LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 8.5.2017

 


truyn-Kiu-2truen_kiedu

 

“Vô phúc đáo tụng đình”, không chỉ tâm lý của người Việt, câu cửa miệng này có tính khái quát dành cho mọi sắc tộc, mọi thể chế chính trị. Bởi vì rằng, bên cạnh những vị quan tòa thanh liêm, cần cân nẩy mực, trắng đen phân định rõ ràng, thời nào cũng có “Con sâu làm rầu nồi canh”, “Xui nguyên giục bị”. Ngày trước, khi vịnh Truyện Kiều, cụ Nguyễn Khuyến hạ bút chua chát, cay đắng: “Có tiền việc ấy mà xong nhỉ?/ Thời trước làm quan cũng thế a?”.

Một khi cầm bút, dù là thể loại, đề tài nào đi nữa, người ta cũng gửi gắm tâm sự, tình cảm, ý nguyện của mình trong đó. Có thể nó lồ lộ trên dòng chữ, lại có lúc ẩn náu giữa khoảng trắng của mỗi dòng chữ.

Mấy hôm nay, thú thật, chẳng thiết đọc gì cả. Mọi thông tin trên báo chí, chỉ lướt theo đôi dòng thời sự. Thời gian còn lại, y lại chúi mũi vào Truyện Kiều. Nhẫn nha. Chậm rãi. Đọc như một cách tìm về sự trong sáng của tiếng Việt. Và qua đó, lấy làm ngạc nhiên không rõ vì sao thi hào Nguyễn Du đồng tình về tính cách một vị quan phủ lúc xử án lại có hành vi “chịu chơi” đến thế? Phải chăng cụ gửi gắm lòng tin, ước mơ về lẽ công bằng: “Bên ngoài lý, bên trong là tình” qua nhân vật này?

Rằng, ta hãy quay về lúc ông bố của Thúc Sinh phát hiện ra cậu con trai mình đã mèo mèo mỡ mỡ, chung chung chạ với Thúy Kiều. Trước tình huống này, sự bực mình, bực tức, bực bội ngùn ngụt dâng trào trong tâm trí những người làm cha, làm mẹ là phải thôi. “Phong lôi nổi trận bời bời/ Nặng lòng e ấp, tính bài phân chia”. E ấp trong ngữ cảnh này là e dè, rụt rè, có ý ngần ngại, chưa biết phải quả quyết làm sao cho hợp lý, do đó, Thúc Ông mới “tính bài phân chia”. Không rõ, Thúc Ông suy tính trong bao lâu, câu thơ tiếp nối lại là: “Quyết ngay biện bạch một  bề:/ Dạy cho má phấn lại về lầu xanh”.

Quyết định cứng rắn chia uyên rẽ thúy khác gì bom nguyên tử nổ trên đầu. Đưa Thúy Kiều về lại cái chốn hắc ám mà chàng vừa chuộc nàng ra khỏi? Lập tức, chàng hoảng hốt: “Đánh lời, Sinh mới lấy tình nài thêm”. Dù năn nỉ ỉ ôi, cắn cỏ ngậm vành nhưng ông bố vẫn không thèm nghe, bỏ mặc ngoài tai. Thấy con cứ lải nhải mãi bằng những “lời sắt đá tri tri”, bực lắm, khó có thể nói gì thêm. Vậy nên, “Sốt gan, ông mới cáo quỳ cửa công”. Ông đâm đơn ra công đường, nhờ quan phủ phân xử. Xét ra, giềng mối gia đình, xã hội ngày ấy vẫn đâu ra đó; nay, thời buổi này, có thể Thúc Sinh dẫn Kiều lánh đi chỗ khác chăng? Nếu thế, làm gì nhau?

“Trông lên mặt sắt đen sì”, ấy là hình ảnh nghiêm minh của quan phủ. Sự nghiêm minh, chính trực ấy, khó gì có thể mua chuộc nổi? Có phải thê chăng? Chưa chắc đâu. Lại nhớ đến lúc Hồ Tốn Hiến sau này gặp Kiều: “Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”. Còn điều kiện gì nữa không? Hãy nhớ lại câu thơ của cụ  Nguyễn Khuyến vừa nêu trên. Ở đây, cả hai yếu tố trên đều không xẩy ra. Lúc Trúc Sinh và Thúc Kiều vừa dẫn xác vào, lập tức là một trận mắng phủ đầu: “Gã kia dại nết chơi bời/ Mà con người thế là người đong đưa!”. Thế nào là người “đong đưa” - hiểu theo nghĩa tráo trác, lẳng lơ? Thì đây: “Tuồng gì hoa thải hương thừa/ Mượn màu son phấn đánh lừa con đen”. Nhớ lại đi, trong Truyện Kiều còn có câu: “Nước vỏ lựu, máu mào gà/ Mượn điều chiêu tập gọi là còn nguyên/ Mập mờ đánh lận con đen/ Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền tiếc chi”.

Hầu hết các bản Kiều trước đây, giải thích con đen, đại khái là dân đầu đen, dân thường, “dân khu khu đen” thật ra, “con đen” ở đây là “con ngươi”. Đánh lừa con mắt nhìn của thiên hạ, chứ không cứ gì dân đen. Mắng mỏ chán chê, phân tích phải quấy, quan tòa bèn xử rằng: “Một là cứ phép gia hình/ Một là lại cứ lầu xanh phó về!”.

Câu thơ trên, không việc gì phải giải thích, rườm tai người khác. Y thích từ “phó”, nay chẳng mấy ai sử dụng nữa. Phó có nghĩa là giao về, ủy cho, trả về, nói rộng ra là chuyển/ trả một vật từ nơi này đến nơi khác; hoặc ủy cho người khác việc gì đó. Có giai thoại, lần nọ, chồng đi vắng, ra chốn công đường gặp lúc có người mang đơn kiện đến, chưa tìm hiểu thấu ngọn ngành, nữ sĩ Bà Huyện Thanh Quang phê luôn: “Phó cho con Nguyễn Thị Đào/ Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai/ Chữ rằng: “Xuân bất tái lai/ Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già!”. Bút phê bằng thơ khiến ta phì cười còn bởi từ “kiếm chút” - tức là cho phép cô Đào được quyền kiếm mụn con để ẵm bồng, nói cách khác, cô được phép ly dị chồng ngon ơ.

Hãy trở lại với Thúc Sinh - Thúy Kiều. Khi nghe quan tòa xử như trên, sức mấy Thúy Kiều chọn “phương án” trở lại cái nơi “Nhện này vương lấy tơ kia mấy lần”. Nàng quyết không trở lại lầu xanh. Hỡi ôi, lập tức, nàng phải hứng lấy trận đòn ghê gớm. không bút lực nào tả xiết. Thi hào Nguyễn Du không thể đành lòng miêu tả chi tiết, chỉ tóm gọn trong 8 từ: “Đào hoen quện má, liễu tan tác mày”. Tuy nhiên, trận đòn này, so lúc nàng bị Tú Bà ra tay vẫn chưa là “cái đinh” gì: “Uốn lưng máu đổ, giật đầu máu sa”. Còn kinh khiếp hơn nhiều.

Nhìn thấy cảnh tra tấn ấy, đau lòng quá, Thúc Sinh làm gì?

Chàng khóc, nhận lỗi là do mình nên mới xẩy ra cớ sự. Quan phủ động lòng, mới gặng hỏi chi tiết cụ thể ra làm sao v.v… Câu tỉ tê này mới quan trọng, quan trọng nhất của Thúc Sinh, nhờ nó mà chàng đã xoay chuyển tình thế ngoạn mục, bất ngờ: “Sinh rằng: “Chút phận bọt bèo/ Theo đòi vả cũng ít nhiều bút nghiên”. Ý chàng muốn nói, dù gì đi nữa Kiều cũng là người có học, biết chữ nghĩa, chứ không phải "hoa thải hương thừa". Thoạt nghe, quan tòa đổi thái độ: “Cười rằng: đã thế thì nên/ Mộc già hãy thử một thiên trình nghề”. Hay thật, ngài ra ngay đầu đề là vịnh bài thơ về cái gông (Mộc già).

Lập tức, chỉ trong nháy mắt cô Kiều đã phóng bút cái vèo. Bài thơ làm xong và dâng lên, ngài đọc xong: “Khen rằng: “Giá lướt Thịnh Đường/ Tài này, sắc ấy, nghìn vàng chưa cân”. Lời khen tót vời này, chứng tỏ với ngài, bài thơ của Kiều là tuyệt bút. Nhận xét ấy có thiên lệch không? Còn nhớ, có giai thoại, vua Tự Đức từng khen: “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán/ Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường”. Nhận xét ấy có “quá hớp” không? Âu cũng là tâm lý thường tình của con người ta, một khi đã thích, đã mến nhau vì cái tình thì họ có thể dùng những từ cao vời vợi để tụng ca; ngược lại khi đã ghét thì “Ghét cả tông chi họ hàng”. Sự yêu ghét này cảm tính quá đi mất. Cũng chẳng sao cả. Điều này cho thấy vị quan phủ có phẩm chất rất gần với người nghệ sĩ.

Vì lẽ đó, ngài vừa mắng: “Gã kia dại nết chơi bời/ Mà con người thế là người đong đưa”, thế mà ngộ thay, vừa đọc xong bài thơ của Kiều, ngài liền đổi giọng ngọt xớt: “Thật là tài tử, giai nhân/ Châu Trần còn có Châu Trần nào hơn”. Ngài khen cuộc nhân duyên của họ rất xứng đôi. Rồi quay sang bảo Thúc Ông: “Ðã đưa đến trước cửa công/ Ngoài thì là lý, song trong là tình/ Dâu con trong đạo gia đình/ Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong!”. Rõ ràng, “Miệng nhà quan có gang có thép”, chỉ một, hai câu nói mà sự việc đã xoay chuyển hoàn toàn trái ngược.

