nhận “Bún bò Huế”. Hay quá đi chứ. Vâng, rất hay.

Rằng hay thì thật là hay.

Trong khi đó, cái gu của người sành ẩm thực lại khác hẳn. Chẳng ai giống ai. Chẳng hạn, với y trên đời nay chỉ có thể gọi Phở bà Dậu là phở. Ngon nhất. Mê nhất. Ăn đến nay đã mòn răng. Có lúc nửa đêm giật mình tỉnh giấc, lưng lửng đói lại thầm mong trời mau sáng đặng có thể thỏa mãn sự cái sự thèm. Thế thì, kẻ khác cũng vậy chăng? Chưa chắc đâu. Có người lại chê bai bải, chê ỏng chê eo, đã thế lại cho rằng, chẳng phải là phở. Mà phở thì phải là…; đã bún bò Huế thì phải là… Ối dào, mỗi người một phách. Khó thể nói đâu là chỉ tiêu. Đâu là tiêu chí. Vậy nên mọi sự áp đặt chủ quan trong ẩm thực phải thế này, phải thế kia đều “tào lao bí đao” cả.

Có nhiều người, như y đây, chẳng phải thèm ăn gì cho cam nhưng đôi lúc cũng tò mò tư hỏi: Chẳng biết, ngày xưa, các ông vua nước Nam ta khoái ăn những món nào? Nói cách khác đâu là đặc sản vùng miền phải “tiến vua”?  Tìm hiểu chuyện này cũng lý thú đây. Ít ra, ta cũng biết đặc sản độc đáo của từng vùng miền. Và đó cũng chính là niềm tự hào, hãnh diện của cư dân nơi đó. Tình yêu quê hương cũng vun vén, hình thành từ những những miếng ngon dân dã, quê kiểng. Sau này, đi xa, tiền xúng xính nhưng chắc gì có thể ăn được đặc sản đó?

Phải nó thật rằng, sau khi thống nhất nước Nam, dưới triều Nguyễn việc ghi chép về các điển chương chế độ, điển pháp, quy chuẩn…. mới được tổ chức bài bản, chu đáo, đầy đủ hơn cả. Riêng về bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước ghi nhận: “Triều Nguyễn là triều đại khá quan tâm đến công tác công văn giấy tờ, đặc biệt dưới thời vua Minh Mệnh, vua hầu hết tự soạn thảo các văn bản quan trọng, duyệt lãm phê điểm vào các văn bản tấu trình. Vua cũng ban hành khá nhiều quy định đối với công tác văn thư như soạn thảo tấu tư phải hợp lệ, xét duyệt tấu tư, quản lý sổ sách công văn, sử dụng ấn tín đúng trình tự… Có thể nói chế độ quản lý văn thư lưu trữ của triều Nguyễn đã đi vào ổn định từ đời vua Minh Mệnh. Đến thời Tự Đức công tác công văn giấy tờ phần lớn vẫn tuân theo những điển lệ cũ nhưng cũng có một số thay đổi hoặc chế định thêm”.

May quá, trong nhà có bộ sách này (bản dịch của Viện Sử học, NXB Thuận Hóa - 1993). Quyển 120 (tập 8) ghi chép về Phẩm vật ở địa phương phải “cung tiến” dưới triều Minh Mạng. Tuy nhiên, xin lưu ý có những thứ đã thay đổi, tùy theo thời gian, chẳng hạn, năm Minh Mạng thứ 21: “Các phẩm vật như bánh phục linh, bánh mì, mứt tẩm đường mật, bỏng nếp tẩm đường, cốm ở kinh cũng dễ tìm, rồi sau đó cơ sở lý thiện làm, còn Hà Nội không cần phải tìm kiếm để cung tiến như trước nữa”. Suy ra các phẩm vật trên vốn là “món ngon Hà Nội”, do người Hà Nội sáng chế ra đầu tiên, sau đó, các nơi khác mới bắt chước làm theo.

Trước đây cứ nghĩ rằng, đã là phẩm vật, thổ sản độc đáo thì địa phương đó có trách nhiệm cung tiến? Không hẳn thế. Đọc Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ mới biết nhà nước phải bỏ tiền ra mua. “Đến tiết nào, các địa phương có lấy hay mua các thứ quả phẩm để kính dâng, số bao nhiêu chiểu giá trả tiền, đến cuối năm vào sổ, chi tiêu đệ lên, do bộ Hộ cho thanh toán, lấy làm lệ vĩnh viễn”; “Vật không đáng bao nhiêu mà dân cũng lấy việc ấy làm lẽ sống, phải nên tùy từng hạng xét trả tiền, để dân được nhờ”. Cách tính như sau: “Quả dừa cứ 100 quả giá tiền 3 quan, cam đường cứ 100 quà giá 2 quan tiền, quả boòng boong cứ 4 sọt làm một gánh giá tiền  3 quan…” v.v…

Các phẩm vật này là để nhà vua “ngự thiện”?  Không hẳn, còn dành để phục vụ cho lể tế Nam Giao, lễ hưởng ở nhà Thái Miếu, ngày Thánh đản, ngày giỗ và ngày thánh thọ, tết Vạn thọ, tết Chính đán, Đoan dương, Trung thu… Do đó, số lượng của mỗi thứ rất nhiều. Chẳng hạn, trái boòng bong ở Quảng Nam, thời Gia Long hằng năm vào mồng 8 tháng 9 lấy 6.200 quả và phụ 4.400 quả; ngày 12 tháng đó lại lấy thêm 2.200 quả và phụ 4.400 quả. Về sau, thời Minh Mạng, Thiệu Trị có giảm bớt…

Phẩm vật cung tiến như sau: Gạo mới và hoa quả ở hạt Thừa Thiên; Quả dừa của 2 tỉnh Vĩnh Long và Định Tường; Quả xoài của tỉnh Phú Yên; Quả chanh của tỉnh Bình Định; Quả chanh và quả boòng bong của tỉnh Quảng Nam; Các thứ dưa hấu, bột hoàng tinh, thịt cửu khổng khô (là một giống sống ở bể như con sò mà to, ăn thịt rật ngon, vỏ dùng làm thuốc), tương đậu, rượu dâu ở tỉnh Quảng Bình; Cam đường ỏ tỉnh Thanh Hóa, Hải Dương; Quả vải ở tỉnh Hà Nội, Mắm rươi ở tỉnh Ninh Bình, Nam Định; Sa lê (thứ lê thường) ở tỉnh Cao Bằng; Tuyết lê (thứ lê vỏ trắng) ỏ tỉnh Tuyên Quang… Riêng ở thành Gia Định hằng năm phải dâng 10 con vây cá (có lẽ đuôi cá nhám), ốc ở chằm nước 10 bao đem đi theo đường bể, ba ba bể, cà cuống cả trứng… Ngoài ra, còn có cả cá sấu nữa.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 29.8.2017

e77chaydan_jpg_dan_chay_pha_nguc

Ảnh: Chạy đàn phá ngục

 

Có thằng chồng say như trong chay ngoài bội

Ngó vô trong nhà như hội Tần vương

Bởi say sưa nhậu nhẹt, hủ chìm hủ nổi, mềm như sợi bún, say quắc cần câu, say mèm say khướt, say cúp bình thiếc, say lết bánh, nôn thốc nôn tháo, cho chó ăn chè, vì thế, cô vợ mới ngao ngán gọi là “thằng”. Đọc ca dao, thỉnh thoảng gặp từ “con” dành cho vợ/người tình thốt ra từ miệng người đàn ông, dù họ đang yêu thương đằm thắm; từ “thằng” không hề thấy quý cô/quý bà sử dụng đến. Ai nỡ gọi, “hoàng tử của lòng em” là “thằng” bao giờ? Chỉ khi nào khinh miệt, khinh bỉ, rẽ rúng, tức giận và cắm lên đầu cho cái sừng, họ mới gọi “cây tùng, cây bách”; “trụ cột” kia là “thằng”.

Mà thôi, chuyện nhà của thiên hạ, bàn luận làm chi.

Chuyện đáng bàn vẫn là câu thành ngữ “Trong chay ngoài bội”. Việt Nam tự điển (1971) do Lê Văn Đức biên soạn, Lê Ngọc Trụ giải thích: “Trong nhà thì làm chay thí thực; ngoài sân thì cất giàn để hát bội cho người xem, chỉ nhà giàu sang, thường có đám tiệc khách khứa”. Thí thực là đồ ăn bố thí cho ma đói (ngạ quỷ), cô hồn vất vưởng vất vơ, không có thân nhân cúng kiếng; nhưng đem đồ chay cúng dường cho tăng ăn, người ta cũng gọi thí thực.

“Mùi thiền đã bén muối dưa/ Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng/ Sự đời đã tắt lửa lòng/ Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!”. Lúc ấy, dứt khoát Thúy Kiều ăn chay, còn gọi ăn lạt, chứ không ăn mặn nữa. “Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối”. Cách gọi “mặn”, “lạt” đã thể hiện tính chất món ăn theo quy định của một tôn giáo. Vì thế, khi nghe nhắc đến vật gì có chất mặn như mắm, như muối, chẳng hạn: “Chuyện chẳng có gì, hắn ta thêm mắm, thêm muối nghe rợn cả người”, tức thêm thắt bịa đặt, nói vống lên, có ít xít cho nhiều, sai lệch với sự việc vốn có.

Lắc léo cho tiếng Việt còn ở chỗ, một khi nghe nói ngủ chay, lập tức ta hiểu là người đó ngủ một mình, không chung chạ xác thịt; hoàn toàn khác với ngủ mặn. “Bóng gương thấp thoáng dưới mành/ Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa” (Cung oán ngâm khúc), “Mỏi gối chồn chân cũng muốn trèo (Hồ Xuân Hương), có người cùng thủ thỉ, tâm tình, đầu ấp tay gối là ngủ mặn. Vậy một khi uống chất men không kèm mồi, không có gì nhấm nháp đưa cay, chỉ rượu với rượu, cũng tỷ như ngủ chay một mình, ta gọi “uống chay” chăng? Theo đúng điệu đệ tử Lưu Linh phải gọi “uống suông”. Không rõ hai câu thơ này của ai, nghe ra cũng “dân chơi” lắm:

Thơ suông nước ốc ngâm còn váng,

Rượu lạt non chai vẫn chén khà

“Thơ suông nước ốc” là thơ nhạt/nhạt thếch. Liên tưởng qua câu cửa miệng “Nhạt như nước ốc” ắt rõ nghĩa ngay thôi. Không rõ câu thành ngữ: “Sáng trăng suông bà về vậy” là ngụ ý gì? Thử suy luận xem sao, trăng sáng là trăng rằm, trăng tròn, những đêm trăng vành vạnh ấy, ở nông thôn bà con chòm xóm thường tụ tập lại nhau tán gẫu, không chỉ tán suông mà có thêm bát nước chè tươi, kẹo lạc, chén trà hoặc chén rượu… cho rôm rã. Ấy thế, khi bà đến, gọi bà là do tuổi tác và tất nhiên do vai vế nên bà được mọi người trọng vọng, đon đả đón mời. Nhưng rồi, chỉ có thế, chẳng có gì ngoài “sáng trăng suông”, chẳng được cái nước non gì nên bà bực bội bỏ về quách cho xong. Thái độ không ưng ý, hài lòng của bà gói gọn trong từ “vậy”. Nghĩa bóng: dù được nghe bao nhiêu lời “có cánh”, mát cả ruột, sướng cả tai; hoặc được nhìn bao cảnh đẹp kỳ thú nhưng rốt cuộc chẳng có thêm gì khác - bất quá cũng chỉ mỗi “sáng trăng suông” thì cũng chẳng nên cơm cháo gì. Nói gì thì nói, “Có thực mới vực được đạo”.

Trong khi đó, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Dư: “Chữ “vậy” ở cuối câu nói cho thấy sự thất vọng của người đàn bà. “Về vậy” có nghĩa là “đành phải về”. Ngày xưa, ở thôn quê cũng như ở thành thị, sáng trăng là dịp trẻ con rủ nhau vui đùa trong xóm, ngoài ngõ. Nhưng sáng trăng lại bất tiện cho những việc làm lén lút như trộm cướp, hẹn hò bất chính. Dường như người đàn bà trong tranh đang gặp tình cảnh này. Bà muốn "đi đêm" nhưng trăng cứ sáng vằng vặc, rõ như ban ngày thế kia thì... hỏng chuyện! Bỏ về là vừa. Nghĩa bóng của câu nói: định làm chuyện mờ ám nhưng không thành”.

Có những câu thành ngữ đã ra đời cách thời hiện tại quá xa, ít ai còn biết/nhớ đến nghĩa cụ thể của nó, do đó, có người suy luận kiểu này, người kia nghĩ qua chuyện khác cũng là lẽ thường tình.

Hãy trở lại với “Trong chay ngoài bội”. Đã rõ từ chay rồi. Vậy bội là gì? Đại Nam quấc âm tự vị (1895) giải thích: 1. Trò bội: cuộc ca hát, đám hát, bạn hát; 2. Bội bè: con hát, bạn hát; 3. Áng bội bè: thì là trường ca hát; 4. Hát bội: con hát, kẻ làm nghề ca hát. Nghĩa từ của từ “bội” trong ngữ cảnh trên đã rõ. Vấn đề đặt ra ở đây, lúc “trong chay” thí thực, thì “ngoài bội” diễn tuồng gì? Ngắc ngứ chưa? Chịu thua chưa? Nếu không nghiên cứu thấu đáo, làm sao nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng có thể trả lời đâu ra đó? Đọc xong phải chịu ngay.

