LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 8.11.2107

ngay-di-tren-chu-3Rqueme

Tranh giấy dó của Lê Minh Quốc

Quê mẹ

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 7.11.2017

 

gap-lai-tho-au-buion-vui-1-RRRR

(Từ phải: Lê Minh Quốc, cụ bà Lương Thị Ân ẳm Lê Minh Tiến, đứng cạnh là Lê Minh Tân)

Mẹ xóa nợ cho con

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 5.11.2017

quocai-Rchi_em

Lê Minh Quốc - Lê Thị Ái (ảnh chụp vào thập niên 1960 tại Đà Nẵng)

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 1.11.2017

ngay-di-tren-chu-1Ranh-nay

Tranh giấy dó của Lê Minh Quốc

 

Phải viết, còn vì một điều gì đó với mẹ nữa. Chẳng ai biết đâu. Ngay cả y cũng không biết nốt. Vì từ lúc mẹ mất đến nay, không lúc nào chợp mắt lại không thấy loáng thoáng hình bóng của mẹ. Kỳ lạ thật.

Cảm thấy viết thật khó khăn. Rồi cũng xong. Cứ tiếp tục nhé. Hôm trước nhận được tin nhắn của Đoàn Tuấn tâm tình về quyển Mùa chinh chiến ấy. Hắn ta bảo, khi viết tập sách này khó khăn nhất vẫn là chọn cách viết. Đã viết chừng nửa cuốn. Sau đó, phải bỏ sạch. Viết lại. Chọn cách viết khác. Và cuối cùng hắn ta đã tìm ra cách viết phù hợp. Với y, sau khi biết thông tin này, chỉ cười. Tại sao lại khó khăn đến thế? Chỉ ngồi trước bàn phím và gõ từng con chữ, là xong, là cứ thế đi hết ngày này qua ngày nọ, chứ khó khăn gì? Đúng thế. Y viết dễ dàng lắm. Không khác gì người nông dân. Rạng sáng, dắt trâu, vác cuốc ra đồng. Miễn là đã ngủ đẫy giấc.Ngày nào cũng thế. Ngồi đâu viết cũng thế. Có máy tính, gõ phím, bằng không thì viết tay. Ồn ào cũng mặc. Náo nhiệt cũng kệ. Cứ viết, miễn bỏ mặc y, đừng hỏi han tới. Dễ dàng thôi.

Tưởng là thế, mấy hôm nay, y cũng rơi vào tình trạng của bạn. Đã có ý định tập trung thời gian viết một quyển sách về những người đã khuất. Sau lúc mẹ mất, y nghĩ đã đến lúc phải viết. Không chần chừ gì nữa. Dù gì trong tình cảm máu thịt của y đã ba, mẹ, anh, chị đi về cõi khác. Viết một cái gì đi chứ?

 Tưởng dễ, nhưng rồi thế nào? Viết lại câu chuyện riêng tư nhưng người khác vẫn đọc, vẫn cảm thấy như viết về người thân của họ mới là khó. Y muốn rằng, cuốn sách ấy cứ in ra như mọi quyển sách khác nhưng chỉ tập trung vào bốn người ruột thịt không còn gặp lại nữa. Bấy giờ mới cảm thấy khó khăn mà bạn đã trải qua.

Trước đây, tháng 8.2012 khi đọc, biên tập hồi ức Khêu ngọn đèn xanh của ông anh ruột, y nghĩ, đại khái rằng:

Hồi ký, tự truyện… là một thể loại khó viết. Rất khó. Bởi thói thường do “tốt khoe, xấu che” nên ít ai có thể dám bộc bạch hết suy nghĩ của mình. Có lần y hỏi nhà văn Nguyễn Quang sáng, tại sao không viết hồi ký? Ông cười khà khà, đại khái, chẳng lẽ tao chỉ toàn kể tốt về tao? Tuy nhiên, cũng có những ngoại lệ. Chẳng hạn, học giả Vương Hồng Sển dám viết hồi ký Hơn nửa đời hư đó sao? Đọc rất ngậm ngùi thú vị.

Theo y thể loại hồi ký chỉ thật sự có giá trị khi con người ấy có một tầm vóc lớn lao, mỗi gia đoạn của cuộc đời họ đều gắn với thăng trầm của một đất nước, một dân tộc. Chẳng hạn, Tự phán của chí sĩ Phan Bội Châu, dù tự nhận cuộc đời cụ chỉ là một chuỗi thất bại, nhưng khi đọc, thế hệ sau lại học được biết bao là kinh nghiệm của thế hệ tiên phong khai đường mở lối trong sự nghiệp cứu nước.

Những nhân vật lừng lẫy ấy, khi đọc hồi ký của họ, chúng ta sẽ thấy hết sức thú vị vì có những chi tiết trong đời họ đã góp phần bổ sung cho chính sử, giúp ta hiểu chính sử rõ hơn. Họ là những con người đã tạo ra thời cuộc.  Hiểu thời cuộc thông qua số phận một con người cụ thể, còn gì thú vị hơn?

Lịch sử một đất nước được thể hiện qua chính sử. Đúng rồi. Nhưng vẫn chưa đủ. Chính các tập gia phả của mỗi dòng tộc, ngọc phả của các đời vua… có những chi tiết cụ thể, những con người cụ thể đặng khắc họa và bổ sung cho chính sử, giúp chính sử sinh động hơn, “thật” hơn và cũng “đời” hơn. Bên cạnh đó, y còn muốn nhấn mạnh đến các tập hồi hý, tự truyện, tự thuật… của các cá nhân khác.

Thế nhưng.

Có ai cần đọc những tập sách thuộc thể loại đó của những kẻ “thường thường bậc trung” như chúng ta không? Chắc không, nếu tập sách đó chỉ đóng khung trong cái cuộc đời của chính họ. Mà họ không nổi tiếng, không là người của công chúng thì chẳng ai buồn ghé mắt đến.

Nói đi cũng phải nói lại.

Gần đây nhất có nhiều hồi ký, tự truyện của những con người bình thường vẫn tạo được dư luận kìa mà. Tại sao? Bởi những hồi ký đó đạt được nhiều yêu cầu, ở đây y chỉ muốn nhấn mạnh: 1.Số phận của họ quá khốc liệt, thăng trầm dữ dội nên dù chuyện thật nhưng ta cứ như tưởng hư cấu của văn chương; 2. Viết về một cuộc đời bình thường như bao người khác, nhưng qua đó, ta lại thấy tái hiện lại tình hình xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa… của cả một thời, thời họ đã sống.

Thế thì, thể loại này do ai viết cũng được. Vấn đề đặt ra là viết như thế nào.

Hồi ký Khúc tiêu đồng của ông Hà Ngại là một thí dụ sinh động. Dù viết cho riêng mình, chỉ viết lại những gì mắt thấy tai nghe, không hư cấu nhưng tập sách đó rất có giá trị nếu người đọc cần biết về khoa cử, hát bội, sinh hoạt chợ búa, đời thường dân dã… của cuối thời Nguyễn. Những thông tin đó quý báu, hấp dẫn hơn cả tài liệu “chính quy” vì chính nó đã được kể từ người trong cuộc, từ tình tiết cụ thể… Muốn vậy, người viết phải có biệt tài quan sát, có trí nhớ tốt, có tài liệu v.v… để đủ sức tái hiện lại một thời đại mà họ đã sống. Mà thông tin của sự tái hiện đó phải gắn với cái chung, được nhiều người cùng quan tâm.

Hồi ký của Sơn Nam lại khác. Hầu như không có thông tin gì về đời sống riêng, kể cả công việc viết lách, nếu có chỉ thoáng qua đôi dòng. Đọc, có cảm tưởng như ông lấy mốc năm tháng cuộc đời để kể lại những gì mình đã hiểu biết, đã sống ở địa phương đó, vùng đất đó. Cũng là một cách cung cấp về phong tục. Ngược lại, hồi ký của Bà Tùng Long, Nguyễn Hiến Lê lại rất tỉ mỉ từng chi một, kể cả chuyện hôn tình yêu, tất nhiên đều được lồng trong bối cảnh của thời cuộc mà họ đã sống.

Tập sách, tạm gọi "tự truyện" là của ông anh ruột, y nghĩ có những điều quý báu của người nay, nhưng với người kia lại không là gì cả. Và ngược lại. Điều ấy là lẽ thường tình. Tập sách này y đặt tựa Khêu ngọn đèn xanh - là lấy ý từ câu thơ của thi sĩ Quách Tấn, viết năm 1951 (in trong tập Mùa cổ điển, tái bản lần 2 tại miền Nam năm 1960):

Quán không hò hẹn đón đưa nhau,

Khêu ngọn đèn xanh gạn bể dâu.

Thương tớ, mái gương dường ướm tuyết,

Mừng ai, khóe phụng vẫn nguyên thu.

Hoa, lòng nỡ gởi trời U cốc?

Bút, mộng không rời nợ Bích câu.

Muốn mượn chén trăng hòa viễn ý

E dòng lệ ngọc khóc minh châu…

Với những suy nghĩ vừa nêu trên, y cảm thấy không nên chọn cách viết như anh mình đã viết. Bởi vì rằng, y chỉ sống với gia đình ở Đà Nẵng thời gian ngắn, quá ngắn, chỉ 18 năm rồi đi xa hẳn, chỉ xuân thu nhị kỳ mới quay về. Về như chuồn chuồn đáp nước, thoáng đó lại bay đi. Kỷ niệm, dấu vết tình thân không nhiều trong ký ức, làm sao viết? Riêng về mẹ thì khác. Đã có thời gian mẹ sống chung nhà. Nhiều tình tiết, nhiều kỷ niệm. Dễ viết hơn. Đã có nhiều tình cảm khó quên với bên ngoại, còn bên nội chỉ là vệt trắng. Hơn nữa, có những sự việc đã xẩy ra, y không muốn nhắc lại, phải quên đi, nếu chọn cách viết như Khêu ngọn đèn xanh ắt không phù hợp, không khéo không trung thực.  

Vậy, phải viết làm sao? Loay hoay mãi.

Cuối cùng phải làm sao?

Ừ, y chọn lại những gì mà trước đây đã viết, đã in. Nếu cần thì gia công thêm hoặc sắp xếp lại, bằng không cứ giữ nguyên. Lại vấp thêm cái khó nữa là xưng hô thế nào? Tôi? Chúng tôi? Con? Em? Cách nào đây? Thôi thì, thống nhất chọn gọn lỏn mỗi từ “y”, nhập vào vai người ngoài để quan sát sự việc. Chọn lấy cách viết như đã viết tùy bút. Như đã viết nhật ký. Viết chỉ tập trung một chủ đề: Gia đình.

“Hay đấy Q”. Vấn đề gia đình, tình mẹ con, cha con, anh chị em thì ai ai cũng có một cảm nhận chung, không sợ phải quá riêng tư đâu. Viết đi. Cứ thế mà viết. Viết cho gia đình mình nhưng cũng là viết cho mọi người đấy thôi. Chiều qua nhẹ cả người, sung sướng vì đã hài lòng tìm ra một cách viết cho quyển sách này, hứng quá, nhắn tin cho bạn bè rủ rê lai rai chút đỉnh. Ai cũng bận cả. Thiệt tình. Lại lủi thủi cơm mước một mình. Chẳng sao. Công việc đang thúc giục từng ngày.

Phải viết, còn vì một điều gì đó với mẹ nữa. Chẳng ai biết đâu. Ngay cả y cũng không biết nốt. Vì từ lúc mẹ mất đến nay, không lúc nào chợp mắt lại không thấy loáng thoáng hình bóng của mẹ. Kỳ lạ thật.


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 27.10.2017

tganh-giy-do-cua-le-minh-quocTranh giấy dó của Lê Minh Quốc

 

Đoàn Tuấn bảo, tìm đọc bài thơ Sầu hương của một thi sĩ Đài Loan. Ông ấy là Dư Quang Trung, sinh năm 1928 tại Nam Kinh, nguyên quán Phúc Kiến (Trung Quốc). Năm 1950, chuyển đến Đài Loan, ông viết loạt thơ cùng chủ đề Sầu hương. Những bài thơ này nổi tiếng, nhiều người yêu thích, dù rằng, ông còn viết nhiều thể loại, chủ đề khác. Xa quê, nhớ quê mà viết. Tâm trạng thật. Cảm xúc thật. Dó đó, nhiều người đồng cảm cũng là điều dễ hiểu.