Nếu chỉ dừng lại ở đây, vị quan này cũng như bao người cầm cân nẫy mực khác, y dài dòng nhắc đến làm chi. Nào ngờ, ngài xứng danh là “dân chơi” thứ thiệt, thuộc hạng vô tiền khoáng hậu bởi lẽ: “Kíp truyền sắm sửa lễ công/ Kiệu hoa cất gió đuốc hồng điểm sao/ Bày hàng cổ xúy xôn xao/ Song song đưa tới trướng đào sánh đôi”. Ngài truyền lệnh sắm sửa lễ vật, cho kết kiệu hoa, có đánh trống, thổi sáo, rước dâu đi nhanh trong đêm…

Kết quả tốt đẹp, bất ngờ này có được cũng từ tài thơ của Kiều mà ra. Vinh dự thay cho sứ mệnh của thơ. Liệu trên đời này, có vị quan phủ nào tốt tính và mê thơ đến thế không?

Chẳng nên đặt câu hỏi ấy, biết đâu là ước mơ, sự khao khát thầm kín mà thi hào Nguyễn Du đã gửi gắm qua nhân vật này thì sao? Suy luận rằng, sau khi đã trải qua bao thăng trầm, chênh vênh ghềnh thác, đã từng “Khi xưa phong gấm rủ là/ Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”… bậc thi hào càng thấm thía, cay đắng thốt lên tiếng kêu uất nghẹn từ trong cổ họng: “Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”. Nỗi sợ hãi, ám ảnh còn là “Vô phúc đáo tụng đình” nào của riêng ai, nhất là những kẻ thấp cổ bé miệng. Không thể tìm trong đời thật một vị quan: “Ngoài thì là lý, song trong là tình” nên khi đọc Thanh tâm tài nhân, lấy cảm hứng viết thành Truyện Kiều, bậc thi hào vẫn cố tình giữ lại chi tiết trên?

Xưa nay, nhiều người đã nghiên cứu Truyện Kiều, hầu như ít ai thắc mắc, duy có nhà thơ Tản Đà ứ chịu, quyết cãi cho bằng được: “Như quan phủ có rộng lượng thời tha cho đã là tốt; không lẽ lại vì những kẻ bị kiện mà làm lễ cưới hộ cho? Huống “phủ đường” đó, một ông quan “mặt sắt” đâu có “kíp truyền” nhảm như thế? Mà theo lẽ cũng không truyền cho nha thuộc “sắm lễ” như thế được. Cho nên theo ngu ý riêng nghĩ, bốn câu này (“Kíp truyền sắm sửa lễ công/ Kiệu hoa cất gió đuốc hồng điểm sao/ Bày hàng cổ xúy xôn xao/ Song song đưa tới trướng đào sánh đôi) chỉ riêng cắt bỏ…”.

À, nếu cắt bỏ 4 câu thơ trên, từ câu thơ: “Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong” làm sao nối vần vơi câu kế tiếp: “Thương vì hạnh trọng vì tài”? Thi sĩ Tản Đà đề xuất “phương án” đổi chữ “xong” ra chữ “xuôi”, sẽ nối đúng nhịp với chữ “tài” ngay câu kế. Kể ra cũng là cái thú lúc đọc những bài viết của các nhà thơ bình thơ, dịch thơ… Họ có cái nhìn khác biệt, dù liều lĩnh nhưng vẫn là một sự phá cách hơn cách nhìn mô phạm, chỉnh chu của các nhà nghiên cứu phê bình. Đọc như thế mới thích, mới thấy được sự tri âm, tri kỷ của những con người chung nghiệp chướng: làm thơ.

Có lẽ cũng nên lan man thêm một chút về chữ nghĩa, qua lời bình của Tản Đà. Câu thơ Kiều: "Giọt sương treo nặng, cành xuân la đà”. Có bản ghi “Giọt sương tríu/đeo/gieo nặng”. Vậy chọn từ nào đắc giá hơn? Thật bất ngờ, Tản Đà tán thành “Giọt sương chíu nặng” và bình: “Chíu có nghĩa là treo bám váo đó mà làm cho ra nặng. Chữ này các bản để là “gieo” hay “đeo” đều không sành nghĩa; duy bản của ông Hồ Đắc Hàm để “chíu” thực tình đúng hơn. Nhân đây xin phụ ghi một câu cũng nói về chữ “chíu”. Trong bài Trường hận ca có câu: “Lê hoa nhất chi xuân đới vũ”, tôi có dịch là: “Cành lê hoa chíu, giọt mưa xuân đầm”, thường riêng lấy chữ “chíu” làm đắc ý; nay được coi thấy chữ này ở trong bản của cụ Hồ, khôn xiết vui mừng trong việc văn”.    

Sự khoái trá này của Tản Đà, tưởng chừng như vẫn còn nghe văng văng tai mà dứt câu có lẽ kèm theo tiếng “khà” bởi người xưa vừa tợp xong một ngụm rượu cuốc lũi đó chăng?

Trời đang ngã dần về chiều. Lại một một ngày chóng vánh đi qua. Chẳng lẽ cứ giết thời gian bằng cách gõ phím mãi sao? “Gió lùa gian gác xép/ Đời tàn trong ngõ hẹp”. Câu thơ Vũ Hoàng Chương vọng về một tiếng thở dài buồn não ruột. Không dám đọc nữa, sợ cái nỗi u ám, bi quan ấy ám vào người thì khốn. Chi bằng, đọc lại câu thơ lúc Thúc Sinh và Thúy Kiều rời phủ đường về chung sống, có phải tốt hơn không: “Huệ lan sực nức một nhà/ Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa/ Mảng vui rượu sớm trà trưa/ Đào đà phai thắm, sen vừa nẩy xanh”.

Sống trên đời, ai lại không mơ ước có được hạnh phúc bình dị đó?
 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 5.5.2017

 

20170207150529-thu-uyen-le-minh-quoc-ghe

 

Rằng, nên nghĩ về sự tốt đẹp, hướng thiện mỗi ngay vẫn đang hiện diện quanh ta, lấy đó làm niềm vui là lẽ tất nhiên. Nhưng nhố nhăng này nọ, hãy tin rằng chỉ là cá biệt. Riêng lẽ. Không trở thành phổ biến. Nếu không, tính cách người Việt ngày càng xấu đi à? Không đâu. Hãy cứ tin là thế.

Lâu nay, khi bàn về môt vấn đề thời sự, y không có khả năng vì chẳng đầy đủ thông tin. Khó có thể biết nội tình cụ thể nên ít dám “Đánh trống qua cửa nhà sấm”, chỉ lẳng lặng đọc/nghe và không há mồm ra bình luận điều gì. Ừ, cứ thế, cho nó lành. Mối quan tâm của y không ở đó. Mà ở chuyện chữ nghĩa, tìm hiểu tiếng Việt như đã từng mê đắm trong vòng mươi năm trở lại đây.

Sáng hôm nay, có báo đưa tin về kỷ niệm 199 năm ngày sinh của Karl Marx (1818-1883). Trong bài Tinh thần Prometheus của Karl Marx, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên cho biết: “Và nói tới Marx, tôi nhớ tới Prometheus, vị thần trong thần thoại Hy Lạp đã lấy lửa của Zeus, chúa tể của các vị thần trên đỉnh Olympus, đem lại cho loài người. Vì hành động đó, Prometheus đã bị Zeus xiềng vào vách núi cho chim ưng mổ ngực ngày ngày. Nhưng Prometheus kiêu hãnh không chịu khuất phục Zeus. Karl Marx thời trẻ đã khâm phục vị anh hùng văn hóa này của loài người. Ông đã đề từ bản luận án tiến sĩ của mình bằng bốn câu thơ trong bi kịch Hy Lạp viết về Prometheus để nói lên chí nguyện đời mình:

Hãy nên biết đừng hòng ta chối đổi

Kiếp nô tỳ để bớt nỗi đau thương

Thà cột ta vào vách đá cùm gông

Còn hơn sống làm tôi trung cho Zeus”.

Đoạn này trích lại từ báo Tuổi Trẻ số ra ngày 5.5.2017. Chi tiết trên có thật hay không, y chưa từng biết đến nên chép lại là vậy. Đọc xong, cảm phục cho ý chí, chí nguyện kiên gan, bền bĩ của một con người. Hôm nay cũng là ngày kỷ niệm 42 năm ngày tờ báo Sài Gòn Giải phóng phát hành số báo đầu tiên. Vốn là cộng tác viên thân tín lâu năm, do đó, Ban viên tập báo đã nhắn y viết đôi lời. Sáng nay, đọc lại bài báo đã in, lập tức y nhìn xuống bàn tay mình và tự hỏi rằng, với mười đầu ngón tay gõ phím, y đã cộng tác bao nhiêu tờ báo - kể từ thời sinh viên đến nay? Thật khó có thể nhớ hết nổi và nhất là chẳng thể biết đã viết, đã in bao nhiêu bài báo? Nghĩ ngợi lẫn thẫn rồi tự cười một mình. Cười một mình cũng là một cách tìm lấy niềm vui cho mình, cần gì phải chờ tác động từ phía bên ngoài.

Trưa về nhà, đường phố vẫn đang nhộn nhịp. Nắng vẫn chói gắt. Trên đường về ghé chợ mua vài ký gạo Nàng thơm chợ Đào. Lâu nay, mẹ y chỉ chọn loại gạo này. Bà cụ luôn giữ trong ví nhỏ cái cacvidit của người bán hàng, khi cần, chỉ biểu con bằng giọng nói phương ngữ Quảng Nam: “Con gụa điện thụa mua cho mẹ vài ký gộ Nèng Hương chợ Đồ”. Y a lô là có người giao ngay tận nhà. Nhờ vậy, y mới biết đến loại gạo này. Biết thì biết vậy, làm sao có thể giải thích “Nàng thơm chợ Đào” cụ thể ra làm sao?

