LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 16.12.2017



NGOIBUIONVECHOICHO_BVUI_6R

 

Chân trong chân ngoài”, thành ngữ này ngụ ý điều gì? Anh chàng nọ vốn “anh hùng râu quặp” bị cô vợ chì chiết: “Anh dạo này coi mòi đã “Chân trong chân ngoài”, đã thế, “chân ngoài” lại dài hơn “chân trong”. Liệu hồn đấy”. Chỉ cần nge câu ấy, gã Thúc Sinh nọ đã hoảng hốt, hồn xiêu phách lạc. Bởi vì rằng, chuyện léng phéng với “phở” đã bị “cơm” phát giác. Lại nữa, sếp cơ quan nọ phê bình nhân viên nọ: “Ăn cây nào rào cây ấy. Chớ có chân trong chân ngoài đấy nhá”. Đích thị sếp cằn nhằn việc chạy show, làm ăn thêm bên ngoài.

Y có “Chân trong chân ngoài”? Có, chứ sao không. Thỉnh thoảng vẫn viết cộng tác với nhiều tờ báo khác. Gần đây, từ nhiều năm mỗi tuần phải nghĩ ra một tình huống về tình yêu, hôn nhân gia đình. Viết ròng rã, liên tục. Nhờ thế sau này mới có các tập sách như Tôi và đàn bà, Gái đẹp trong tôi, Tình éo le mà lý oái oăm, Khi tổ ấm nhảy Lambada, Thật tuyệt tình ta thôi trúc trắc… Cơ quan ấy, thỉnh thoảng y vẫn đến lấy báo biếu, ký nhận nhuận bút. Từ phòng khách nhìn ra sân đã thấy cây khế, đến mùa thì hoa nở tím, rụng đầy sân. Tự dưng có cảm tình, gần gũi.

Mới đây, ghé lại, đã khác. Cơ quan ấy, dãy nhà một tầng ấy đã cho thuê bán cà phê. Ban bệ phòng ốc dành cho trị sự, phóng viên thu gọn lại về phía sau, đi cổng ngang hông. Tức là tòa soạn thu hẹp lại đến mức có thể “Để kiếm thêm tiền nuôi quân”, anh bạn phụ trách nơi ấy cho biết. Nói cách khác, làm báo bây giờ khó có thể sống bằng nghề báo, bán báo, phải kiếm thêm nguồn thu khác. Đã qua rồi cái thời nhà báo được trọng vọng, ăn trên ngồi trốc.

Còn nhớ thuở ấy, có những cuộc họp báo đôi lúc trễ giờ, không tiến hành đúng thời gian đã ấn định chỉ vì phóng viên thuộc báo của cơ quan Đảng bộ, đài truyền hình chưa vác xác đến. Còn nhớ thuở ấy, nhất là ngoài Hà Nội một khi tổ chức sự kiện long trọng gì, trong phần quà biếu đại biểu bao giờ cũng kèm theo tờ Nhân dân, trong đó có đăng bài viết về đơn vị đó. Qua đó thấy rằng, sự có mặt của những tờ báo trên, chính là “nhãn hiệu cầu chứng tại toàn”  - như cách nói quen thuộc của người miền Nam trước đây.    

Thời ấy, đã qua rồi.

Các trang mạng xã hội đã làm nên một sự thay đổi kỳ diệu. Phân tích chuyện này dài dòng lắm, chi bằng phớt lờ quách. Chỉ biết rằng, trước kia mọi việc phải cần đến báo chí chính thống lên tiếng, muốn được thế còn phải chờ nhà báo sàng lọc, chọn lọc, nhìn trước ngó sau, cân nhắc mọi bề; nay không nhất thiết. Ai cũng bình đẳng trong việc công bố thông tin, kể cả tin bịa đặt. Đã có lắm sự kiện rình rang trên báo chí, chính là “ăn theo” từ nguồn tin đã được công bố trước nhất trên các trang mạng xã hội. Ông/bà nhà báo chuyên nghiệp được cấp thẻ dù muốn dù không đần dần cũng ngang cơ với nhà báo tay ngang, độc giả trong việc sở hữu/ tìm kiếm/công bố thông tin.

Đừng nói đâu xa, có phải trước đây các đồng nghiệp của y nếu buổi sáng không cầm lấy tờ báo mới, cảm thấy thiếu sót, áy náy, không yên tâm. Phải tìm đọc cho bằng được. Nay, có hoặc không của một/ nhiều tờ báo chẳng gì quan trọng. Chỉ cần cầm cái điện thoại là xong tất. Tha hồ đọc/xem/ nghe thời sự đang diễn ra từng giờ, chứ chưa nói đến từng ngày. Điều này có nghĩa các nhà báo với cách làm báo truyền thống đang đứng nguy cơ… viêm màng túi. Tiền lương ngày một ít dần. Thu nhập ngày càng bèo. Số lượng in mỗi kỳ ngày một teo tóp dần.

Đôi lúc y tự an ủi, dù gì mình cũng đã sắp nghỉ hưu rồi, sắp rời khỏi cuộc chơi ngày càng thoái trào. Dù cố gắng đến mấy, thú thật cũng không thể tác nghiệp vụ nhanh chóng bằng cánh nhà báo trẻ. Cách viết đã khác. Thu thập thông tin đã khác. Ngày trước, trong cơ quan y đã từng cãi nhau chí chóe rằng, một khi đi tác nghiệp có cần phóng viên ảnh đi theo chụp hình hay không? Tùy mỗi bao có quy định riêng. Nay, cánh nhà báo trẻ không thèm quan tâm chuyện đó nữa. Không chỉ chụp hình mà họ còn quay phim, dựng thành các clip, đoạn phim ngắn minh họa cho các bài viết. Dụng cụ ấy có gì? Chỉ cần cái điện thoại là xong. Thế thì, đồng nghiệp thế hệ y còn biết kiếm cơm bằng cách nữa hả trời?

Viết đến đây sực nhớ không biết dạo này sức khỏe anh P ra sao.  Nhớ vì  thời mới tấp tễnh vào nghề báo, y có theo học lớp đào tạo nghiệp vụ do báo Tuổi Trẻ tổ chức. Lần nọ, anh P có kể lại kỷ niệm đáng nhớ nhất của anh. Qua đó, có thể thấy nhà báo oách như ông trời con. Rằng, theo sự phân công của ban biên tập, từ thủ đô anh đi về xã nọ, huyện nọ tìm hiểu để viết bài về mô hình hợp tác xã đang phát triển. Lúc đến nơi, các ông bà trong ủy ban nhân dân nọ thấy anh trẻ quá, mặt mũi non chẹt nên ơ thờ, không tiếp đón chu đáo, anh cáu lắm. Sau đợt thâm nhập thực tế ấy, anh về méc với tổng biên tập về thái độ xem thường vai trò của báo thuộc Đảng bộ. Chuyện gì xẩy ra? Tay tổng biên tập quyết định không tuyên truyền cho xã nọ trong vòng sáu tháng! Thế mới biết, báo chí thời bao cấp đó ghê gớm lắm, chớ có giỡn mặt.

Thời ấy, đã qua rồi.

Mấy hôm nay, vẫn còn bàn tán trên báo chí, trang mạng xã hội về nội tình vấn đề vừa xẩy ra đã khiến y ca thán: “Thế thì, bao nhiêu năm các con em chúng ta đã được học hành, học tập từ các bậc nhà giáo uyên bác và  đáng kính ấy?” (Nhật ký 14.12.2017). Bài báo Đề thi bế tắc, đọc thấy thất kinh là một thí dụ, có đoạn: “Vì sao chọn Chi Pu vào đề thi? Bản thân cái tên "Chi Pu" - dù mỗi cá nhân có quyền đặt "nghệ danh" cho mình - đã thấy lợn cợn, tối nghĩa. Về tên tuổi "ca sĩ" này cũng chưa đủ "trọng lượng" để người ta biết tới và để tâm. Mà phải chi chuyện Chi Pu và các đồng nghiệp là chuyện đẹp đẽ, đáng noi theo. Đó là chuyện xấu, vì hiềm khích mà công kích, miệt thị nhau. Có hay ho gì mà đưa vào đề thi? Có hay ho gì mà bắt học sinh phải hóa thân vào và viết tự sự?

Nên nhớ, thi cử là một hoạt động quan trọng của giáo dục. Đề thi là công cụ, là ngữ liệu của giáo dục. Văn học là nhân học. Nhân vật và câu chuyện trong thế giới văn chương thường có sức mạnh sai khiến người ta. Thế giới showbiz vốn lắm thị phi, điều tiếng, thực tế cho thấy đã gieo vào đầu óc giới trẻ mặt trái nhiều hơn tiếng lành. Vì thế, chọn một câu chuyện lùm xùm trong giới giải trí, chọn một cá nhân như Chi Pu vào đề Ngữ văn là một sự ấu trĩ, lố bịch, phi giáo dục. Còn có bao nhiêu chuyện khác tử tế hơn, phạm vi tỏa rộng hơn, sâu sắc và nhân văn hơn, sao không chọn? Những người ra đề đừng vin vào yếu tố "thời sự" để thể hiện sự ngây ngô và bế tắc của mình.