Hãy đọc một bài Sầu hương của ông viết ngày 21.1.1972, Nguyễn Thị Hải dịch: “Ngày thơ/ Nỗi sầu hương là con tem nho nhỏ/ Tôi ở đầu này/ Mẹ ở đầu kia/ Lớn lên/ Nỗi sầu hương là tấm vé tàu mỏng mảnh/ Tôi ở đầu này/ Người vợ mới cưới ở đầu kia/ Ngày sau/ Nỗi sầu hương là nấm mộ lấp xấp/ Tôi ở bên ngoài/ Mẹ ở bên trong/ Giờ đây/ Nỗi sầu hương là quãng eo biển rập rờn/ Tôi ở đầu này/ Đại lục ở đầu kia”. Đã sinh ra làm người, con người ta phải hịu dựng nhiều nỗi khổ, nhưng khổ tâm, dằn vặt, nhớ nhung nhất vẫn là sự xa cách. Vợ xa chồng. Mẹ xa con. Anh xa em. Chàng xa nàng. Tình ái vừa bén mùi đã xa thẳm đôi nơi. Chia xa tình thân thương ruột rà cũng là một chủ đề của thơ. Mà đã viết về sự chia xa ấy, tưởng chừng như khoảng cách giữa hai dòng thơ, bao giờ cũng ngần ngật giọt nước mắt.

“Thiếp tại Tương giang đầu/ Quân tại Tương giang vĩ/ Tương tư bất tương kiến/ Đồng ẩm Tương giang thuỷ”. Viết dễ dàng như không, thế nhưng đọc xong lại cảm thấy bùi ngùi. Thương cảm nhất vẫn là lúc đôi lứa “Đồng ẩm Tương giang thuỷ” (Cùng uống nước sông Tương). Uống chung một dòng nước, có lẽ con người ta sẽ thấy lòng mình nhẹ nhàng, dịu vợi hơn chăng?

Dù gì, dù có xa cách ngàn trùng thì ngụm nước chung một dòng chảy, cả hai cùng uống vẫn là ý niệm tạo nên sự gần gũi, thân mật. Nhạc sĩ Phạm Duy đã phát biểu điều cảm nhận đó qua âm nhạc. Giai điệu day dứt. Đớn đau mà không tuyệt vọng. “Nước vẫn trôi mau, mắt vẫn hoen sầu/ Thành lệ tuôn theo nước trôi không màu/ Số kiếp hay sao, không cho bắt cầu/ Thì xin sông nước sẽ cho gần nhau”. Gần nhau bằng cách nào? Vẫn là Đồng ẩm Tương giang thuỷ hay gì khác? Cứ nghe hết ca khúc Hẹn hò, sẽ có câu trả lời.

Theo nhà thơ Dư Quang Trung: “Tôi có tìm hiểu về thiên văn học, tương lai nếu như có thể di dân lên mặt trăng, ắt hẳn khi ấy chúng ta sẽ có thêm một loại Sầu hương nữa. Câu thơ của Lý Bạch chắc phải viết lại là: “Cử đầu vọng địa cầu/ Đê đầu khán minh nguyệt”.

Nghe ra cũng chí lý thay.

Ăn theo thuở, ở theo thời. Cái nhớ của mỗi thời cũng khác. Thời đại của Lý Bạch, “Cử đầu vọng minh nguyệt/ Đê đầu tư cố hương” (Ngẩng đầu nhìn trăng sáng/ Cúi đầu nhớ cố hương) đến thời chung ta đã khác. Nhớ quê ư, cứ bỏ tiền ra mua vé máy bay, vé tàu, xe đò là xong tất. Ngay cả thức ăn quê vốn khoái khẩu cũng thế. Cứ vào siêu thị là có tất. Sự dễ dàng về giao thông, buôn bán không còn tạo ra quay quắt nhớ, thê thiết thương, nồng nàn tương tư, nhớ nhung chất ngất nữa. Liệu còn cảm xúc bật ra tiếng thơ? Rồi nếu lên sinh sống, lập nghiệp tại mặt trăng, trở thành bạn láng giềng với chị Hằng, chú cuội ắt có lúc con người ta lại rồ dại thương, điên cuồng nhớ về quả địa cầu? Liệu lúc ấy sẽ có cảm xúc bật ra tiếng thơ? Dự báo bằng tâm thế nghệ sĩ của ông Dư Quang Trung thế nào? Mà thôi, dài dòng chuyện này để làm gì?

Sực nhớ bài học thuở xa xưa, thời Quốc văn giáo khoa thư từng ám ảnh trong trí nhớ nhiều thế hệ còn là sự biệt ly.

Chiều, không bận rộn gì, lật lại trang sách cũ rồi ê a đọc lấy bài học thuộc lòng để nhớ về cái thời niên thiếu, chẳng lẽ lại không vui? Vui quá đi chứ. Khi viết đến đây lại nhớ bài học từ thời lớp Nhất ở Trường Nam Tiểu học (Đà Nẵng) nói về lúc hội ngộ buổi tựu trường: “Đây đó giòn tan những tiếng cười/ Mặt mừng, tay bắt khắp nơi nơi/ Ngoài sân bỡ ngỡ dăm em bé/ Ngơ ngác nhìn quanh hết mọi người/ Giữa tiếng hò reo, trống nổi lên/ Học sinh vui vẻ tới bên thềm/ Điểm danh, trò cũ theo thầy mới/ Để được dồn lên lớp học trên”.

Lớp học trên là lớp mấy mà thuở xưa các ông Nguyễn Văn Ngọc, Đỗ Thận, Trần Trọng Kim, Đặng Đình Phúc đã cho các em học bài Kẻ ở người đi? Các em phải chịu đựng Sầu hương lẫm liệt: “Tôi ở đầu này/ Mẹ ở đầu kia”. Buồn quá đi chứ. Vâng ạ. “Cơm nước xong rồi, thầy mẹ tôi, anh em, chị em tôi, cả đến kẻ ăn người ở trong nhà, đều tiễn tôi ra tận bờ sông, chỗ thuyền đậu Vừa ra khỏi nhà, thì lòng tôi tự nhiên sinh ra buồn rầu vô cùng. Từ thuở bé đến giờ, chỉ quen vui thú ở nhà, nay tôi mới biết cái cảnh biệt ly là một! Chân bước đi, mặt còn ngoảnh lại: từ cái mái nhà, cái thềm nhà, cái lối đi, cho đến bụi cây, đám cỏ, cái gì cũng làm tôi quyến luyến khác thường. Thuyền nhổ sào, ai cũng chúc tôi thuận buồm xuôi gió, bình yên khỏe mạnh. Thuyền đi đã xa mà tôi còn đứng nhìn trở lại, nhìn mãi cho đến lúc không trông thấy nhà nữa mới thôi. Ôi! Cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy”.

Có phải từ ám ảnh “Ôi! Cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy” mà ông Dzoãn Mẫn đã thổn thức: “Biệt ly nhớ nhung từ đây/ Chiếc lá rơi theo heo may/ Người về có hay”? Mà Cung Trầm Tưởng: “Lên xe tiễn em đi/ Chưa bao giờ buồn thế/ Trời mùa Đông Paris/ Suốt đời làm chia ly”? Mà Vũ Hoàng Chương: “Đò chiều sông lạ tiễn đưa nhau/ Gió nấc từng cơn, sóng vật đầu/ Hai ngả lênh đênh trời ngụt khói/ Người đi, ta biết trở về đâu?”.

Một câu hỏi buông ra ai là người trả lời?

Ngay cả Vũ Hoàng Chương cũng không thể trả lời bởi vì rằng, họ tiễn đưa nhau oái oăm thay, không phải nơi chốn từng quen thuộc: “Trăm năm đành lỗi hẹn hò/ Cây đa bến cũ con đò khác xưa” - mà chính “Đò chiều sông lạ”. Không gian: chiều; sông: lạ. Sao lại tiễn đưa trong một hoàn cảnh éo le đến thế? Éo le vì đò chiều là chuyến đò cuối; lại chia tay nhau ở bến sông lạ thì người ở lại sẽ biết về đâu?

Về đâu, chỉ có thể: "Một người ngồi bên kia sông im nghe nước chảy về đâu/ Một người ngồi đây trông hoa trôi theo nước chảy phương nào?" (Phạm Duy). Người ngồi lại sẽ về đâu? Không biết. Người đi sẽ đi đâu? Không biết. Làm sao có thể biết khi cả hai cùng trong tâm cảnh: “Hai ngả lênh đênh trời ngụt khói”. Khói gì vậy? Sương khói của êm ả bóng chiều? Không, ấy chính là khói lửa chiến tranh, binh đao tan tác nên "Gió nấc từng cơn, sóng vật đầu" là hình cụ thể phơi bày trước mắt, chứ không phải phản ánh lấy tâm trạng.

Có phải tiễn đưa vào lúc chiều, đêm tối, canh khuya thì càng não nùng ly biệt hơn chăng? Có thể lắm. Chắc chắn lắm. Vi tâm trạng u tối, lại không gian sẫm tối, nhập nhòe bóng tối, nhìn từ góc độ hội họa rõ ràng bức tranh ấy khác gì câu thơ của Nguyễn Gia Thiều: “Tình trong cảnh ấy, cảnh bên tình này”?

Lâu nay, ai cũng bảo Đường Thi là những viên ngọc, càng trải theo năm tháng, ngọc càng sáng. Sự khái quát của nói về tâm cảnh biệt ly trong Đường Thi ra làm sao? Thì đây, hãy đọc qua bản dịch của Tản Đà: “Sung mơ ăn khó ai ơi/ Sung ăn thời chát, mơ thời chua sao/ Chưa bằng sống biệt ly nhau/ Ruột gan chua chát lại đau bội phần”. Hay không? Rất hay. Khen thì khen vậy, nhưng sao bi thảm, buồn bã, thảm thiết bằng câu ca dao Việt Nam: “Đêm qua mới thật là đêm/ Ruột xót như muối, dạ mềm như dưa/ Mong chàng như cá mong mưa/ Nhớ chàng như bữa cơm trưa đói lòng”. Một cách nói thật thà, không hoa hòe hoa sói, lấy thức ăn hằng ngày: muối/ dưa; lấy sự tồn tại tất yếu: cá/mưa. Lấy cơm trưa đói lòng so sánh với nỗi nhớ chàng, chao ôi, nghe ra dân dã, mộc mạc và tình cảm chân chất biết dường nào.

Trong đời người, ai lại không từng trải qua sự biệt ly rúng động tâm hồn? Sự biệt ly nào mà không: "Xa nhau gió ít lạnh nhiều/ Lửa khuya tàn chậm, mưa chiều đổ nhanh" (Trần Huyền Trân)? Có thể xếp hai câu thơ này vào hạng hay bậc nhất về chủ đề Sầu hương của Việt Nam? Có những câu hỏi, chẳng dại gì vội trả lời. Câu hỏi vừa rồi cũng thế. Cái hay của câu thơ trên là ở chỗ phản ánh cảm giác của tâm trạng. Gió vẫn gió của mọi ngày, đã từng cảm nhận mỗi ngày nhưng rồi do xa cách nên cảm thấy lạnh hơn. “Chiếu chăn không ấm người nằm một/ Thương bạn chiều hôm, sầu gối tay (Huy Cận), do vậy, cảm giác lạnh hơn dù vẫn ngọn gió ấy là lẽ tất nhiên. Lửa khuya, mưa chiều cũng không khác gì, bởi xa nhau đến ngút ngàn thăm thẳm nên mới buồn rầu nhận ra sự khác thường của tốc độ nhanh/ chậm. Ấy cũng chính là cảm giác của tâm trạng. Nếu không tâm trạng ấy ắt không có cảm giác ấy.