May quá, sáng nay vừa mua tập sách Chuyện địa danh và chữ nghĩa Nam bộ (NXB Văn hóa -Văn nghệ), thật lạ lùng, lật ngẫu nhiên lại đúng ngay trang 125.Trang này, nhà nghiên cứu Hùynh Công Tín giải thích Nàng Thơm: “là giống lúa mùa đặc sản được trồng và làm nên thương hiệu danh tiếng “Chợ Đào” là Chợ Đào, xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Như vậy địa danh Chợ Đào vốn là một tổ hợp từ ghép chỉ một cái “chợ”, có vị trí nằm bên con kinh “đào”, thuận cho ghe, xuồng đến nơi đây để trao đổi, mua bán. Một danh ngữ “chợ đào” đã trở thành địa danh “Chợ Đào” dùng để định tính cho nông sản, đó là con đường hình thành địa danh “Chợ Đào” và thương hiệu “Nàng thơm chợ Đào”.

Cách giải thích này thuyết phục lắm. Lan man đọc tiếp lại thấy có cách giải thích khác về lý do tại sao trong Nam chỉ gọi anh Hai, chứ không anh Cả như ngoài Bắc? Theo ông Tín: “Có người cho rằng, xuất phát từ hiện tượng Nam tiến của cư dân Việt xưa, nhiều gia đình Bắc Trung bộ để “Cả” ở lại chăm nom phần còn lại của gia đình, nên số những người con tiên phong vào Nam không có “thứ cả”. Từ đó, để ghi nhớ “thứ cả” còn ở lại, hoặc để vinh danh người con tiên phong vào Nam mà họ có thói quen không đặt “thứ cả” cho người con đầu lòng (đầu tiên). Như vậy, anh Hai trong cách nói Nam bộ là anh Cả, còn anh Hai trong cách nói Bác bộ, nếu tính thứ bậc là con thứ hai” (tr.205). Thoạt nghĩ, cách giải thích này, hoàn toàn suy luận/suy diễn khó thuyết phục.

Phải chăng khi xét về cách gọi này phải bắt đầu từ tâm lý kiêng dè con cọp mà cư dân đã tôn lên làm “Ông Cả”? Đọc một quyển sách, đôi lúc “cãi” lại với tác giả cũng là một cách đọc. Đọc rồi tự cãi bằng cách ghi thêm đôi dòng bên trang sách. Những dòng đó, về sau, có lúc đọc lại sẽ gợi nhớ lại khoảng thời gian mà mình đã đọc, âu cũng là một cái thú tao nhã vậy.

Sở sĩ chiều này, nhắc đến Nàng Hương chợ Đào bởi nhớ mẹ. Điều thú với y, còn ở chỗ bà con Nam bộ gọi gạo bằng từ “nàng” nghe ra thân thương, thân mật lắm lắm. Này, thuở nhỏ đi học, ai lại không nhớ câu ca dao: “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ/ Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”. Lúa chiêm là lúa gì vậy?

Trong Phủ biên tạp lục, nhà bác học Lê Quý Đôn cho biết: “Xứ Thuận - Hóa nhiều ruộng chiêm, ít ruộng mùa. Lúa chiêm gọi là mùa chính (lúa mùa), lúa mùa thu gọi mùa trái”; và: “Có thứ lúa được gọi lúa chiên (hay lúa chiêm), hạt thóc thô mà màu sắc đỏ, cứ đến tháng 10 thì cấy, đến tháng 3 năm sau thì thu hoạch”. Như vậy, lúa chiêm là lúa Chiêm/lúa Chăm mà người Việt tiếp cận được trong quá trình mở cõi về phương Nam.    Suy luận này không phải tàm xàm, vô căn cứ. Tất nhiên, không chỉ thêm giống lúa mới, người Việt còn học của người Chăm cách là nước mắm. Sự giao thoa văn hóa còn ở lời ăn tiếng nói nữa.

Với nhiều người, khi nâng chén cơm lên là nhớ đến mẹ. Y cũng thế thôi. Bạn thơ Nguyễn Thái Dương lại khác: “Nâng chén cơm lên, đã thấy bóng cha rồi/ Cái hình bóng bên nương còm cõi ấy”. Câu thở mở ra một hình ảnh xa xăm, rười rượi nỗi niềm. Có lẽ bài ca dao hay nhất, tuyệt đỉnh trong tàng văn hóa dân gian Việt Nam nói về nghề làm nông chính là bốn cấu này: “Cày đồng đang buổi ban trưa/ Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày/ Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”. Nhiều tài liệu đã chứng minh là thơ của một thi nhân đời Đường bên Trung Quốc. Cũng chẳng sao cả, chỉ khi dịch sang thể thơ lục bát của người Việt, bằng tiếng Việt thì nó mới có sức sống tồn tại ngàn đời trong tâm thức người Việt. Truyện Kiều cũng là một thí dụ. Nếu thi hào Nguyễn Du không buồn ghé mắt đến, chắc chắn Thanh tâm tài nhân chỉ là viên gạch thô, mộc đã chìm vào lãng quên từ đời tám hoánh.

Viết đến đây, đã nghe từ không trung vang vọng tiếng sấm sét đùng. Sắp có mưa chăng? Vâng, ngoài trời đã bắt đầu mưa. Lại nhớ đến những ngày xưa, y cũng có đôi có đũa như ai: “Em ngồi nhặt thóc đăm chiêu/ Hạt gạo trắng giữa xiêu xiêu nắng vàng/ Mượt mà mười ngón tay ngoan/ Cũng như em lúc dạo đàn ghi-ta/ Cầm chén cơm gạo trắng ngà/ Dẻo thơm muôn hạt hiết là cậy em/ Làm sao anh có thể quên/ Dáng ngồi của mẹ là em bây giờ?/ Khi anh đắm đuối với thơ/ Đêm đêm cắm bút... mộng mơ với đời/ Thì em chẳng nói nhiều lời/ Chỉ im lặng một chỗ ngồi sau anh/ Mắt sâu thẳm vẫn long lanh/ Thức cùng trang giấy - hoá thành ánh sao/ Là tình yêu của em trao/ Lặng thầm như mẹ bạc đầu lo toan/ Em nghiêng xuống ngọn đèn vàng/ Tóc mai sợi ngắn ngổn ngang sợi dài/ Thủy chung năm tháng hao gầy/ Bao dung như mẹ rót đầy đời anh”. Bài thơ này, y viết vào năm 1987.

Đến một tuổi nào đó, một hoàn cảnh nào đó, lúc đơn độc đối diện với mưa, người ta lại nhớ về năm tháng xa xưa mà nỗi nhớ êm đềm nhất vẫn là bữa cơm chiều quây quần cùng người thương yêu nhất. “Bây giờ, ngoài trời đang mưa rồi đó Q?”. Vâng, đang có một chút bùi ngùi trong khóe mắt…

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 4.5.2017

 

cac-em-hoc-sinh-than-men


Người Việt nặng về cái tình. Lấy đó mà cư xử trong nhiều mối quan hệ, dẫu rằng, đôi lúc phải là lý nhưng rồi cái tình lại chen ngang chi phối. “Một bó lý không bằng một tí tình”. Ưu cũng đấy mà khuyết cũng đấy. Do đó, không phải ngẫu nhiên, khi phán xét một tác phẩm nghệ thuật, người ta phê bình về chuyên môn nhưng lại nhìn từ phía cái tình đã đối đãi với nhau. Từ điểm xuất phát đó, sự khen chê khó có thể chính xác.   

“Ủa, sao hôm nay lại bàn về chuyện này hả Q?”.

Nghe y hỏi, y bèn trả lời rằng, vì mới đây nhận được mấy trăm câu thơ lục bát của nhà thơ nọ bình về 320 văn thi sĩ Việt Nam. Nhìn qua email cùng “cc” đã thấy thiên hạ khen ngợi ngất trời, vỗ tay tán thưởng ầm ĩ cả lên. Người viết là nhà thơ ở phía Bắc, tương đối có tên tuổi. Đọc xong bèn, nhận ra rằng, ngay cả những người sống bằng chữ nghĩa thanh cao là thế nhưng rồi cũng… ganh ghét, tị hiềm như ai.

Lạ chưa? Không có gì lạ.

Phải nói thật rằng, bên cạnh nhiều tính tốt, người Việt còn có không ít tính xấu. “Trâu buộc ghét trâu ăn” là một thí dụ. Thấy người khác thành công hơn, giàu có hơn mình bội phần, lập tức ganh ghét, quyết tìm cách “dìm hàng” cho bằng được. Thành ngữ có câu: “Giàu điếc, sang đui”, nhà ngôn ngữ học Nguyễn Đức Dương giải thích: “Hễ giàu lên thì ai cũng hay mắc chứng điếc lác (cho dễ bề bỏ ngoài tai mọi lời nài xin cứu giúp); hễ sang lên thì ai cũng  hay mắc chứng đui mù (để dễ bề làm ngơ trước mọi lời cầu xin” (Từ điển tục ngữ Việt - NXB TH.TP.HCM - 2010, tr.399). Suy nghĩ lệch lạc này là một sự hồ đồ nhảm nhí. Nó hình thành từ sự tị nạnh, ganh ghét mà ra. Nhìn ở một góc độ khác, theo y, câu thành ngữ trên còn là lời nguyền rủa: Hễ ai giàu (thì) điếc, sang (thì) đui. Hậm hực rủa thầm cho bỏ ghét. Rủa như thế để rồi tự an ủi, đại khái rằng thì là mà dù nghèo kiết xác, nghèo rớt mồng tơi, nghèo te tua xơ mướp  nhưng vẫn còn phúc hơn kẻ giàu sang đó vạn lần!

Tâm lý này đã ăn sâu vào máu thịt người Việt hàng ngàn năm rồi, đến lúc nào đó cũng phải tẩy/gột sạch đi thôi. Không phải ngẫu nhiên có chuyện hài hước là lúc dăm người cùng bị té xuống hố sâu, thay vì cồng kênh cho kẻ khác đứng trên vai mình leo lên miệng hố, sau khi leo lên được, kẻ đó tìm  cách kéo mình lên thì người ta chọn cách khác. Cách gì? Hễ ai cố gắng leo lên thì những kẻ còn lại cố sức níu xuống, té oạch luôn cho bõ ghét để cuối cùng... chết chùm cả lũ!