Sốc không kém là Trường THPT chuyên Nguyễn Huệ (Hà Nội) yêu cầu học sinh viết cảm nhận về đề xuất cải tiến tiếng Việt "gây bão" vừa qua của PGS-TS Bùi Hiền. Nội dung này có trong đề thi môn Ngữ văn lớp 12, thi học kỳ I vừa diễn ra. Một trường chuyên khác, ở Hà Nội, cũng đưa câu hỏi tương tự vào đề, chiếm đến 7.0 điểm! Những em học sinh khối 12 mới 18 tuổi thì làm sao đủ kiến thức về ngôn ngữ và trình độ, tư duy khoa học để mà đánh giá? Thầy - cô các em có chắc là viết nổi không mà bảo các em viết? "Gài" đề kiểu đó có khác nào lái các em viết theo hướng dư luận như thời gian qua, thiên về công kích PGS-TS Bùi Hiền. Đó là chưa nói đến việc nhiều em không quan tâm hoặc không biết đến chuyện này. Như vậy là phản giáo dục, là triệt tiêu sáng tạo.

Đáng nói hơn, đó là việc làm thất lễ. PGS-TS Bùi Hiền đã 83 tuổi, từng là phó Hiệu trưởng ĐH Ngoại ngữ, dành nửa cuộc đời nghiên cứu tiếng Việt. Đề xuất của ông mới chỉ là bài tham luận in trong kỷ yếu hội thảo khoa học, dù có thể gây ý kiến bất đồng nhưng không vì thế mà phải đem ra để cho các em học sinh "hỉ mũi chưa sạch" phán xét. Đọc cái đề mà thấy thất kinh! Làm người ai làm thế?! Các em học sinh dẫu làm gì cũng không có lỗi. Lỗi bất kính thuộc về những người ra đề và duyệt đề - những người dạy dỗ các em kiến thức lẫn những bài học làm người (nguồn: báo Người lao động ngày 12.12.2017).

Mà đâu chỉ có thế.

Trước đây, các bậc phụ huynh cũng từng choáng với các đề thi đậm mùi showbiz. Chẳng hạn, bình về bài “hit” Em gái mưa của ca sĩ Hương Tràm; chỉ ra thông diệp trong bài hát Lạc trôi của Sơn Tùng M - T vớ những câu lảm nhảm: “Bâng khuâng mình ta lạc trôi giữa đời/ Ta lạc trôi giữa trời”, thậm chí ca sĩ này đau răng cũng vào đề thi! Ối dào, “nữ hoàng nợi y” Ngọc Trinh với câu nói thực dụng: “Yêu mà không có tiền thì cạp đất mà ăn à?”, rồi Ba Tưng cũng quá nhiều tai tiếng cũng nhảy xổm vào đề thi. Tội nghiệp các em.

Thi sĩ Tú Xương có đội mồ sống dậy, các nhà báo đến hỏi cảm tưởng ra sao ắt cụ lại thở dài: “Học trò chúng nó tội gì thế/ Để đến cho ông vớ được đầu?”. Nếu phỏng vấn y thì sao? Y xin nhắc lại câu kết của bài báo in báo Người lao động vừa nêu trên: “Bộ Giáo dục và Đào tạo cần sớm có ý kiến chỉ đạo về tình trạng ra đề phản tác dụng như vậy. Đưa chuyện thời sự vào đề thi là bổ ích nhưng không phải vì thế mà lạm dụng hay làm càn. Ngay cả người làm giáo dục mà không biết đâu là giá trị chân xác của giáo dục, thể hiện sự lố bịch trong việc ra đề thi (như đã nêu), thì xã hội này biết trông chờ vào ai, biết trông cậy vào đâu để tiến bộ, văn minh!”.

Câu hỏi này, chẳng mới mẻ gì. Thiên hạ đã gào lên nát nước nhưng rồi bốn phương vẫn lặng như tờ. Chỉ là đá ném ao bèo.

Riêng về chuyện cải cách chữ Quốc ngữ gây tranh cãi dữ dội trong dư luận, y đã viết và phát biểu nhiều về vấn đề này, tựu trung vẫn nhấn mạnh: Mọi can thiệp theo ý chủ quan của cơ quan quyền lực/ cá nhân nào, cuối cùng chỉ dẫn đến sự thất bại thảm hại. Hoàn toàn đống ý vơi ý kiến của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh khi trả lời trên báo Thể thao & Văn hóa ngày 11.12.2017: “Chữ viết gắn liền với ký ức, kỷ niệm, tình cảm của con người nên phải hết sức thận trọng nếu muốn thay đổi, chuẩn hóa, hoặc luật hóa nó. Đáp ứng được yêu cầu khoa học nhưng làm tổn thương đến tâm thức cộng đồng có khi lại là... không khoa học. Ngôn ngữ là những ký hiệu có tính quy ước, được vận hành dựa vào sự đồng thuận của đám đông nên có khi tính hợp lý phải lùi bước trước tập quán. Đó là chưa nói những thay đổi đó, việc luật hóa đó có thật sự hợp lý và có tính thuyết phục cao hay không”.

Và anh nhấn mạnh: “Theo tôi, những cải tiến đơn giản, tiện lợi và không gây nhiều xáo trộn đến sinh hoạt xã hội thì có thể làm được. Chẳng hạn trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, việc thêm các phụ âm như j, f, w, z... vào bảng chữ cái để người Việt, đặc biệt là trẻ em, có thể đọc, viết được những từ thông dụng như quần jean, nhạc jazz, wifi, lướt web, bánh pizza... là rất cần. Chữ viết là công cụ giao tiếp, diễn đạt, do đó tiêu chí hàng đầu là thuận tiện cho người sử dụng - cả người viết lẫn người đọc. Mọi cải tiến, luật hóa nếu đưa đến sự bất tiện sẽ khó được cộng đồng chấp nhận, vì vậy tính khả thi không cao. Hiện tượng này không chỉ chữ Việt mới gặp phải mà xảy ra ở nhiều ngôn ngữ trên thế giới”.

Tuy nhiên, ta phải thừa nhận rằng, từ hình thức ký âm từ Từ điển Việt - Bồ - La của Nhà truyền giáo Đắc Lộ (1651) đến Đại Nam quấc âm tự vị (1895) của Huình Tịnh Paulus Của đã có sự thay đổi. Rồi sau đó vẫn còn thay đổi,  Sự thay đổi này, do nhà từ điển ghi nhận từ cách viết/ lời ăn tiếng nói đã phổ biến và được chấp nhận trong cộng đồng. Nói cách khác, chính cộng đồng đã “cải cách” và dần dần trở nên thông dụng, chứ không từ một can thiệp nào có tính cách hành chánh.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 14.12.2017

 

tranh-ganh-pho-rong-1read-only-1512702556675

Tranh "Gánh phở rong ở Hà Nội" của Maurice Salge (1913)

 

Đã viết bao nhiêu Tựa, Bạt cho bạn bè bồ tèo đồng nghiệp? Khó có thể nhớ hết. Hôm kia Phan Hoàng điện thoại bảo viêt cái gì đó cho tập sách sắp in. Nhận lời ngay. Y thích chơi với những ai chịu khó làm việc. Cứ viết. Cứ in báo. Cứ ra sách. Nhận sách mới của bạn bè, đôi lúc giật mình tự nhủ: “Ủa, còn mình thì sao?”. Hôm nọ, có người bảo: “Chơi với X chán như con gián, hắn ta kiêu căng lắm”, y trả lời: “Kệ, hắn ta có tài, chịu khó làm việc”. Chỉ cần thế là đủ còn hơn những ai khác dù khiêm tốn nhưng chẳng viết gì nên hồn, chỉ “chém gió” là giỏi. Hạng người đó mới đáng chán. Chán vì chơi với họ mình chẳng bắt chước thêm được gì hay ho, bất quá cũng chỉ là những buổi thù tạc “buôn dưa lê” lảm nhảm. “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Bạn bè văn nghệ, một khi với người ham thích viết, chịu khó viết, dù không nói ra nhưng cũng là một cách để tự mình noi gương theo.

Viết gì cho Phan Hoàng? Viết rằng: “Phan Hoàng, nhà thơ? Tất nhiên. Phan Hoàng, nhà báo? Tất nhiên. Phan Hoàng, người viết biên khảo? Tất nhiên. Phan Hoàng, người phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam nhiều nhất làng báo? Tất nhiên. Trong cái sự tất nhiên ấy, hoàn toàn không có gì ngẫu nhiên. Nghĩ cho cùng, làm nên các trang văn của Phan Hoàng qua từng năm tháng vẫn là đi, đọc, quan sát, nhận xét và cuối cùng là viết. Miệt mài viết. Nghề văn, hạnh phúc nhất, hài lòng nhất là gì? Viết. Không có một từ nào có thể hoán đổi và so sánh với niềm vui kỳ diệu ấy.

Tôi quen biết Phan Hoàng từ những năm anh còn là sinh viên. Trong số các nhà báo tương lai ngày ấy, khi cộng tác với trang Nữ sinh viên của báo Phụ Nữ TP.HCM do tôi phụ trách, nay, hầu như chẳng mấy ai theo nghề. Cả thẩy hầu hết bỏ cuộc, Phan Hoàng vẫn tiếp tục bền bĩ.