Với y, ấn tượng nhất vẫn là: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc nửa soi dặm đường”. Cuộc tình của Thúy Kiều - Kim Trọng dù sau này tan vỡ, không thể tơ duyên chắp nối nhưng vầng trăng ấy vẫn cứ tròn đầy đến ngàn đời, muôn đời sau. Sau này dù chàng và nàng đã đâu vào đó, đã ổn định riêng tư, không còn qua lại, không còn tay trong, không còn "Mảng vui rượu sớm trà trưa/ Đào đà phai thắm, sen vừa nẩy xanh" nhưng rồi lúc nào đó, bất chợt nhìn thấy/ gặp lại vàng trăng của thuở "Ai xẻ làm đôi", chắc chắn họ sẽ thổn thức tâm can, đầm đìa thương nhớ...  Câu thơ không có nhân vật, chỉ có vầng trăng nhưng rồi một khi đã Sầu hương, bất kỳ ai cũng thấy mình ở trong đó. Đó mới là bút pháp thượng thừa, vô tiền khoáng hậu của thiên tài Nguyễn Du.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 26.10.2017

d-tram-tro-cxuo7-khioc

 

Thì ra thế. Mà có thật là thế? Thì cứ cho là thế. Cứ nghĩ thế cho đời thêm vui một chút. Rằng, hôm nọ có cuộc điện thoại của dăm người bạn rủ ra quán lai rai. Trời chiều. Mưa nhẹ. Cũng buồn. Bèn đi ngay. Thật ra cũng chẳng mấy hào hứng vì đã lâu không gặp bạn. Mà bạn chẳng mấy thân thiết. Biết thì biết vậy. Chơi thì chơi vây. Chỉ là bạn bè văn nghệ văn gừng hơn là bồ tèo chiến hữu. Ra đến quán, ngạc nhiên khi thấy trên bàn bày biện tươm tất, có cả tay đàn nhạc, nữ ca sĩ phòng trà. Một người bạn nói: “Biết tin buồn của  bạn, hôm nay, anh em chia buồn đây. Tính đến nay, mẹ bạn đã mất đã X ngày rồi phải không?”. Ngạc nhiên quá, sao lại nhớ kỹ và chính xác đến thế? Bèn hỏi, bạn cười: “Mình tính từng ngày”. Lại càng ngạc nhiên tợn. Ngạc nhiên lần nữa. Thì ra, vẫn còn có nhiều người yêu thương y lắm đấy, dù rằng, chẳng bao giờ họ nói ra. Rồi đến lúc cần thiết, mới bộc lộ.

Kể ra cũng lạ. Thường trong những cuộc vui này nọ vì quá chén, vì đã quá hưng phấn, vì thật thà bộc lộ cái tôi nên chính y quậy quá, ồn ào quá. Y còn không chịu nổi y, đâm ra oán ghét chính y, chứ nói gì người khác. Rồi đã có lần tự viết bản kiểm điểm. Viết rằng: “trong những cuộc vui, anh ồn ào hênh hoang chích chòe/ tào lao ba hoa xích đế/ như hồn ma bóng quế/ tỉnh tỉnh mê mê/ thằng cà chớn/ say quá trớn/ có ai chịu nỗi không?/ sóng đã vỗ trong lòng/ niềm bi thảm đã cuộn tròn trong mắt/ anh hát/ nghe như khóc/ rượu bia anh nốc/ chỉ nước lã thôi nghe cứ như đùa/ anh cứ ngang như cua/ cười cợt nói năng lăng nhăng nhảm nhí”.

Thử hỏi, ai chịu nổi?

Sự bộc lộ bên ngoài ấy, có bao giờ phản ánh đúng nội dung của bên trong? Nhìn nhận về một con người, phải chăng cũng giống như đọc bài thơ. Phải tìm sự ẩn giấu nằm giữa hai dòng chữ, chứ không hẳn tìm trên từng con chữ cụ thể kia. Phải là thế, phải tìm ở phía sau của chữ. Phía không có chữ. Tính cách một con người biểu hiện ra bề ngoài, đôi khi chỉ là sự lên gân, nhằm che đi cái  bản chất yếu mềm đang đè nén ở bên trong đó thôi. Vì thế, y thanh minh thanh nga: “nào ai biết trên đỉnh trời xa tít/ một người đang réo gọi bước chân đi/ anh cứ ngồi lì/ che khuất mình bằng một hình bóng khác/ thì cứ thả cái linh hồn phiêu dạt/ cho mày đi lạc/ về đầu sông cuối bãi ngọn lau gầy/ gió trút lạnh vai/ anh ngồi đây chỉ còn là thể xác/ một tư duy bệ rạc/ một Kẻ Khác/ như điên như cuồng/ như dế như giun/ ý thức tầm ruồng”.

Hư đốn quá.Vậy phải làm gì?

Y tự bảo: “phải vui đi để giết chết nỗi buồn/ lao xuống vực sâu cầu cứu tiếng chuông/ câu kinh kệ tiễn đưa về mộ huyệt/ có một người khép mắt xuôi tay và trần gian từ biệt/ quay về trong hư ảo của hoa sen/ anh ngồi yên ngồi yên mà hương huệ thơm lên/ cõi niết bàn trong bàn tay năm ngón/ ấy vậy mà anh đổ đốn/ cà chớn/ đi như bơi trong cơn lốc say mềm/ anh đi tìm sự Lãng Quên/ từ một hình thức khác”. Thế thì đừng bao giờ đánh giá thương ghét một người khi họ đã hiện diện: “từ một hình thức khác”.  

Bài thơ này viết vào ngày 13.XI.2012 - ngày bà chị ruột Lê Thị Ái chỉ mới vừa hạ huyệt ở Nghĩa trang Hòa Sơn (Đà Nẵng). Nói thì nói thế, buồn thì buồn, một nỗi buồn trĩu nặng tâm hồn nhưng cũng phải biết chừng mực, kiềm chế đi chứ? Vâng ạ. Đã nhiều lần tự nhủ thầm nhưng rồi lại chứng nào tật nấy.

Y có thay đổi được y đâu?

Con người ta kỳ lạ lắm, đôi lúc có những biểu hiện bề ngoài quá trớn, cà chớn, hẫu lốn, ồn ào chẳng ra gì, nhưng lại buộc người khác phải hiểu rõ lấy tâm trạng của mình. Vô lý. Vô lý quá phải không? Vâng, rất vô lý. Thế nhưng sự đòi hỏi ấy rất hợp lý bởi vì rằng đã tri âm, tri kỷ thì phải nhìn thấy từ các hình thức ấy, còn là phía sau, là một con người khá hẳn: “Cõi người thần thánh quỷ ma/ Phía sau mặt nạ u oa khóc thầm/ Có người tịnh khẩu như câm/ Ai nghe tiếng nói ầm ầm sóng vang?/ Có người vội vã bước ngang/ Biết đâu rẽ dọc là đang quay về?”.

Ai hiểu? Ai biết?

Câu hỏi ấy, chỉ dành cho tri kỷ mà thôi. Đừng đòi hỏi người ngoài phải hiểu, phải cảm thông, chia sẻ. Nhố lắm. Quá đáng lắm. Y chẳng có tri âm, bèn tự an ủi lấy chính mình: “Tự nhiên nhìn xuống bàn tay/ Thấy rãnh sâu tựa luống cày thời gian/ Nhọc nhằn vó ngựa mây ngàn/ Ngày đi thăm thẳm nắng vàng như sương/ Độc hành xa lắc con đường/ Chân mây gió cuốn yêu thương níu về/ Tôi như cỏ dại nhà quê/ Câu thơ bàn phím đam mê còn dài”. Lúc xòe hai bàn tay, nhìn lấy lấy mười ngón tay và ngẫm lại đời mình, lúc ấy, con người ta nghĩ gì? Y nghĩ gì? Thôi thì, hãy cứ vui cho hết một ngày, một đời và tự nhủ: “Hãy nhìn núi thẳm non cao/ Để nghe tiếng sóng dạt dào yến oanh”. Đường còn dài. Yến oanh còn lắm. Hãy cứ vui đi. Mình hãy cứ là mình.

Tưởng rằng, chỉ có mình thương lấy mình. Không đâu. Thì ra thế. Mà có thật là thế? Thì cứ cho là thế. Cứ nghĩ thế cho đời thêm vui một chút. Lúc gặp nhau ở quán nhậu, sau vài câu chia buồn của bạn là ly men nốc cạn. Ừ, 100% Bắc Kạn. Ngà ngà say. Ly bia đã cạn. Và nghe cô ca sĩ hát Bông hồng cài áo của Phạm Thế Mỹ: “Một bông hồng cho em/ Một bông hồng cho anh / Và một bông hồng cho những ai / Cho những ai đang còn Mẹ/ Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn/ Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi / Như đóa hoa không mặt trời / Như trẻ thơ không nụ cười/ ngỡ đời mình không lớn khôn thêm / Như bầu trời thiếu ánh sao đêm…”. Tự dưng ứa nước mắt. Bạn đã chia sẻ chu đáo đến thế. Thế mà lâu nay, y có hiểu bạn đâu? Đã thế, lúc nào cũng đòi hỏi mọi người phải hiểu lấy mình. Nhố quá, phải không? Đúng quá đi chứ.

Tối qua, lại lai rai một chút. Tại nhà. Cùng anh A. Câu chuyện thân tình. Cỡi mở. Mà thật lạ, lại trùng với ngày ở quê nhà đang làm tuần thứ 2 cho mẹ. Kỳ lạ không? Không có sự ngẫu nhiên nào cả. Mọi sự đã được sắp xếp. Rất vô hình. Nào ai biết trước. Sáng nay, thức dậy muộn. Vẫn thói quen dừng lại ở sạp báo mua lấy một hai tờ báo. Đọc lúc đang ăn phở. Phở bà Dậu. Sung sướng nhất là phở ngon, ngồi một mình,vừa ăn vừa nhẩn nha đọc báo. Không ai làm phiền. Cứ thế, lướt hết trang này qua trang nọ. Dừng lại với chuyên mục Chuyện thường ngày của Bút Bi trên báo Tuổi Trẻ. Đọc bài viết Tìm cha mất tích. Cực kỳ ngắn gọn. Chỉ 100 chữ:

“Đặc điểm nhận dạng: Cao ráo, mặt mày sáng sủa, tuổi trung niên.

Nghề nghiệp: Cán bộ.

Ngày mất tích: Ngày diễn ra phiên tòa xét xử đàn con.

Lý do mất tích: Chưa rõ, có thể là không muốn ra tòa giải thích vì sao cho phép đàn con làm bậy.

Lời nhắn gửi: Cha về để chịu trách nhiệm, đàn con đang khóc như mưa ở tòa.

Ai biết được cha, chồng chúng tôi ở đâu, xin báo về cho gia đình chúng tôi, địa chỉ: số nhà 123, đường Bị Y Tố. 

Xin chân thành hậu tạ”.

Chừng dăm năm nữa, đọc lấy bài này, nếu không liên hệ với thời sự đang diễn ra, chằng mấy ai hiểu chăng? Không đâu. Thời buổi của Google, chủ cần gõ từ khóa “vụ án vn pharma” ắt sẽ thu thập đầy dủ thông tin. “Bị Y Tố” là một cách nói lái. Hôm kia, vừa mua tập sách Nghệ thuật nói lái qua ngôn ngữ dân gian Nam bộ (NXB Tổng hợp TP.HCM) của Nam Chi Bùi Thanh Kiên vừa được ấn hành. Chẳng hạn, đây là một thí dụ về cách nói lái về chuyện “ăn cơm trước kẻng”. Ông Dương Quốc Thanh (bút hiệu Sơn Hồ) ở xứ Quảng đã hòa giải cho hai bên gia đình bằng bài thơ dí dỏm: “Ai bàn chi chuyện đã an bài/Trai khiển đồng tình gái triển khai/Cứ sợ cho nên thành cớ sự/ Mai than mốt thở lỡ mang thai/ Tính từ ngày tháng vương tình tứ/ Khai ổ bây giờ báo khổ ai/ Cưỡng chúng ông bà nghe cũng chướng/ Thôi đành để chúng được thành đôi”.

Có nhiều cách nói lái, thú thật, y không rành lắm. Trong nhóm bạn rành nhất phải là nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên, giám đốc NXB Trẻ Nguyễn Minh Nhựt… Chỉ loáng thoáng nghĩ rằng, có phải Duyên Anh là nhà văn trước nhất đưa nói lái vào tác phẩm văn học chăng? Thời nhỏ, đã đọc mòn cả quyển Thằng Vũ, còn nhớ trong đó, có đoạn đối thoại: “Ngay lúc ấy, bên ngoài nhà nó, nấp sau cây bàng, thằng Côn mắt la mắt lém, ngó trước ngó sau, đoạn thong thả đọc một câu tiếng lóng cơ hồ con chim chích chòe gọi bạn giữa trưa mùa hạ: “Lũ vã lơi a, li đa lập lạ lá đi lóng bí (Vũ ơi! đi tập đá bóng). Đó là thứ tiếng lóng do Vũ và Côn đặt ra, chỉ dùng vào những lúc gia đình cấm đoán không cho đi chơi. Lũ vã là Vũ, bỏ chữ u ở tiếng lũ, chữ ã ở tiếng vã và chắp lại thành Vũ. Cứ thế muốn nói bao nhiêu câu cũng được”.