Theo ông Trảng: “Kết quả kiểm tra hồi cố cho biết rằng, trước năm 1945, các trai đàn ở Nam bộ đều có hát Phật (hiểu là tuồng tích có liên quan đến đạo Phật, gọi chung là tuồng đám). Việc biểu diễn ngoài bội thì hoặc mời các gánh hát bội đảm nhận và càng lúc càng nhiều cuộc lễ. Các Tăng sĩ ứng phú dặm mặt, thay y trang biểu diễn. Đến năm 1952, Hòa thượng tăng trưởng Giáo hội Phật giáo Lục Hòa Tăng Việt Nam ra lệnh cấm nên việc tăng sĩ diễn tuồng không còn nữa. Hòa thượng Tăng trưởng thuộc tông môn chùa Giác Lâm (quận Tân Bình), vốn là một kinh sư ứng phú nổi tiếng; nhưng qua kinh nghiệm, Thượng tọa thấy việc người tu hành lên sân khấu tác hại đến oai nghi: “Phàm kẻ xuất gia tu hành mà vẻ mặt, vẻ mày, mang râu, mặc giáp để bước lên sân khấu làm trò cười cho thiên hạ thì tự mình làm nhẹ thể ông thầy tu, tự mình làm cho người khác  khinh khi Tam bảo”. Từ đó, hát Phật dần dần mai một và ngày nay không còn nữa” (Tạp chí Kiến thức ngày nay - 10.4.2015).

Có phải ở trong Nam tổ chức “Trong chay ngoài bội” cũng có ý nghĩa ná ná như nghi lễ “Chạy đàn phá ngục” - tên gọi khác của “Đàn Mông Sơn Thí Thực” ngoài Bắc? Chỉ là một hay là hai nghi lễ khác nhau?

Đọc trên trang điện tử của Báo Ảnh Việt Nam (17/07/2012 13:32 GMT+) thấy có đoạn: “Trong văn hóa phương Đông, ngày rằm tháng Bảy âm lịch có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó là ngày xá tội vong nhân cho dân gian tỏ lòng kính Phật, hiếu thuận với tổ tiên, cha mẹ và cúng thí cho các vong hồn nơi địa phủ. Giới tăng ni Phật tử gọi đây là ngày Lễ Vu Lan, cũng là ngày diễn ra một trong những nghi thức quan trọng và phức tạp bậc nhất của nhà Phật: Lễ cúng Đàn Mông Sơn Thí Thực.

Sau lễ thỉnh Phật và dâng Lục cúng kéo dài suốt ban ngày, chập tối, lễ cầu siêu với màn “Chạy đàn phá ngục” theo tích “Mục Liên tầm mẫu” mở màn bằng tiếng nhạc réo rắt, trống phách vang lừng. Giữa khói hương nghi ngút, giọng đọc canh kệ ngân nga, ê a đưa đẩy, một vị sư, đầu đội mũ hoa sen, vai khoác áo cà sa, tay cầm tích trượng quấn dải khăn trắng cung kính dẫn đầu đoàn người đi qua những đàn tế tượng trưng cho năm cửa ngục. Nhà sư dừng lại. Tả hữu là hai tiểu đồng tay cầm hoa đăng nghiêng mình cúi lạy đàn tế. Chính lúc ấy, trống kèn, não bạt, thanh la, tiu cảnh.... đồng loạt vang lên bạo liệt kinh hồn. Tiết tấu dồn dập ấy chính là mở đầu cho một vũ điệu mau hoạt đến thần kì.

Nhà sư tay bắt quyết múa lượn uyển chuyển và dứt khoát, chân vẽ những hình vô định lên mặt đất. Khi khoan, khi nhặt, vũ bão rồi tĩnh tại, những thủ quyết được tung ra liên hồi như muốn gửi gắm lời cầu khẩn của chúng sinh tới Thích ca bằng cử chỉ của chính ngài. Bỗng một tiếng hét vang lên: “Phá cửa ngục!”, tức thì nhà sư múa trượng vòng tròn quanh chiếc bát úp dưới đất, dí vào trôn bát và di nó trên mặt đất theo hình những mật trú bí hiểm. Bất chợt, chiếc tích trượng giơ lên chọc tan chiếc bát. “Cửa ngục” đã được phá, từ ấy chúng sinh có thể thoát khỏi địa phủ lên trần hưởng lộc. Tiếng trống kèn lại vang lên, thúc nhà sư lần tái diễn màn múa lần lượt phá những cửa ngục còn lại. Là một nghi thức quan trọng, Đàn Mông Sơn hội tụ đầy đủ các làn điệu đặc trưng của âm nhạc nhà chùa và diễn ra trong nhiều ngày”.

Vậy, xét về ý nghĩa trong nghi lễ Phật giáo, “Trong chay ngoài bội”“Chạy đàn phá ngục” có liên quan nhau?  Hay chỉ là một nghi lễ mà Nam/Bắc có cách thể hiện khác nhau? Không am tường gì về Phật giáo, y không dám có câu trả lời. Chỉ nêu ra, biết đâu có người giải thích thì hay quá.

Mà này, khoảng thời gian nào, con người ta rãnh rỗi nhất, có thể ngồi nói liên tu bất tận, không thèm liếc mắt vào cái đồng hồ, bất chấp ngày lên đêm xuống? Thưa rằng, chỉ có thể là lúc cà kê dê ngỗng ngồi trong quán nhậu, khật khừ bên ly bia/ rượu, dẫu “Thơ suông nước ốc ngâm còn váng/ Rượu lạt non chai vẫn chén khà”. Thế đấy. Lúc ấy, nếu được đối ẩm với người am tường về vấn đề Phật học, được nghe họ giải thích cho thắc mắc trên thì tốt quá. Tiếc thay, khoảng thời gian ấy, hầu hết chỉ là những câu chuyện tầm phào mua vui, “buôn dưa lê” nhạt phèo, chẳng vào đâu cả. Nói như thế để làm gì? À, là một cách tìm ra cái cớ để từ chối cuộc rủ rê nhậu nhẹt chiều hôm qua. Thế là y đóng cửa thư phòng, lật sách mày mò tìm cách trả lời câu hỏi trên. Cuối cùng vẫn bí rị. Chưa tìm ra câu trả lời. Biết thế, chiều qua đi nhậu đàn đúm có phải hay hơn không?

Không, nhờ lật sách mới tình cờ đọc thấy một đoạn văn ngắn trong Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng.Lý thú lắm. Hãy đọc đi. “Ngoài sân chùa, ở giữa bày ba tầng án thư chồng lên nhau theo hình bậc thang. Hai bên cũng đều có án thư. Nến thắp linh tinh, ánh sáng phản chiếu vào những mặt kính tròn ở các mũ giấy bày la liệt, trong lấp lánh tựa những ngôi sao. Đêm nào các nhà sư cũng cắt lượt nhau tụng kinh đến tận hai, ba giờ sáng, hoặc ngồi ở chiếu giữa, hoặc đứng sát các án thư bên. Cứ xong một lần tụng niệm lại có đánh trống lớn, trống con, thanh la, não bạt, nghe rất là inh ỏi.

Đêm thứ ba vào đàn giải kết.

Sư cụ chùa Long Giáng vì già yếu, mà việc đàn chay lại khó nhọc, nên một đồ đệ của cụ là sư ông chùa Long Vân đứng chủ trương. Sư ông ngồi ở chiếu giữa, tụng kinh một lúc lại chạy vòng quanh đàn, nghĩa là đi lượn khắp các hàng án thư, theo nhịp nhanh hay chậm của tiếng trống và tiếng thanh la. Sau lưng sư ông gần hai chục người chạy theo, nào tiểu, nào vãi, nào thiện nam, tín nữ cùng là những người nhà sự chủ.

Ngọc đứng ngắm một tràng người, tay chấp ngực, chạy lượn khúc, quanh co, khi tiến, khi lui rất nhẹ nhàng, ăn nhịp như lăn trên đôi bánh xe nhỏ, lại tưởng tượng đến những người bằng giấy trong chiếc đèn kéo quân đêm hôm rằm tháng tám. Chạy xong một tuần, sư ông lại vào chiếu giữa múa mênh quyết ấn trông rất dẻo tay, rồi cầm kéo cắt những đồng tiền kết giấy thành hình người và treo lủng lẳng ở ba hàng dây giăng quanh bàn.Cứ mỗi lần lại cắt bốn, năm đồng kỳ cho hết là tan đàn”.

Qua những gì nhà văn Khái Hưng miêu tả, lại tự hỏi, có phải đây chính là nghi lễ “Chạy đàn phá ngục” đã diễn ra ở ngoài Bắc từ thập niên 1930?
 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 28.8.2017

tuoitre-kiemchung

 

 

Nhìn qua lãnh vực nào cũng thấy sai/sai phạm. Đó là đặc điểm của tháng ngày đang sống. Sai đâu cũng còn có thể sửa, chấn chỉnh làm lại, chứ sai ở lãnh vực giáo dục thì nguy quá. Ý kiến này chẳng mới mẻ gì. Xưa nay các nhà sư phạm đã bàn luận, tranh luận, trao đổi “nát nước” từ hội thảo đến hội nghị; từ nhà bếp ra phòng khách; từ quán cà phê, bia bọt nhì nhằng đến hội trường oang oang mi-cờ-rô...

Tóm lại, lãnh vực giáo dục đang “có vấn đề” là câu chuyện thời sự đang sờ sờ ra đó. Thời của ông Bộ trưởng nhiệm kỳ trước tuyên bố kỳ thi tuyển đại học là “Trận đánh lớn”. Nghe khiếp quá, y bèn viết cái tiểu phẩm đăng trên báo Pháp luật TP.HCM số ra ngày 22.8.2015. Kết thúc là mấy câu vần vè: “Quyết tâm! Quyết tâm! Quyết tâm!/ Hoan hô sự nghiệp trăm năm trồng người!/ “Đánh” ngược rồi lại “đánh” xuôi/ Thí sinh vật vã nếm mùi gian truân…”. Mùi gian truân ấy, đến đời Bộ trưởng sau, có gì thay đổi không?

Có câu hỏi, tự nó đã là câu trả lời.

Từ năm 1442, Tiến sĩ Thân Nhân Trung khẳng định: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà càng lên cao; nguyên khí suy thì nước yếu mà càng xuống thấp. Bởi vậy, các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo hiền tài bồi đắp thêm nguyên khí”. Câu nói này, thời đại nào cũng đúng và có tính phổ biến của toàn cầu, chứ không riêng gì suy nghĩ của người Việt Nam.

Thế thì, sự “bồi đắp thêm nguyên khí” hiện nay ra làm sao?

Sáng qua, đọc tờ báo Thanh Niên và kinh ngạc: “Một thầy cùng lúc hướng dẫn 44 học viên thạc sĩ của 3 chuyên ngành: Đây là một trong những sai phạm của Học viện Khoa học xã hội (KHXH) thuộc Viện Hàn lâm KHXH VN, trong tổ chức quản lý đào tạo sau ĐH mà kết luận thanh tra của Bộ GD-ĐT vừa chỉ ra”. Chỉ đôi dòng ngắn ngủi ấy, lại trở thành tiếng thở dài vô tận của bất kỳ ai quan tâm đến nền giáo dục nước nhà. Mà này, sai phạm này lại diễn ra ở một học viện thuộc Viện Hàn lâm KHXH VN lại càng kỳ quái. Xưa nay, nghe đến mấy từ “Viện Hàn lâm” lập tức trong trí óc con người ra nghĩ đến một cơ quan của trí tuệ, của học thuật; và của tất cả những gì sáng giá nhất thuộc lãnh vực văn hóa-giáo dục của một đất nước đó. Thế mà nó vẫn xẩy ra sai phạm tày trời. Cứ như đùa. Như giỡn chơi.

Bấy lâu nay, trên trang báo Tuổi trẻ điện tử có mở cuộc thăm dò: “Một số người có điều kiện kinh tế có xu hướng muốn bỏ ra nước ngoài làm ăn, sinh sống. Theo bạn, lý do chính là vì: Tìm cơ hội làm ăn tốt hơn/ Lo lắng về chất lượng môi trường/ Mong con cái được giáo dục tốt hơn/ Lý do khác”. Tính đến sáng ngày 28.8.2017 tạm thời kết quả như sau: “Tìm cơ hội làm ăn tốt hơn: 10,4%; Lo lắng về chất lượng môi trường: 18,5%; Mong con cái được giáo dục tốt hơn: 57,7%; Lý do khác: 13.4%”. Các con số này nói lên điều gì?

Có câu hỏi, tự nó đã là câu trả lời.

Từ năm 1334, khi định lại phép thi cử, vua Lê Thái Tông ra chiếu: “Muốn có nhân tài, trước hết phải chọn người có học, phép chọn người có học thì thi cử là đầu”. Lẩn thẩn đọc lại vài tài liệu cũ để xem thi cử ngày trước ra làm sao. Thời trước thi cử là thi Kinh nghĩa, thơ, phú... mà chuyện “văn mình vợ người” là phổ biến, chẳng có gì chuẩn mực khi chấm cả. Do đó, các thí sinh tin rằng chuyện đậu, rớt còn phụ thuộc vào âm đức của gia đình mình nữa, “học tài thi phận” là vậy.

Nếu thí sinh hoặc bố mẹ làm việc thiện thì khi vào thi sẽ được đấng “khuất mày khuất mặt” báo ân; còn nếu làm ác, dứt khoát bị báo oán, gặp nhiều rủi ro không lường hết được. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà trong trường thi Hà Nội thời Nguyễn, ngay gần nhà Thập đạo có dựng lên hai miếu thờ Báo Ân và Báo Oán. Lúc làm lễ tiến trường, người ta không quên đốt giấy vàng mã nghi ngút!

Khi gọi thi sinh vào trường thi, nghe câu đầu tiên khiến các thí sinh rợn tóc gáy: “Báo oán giả tiên nhập! Báo ân giả thứ nhập! Sĩ tử thứ thứ nhập!” (Ma báo oán vào trước! Ma báo ơn vào thứ hai! Các thí sinh theo thứ tự vào sau!). Sau khi họ vào xong, cửa khóa chặt lại và truyền tiếp một lệnh nghiêm ngặt: “Khẩn bế trường môn! Nội bất xuất, ngoại bất nhập, vi lệnh giả trảm!” (Đóng chặt cửa trường, trong không được ra, ngoài không được vào, kẻ nào trái lệnh sẽ bị chém đầu!).