Sài Gòn ngọt từ da thịt ngọt ra là tập sách mới nhất của Phan Hoàng. Cũng phải thôi, nhũng người tứ xứ đến lập nghiệp, như Phan Hoàng chẳng hạn, đã đến lúc viết cái gì đó về vùng đất này. Một địa danh của tình cảm gắn bó. Một không gian sống để thành danh như hôm nay. Âu cũng là tình là nghĩa của một nhà thơ đã tự nhủ: “Với Sài Gòn - vùng đất không phân biệt gốc tích xuất thân, nếu chịu khó làm việc, sống nghĩa tình với nhau thì ai cũng có thể làm tốt công việc mà mình yêu thích. Và tôi, một trong số những người đó. Không chỉ là quê hương thứ hai cưu mang, nâng cánh cho mình mà tôi yêu thành phố này còn vì những con người tài năng, hào hiệp, nghĩa tình mà thế hệ nào cũng nổi lên những hình ảnh đáng trân trọng”.

Vâng, trong tập sách này thêm một điều khiến ta cảm tình với Phan Hoàng còn là những tên tuổi, những ân nhân, những đồng nghiệp mà anh đã từng gặp gỡ từ những ngày đầu tiên đến với Sài Gòn. Anh nhắc lại sự ân tình. Có trước có sau. Có thủy có chung. Nào riêng gì anh, nhiều người thanh danh cũng chọn lấy phép ứng xử ấy.

Hãy cầm lấy Sài Gòn ngọt từ da thịt ngọt và chia sẻ tiếng lòng của Phan Hoàng đã nói hộ cho nhiều người: “Thành phố lớn nhất đất phương Nam ẩn chứa nhiều bất ngờ thú vị và có sức hấp dẫn lớn, luôn dung nạp, cảm hóa, tạo bệ phóng cho những tài năng dựng nghiệp. Nhất là những người sa cơ thất thế. Thành phố này cũng là nơi mở đầu cho nhiều chương trình hoạt động xã hội từ thiện có sức lan tỏa rộng lớn trên tinh thần nghĩa hiệp “Làm ơn há dễ trông người trả ơn” của Lục Vân Tiên”...

Ấy cũng là tinh thần xuyên suốt của tập sách này.

Bên cạnh đó, Phan Hoàng còn viết về “cổ tích” của Sài Gòn qua các giá trị văn hóa, những đổi thay thăng trầm năm tháng. Thật ra vấn đề này nhiều người đã viết, và sẽ còn tiếp tục viết nữa nhưng ở đây Phan Hoàng đã chọn cho mình một cảm hứng là thổi vào đó cảm xúc của thơ, của cái nhìn nhà thơ. Nhờ đó, cũng vấn đề đó nhưng qua cái nhìn của anh, nó đã có một sắc thái mới và đậm dấu ấn cá nhân.  

Khi hay tin Phan Hoàng ra sách mới (và cũng như các bạn văn khác), tự lòng tôi bao giờ cũng giờ cũng có tiếng reo vui. Tiếng reo ấy là đã bắt gặp đồng điệu của những con người lao động miệt mài cùng con chữ. Những người say mê làm việc và luôn có sách mới, tự họ cũng là một sự thôi thúc cho chính mình vậy”.

Viết về bạn cũng là viết về mình. Sự đồng điệu còn là chỗ đó.

Mới đây, về ẩm thực nước nhà, món phở một lần nữa được tôn vinh. Báo Tuổi Trẻ khởi xướng Ngày của phở Việt Nam, chọn 12.12. Vì sao chọn ngày này? Cứ như theo trả lời của Ban biên tập tờ báo này “là ngày dễ nhớ”. Trong khi đó, từ năm 2016, Người Nhật đã chọn 4.4 là Ngày phở Việt Nam tại Nhật Bản. Không rõ vì sao xứ Hoa Anh Đào lại chọn ngày này? Quái, chỉ thoạt nhắc đến phở, liên tưởng đến tái, nạm, gầu, sụn, lá xách, gầu gòn… là đã thèm thuồng.

Trong lúc ăn phở, có nhấm nháp thêm chút rượu thì tuyệt chăng? Có thể lắm, ví như rượu Hồng Đào chẳng hạn. Vấn đề này, chính y là người đã khơi dậy chừng mươi năm trước. Nay, không ngờ báo Công An Đà Nẵng ngày 14.13.2017 có bài viết Quanh chuyện "cô gái Hồng Đào" của Thái Mỹ, nhắc lại lần nữa. Cũng nhờ internet, nếu không làm sao có thể biết? Bài báo viết rằng: “Có lẽ đến bây giờ việc tranh luận rượu Hồng Đào có thật hay không có thật vẫn chưa đến hồi kết. Báo Thanh Niên điện tử ngày 11.3.2006 đăng bài "Rượu Hồng Đào hoàn toàn không có thật" của nhà thơ, nhà báo Lê Minh Quốc, tiếp đó, ngày 18.3.2006, đăng tiếp bài tranh luận "Rượu Hồng Đào cớ sao lại không có thật?" của nhà báo Nguyễn Trung Dân. Chưa nói về nội dung, chỉ riêng hai cái tít bài thôi cũng cho chúng ta thấy mỗi người có một khẳng định trái ngược nhau.

Rồi ngày 3.11.2007, Báo Bình Định online có bài "Tìm quê cho rượu Hồng Đào" của hai tác giả Vĩnh Hảo - Thạch Trung có cái kết rất khác với nhiều người là rượu Hồng Đào được ngâm từ rượu... Bàu Đá của Bình Định, ủ với trái đào tiên màu hồng tươi rất đẹp? Trái đào tiên có nhiều ở các vùng núi phía tây tỉnh Bình Định. Còn tại sao gốc tích rượu Hồng Đào ở Bình Định mà lại gắn bó với hai câu ca dao "Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm/Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say" thì hai tác giả cho rằng năm 1471, vua Lê Thánh Tông bình Chiêm, lập ra Thừa Tuyên Quảng Nam thứ 13 của Đại Việt. Khi ấy phần đất từ bờ bắc sông Thu Bồn trở ra đèo Hải Vân mang tên huyện Điện Bàn, thuộc trấn Thuận Hóa. Đến năm 1604, Nguyễn Hoàng tách vùng đất này nhập vào trấn Quảng Nam. Vùng đất Quảng hồi đó rất rộng lớn, bao gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên bây giờ.

Ngày 14.12.2007, Báo Quảng Nam online đăng bài: "Rượu Hồng Đào có gốc tích từ làng Bảo An" của tác giả Phó Đức Vượng đã khẳng định như tên bài báo. Tiếp đến ngày 29-9-2013, Báo Quảng Nam đăng bài "Xứ nào là xứ rượu Hồng Đào?"của tác giả Lê Nguyên Đại lại kết luận rượu Hồng Đào là thứ rượu huyền thoại, không có thật... Theo cuốn sách "Bảo An đất và người" (nhiều tác giả, NXB Đà Nẵng năm 1999) cho biết, làng Bảo An có bến Đường, tức là bến sông từ Bảo An ra sông Thu Bồn để chở đường của làng Bảo An đi bán khắp nơi trong nước. Do có nhiều đường, mật, người Bảo An sớm biết dùng để làm nguyên liệu nấu rượu. Rượu được cất bằng gạo tẻ hoặc nếp và mật hoặc đường. Men rượu được chế biến bằng thuốc bắc và dùng những dụng cụ bằng gốm tốt, vì vậy rượu Bảo An thơm ngon, nức tiếng từ lâu đời.

Còn theo truyền thuyết dân gian thì tại làng Gò Nổi, Điện Bàn, Quảng Nam ngày xưa có một gia đình nông dân họ Nguyễn chỉ có hai cha con. Người cha  làm  nghề trồng dâu, nuôi tằm, gieo lúa và nấu rượu. Cô con gái mười tám, đôi mươi hàng ngày theo cha chăn tằm, dệt lụa. Cô gái tên là Hồng Đào, rất xinh đẹp, lại hiền thục, đoan trang nhất làng, được bà con gần xa thương yêu, quý mến. Vào mỗi chiều hàng ngày khi xong việc đồng áng, chăm tằm, dệt lụa, Hồng Đào còn phụ giúp cha bán rượu cho dân làng. Cha nàng nấu rượu bằng gạo lúa mới, ướp hương thơm từ những quả đào chín mọng rồi ủ trong chum sành, chôn sâu dưới đất nên rất thơm ngon…

Cũng theo các cụ cao niên vùng đất Gò Nổi thì rượu Hồng Đào là có thật. Ngày trước bà con nông dân nơi đây làm rượu theo lối thủ công với nguyên liệu chính là nếp hồng Bà Rén, một loại nếp đặc sản của Điện Bàn. Trong quá trình ủ men, người làm cho thêm trái bồ quân để tạo vị thơm ngọt và có  màu hồng rất đặc trưng. Ngày trước lúa gạo ít, bà con nông dân thường để lúa ăn đợi giáp hạt nên chỉ đến mùa gặt mới dành chút gạo nấu rượu. Gạo nấu phải là  lúa mới, không quá 100 ngày, được xay bằng cối tre, hạt gạo còn nguyên, xanh ngà, hạt cơm không nở to. Sau khi cơm nguội trộn với một ít men, ủ trong chum sành khoảng một tuần mới đem chưng cất rồi đổ rượu vào chum chôn dưới đất sau 100 ngày mới lấy lên dùng”.