Những cuốn sách đọc thời nhỏ, thường ở lại trong trí nhớ lâu hơn. Và hạnh phúc thay, khi nhớ đến năm tháng ấy, bao giờ con người ta cũng nhớ đến hình ảnh của người mẹ. Mẹ cho tiền mua sách đọc.

Thông thường lúc chiều rồi, nếu không lai rai đi nhậu thì đọc sách, bằng không lại lướt web. Chiều nay lại lai rai. Vẫn là những gương mặt bồ tèo, chiến hữu đã ra Đà Nẵng trong đám tang mẹ. Vì thế, càng cảm động. Tương tự hôm qua nhận tin nhắn: "Hôm nay. lúc 10g30 cúng thất thứ 2 của mẹ tại Quảng Hương Già Lam, anh Q nhé". Mọi người đã yêu y đến thế, sao lâu nay y lại không cảm nhận một cách sâu sắc? Y nhợt nhạt, tẻ nhat và nông cạn quá chăng? Câu hỏi ấy đã quay đi quay lại nhiều lần. Vì thế đêm kia đã viết như một cách tự bạch về tính cách. Liệu chừng y có ích kỷ quá không? Lúc nào cũng đòi bạn hiểu nhưng rồi y đã làm gì để hiểu bạn? Y kém quá đi mất. Rất kém.

Bèn tự bạch rằng: “Đã nhập vai trong tuồng hát bội/ Đã mặt xanh mặt trắng cũng nhì nhằng/ Đã mặt nào cũng trăm trò cười khóc/ Đã tri âm mới rõ giáng hay thăng/ Đã mím môi nhưng ai thấy nhe răng/ Đã nhố nhăng ai lại hay nghiêm túc/ Đã vui trong tình nghĩa của đời/ Đã mặt nào cũng trăm trò cười khóc/ Đã hân hoan đã nồng nàn hạnh phúc/ Đã ai đang biết cúc cũng là hồng/ Đã sen thắm ai nhìn ra héo rũ/ Đã có đây nhưng nọ cũng là không/ Đã đi đứng với một hai gương mặt/ Đã mặt này cười mặt nọ oa oa/ Đã mặt nào cũng trăm trò cười khóc/ Đã rất gần nhưng lại rất người ta/ Đã nhập vai như diễn tuồng hát bội/ Đã hênh hoang náo nhiệt tiếng cười/ Đã mặt nào cũng trăm trò cười khóc/ Đã ai hay ai nén tiếng thở dài?”.

Thấu hiểu điều đó, với mỗi người phải cần có tri âm tri kỷ. Người tri âm trí kỷ nhất đời y chính là mẹ. Mẹ đã mất. Và hạnh phúc thay, những ngày này, y đã nhìn thấy qua gương mặt bạn bè.

Hạnh phúc ấy, đang có thật.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 22.10.2017

 

ngay-di-tren-chu-2Rrr

Tranh giấy dó của Lê Minh Quốc


Trở về với cuộc sống, nếp sinh hoạt cũ dễ hay khó? Đang cố gắng dần. Phải hòa nhịp lại với những gì lâu nay đã trở thành thói quen. Phải cố gắng dần. Cảm thấy chống chếnh. Bỡ ngỡ. Chẳng gì ra cái gì. Cố gắng giữ nguyên, giữ lấy mọi sinh hoạt đã có. Không thay đổi. Đời sống của mỗi người, phải biết chấp nhận một sự thật nào đó. Và nhận ra rằng, tất cả đều bình thường. Phải là thế. Và cứ thế, mỗi ngày lại đi qua. Dù muốn, dù không, cũng không thể, vậy, hãy chấp nhận lấy nó. Mở lòng ra và nhận lấy một cách an nhiên. Trong những ngày nay, tự nhủ như thế. Tự dặn dò lấy chính mình. Không một lời khuyên nào có thể thay đổi một người, ngoại trừ lời khuyên của chính nó.

Sài Gòn vẫn mưa, thỉnh thoảng những cơn mưa ùa đến. Dai dẳng. Nặng hạt. Sấm chớp ầm ầm. Rồi lại nắng. Sáng hôm qua, đi xuống phố. Ghé lại nhà sách của NXB Tổng hợp TP.HCM. Mua vài quyển sách. Cũng là một cách thư giản, vì rằng, trong nhà đã quá nhiều sách, không nhất thiết phải mua thêm nữa. Nhưng rồi vẫn thích la cà những nơi bày bán sách. Một thói quen đã định hình từ ngày còn thơ bé, đến lúc ngoài ngũ thập vẫn không thể bỏ. Sách có ma lực gì mà khi đã vào đó, bao giờ lúc bước chân ra thì trên tay cũng cầm theo một hoặc nhiều quyển sách? Trả lời câu hỏi này, có thể viết thành một bài tuy bút đấy chứ? Hẹn dịp khác.

Sáng hôm qua, mua lấy nhiều quyển, trong đó có Hậu Kiều Đoạn trường vô thanh của Phạm Thiên Thư. Có lần gặp nhau, ông bảo: “Tôi đặt bút xuống là thấy cỏ cây. Chắc chắn vì ảnh hưởng hồi nhỏ. Năm tôi lên 3, cha mẹ đã đem tôi lên rừng. Lúc ấy, cha tôi từ Hải Phòng tới vùng Cổ Vịt tại huyện Chí Linh khai hoang và lập trang trại Đá Trắng tại đây. Tôi ở trong rừng suốt tám năm, lớn lên nơi lưng một ngọn núi hoang vu, suốt ngày chỉ biết hát ca với cỏ cây, chạy nhảy với đàn chó săn hay nằm trên đỉnh núi trọc nhìn hoàng hôn. Mảnh đất màu xanh này ám ảnh tôi, và được dựng thành quê hương của Thúy Kiều trong Đoạn trường vô thanh”.

Bản in của NXB Nến Hồng in năm 1972, lấy tựa Đoạn trường vô thanh; năm 2012, NXB Tổng hợp TP.HCM tái bản là Hậu Kiều Đoạn trường vô thanh.

Mua, một phần vì nhớ đến ông bạn già đã lâu không gặp. Không còn buổi chiều lên Tân Bình, đến chơi với ông ở quán cà phê Động hoa vàng. Ngồi nói chuyện linh tinh lang tang. Rồi về. Mua, vì lật vào trong, thấy có in dòng chữ: “Một đêm năm mơ, ở đất Tân Bình - gặp Người Đẹp tặng tấm gương soi và cây bút. Tỉnh dậy, mới biết ấp trang Vô Thanh trên ngực mà ngủ quên. Tự nghĩ mặt mày còn phải rửa lại, huống chi là hư truyện đã viết cách đây trên hai mươi năm - đọc lại lắm chỗ chẳng được như lòng… Nên đêm nay, khêu đèn dầu hao, tựa mảnh trăng tròn hơn ngoài cửa, mượn Người Đẹp ngọn ý bút, nhuận sắc lại Vô Thanh, cốt để tự soi mình vậy. Nay thêm đôi dòng tạ tội” (21.4.1992).

Việc sửa lại thơ mình từ bản đã in, không lạ, nhiều nhà thơ đã làm việc này. Có thể qua đó, câu thơ hay hẳn lên, nhưng cũng không ít trường hợp “trâu lành thành trâu què”. Bản thân y không thích sửa lại những câu thơ đã in, đã công bố, thôi thì cứ giữ nguyên dấu vết ấy, dù  biết rằng nếu sửa sẽ gột bỏ được sự thô vụng.

Với Phạm Thiên Thư, nhiều lần qua trò chuyện, ông cho biết sẽ chỉnh sửa chỉ vì vấn đề Phật học sau này ông tinh tấn hơn, có nhận thức khác hơn thuở còn trẻ, vì thể muốn “nhuận sắc” là vậy. So sánh của 2 bản in, quả đúng như thế. Chẳng hạn, bản in 1972: “Đất trời mừng đón Thánh minh/ Dân gian mở hội thái bình bốn phương/ Thiền sư quẩy gói lên đường/ Bước chân tịnh mặc áo vương mầu trời”; bản in năm 2012: “Đất trời thắm lại bình minh/ Dân gian mở hội thái bình bốn phương/ Thánh nhân quẩy gói lên đường/ Bước chân Tự Chỉnh mặc áo vương mầu trời”. Tự chỉnh là gì? Hãy nghe tác giả  giải thích… Mà thôi. Đọc thơ chứ phải đọc sách nghiên cứu đâu. “Ẩn Lan ơi mái tóc thề/ Gió xuân nay có vỗ về hương xưa/ Đêm nao học dưới trăng mờ/ Nến leo lét lụi, chữ hờ hững in”; nay: “Ẩn Lan ơi mái tóc thề/ Gió xuân nay có vỗ về suối hương/ Đêm nao ngồi học bên tường/ Nến leo lét lụi, chữ vương vắt chìm” v.v… và v.v…

Sự hồn nhiên, vô tư, tự nó bộc phát ra ngay trong một thời điểm nào đó bao giờ cũng chân thật, thật lòng hơn cả. Dù rằng, sự chân thật ấy, chưa tròn trịa như người khác mong muốn, nó còn gai góc, còn va vấp nhưng đó mới là sự chân thật. Nếu đã tính toán thận trọng, đã cân nhắc chu đáo dù rằng có chân thật đi nữa nhưng nó lại không có dấu vết của sự hồn nhiên, vô tư. Trong đời sống, y thích làm bạn với những ai khi sử lý tình huống vẫn còn có dấu vết của sự hồn nhiên, vô tư ấy, miễn là thật lòng. Và thơ cũng cần những dấu vết ấy. Đoạn trường vô thanh bản in năm 1972 của Phạm Thiên Thư là một thí dụ.

Sáng nay, chủ nhật. Ngồi thừ trước bàn phím. Chẳng viết được gì cả. Dù rất muốn trở lại thói quen của mỗi ngày. Ngày trong nếp ngày. Ngày viết mỗi ngày. Ngày sống đời thơ. Ngày đi trên chữ. Nhưng rồi chữ nghĩa có là gì? Bài thơ cuối cùng viết về mẹ là lúc 24 giờ của ngày 12.10.2017 - ngày mẹ mất, lúc 5 giờ sáng. Những câu thơ trào ra ngoài ngọn bút. Vẽ lại cảm xúc của khoảnh khắc ấy. Một khoảng khắc tột cùng của sự mất mát: từ nay không còn có mẹ.

Một khi đối mặt cùng sự đau đớn, cách hóa giải tốt nhất vẫn là nghĩ đến nỗi bất hạnh của người khác, biết đâu họ gánh chịu còn lớn lao hơn mình gấp bội phần. Nói như thế, bởi nhớ đến nhà văn Võ Phi Hùng, một đồng nghiệp nghèo, mồ côi cha mẹ, thuở bé sống trong cô nhi viện, nay đã mất. Năm tháng cuối đời của Hùng, y gặp luôn vì anh thuê phòng trọ và hay uống ở quán cà phê gần nhà. Có lần anh tâm sự: “Tôi đã dành nhiều thời gian đi tìm mẹ, đi tìm lấy cội nguồn của mình, nhưng rồi bất lực. Không thể tìm được mẹ, dù đã nhiều lần cố gắng hết sức. Khi đã ngoài 60, tôi ngộ ra rằng, đó là một sự thật mà tôi đành phải chấp nhận”. Còn có sự chấp nhận nào bất hạnh hơn thế không? Nghĩ đến hoàn cảnh của người khác, để thấy rằng, dù gì mình cũng còn may mắn hơn.