Hai miếu Báo Ân và Báo Oán tại trường thi Hà Nội đã bị phá bỏ sau khi Pháp chiếm Hà Nội để lập Nha Kinh lược, tức Thư viện Trung ương ngày nay.

Từ câu hô trên, nhà văn Nguyễn Tuân hư cấu thành truyện ngắn Báo oán cực hay. “Ba năm trước, cũng ngày tế tiến trường năm Mão, cảnh trời đất cũng âm thầm gần bằng ngày này. Quan chánh chủ khảo khoa ấy, theo tục lệ quen của mỗi khoa thi, cũng cúng tam sinh khấn mời những oan hồn nên nhập vào trường trước hết mà báo oán trả thù. Rồi ông Ðầu Xứ vào trường, rồi oan hồn hiện lên ngay ở kì đệ nhất. Một người đàn bà trẻ, xoã tóc, ẵm con, hiện ngay lên dưới lều, ngay chỗ đầu chõng, kêu gào giữ rịt lấy tay không cho viết. Gào khóc chán, người đàn bà ấy lấy mớ tóc xoã quất vào mặt ông cứ bỏng rát lên và cười sằng sặc, lấy nghiên mực đổ vào quyển của ông. Lần ấy ông xin đổi quyển đến hai ba lần. Vẫn người đàn bà quấy nhiễu không tha, để quyển ông cứ tì ố mãi. Lúc gần chiều, ông nổi một cơn đau bụng hoắc loạn, phải bỏ dở kì thi, nhờ người dìu về nhà trọ. Thế là ông bay ngay kì kinh nghĩa. Một người đầu xứ hay chữ và được Quan Đốc khen ngợi luôn mà hỏng ngay nhất trường thì có thảm thương không”.

Tại sao ông Đầu Xứ bị báo oán? Nhà văn Nguyễn Tuân viết tiếp: “Biết là có oan hồn hiện lên cố phá không cho mình mở mặt với thiên hạ, ông để tâm tra xét chuyện nhà. Thì ra, lúc sinh thời, cụ Huấn đẻ ra ông đã phạm vào một việc thất đức. Lúc sinh thời cụ Huấn, cụ đã mang lấy trách nhiệm tinh thần về cái chết của một người nàng hầu tài tình nổi tiếng một thời. Người thiếp đó, lúc tự ải, đã có mang được sáu bảy tháng. Cái âm oán ấy còn theo đuổi ông mãi, nếu ông cứ còn lều chiếu ở cửa trường thi. Đấy là lời người thiếp đó lúc ốp vào con đồng khi phụ lên. Nàng xưng là cô và gọi ông Đầu Xứ Anh là nó, cười sằng sặc và giọng nói the thé: “Nó còn đi thi, cô còn báo mãi. Các người hỏi cô muốn những gì ấy à! Cô muốn, cô muốn nó phạm huý, cho nó bị tội cả nhà kia. Nhưng nhà nó cũng có một ông mãnh thiêng lắm, cô không tàn hại nó được như lòng cô muốn”. Con đồng chỉ lắc lư nói có thế, nếu có gặng hỏi thêm thi chỉ khóc hu hu rồi lại lăn ra mà cười như bị ma ếm. Ông Đầu Xứ lạnh đến tuỷ xương sống trong người”. 

Chỉ là chuyện hư cấu do nhà văn tưởng tượng? Không đâu. Mới đây, ngày 20.6.2015 tại TP.HCM, Hội thảo Khoa học về Đào Tấn do tỉnh Bình Định phối hợp với Bộ VHTT và DL, Hội đồng Lý luận phê bình VHNT,Trung ương, Hội Nghệ sĩ Sân khấu VN và Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc VN tổ chức kỷ niệm 170 năm sinh danh nhân Đào Tấn.

Thầy của Đào Tấn là nhà soạn tuồng Nguyễn Diêu, biệt hiệu Quỳnh Phủ, Cúc Ông - sinh 1821 tại làng Nhơn Ân, quận Tuy Phước (Bình Định).  Ngay thuở nhỏ, ông nỗi tiếng là người tài hoa và học giỏi nhất trong làng. Trong thời gian trọ học để tiếp tục lai kinh ứng thí, Nguyễn Diêu và con gái ông chủ nhà có thầm đính ước. Sau những lời thề non hẹn biển, cô thôn nữ đã trao cho ông cái ngàn vàng quý báu nhất của đời người con gái.

Năm tháng trôi qua… Ông thi đậu Tú tài năm Tự Đức thứ 13 (186O). Trước tin vui này, có người láng giềng sốt sắng gả con gái cho ông. Do không được biết chuyện tình thầm kín của con nên cha mẹ của Nguyễn Diêu đã nhận lời! Điều này khiến ông đau khổ hết sức. Đôi mái đầu xanh ôm nhau khóc nức nỡ. Lúc này, nàng có thai đã mấy tháng. Giữa tình và hiếu biết chọn bên nào? Đêm ấy, ánh trăng chênh chếch trên ngọn cây cau cũng nhợt nhạt như cảm thông với nỗi đau này. Gục đầu trên vai người mình yêu, nàng cất lên tiếng hát huê tình não ruột: “Từ ngày giấy rã hồ trôi/ Anh ngồi anh khóc, em ngồi thở than/ Nhạn xa chen bóng mây tàn/ Dưới khe nước chảy trên ngàn ve kêu/ Ra đi là sự đã liều/ Mưa mai ai biết, nắng chiều ai hay/ Dám đâu trách mẹ trách thầy/ Trách trời sao nỡ đọa đầy tấm thân!”.

Nước mắt Nguyễn Diêu cũng rơi lã chã! Bóng trăng mờ nhạt dần. Nguyễn Diêu bịn rịn chia tay với người tình. Ông bước chân chạy thật nhanh, nhưng tiếng khóc của nàng tưởng chừng như đang níu ông quay trở lại. Từ đó, ông không còn gặp lại nàng nữa. Ngày ông cắn răng phụ tình, vui duyên mới làm tròn chữ hiếu để làm vừa lòng cha mẹ. Đó cũng là ngày nàng kết liễu đời mình. Nàng đã nhảy xuống giếng tự tử. Nhận được hung tin, Nguyễn Diêu rất đau khổ. Nỗi ám ảnh về nhan sắc người tình đầu tràn ngập trong tâm trí của ông.

Lạ thay, sau đó, cứ mỗi lần lều chõng vào trường thi Bình Định thì ông lại thấy nàng. Trước mắt ông là người con gái bồng con, nét mặt tiều tụy buồn thương. Nàng trân trân nhìn ông như oán, như trách. Ông khiếp vía muốn kêu lên nhưng lưỡi cứng đờ như đeo đá. Đứng nhìn sững ông trong giây lát, nàng biến mất. Nguyễn Diêu không còn tâm trí nào để làm bài nữa. Có kỳ thi bài làm của ông rất hay nhưng lại phạm húy, có kỳ thi đã làm xong bài thì lại bị vấy mực nên khoa thi nào ông cũng trượt.  

Người đàn bà tội nghiệp ấy, chính nàng đã tạo nên nguồn cảm hứng  để Nguyễn Diêu vở tuồng bất hủ Ngũ Hổ Bình Tây. Về sau, nhà văn hóa Đào Tấn - ông vua nghệ thuật tuồng Việt Nam có làm lễ trước bàn thờ thầy xin sửa một đoạn trong vở tuồng để từ đó, Ngũ Hổ Bình Tây trở thành viên ngọc không tì vết. Nguyễn Diêu mất năm 1880.

Từ cuộc đời cụộc đời của Nguyễn Diêu, nhân vật của Nguyễn Tuân đã nhắc nhở ta điều gì?

Có nhiều ca dao, thành ngữ liên quan đến lãnh vực giáo dục nước nhà. Chỉ đơn cử câu: “Sinh đồ ba quan”? Hiểu ra làm sao? Tra nhiều sách giải thích về thành ngữ lại thấy bỏ sót. Không chỉ là chuyện chữ nghĩa, nó còn liên quan đến chuyện thi cử của một thời, dẫu ai cũng biết sinh đồ là học trò, là người đỗ Tú tài thời Lê, nếu không có kiến văn làm sao tường tận?

May quá, trong Khoa mục chí của bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí, nhà bác học Phan Huy Chú có đoạn: “Năm 1750, cho mọi người nộp tiền vào thi Hương. Trước đây, khi mới trung hưng, mỗi người đi thi nộp 5 tiền gọi là tiền thông kinh, để chi tiền ăn cho Hiệu quan ở huyện. Từ thời Thái Bảo thi hành phép điệu, phí tổn về tiền thi đều lấy ở tiền công, tiền thông kinh này cũng nộp nhưng để chi phí vào việc làm trường và sắm đồ dùng cho quan trường. Đến bấy giờ, Thự phủ Đỗ Thế Giai cho rằng dụng binh tiêu phí nhiều, tiền tài Nhà nước thiếu thốn, cho mỗi người nộp tiền 3 quan, không phải khảo hạch, đều được vào thi, cũng gọi là tiền thông kinh. Vì thế, người làm ruộng, người đi buôn cho chí người hàng thịt, người bán vặt cũng đều làm đơn nộp tiền xin thi cả. Ngày vào thi đông đến nổi giày xéo lẫn nhau, có người chết ở cửa trường. Trong trường thi, nào mang sách, nào hỏi chữ, nào mượn người thi thay, thay nhau làm bậy, không còn biết phép thi là gì”.

Sự việc tồi tệ này diễn ra vào lúc Minh Vương Trịnh Doanh đem quân đi đánh Nguyễn Doanh Phương. Lúc thắng trở về, nghe tin này xôn xao trong dư luận, ông giận quá bắt các ông Hương cống phải thi lại hết. Kết quả là hơn phân nửa bị rớt. Từ  đó, trong dân gian mới câu mỉa mai “Sinh đồ ba quan” là vậy. Sau này, dưới đời vua Quang Trung, thay mặt nhà vua viết “Chiếu về việc lập nhà học”, danh sĩ lỗi lạc Ngô Thì Nhậm cũng chống lại việc nộp tiền để được đi thi Hương và ấn định: “Sinh đồ ba quan nhất thiết bắt về làm dân, cùng dân chịu sưu dịch”.

Sáng nay, đọc bài Điểm học bạ lớp 12: “ảo” tung chảo trên báo Phụ Nữ TP.HCM có đoạn: “Điểm học bạ của học sinh lớp 12 toàn khá giỏi và xuất sắc nhưng kết quả thi trung học phổ thông lại rôi nhiều như sung rụng. Độ vênh về điểm số từ hai kỳ thi này vô tình làm lộ việc cho diểm “ảo” ở các trường THPT và các trung tâm giáo dục thường xuyên TP.HCM”.

Chỉ riêng tại TP.HCM? Không đâu. Vậy, trích dẫn thêm thông tin đi chứ? Nghe câu hỏi ấy, y lại nhớ đến một câu thơ của Tú Xương. Câu gì vậy?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 23.8.2017

bo-truong-1503029601bui-thanh

 

Nhiều sự kiện thời sự đang diễn ra. Lẽ nào không ghi nhận? Đã từng dặn dò như thế, nhưng rồi lại tự nhủ cứ nhắm mắt, bịt tai cho nó nhẹ nhàng cái sự đời. Biết thêm mà không bàn ra môn ra khoai, không có chính kiến rõ ràng, không thay đổi được thì biết để làm gì? Để thêm nặng đầu chăng? Rồi có lúc ghìm lòng không đặng, buông ra tiếng chửi thề cho khoay khỏa bực bội thì chẳng ra làm sao. Mà nhắm mắt, bịt tai có phải là một sự lựa chọn khôn ngoan?

Gần đây, theo ghi nhận của y đã có một bài báo viết rất ngắn, chỉ 92 từ, nhưng lại tạo hiệu ứng đồng tình nhiều nhất trong dư luận. Đó là bài báo Xin nói thẳng với Bộ trưởng - in trong chuyên mục Thời sự & và suy nghĩ của báo Tuổi Trẻ số ra ngày 18.8.2017. Đồng nghiệp Bùi Thanh viết: “Đã 17 ngày trôi qua và bây giờ chỉ có thể nói thẳng với ông Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải: phải bỏ ngay trạm thu phí Cai Lậy trên quốc lộ 1 và truy cứu trách nhiệm những người liên quan! Hãy chấp nhận sửa sai, chứ không thể tiếp tục đối phó dư luận và bảo vệ điều phi lý. “Một Chính phủ kiến tạo, liêm chính và hành động”. Những gì diễn ra ở trạm thu phí Cai Lậy rõ ràng đang đi ngược lại thông điệp này, thưa Bộ trưởng!”.

Chỉ có thế.

Một tiếng nói dứt khoát. Mạnh mẽ. Liệu chừng sau này, khi đọc lại bài báo trên, thế hệ sau có thể hình ra những gì đã xẩy ra ở trạm Cai Lậy (tỉnh Tiền Giang)? Tại sao không? Chỉ cần một cú click chuột ngay trên bàn phím, một thao tác nhỏ trên điện thoại là xong. Trước sự thu phí vô lý ấy, cánh tài xế đã phản ứng bằng cách không chỉ dùng tiền có mệnh giá nhỏ, họ còn vò các tờ tiền nhàu nát rồi bỏ vào chai nhựa. Muốn thu tiền ư? Cứ thế nhé. Rất mất thời gian. Có lúc trạm thu buộc phải “xả cửa” hướng miền Tây đi Sài Gòn để giảm bớt ùn tắc. Kể ra các tài xế cũng có máu hài hước. Phản ứng thông minh, tinh quái và tháu cáy.