Chà, vấn đề về rượu Hồng Đào đến nay gốc gác của nó ra làm sao, vẫn chưa thể có kết luận cuối cùng. Mà món phở cũng vậy chăng? Y đã viết nhiều bài về phở nhưng rồi cũng không thể tìm ra nguồn gốc phở. Chỉ có thể khảo sát từ sự ghi nhận của từ điển mà phát đoán năm ra đời. Chẳng hạn, Tự điển Việt - Bồ - La (1651) của Alexandre Rhodes, Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (1895) cũng chưa có từ phở.

Cần lưu ý Tự điển Việt - Pháp của Genibrel (1898) đã có ghi nhận từ phở. Phở lỡ, làm phở, nói phở được hiểu theo nghĩa ồn ào, ầm ĩ, náo nhiệt, sôi nổi. Phở lại tương đồng với phớ như phớ lớ, la phớ lớ, mừng phớ lỡ hiểu theo nghĩa vui mừng, hoan hỉ… Mãi đến năm 1931 với Việt Nam tự điển do Hội Khai trí Tiến Đức khởi thảo thì từ phở mới chính thức trình làng và được ghi rõ: "…Món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò" và liệt kê ra phở xào, phở tái. Thật lạ, chẳng rõ vì lý do gì các từ phở/ phở lỡ lại không còn được ghi nhận, nó lại “nhảy” qua thành phớn/ phớn phở là “trỏ bộ vui mừng hí hửng”, nay Đại từ điển tiếng Việt (1999) xếp đồng nghĩa với “hớn hở”.

Vậy thì, các từ phở lỡ/ phớ lớ ấy mất đi chăng? Không hề, trong khi từ điển miền Bắc không ghi nhận nữa thì từ điển trong Nam lại còn. Bằng chứng là mãi đến năm 1970, Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ vẫn còn: “Phở: Vỡ, tiếng vang inh ỏi; phở trận: vỡ trận, to chuyện, la lối, dập phá v.v… Xét ra vẫn không khác gì hàm nghĩa mà Genibrel đã giải thích.

Tóm lại đi thôi, đang bàn về món ăn khoái khẩu lại nhảy vèo qua chữ với nghĩa, có nên chăng? Ừ, tóm lại năm tháng ra đời của phở chỉ có thể đầu thế kỷ XX, khoảng từ  thập niên 1910 -1920 chăng? Thử hỏi đến nay đã có cả thảy bao nhiêu loại phở? Tha hồ ngồi bấm ngón tay mà tính cho vui cái sự đời. À, việc gì phải nhọc công đến thế, cứ xem các nhà ngôn ngữ học đã lần lượt đưa nó vào từ điển là xong. Các sự liệt kê dù đầy đủ nhưng xem ra nhẹ hều, chẳng thể nào hấp dẫn bằng đôi thơ của Tú Mỡ. Thơ rằng: “Một vài xu, nào đắt đỏ mấy mươi/ Mà đủ vị: ngọt, bùi, thơm, béo, bổ/ Này bánh cuốn, này thịt bò, này nước dùng sao nhánh mỡ/ Ngọn rau thơm, hành củ thái trên/ Nước mắm, hồ tiêu, cùng dấm, ớt điểm thêm/ Khói nghi ngút đưa lên thơm ngát mủi”.

 Đọc ngâm nga tới chừng đó, đã muốn tắt máy vi tính, xuống phố thưởng thức bát phở ngon. Rồi ngâm nga câu thơ đã viết lúc ra Hà Nội: “Phở ạ! Sao mà trân trọng vậy/ Thưởng thức quán nào cũng thấy ngon/ Nước trong. Khói biếc. Tương cay đậm/ Tuyệt lắm. Trời ơi ! Tái nạm giòn/ Thêm một chút tiêu. Thêm chút ớt/ Cong cớn môi hồng cứ xuýt xoa/ Yêu em có lẽ vì … mê phở/ Vị ngọt trên môi cũng đậm đà”.

Em nào vậy hả Q? Nghe hỏi thế, y bèn cười.
 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.12.2017



24862164_810553412463358_5551402071256323193_n

 

Đã đọc Nhật ký qua các tập Ngày trong nếp ngày, Ngày viết mỗi ngày, Ngày sống đời thơ, Ngày đi trên chữ ắt nhận ra, thỉnh thoảng y đã tẩn mẩn ghi lại dấu vết lời ăn tiếng nói của tháng ngày đang sống. Ghi để làm gì? Sự thay đổi của một xã hội, còn phản ánh qua ngôn ngữ/ngôn từ chứ không chỉ khảo sát từ những vấn đề to tát chẳng hạn, kỷ cương, luật pháp, chính sách… có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt, nếp sống toàn dân. Mới đây, cũng lời ăn tiếng nói đang phổ biến, khi đọc/ nghe cái câu vừa xuất hiện, y đã ngẩn tò te. Bèn vận dụng trí khôn ngoan đã từng đọc nhiều sách, nghe ngóng nhiều nơi nhưng rồi cũng bù trấc.

Rằng, “5c, 6 ệ, 5 d” là gì?

Xếp nó vào dạng “thành ngữ” mới ra lò hay công thức toán học?

Nếu các nhà làm từ điển tài ba cỡ nhà truyền giáo Đắc Lộ, Huình Tịnh Paulus Của, Lê Văn Hòe, Lê Ngọc Trụ, Lê Văn Đức, Thanh Nghị… từ các thế kỷ trước sống lại e cũng chào thua. Mà cũng phải thôi. Họ không đồng hành cùng chúng ta, làm sao có thể nắm bắt? Tựa như có nhiều vốn từ/ ngữ phổ biến thời đó, nay tìm lại đôi lúc ta cũng ngắc ngứ, đơn giản chỉ vì không còn ai sử dụng nữa. Thời gian đã phủ lên đó lớp bụi mờ lãng quên. Lạ thay, có những từ đồng hành gần đây nhưng rồi đâu phải ai cũng hiểu, ai cũng có thể giải thích rõ nội dung và nhất là nó đã ra đời trong hoàn cảnh nào, lý do tại làm sao?

Trong bài viết Làm nghiêm để lấy lại lòng tin trên báo Tuổi Trẻ số ra ngày 10.12.2017, khi phát biểu về vấn đề Quy trình bổ nhiệm đúng mà sao cán bộ sai?, ông Lê Như Tiến - nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội đã “bật mí” về “công thức” rặt các con số “5c, 6 ệ, 5 d” như sau: “Đúng là việc sử dụng cán bộ theo công thức 5 "ệ" (quan hệ, tiền tệ, hậu duệ, đồ đệ, trí tuệ), 5 "c" (con cháu các cụ cả) đang rất phổ biến. 5 "ệ", 5 "c" đè lên các nguyên tắc khác, dẫn đến hậu quả 5 "đ" (đố đưa đi đâu được)”.

Chỉ ghi đến đây thôi, không dám có thêm lời bình, Vì rằng, trong thời đại đang sống có những điều kỳ quặc đã trở nên bình thường. Riết rồi, chẳng gì đáng ngạc nhiên. Trước kia, kỳ thi nọ ở tỉnh nọ ra đề cho các em học là bàn về chuyện ca sĩ Sơn Tùng đau răng. Báo chí phản ứng ầm ầm. Nay lại một ca sĩ khác cũng nhảy xổm vào đề thi, hầu như báo chí không mấy quan tâm nữa, xem như đã bình thường. Xét rằng, tình thần phản biện trên báo chí dường như đã “chuyển giao” cho các trang mạng xã hội rồi chăng?

Thật khốn khổ khốn nạn cho các bậc phụ huynh khi biết rằng, con cái mình phải “Nung nấu tâm can vò võ trán” với cái đề thi chết tiệt này: “Chi Pu tên thật là Nguyễn Thùy Chi, cô bắt đầu nổi danh từ cuộc thi Miss Teen 2009, hiện là một hot girl được nhiều bạn trẻ yêu thích. Tháng 10 vừa rồi, Chi Pu tung MV Từ hôm nay đánh dấu chuyển mình trở thành ca sĩ. Ngay lập tức, cô vấp phải nhiều tranh cãi trên mạng xã hội.

Hương Tràm là người đầu tiên đưa ra quan điểm mạnh mẽ: ‘Không biết hát thì đừng mang nghề ca sĩ ra để kiếm tiền. Tóc Tiên, Thanh Lam, Thu Minh, Quốc Thiên, Văn Mai Hương cũng có cùng quan điểm. Không chỉ vậy, ảnh chế về cô xuất hiện ở khắp nơi. Những clip xuyên tạc được thực hiện thu hút hàng trăm nghìn lượt xem.