Khi tập thơ vịnh Chân dung nhà văn của nhà thơ Xuân Sách ra đời, nhiều người xúm vào khen và mạnh dạn cho rằng, đó mới là tác phẩm “để đời” của ông. Thật ra, cái sự khen ấy không đáng tin cậy, bởi lẽ nó xuất phát từ sự yêu ghét cá nhân mà ra. Có thể do tác giả cà khịa nhà thơ X, nện nhà văn Y, báng bổ nhà viết kịch Z mà nhiều người ghét X, Y, Z quá, thấy nói đúng ý, thế nên họ lại xúm vào khen không tiếc lời. Thật ra, khi vịnh/bình về một nhân vật nào cũng chỉ là góc nhìn riêng tư của tác giả đó. Góc nhìn đó được khen/ chê còn tùy thuộc vào sự yêu thích rất cảm tính của người tiếp nhận. Vậy sự bình phẩm một tác phẩm nếu xuất phát từ tâm thế đó, có đáng tin cậy? Quyết là không.

Sở dĩ nói rạch ròi vì y rất quý, kính trọng nhà thơ Xuân Sách, ông đã mất, đã từng có thời hàn huyên với nhau tâm đắc. Tuy nhiên, mỗi người một cảm nhận và đều bình đẳng lúc tiếp cận một văn bản là vậy.

Nhật ký hôm nay dông dài chuyện này, bởi lẽ, nếu một loạt chân dung nhà thơ đương đại của nhà thơ nọ phổ biến rộng rãi, e rằng, không ít bạn đọc có cái nhìn méo mó về các nhà thơ mà họ đã từng yêu mến. Việc làm này ích gì cho văn học? Qua vụ việc này, và nhiều vụ việc khác, dễ dàng nhận ra một tâm lý chung hiện nay, đã dần dần hình thành cái thói là cho mình được quyền trịch thượng phán xét, chê bai người khác. Lạ lùng cho cái thời buổi rất hiếm tiếng vỗ tay, lời khen ngợi chân thành, chúc mừng vì sự thành công của người khác. Do đâu?

Mà thôi không bàn chuyện này nữa. Đọc vè có phải hay hơn không? Đọc gì? Đọc rằng:

Vân Tiên cõng mẹ đi ra

Gặp phải cột nhà cõng mẹ đi vô

Vân Tiên cõng mẹ đi vô

Gặp phải cái bồ cõng mẹ đi ra

Đây là một cách nhại theo lối thể hiện của ca dao: “Con  kiến mà leo cành đa/ Leo phải cành cộc leo ra leo vào/ Con kiến mà leo cành đào/ Leo phải cành cộc leo vào leo ra”. Do sự nối vần, bắt vần của thể thơ 6/8 người ta có thể đọc đi đọc lại rất nhiều lần vẫn không trật nhịp. Dù đọc một hoặc nhiều lần đi nữa, ta thấy hiện lên rất rõ sự tù túng, lúng túng, quẩn quanh, cù nhầy chẳng ra đâu vào đâu, cứ lộn vòng lộn vèo rồi trở lại điểm xuất phát ban đầu. Thế có chán không? Sao lại không?

Vân Tiên cõng mẹ đi ra

Gặp phải cái bồ cõng mẹ đi ra

Ngày nay, mấy ai còn nhìn thấy cái bồ, nếu không sống ở nông thôn. Cái từ “bồ” này nghe thân thiện lắm. Thử khảo sát từ ca dao, tục ngữ chăng? Nên lắm vì ít ra cũng là một cách tìm về di sản của cha ông: Bảy bồ cám, tám bồ bèo; Em khôn em ở trong bồ/ Chị dại chị ở kinh đô chị về; Mẹ đẻ em ở trong bồ/ Anh nghĩ con chuột anh vồ đứt đuôi; Dốc bồ thương kẻ ăn đong/ Vắng chồng thương kẻ nằm không một mình; Bố chồng là lông chim phượng/ Mẹ chồng là tượng mới tô/ Nàng dâu là bồ chịu chửi; Miệng nam mô, bụng một bồ dao găm… Nói tắt một lời, bồ là dụng cụ đan bằng tre, bằng nừa để chứa đựng vật liệu gì đó.

Lâu nay cứ tài lanh, cứ nghĩ đã hiểu lắm về tiếng “bồ” lắm. Vì thế mới quả quyết, từ “bịch” trong cụm từ “bồ bịch” mới có sau này thôi, chứ trước đó, chưa xuất hiện. “Bồ bịch” là chỉ người yêu người thương cùng yêu dấu nồng nàn; lại có thêm “bồ tèo” là chỉ bè bạn thân thiết, thân mật, bằng vai phải lứa, bù khú cùng nhau. “Bồ nhà” là củng phe, cùng nhóm.

Có thật bồ bịch chỉ mới xuất hiện chừng nửa thế kỷ nay? Nhầm rồi đó cưng. Bằng chứng ca dao có câu: “Bởi anh mới chăm việc canh nông/ Cho nên mới có bồ trong bịch ngoài”. Hơn nữa, bồ cũng na ná bịch - một thứ bồ to nên gọi chung bồ bịch là vậy. Thế là hết cãi nhé. Mà từ bồ này, nào ngờ trước kia còn chỉ con voi, ban đầu ngờ ngợ nhưng  sực nhớ có con bồ tượng mà lâu nay đã quên. Ngày xưa, vật dụng ăn uống thường ngày của người việt còn có “bát chơn tượng”, tức loại bát to, lớn bằng chân voi. Thớt tượng là thớt voi.

Vân Tiên cõng mẹ đi ra

Gặp phải cái bồ cõng mẹ đi ra

Tại sao cứ mãi lòng vòng, lèo vèo với hai câu này? Đơn giản chỉ vì trưa nay đọc bài Chương trình mới: Lớp 1 sẽ học thế nào? trên báo Tuổi Trẻ. Cứ theo như bài báo này: “Nếu đề xuất của GS Nguyễn Minh Thuyết (tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông mới) và ban phát triển chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được chấp thuận, thì chỉ còn hơn một năm nữa 100% học sinh vào lớp 1 năm học 2018-2019 sẽ học chương trình mới”. Các em sẽ học 2 buổi/ ngày. Xin hỏi, phương pháp học có gì thay đổi?

capture-jpg-1493864021

“Hệ thống môn học theo dự kiến điều chỉnh: Toán (105 tiết); Tiếng Việt (420 tiết); Giáo dục lối sống (70 tiết), Cuộc sống quanh ta (70), Giáo dục thể chất (70 tiết); Nghệ thuật (70 tiết), Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (105 tiết), Tự học có hướng dẫn (140 tiết), Tiếng dân tộc, nội dung giáo dục địa phương - tự chọn (62 tiết); Thế giới công nghệ (35 tiết). Hướng điều chỉnh: bỏ môn Thế giới công nghệ, tổng số tiết học còn dưới 30 tiết/ tuần”.

Thoáng nghĩ, Giáo dục lối sống, Cuộc sống quanh ta, Giáo dục thể chất, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo rất gần với nhau, nói nôm na đó là trang bị kỹ năng sống cho trẻ. Sao lại phân chia ra làm gì chi li đến thế, bởi làn ranh của nó mong manh lắm. Có nên chăng? Để xem “cải cách” lần này sẽ thế nào đây? Cũng trên số báo này, có bài Tiếp tục câu chuyện "Nghỉ học phổ thông để tự học ở nhà": Trường học và bài giảng vẫn là lý tưởng nhất!

Đành rằng là thế, nhưng không khéo lại tiếp tục diễn ra Sự phản ứng với nền giáo dục nước nhà - như lời cảnh báo của cô Nguyễn Thị Ngọc Diệp (nguyên tổ trưởng tổ văn Trường THPT Giồng Ông Tố, Q.2, TP.HCM): Câu chuyện “Nghỉ học ở trường phổ thông, tự học ở nhà” cho thấy quan niệm về tầm quan trọng của trường lớp giờ đã phai nhạt dần. Cách chọn lựa của gia đình em Thái Anh và Nhật Anh như một sự phản ứng với những bất cập của nền giáo dục nước nhà.

Là một giáo viên, tôi cũng thừa nhận là việc học của học sinh hiện nay nặng nề quá, vất vả quá. Học sinh phải “khổ học”, nên thiếu đi niềm vui cũng như sự đam mê trong học tập. Tôi có một học sinh cũ, hiện em đã du học nước ngoài, em đã nhiều lần than thở với tôi rằng: “Khi du học, em mới thấy mình thiếu nhiều kỹ năng: từ kỹ năng hợp tác đến kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phát biểu trước đám đông...”.
Nếu nền giáo dục nước nhà không có sự chuyển mình thì việc cho con tự học ở nhà sẽ thành trào lưu chứ chẳng chơi”.

Trời đã chiều. Một ngày đang cạn dần. Thôi thì gõ thêm vài dòng nữa, chọn từ sách giáo khoa Tập đọc lớp Nhất in năm 1966, đặng nhớ về thuở y là học trò lớp 1, đã từng học trường Nam Tiểu học (nay trường Kim Đồng) ở Đà Nẵng. Thời ấy, trong sách giáo khoa do Bộ Giáo dục miền Nam biên soạn, in ấn luôn có dòng chữ khó quên. Trẻ em như tờ giấy trắng. Dấu nhớ đầu đời, định hình nhân cách, tình yêu sách/sách giáo khoa cũng từ đây mà ra:

“Các em học sinh thân mến,

Chắc các em thấy quyển sách này được in đẹp đẽ, tranh vẽ và bài soạn công phu, khiến các em vui thích ham học. Các em hãy nâng niu nó:

- Tay các em có sạch sẽ, các trang sách mới không bị các vết bẩn cả mực, bụi bặm hoặc mồ hôi.