Còn có những gì nữa không? Tất nhiên còn. Còn nhiều lắm. Mà thôi. Việc liệt kê sự kiện theo dòng thời sự, xin dành cho các nhà sử học, các vị ghi chép thành nhiều tập sách như Chuyện từng ngày mà ông Đoàn Thêm đã thực hiện tại miền Nam trước 1975. Còn y thì sao? Lại vẩn vơ chìm đắm vào cái cõi riêng tư đang quan tâm. Ai cũng có cái quyền ấy, tùy theo lựa chọn của mỗi người. Cũng tỷ như người thích Boléro, kẻ thích dòng nhạc khác, bình thường thôi, chẳng gì phải mạt sát, tranh luận hơn thua. Mỗi người có một gu thẩm mỹ, dù không đồng tình nhưng việc gì phải chê bai, khích bác, đả kích, châm chọc? Nói như thế vì dư luận hiện đang dấy lên cuộc tranh luận giữa hai phe thích/không thích Boléro. Liệu có cần thiết không? Không. Xã hội còn nhiều, rất nhiều vấn đề sát sườn hơn, đang cần phải có tiếng nói tranh luận, phản biện, cần có tiếng nói hợp ý tâm đầu. Nhưng rồi, thế nào?

"Rộng thương cỏ nội hoa hèn

Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau"

Nghe lời vừa ý gật đầu

Cười rằng: "Tri kỷ trước sau mấy người?"

Ấy là lúc Thúy Kiều đối đáp cùng Từ  Hải. Lại quay về cái cõi thư hương bộn bề sách vở. Phủi lớp bụi mờ trên trang sách, bước vào đó, sẽ là gì? Chẳng là gì cả. Không khéo lớp bụi mờ ấy cũng phủ nốt lên hình hài của chính y đấy thôi. Chấp nhận nó đi. Tháng rộng ngày dài? Tháng cùn ngày mủn? Chẳng rõ. Luôn nghĩ rằng, đọc cũng là học. Sách vở quá nhiều, đọc làm sao hết. Có người đã đọc và viết lại. Mình đọc của họ cũng là học.

Ca dao có câu: “Một mai trống thủng khó hàn/ Dây dùn khó đứt, bạn lan khó tìm”. Bạn lan là bạn ra làm sao? Theo Việt Nam từ điển (1971) do Lê Văn Đức biên soạn, Lê Ngọc Trụ hiệu đính: “Bạn lan: Bạn tốt, bạn quý”; Phương ngữ Nam bộ của Nam Chi Bùi Thanh giải thích: “Người bạn quân tử đáng quý như hoa lan”. Từ này, nay không mấy ai sử dụng nữa, kể cả “bạn ngọc": “Mặt đất láng nguyên tự nhiên cây cỏ mọc/ Bởi phận tôi nghèo, bạn ngọc có đôi”, Đại từ điển tiếng Việt (1999) không ghi nhận, đã thay thế bằng bạn lòng, bạn vàng, bạn tình.

Có những câu ca dao, dù đọc thoáng qua/đọc kỹ bao giờ trong lòng cũng dội lên một nỗi niềm trắc ẩn. Rười rượi buồn. Thăm thẳm nhớ. Nhưng rồi biết tâm tình cùng ai. Tội nghiệp nhất vẫn là những cô nàng sống trong tâm cảnh: “Chàng buồn có chốn thở than/ Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya”. Có thể xếp vào những câu ca hay nhất trong kho tàng văn chương Việt Nam. Một cách nói dịu vợi đến nao lòng. Không hề than trách bạn tình. Chỉ mình mình biết. Chỉ mình mình hay. Đốm lửa nhỏ nhoi của ngọn nhang hắt hiu ấy, gợi lên một không gian quạnh quẽ. Im ắng lạ thường. Tĩnh mịch. Cô độc nhất vẫn là lúc nhìn ngọn khói lãng đãng, tan loãng trong đêm hôm khuya khoắt. Rồi ngọn nhang sẽ tàn. Đốm lửa sẽ tắt. Biết lấy gì làm bầu bạn? Đêm dài vẫn dài. Gà chưa gáy sáng. “Nửa đêm về sáng, đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi”. Cố nhân cũng đồng nghĩa với “bạn lan”: Ðêm nằm ôm gối thở than/ Gối ơi là gối con bạn lan nó xa rồi”.

Tiếng kêu ấy, chỉ là viên sỏi ném xuống lòng sông dài rộng mênh mông. Đêm tối đen. Ai nghe lấy một tiếng lòng nức nỡ?

Còn nhớ chừng mươi năm trước khi đến Đà Lạt, có thăm một xưởng thêu nọ. Quan sát nhìn thấy các cô thợ trẻ cắm cúi, chăm chú, nhẫn nại, tỉ mỉ từng đường kim mũi chỉ. Không nói không cười. Lặng lẽ. Không biểu hiện một sắc thái gì trên gương mặt. Cứ như thể họ đang sống ở một thế giới khác. Chỉ chú tâm miệt mài cùng công việc, bất chấp mọi tiếng động ồn ào xung quanh. Lạ quá. Tại làm sao họ lại có được tâm thế ấy? Đã nhà báo lấy thông tin viết bài, đã nhà văn lấy chất liệu phân tích tâm lý nhân vật thì phải tìm hiểu căn kẽ, biết cách gợi chuyện. Sau đó, y mới biết rằng: Một khi đã vào làm việc nơi này, họ được ông chủ dành cho khoảng thời gian để thực hiện xong hai việc riêng tư, trọng đại nhất đời người. Sau khi đã làm xong phần việc ấy, bây giờ với họ chỉ còn công việc và công việc. Hai việc đó là gì? Là thêu xong hai bao gối. Một, bọc lấy cái gối đêm tân hôn; và một, bọc cái gối kê đầu lúc nằm trong cỗ quan tài.  

Nghe mà rờn rợn.

“Ðêm nằm ôm gối thở than/ Gối ơi là gối con bạn lan nó xa rồi”. Lúc thất tình não nùng, xa cách tuyệt vọng, trong đêm khuya quạnh vắng ấy, chỉ có chiếc gối và ôm lấy gối. Không phải ngẫu nhiên, quan hệ giữa bạn tình, bạn trăm năm, bạn lan, bạn ngọc được gọi “Đầu ấp tay gối”. Cụm từ ấy, đã là một sự gắn bó chặt chẽ. Đằm thắm. Quấn quýt. Có đôi có lứa. Khó có thể tách rời. Rồi lúc “Biệt ly nhớ nhung từ đây/ Chiếc lá rơi theo heo may”, niềm an ủi còn sót lại vẫn là cái gối.

Còn là cái gì nữa? “Chàng về để áo lại đây/ Áo thời thiếp mặc, gối mây đợi chờ”. Tại sao lại là áo? Chỉ vì có mùi thương, mùi nhớ, mùi ăn nằm, mùi ân ái, mùi chung chạ…, nói gọn lại là mùi hương đã từng có nhau. Quyện lấy nhau trong hơi thở đầm đìa thân xác. Ông Nguyễn Du đúng là bậc thượng thừa, tuyệt đỉnh kongfu phân tích về tâm lý, thói quen của sự nồng nàn chăn gối ấy: “Hương gây mùi nhớ”. Từ “gây” cực kỳ chuẩn xác. Là sự gợi lên, nhóm lên, nhen lên. Có những việc đã qua, đã quên, đã chìm sâu trong tiềm thức, đã thất lạc trong ký ức thế nhưng chỉ một mùi hương cũ thoáng đến, thoáng qua dù vô tình hay cố ý đều khiến con người ta nhớ lại mồn một. Nhớ rõ nét. Nhớ từng chân tơ kẽ tóc.

Khốn khổ chưa?

Hạnh phúc chưa?

Cô nàng trong câu ca dao hàng ngàn năm trước, “Áo thời thiếp mặc” để “tưởng nhớ mùi hương:”, nàng còn đặt đầu trên chiếc gối mây. Có phải đây là chiếc gối làm bằng song mây từ cây mây? Có thể lắm. Tùy theo vật dụng mà người ta đặt tên cho chiếc gối ấy. “Gối rơm theo phận gối rơm/ Có đâu dưới thấp mà chờm lên cao (Lục Vân Tiên), là cái gối nhồi rơm, đệm bằng bàng,  còn gọi gối đệm. Tùy theo hoàn cảnh sang giàu, nghèo khó, ai cũng có chiếc gối. Sung sướng, hoan lạc, tình nghĩa nồng nàn nhất vẫn là “Đầu ấp tay gối”. Thê thảm, rầu rĩ nhất vẫn là những ai “Gối đất nằm gai/ Gối tuyết nằm sương”. Thương thay cho “Người đi kẻ ở”, lúc ấy gối đầu vào tay ai?

Đến một độ tuổi nào đó, người ta lại nhận ra rằng, chính Huy Cận thời trai trẻ lại nói hộ lòng mình lúc đã bước qua lứa tuổi xế chiều. Lúc 18, đôi mươi, nhựa đời rạo rực. Men tình dạt dào trong từng thớ máu. Tim còn đập nhịp Tango. Co chân nhảy một cú là chạm tay đến trời xanh. Làm sao có thể cảm thông: “Cơn gió hiu hiu buồn tiễn biệt/ Xa nhau chỉ biết nhớ vơi ngày/ Chiếu chăn không ấm người nằm một/ Thương bạn chiều hôm, sầu gối tay”. Đầu mình gối lấy tay mình. Cô độc quá.

Cụ Nguyễn Du tâm lý lắm. Bao dung lắm. Dù rằng, nàng Kiều đã “Thân sao bướm chán ong chường bấy thân”, nhưng khi đến với Thúc Sinh, cụ vẫn dành cho những câu thơ tình hay nhất. Lâm ly nhất. Cảnh biệt ly giữa đôi bạn lan này, tuyệt đẹp. Rất ấn tượng. Và chỉ diễn ra đúng một lần. Không lập lại. Lúc ly biệt của mối tình son sắt ấy, ngay cả thiên nhiên cũng động lòng. Không đứng ngoài cuộc. Và vầng trăng đêm ấy là “nhân chứng”, đã chứng kiến cũng bùi ngùi, thương xót họ đến độ phải an ủi bằng cách: “Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường”. Câu thơ ấy, còn là gì? Là ngầm ý tán thành của cụ Nguyễn dành cho mối tình Thúc Sinh - Thúy Kiều.

“Ðêm nằm ôm gối thở than/ Gối ơi là gối con bạn lan nó xa rồi”. Có lúc nào đó, khi đọc sử, chẳng hạn đọc Đại Nam thực lục, bắt gặp từ “ôm gối” ta cũng hiểu như đã từng hiểu chăng? Không đâu. Còn nhớ đã khá lâu có đọc bài báo của nhà nghiên cứu Bùi Thị Mai (Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV), nhan đề Lễ “ôm gối” dưới triều vua Minh Mạng qua mộc bản. Cứ tưởng “ôm gối” là… “ôm gối”. Nhâm to rồi đấy cưng. “Gối” ở đây lại là “Khoanh tay bó gối/ Mỏi gối chồn chân”; “Ví dù theo thói người ta/ Uốn lưng, co gối cũng nhơ một đời” (Nhị độ mai).

Vậy, lễ “ôm gối” là gì?

Cứ vào Đại Nam thực lục và nhiều tài liệu khác, nhà nghiên cứu Bùi Thị Mai cho biết lễ này - tên gọi theo chữ Hán là “bão tất”, chỉ diễn ra dưới thời vua Minh Mạng. Năm 1835, lúc quân triều đình dập tắt được cuộc chống đối của các dân tộc ít người vùng Tây Bắc do Nông Văn Vân - thổ ty châu Bảo Lạc cầm đầu. Nhà vua xuống Dụ: “Trải qua mọi gian hiểm mới nên được công to. Tuy là bổn phận của đạo tôi con phải làm nhưng vì nước khó nhọc, làm ta bớt mối lo ở phương Bắc. Trẫm lẽ nào quên đi mà không hậu đãi, ngoài việc ban công ban thưởng, phong tước đền công đã có Dụ thi hành rồi, nay cho bộ Lễ bày nghi lễ, chọn ngày tốt, trẫm ngự ở cửa Đại Cung, cho các quan đại thần lui quân về vào chầu và cho Phạm Văn Điển, Tạ Quang Cự, Lê Văn Đức làm lễ ôm gối để tỏ ý trẫm coi như Hoàng tử vui đùa dưới gối. Đây là cái lễ trẫm mới nghĩ ra, mà vì tình thì rất thân yêu, ở chỗ tình lễ vua tôi, không còn gì hơn nữa”.

Ý nghĩa lễ này, gói trọn trong câu: “để tỏ ý trẫm coi như Hoàng tử vui đùa dưới gối”. Câu “huynh đệ chi binh” hoàn toàn phù hợp với lễ “ôm gối”. Về sau các vua nhà Nguyễn không duy trì nữa, tuy vẫn ban thưởng, phong tước cho người có công. Thích thú với thông tin này, bèn tự cười: “Sao bây giờ mới biết? Sách vở nhiều cho lắm, nếu không đọc, nào ích lợi gì?”. Nghe thế, bèn cãi: “Chẳng sao. Biết đâu nhờ đọc của người khác, rồi sẵn sách vở đã có, kiểm tra lại thì cũng tốt thôi”. Đúng thế, tài liệu hiện nay không thiếu, cứ cậy nhờ ông Google là xong, Nhưng xin chớ chủ quan, phải kiểm chứng lại từ tài liệu gốc cho chắc ăn.