Ngày về tiễn mẹ là bài cuối cùng, y viết về mẹ. Viết lúc còn nhìn thấy mẹ trên cõi trần. Một gương mặt thanh thoát, thanh thản như đang ngủ sau một chặng đường dài. Chặng đường 90 năm của cụ bà Lương Thị Ân (1927-2017). Lúc ấy, y nằm dài dưới đất, hướng mặt về bàn thờ Phật, phía sau là cỗ quan mẹ. Và đặt bút viết: “Tiếng kinh cầu dịu dàng hương sen/ Hoa huệ trắng của một đêm về sáng/ Ngoài trời mưa từng giọt, mẹ ơi/ Đã từ đây không gặp lại trong đời/ Giọng nói, tiếng cười, dáng người của mẹ/ Con ước gì quay về thơ bé/ Vẫn có mẹ dỗ dành”. Những ai còn có mẹ, một khi nghĩ đến câu: “Đã từ đây không gặp lại trong đời”, có thể cảm thấy bình thường, nhẹ hếu, nhưng rồi lúc mất mẹ mới cảm thấy điều ấy khủng khiếp biết dường nào. Cảm nhận rất rõ một sự trống rỗng đang đè ập xuống lòng mình. Tưởng chừng như nghẹt thở.  

Mẹ mất, nếu đã có vợ/ chồng/ con cái thì người ta sẽ nghĩ gì? Y không biết vì không là hoàn cảnh đó. Vẫn đơn thân độc mã. Đường xa lẻ loi. Đơn độc dặm dài. Vì thế mới vụt nghĩ đến ngày mai, lúc đã không còn mẹ: “Trên đường đi cho hết cuộc hành trình / Lúc vấp ngã - ai người an ủi/ Lúc niềm vui - ai người san sẻ/ Mẹ đã ra ngoài bể dâu/ Ngàn sau mây trắng về đâu? Lại trở về cát bụi”. Đã viết rõ nẻo về của mẹ. Rồi tự hỏi, hỏi lấy chính mình: “Và bây giờ con đang đứng ở đâu?”.

Đang đứng ở cõi nào mà trong tâm tưởng, trí nhớ, ký ức vẫn không có gì khác. Vẫn như mọi ngày còn quấn quýt bên chân mẹ: “Hình bóng cũ vẫn còn nguyên vẹn mới/ Con vẫn thấy ngoài trời xanh nắng tới/ Tiếng chim reo trong trẻo của mỗi ngày/ Vẫn có mẹ ra vào/ Vẫn bếp lửa, vẫn cửa nhà, vẫn mỗi ngày đi chợ/ Vẫn từng ngày con gọi mẹ/ Tiếng gọi âm vang đã máu thịt hình hài”. Và khi mất mẹ, chính là lúc tưởng chừng như máu của mình đang đọng lại. Khô cứng lại. Sự sống không còn. Nhưng rồi, con người ta vẫn tiếp tục phải sống. Sống như vẫn đang còn có mẹ.

Lúc ấy, ngoài trời đang mưa. Đà Nẵng. Con đường Triệu Nữ Vương. Đường phố vắng. Gió thổi lành lạnh. Ngước mặt nhìn ra ngoài trời. Nhìn lên vòm trời tối đen. Và viết tiếp: “Đêm nay từng giọt mưa rơi/ Con ngồi yên lặng lẽ/ Lắng nghe tiếng lòng rất khẽ/ Tiếng kinh cầu tiễn bước mẹ đi/ Thắp nén nhang trầm âm thầm nước mắt/ Thấy trên trời một vầng sáng bay đi/ Mẹ đã đi qua đời con vĩnh viễn/ Vẫn vẹn nguyên dấu nhớ lại quay về…”. Vẫn là thế. Mãi mãi là thế.

Bây giờ, Sài Gòn, chiều nay đã xuống. Ngoài trời lại đang mưa. Phải làm gì cho hết buổi chiều? Như mọi lần, đọc Truyện Kiều vậy? Tất nhiên. Lật ra, ứng vào câu: “Tưởng bây giờ, là bao giờ/ Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao”.


ngu-duoi-ban-tho-me

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 17.10.2017

 

phoca_thumb_l_le-minh-quoc-6ANH_nay

 

Sáng nay, thả bộ trên con đường Triệu Nữ Vương (Đà Nẵng), đi về nhà. “Về nhà? Tôi lại về quê/ Quê nhà muôn thuở là quê của nhà/ Bỗng nghe tiếng khóc oa oa/ Tôi lọt lòng mẹ bước ra cõi người”. Tự dưng lại nhớ đến câu văn của Thanh Tịnh: “Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học”.

Một câu văn giản dị, quay trở về trí nhớ nhưng lần này, đem lại một cảm giác khác hẳn. Cũng về nhà nhưng hụt hẫng. Bùi ngùi. Nhìn xuống hai bàn tay, có cảm giác như ngọn gió yêu thương của ngày tháng xa xăm ấy đang thoáng qua. Vậy, cớ sao ngậm ngùi? Vậy, cớ sao lạc lõng? Vậy, cớ sao rưng rưng? Tưởng chừng như có tiếng nói dịu dàng nào đó vừa loáng thoáng đâu đây…

Ở Sài Gòn bình thường mọi ngày, chiếc điện thoại bao giờ cũng đem vào tận phòng ngủ. Nhưng rồi, đêm trước mẹ mất, y lại cố tình không đem theo. Không phải quên. Chủ động để lại phòng làm việc. Đêm ấy, chuyện gì đã xẩy ra? Từ lúc 5g sáng đã có nhiều cuộc điện thoại của cô em dâu út, gọi từ Đà Nẵng. Y hoàn toàn không hay biết. Vẫn ngủ say. Vẫn bình thản ngủ ngon như mọi ngày.

Suốt ruột quá, ông y mới qua tận nhà gọi cửa. Vẫn không nghe. Vẫn ngủ ngon. Thế là anh y bèn lấy chìa khóa mở cửa. Lúc ấy, ngay ô cửa để thò tay vào ổ khóa bên trong, có một con bướm bà đã đậu tự bao giờ rồi. Tại sao khoảnh khoắc thiêng liêng của lúc mẹ mất, y lại không hay biết gì cả? Có phải vì chỉ luôn nghĩ rằng: “Hình bóng cũ vẫn còn nguyên vẹn mới/ Con vẫn thấy ngoài trời xanh nắng tới/ Tiếng chim reo trong trẻo của mỗi ngày/ Vẫn có mẹ ra vào/ Vẫn bếp lửa, vẫn cửa nhà, vẫn mỗi ngày đi chợ/ Vẫn từng ngày con gọi mẹ/ Tiếng gọi âm vang đã máu thịt hình hài”? Phải chăng sự linh cảm ấy đã hữu hình thành cánh bướm đậu ngay ô cửa mở khóa vào nhà?

Thế thì, tại sao trước đó y lại không hay biết?

Rồi, sáng ngày cuối cùng tiễn mẹ vào nghĩa trang Hòa Sơn, lúc dừng lại làm lễ Tế đầu trung, anh em y thắp nén nhang. Khói nghi ngút bay. Nghi lễ chính thức bắt đầu. Lúc ấy, đột nhiên, lại thấy một con chuồn chuồn bay là đà ngay trước mắt, buộc miệng kêu lên: “Mẹ đã về”. Cánh bướm bay theo nhang khói ấy như chào lấy mọi người lúc mãi mãi đi xa. Chào một lần cuối cùng. Chập chờn bay. Lưu luyến. Rồi mất hút.

Từ cõi nào mẹ đã về? Từ cõi nào cái bóng của mình đã về? Mẹ đi đâu mà về? Chẳng đi đâu cả. Chẳng người mẹ nào đi xa cả, vẫn ở nhà đón đợi con đang mải mê rong chơi trên đường xa vạn dặm. Thức từng đêm ngóng. Đợi từng ngày chờ. Ngóng đợi con quay trở về chỉ vì bà mẹ nào cũng nghĩ, dù thế nào, con của mình vẫn trẻ người non dạ: “trên đường đi, ta đã gặp hoa tươi/ gặp tiếng cười, gặp niềm vui hạnh phúc/ là lúc ấy mỗi ngày mẹ bạc tóc/ âu lo nhìn theo mỗi bước ta đi/ ta lớn lên xa vòng tay của mẹ nhu mì/ ta xa những ngày mẹ một mình tựa cửa/ ta đâu biết trong từng hơi mẹ thở/ vẫn trái tim độ lượng gọi ta về/ vẫn ân cần giọng nói/ gọi tên ta ngay cả lúc ngủ mê/ vẫn từng đêm chờ đợi/ đợi ta về...”. Lúc ta về, mẹ đã đi. Mẹ đi đến cõi nào?

Lúc bất ngờ nhìn thấy cánh chuồn chuồn, y lại nhớ đến những gì đã suy ngẫm: “Hỡi ôi! Con người ta khi sinh ra đời, dù đi khắp bốn phương trời, giang hồ khắp cõi thì bao giờ trong lòng cũng ấp ủ một nỗi niềm là được gửi nhúm xương tàn ở quê nhà, nơi từng chôn nhau cắt rốn. Mà mấy ai được như thế? “Quê nhà  xa lắc xa lơ đó / Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay” (Nguyễn Bính). Quê nhà? Nơi nào có mẹ cha ta, nơi ấy chính là quê nhà. Đứa trẻ sinh ở Việt Nam, sống lên ở Mỹ cùng cha mẹ, hẳn sẽ nghĩ nơi ấy là quê nhà của mình.

Tình cảm ấy, tâm lý ấy đã phá vỡ cấu trúc về địa lý trong tâm thức con người. Ba y nằm lại Đà Nẵng, và bây giờ là mẹ, với y là quê nhà. Nghĩ cũng lạ, khi bước vào khu nghĩa trang là lúc ấy, y tin rằng, ai cũng nghĩ đến sự Hư không của đời mình. Có có không không. Như bỡn như đùa. Và sẽ nghĩ đến phận mình sao ngắn ngủi, nhỏ nhoi và chật hẹp đến thế. Chỉ vài ba thước đất là xong. Xong một kiếp người”.

Tại sao ngày đưa mẹ về với ba, về nơi chốn “chỉ vài ba thước đất”, y lại thấy cánh chuồn chuồn lẻ loi ấy?

Rồi, đêm đầu tiên trong chập chờn mộng mị của một giấc ngủ vĩnh viễn từ nay, không còn có mẹ, lúc nửa khuya đã nghe rõ mồm một bên tai, nghe rất rõ, từng câu, từng tiếng nói của mẹ: “Đừng nói cho thằng Q biết là mẹ đã mất”. Nghe rất rõ. Mất chứ không phải chết. Nghe rất rõ âm sắc thổ ngữ của tiếng nói người bà mẹ dân dã, quê mùa đất Quảng. Nghe như mọi ngày quanh quẩn chân mẹ đã từng nghe. Vẫn giọng nói ấy. Vẫn gương mặt ấy. Giật mình tỉnh giấc. Đêm vẫn tối đen. Căn phòng im lặng. Không một ai khác, ngoài chính y đang trơ trọi, cô độc. Do y không ngủ nhà, vì vậy, mẹ đã không nhìn thấy nên mới dặn dò cả nhà câu nói ấy chăng? Đó là câu nói cuối cùng của người mẹ, y đã nghe lúc nửa đêm về sáng.

Câu nói ấy có ý nghĩa gì?

Tiếng nói ấy, vọng về từ tiềm thức? Từ một cõi tâm linh nào? Nghe từ nơi xa lạ, chứ không phải từ căn nhà mà y đã miêu tả trong bài thơ tặng Tẹo - em trai út: “Ngôi nhà của tuổi ấu thơ/ Tôi về sung sướng lật tờ giấy thơm/ Thấy từ ký ức rạ rơm/ Những ngày đi học rập rờn nắng mưa/ Vòng tay ngoan ngoãn dạ thưa/ Vẫn còn ba mẹ đón đưa ân cần”.

Căn nhà ấy, trong những ngày tiễn mẹ, anh em ruột thịt từ Úc, từ Sài Gòn đã về tề tựu đông đủ. Căn nhà ấy, từ nơi xa các anh, các bạn đồng nghiệp như Tổng biên tập NXB Trẻ Nguyễn Minh Nhựt, nhà báo Dương Thành Truyền, Nguyễn Xuân Minh, Lưu Đình Triều, Đào Tuấn Anh, đồng đội cựu chiến binh như Trần Đào Hiền Nhân, Võ Đình Chiến, nhà biên kịch Đoàn Tuấn… cũng đã về đến. Căn nhà ấy, dù thay đổi mới, xây dựng lại nhưng lúc về, bao giờ, y cũng nhìn thấy trên nền nhà còn hằn vết dấu chân của thuở mới vừa chập chững. Bao giờ cũng nghe từ trong mỗi bức tường nhà vọng về tiếng nói của tình thân máu mủ.