Mặc dư luận ‘ném đá’, giọng ca Từ hôm nay cho biết cô không bị ảnh hưởng nhiều bởi điều này. Hiện, cô vẫn tiếp tục luyện tập thanh nhạc để chứng minh con đường ca hát mình chọn là đúng, mỗi tháng cô sẽ ra mắt một MV.

Hãy hóa thân vào Chi Pu, viết một bài văn tự sự có sử dụng yếu tố biểu cảm kể về một ngày của mình sau khi ra mắt MV Từ hôm nay”.

Đôi khi chẳng thiết phải Nhật ký nữa. Bởi những trò hề nhảm nhí, nhố nhăng bất kỳ ai có nhận thức một chút, chưa đến nỗi phải tạm trú ở nhà thương Biên Hòa cũng thừa biết rằng không nên nói/viết/đề xuất vấn đề đó nhưng rồi nó vẫn cứ diễn ra, chẳng lẽ, mỗi ngày phải ghi nhận rồi bình luận về nó? Có mà ngộ độc chết tươi. Hãy tập cách bình tâm và phớt lờ, cái đề thi nêu trên mà một thí dụ; “đấu tố” nhân vật Chí Phèo để đòi loại bỏ ra khỏi sách giáo khoa là một thí dụ; cải cách chữ Quốc ngữ của Bùi Hiền là một thí dụ v.v… Điều đáng nói hơn cả là sự quái gỡ kỳ quặc đó lại xuất phát từ những người có ăn có học, chứ không phải hạng cùi bắp dốt nát i tờ… Thế thì, bao nhiêu năm các con em chúng ta đã được học hành, học tập từ các bậc nhà giáo uyên bác và  đáng kính ấy?

Mà nào đã hết đâu. Thì cũng báo Tuổi Trẻ ngày 7.12.2019 thông tin rằng: “Giờ vào lớp quá sớm, học trò đờ đẫn vì thiếu ngủ”. Có phải học để làm quan hay không mà từ trước 6 giờ sáng các em học lớp 1 phải thức dậy chuẩn bị đến trường? “Tương tự, tại TP.HCM, hầu hết các trường THCS, THPT đều quy định 6h45 học sinh phải có mặt ở trường. Nhiều trường lấy luôn giờ này là giờ bắt đầu vào tiết 1”. Thậm chí “Để ngăn ngừa tình trạng học sinh đi học muộn, một số giáo viên còn ra "quy định riêng" với lớp mình, là học sinh phải có mặt vào 6h40!”. À, chuyện này không mới, còn nhớ Nhật ký mấy năm trước đã ghi nhận. Dù các bậc phụ huynh la oai oái nhưng nay, có thay đổi gì đâu, “vũ như cẩn”, dẫm chân tại chỗ.

Nhân đây, cũng trích lại từ số Tuổi Trẻ vừa nêu trên để xem học sinh các nước trên thế giới đã vào lớp học có gì khác ta? “Vào tháng 5 năm nay, Singapore có một cuộc tranh cãi về giờ đi học. Hầu hết các trường tại Singapore bắt đầu giờ học lúc 7h30, nhưng trường nữ sinh Nanyang Girls’ High School đã gây chú ý khi dời thời gian vào lớp trễ 45 phút: 8h15. Lý do trường này đưa ra là học sinh cần ngủ đủ giấc để đảm bảo sức khỏe, có buổi sáng tỉnh táo.

Tại Trung Quốc, ở các thành phố lớn, phát triển như Bắc Kinh, Thượng Hải, học sinh thường đi học muộn (ít nhất 8h mới nhập học), và kết thúc lớp học vào khoảng 3h chiều, sớm hơn 2 giờ so với mặt bằng cả nước. Cách thức bố trí thời gian này tương đồng với hầu hết các quốc gia châu Âu, khi giờ nhập học phải sau 8h sáng, và thường kết thúc lúc 14h30- 15h.

Riêng tại Phần Lan, quốc gia nhiều năm nay được ca ngợi về chất lượng giáo dục, có những trường mở đầu ngày học từ 9h-9h45 (mặt bằng chung là 8h-9h sáng), và kết thúc lúc 14h. Trung tâm Phòng chống và kiểm soát dịch bệnh Mỹ cũng khẳng định mốc vào học 8h sáng hiện nay là quá sớm, khuyến cáo các trường chỉ nên cho học sinh vào lớp sau 8h30.

Năm 2014, tờ Herald Sun cho biết bộ trưởng giáo dục Úc Martin Dixon ủng hộ việc linh hoạt giờ giấc vào lớp hơn. Lấy ví dụ, trường điểm Melbourne High School cân nhắc giờ khởi đầu lớp học là 9h30, trong khi Trường Templestowe bắt đầu tận 10h30 sáng”.

Trong nhiều việc làm cần thay đổi, hầu như những ai đó được phong “tổng tư lệnh” của ngành nào đó thường nghĩ đến những việc đội đá vá trời. Trong khi đó thân phận dân đen chỉ ước gì thay đổi từ những việc nhỏ nhặt nhất, sát sườn nhất. Được thế đã là may, chứ cần gì phải những gì to tát mà phù phiếm. Mà việc nhỏ làm không xong thì kham sao nổi việc lớn? Theo dõi thời sự hằng ngày, dễ dàng nhận một điều là có những việc ì ạch, trì trệ quá lâu, dù công luận đã lên tiếng ầm ầm. Thế thì, đôi lúc lại tự hỏi: Đâu là tiếng nói của báo chí nhằm tác động thay đổi một vấn đề nào đó cho xã hội ngày một tốt đẹp hơn?

 Khi Chế Lan Viên viết: “Quanh hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê/ Lòng ta đã thành rêu phong chuyện cũ”. Dửng dưng mọi việc. Không quan tâm gì sất. Có phải đó lúc con người ta quá ngao ngán với hiện thực trần trụi đã diễn ra từng ngày chăng? Có phải đó lúc con người ta cảm thấy mệt mỏi đến bất lực, biết rằng không thể thay đổi được điều gì tốt đẹp hơn, chi bằng chui vào cái tôi tủn mủn nhỏ bé để tìm quên chăng? Nói gì thì nói, sống trong một xã hội tốt đẹp, văn minh, người đối sử với người như đồng loại thì con người ta mới quan tâm đến các giá trị văn hóa chăng? Bằng không chỉ là những vặt vãnh xoay quanh miếng cơm manh áo chăng?

Hằng ngày, y vẫn ngồi một chỗ, cùng bàn phím viết nhì nhằng nhưng đôi lúc cũng thoát ra “tháp ngà văn chương”. Đi xuống phố. Gặp bạn bè nọ kia cùng “buôn dưa lê”. Thật lạ, hầu như không một ai quan tâm, nhắc đến một hai sự kiện văn hóa vừa diễn ra. Biết đâu vẫn có người quan tâm đấy chứ? Ừ, hy vọng là thế. Ghi lại kẻo quên: Hát Xoan Phú Thọ và nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Rằng, tại Jeju, Hàn Quốc, chiều ngày 7.12.2017 trong kỳ họp thứ 12 của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003, Nghệ thuật Bài Chòi Trung bộ Việt Nam đã được chọn. Ngày 8.12.2017 sau khi được UNESCO đưa ra khỏi danh mục bảo vệ khẩn cấp, Hát Xoan Phú Thọ cũng ghi danh vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại.

Báo Thể thao & Văn hóa ngày 7.12.2017 cho biết: “Theo tiêu chí của UNESCO, để được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, hồ sơ Bài Chòi của Việt Nam đã đáp ứng được 5 tiêu chí, chẳng hạn: “Nghệ thuật Bài chòi là một hoạt động văn hoá quan trọng trong cộng đồng làng xã, đáp ứng nhu cầu giải trí và thưởng thức nghệ thuật của cộng đồng, được truyền dạy chủ yếu trong trong gia đình, làng xóm, hội, câu lạc bộ và trường học. Việc thực hành di sản Nghệ thuật Bài Chòi thúc đẩy sự bình đẳng về giới tính cũng như sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng. Việc ghi danh Nghệ thuật Bài Chòi khuyến khích đối thoại giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân; tạo cơ hội trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm giữa những người thực hành, qua đó làm phong phú kiến thức và kỹ năng liên quan đến việc thực hành các hình thức nghệ thuật...”.

Sức hấp dẫn của bài chòi, theo y vẫn còn là sự độc đáo “bình cũ rượu mới”. Các con bài, thể lệ chơi vẫn giữ như cũ nhưng trong quá trình chơi, tùy theo cách hô của anh hiệu mà nội dung khác đi. Dù chuyển tải nội dung khác đi nhưng vẫn phải ra con bài đó. Nó được liên tục làm mới. Mỗi thời mỗi khác. Mỗi nơi mỗi khác. Nội dung của “hô thai” có hấp dẫn, có gây vui nhộn hay không còn phụ thuộc vào khả năng ứng biến ngẫu hứng/ chuẩn bị trước của anh hiệu. Khi đọc các sách nghiên cứu về bài chòi, ắt gặp những câu quen thuộc được xếp vào hàng “kinh điển”, tuy nhiên, không chỉ dừng lại đó mà nó còn biến hóa liên tục. Nhờ vậy, người chơi/người tham dự luôn thấy mới mẻ, không nhàm chán do các câu hô thay đổi, không lặp lại.