- Nên lật mở các trang cho thong thả, đừng để sách bị ai giằng co làm rách nát hoặc cuốn góc. Nếu cần đánh dấu trang thì dùng một miếng giấy cứng nhỏ hoặc một cái tăm sạch; đừng gấp nát trang giấy.

- Sách này còn dùng cho các niên học sau, cho các em đến sau mượn, vậy các em đừng để ai vẽ gạch bậy bạ. Các em đừng ghi chú gì vào sách. Nếu cần lắm chỉ ghi rất nhẹ tay bằng bút chì để sau đó tẩy đi (ví dụ như trong sách Toán).
Trong nhà, các em nên có chỗ để sách cho ngăn nắp, đừng vứt bừa bãi, cũng đừng ấn nhét bừa đầy cặp khi đi học, mà phải để cho ngay ngắn, tươm tất như thế sách mới lâu hỏng.

Giữ sách được sạch sẽ, nguyên lành, các em sẽ tự hào là học sinh ngoan, làm vui lòng thầy, cô, và nhất là tránh được cho các em dùng sau khỏi bực mình vì sách bẩn hoặc hư, rách”.

Năm tháng đã xa. Xa lắm rồi. Nay, trong nhà đã có hàng ngàn quyển sách. Hãy nhớ lời dặn dò này nhé cưng?

Dạ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 3.5.2017

20013_20141120033449

 

Sau ngày lễ, đường phố đã đông người. Không còn càm giác thông thoáng như vài ngày vừa nghỉ lễ. Nhật ký hôm nay, chỉ dành ghi lại một, hai thông tin vừa đăng trên báo Tuổi Trẻ.   

Bài thứ nhất, Nghỉ học phổ thông để tự học ở nhà (số ra ngày 2.5.2017): “Đó là trường hợp hai anh em Đặng Thái Anh (sinh 2003) và Đặng Nhật Anh (sinh 1998) ở Q.Tân Bình, TP.HCM. Cuối năm 2016, Thái Anh thi IELTS đạt 8.5 khi chưa tròn 13 tuổi; Nhật Anh IELTS đạt 8.0 năm 2015.

“Chị Lê Thị Thanh: Đây là quyết định từ cha các cháu. Lúc đầu tôi không đồng ý, bởi trẻ ở lứa tuổi học sinh phải đến trường chứ không thể ở nhà. Tuy nhiên qua thời gian trải nghiệm, bản thân tôi cảm thấy quá mệt mỏi với việc học hành của con ở trường. Cả hai con trai tôi đều học tiểu học, trung học ở trường công lập. Có nhiều điều bất cập trong nhà trường mà bản thân là một nhà giáo, tôi cảm thấy rất bức xúc và bế tắc. Một lần con lớn của tôi không thuộc bài, thế là cháu cùng với gần 20 bạn phải đứng trước phòng ban giám hiệu nhà trường trong giờ ra chơi cầm cuốn tập học bài.

Tôi phản đối hình phạt đó, bởi tôi cho rằng nó không hiệu quả. Giờ giải lao là khoảng thời gian học sinh được nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi khả năng tiếp thu, chứ bắt đứng học như thế làm sao các em học được. Thấy tôi phản ứng, cô chủ nhiệm của cháu bảo: “Em chỉ cho các cháu đứng như thế một tuần để các cháu sợ mà thôi”.

Tiếp nữa là chương trình học thừa thãi một cách vô lý khiến học sinh học hành quá tải, các thầy cô thì giao quá nhiều bài về nhà. Con lớn của tôi ngày nào cũng miệt mài làm bài tập đến 22h, 23h mới xong, 6h sáng hôm sau đã phải dậy đi học rồi.

Anh Đặng Quốc Anh: Nhà trường xếp lịch học tréo ngoe lắm. Con tôi học chính khóa buổi chiều nhưng có tiết thể dục buổi sáng. Mà mỗi buổi chỉ học một tiết trong 45 phút. Thế là sáng cha hoặc mẹ phải sắp xếp chở con đi, rồi đứng đó chờ đón con về. Cháu lớn học gần hết lớp 10 thì tôi cho nghỉ ở nhà để tự học. Đến cháu nhỏ, hồi học tiểu học cũng có chuyện này chuyện kia nhưng không đến nỗi nào. Khi cháu lên lớp 6 mới thật sự gặp sóng gió. Trong lớp, học sinh có đi học thêm thì không phải truy bài, bạn nào không học thêm như con tôi thì thầy cho đến 10 trang giấy bài tập về nhà. Nếu làm không hết thì bị phạt thụt dầu. Riêng môn tiếng Anh cháu học khá tốt, nhưng bài kiểm tra của cháu làm đúng mà cô giáo chấm sai làm cháu bức xúc.

Chưa hết, cháu thường hay nói chuyện với các bạn về hố đen, phản vật chất, thiên văn... Thế là bạn bè dè bỉu: “Thái Anh không bình thường, có vấn đề về thần kinh, bị khùng...”. Về nhà, Thái Anh đặt vấn đề với cha mẹ: “Sao anh hai được nghỉ học ở trường mà con không được?”.

Tôi quyết định cho hai con ở nhà (năm 2014) để mình đỡ phải lo lắng, ăn không ngon, ngủ không yên với chuyện học hành của con nữa. Mình dạy con thì chắc ăn hơn.

Đặng Nhật Anh: “Em đã thay đổi quan niệm học tập”. Nghỉ học ở trường THPT, em cảm thấy như trút được một gánh nặng vì không phải lo lắng cho những đợt kiểm tra một tiết, kiểm tra giữa kỳ, cuối kỳ... và một số áp lực không tên khác. Khi tự học, em đã thay đổi quan niệm học tập: trước đây học để có điểm vì có điểm mới lên lớp được, bây giờ tự học thì học để có kiến thức cho bản thân, học vì mình muốn tìm hiểu, sau đó mới đến điểm số. Thật ra học trong trường phổ thông cũng có cái sướng là thầy cô lo cho nhiều thứ, như chuẩn bị đến kỳ thi đã có sẵn đề cương ôn tập do thầy cô soạn sẵn, còn tự học thì bản thân phải chủ động, phải lên kế hoạch để học theo đúng tiến độ, phải tự chuẩn bị kiến thức để thi...”.

Tiến sĩ Nguyễn Kim Dung (phó viện trưởng Viện Nghiên cứu giáo dục, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM): “Việc không cho trẻ đến trường mà phụ huynh tự dạy con tại nhà có thể còn mới và ít gia đình ở Việt Nam áp dụng nhưng tại Mỹ thì khá phổ biến, nó có tên gọi là home schooling. Đến thời điểm này, luật pháp nước ta vẫn chưa công nhận mô hình home schooling mặc dù nó cũng đang dần dần manh nha. Theo tôi, hiện home schooling ở Việt Nam có nhiều hình thức khác nhau.

Hình thức thứ nhất: trẻ không đến trường học chính khóa mà phụ huynh tự dạy con ở nhà (trong trường hợp này, trẻ đã được định hướng không tham gia thi để lấy bằng do Bộ GD-ĐT Việt Nam cấp hoặc công nhận). Hình thức thứ hai: trẻ vẫn đi học một buổi ở trường chính khóa, buổi còn lại đến trung tâm (tôi được biết trung tâm hoặc trường ngoại khóa này do một nhóm phụ huynh có cùng quan điểm giáo dục, tự mở trung tâm để bổ sung kiến thức, kỹ năng cho con em mình). Hình thức thứ 3: trẻ vẫn có tên trong trường chính khóa, nhưng không học mà hoàn toàn học ở nhà do phụ huynh hướng dẫn.

Ở Mỹ, home schooling thường diễn ra ở những gia đình có điều kiện, phụ huynh có trình độ văn hóa cao hoặc hiểu biết rộng, họ cho rằng chính họ trực tiếp dạy con mình thì tốt hơn các thầy cô. Home schooling cũng có thể do các phụ huynh thường xuyên đi công tác mà phải mang các con của mình theo. Luật pháp ở Mỹ cho phép, công nhận và có những hoạt động hỗ trợ home schooling như cung cấp chương trình cho phụ huynh tự dạy con, cho thêm bài tập để học sinh tự làm ở nhà, hoặc có những chủ đề phụ huynh không tự dạy con được thì lại cho trẻ đến trường học riêng chủ đề ấy...

Vì luật pháp công nhận home schooling nên quy định của họ về thi cử cũng rất thoáng: học sinh được tự do đăng ký và đóng tiền để tham dự những kỳ kiểm tra cuối cấp mà không cần bằng cấp (hay chứng chỉ, học bạ) của cấp dưới. Ở Mỹ, nhiều học sinh học theo hình thức home schooling đạt thành tích rất cao, thậm chí cao hơn cả một số bạn cùng trang lứa có đến trường. Hầu hết học sinh tự học ở nhà có tinh thần tự giác cao. Mà như mọi người biết đấy: khả năng tự giác là chìa khóa của thành công.

Mô hình học tập nào cũng có ưu điểm và nhược điểm. Thực tế đã có nhiều phụ huynh giỏi, có thời gian và điều kiện để tìm hiểu và thực hiện nhiều nội dung giảng dạy đa dạng, phong phú, giúp con mình tiếp thu được nhiều kiến thức tốt. Họ rất tâm lý và có cách cư xử chuẩn mực đối với con cái.

Tuy nhiên khi ra cuộc sống thực tế không phải người nào cũng lý tưởng như cha mẹ, anh em mình nên trẻ dễ bị sốc. Còn nếu học ở trường, trẻ sẽ được tiếp xúc với nhiều bạn khác nhau: có bạn giỏi, bạn dở, bạn tốt, bạn chưa tốt; ngay cả giáo viên cũng có nhiều tính cách và cách ứng xử khác nhau.