Tất nhiên.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 22.8.2017

lay-anh-nayleminhqtaqm-1R


Về Đà Nẵng. Thành phố của năm tháng tuổi thơ. Chỉ ở đó 18 năm. Nhưng rồi, nơi chôn nhau cắt rốn mãi mãi bến bờ níu giữ. Đi xa là nhớ. Quay về là trở về với ngày tháng ê a tập đọc, là tháng ngày còn có đầy đủ ba mẹ, anh chị em trong bữa ăn gia đình, là gì nữa? Thỉnh thoảng lại nhớ đến bài học thuộc lòng đã học hồi lớp Ba tại Trường Nam Tiểu học: “Nhà tôi trong cảnh nghèo nàn/ Nên em tôi học muộn màng tôi thương/ Chiều nay tiếng trống bãi trường/ Em tôi về với vội vàng vui vui/ Mâm cơm tôi đã dọn rồi/ Em tôi ngồi sát bên tôi mỉm cười/ Êm đềm thỏ thẻ vào tai:/ “Tháng rồi em đứng thứ hai chị à!”/ Mâm cơm, dĩa mắm, tô cà/ Cũng như mọi bữa sao mà ngon ghê”.

Năm tháng trôi qua cái vèo.

Bà chị trong bài học thuộc đó, nếu là chị của y thì đã mất rồi, lúc 0 giờ ngày 9.11.2012. Nghĩ đến tận cùng, chết cũng là một sự giải thoát. Từ nhiều năm chị y phải chạy thận ở Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng. Một cuộc chạy đua với thần chết rất quyết liệt. Những người bệnh cùng thời với chị, đã hai mươi năm trước, tất thẩy đều bỏ cuộc. Và cũng đến phiên chị. Một nẻo về cuối cùng rồi ai cũng chạm đến. Như một lẽ tất nhiên. Không thể chối từ. Không thể thoái thác.

Rồi mới đây thôi, lúc 19g46 ngày 14.8.2017, anh ruột của y cũng “bỏ cuộc chơi”. Từ nay, vĩnh viễn một phần máu thịt của y đã mất. Quay trở về Đà Nẵng, có một đêm nằm ngủ trước hiên nhà. Tiếng kinh cầu ngân vang. Nhang khói dìu dịu. Nằm dài dưới đất. Ngước mắt nhìn lên vòm cây xanh, Đêm đã khuya. Đường phố yên tĩnh. Tự dưng lại nghĩ rằng, lúc nằm dưới lòng đất, người anh của mình có suy nghĩ gì không?

Trước đây đã có hai nhà thơ nghĩ về khoảnh khắc ấy, dành cho chính mình, đó là Hồ Dzếnh và Huy Cận.

"Ngậm ngùi nhớ trắng rừng mai/ Cảm thương sông nước, ghi bài điếu tang/ Ngựa gầy bóng gió mênh mang/ Cờ đen lối cũ, cây vàng nẻo xa...”. Hồ Dzếnh nghĩ về một hình ảnh bàng bạc Đường thi. Rười rượi nỗi niềm xa vắng. Những sắc màu vàng, trắng và đen nhập nhoạng lẫn trong từng câu thơ. Gợn lên âm sắc nao lòng. Và Huy Cận: “Nằm im dưới gốc cây tơ/ Nhìn xuân trải lụa muôn tờ lá non/ Gió se dòng mộng tuôn giòn/ Đem theo hương vị đời ngon ngàn đời”. Một tình cảm chan chứa niềm yêu đời. Da diết. Rạo rực.

Những quan sát này thổn thức người đọc, bởi giây phút ấy làm sao ai có thể sẽ dự đoán trước? Bởi lúc chạm đến khoảng khắc ấy - khoảnh khắc hồn vừa lìa khỏi xac, làm gì có ai ghi nhận lại. Âu cũng là sự thăng hoa của trí tưởng tượng.

Còn y đêm hôm ấy, nằm dài dưới đất và nghĩ về anh mình - một người vừa mất. Lúc chương trình Mô tô học bổng do nhà văn Nguyễn Đông Thức- Đoàn Thạch Biền khởi xướng, anh của y cũng đã nhiệt tình góp công chung tay với nhiều thành viên khác. Trên trang Facebook cá nhân, nhà văn Nguyễn Đông Thức ghi nhận: “ Lê Minh Tâm là người tấm lòng vàng, vô cùng tích cực với công việc thiện nguyện; anh đi làm từ thiện khắp nơi, biết ở đâu trong Quảng Nam - Đà Nẵng có người nghèo là quyết tâm đến giúp. Anh đã mấy lần đóng góp cho Mô tô học bổng, đi cùng Mô tô học bổng mấy chuyến , kể cả ra tận Na ư, Điện Biên cũng chống gậy đi…”. Tinh thần tương thân tương trợ, chia sẻ cùng những hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh của anh đã được nhiều người tin cậy, yêu mến và thán phục.

Dù khi biết mình mang bệnh nặng, nhưng tinh thần “mình vì mọi người” vẫn không vơi đi. Đúng như nhà văn Nguyễn Đông Thức đã nhận xét: “Tôi quen khá nhiều người bị bệnh ung thư, nhưng chưa thấy ai sống lạc quan, mạnh mẽ như Tâm. Đi cho tới khi không đi được nữa. Đi như biết mình không còn mấy thời gian để đi…”. Bây giờ không còn đi nữa. Mãi mãi, “Nằm đây, tưởng chuyện ngàn sau/ Lung linh nến cháy hai đầu áo quan” (Hồ Dzếnh) thì anh đang nghĩ gì?

Có thể nghĩ rằng, “Bốn bề chật chội cũng vừa/ Ấm êm mát lạnh ngàn xưa vọng về”. Nằm với đất, lẫn trong đất, ai lại không có cảm giác “mát lạnh” ấy? Và nhìn lên, thấy gì? “Nhìn lên bóng mát trên tê/ Lá xanh nõn lá, hái về làm sao?/ Nhìn lên mây trắng trên cao/ Vói tay muốn hái, làm sao thế này?”. Hai câu hỏi đã đặt ra trong sự ngỡ ngàng, ngạc nhiên nhằm trả lời câu hỏi lần thứ nhất (cũng là cuối cùng) trong đời là không thể lý giải được tại sao: “Vẫn ta nguyên vẹn hình hài” nhưng rồi không thể hái lá trên cây, hái chùm mây trắng? Bất lực: “Thế sao thế nọ, thế này, thế kia?”.

Câu hỏi ấy, Ai có thể trả lời nổi, ngoài Tử thần?

Cuối cùng, đành phải tự nhủ: “Thôi thì trừ, cộng, nhân, chia/ Bằng lòng giây phút chia lìa trần gian”. Để rồi lại tiếp tục nhìn lên. Và lần này đã khác trước. Không còn là câu hỏi nữa. Mà một sự cảm nhận rất thật, có thật: “Nhìn lên tươi tốt nắng vàng/ Tơ xanh trần thế dịu dàng cõi âm”. Nghĩa là biết mình đã không còn tồn tại cõi trần mà đang hiện hữu, quay về với cõi Nhạc sầu: “Không gian ôi, xin hẹp bớt mông mênh/ Ảo não quá trời buổi chiều vĩnh biệt/ Và ngươi nữa, tiếng gió buồn thê thiết/ Xin lặng giùm cho nhẹ bớt cô đơn” (Huy Cận). Đến cõi đó. Chấp nhận lấy nó. Như một sự mãn nguyện. Hài lòng. Không còn nuối tiếc gì nữa. Cái đã đến, không thể chối từ, chi bằng hãy mỉm cười và chấp nhận lấy nó. Lúc ấy, nhẹ nhàng làm sao: “Kinh cầu dìu dịu vang ngân/ Sen hồng, huệ trắng bần thần tiễn nhau…”.

Tiễn đưa của một kiếp người. Ai cũng về “cuối bến tình yêu”. Một hẹn hò đã dự báo từ khi con người ta cất tiếng oa oa chào đời.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 21.8.2017

 


anh-nay-cua-Luu-khanh-tho

Nhà phê bình văn học Lưu Khánh Thơ

 

Với những nhà văn cầm bút sau năm 1975 ở phía Nam, sự kiện Đại hội Nhà văn trẻ toàn quốc lần IV diễn ra tại Cung Thiếu nhi (Hà Nội) là một kỷ niệm khó quên. Trong hai ngày, từ ngày 26.4 đến ngày 27.4.1994, y đã có dịp làm quen với nhiều người viết cùng thời trên mọi miền đất nước. Những người đã quen ấy, có người đã đi về cõi khác, có người đã nhợt nhạt tình bạn nhưng đến nay vẫn còn lại một thân tình: nhà phê bình văn học Lưu Khánh Thơ.

Sở dĩ gọi đó là kỷ niệm, với y cũng là đầu tiên ra Thủ đô với tư cách khách mời, cùng chuyến bay với những Bùi Chí Vinh, Lý Lan, Đoàn Vị Thượng, Trần Hữu Dũng, Nguyễn Thái Dương… Ngày ấy, lòng say mê văn chương còn trong trẻo, tinh khôi, nhiều khát vọng và những tưởng phía chân trời ngập tràn ánh sáng. Chà, khoái vô cùng, có thể sướng rêm mé đìu hiu khi đồng chí lãnh đạo cao nhất của Hội đã kề tai nói khẽ dù lúc ấy chỉ có hai người, như tiết lộ một thông tin tầm cỡ “bí mật quốc gia”: “Không có Q ra Hà Nội, đại hội chỉ thành công một nửa”. Nghe câu nói ấy, tự dưng thấy mình quan trọng hẳn lên. Ghê gớm hẳn lên.

Mừng quá, bèn mời anh em cùng đoàn đi nhậu lai rai rồi vênh váo mặt mày nhắc lại câu nói ấy. Chớ tưởng bịa nhá. Đố ai dám bịa rồi gán cho đồng chí lãnh đạo Hội đã khen mình? Anh em sẽ phục mình lăn chiêng đèn cù. Nào ngờ, khi vừa dứt câu, Đoàn Vị Thượng nói: “Ơ hay, ổng cũng nói với tao y chang”. Chỉ vậy thôi à? Sau đó, nhiều người khác nhao nhao cho biết họ cũng từng nghe câu “phán” tương tự. Họ tin sái cổ lời nói ấy. Nào ngờ, cùng một câu nói chỉ đổi tên riêng. Mỗi lần nhớ lại, chỉ thấy buồn cười về sự cả tin.

Nhớ lại kỷ niệm khác có phải hay hơn không? Vâng, ạ. Trong đêm 25.4.1994 là đại hội trù bị. Những tưởng những người được bầu vào chủ tịch đoàn, thư ký đoàn phải được bàn bạc, trao đổi và tất cả đại biểu sẽ quyết định. Thế nhưng lúc vào họp, bọn y mới biết danh sách đã sắp xếp từ trước. Những nhà văn trong chủ tịch đoàn là Vũ Tú Nam, Hữu Thỉnh, Phan Thị Vàng Anh, Trần Hòa Bình, Đà Linh, Nguyễn Thị Mai, Lý Lan, Mai Văn Phấn và Cao Duy Sơn. Thư ký đoàn là Trần Ninh Hồ, Phạm Sỹ Sáu, Kim Ba, Võ Thị Xuân Hà và Lưu Khánh Thơ.

Y đã quen với Lưu Khánh Thơ vào đúng dịp đó. Cuộc làm quen này thể hiện qua bài viết Em gái Lưu Quang Vũ nói gì về anh mình, in báo Phụ Nữ TP.HCM ngày 25.5.1994. Nhắc lại cụ thể thời gian để thấy rằng, một khi còn trẻ, con người ta ham viết lắm. Lúc nào cũng viết được. Say mê. Cần cù. Thỉnh thoảng sau này, Thơ hay trêu chọc y trước mặt mọi người: “Ngày đó, hắn ta lễ phép lắm. Gọi Thơ bằng chị. Được làm chị ngon ơ”. Y lại phì cười, rất vui bởi vì rằng, sau đó, là một tình bạn đi cùng năm tháng.

Nhắc lại bài viết trên để nhớ vài chi tiết hay. Thơ kể: “Xuân Quỳnh rất thích hoa cúc. Có lần tôi hỏi: “Chị Quỳnh ơi, vì lẽ gì mà chị yêu hoa cúc đến thế?” Chị trả lời: “Hoa cúc khi héo không rụng cánh”; “Anh Vũ mới nhận tặng thưởng kịch bản của Hội Nhà văn (tiếng thì oai lắm nhưng giải chỉ có 10 ngàn”. Số tiền ấy, nay khoảng bao nhiêu? Không rõ, nhưng y biết chắc nhận xét của nhà thơ Xuân Quỳnh về tính cách của hoa cúc hoàn toàn chính xác. Y chưng hoa cúc ngay trên bàn làm việc nên đã thấy rõ.

Cùng bạn bè viết lách, ham mê đọc sách, văn nghệ văn gừng nên lần sau, những chuyến ra Hà Nội, y cùng một vài đồng nghiệp như nhà báo Hữu Thân, Xuân Thái… thường được Thơ đảm nhận vai trò hướng dẫn viên, dẫn đi thăm thú nơi này, nơi kia. Nhớ nhất là lúc thăm Nhà Lưu niệm Vũ Trọng Phụng, Nam Cao… Đi đến nơi quan sát và ghi chép. Nhớ lại kỷ niệm và cảm thấy tiếc nuối, ấy là lúc con người ta đã già, dù nay, muốn thực hiện lần nữa e rằng khó quá. Nhất là thời gian và sức khỏe.