Căn nhà ấy, lúc sinh thời ba mẹ y dặn dò muốn “tạm nghỉ” trước lúc đi vào Hư Vô, về với cõi Phật. Với tâm nguyện này của bậc sinh thành, trong đạo làm con ai lại không hiểu rằng, dù không thể mãi mãi ở lại vui vầy, sum họp cùng cháu con nhưng dù ở một cõi nào, dù Âm - Dương cách trở thì tình phụ tử, tình mẫu tử vẫn mãi mãi nguyên vẹn. Không bao giờ có sự chia cách. Về trách nhiệm cháu con, ai lại không cùng một lòng một dạ vâng theo?

Thế nhưng ngay trong đêm đầu tiên mẹ đã nằm ở nghĩa trang, y không lại ngủ nhà. Do đã đã bốn đêm ngủ dưới chân bàn thờ Phật, phía sau là linh cữu của mẹ, y muốn tìm một nơi xa lạ. Chỉ nằm một mình. Suy ngẫm một mình. Suy ngẫm giây phút còn nhìn thấy mẹ chỉ còn lại trong khoảnh khắc từng ngày, từng giờ chờ tiễn đưa mẹ. Và đau đớn nhất là biết rõ, rất rõ thời điểm của giây phút cuối cùng sẽ đến: “Tiếng kinh cầu dịu dàng hương sen/ Hoa huệ trắng của một đêm về sáng/ Ngoài trời mưa từng giọt, mẹ ơi/ Đã từ đây không gặp lại trong đời/ Giọng nói, tiếng cười, dáng người của mẹ/ Con ước gì quay về thơ bé/ Vẫn có mẹ dỗ dành/ Trên đường đi cho hết cuộc hành trình/ Lúc vấp ngã - ai người an ủi/ Lúc niềm vui - ai người san sẻ/ Mẹ đã ra ngoài bể dâu/ Ngàn sau mây trắng về đâu?”.

Câu hỏi ấy đã vang lên trong tâm tưởng. Trong bài thơ cuối cùng y còn nhìn thấy sự hiện hữu của mẹ ở cõi trần.

Từ nay và vĩnh viễn không bao giờ có được cảm giác của ngày còn mẹ. Không bao giờ. Mẹ đã mất. Đã trở về Đất. Đã trở về Hư Vô. Đã dịu vợi xa cách ngàn trùng. “Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp”. Câu nói ấy, sống cho đến đến khoảnh khắc cuối cùng của một kiếp đời, với y, chỉ còn trong ký ức. Mẹ đã mất. Bấy giờ, như một lẽ tự nhiên đột ngột nhớ đến câu thơ của Berton Brech. Đoàn Tuấn đã kịp nhắc lại để y đọc trước huyệt mẹ: “Ra khỏi cuộc đời trở về với Đất/ Hoa mọc lên cánh bướm vờn bay/ Phải nặng nhọc bao nhiêu ngày tháng/ Mẹ hôm nay mới thanh thản dường này”.

Trong cuộc đời đã nhiều lần đọc thơ, nhưng ngày hôm qua mới là ngày tiếng thốt ra đau đớn đến tận cùng. Tê dại từng sợi máu. Nức nỡ từng gân máu. Một dòng máu của chính y đã mất. Đã ngưng chảy. Đã hóa thành Cát bụi trong một cõi Vô cùng. Câu thơ âm vang ấy, đã theo mẹ xuống tận huyệt sâu. Ngồi dưới chân mộ phần của mẹ, y đã nhìn thấy từng bông hoa ùa theo như mưa. Như nắng. Như hạt thóc. Như hạt gạo. Như lòng biết ơn của một sự cưu mang chín tháng mười ngày. Lúc ấy, lại nhìn thấy từng hạt cát trắng xóa của bãi biển Mỹ Khê, Non Nước, Thanh Bình, Sơn Chà… ùa xuống theo. Dần dần, phủ đầy một màu cát trắng.

Màu trắng như hạt muối, như gừng cay muối mặn của một tấm lòng hướng thiện đã vì con, đã lo cho con suốt hành trình của 90 năm. Và bây giờ, đã hài lòng, đã mãn nguyện mới nhẹ nhàng xuôi tay khép mắt. Một giấc ngủ ngon. Một giấc ngủ sâu. Một giấc ngủ không còn vướng bận, lo toan gì nữa. Mọi việc đã xong. Mẹ thanh thản về trời. Nơi lưu dấu mẹ nằm nhẹ nhàng, siêu thoát tượng hình ơn nghĩa Quê hương đã chôn nhau cắt rốn. Đã tượng hình tiếng khóc oa oa từ ngày y lọt lòng mẹ.

Bây giờ, bất hạnh thay, lần này cắn răng lại vào môi. Cắn nữa đi, cố ghìm lại những giọt nước mắt bật ra như một lẽ tự nhiên. Đừng khóc. Đừng khóc. “Mẹ ơi”, tự dặn lòng đừng khóc. Đã lớn rồi. “Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học”.

Bài học khó khăn nhất của đời người vẫn là tiếp tục sống trong đường đi vạn nẻo, từ nay, không còn có mẹ. Rồi ai cũng học được. Nhưng có lẽ một bài học gian nan nhất vẫn là phải biết quên. Quên đi nỗi nhớ đã tượng hình sâu thẳm từ trong ký ức. Sự dai dẵng ấy, mới là nỗi đau khốc liệt và bền bĩ song hành cùng năm tháng. Mà cũng phải biết quên. Sự thương nhớ của chính mình sẽ khiến người đi mãi ngập ngừng, chần chừ, lưu luyến mãi, khó rời xa Cõi tạm, khó có thể nhẹ nhàng về nơi Vô Cùng. Bài học ấy, bao giờ y mới có thể học xong? Lúc này, chỉ gọi thầm “Mẹ ơi” lại ứa nước mắt. Đó là lúc con người ta đã vĩnh viễn mất mẹ. Không bao giờ, không bao giờ còn được nhìn thấy cái bóng của chính mình một lần nào nữa. Dù chỉ một lần. Không bao giờ.

Bài học không ứa nước mắt lúc gọi thầm “Mẹ ơi”, dù khó, rất khó nhưng phải học cho bằng được. Hãy cứng rắn lên. Hãy đứng lên. Đi đi. Đừng có khóc.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.10.2017

22195762_761769090673520_6272056190313197394_n

Quái quỷ cho chữ với nghĩa, chỉ mẫu tự ghép lại, thế nhưng có những câu chữ dù không gì ghê gớm lắm, nhưng đã đọc xong ắt phải bật ra tiếng cười. Cười tự nhiên. Không gì phải cố gắng. Người ta viết như chơi, như đùa, như thật ấy mà tự dưng vừa đọc dứt câu là phải há miệng ra cười cho sướng cái sự đời. Đời có lúc vui, có lúc buồn, chẳng việc gì phải ca thán một cách ồn ào và kém hiểu biết: “Sự đời như chiếc lá đa/ Đen như mõm chó chém cha sự đời”. Đọc xong, chẳng thấy hay ho gì cả, bất quá cũng chỉ là câu nói buột miệng thiếu kiềm chế.

Có câu ca dao này mới là hay, mới là điệu nghệ cá tính của nữ nhi của miền Nam nước Việt: “Ba bốn nơi sang cả, phụ mẫu em muốn gả/ Em chấp tay: khoan đã, chưa tới duyên phần/ Phụ mẫu nói em bất tuân giáo hóa/ Em trèo lên cây bần cho kiến nó bu”. Câu cuối cha chả là hay. Hay vì bất ngờ khiến người ta phải cười cho bằng được bởi vì rằng, giận cha mẹ mà leo lên cây bần thì cũng dễ hiểu nhưng để làm gì? Cô gái bảo: “Cho kiến nó bu”. Chi vậy thôi. Đơn giản vậy thôi. Cam đoan bất kỳ bà mẹ nào, một khi nghe con gái nói dỗi, nói hờn như vậy cũng cất tiếng cười xòa.

Ở miền Trung có cây bần hay không? Chẳng rõ nữa. Chỉ biết, Nam bộ có câu này cũng lém lỉnh không kém: “Nước chảy cặc bần run lẩy bẩy/ Gió đưa dái mít giãy tê  tê”. Cặc bần là cái chi chi? Thôi thì, hãy đọc Việt Nam từ điển (1970) của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ: “Cặc bần (danh từ, thực vật): Rễ cây bần, rễ cứng đuôi nhọn đâm ngược và ngay lên chôm chổm khỏi mặt đất từ 20 đến 40 cm” . Theo ông Huình Tịnh Paulus Của (1895), cái cây có tên thô kệch kia lại có “tên chữ” cực kỳ duyên dáng, yểu điệu ra phết: “Đóm đeo thủy liễu đôi chùm/ Biết ai nhơn đạo chỉ giùm làm ơn”.

Xét ra, cách gọi nôm na dân dã bao giờ cũng ấn tượng hơn. Ví như trái sầu riêng, cách gọi này dịu vợi quá chừng chừng, nếu gọi bằng cái tên Châu Liên, e nghiêm nghị quá đi thôi, mất đi một sắc thái tình cảm do từ đồng âm mà có: “Ngó lên trăng chúc sao nghiêng/ Vui chung với bạn sầu riêng một mình”; câu này cũng day dứt không kém: “Buồn trông lửa tắt nhang tàn/ Dế kêu rủ rỉ thương nàng sầu riêng”.

Sầu riêng là gì? Là nỗi sầu ấy chỉ mình biết, chỉ mỗi mình gặm nhấm lấy nó, “tận hưởng” lấy nó, nếu nói như câu chữ thời thượng của mấy ông văn nghệ sĩ phải là “thú đau thương”. Có lẽ Lưu Trọng Lư là người trước nhất dẵ sự dụng cụm từ đó chăng? Thì đây, từ năm 1939, Con nai vàng ngơ ngác đã kêu lên: “Xin để gối nằm im chỗ cũ/ Hãy lịm người trong thú đau thương/ Giờ đây ta đốt nén hương / Trên tay ta buộc dải tang cho tình”.

Có một câu ca dao cực hay khi nói về tâm sự của sự sầu riêng, chỉ cho thể chọn lấy: “Lan huệ sầu ai lan huệ héo/ Lan huệ sầu tình trong héo ngoài tươi”. Phạm Duy có “mắt xanh” khi thấu hiểu về sự thẩm mỹ trong cung bậc sắc thái tình cảm, do đó, ông đã chọn lấy những câu ca dao trữ tình bậc nhất để lồng vào trong ca từ của một ca khúc. Nếu loại bỏ “Lan huệ sầu ai”, loại bỏ “Tóc mai sợi vắng sợi dài/ Lấy nhau không đặng thương hoài ngàn năm”,  chắc chắn sức sống của nó không âm vang, day dứt, da diết như đã có.

Y có sầu riêng không? Thời trẻ, có đấy. Có nên mới có thể viết: “tôi đứng trước cây khế mỗi đêm/ để nhìn trộm em tắm/ nhưng chỉ gặp hương hoa huệ trắng/ thoang thoảng bay qua/ tôi trở về nhà/ suốt một đêm mất ngủ/ từ đó, tôi yêu hoa/ muốn tặng em một đóa hoa mới nở/ nhưng lại sợ/ hoa không thơm như môi em/ hoa không trắng như da em/ và hoa không tinh khiết như em/ từ đó, mỗi đêm/ biết rằng khi em tắm/ tôi lại tương tư/ hương hoa huệ trắng”. Sở dĩ có hình ảnh cây khế cũng vì quá thích câu thơ của Phạm Công Thiện: “Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn/ Cây khế đồi cao trổ hết bông”. Sở dĩ có nhìn trộm em tắm cũng vì quá thích mấy câu thơ của Bạc Văn Ùi: “Sao anh lại rình/ Trộm xem em tắm? Da của em ngần trắng/ Da của mẹ, của cha/ Tay của em lấm lem/ Tay của than của bụi/ Tay của rừng của núi/ Tay của đất của nương/ Em tắm xong lại sạch/ Vẫn ngát thơm hoa rừng/ Da của em trắng ngần/ Là của anh tất cả/ Không phải người xa lạ/ Việc gì mà trộm xem”.