Vì vậy, tôi lo ngại rằng trẻ tự học ở nhà nếu không khéo sẽ không biết cách ứng xử (hoặc ứng xử kém) với nhiều tình huống khác nhau, trong cách giao tiếp với những con người khác nhau. Ngoài ra, trẻ cũng sẽ không có cơ hội học tập, thi đua, vui chơi, giao tiếp... với bạn đồng trang lứa nên rất có thể thiếu một số kỹ năng cần thiết như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng hợp tác...

Tuy nhiên, nếu phụ huynh nhận ra và bổ sung những kỹ năng trên bằng cách cho trẻ học kiến thức ở nhà, song song đó trẻ học những kỹ năng cần thiết khác ở trường, trung tâm thì vẫn ổn”.

Bài báo thứ hai, Còn có sự lựa chọn nào khác? (số ra ngày 3.5.2017):

“Nguyễn Minh Hòa: Ngay sau khi báo Tuổi Trẻ đăng bài “Nghỉ học phổ thông để tự học ở nhà", đã có hàng ngàn ý kiến bày tỏ thái độ ở các khía cạnh và cung bậc khác nhau, dù đang là ngày cuối của kỳ nghỉ lễ. Lúc 21h đêm qua, cuộc thăm dò trên Tuổi Trẻ Online đã nhận được 5.056 ý kiến, trong đó số ủng hộ việc để các cháu tự học ở nhà dưới sự hướng dẫn của cha mẹ là 4.282 (84,7%), số không ủng hộ là 469 (9,3%) và số có ý kiến khác là 305 (6%). Như vậy, số ủng hộ cho sự lựa chọn này của cha mẹ và hai đứa trẻ chiếm đến 84,7%.

Tôi cũng đã dành thời gian đọc hết tất cả bình luận, ý kiến của hàng trăm người về câu chuyện này. Tất cả đều nghiêm túc. Phải rồi, với một câu chuyện như vậy, không ai có thể cười cợt và tôi nghĩ các quan chức của Bộ GD-ĐT, của Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội cũng không thể dửng dưng.

Là một trong số 4.282 người đã bấm vào mục ủng hộ, tôi hiểu những người khác sẽ nghĩ như tôi ủng hộ một sự lựa chọn dù không có nghĩa là mình có thể làm được, bởi không phải gia đình nào cũng có những điều kiện thuận lợi như anh Quốc Anh và chị Thanh. Nhưng rõ ràng con số 84,7% khiến chúng ta phải suy nghĩ, khiến chúng ta phải cùng nhau bày tỏ thái độ về một nền giáo dục đang có vấn đề.

Tôi dám chắc một điều rằng sự lựa chọn này không dễ dàng với anh Quốc Anh và chị Thanh, đó là lựa chọn đau đớn cuối cùng sau những giày vò và bế tắc. Là nhà giáo, làm sao anh chị lại không hiểu ngoài kiến thức ra, các cháu còn nhận được những thứ khác ở trường học mà gia đình không có được như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, bầu không khí sinh hoạt tập thể và hơn hết là tình đồng môn, nghĩa thầy trò.

Tôi là một giảng viên đại học, có con học lớp 7 và chúng tôi cũng trải qua tất cả cung bậc đau buồn, xót xa, giận dữ, khủng hoảng, căng thẳng, thậm chí “phát khùng” như hai cháu Thái Anh, Nhật Anh cùng cha mẹ phải trải qua. Hơn thế nữa, là một nhà giáo có thâm niên gần 40 năm đứng lớp, tôi đau đớn vì sự bất lực trước các con tôi và sinh viên của tôi, đến độ nhiều lần phải gào lên: “Tại sao lại ra nông nỗi này?”. Tôi và con vừa cùng nhau trải qua một mùa thi với 9 môn, hai cha con đánh vật ngày đêm để học thuộc lòng từng câu từng chữ, mà môn nào cũng từ 4 đến 6 tờ A4 kín đặc chữ. Nhưng tôi đoan chắc rằng ngay sau khi ra khỏi phòng thi, không đứa trẻ nào còn nhớ “lời vàng ý ngọc” mà các thầy cô nhồi nhét vào đầu chúng.

Tôi nghĩ giá như ông bộ trưởng Bộ GD-ĐT chỉ cần làm được một chuyện là cho phép các thầy cô giáo giảng cho học sinh hiểu được nội dung của bài học, còn mỗi em được quyền diễn đạt theo cách mà chúng nó muốn, không phải lặp lại như những con vẹt ngô nghê. Chỉ vậy thôi, tôi tin chắc người dân đã rất biết ơn ông.

Tôi đọc được sự trăn trở và cả hoảng sợ của các bậc phụ huynh về tương lai của con em mình, ai cũng biết nền giáo dục nước nhà đang chứa đựng nhiều bất cập, nhưng họ còn có sự lựa chọn nào khác. Và 84,7% những người ủng hộ anh Quốc Anh, chị Thanh như một tâm trạng, một phản ứng mạnh mẽ mà lãnh đạo Bộ GD-ĐT không thể không biết, không thấy.

Tôi muốn kết bài viết này bằng một dẫn chứng: có rất nhiều lãnh đạo của các trường, của ngành giáo dục luôn nói rằng giáo dục VN ưu việt, thậm chí có thứ hạng trên thế giới, nhưng rốt cuộc đều gửi con cái mình đi học ở nước ngoài, mà không cho chúng thụ hưởng sự ưu việt đó của nền giáo dục nước nhà (!)”.

Từ các ý kiến, mỗi người đã có thể cay đắng rút ra một kết luận. Xin không bình luận gì thêm.

L.M.Q

18274789_1559398874072371_7046312148103586778_n

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 30.4.2017


800px-Honor_Daumier_017_Don_QuixoteRR

 

“30 năm rồi đó Q”. Đọc tin nhắn của nữ đồng nghiệp đang công tác tại báo Tuổi Trẻ, chợt bàng hoàng. Mới ngày nào, lúc ra trường, năm 1987, cùng về công tác tại tờ báo này. Thoáng đó, lượng thời gian đã chồng chất thế kia rồi ư? Trong dòng đời, con người ta cứ mải miết, lầm lũi, cắm đầu cắm cổ mà đi, lúc giật mình nhìn lại đã mây trắng bay ngang trời. Đã hoàng hôn xế bóng. Hun hút. Vời vợi. Tất cả đã xa. Đã rời khỏi tầm tay. Vì lẽ đó, sững sốt, bàng hoàng và không thể ngờ trong mọi cuộc chơi, chiến thắng cuối cùng chỉ thuộc về thời gian.

Nhịp thời gian nhẫn nại, chậm rãi, liên tục, bền bĩ từng khoảng khắc nhưng thừa sức nghiến nát mọi thân phận. Tất thảy đều quay trở lại với sự rỗng không vô hình tướng. “Dưới cầu Mirabeau sông Seine chảy/ Hãy để đêm đến, giờ đổ / Những ngày trôi qua và anh vẫn còn đây (Apollinaire). Nhịp đi của câu thơ nghe buồn rã rượi. Lập tức, lại vọng lên nhịp sáu tám ngân vang từ thiên thu đến bất tận, muôn năm đến ngàn kiếp cũng không dứt nổi thanh âm xao xuyến đến lạ thường: “Trước sau nào thấy bóng người/ Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Ngẫm lại mới thấy, ông Tản Đà thấu thị về thời gian, đã thấu hiểu lẽ sinh tồn của kiếp nhân sinh đến cỡ nào:  “Trăm năm là ngắn, một ngày dài ghê”.

Một ngày của y thế nào?

“Học thức giữ tên con mọt sách/ Công danh rút lại cái quan tài”. Tâm sự cuối đời của Trương Vĩnh Ký. Câu thơ bình thường nhưng cái hay, đáng nhớ vẫn là cái nhìn, sự cảm nhận rốt ráo của một con người đã thấu hiểu lẽ đời. Câu hỏi nhảm nhất mà cũng sáng giá nhất cho mọi chúng sinh vẫn là đôi khi lẫn thẫn tự hỏi mình là ai và từ đâu đến? Đến rồi đi. Đi về đâu? Mỗi người đều có một câu trả lời cho riêng mình. Nhìn bông hoa đang thắm, nhìn nắng đang ngon, ngắm mưa đã trút, từ trong con mắt, cảm xúc của mỗi người, chẳng ai giống ai. Mỗi con người là một thế giới riêng biệt. Không pha tạp. Không lẫn lộn. Tuy nhiên, cả thẩy đều chỉ là hạt bụi trong vòng quay sinh tử của nhịp thời gian. Nhìn thấy rõ điều này để rồi hãy tự bằng lòng với những gì đang có, đã có. Có và không cũng chỉ là khái niệm tương đối. Nó biến động liên tục. Nhớ chưa? Dạ, nhớ.

Sáng nay, dậy sớm. Và tất nhiên, không thể không tiếp cận với một vài thông tin mới. Chẳng hạn, lần đầu tiên có người Việt Nam là 1 trong 9 ứng cử viên Tổng Giám đốc UNESCO. Người đó là ai? Theo báo điện tử Thế giới & Việt Nam: “Ông Phạm Sanh Châu, sinh năm 1961, là một nhà ngoại giao Việt Nam nhiều kinh nghiệm trên lĩnh vực quan hệ đa phương, ngoại giao văn hóa, di sản thế giới… Năm 2016, ông được bổ nhiệm làm Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam, Đặc phái viên của Thủ tướng Chính phủ về các vấn đề UNESCO. Năm 1999-2003, ông là người trẻ nhất được bổ nhiệm làm Đại sứ, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO, đồng thời được cử làm đại diện của Chủ tịch nước tại Cộng đồng Pháp ngữ (2000-2003). Do đó, ông hiểu rõ về UNESCO và có những đóng góp cụ thể vào hoạt động của tổ chức, đặc biệt là các đóng góp mang ý nghĩa lâu dài cho vai trò, vị thế và sự phát triển của UNESCO như soạn thảo Công ước 2003 về di sản văn hóa phi vật thể, Chủ tịch nhóm soạn thảo Công ước 2005 về đa dạng biểu đạt văn hóa”.