Năm kia, nhiều năm kia đi chơi Hội An, y đã chú tâm mua các con bài sử dụng chơi bài chòi, nhưng lại không tìm ra. Trong khi đó, cũng chỉ là thứ quen thuộc nơi nào cũng có. Thế mới biết, mặt hàng lưu niệm của ta nghèo nàn biết chừng nào. Ít có sự đột phá, tạo ra được nét biểu trưng văn hóa của địa phương đó, vùng đất đó.

Thông thường vào dịp cuối năm báo chí trong và ngoài nước lại bình chọn nhân vật tiêu biểu của năm. Ở nước Đại Nam này, y đề cử "nhân vật" nào nổi đình nổi đám nhất trong năm? Chỉ có thể là ông BOT chăng? Chỉ có thể là ông Táo/cái lò được đốt nóng bằng củi khô lẫn củi tươi chăng? Đã sắp hết một năm. Lại những ngày viết báo Xuân, báo Tết. Lại những ngày, “Ngồi buồn vọc với sắc màu/ Tím reo đỏ hát rầu rầu nắng mai/ Từ trong một đã là hai/ Kìa hiên Lãm Thúy nọ vai Thúy Kiều/ Tiền Đường xô dạt bóng xiêu/ Vớt lên Dĩ Vãng những chiều rỗng không/ Vẽ chơi lưu dấu bụi hồng/ Bàn tay mười ngón phiêu bồng nhẹ tênh”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 1.12.2017

3-BAI-THI-VIET-O-DA-NANG-THANG-11.2107

 

Có những ngày đời ta không nhật ký

Là những ngày trống vắng của đời ta

Bạn bè ngậm cay, người tình nuốt đắng

Ngẫm lại mình còn nhiều nỗi xót xa


Mình đã vậy thì chẳng cần phải viết

Dù lời buồn căm giận thấu cô đơn

Ta ngồi vẽ mười ngón tay mình vậy

Thấy hay hay rơi bảy giọt cầu vồng


Rồi lại nhặt với từng hồi ký ấy

Gặp lung linh trên những sắc và không

Vui hớn hở nhưng chưa từng sát hại

Một cành hoa mê mãi giữa cánh đồng...


Ấy là những câu thơ của Trần Hoàng Nhân tặng y. Vì rằng, cơn cớ tại làm sao có những ngày y lại không Nhật ký? Rằng, ông bà mình đã nói, đố sai: “Xay lúa thì khỏi bồng em”. Đã bận việc này, tất  nhiên phải thôi việc kia. Không thể ôm đồm. Cả nửa tháng vừa rồi, phải tập trung cho xong một quyển sách. Mẹ đã đi chợ về. Nhan đề hiền lành và giản dị. Có những điều bình dị, đến lúc mất đi, không gặp lại nữa, bấy giờ con người ta mới sững sờ tiếc nuối.

Sáng 29.11 là thất tuần của bạn cụ. Vừa bước xuống sân bay Đà Nẵng, chỉ kịp lấy quyển Ngày đi trên chữ, bản đầu tiên lấy ra từ nhà in, ghi tặng thật nhanh để Đoàn Tuấn kịp làm thủ tục bay đi Hà Nội. Chỉ chớp nhoáng. Kể ra cũng có sự thú vị của tình bạn. Lại nữa, có người bạn thân thiết từ năm tháng học vở lòng quyết định dời sinh nhật để y và nhà văn Nguyễn Nhật Ánh có dịp chung vui. Bạn Nguyễn Văn Sanh, nay đang là cán bộ của Phòng văn hóa Thông tin của quận Hải Châu. Tác phẩm Chúc một ngày tốt lành, chính tác giả ký tặng bạn. Còn y, theo yêu cầu của bạn ngoài rượu, còn là bài thơ nữa. Phải viết trên giấy dó làm kỷ niệm lâu bền.

Thơ rằng: “Bạn bè từ thuở lên 5/ 50 năm vẫn còn cầm bàn tay/ Tình thân thuở chớm con trai/ Từ xuân hồng đến thu phai vẫn tình/ Bạn nhìn mình lại thấy mình/ Mình cùng bạn vẫn nặng tình thủy chung”. Trong đời may mắn cho những ai có bạn thận thiết, chí cốt để có thể nhẹ nhàng bật ra những câu thơ tự lòng, không gì phải hoa hòe hoa sói rỗn rãng chữ nghĩa. Khổ tâm đối với người cầm bút, rất ư Kép Tư Bền vẫn còn là vì lý do gì đó, dù không thích nhưng vẫn cứ viết như thể rút ruột ra mà viết. Y lại khác. “Bạn nhìn mình lại thấy mình”. Một câu thơ có 2 từ “mình”, tưởng 1 nghĩa nhưng thật ra lại là 2. Cách viết này cũng là một cách học tập ca dao: “Nước non một gánh chung tình/ Nhớ ai, ai có nhớ mình hay chăng?”. “Nhớ ai” là nhớ đến người nào, một câu nghi vấn, do chưa biết nên mới hỏi. Nhưng “ai nhớ” lại là câu hỏi dành cho người cụ thể, rõ ràng. Cùng 1 từ ai nhưng lại có 2 nghĩa khác nhau.

Bạn nhìn mình” là lúc ấy, bạn nhìn vào người đối diện bởi tác giả tự xưng mình. Lúc nhìn ấy, bạn thấy gì? “lại thấy mình” thì mình lần này, chính là bản thân bạn. Khác hẳn cách biểu đạt trong ca dao như: "Mình về mình nhớ ta chăng/ Ta về ta nhớ hàm răng mình cười". Còn trong ngữ cảnh của bài thơ mà y đã viết, “ta” lại hóa thành “mình” để lái qua nghĩa khác dù vẫn ngầm hiểu là “ta”. Nói cách khác với bạn bè thân thiết cùng trang lứa, khi nhìn bạn cũng là lúc lại thấy thời gian đã đi qua của chính mình.

Bạn đã 50 năm rồi. Ít ỏi gì nữa?

Về Đà Nẵng lần này, tâm trạng thế nào? Câu thơ của Trần Hoàng Nhân ngẫu nhiên, lại đúng: “Ngẫm lại mình còn nhiều nỗi xót xa”. Xót xa gì mà còn? Vẫn là ước nguyện của bà cụ mà y chưa thực hiện xong, tức là phải bước ra ngoài tâm thế, ra khỏi không gian tự vấn của từ nhiều năm trước: “Đi không ai nhớ/  Về chẳng ai mong/  Xa không ai đợi/ Gần chẳng ai trông/ Mình tôi một bóng/ Sống phải phân tâm/ Vừa đóng vai vợ / Lại diễn vai chồng”. Quái quỷ, chiều nay, lúc  bước xuống sân bay Tân Sơn Nhất, câu thơ ấy bất ngờ vọng đến khiến rười rượi nao lòng.

Cảm giác bơ vơ ấy đè nặng tâm hồn là lúc con người ta một mình bước đến sân bay, sân ga, bến tàu… Sự đi/ đến ấy là một sự rỗng không, trống rỗng bởi dù chậm, dù nhanh chẳng có ý nghĩa gì cả. Có ai đang trông ngóng, chờ đợi gì đâu mà mình phải náo nức, phải bực rực đếm từng giây từng phút? Nỗi cô đơn da diết buồn bã của những ai xa nhà vẫn là lúc họ không thể về/ phải về chậm vẫn là khi biết có người thân đang ngóng đợi.

Còn y thế nào?

Chỉ nghĩ đến đó, đã thấy trong lòng một đường hầm sâu hun hút. “Đã từng ngày ngập lụt/ Nỗi hiu hắt rỗng không/ Phía bên ngoài đời sống/ Có ai hiểu tôi không?/ Tôi níu mây hỏi gió/ Chỉ gặp cuối chân trời/ Một câu thơ thất lạc/ Chỉ là cái bóng tôi”. Chẳng gì cả. Chỉ là cái bóng của chính mình. Người ngong ngóng đợi y từng giây, từng phút vẫn là mẹ. Nay còn đâu. Về nhà căn nhà của năm tháng tuổi thơ, nằm trên giường mẹ đã nằm năm tháng cuối đời. Làm sao lại không nhớ về ngày tháng yên vui nhất của đời mình? “Căn phòng xưa mẹ nằm/ Nhường cho con hơi ấm/ Bây giờ mẹ về đâu?/ Vọng lời thưa mây trắng/ Chân trời ngọn hoa lau/ Ru câu kinh thầm lặng”. Và như tất cả mọi người con lúc mất mẹ: “Mọi hoa hồng, với con/ Từ đây đều hóa trắng…”.

Tập sách Mẹ đã đi chợ về viết về mẹ, ba, anh, chị đã xong. Có bổ sung gì không? Chỉ thêm 1 bài thơ. Vậy là đủ.