Đôi khi đọc lấy ca dao lại thấy sự hấp dẫn khó gì có thể sánh nổi. Vẫn là những câu chữ còn thô mộc, dân dã nhưng lại duyên dáng. “Ruộng gò cấy lúa Nàng Co/ Thương anh thì thương đại, đừng để anh gò mất công”. Ruộng gò là cuộc đất cao, ít nước, nói cách khác là ruộng cao: “Ruộng thấp tát một gàu giai/ Ruộng cao thì phải đóng hai gàu sòng”. Mà gầu giai là thế nào? Là gàu không có cán, buộc bốn sợi dây dài dành cho hai người cầm lấy, đứng bên miệng ao, bờ ruộng mà tát nước. Gàu sòng là gàu có cán dài, treo vào ba cái cọc, một người tát.

Nhờ hiểu vậy, khi đọc Tát nước của Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương mới biết nhân vật trong thơ tát gàu sòng: “Đang cơn nắng cực chửa mưa tè/ Rủ chị em ra tát nước khe/ Lẽo đẽo chiếc gầu ba góc chụm/ Lênh đênh một ruộng bốn bờ be/ Xì xòm đáy nước mình nghiêng ngửa/ Nhấp nhổm bên ghềnh đít vắt ve/ Mải việc làm ăn quên cả mệt/ Dạng hang một lúc đã đầy phè”. Một bài thơ đa nghĩa, đọc ngược đọc xuôi mới lại càng nhận ra một bậc thầy sử dụng tiếng Viết đến mức thượng thừa. Nông thôn ngày càng hiện đại hóa, liệu chừng không ít người khi đọc ca dao sẽ vấp phải vài ba từ, có thể không hiểu rõ ngọn ngành. Vì lẽ đó, ở trong nhà luôn cần có những quyển tự diển tiếng Việt là thế, khi cần có thể tra cứu ngay.

Mà câu ca dao ”Ruộng gò cấy lúa Nàng Co/ Thương anh thì thương đại, đừng để anh gò mất công” hay chỗ nào? Vẫn là từ “gò”. Gò là tán tỉnh, dỗ dành, là o mèo, là cua gái. “Ruộng gò cấy lúa Ba Xe/ Thấy em còn nhỏ anh ve để dành”. Ve cũng là gò. Sự dí dỏm, tinh nghịch gói gọn trong từ “để dành”. Khôn quá là khôn. Sực nhớ, sáng Chủ nhật vừa rồi đi dự kỷ niệm nhân 130 năm ngày sinh nhà văn hóa Phan Khôi. Gia đình mời đến một quán ăn “chuyên trị” món ăn xứ Quảng. Trên đường đi lại nhớ đến vài câu thơ của ông Phan Khôi viết năm 1921. Nhớ rằng, trong thơ này cũng có từ gò đấy chứ?

Bài thơ Viếng mộ Lê Chất của Phan Khôi như sau: “Bình Tây trấn Bắc sử nghìn thu/ Ấy cỏ mờ rêu đất một u/ Ấy dũng ấy trung là thế thế/ Mà ân mà nghĩa ở mô mô/ Chim gào hờn sót xuân ầm ỹ/ Hùm thét oai lưa gió vụt vù/ Cái chuyện anh hùng ai giở đến/ Hồ Tây còn vẳng tiếng chuông bu”. Nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan bình: “Thật là một bài thơ mà vận rất oái oăm và ý rất chặt chẽ. Đọc lên nó có một giọng ai oán thê thảm như cái vang ngân của tiếng chuông chùa “bu lu bi li” trên mặt nước Hồ Tây. Lời lại rất cứng cáp, có cái giọng cảm khái, bất bình trong câu tam, tứ. Cuối câu đầu bằng ba chữ “sử nghìn thu” và câu kết hạ bằng ba chữ “tiếng chuông bu” gây nên một âm điệu rất buồn, làm cho bài thơ thêm giọng thê lương. Những chữ “thế thế”, “mô mô”, “chim gào”, “hùm thét” đưa lời thơ lên rất mạnh. Thơ Đường luật gần đây ít bài được như thế” (Nhà văn hiện đại, NXB Thăng Long tái bản năm 1960, tr. 268).

“Ấy cỏ mờ rêu đất một u”. U trong ngữ cảnh này đích thị là gò/ gò đất. Nhắc đến u, lập tức trong trí nhớ nghĩ câu thơ của nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà, nhiều người nhầm tưởng ca dao: “Ong bầu đậu đọt mù u/ Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn”. Câu ca dao thứ thiệt này mới thần sầu quỷ khốc: “Mù u bảy lá mù u/ Vợ chồng hờn giận,… giảng hòa”. Cách nói thiệt thà quá đi mất, cứ nói toẹt ra, chẳng thèm phải úp mở xa gần gì cả. Âu cũng là sự khỏe khoắn, lạc quan trong đời sống tinh thần của người Việt. Đọc lên đã thấy rạo rực sức sống, cứng bần bật, không hề “Nước chảy cặc bần run lẩy bẩy/ Gió đưa dái mít giãy tê  tê”.

Bài thơ của Phan Khôi, dù dùng theo cách phát âm của người miền Trung, nhưng không khó hiểu. Riêng 2 câu luận: “Chim gào hờn sót xuân ầm ỹ/ Hùm thét oai lưa gió vụt vù” thì “hờn sót” là nỗi căm hờn còn sót lại; “oai lưa” là oai thừa, cái oai ấy vẫn còn. Khi đọc đến câu cuối, thú thật, y không thể không bật ra tiếng cười nho nhỏ: “Hồ Tây còn vẳng tiếng chuông bu”. Tiếng chuông bu nó ra làm sao? Phải là chuông bong/ bong bong mới dễ hiểu hơn chăng? Thật bất ngờ khi Việt Nam tự điển (1931) do Hội Khai trí tiến đức ở ngoài Bắc khởi thảo có ghi nhận: “Bu lu: cái chiêng, do tiếng kêu mà đặt tên”. 

Trong cái sự ngân vang của “tiếng chuông bu” ấy, ông Vũ Ngọc Phan nghe ra: “có một giọng ai oán thê thảm như cái vang ngân của tiếng chuông chùa “bu lu bi li” trên mặt nước Hồ Tây”. Ở truyện ngắn Chém treo ngành, nhà văn Nguyễn Tuân lại cảm nhận: “Một tiếng loa. Một tiếng trống. Ba tiếng chiêng. Rứt mỗi hồi chiêng mớm, thì một tấm linh hồn lại lìa khỏi một thể xác. Tùng! Bi li! Bi li!”. Thì ra, với âm thanh mỗi người có cách cảm nhận khác nhau.

Từ “bu” này cũng lắm chuyện. Cái chụp đan bằng tre, nứa giống như cái nơm dùng để nhốt gà, ngoài Bắc gọi cái bu, trong Nam lại gọi cái bội. “Trong chay ngoài bội” thì bội trong thành ngữ này lại là hát bội. Lan man chuyện chữ nghĩa xưa cũ mà không ghi nhận cách từ mới là một thiếu sót. Chẳng rõ tài trí của người Việt thông minh đến cỡ nào, đã sáng chế ra những gì thuộc lãnh vực kỹ thuật, muốn biết rõ cần phải đọc, phải tìm hiểu chán chê chứ không thể phán bừa một câu cho xong. Thiên hạ cười cho. Vì lẽ đó, y không dám trả lời. Chỉ biết rằng, hiện nay nay người Việt rất có khả năng, trình độ nhằm biến hóa từ ngữ.

Xin đưa ra một thí dụ, báo Tuổi Trẻ số ra ngày 8.9.2017 đăng tin Làm rõ clip cảnh “tiếp thị sữa” hỗ trợ CSGT. Khỏi cần giải thích lòng vòng, ai cũng biết tiếp thị sữa là gì rồi, nhưng ở đây lại hoàn toàn mang một ý nghĩa khác hẳn. Trên báo Tuổi Trẻ cười số số 532 ra ngày 1.10.2015, qua báo Sự kinh ngạc của Thị Mịch khi lên Kẻ Chợ, cây bút trào phúng Tú Hợi giải thích: “Khi thấy mấy chiếc xe chạy sai chiều, phu-lít cứ việc chổng khu thổi tu huýt nghe hoét hoét, lập tức chúng dừng lại cái rụp. Cứ việc ghi biên lai phạt là xong. Nếu chúng ương ngạnh, cãi cọ lôi thôi, cãi chày cãi cối à? Việc gì phải đôi co với bọn khố rách áo ôm ấy? Chỉ cần nháy mắt ra hiệu, lập tức có ngay vài thằng đầu trâu mặt ngựa đang đứng xớ rớ đâu đó nhảy vào đấm đá túi bụi. Đánh luôn một trận ra trò. Đánh cho nhớ cho chừa. Lần sau, phải xìa tiền phạt ra. Chớ có ngu ngốc cãi nha con. Nhẹ thì thuốc thang vài tháng. Nặng thì chầu Diêm vương”. Ấy là bọn “tiếp thị sữa”.

Mới đây, lại nghe thêm câu thành ngữ mới: “Đầu tư quan hệ, công nghệ phong bì”. Không rõ ai là người đã có “sáng kiến” vận dụng cái phong bì ngày càng “siêu việt”. Tất cả những gì cần “thay lời muốn nói” đều phải thông qua cái phong bì. Nhanh và gọn. Vừa công khai, vừa kín đáo. Trong nhiều mối quan hệ, đều phải cần sử dụng đến nó. “Đường vào biên chế quanh co / Muốn đi đường tắt phải lo phong bì”. Đại khái là thế. Mà một khi sử dụng phong bì như một “công nghệ” thì chẳng còn gì để nói nữa. Sự méo mó ngữ nghĩa của tiêng Việt bi hài đến thế là cùng.

Trời đã chiều. Rồi chiều cũng đã chiều nốt. Một ngày đã cạn dần. Một buổi chiều. Nhiều buổi chiều. Chẳng gì khác. Chẳng mấy chốc lại bước sang bên kia dốc của đời người. Năm tháng lại trôi đi. Biết thế, hãy cứ vui lên đi. Đôi lúc cười cợt một lúc cho nhẹ nhàng. Tìm kiếm trong dòng chảy của đời sống mỗi ngày, nếu cảm thấy khó quá thì cứ việc lui về chốn thư hương. Mở rộng cửa phòng nhẩn nha cùng vài trang sách. Đôi khi niềm vui chỉ có thế, ai cũng có thể có, việc gì phải than phiền khi đã ngoài ngũ thập tìm kiếm niềm vui sao lại khó quá. Thôi thì hãy cứ tự nhủ: “Vẫn còn đây sợi tơ lòng đồng vọng/ Dẫu hư vô sự vật vẫn hữu hình/ Trong bóng tối vẫn chói ngời ánh sáng / Muốn tĩnh tâm, anh cứ hỏi lòng mình”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 6.7.2017

chuyen_muc_dan_cho_tuoi_hoc_tro

Một chuyên mục trên báo Thiếu Nhi


“Cáo lỗi cùng độc giả toàn quốc: Vì tờ Bút Học Trò gặp trở lực lớn lao trên trường văn, trận bút nên phải đình bản và thay thế bằng tờ Bút Mới. Chúng tôi quyết san bằng mọi khó khăn nguy khốn để đáp lại thịnh tình của bạn đọc bốn phương, đồng thời nỗ lực đóng góp vào công cuộc phát huy tương lai văn hóa dân tộc”.

Nếu biết ai viết và tại sao có câu văn “hoành tráng” này, chắc chắn nhiều người sẽ… tủm tỉm cười. Vì rằng, ấy là lời “phi lộ” trong tập san in thạch bản của một nhóm học trò trung học “mặt búng ra sữa”, mê văn chương sống tại Hà Nội vào thập niên 1950. Chi tiết ngộ nghĩnh này, nhà văn Nhật Tiến đã kể lại trong hồi ký Thuở mơ làm văn sĩ, đăng feuilleton trên báo Thiếu Nhi ở miền Nam trước năm 1975.