Kết quả ứng cử chưa rõ thế nào, nhưng dư luận có nhiều ý kiến khác nhau, khi trong phần thi của ông Sanh, họ nhìn thấy trước mặt ông là chai nước Trà xanh Không độ, Trà Thanh nhiệt Dr Thanh của Tập đoàn nước giải khát Tân Hiệp Phát. Trong khi đó, trước mặt 8 ứng viên còn lại là chai nước Lavie của Nestle Waters.

Tập đoàn Tân Hiệp Phát đã từng nổi đình nổi đám, tai tiếng vì liên quan đến vụ kiện có con ruồi trong chai nước ngọt. Kết quả: người phát hiện bị tống vào tù, ngược lại công ty này bị “gạch đá” tơi bời, dẫn đến sự tẩy chay trên bình diện rộng. Sự việc rõ ràng là vậy. Nào ai thêm bớt làm gì. Thời buổi này, mọi thông tin đã qua đều có thể kiểm chứng rõ ràng. Nếu cần, cứ việc gõ Google là sẽ thấu hiểu nội tình. Vậy hà cớ gì, ông Sanh lại trưng ra sản phẩm của Tân Hiệp Phát trong lúc: “Nghĩ mình phương diện quốc gia/ Quan trên trông xuống người ta trông vào”?

Theo báo Giao thông - Tiếng nói của Bộ Giao thông Vận tải, An ninh Gia thông Quốc gia: “Giải đáp thắc mắc của khá nhiều người vì sao có chai nước của một doanh nghiệp Việt Nam để trên bàn khi ông thực hiện phần thi, ông Châu cho biết: Ông muốn giới thiệu cái gì đó của Việt Nam trong phần thi nhưng khó chọn quá. Đầu tiên ông định chọn áo dài truyền thống nhưng không được phép vì ban tổ chức cho rằng nó sẽ tạo ra ấn tượng quá nổi bật. Cuối cùng ông chọn 2 chai nước trà xanh và trà thanh nhiệt ông mang theo trong suốt chuyến công tác” (ngày 28.4.2017). Liệu chừng câu trả lời này, có thỏa mãn cho mọi người?

Về chiếc áo dài Việt Nam, có lẽ không phải bàn đến nữa. Sáng nay, đọc báo Tuổi Trẻ mới biết đến một thông tin thú vị: “Trong một lần ra Hà Nội, nhà thiết kế Minh Hạnh thấy nhiều người treo những bức tranh rất đẹp, hỏi ra mới hay là của họa sĩ Huế. Minh Hạnh tìm hiểu và nhận thấy Huế có một nền mỹ thuật đặc sắc, từ cung đình đến dân gian, và một vị trí quan trọng trong lịch sử mỹ thuật VN với những cái tên nổi danh từ thời mỹ thuật Đông Dương như họa sư Lê Văn Miến, họa sĩ Tôn Thất Đào. Tiếp đó là một lớp họa sĩ tài hoa như: Đinh Cường, Bửu Chỉ, Hoàng Đăng Nhuận, Trương Bé..., rồi đến Lê Ngọc Thanh - Lê Đức Hải, Võ Xuân Huy, Nguyễn Đăng Sơn... Từ đó, Minh Hạnh nảy ra ý tưởng phải đưa tranh của họa sĩ Huế lên tà áo dài. Ý tưởng này đã nhận được sự hào hứng đồng tình của cả nhà thiết kế lẫn các họa sĩ. Các nhà thiết kế đã đến Huế xem tranh, gặp gỡ các họa sĩ và ra đời 16 “cặp đôi hoàn hảo” họa sĩ - nhà thiết kế với 16 bộ áo dài hội họa Huế rất độc đáo”.

Đưa tranh của các họa sĩ Việt Nam lên tà áo dài, phải thừa nhận rất thông minh. Tinh tế. Từ đây, tác phẩm hội họa lại có thêm một đời sống khác.

Sáng nay, báo Thanh Niên đã in bài thơ Nhớ Đông Ky Sốt - y viết tặng đồng nghiệp Ngô Kinh Luân. Bài thơ này viết tại sảnh cà phê trong Khách sạn Continental vào ngày cận Tết Đinh Dậu (2017). Sở dĩ y vác xác tới đây là do nguyên cớ: Trước đó, có người tự nhận đồng hương Quảng Nam nhưng nghề ngỗng làm gì, thật ra y chẳng rõ lắm, chỉ gặp một lần lúc ra mắt tập sách hồi ký về diễn viên Thương Tín. Hắn ta bảo rằng, có tay giám đốc ngân hàng cấp quốc gia chi nhánh tại TP.HCM mời y viết kịch bản phim 15 phút về hoạt động của ngân hàng này nhân tổng kết cuối năm.

“Bao nhiêu tiền?”, y hỏi. Tay giám đốc trả lời: “Anh yên tâm, thừa sức cho anh tiêu tết”. Người ta đã nói thế, chẳng lẽ y lại hỏi cụ thể nữa sao? Kỳ cục lắm. Có những chương trình này nọ, y nhận lời nhưng khổ nỗi chẳng bao giờ dám hỏi trước thù lao thế nào, có xứng để bỏ công sức ra không? Sau đó, tự nhủ lần sau rút kinh nghiệm, nhưng rồi có “rút” cái quái gì đâu.

Dù cuối năm công việc bề bộn, bận rộn nhưng y cũng tranh thủ đọc mấy trăm trang tài liệu, nắm rõ về hoạt động ngân hàng đó. Lãnh vực này, y không rành rẽ nhưng cũng phải cố gắng thôi. Và sau đó, viết. Theo thỏa thuận, sau khi giao kịch bản, phía ngân hàng trả thù lao. Nào ngờ, khi đã xong xuôi đâu vào đó, tay giám đốc biến mất tiêu. Tổng kết đã xong. Kịch bản đã thực hiện. Tết lại cận kề từng ngày mà nhuận bút lại không thấy trả.

Y nhắn tin đòi, đòi mãi cũng không được, bèn mắng vốn tay môi giới kia. Cuối cùng, tay giám đốc hẹn gặp tại khách sạn trên. Trong lúc ngồi chờ, y viết bài thơ Nhớ Đông Ky Sốt. Nghĩ cho cùng, một kiệt tác tiêu biểu nhất cho tính cách anh hùng mã thượng, hào hiệp nhất mà cũng ngây thơ nhất của nhân loại, với y vẫn là Đông Ky Sốt của văn hào Cervantes (1547-1616). Dù ở gầm trời nào, thời đại nào cũng cần có những chàng Đông Ky Sốt. Câu thơ viết rằng:

Dưỡng chất gì rất cần cho đời sống

Trả lời đi - tôi biết nói thế nào?

Sau nhắm mắt, nhăn mày cùng nhíu trán

Tôi nghĩ rằng cần… ảo tưởng chứ sao?

Thế nhưng khi in, đã thấy biên tập “ảo tưởng” thành “mộng tưởng”.  Cần thiết nhất ở đời, kỳ lạ thay vẫn chính là ảo tưởng đấy thôi. Có như thế con người ta mới hành động hào hiệp, bất vụ lợi bởi nghĩ rằng sự việc phải là thế, dù rằng nó không phải là thế, nhưng rồi người ta vẫn hăm hở lao theo bằng mọi giá. Tinh thần này đáng thương ư? Chẳng phải đâu, đáng kính phục lắm. Họ cứ sống và thể hiện hành động theo suy nghĩ của họ, dù rằng, có thể kẻ khác cho rằng chỉ là sự ảo tưởng. Trong đời sống, ta tỉnh táo, ta lường trước đón sau, ta thừa biết rằng, sự việc ấy là không thể nên ngao ngán buông xuôi, mỏi mệt. Nhưng họ thì không. Những lúc ấy, lúc ngao ngán, chán ngán, với y, rất cần trò chuyện cùng Đông Ky Sốt bởi sự ảo tưởng của họ nhiệt thành quá, hào hứng quá cũng là một cách tiếp năng lượng sống cho mình. Những con người truyền lửa, truyền cảm hứng thời nào cũng có. Nghĩ thế và viết thế.

May mà viết xong bài thơ trước lúc nhận nhuận bút của cái kịch bản chế tiệt này, nếu không, không thể còn chút tẹo tèo teo cảm hứng nào, vì thù lao mà tay giám đốc kia trả không đáng dành thời gian viết một bài báo! Câu chuyện lằng nhằng, không vui, chẳng kể thêm làm gì. Chỉ biết rằng, y thường hay rơi vào trường hợp cà chớn tương tự bởi rất ngại khi đòi hỏi số tiền cụ thể. Mãi đến lúc xong việc, y thường giận y sao ngu lâu thế?

Đọc lại hồi ký của nhiều nhà văn đi trước, mới thấy rằng, ông Phan Khôi là người rạch ròi trong chuyện tiền nong, sòng phẳng. Độc giả nào muốn mua quyển sách của ông, ông cho biết rõ giá bán, giá cước phí chứ không đại khái, qua loa này nọ. Lúc cộng tác, viết cho các báo trong Nam ngoài Bắc cũng rõ ràng về các khoản nhuận bút mà chủ báo phải trả cho ông. Nhà văn Vũ Trọng Phụng cũng thế. Ngày đám cưới, ai tặng quà gì, ông đều ghi chép cẩn trọng trong quyển sổ tay để sau này có dịp trả lại tương xứng, có lần ông bảo, chỗ bạn bè mà tiền bạc xen vào thì mất hết tình bạn. Ngẫm cũng hay.