Mà này, có cần phải “gạch đầu dòng” về Lưu Khánh Thơ không nhỉ? Tại sao lại không? Tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1981); Bảo vệ luận án Tiến sĩ tại Viện Văn học (1995); Học hàm, học vị: Tiến sĩ (1995), Phó Giáo sư (2003), Nghiên cứu viên cao cấp (2011). Những công trình nghiên cứu văn học nào của Thơ đã thực hiện? Rằng thưa, chuyên luận Thơ và một số gương mặt thơ VN hiện đại; tham gia biên soạn Thơ Mới - Tác giả tác phẩm; Xuân Diệu về tác gia tác phẩm, Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam v.v…

Phải đọc nhiều, cảm và nhận, Lưu Khánh Thơ mới có thể đưa ra một nhận định về phong trào Thơ mới - như là một đóng góp: “Vậy là trong khi tiến hành một cuộc cách mạng thơ ca, Thơ mới vẫn không cắt rời với truyền thống thơ dân tộc - từ đỉnh cao Nguyễn Du "bất diệt, nhà thi sĩ cho muôn đời" (Lưu Trọng Lư), đến Tản Đà - người "đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kỳ đương sắp sửa" (Hoài Thanh). Có ồn ào, có cãi cọ trong lời lẽ vào buổi khởi đầu, và qua hơn mười cuộc diễn thuyết trong Nam ngoài Bắc; nhưng căn bản Thơ mới đã thắng thế nhờ vào lao động nghệ thuật say mê của một thế hệ thơ do sự đào luyện của trường học Pháp - Việt và do sự tiếp nhận trực tiếp các ảnh hưởng của phương Tây mà dứt bỏ được một cách triệt để mọi trói buộc của truyền thống. Và là một sự thắng thế không phải bằng lý luận, mà chính là bằng vào sự xuất hiện của chính các bài thơ hay được công bố trên báo, và in thành tập trong hơn 10 năm, đem đến sự rút lui dần trong lặng lẽ của cả một biển thơ cũ. Một cuộc cách mạng thật mau lẹ, bởi nó nằm trong một chuyển động lớn, một cuộc chuyển giao lịch sử lớn chỉ diễn ra có một lần trong lịch sử thơ ca Việt Nam từ xã hội trung đại sang xã hội hiện đại, trong đó thơ ca nói riêng và văn chương học thuật nói chung vừa là hệ qủa của một cuộc sinh thành, vừa là một tác nhân thúc đẩy”.

Đúng lắm. Mọi chủ thuyết, mọi tuyên ngôn về nghệ thuật dù cao sang, sang trọng, ầm ĩ khua chiêng gõ trống cũng chẳng là gì, nếu không có tác phẩm cụ thể chinh phục người đọc.

Ngoài các chuyên luận về thơ, gần đây nhất Thơ còn là người chủ biên tập sách Cha và con (NXB Trẻ) đã gây được tiếng vang lớn trong dư luận. Ngay ngày phát hành đầu tiên, bán hết vèo 200 bản và nghe đâu đang chuẩn bị tái bản.

Hãy nghe Thơ tâm tình: “Cha và con, tập hợp gồm 45 câu chuyện của người con kể về cha mình, phần lớn là những người nổi tiếng, từ vị tướng trong quân đội, giáo sư, nhà khoa học đầu ngành đến những người nghệ sĩ tài năng lẫy lừng, được xã hội tôn vinh và ngưỡng mộ. Bằng tài năng và tâm huyết của mình, họ đã góp phần vào nền văn hiến của đất nước. Và trong số đó, cũng có những người cha bình thường, một ông giáo làng, một người nông dân, một viên chức mẫn cán, tận tụy suốt cả cuộc đời về hưu với hai bàn tay trắng... “Mỗi số phận chứa một phần lịch sử/ Mỗi số phận rất riêng, dù rất nhỏ/ Chắc hành tinh nào đã sánh nổi đâu?”. Những câu thơ của nhà thơ Nga nổi tiếng E. Eptusencô đã khái quát khá trọn vẹn và đầy đủ ý tưởng này”.

Có lẽ nhiều người đồng tình với suy nghĩ này, khi nghe Thơ thổ lộ: “Đặc biệt hạnh phúc là những người cha có đứa con nối nghiệp mình. Hơn ai hết, người con nối nghiệp đã thấu hiểu và đồng cảm với cha mình trong cuộc đời, cũng như trong nghề nghiệp. Họ là người đồng hành tri âm, tri kỷ, chia sẻ mọi nỗi niềm với cha mình - người đã sinh thành, dưỡng dục và trao cho họ những truyền thống quý báu để nối tiếp cuộc đời của Người trên cõi nhân gian này. Không ít người con đã thật sự vững vàng bước đi trên con đường của cha mình, thực hiện những điều trao gửi của đấng sinh thành. Và như thế, người cha đã lưu dấu khoảng không gian, thời gian tồn tại của mình trong cõi nhân sinh, vũ trụ một cách đầy ý nghĩa”.

Và bản thân Lưu Khánh Thơ cũng là trường hợp “đặc biệt hạnh phúc”. Khi nói về thân phụ, Thơ bộc bạch: “Điều lớn nhất cha tôi để lại cho chúng tôi là nhân cách của một người nghệ sĩ một đời trong sạch. Tình yêu và niềm tự hào về cha mình đã đi theo chúng tôi suốt đời. Ngay cả khi cha tôi đã mất, chúng tôi vẫn cố gắng sống và làm theo những điều mong mỏi của ông. Chúng tôi vẫn sợ làm ông phiền lòng nếu như mình làm điều gì đó không đúng. Phải chăng ý nghĩ và tình cảm ấy đã giúp chúng tôi nên người”. 

Hơn ai hết, một khi Thơ đảm nhiệm công việc chủ biên cho thể loại sách như Cha và con là rất phù hợp. Như đã biết, Thơ thuộc con nhà nòi: con gái Lưu Quang Thuận, em ruột Lưu Quang Vũ - hai nhà viết kịch, nhà thơ rất nổi tiếng. Có thể nói, Lưu Quang Vũ là nhà viết kịch lừng danh nhất của Việt Nam trong thập niên 1980 của thế kỷ XX .Nếu Lưu Quang Thuận được trao Giải thưởng Nhà nước, thì Lưu Quang Vũ lại được Giải thưởng Hồ Chí Minh. Con hơn cha là nhà có phúc. Hiện nay, tại Đà Nẵng - nơi sinh quán của nhà viết kịch lỗi lạc, ta thấy có tên đường của cả hai cha con, hiếm có trường hợp tương tự nếp nhà Lưu Khánh Thơ. Sự tôn vinh này rất xứng đáng.

Chưa hết, chú ruột là nhà thơ Lưu Trùng Dương cũng được trao Giải thưởng Nhà nước. Em là nhà báo Lưu Quang Định, trước công tác ở báo Lao Động, nay là Tổng biên tập báo Nông thôn ngày nay cũng là người yêu và am hiểu nhiều về văn hóa nghệ thuật.  Và nhà thơ Xuân Quỳnh. chị dâu, người bạn đời của Lưu Quang Vũ mới vừa nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Phải nói ngay rằng, Thơ là người có công lớn trong việc tìm kiếm, sắp xếp một khối lượng khá lớn di cảo thơ ca, kịch bản sân khấu, truyện ngắn, nhật ký của người thân trong gia đình để công bố các tập sách như Lưu Quang Thuận - thơ và sân khấu; Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ, tình yêu và sự nghiệp; Lưu Quang Vũ - Thơ và đời… Đây là những tư liệu đáng tin cậy về các tên tuổi trên mà người ngoài khó có thể biên soạn, sắp xếp, phân tích đầy đủ hơn.

Theo nhà thơ Nguyễn Việt Chiến: “Công việc này dường như cũng đã khiến cho chị và gia đình dịu bớt nỗi đau mỗi khi nghĩ về số phận khắc nghiệt của một tài năng lớn như Lưu Quang Vũ. Như Lưu Khánh Thơ đã từng giãi bày: “Thời gian đã làm được nhiều việc. Nó xoa dịu những nỗi đau tưởng chừng không thể chịu đựng nổi. Nó sàng lọc những điều còn mất và lưu giữ trong ký ức nhiều dấu ấn không thể phai mờ. Số phận khắc nghiệt đã không cho Lưu Quang Vũ kịp sống hết những năm tháng của đời mình. Anh kết thúc cuộc đời ở tuổi 40. Những năm tháng ấy, anh đã sống, đã yêu, đã làm việc hối hả như một bó đuốc rừng rực cháy. Điều duy nhất an ủi những người thân của anh, khi anh nằm xuống, đó là tình cảm yêu mến của bạn bè, độc giả đối với anh”.

Cái gien di truyền của nếp nhà tài hoa, liệu chừng có ảnh hưởng đến phong cách nghiên cứu của Lưu Khánh Thơ? Tại sao lại không? Đọc nhiều về Thơ với tư cách bạn bè, và cũng ít nhiều biết nhau qua tính cách, y nhận ra rằng lúc cảm về tập sách Thơ và một số gương mặt thơ Việt Nam hiện đại, PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp đã nói một câu rất chính xác: “Sự nhạy cảm là một phẩm chất nổi bật của chị”.

Bây giờ nhớ đến Lưu Khánh Thơ, bên tai y còn nghe rổn rảng tiếng nói cười rạng rỡ của nhiều bạn trẻ: “Em là học trò của cô Thơ đấy”. Và nhất là nhà thơ Trần Hoàng Thiên Kim đã có lần bảo: “Cô Thơ đã hướng dẫn em bảo vệ luận án Tiến sĩ. Mừng cho em nhá?”. Ơ hay, mừng quá đi chứ. Trên con đường của tình bạn, những gì bạn đã làm có ích, dù không nói ra trong thâm tâm đã tự hào và mừng.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 12.8.2017


nasa_shxu

Lá thư viết tay của cậu bé Jack Davis

 

Sáng thứ bảy. Rảnh rỗi. Không thích ngồi quán cà phê cà pháo “buôn dưa lê”. Cũng chừng ấy câu chuyện, chả gì mới, hễ gặp nhau là nhai đi nhai, lại. Để làm gì? Giết thời gian ư? Có nhiều cách. Chẳng hạn, ngồi một mình nghĩ vẩn vơ. Nghĩ đến câu nói vống, nói đùa, nói tếu táo, “có ít xít ra nhiều” phổ biến từ thời y còn sinh viên: “Ăn như tu, ngủ như tù”. Dù rằng, lúc vào nhà ăn tập thể trong ký túc xá, y chỉ thấy: "Tô canh lạnh lẽo nước trong veo/ Một miếng thịt heo bé tẻo teo/ Bốn thằng ốm đói tranh nhau vớt/ Một đứa nhanh tay hớt cái vèo / Cọng rau muống luộc màu xanh biếc/ Thau cơm mới tí đã hết veo/ Tựa cằm ôm thìa lâu chẳng được/ Thịt có còn đâu dưới nước lèo”. Vậy nên, “Tối đói cồn cào không ngủ được / Muỗi còn bu chích cái thân bèo”. Thơ của ai? Không rõ. Nhưng chắc chắn phải là chàng sinh viên của thời đất nước thoát ra khỏi cơ chế bao cấp. Chữ “tù” trong “Ăn như tu, ngủ như tù”, vui ra phết.

Thế nhưng khi đọc “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” đã ớn lạnh. Nổi da gà. Câu nói có tính đúc kết, khái quát, phổ biến cho mọi thời đại, mọi sắc tộc, chẳng gì phải bàn cãi nữa. Trúng chóc. Ấy vậy, quan niệm này, ngày nay đã khác. Đã có sự thay đổi. Thì ra, thời nào cũng có những chuyện xẩy ra khiến con người ta không thể ngờ, không lường hết trước được.

Chẳng hạn, về cái nghề mà y đã kiếp sống từ thuở học trò đến nay: Viết báo, viết sách. Rằng, đầu thế kỷ XX, hầu hết các nhà văn đều viết tay trên giấy học trò. “Đẳng cấp” lắm thì gõ lóc cóc trên máy đánh chữ. Nhà văn Vũ Trọng Phụng viết tay trên loại giấy rẻ tiền, mực màu tím, không chừa lề nhằm tiết kiệm giấy. Những trang viết ấy, khó có thể chống lại nổi sức tàn phá khủng khiếp của thời gian. Rồi, hiện nay, chẳng còn nhà văn nào viết tay nữa, kể cả đánh máy chữ. Họ bảo quản bảo thảo tốt hơn nhiều lần - khi trình bày cảm hứng trên máy vi tính.

Dù thiên về cảm xúc, nhưng trong thời đại bùng nỗ thông tin của kỹ thuật công nghệ, họ cũng hăm hở, hạ quyết tâm xông vào lãnh vực tin học. Nếu trước đó, Nguyễn Trọng Tạo có tập Thơ trên máy chữ thì Nguyễn Nhật Ánh đã có truyện dài Buổi chiều Windows. Cái thuở ban đầu tiếp cận với tin học, y đã học tại Hội Nhà báo TP.HCM - ngay tại góc ngã tư Hai Bà Trưng - Lê Duẩn, Q.1 (nay đã là Khách sạn InterContinental Asiana). Lần đầu tiên biết đến hệ lập trình MS.DOS, rồi diễn đạt thành thơ: “Biển hình vuông. Khuông màu xanh trước mặt/ Biến động liên hồi. Sáng tạo vô biên/ Chớp nhoáng đổi thay đường bay tin  học/ Tôi ngỡ ngàng khi gặp gió tháng giêng”.

Để tạo thói quen cũng không dễ, nhiều người ban đầu viết không nổi chỉ vì không còn được nghe tiếng… lóc cóc đều đặn như khi gõ máy chữ! “Ma lực’’ của tiếng vang ấy, hấp dẫn lắm chứ. Y cũng thế. Trậm trầy trậm trật mãi. Cuối cùng phải bỏ chiếc máy đánh chữ vào thùng giấy cột chặt, dán kín, treo lửng lơ lên trần nhà để lúc nhớ nhung về một thói quen cũ cũng bó tay. Không còn cách nào khác. Phải tiếp cận với công nghệ mới. Càng viết càng thấy khoái. Chỉ tiếc một điều, rồi đây thế hệ sau khó có thể tim thấy bút tích của nhà văn để lại. Cái máy vi tính rất phổ biến hiện nay, ngay cả đứa trẻ vừa oe oe lọt lòng mẹ cũng có thể sử dụng ngơ ơ bà ờ, thế hệ nhà văn Vũ Trọng Phụng không thể tưởng tượng đến.