Bấy giờ, thế hệ bọn y cũng không khác gì các cô cậu học trò Hà Nội ngày ấy. Ghi lại dấu ấn đáng yêu của một thời, sau này, qua truyện dài Lá nằm trong lá của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh cũng có kể lại. Thật ấn tượng bởi bút nhóm Mặt trời khuya, gồm những “cây bút” dù còn mài đũng quần trên ghế nhà trường nhưng tự nhận “tương lai của văn chương nước nhà” như Cỏ Phong Sương, Trầm Mặc Tử, Hận Thế Nhân, Lãnh Nguyệt Hàn… Tác phẩm này hấp dẫn, chân thực, độc đáo bởi nhà văn Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ không hề tưởng tượng mà lấy chất liệu có thật trong sinh hoạt văn nghệ của thế hệ anh.

Các “mầm non văn nghệ” ấy học chung trường, có thể cùng hoặc khác lớp, họ quy tụ thành một bút nhóm, thi văn đoàn để động viên, góp ý sáng tác cho nhau. Và tất nhiên, để phổ biến “tác phẩm”, họ cũng ra báo như ai. Đó là tập san được in thạch bản, mỗi kỳ chỉ “phát hành” vài chục số, chủ yếu lưu hành trong lớp học, chuyền tay nhau đọc.

Cách “in” dễ lắm. Mua xu xoa trắng, đem về nhà nấu ra rồi đổ vào mâm đồng. Khi nó đã đông đặc, lật ngược mâm lại, ta đã có một “bàn in” bằng phẳng. Bấy giờ, ai có “hoa tay” viết chữ đẹp thì được phân công viết các sáng tác thơ, văn, truyện ngắn...  trên giấy trắng. Mực viết phải chọn phẩm tím, mực tàu loại tốt, chờ lúc giấy khô mực đem úp lên mặt “bàn in”, vuốt đều để mực thấm vào đó. Sau khi lấy tờ giấy đó ra, ta đã có một “bản in” hoàn chỉnh. Rồi cứ đem các tờ giấy trắng khác úp lên, vuốt khẽ là có thêm bản thứ hai, thứ ba... Nếu mực tốt có thể in một lúc 50 bản, về sau mực càng mờ dần. Muốn “in” thêm trang khác thì cho xu xoa vào nồi, đổ thêm nước nấu lại để có “bàn in” mới.

Không những tự lập bút nhóm nhằm có điều kiện “giao lưu văn nghệ”, bọn y còn tham gia sinh hoạt chung với các “bạn văn” ở Sài Gòn nữa. Năm học lớp 8, cùng một lúc, y gia nhập bút nhóm, thi văn đoàn Việt Nam, Thoáng hương, Hồn trẻ, Mây trắng… Mọi việc rất đơn giản, chỉ cần điền tên vào cái mẫu đơn quay ronéo, gửi kèm theo hai tấm ảnh chân dung 4 x 6 cm. Ít lâu sau, ắt nhận được thẻ hội viên gửi qua đường bưu điện. Thỉnh thoảng, nếu tổ chức làm nội san thì trưởng nhóm gửi thư kêu gọi hội viên gửi bài. Nếu bài đạt yêu cầu, được chọn đăng vào tập.

Ừ, ở Sài Gòn có khác.

Trong lúc ở miền Trung nhằm “phát huy tài năng tột bực” với hy vọng sẽ trở thành “ngôi sao sáng chói, lẫy lừng nhất trên vòm trời nghệ thuật”, bọn y chỉ mới phổ biến “tác phẩm” bằng cách in thạch bản thì ở Sài Gòn các “bạn văn” đã quay ronéo - tức viết tay hoặc gõ máy chữ trên giấy stencil. Hiện đại quá. Oách quá. Dù tờ đặc san ấy số lượng in rất ít ỏi, chỉ vài chục bản, trăm bản là cùng nhưng với “công nghệ tiên tiến” ấy đã khiến chúng tôi “sướng rêm mé đìu hiu”.

Nếu ai đó còn giữ lại các nội san học trò này, ắt sẽ còn bật cười sung sướng, khoái chí vì không ngờ lúc đó mình và các “bạn văn” lại đặt bút danh “sáng láng”, “sang trọng” đến cỡ đó. Chẳng hạn đặc san Xuân Nhâm Tý (1972) của thi văn đoàn Việt Nam cho biết có cả thảy 305 hội viên như Khóe Mắt Tím, Kim Huyền Giao Giao, Bạc Phận “F”, Thy Hoang Mùa Đông, Mặc Thế Thái, Băng Hàn Tuyết Sương, Hoàng Liên Tử, Sao Rơi, Vạn Sầu Nhân, Cát Sa Mạc, Hoàng Dũ Linh, Thiên Bất Hủ... Còn nhớ, lúc y gia nhập bút nhóm Mây trắng, bút nhóm trưởng có tên rất “yểu điệu”: Thảo (Phú Lâm). Nào ngờ sau này tôi mới bật ngửa ra khi hay biết ấy chính là bút danh của nhà thơ Nguyễn Hải Thảo cũng trạc tuổi y, mới học lớp 9 - nay anh là hội viên Hội Nhà văn TP.HCM.

Sau một thời gian sinh hoạt chung cùng các “văn hữu” ở Sài Gòn, y và các bạn cùng xóm Hải Châu (Đà Nẵng) thành lập bút nhóm Phù Sa. Rồi cũng mày mò bắt chước theo cách quay ronéo - một hình thức in giá rẻ, tiện lợi và phổ biến nhất thời đó. Sau khi thực hiện xong, bạn bè chia nhau đem vào trường bán cho các lớp khác, không phải nhằm thu hồi vốn mà chính là tiếp tục… quảng bá “tác phẩm”.

Thêm một điều cần ghi nhận, sở dĩ các “mầm non văn nghệ” thuở ấy không bỏ cuộc nửa chừng còn thêm lý do này: Tại Sài Gòn có những nhà văn đi trước, khi chủ biên một tờ báo, họ cũng lập sân chơi nhằm quy tụ đối tượng độc giả của báo như nhà văn Nhật Tiến qua Thiếu Nhi thành lập Gia đình Thiếu Nhi, nhà thơ Nguyễn Vỹ qua Thằng Bờm tổ chức Gia đình Thằng Bờm… và mở rộng đến nhiều địa phương khác; các tuần báo dành cho tuổi mới lớn như Tuổi Hoa có chuyên mục Đồng cỏ non, thậm chí nhật báo như  của báo Chính Luận cũng có Gia đình Mai Bê Bi…  dành đăng các sáng tác của các cây bút học trò.

Nhờ vậy, một khi có “tác phẩm mới” ngoài việc “in” ở các nội san thi văn đoàn, bút nhóm, bọn y còn có thêm “đất dụng võ”, nhiều sân chơi khác. Thỉnh thoảng những tờ báo trên cũng in lại “tác phẩm” từ các tập đặc san học trò đã in thạch bản, quay ronéo như một cách ưu ái, động viên các “mầm non văn nghệ”. Chẳng hạn, báo Thiếu Nhi số 125 ngày 1.6.1974 - nhà văn Nhật Tiến chọn in Lục bát ngày xa mái trường lấy từ tập san của bút nhóm Phù sa:

1. THIÊN BẤT HỦ

Bé ghi kỷ niệm ngày xanh

Bao nhiêu thương nhớ trên nhành yêu thương

Gọi lòng tình nghĩa vấn vương

Bé ghi lưu bút xanh hương học trò

2.  CỎ NON

Lá me bay, tóc hoa cài

Xếp cho nhung nhớ ẩn hoài ngăn tim

Kỷ niệm chừ cũng làm thinh

Sân ga sáng sớm một mình về quê

(Bút danh của Nguyễn Văn Sanh, hiện nay ở Đà Nẵng).

3. HOÀNG DŨ LINH

Hạ ơi! Ta gửi đôi lời

Nhắn cùng nhành phượng và mời chú ve

Đừng sầu bi thảm sang hè

Cho tình ta gửi gió nghe trộm lời

(Bút danh của Nguyễn Văn Phú hiện ở Sài Gòn).

4. HOÀI NGUYÊN GIANG

Vòng tay siết chặt bên nhau

Trao nhau lưu bút lệ sầu vương rơi

Đôi ta cách biệt phương trời

Trong ba tháng hạ đầy lời nhớ mong

(Bút danh của Nguyễn Phát, em con bà dì ruột ở Đà Nẵng, đã mất sớm, đúng như câu thơ Phát đã viết: “Đôi ta cách biệt phương trời”.

5. MỪNG HOANG VU

Thơ làm em tặng trường xưa

Rong rêu lá phủ thầy xa, bạn về

Hè sang ve hát lê thê

Còn em sân nắng buồn ghê là buồn

(Bút danh của Phan Vân Sơn, trưởng Gia đình Thiếu Nhi ở Đà Nẵng).

6. LƯƠNG VĂN BÌNH

Mây chiều lộng nắng vàng hoe

Bước chân giẫm nát cây hè phượng rơi

Đưa tay ôm lấy gió trời

Bỏ quên sách vở tình khơi giữa hè

(Có thể tên thật của Hùng Vỹ, trong Gia đình Thiếu Nhi ở Quảng Tín, Tam Kỳ. Không rõ nay thế nào, chưa biết mặt.

7. NGUYỄN TRƯỜNG ANH

Trong đôi mắt thơ dại khờ

Một niềm lưu luyến mong chờ hè sang

Hàng dương rũ bóng chiều tan

Hàng cây phượng đỏ theo làn tóc mây

(Tên thật Nguyễn Lặc ở Diên Khánh (Nha Trang). Sau đó, đổi bút danh Nguyễn Tường Anh. Không rõ nay thế nào, chưa biết mặt).

8.ĐẰNG LINH

Nhớ thương ơi! Những đợi chờ

Dãy bàn năm cũ phai mờ mực chưa?

Trường yêu xa mấy cho vừa

Tình thương thầy, bạn bây giờ vời xa

(Trong gia đình Thiếu Nhi ở Quảng Tín, Tam Kỳ. Không rõ nay thế nào, chưa biết mặt.

Không chỉ quanh quẩn chuyện sáng tác làm thơ viết văn, một khi tự thành lập bút nhóm hoặc tham gia các "gia đình" nêu trên, bọn y còn được các anh chị đi trước tổ chức sinh hoạt cộng đồng. Đó là những cuộc cắm trại ở nơi xa, trại hè và sinh hoạt tập thể định kỳ tại địa điểm cố định vào mỗi sáng chủ nhật hằng tuần. Hầu như “kỹ năng sống” của lũ nhóc thế hệ yêu thơ văn bọn y đã được “đào tạo” trong khoảng thời gian này. 

Nhớ lại năm tháng của “thuở mơ làm văn sĩ”, nhiều bè bạn ngày ấy đều cho rằng, nhờ trao đổi thơ văn, đọc và góp ý cho nhau các sáng tác trong sinh hoạt cộng đồng, họ đã trưởng thành lên.

Từ sân chơi ngày đó, từ Hoài Mộng Diễm Thư đã có Nguyễn Nhật Ánh, từ Thiên Bất Hủ đã có Lê Minh Quốc, từ Trần Quang Đoàn đã có Đoàn Vị Thượng v.v…Từ Gia đình Thằng Bờm có Hy Yên, Nguyễn An Trung - nay đã là nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên, doanh nhân Nguyễn Hữu Cứ - nay thành viên của Hội Xuất bản Việt Nam, đạo diễn Thái Loan (HTV)…; từ Gia đình Thiếu Nhi đã có Bạc Hà - nay nhà thơ Nguyễn Văn Nhân; nhà thơ Nguyễn Thanh Xuân; Mừng Hoang Vu nay nhà văn Phan Vân Sơn… Rồi ở Gia đình Mai Bê Bi có Lê Nguyễn Mai Trắng - nay nhà báo Bạch Mai (Báo Phụ Nữ TP.HCM) v.v…

Nhớ lại kỷ niệm một thời, thật vui khi biết các thế hệ hiện nay cũng đã có những sân chơi tương tự như bút nhóm Vòm Me Xanh (báo Khăn Quàng Đỏ), Gia đình Áo Trắng (NXB Trẻ - báo Tuổi Trẻ)… Tình yêu dành cho văn chương của tuổi học trò thời nào cũng cần, rất cần những “bệ phóng” tương tự.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 3 trong tổng số 52

trinhduyson