Rồi lại trở về với những tháng của Nhật ký. Với y cũng là một cách trò chuyện đấy thôi. Không ai có để bù khú, tán phét, buôn dưa lê, bàn chuyện tào lao trên trời dưới đất, tâm tình thân mật thì y phải tìm cách khác: Nhật ký. Vậy mình trò chuyện với mình vậy. Không viết thì vẽ. Vẽ cũng chẳng khác gì. Cũng là lúc tỉ tê, hỏi han lấy mình vậy. “Ta ngồi vẽ mười ngón tay mình vậy/ Thấy hay hay rơi bảy giọt cầu vồng”, Trần Hoàng Nhân nói đúng lắm.

Cuối cùng là gì? Không riêng gì Nhân, bạn đọc và đồng nghiệp đã thấy rõ một điều: Những trang viết dựng lên một đời viết. Đôi lúc, y cũng cảm thấy ngao ngán, thở dài: “Viết gì lắm thế, ngày nào cũng viết?”. Làm sao có thể trả lời đây, hả Q? Chẳng biết nữa.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 18.11.2017

 

phoca_thumb_l_le-minh-quoc-y5tat-ca-deu-lammcon-nho-me

Tất cả đều làm con nhớ mẹ

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 16.11.2017

phoca_thumb_l_le-minh-quoc-2metoi_ngoi_khua_ao

Mẹ tôi ngồi khâu áo

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 13.11.2017

ba-mebua_com_c_me

 

Bữa cơm có mẹ

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 11.11.2017

Anh-DTT.-Phong-Quang1RR

Nhà văn, nhà báo Dương Thành Truyền

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 12.11.2017

ramatveit-tu-hoi-ay-3-tho-tien-3R

 

Sáng hôm qua, thứ bảy, dù ngày nghỉ nhưng cũng phải ra Đường sách. Làm MC giúp nhà báo Ba Thợ Tiện trong chương trình ra mắt bộ sách Viết từ hồi ấy (2 tập - NXB Hội Nhà văn) của anh. Anh em bồ tèo ra sách mới, tự dưng thấy lòng vui. Cũng là một cách thúc giục mình phải viết, rồi cũng có sách mới. Mai sau, còn lại gì không? Cứ hỏi, chẳng thèm trả lời cứ cắm cúi viết từng ngày, mỗi ngày. Cầm bộ sách của một người đã viết ròng rã từ năm 1975 đến thời gian gần đây, dù những bài tạp bút có tính thời sự nhưng đã thấy nể nang. Hai tập cả hàng ngàn trang in. Đã từng viết từng chữ, từng chữ, mới biết sự lao động ấy nhọc nhằn ra làm sao.

Ối dào, lúc ấy trên đỉnh trời, mây trắng vẫn thong dong, vẫn lãng du nhẹ tênh như không. Hỡi ôi, ta lại cúi mặt gõ từng chữ, từng chữ. Buồn hay vui. Có tị nạnh không? Không hề. Đã mây thì bay/. Đã nước thì chảy. Đã cỏ thì xanh. Đã cầm bút thì viết. Khi viết Lời giói thiệu bộ sách này, bạn y, nhà nghiên cứu văn học Bùi Quang Huy kết luận: đó là “con người kỳ quặc”.

Đúng vậy. Từ năm 1966, sau khi tham bị chính quyền Sài Gòn truy đuổi, bắt giam 6 tháng vì đã tham gia phong trào đấu tranh Phật giáo, từ Quảng Nam, anh Ba Thợ Tiện phải chạy vào Sài Gòn náu thân. Đêm đầu tiên tại một nơi không hề có bà con thân thích, anh xin ngủ nhờ ở Cô nhi viện Quách Thị Trang (nay thuộc đường 3/2). Qua ngày thứ hai, anh xin vào làm công quả tại chùa Ấn Quang và trở thành người xuất gia, pháp danh Minh Ngọc. Sau đó, anh theo học ngành y, thực tập ở Phòng thí nghiệm Bệnh viện Bình Dân.

Có một dấu ấn khó quên, là bấy giờ bằng sự nhậy cảm của một tâm hồn thi sĩ, anh đã viết nhiều thơ in trên báo chí công khai Sài Gòn, ký bút danh Hoàng Thoại Châu. Năm 1968, anh xuất bản Áo trắng ngày xưa - tập thơ đầu tay này được Tổ đình Quan Thế Âm tài trợ in ấn, phát hành. Sau đó, năm 1969, anh liên hệ với Nha Kiểm duyệt để xin giấy phép in tập thơ thứ 2 Tình biển nghĩa sông. Đọc bản thảo tập thơ, với tư cách là người “gác cửa”, nhà văn Võ Phiến lắc đầu, trao đổi với anh: “Nếu Đại đức gửi cho chúng tôi một tác phẩm nhẹ hơn, tôi sẽ ký ngay. Ký tại chỗ”. Tất nhiên anh không đồng ý.

Vậy làm thế nào vẫn tập thơ vẫn in được mà không bị “ốp”, tịch thu vì không có giấy phép?

Trong “cái khó ló cái khôn”, anh nghĩ đến giấy phép của tập thơ đã in lần trước, và “láu cá” thêm vào đó mỗi một từ “bis”. Lần nay vị Thượng tọa của Tổ đình Quan Thế Âm lại ủng hộ, mạnh dạn đứng ra lo liệu. Mọi việc suông sẻ. Tháng 9 năm ấy, tình cờ đọc báo Chánh Đạo, anh biết tin về Giải thưởng Văn học Nghệ thuật lần thứ nhất (1967-1969) của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Anh liền đem tập thơ Tình biển nghĩa sông gửi dự thi.

Có một điều bất ngờ đến kỳ quặc là tập thơ in “chui” ấy, không có giấy phép chính thức của Nha Kiểm duyệt lại lọt vào mắt xanh của Ban giám khảo bộ môn Thơ - gồm những nhà thơ rất uy tin như Vũ Hoàng Chương, Bàng Bá Lân… Tên tuổi anh đã được xướng danh tại phòng Khánh tiết ở Dinh Độc lập. Đặc biệt, thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã phóng bút tặng anh 8 câu thơ bằng nét bút rồng bay phượng múa: “…Một phen nhả ngọc phun châu/ Địa linh nhân kiệt từ lâu tiếng đồn/ Vang rền đợt sóng Vũ môn/ Lắng nghe nước Việt thả hồn trong thơ”.

Các chi tiết liên quan đến giải thưởng thơ của Ba Thợ Tiện, ít nhiều cho thấy cách quản lý văn hóa của một thời. Ăn theo thuở ở theo thời. Thời này, có những sự việc liên quan đến xuất bản, báo chí khó có thể lặp lại, Tuy nhiên, với sự “nở nồi” của internet, người ta lại có cách khác. Tất nhiên rồi. Đã cầm bút, nói gì thì nói, họ cũng đều muốn công bố các trang viết, dù hay, dù dở. Đó là một sự hiển nhiên. Chẳng ai viết xong, bỏ vào hộc tủ, khóa lại, chỉ mình mình biết chỉ mình mình đọc. Có mà cuồng chữ.

Sau Tết Âm lịch năm 1972, anh tiếp tục cho in Tình biển nghĩa sông (tập 2). So với tập thơ trước, tinh thần quật, tự hào dân tộc, đấu tranh cho hòa bình, thống nhất càng nồng nhiệt hơn. Đồng tình với một thái độ dấn thân, lòng yêu nước của anh, hai nhà văn đàn anh Sơn Nam và Kiên Giang đã viết lời giới thiệu. Nói như nhà thơ Kiên Giang: “Thơ Hoàng Thoại Châu mang tinh thần phản chiến. Bởi có thi sĩ chân chính nào lại biểu đồng tình với súng đạn và cổ võ chiến tranh diệt chủng. Tuy nhiên Hoàng Thoại Châu không lên án chiến tranh bằng những “lời thơ gây tiếng nổ” mà bằng hơi thở và âm thanh nhẹ nhàng, vì bản tính của thi sĩ không tách rời với đặc tính hiền hòa của người Việt Nam”.

Tương tự lần trước, Tình biển nghĩa sông (tập 2) đã tạo ra dư luận sôi nổi trên báo chí. Bấy giờ, phong trào đấu tranh chống chính quyền Sài Gòn ngày một dữ dội, tất nhiên Hoàng Thoại Châu không đứng ngoài cuộc. Anh cùng các trí thức sinh viên yêu văn nghệ đã thành lập nhóm Hướng Dương. Nhóm này chủ trương in các tác phẩm tự tình dân tộc, “về nguồn”, phàn chiến, đấu tranh cho hòa binh thống nhất như của Hoàng Thoại Châu, Huỳnh Ngọc Trảng, Phan Viên Hoài, Trần Hào, Hàng Chức Nguyên, Trần Thế Hùng… Và chính những trí thức này đã tạo ra một Vụ án văn nghệ Quán Mù U nổi đình nổi đám một thời.