Ngày càng có nhiều thay đổi, trước đó, chẳng ai ngờ tới. Cụm từ “địa ngục trần gian” dùng dể ám chỉ chốn lao tù; “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” đến một lúc nào đó, người ta sẽ không còn nhớ đến nữa. Tại sao? Đơn giản chỉ vì xã hội ấy không còn tội phạm. Nói đùa à? Không đâu. Báo Thanh Niên số ra ngày 35.3.2016: đưa tin: “Hà Lan đã đóng cửa 8 nhà tù năm 2009, và đóng cửa 19 nhà tù khác trong năm 2014. Hà Lan không phải là quốc gia đầu tiên đóng cửa nhà tù vì không có đủ tội phạm. Số nhà tù của Thụy Điển cũng giảm khoảng 1% mỗi năm từ năm 2004 đến năm 2011. Sau đó, từ năm 2011 đến năm 2012, số nhà tù giảm 6%. Trong năm 2013, Thụy Điển đã công bố sẽ đóng cửa 4 nhà tù và một cơ sở cải huấn khác”.

Nghe cứ như đùa.

Lại nữa, VnEpress ngày 12.7.2017 đưa tin: “Không có tội phạm, nhà tù ở Hà Lan thành nhà hàng, văn phòng”. Trong bài báo này, ông Mandy Jak - chuyên gia tư vấn tiếp thị và truyền thông của dự án chuyển đổi công năng nhà tù ở Hà Lan đã phát biểu một câu cực chảnh. Chảnh như con cá cảnh. Nghe mà không thể tưởng tượng ra nổi. Câu gì? “Làm sao để mở cửa nhà tù trở lại là thách thức lớn nhất với chúng tôi". Nghe phát ghét. Mà ganh tỵ. Mà thán phục, mà kinh  ngạc về một xã hội tốt đẹp đến thế. 

Sáng thứ bảy, ngồi nghĩ lẩn thẩn chuyện này, thế đã đủ. Không nên bàn sâu quá. Nó ám vào người. Cũng tựa như anh chàng nọ vì mê câu: “Thư trung hữu nữ nhan như ngọc”, mê muội, mê đắm rồi cũng có lúc từ trong sách một con hồ ly tinh nhảy ra, biến hóa thành người đẹp rủ rê động tình thì khốn lắm thay.

Như mọi ngày, sáng thức dậy vẫn phở. Vừa ăn vừa nhẩn nha đọc một thông tin mà y cũng không ngờ đến: “Đầu vào của ngành sư phạm tụt dốc thảm hại?”. Câu nghi vấn. Liệu có đúng? Trong chuyên mục Thời sự & suy nghĩ, đồng nghiệp Ngọc Hà cho biết: “Mùa tuyển sinh 2017, trong khi có ngành 30 điểm vẫn trượt thì một loạt trường ĐH đào tạo sư phạm chỉ lấy mức điểm chuẩn giản dị bằng điểm sàn: 15,5 điểm. Giật mình hơn, ở bậc CĐ đào tạo giáo viên dạy tiểu học và THCS, thí sinh chỉ cần đạt 9-10 điểm là ung dung giành suất trúng tuyển. Có trường hợp vì cộng cả điểm ưu tiên, nên chỉ đạt 2-3 điểm/môn đã trở thành thầy giáo tương lai! “Đây là dấu hiệu rất xấu cho sự phát triển giáo dục. Thầy giỏi mới có trò giỏi. Khởi điểm của người thầy chỉ ở mức điểm rất thấp như thế, sau này sẽ trao truyền gì được cho thế hệ học sinh tương lai?” - GS Phạm Minh Hạc, chủ tịch Hội Cựu giáo chức Việt Nam, nguyên bộ trưởng Bộ Giáo dục, trăn trở”.

Một lần nữa, đồng nghiệp Bút Bi lại đùa một cách thông minh, hóm hỉnh mà sâu cay, đau đớn. Ấy là “lý luận” của một chú nhóc tèo hỉ mũi chưa sạch khiến ông bố phải “đứng hình”: “Nó bảo: Con học yếu thật, nhung con chỉ cần thi được 3 điểm/ môn thôi là đủ đậu sư phạm rồi. Ra trường con đi dạy, học trò con sau này trở thành bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, tiến sĩ… Rồi mấy người đó sẽ gọi con là thầy. Cần gì học giỏi”.

Thiết tưởng thời trước, nhà giáo Chu Văn An - “Vạn thế sư biểu - Thầy của muôn đời” dẫu có bi quan nhất cũng không thể tưởng tượng ra nổi. Hỡ ôi, câu "Lương sư hưng quốc" đặt trong thực trạng này, nghe ra mỉa mai, chua chát quá đi thôi.

Không rõ ở nước ngoài, người ta đã giáo dục các em học sinh tiểu học ra làm sao? Tự hỏi, bởi không thể tưởng tượng ra nổi tại sao ở Mỹ, lại có “Học sinh lớp 4 đăng ký làm nhân viên bảo vệ hành tinh tại NASA” (Báo Thanh Niện ngày 7.8.2017). Rằng, khi hay tin Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) tuyển nhân viên đảm đương nhiệm vụ này, trong lá thư tay gửi đến cơ quan này, cậu Jack Davis viết: “Có thể cháu chỉ mới 9 tuổi thôi, nhưng cháu nghĩ mình thích hợp cho công việc. Một trong những lý do là chị cháu nói cháu là người ngoài hành tinh. Ngoài ra, cháu đã xem hầu hết các bộ phim về vũ trụ và người ngoài hành tinh mà cháu có thể biết đến”; “Cháu còn nhỏ, vì thế cháu có thể học cách suy nghĩ như người ngoài hành tinh”.

Thú vị chưa? Rất thú vị. Chưa hết đâu. Còn thêm một sự thú vị khác nữa, ông Jim Green - giám đốc phụ trách khoa học hành tinh của NASA không xem thường mà nghiêm túc viết lá thư trả lời: “Chú nghe cháu nói là 'người bảo vệ thiên hà' và quan tâm đến vị trí 'nhân viên bảo vệ hành tinh'. Điều đó thật tuyệt! Vị trí 'nhân viên bảo vệ hành tinh' thực sự hấp dẫn và là công việc rất quan trọng. Công việc đó nhằm bảo vệ trái đất khỏi những vi trùng khi chúng ta đem các mẫu thử nghiệm từ mặt trăng, các thiên thạch và sao Hỏa về lại trái đất”; “Các chú vẫn luôn tìm kiếm những nhà khoa học và kỹ sư sáng giá tham gia hỗ trợ, vì thế chú hy vọng cháu sẽ học tập chăm chỉ và đạt kết quả tốt ở trường. Các chú hy vọng sẽ đón tiếp cháu tại NASA một ngày gần đây”.

Cả hai lá thư đều đáng yêu quá đi mất.

Giáo dục được những đứa trẻ mặt còn búng ra sữa có suy nghĩ suy tích cực ấy, há chẳng phải một đất nước hạng tồi.

Lại nghĩ thêm một chút về giáo dục. Hôm qua đã viết xong bài báo “Gần 200 năm  trước người Việt đã đóng được tàu chạy bằng hơi nước”. Trong quá trình sử dụng các tài liệu như Quốc triều chánh biên toát yếu, Đại Nam thực lục của Quốc Sử quán triều Nguyễn, Tự Đức thánh chế văn tam tập… suy nghĩ rằng, cần có sự thay đổi nhiều hơn nữa về sự đánh giá các vua triều Nguyễn. Có đọc tài liệu gốc, thơ văn, lời Dụ, Chiếu v.v… mới thấy rõ và cảm thông: “Bui một tấc lòng ưu ái cũ/ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông" (Nguyễn Trãi) của họ. Và mới đánh giá công bằng họ đã làm được những gi cho Dân, cho nước lúc đang ở  ngôi cửu trùng. Ngay cả vua Tự Đức nay đã có nhìn nhận thế này, đánh giá thế khác nhưng đâu là nỗi lòng, khát vọng của ông mà bấy lâu các nhà viết sử chưa đề cập đến? Chuyện này, có dịp bàn sau.

Tuy nhiên, đọc sách sử mới nhận ra, các nhà nho uyên bác thuở xưa chỉ nặng về văn chương, điển tích, điển cố v.v… hơn là chú ý, quan tâm ghi chép lại những sáng chế, phát minh thuộc lãnh vực khoa học kỹ thuật. Mà đã không quan tâm thì sự nghiệp của những con người thuộc lãnh vực ấy cũng chẳng ghi chép gì mấy, chỉ nhắc qua sơ sài như bao cái tên vô danh khác. Rằng, từ năm 1839, các ông Hoàng Văn Lịch, Võ Huy Trinh; năm 1865, các ông Hoàng Sưởng, Lê Bân… cùng cộng sự đã  làm nên sự kiện lừng lẫy: đóng được tàu chạy bằng máy hơi nước. Nhưng rồi đời sau biết cụ thể gì về công đức, sự nghiệp của họ?

Với lối chép sử ấy, còn dẫn đến bất cập gì nữa? Kết thúc bài báo, y viết: “Đọc lại những gì sử sách đã ghi, tất nhiên lòng ta cũng tự hào không khác gì tâm thức người xưa. Chỉ tiếc rằng, tài liệu chỉ có thế, không biết thêm gì hơn và lấy làm đáng tiếc vì không thể trả lời được câu hỏi -  trước đây nhà sử học Nguyễn Thiệu Lâu cũng đã nêu ra: “Các tàu lớn, vừa, nhỏ dài rộng là bao nhiêu, trọng tải bao nhiêu tấn, chạy bằng nồi xúp-de nhưng có cánh quạt hay có guồng, tốc độ bao nhiêu, có thể mắc súng được không, và có thể chở được bao nhiêu binh sĩ, ra biển có thể lênh đênh được bao nhiêu ngày mới phải cập bến để ăn than?” (Quốc sử tạp lục, NXB Cà Mau - 1994, tr.276).

Nếu các nho thuở ấy viết sử có tư duy cập tiến như các ông Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện… thì tốt quá. Đó là những nhân vật lẩy lừng, ngay từ nhỏ họ đã chú ý đến đến lối học suy luận, phán đoán, quan sát, phê bình và ghét lối học từ chương của khoa cử đương thời.

Có giai thoại rằng, một lần, cách đây trên một trăm năm, thầy trò làng Bùi Chu nhân tiết xuân dẫn nhau lên chơi núi Lô Sơn. Thầy trò cùng nhau xướng họa ngâm vịnh rất tâm đắc. Chỉ riêng có một cậu học trò lang thang đây đó, tay cầm quyển sổ nhỏ, mỗi khi phát hiện điều gì hoặc quan sát thấy điều gì lạ thì cặm cụi ghi ghi, chép chép. Xế chiều, cậu đến chỗ thầy giáo lễ phép hỏi: “Bẩm thầy, núi Lô Sơn này cao mấy thước, diện tích mấy tầm, cách Song Ngư mấy trượng?”. Nghe câu hỏi bất ngờ quá, thầy giáo lắc đầu, không giải đáp nổi. Các bạn học cũng chịu chết, không ai trả lời được. Buổi đi chơi núi dù có vui vẻ bao nhiêu, nhưng những câu hỏi trên không giải đáp được cũng khiến cậu học trò cũng buồn xo. Bóng hoàng hôn nhập nhoạng buông xuống, trên đường về cậu thầm nghĩ: “Đi chơi núi mà không biết núi cao bao nhiêu thì học được cái gì?”.

Cậu học trò đó, chính là Nguyễn Trường Tộ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 7.8.2017

leminhquocdoantuan_1Rchonanh_nay

Quốc & Tuấn (Hà Nội -2017)

Con người ta, từ khi sinh ra đã “lập trình” rồi chăng? Nói nôm na là có “số” và nó nằm ở trong cái lá số tử vi. Nếu không, làm sao có thể lý giải nhiều, rất nhiều trường hợp, đại khái dù chẳng mấy tài năng gì nhưng tay X, Y, Z nào đó vẫn có thể leo lên nấc thang danh vọng nhanh chóng đến chóng mặt? Dù ăn không nên đọi, nói không nên lời, chính tả viết sai be bét, tư cách hèn kém đến độ nằm dưới thắt lưng nhưng vẫn hiên ngang bước lên diễn đàn, vênh mặt dạy dỗ hàng trăm, hàng ngàn người khác về chuyên môn lẫn đạo đức.

Quái lạ chưa?

Trong khi đó, mà thôi, chẳng nên bàn thêm gì nữa. Mỗi người sinh ra đời có mỗi phận sự. Tự mình phải phấn đấu, nỗ lực làm hết sức mình, cứ cố gắng hết sức, sau đó dù kết quả có như ý hay không lại là câu chuyện khác. Tuy nhiên, những con người ấy, theo y, hầu hết họ đều hài lòng, vui sống bởi tự nhủ đã tận tâm, tận lực rồi. Chẳng gì phải lăn tăn, so sánh với ai khác cho mệt cái đầu. Trong số nhiều, rất nhiều bạn bè của y đã có đức tính ấy. Họ làm việc mỗi ngày, chẳng cần phải có tiếng vỗ tay ầm ĩ, chẳng cần P.R ồn ào, náo nhiệt, khua chiêng gõ mõ ầm ĩ, loạn xạ đến đinh tai nhức óc. Chỗ ngồi của họ vẫn là căn phòng yên tĩnh và từng ngày lao động miệt mài trên trang viết. Những con người ấy dù nổi tiếng, dù chỉ là cái bóng mờ nhạt, với y đều là sự thán phục. 

Mà đã là sự thán phục, quan tâm, vì lẽ đó, có những người bạn thân thiết, dù ít gặp, dù không mấy bia bọt bù khú gái gú lăng nhít nhưng y vẫn thực tâm theo dõi. Rằng, thời gian này, thời gian qua, bạn mình đã viết thêm gì mới, đã có gì cho người đọc, đã làm phim, đã vẽ tranh, đã triển lãm… ra làm sao? Y chỉ y lặng lẽ tìm hiểu, cảm nhận, đôi khi chỉ mỗi mình mình biết, mỗi mình mình hay, chẳng cần phải vỗ vai, điện thoại nọ kia với bạn. Chỉ thêm rườm lời. Chẳng cần thiết đâu.

Trong số những người bạn ấy, với y, còn phải kể thêm Đoàn Tuận nữa. Một phần cũng do từ năm 18 xuân xanh phơi phới nắng mới yêu đời đã là tri âm, tri kỷ nơi chiến trường đạn bom, chết chóc. Còn sống sót trở về, càng thêm quý tháng ngày gian khó, chia nhau từng mẩu thuốc rê, từng ngụm nước uống, đọc chung từng lá thư nhà, thậm chí chia nhau cả hòn tên mũi đạn… Kỷ niệm ấy làm sao quên và chính nói đã là bề sâu của tình bạn. Rượu càng lâu càng quý, bạn bè chơi với nhau và chịu được tình nết của nhau cũng quý nốt.

Còn nhớ lúc mới ra quân, trở về với chăn êm nệm ấm, buổi trưa nọ, đang ngủ say sưa bỗng nghe có tiếng nổ sát bên tai, như quán tính, như thói quen, y đã lăn ngay xuống gầm giường. Nhìn nền gạch bông sáng loáng, nhìn qua ô cửa sổ nắng xanh, phượng đỏ nên bẽn lẽn, cười thầm, thì ra đó là tiếng nổ của pháo cưới nhà bên cạnh. Bấy giờ, Đoàn Tuấn đã sang Nga học về biên kịch, y viết thư dò hỏi đời sống bên đó thế nào? Nếu được, có thể tìm mọi cách sang đó chăng? Nào ngờ dội vào mặt y là gáo nước lanh như đã đóng băng: “Q ơi, bên này chẳng khác gì thời anh em mình sống ở K”, thư Tuấn hồi âm. Vậy là xong béng, đứt đuôi con nòng nọc về cái ước mơ làm một chuyến đi xa.

Thời gian này, Tuấn học về cái nghề mà y hoàn toàn không biết gì về chuyên môn. Hắn ta học khoa Biên kịch Trường Đại học Điện ảnh Mạc Tư Khoa. Học về lý luận điện ảnh, biên kịch, viết kịch bản phim… chà, hấp dẫn quá đi chứ? Ít lâu sau, Tuấn có có được kịch bản Ngõ đàn bà, rồi Đi tìm chỗ ngủ. Sau khi viết xong Đi tìm chỗ ngủ, Tuấn gửi cho y một bản đánh máy. Cũng là một cách chia sẻ cho nhau công việc đã làm. Để mừng cùng cho nhau.

Kịch bản này được làm phim. Cứ theo như thông cáo báo chí lúc bấy giờ: “Đạo diễn: Lê Hoàng; diễn viên: Mỹ Duyên, Tạ Ngọc Bảo; nhà sản xuất: Hãng phim Giải Phóng; thể loại: Tâm lý; độ dài: 97 phút; quốc gia: Việt Nam; năm sản xuất: 1999. Giới thiệu: Câu chuyện trong phim xảy ra với một đôi trai gái, khi chàng trai tên là Dũng đột ngột có giấy gọi lên đường nhập ngũ. Anh chỉ có đúng một ngày để làm đám cưới với Nguyệt, cô người yêu của mình. Và chỉ trong một ngày một đêm thôi, đôi trai gái ấy đã phải chạy đua với thời gian giữa trời Hà Nội đầy bom đạn để tìm "Chiếc chìa khoá vàng" cho căn phòng hạnh phúc. Rồi khi căn phòng hạnh phúc được mở ra thì bình minh đã ló rạng, đến giờ chàng trai phải lên đường". Ối dào, dư luận thồi đó khen ngợi khiếp lắm. Y tự hào và sung sướng về bạn.

Bên cạnh đó, Tuấn còn viết thêm cả phim hoạt hình như Én con và chiếc lá; phim truyền hình như Thổ cẩm, Sân chơi, Con chó Nhật, Trung du, Ông trẻ về ăn Tết, Những cuộc đời ngộ nhận, Có gì mới v.v… Không chỉ có thế. Thời xa xăm ấy, chỉ mới vừa thoát ra khỏi cơ chế bao cấp, do đó, đời sống của người viết lách cũng chẳng khấm khá gì mấy, hắn ta nhảy sang viết báo. Tựa nhiều nhà báo chuyên nghiệp khác, Tuấn cộng tác cho nhiều tờ trong Nam ngoài Bắc và ký hàng loạt bút danh khác nhau. Nhiều không kể xiết. Tuấn viết khỏe, khi y cần bài, chỉ điện thoại báo tin và ngồi liếc quan máy Fax chờ đợi, y như rằng chỉ chừng một hai tiếng đồng hồ sau là có bài. Phong cách của người làm báo chuyên nghiệp là phải thế. Viết dăm ba bài báo vặt, cần gì phải cảm với hứng.

Thật kỳ cục, có những địa danh, lòng ta yêu mến vì nơi đó có danh lam thắng cảnh, đặc sản thức ăn khoái khẩu nên những muốn thăm thú thêm nhiều lần; đành rằng là vậy, nhưng vẫn chưa đủ. Yếu tố đủ ở đây vẫn là có được người bạn thân thiết, thân tình, thân thương, thân mến. Với y, ở Hà Nội là Đoàn Tuấn. Nếu không có bạn, sức mấy y cảm hứng để có Phở Bắc với cảm nhận: “…Phở ạ! Sao mà trân trọng vậy/ Thưởng thức quán nào cũng thấy ngon/ Nước trong. Khói biếc. Tương cay đậm/ Tuyệt lắm. Trời ơi ! Tái nạm giòn/ Thêm một chút tiêu. Thêm chút ớt/ Cong cớn môi hồng cứ xuýt xoa/ Yêu em có lẽ vì … mê phở/ Vị ngọt trên môi cũng đậm đà/ Phở Bắc nóng, nồng như gái Bắc/ Quán xá nhường nhau chật chội ngồi/ Tôi nâng tô phở như… thành khẩn/ Mơ thấy nắng vàng lững thững rơi!”. Sức mấy có được Bát Tràng với cảm nhận: “…Con đường quê cỏ mượt/ Khói chiều lên mướt xanh/ Gạch Bát Tràng mát lạnh/ Mang giày đi sao đành”.

Nhiều lần ra Thủ đô, có thể không gặp người này người nọ, y tiếc rồi tặc lưỡi: “Ừ, lần sau”. Nhưng với Tuấn thì không thể. Phải gặp cho bằng được. Vậy mà nhiều lần có gặp đâu - nhất là những lần ra dự hội nghị, hội hè lằng nhằng của Hội Nhà văn VN, đơn giản chỉ vì Tuấn không phải hội viên. Hôm nọ, gặp nhau tại Hội nghị lý luận văn học tại Sa Pa, nhà thơ Ngô Thế Oanh nhăn mặt, nhíu mày: “Anh đã nói nhiều lần nhưng Tuấn vẫn không chịu làm đơn. Hắn nói chỉ vào hội điện ảnh là đủ rồi. Ham hố làm chi. Dù rằng hắn xứng đáng lắm”. Y cũng nghĩ như anh Oanh.

Khi sang Nga, có tư duy và tâm hồn sâu nặng với thơ, Đoàn Tuấn đã dịch Thơ trữ tình Xécgây Êxênhin (NXB Văn Học - 1995) từ nguyên bản tiếng Nga. Hắn ta tâm tình: “Mình thường dịch thơ Êxênhin vào những lúc tâm trạng buồn buồn, cảm thấy không yên. Thơ Êxênhin giúp mình tìm thấy sự yên tĩnh trong dời riêng hình như lại giúp mình xem lại, sửa chữa những gì đã dịch từ mươi năm trước. Đôi lúc mình thoáng nghĩ như số phận”. Những dòng thơ này, theo Tuấn, Xéc gây Êxênhin là “nhà thơ Nga nhất”. Đã có nhiều bản dịch của các dịch giả tên tuổi như Thúy Toàn, Xuân Diệu, Đào Xuân Quý, Tế Hanh, Bằng Việt, Thái Bá Tân, Anh Ngọc, Trần Đăng Khoa, Hồng Thanh Quang, Tạ Phương, Nguyệt Vũ, Nguyễn Viết Thắng, Việt Thương… nhưng y vẫn thích của Đoàn Tuấn hơn cả. Đơn giản, sự yêu thích ấy ngoài phong cách dịch còn là tình bạn nữa.

Rồi cũng từ những năm đầu thập niên 1980, Đoàn Tuấn đã đoạt giải thơ sáng giá của tạp chí Văn nghệ quân đội. Những bài thơ viết từ chiến trường K đã khiến công chúng giật mình tìm thấy một tiếng nói mới. Thủ thỉ. Thân tình. Và có gì đó khác với thời các anh đã từng đi qua cuộc chiến: “Những dãy núi con đường và vị trí các C/ Như đồ vật trong nhà, tôi nhớ/ Bao đồng đội thành cây rừng ở đó/ Mỗi gương mặt bạn bè một địa chỉ không quên/ Dũng đi phục mùa mưa xé túi quần hun muỗi/ Cởi áo ra mình đắp chóng sáng hơn/ Mạc Văn Tướng trèo cây bắn B41/ Mười hai giờ đêm ăn cháo khỉ xì xòm/ Lính 71 đào hầm, lính 80 nạp đạn/ Có điều gì tin cậy chở che nhau/ Bên cửa hầm dáng bạn ngồi đan rổ/ Lá lồ ô vàng thơm sắc rơm phơi/ Mùa khô ấy áo bạc theo suối cạn/ Ai nhắc mình vò áo nhẹ tay thôi/ Mặt chúng tôi gầy như gương mặt núi/ Hào phóng như trời xanh/ Tính thẳng như nòng súng…”.

Chùng mươi năm trước, lúc y đoạt giải thưởng thơ của tuần báo Văn Nghệ TP.HCM, số tiền đó, cả hai bàn với nhau là sử dụng để in tập thơ Đất bên ngoài Tổ quốc (NXB Văn Học-1997). Rồi nữa, lúc nhà thơ Cao Xuân Sơn mới về NXB Kim Đồng và xây dựng Tủ sách Tuổi mới lớn, cả hai lại viết chung tập truyện dài Mùa thu đến muộn. Cùng đứng chung tên trong một hai tập sách đã là một kỷ niệm.

Từng nghĩ rằng, cái thú của tình bạn còn là ở chỗ: có thể chia sẻ cho những gì đã đọc, đã xem, đã biết. Tuấn xem phim nhiều hơn y gấp bội phần. Tại sao lại nghĩ thế? Nghĩ thế, vì đêm qua nằm đọc lại tập sách Những vấn đề lý luận kịch bản phim (NXB Văn hóa Thông tin - 2008) của Đoàn Tuấn mới rút ra kết luận đó. Có thể ghi nhận đây là giáo trình của ông giáo đang là Trưởng khoa Điện ảnh Trường Đại học SK & ĐA mà hắn ta đang giữ cương vị đó. Đọc và phát hiện nhiều chi tiết hay, có liên quan đến văn học. Các bạn trẻ cần đọc để làm phim, còn y, đọc cũng là một cách thư giản vì không theo nghề này.

Gạch dòng dưới dòng chữ, hắn ta bình về cái tên Chí Phèo của nhà văn Nam Cao trong chương Đặt tên người, tên nhân vật: “Nếu tách riêng và phân tích từng từ, ta nhận thấy cái tên “Chí” chỉ một người có tầm vóc tương đối, có khi chất khá mạnh mẽ và đương nhiên có ý muốn vươn lên. Song tên “Chí” đặt cạnh tên “Phèo” lại gây một bi kịch. Trong biển từ tiếng Việt, cái tên Chí được dùng ở chỗ cao sang, trang trọng và sạch sẽ bao nhiêu thì cái tên Phèo lại bị đặt ở chỗ thấp kém bấy nhiêu. “Phèo” trong tiếng Việt để chỉ cái phèo lợn (ruột non). Ngày trước ở nông thôn khi có đám, ngả lợn, các cụ thường hối hả và lăm le bắt cho được cái phèo… Từ phèo còn có nghĩa chỉ cái gì đó nhỏ bé, nhẹ hẫng, thoảng qua, mất hút. Chẳng hạn như câu: “Que diêm đánh trong gió lớn cháy phèo rồi vụt tắt”. Từ trong sâu thẳm tâm hồn, Nam Cao, không biết thiên tính nghệ thuật nào mách bảo, nhà văn đã chọn đúng hai từ đích đáng tuyệt đối để đặt tên cho nhân vật là Chí Phèo” (tr.131). Cách lý giải, cách nhìn này, y khoái quá bèn vỗ đùi cái đét. Được vậy đã là vui trong một giấc ngủ lẻ loi và tẻ nhạt thường nhật hằng đêm.

Và bây giờ, Đoàn Tuấn vẫn đang tiếp tục công việc của mình. Vẫn những bộ phim thực hiện gần đây như Đường thư, Sống cùng lịch sử, Trên đỉnh bình yên… và gần đây nhất là tập hồi ước chiến binh Mùa chinh chiến ấy (NXB Trẻ). Mà không chỉ có thế. Đã là một dòng chảy thì vẫn cứ chảy mãi. Chẳng gì nôn nóng. Chẳng gì vội vã. Nhịp đời đi ngoài ô cửa số. Phía bên trong của sắp xếp yên tình tâm hồn, vẫn lặng lẽ cùng trang viết của mỗi ngày. Tận hiến cùng niềm vui. Nhọc nhắn cùng niềm vui. Để rồi đến một lúc rồi mãi mãi là cảm hứng như bài thơ Tuấn viết tặng y thời trai tơ bên cánh rừng biên giới ầm súng nổ: “Tuổi 18/ như rượu/ của đời/ xin mời/ nâng lên/ hạ xuống/ Tuổi 18/ lên núi/ núi vọng/ xuống sông/ sông rền/ Tuổi 18/ trắng trong…”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 3 trong tổng số 51

trinhduyson