Vào ngày 1.1.1974, họ tổ chức ra mắt tập truyện ngắn Những trái tim hồng, tiếp tục phát hành tập thơ Tình biển nghĩa sông tại quán Mù U trên đường Nguyễn Văn Thoại. Thơ và các ca khúc mang tinh thần Dậy mà  đi, Người mẹ Bàn Cờ, Nối vòng tay lớn… qua các giọng ca “vàng” Đài Phát thanh Sài Gòn, nhạc sĩ của phong trào SVHS đã bị đàn áp khốc liệt bởi dùi cui, lựu đạn cay của cảnh sát, mật vụ. Cùng nhiều người khác, Hoàng Thoại Châu cũng bị bắt. Sau khi trải qua nhà tù Chí Hòa, anh đã bị đưa ra Côn Đảo. Đó là nơi mà sau này anh cho rằng chính là “địa ngục của địa ngục”. Vậy, anh đã giữ vững khí tiết như đã tuyên bố trong 2 tập thơ Tình biển nghĩa sông bằng cách nào? Anh cho biết: “Bài thơ được viết ngay trong đêm đầu tiên để với nhà lao Côn Đảo: “Mất của là chẳng mất chi/ Sức khỏe. nếu mất, mất đi ít nhiều/ Chỉ lo khí tiết đổ xiêu/ Là mất tất cả là tiêu cuộc đời”. Bài thơ đó là “kinh nhật tụng đối với tôi suốt thời gian ở Côn Đảo”.

Ngay sau ngày 30.4.1975, Hoàng Thoại Châu đã được bạn tù trao cho chiếc áo bà ba lành lặn để trở về đất liền. Cuộc đời anh lật sang một trang khác: Nhà báo Ba Thơ Tiện. Anh là một trong những người đầu tiên góp phần tạo dựng nên “hình hài” của báo Tuổi Trẻ ngày hôm nay, rồi sau này là báo Lao Động.

Nhắc đến Ba Thợ Tiện, lập tức bạn đọc nhớ đến một cây bút chỉ “chơi” một thể loại: tạp bút, tạp văn, phiếm luận - gắn chặt với hơi thở của thời cuộc. Nhà phê bình Bùi Quang Huy hoàn toàn toàn có lý khi nhận xét bút pháp của Ba Thợ Tiện: “Nó như một thứ kim đâm vào xương vào thịt, nhức nhối, thậm chí đau đớn để người ta hoặc giật mình, hoặc phải thản thốt nhớ đời… Nhưng quan trọng hơn vẫn là con mắt nhìn đời và tấm lòng của người viết. Anh tinh tường khi nhận ra những chuyện tréo cẳng ngỗng sau vẻ bình lặng hay ồn ào của cuộc sống. Song cũng khéo nhận biết mà nâng niu những giá trị bị lẩn khuất”.

Hãy dừng lại một chút để nhắc đến thể loại này. Trước hết thử liệt kê các nhà báo đặt tên ra làm sao, thử ghi ngâu hứng: Cực chẳng đã, Tréo cẳng ngỗng, Khe khẽ… khều, Chẳng đặng đừng, Giữa đường thấy chuyện, Nghịch lý, Bàn và tán, Ao thả vịt, Câu chuyện hằng ngày, Chuyện thường ngày, Thuốc đắng, Những điều trông thấy, Nói hay đừng, Nói sương sương, Nói huỵch toet v.v… Xưa nay, với chuyên mục định kỳ xuất hiện trang 2 trên nhật báo với các bút danh như Thông Reo, Tân Việt, Tư Trời Biển, Kha Trấn Ác, Lang Là, Bút Bi, Người Sành Điệu… hầu như đó là tên chung. Nhiều người thay phiên nhau viết. Với “con người kỳ quặc” Ba Thợ Tiện lại khác, chỉ một mình anh viết ròng rã hết số này qua số nọ. Dù đã viết cho hơn 15 tờ báo cũng chỉ mỗi mình anh phóng bút. Nhân đây nói luôn, anh cho biết, khi đặt tên cho chuyên mục “Nói hay đừng”, chỉ nghĩ ra ba từ ấy, anh đã sướng cả tuần! Tại sao? Thử nói lái lại xem sao? Cũng là một cách nghịch chữ của cánh anh em báo chí.

Tìm ra vấn đề thời sự để viết bằng thể loại tạp bút mỗi ngày, khó quá đi mất. Thế đấy, mới thấy Ba Thợ Tiện đã đạt đến sự lao động bền bĩ của một nhà báo chuyên nghiệp, say mê với nghề đến cỡ nào. “Làm thế nào để luôn giữ được phong độ như thế?”. Câu hỏi này đã được nhiều bạn đọc đặt ra trong buổi giao lưu ra mắt bộ tùy bút Viết từ hồi ấy tại Đường sách TP.HCM vào sáng hôm qua. Ba Thợ Tiện không “giấu nghề”, anh bật mí trước tiên là nhà báo phải rời khỏi căn phòng may lạnh tại tòa soạn để thâm nhập thực tế. Trong quá trình đi thu nhập chất liệu ngồn ngộn của đời sống, cần phải biết chắt lọc ra chi tiết đắc giá nhất, nếu chưa đủ phải tìm kiếm thêm và sau đó mới đặt bút viết. Kinh nghiệm này, nghe thoáng qua, tưởng dễ nhưng thật ra đó là cả một quá trình rèn luyện không ngừng… Anh kết luận.

Lại có câu hỏi, với cả hàng ngàn bài báo cùng một thể loại đã công bố,  nếu chỉ chọn lấy 1, 2 thì anh sẽ chọn thế nào? Với câu hỏi này, Ba Thợ Tiện đã nói dí dỏm, đã là con của thì mình đều thương yêu, yêu quý như nhau. Tuy nhiên, anh vẫn nhớ nhất bài báo Đau đầu về… những cái đầu, in trên báo Lao Động số ra ngày 28.7.1991, không chỉ anh “lên bờ xuống ruộng” mà Ban biên tập cũng bị “vạ lây”.

Rằng, ngày nọ sau khi ra miền Trung tham quan khu đất đã được quy hoạch xây dựng khu văn hóa, một đồng chí cán bộ chủ chốt của địa phương mời Ba Thợ Tiện góp ý. Anh phát biểu: “Theo chỗ hiểu biết của Ba tui, trước hết ở đây cần được đầu tư vài ba “cái đầu”. Một đồng chí cán bộ, nói nhanh: “Anh Ba nói rất đúng, chúng tôi đang lập đề án đầu tư ở đây ba cái đầu… đa hệ. Dân ở đây thích phim lắm”. Nghe câu ấy, Ba Thợ Tiện ngớ người đến độ cạn lời! Sau khi nghe anh kể lại, một anh bạn bình cay đắng, chua xót: “Cái đầu” hiểu “cái đầu” anh Ba muốn nói thành ra “cái đầu”… đa hệ, dù gì cũng chỉ mới là chuyện về “cái đầu” đáng thương. Còn những “cái đầu” đáng trách, đáng ghét ở đây vẫn là những “cái đầu” chụm lại, nương nhau để tồn tại sau những sai lầm đáng tiếc do nó gây ra”.

Chính câu kết ấy mới gây phiền toái làm sao. Phiền toái làm sao cho cách quản lý báo chí của một thời. Trong buổi sáng giao lưu cùng bạn đọc, Ba Thợ Tiện đã kể sự nghiêm trọng đã trải qua, kể xong, không riêng gì anh mà mọi người cũng bật lên tiếng cười sảng khoái. Sự việc đã qua. Vui thôi mà. Âu cũng là tính cách của Ba Thợ Tiện, dù viết thế nào đi nữa thì cốt lõi, nền tảng của nó vẫn là tinh thần phản biện nhằm thúc đẩy sự việc ngày một tốt hơn.

Khi cầm trên tay bộ sách đồ sộ Viết từ hồi ấy, nhiều bạn đọc ngạc nhiên và đồng loạt đặt câu hỏi tò mò với “con người kỳ quặc” Ba Thợ Tiện: “Đâu là điểm tựa/bệ phóng giúp anh có thề toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp viết báo?”. Anh chân tình thổ lộ nhẹ nhàng rằng, luôn yên tâm bởi có đứng phía sau: người vợ. Lúc ấy, y sực nhớ đến câu thơ anh đã viết về miền Nam, quê vợ anh bằng rung cảm của nhà thơ Xứ Quảng: “Đất nước miền Nam tình châu Á/ Ruộng đồng, cây trái ngọc phương Đông/ Tiếng em hay cả tình em đó/ Nhung nhớ lâu rồi thương quá thương”.  Vậy, với những gì đã có, từ Tình biển nghĩa sông đến Viết từ hồi đó, rõ ràng từ nghề đến đời riêng, “con người kỳ quặc” Ba Thợ Tiện quả là người hạnh phúc…

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.11.2017

Lại nhớ bài thuộc lòng môn Quốc văn hồi học lớp Ba: “Em nhớ bà em những buổi chiều/ Ngồi bên giàn lý gió hiu hiu/ Một bày cháu nhỏ chơi quanh gối/ Đứa nếp sau bà đứa đuổi theo/ Bà bảo đừng nô bà kể chuyện/ Cùng nhau xúm lại tiếng cười reo…”.

clip_image0014ba_ngoai

Bà ngoại - tri kỷ, tri âm của mẹ

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 3 trong tổng số 54

trinhduyson