Sáng nay, vui vui khi đọc trên satus của đồng nghiệp Ngô Kinh Luân. Hay hay. Ngồ ngộ. Bèn há miệng ra cười. Cười rằng: “Mặc dù là nhà thơ nhưng anh Lê Minh Quốc rất đàn ông. Mặc dù rất đàn ông nhưng lại là dân chơi, mặc dù là dân chơi nhưng rất hay buồn, mặc dù rất hay buồn nhưng lại dễ say, mặc dù rất dễ say nhưng lại thường hay uống, mặc dù thường hay uống nhưng lại rất thường nghỉ giữa chừng, mặc dù thường nghỉ giữa chừng nhưng lại rất thích nói to, mặc dù rất thích nói to nhưng lại ưa nghe thì thầm, mặc dù rất ưa nghe thì thầm nhưng lại cô đơn, mặc dù rất cô đơn nhưng lại có nhiều nữ nhân, mặc dù có rất nhiều nữ nhân nhưng lại là nhà thơ…”.

Câu cuối kết lại bằng dòng chữ đột ngột, tréo ngoe, thế mới biết ấy cũng là một thủ pháp gây cười lạc quan. Và thêm rằng, còn nhớ đến những câu thơ hắn ta đã viết, thích hơn cả những bài thơ lâu nay đã “vịnh” về y: “Phong trần nhưng vẫn mặc quần/ Thư sinh dẫu đã cởi trần từ lâu/ Đời vui chấp gì nông sâu/ Tuổi chơi mây trắng ngang đầu cứ bay/ Tàn đêm rồi lại đến ngày/ Để trong đơn lẻ bàn tay rất buồn”.

Có bao giờ, con người ta xòe bàn tay ra và tự hỏi: Năm tháng đã đi qua, tuổi đời một chồng chất, ham hố đã nhiều, hỷ nộ đã bưa… vậy cuối cùng còn giữ được gì trong tay? Hay chỉ là: “Từng ngón ngắn, ngón dài trên bàn tay năm ngón/ Ngẫm tháng ngày cũng từa tựa thế thôi/ Chẳng mới mẻ cũng chẳng gì cũ rích/ Nhịp đồng hồ cứ gõ nhịp buông xuôi”.

Có thật thế không hay lại là gì khác?
 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 28.4.2017



lat-leo-tieng-viet-bia-gay-2-1

 

Quái quỷ thật, đọc Truyện Kiều, luôn có cảm giác như thi hào Nguyễn Du mới vừa viết chưa ráo mực. Còn tươi roi rói từng nét chữ. Cách nói ấy, cách diễn đạt ấy không khác gì thời buổi này. Điều này chứng tỏ từ mấy trăm năm trước, tiếng Việt đã hoàn thiện, đủ sức chuyển tải mọi cung bậc tình cảm, mọi nỗi lòng trắc ẩn, mọi cảm xúc chi li, tinh tế, vi diệu từ chân tơ kẽ tóc, không thua kém bất kỳ ngôn ngữ nào.

Lúc rảnh rỗi, một trong những cái thú của y vẫn là đọc lại các bản Truyện Kiều đã sưu tập được, để so sách cũng từ ấy, chữ ấy các nhà nghiên cứu đã giải thích ra làm sao. Âu cũng là một cách học lại tiếng Việt. Nói rộng, lúc đọc thơ cũng là một cách thẩm thấu, tìm hiểu lại tiếng Việt một lần, nhiều lần nữa. Mỗi tác giả thơ, bằng tài năng, họ sẽ đem lại cho ta một sự sung sướng, hào hứng khiến ta ngạc nhiên về cách sử dụng tiếng mẹ đẻ đã nhuần nhuyễn đến cỡ nào. Thử đọc bài thơ này, ai biết rằng, tác giả đã viết cách đây bao nhiêu năm?

Cái túng xem ra đệ nhất ông,

Có ai là bậc thứ nhì không?

Gió trăng kho sẵn tiêu không hết,

Ngày tháng vần xoay mãi chẳng cùng.

Một bộ áo tàu coi cũng "hổ",

Ba gian nhà khách chạm thời "long".

Nhà vua nếu mở khoa thi túng,

Tất đỗ khôi nguyên chiếm bảng rồng.

Viết về cái túng thiếu, nghèo khó nhưng xem ra lạc quan lắm. Bài thơ này đọc là hiểu, không cần giải thích gì thêm. Có điều cần lưu ý ở cặp “luận” là chơi chữ do đồng âm mà có. “Hổ” là uy nghi, danh giá, “bảng hổ đề tên” là công thành danh toại, học hành đỗ đạt; thế nhưng trong ngữ cảnh trên còn có thể hiểu là xấu hổ, thành ngữ có câu: “Chó gầy hổ mặt người nuôi”.

À, ca dao có bài hay hay quá, sao bây giờ mới biết đến? “Chó gầy hổ mặt người nuôi/ Tôi gầy, hổ mặt chúa tôi chăng là/ Chúa tôi mang tiếng chúa nhà/ Mượn được đứa ở khéo là đành hanh/ Rạng ngày nấu cá mè ranh/ Chúa ăn hết nạc, để dành xương cho/ Chúa tham, chúa lại hay lo/ Đêm nằm cắt việc ra cho mà làm/ Chúa bà là chúa ăn tham/ Đồng quà tấm bánh, cất luôn trong buồng/ Ăn nhiều chết rục, chết chương/ Chẳng nhớ thằng ở, chẳng thương con đòi/ Ba năm được cái khố sồi/ Chiều ngang một tấc, chiều dài năm gang”. Bài ca dao này xuất phát từ miền Bắc, nếu xét về chữ nghĩa. Từ “chúa” ở đây hoàn toàn không liên quan gì đến vua chúa, đơn giản chỉ là chủ/ông (bà) chủ, “Ăn cơm chúa, múa tối ngày”; “Ngây ngô như chúa tàu nghe kèn”… Hãy dừng lại với từ “khố”, lập tức nhớ đến câu: Khố rách áo ôm; Con đóng khố, bố ở truồng; Bòn nơi khố bện, đãi nơi quần hồng; Anh khố son bòn anh khố nâu… Vậy khố sồi là gì? Là khố được dệt bằng tơ gốc, mặt sù sì, xấu xí, rẻ tiền là lẽ tất nhiên.

Ngày xưa, nhìn trang phục, có thể từ cái khố đã nhận ra người Việt. Nay, lạ thay, nay vải vóc, tơ lụa nhiều mặt hàng tinh xảo, đa dạng hơn nhưng chắc gì cách thiết kế/may đã phản ánh được trang phục của người Việt? Nói như thế, vì qua thông tin báo chí mới biết rằng, xin tóm tắt: Sắp đến đây Việt Nam sẽ là nước chủ nhà luân phiên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á -  Thái Bình Dương (APEC 2017). Vậy các nguyên thủ dự APEC sẽ mặc theo mẫu mã  thế nào? Trả lời câu hỏi này, chắc chắn Bộ VH-TT-DL từ nhiều tháng nay đã lao tâm khổ tứ để trình mẫu trang phục lên Ủy ban APEC. Kết quả ra làm sao?

Như đã biết trước đây, năm 2006, mẫu áo dài thời trang của nhà thiết kế Minh Hạnh được chọn. Nay vì sao thay đổi? Do không có thông tin nên y chỉ dám “dựa cột mà nghe”, chỉ biết, mẫu thiết kế mới vẫn chưa được thông qua vì nó quá giống trang phục Indonesia! Hóa ra, từng tự hào là đã sáng chế chiếc áo dài, và chính chiếc áo dài đã trở thành “quốc hồn quốc túy”, tha hồ tung bay trong thơ ca nhạc họa, thậm chí hiên ngang đi vào Từ điển Oxford nhưng thế nào là chiếc áo dài đúng nhất nhất với bản sắc văn hóa của người Việt? Câu trả lời vẫn còn gian nan lắm.

Vừa thoáng nghĩ đến đây, bỗng giật mình, vì đã lạc đề quá xa. Xa lắm rồi đấy nhé. Đang bàn về từ “hổ” lại nhảy một phát qua chiếc áo dài, thế không lạc là gì? Đúng lắm. Thành ngữ có câu: “Lạc đàn nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu”, với trường hợp này cách tốt nhất vẫn là nắm lấy bài thơ trên. Vâng, câu kế tiếp là gì nhỉ? “Ba gian nhà khách chạm thời “long”… Long là rồng, là biểu tượng tôn vua, quyền quý, sang trọng nhưng long cũng là lỏng, rời ra, lung lay, “Gái không chồng như phản gỗ long đanh”, “Răng long, tóc bạc” v.v… Long là rồng, không hề sai nhưng rồng trong tư thế nào ắt được nhiều người thích nhìn, ngắm nhất? Có phải là lúc “rồng lộn”?

Qua hai câu thơ vừa dẫn chứng, dễ dàng nhận ra rằng sự đồng âm trong là một nét tiêu biểu của tiếng Việt. Sự biến hóa thiên hình vạn trạng của tiếng Việt cũng từ đó mà ra. Quyển sách khảo cứu Lắt léo tiếng Việt của y phần lớn là khai thác, phân tích các từ đồng âm. Và trước lúc đưa đi nhà in, kịp thời có mấy câu thơ ngẫu hứng. Thơ rằng:

Lắt léo lượn lờ lên lấp lóa

Tiếng ta thanh thoát thiết tha thương

Chọn chữ chắt chiu chan chứa chữ

Thắm thiết tình ta thấy tỏ tường


Văn Việt vỗ về vương với vấn

Chống chèo chững chạc chớ choảng, choang

Chằng chịt, chung chạ, chừ, chặt chịa

Vướng víu vòng vo vẫn vững vàng


Ngữ nghĩa - nhìn nghiêng, nhoài ngó ngửa

Đỉnh đạc đã đời đó đến đến đây

Lung linh, lúng liếng lên lả lướt

Nâng niu, niềm nở nước Nam này


Dịu dàng, day dứt dùng da diết

Nặng nợ ngàn năm núi níu non

Hồn Nước nằm trong hồn tiếng Việt

Tiếng ta tự tại tới trường tồn

 Thời buổi này, còn có mấy ai kiên nhẫn đọc thơ nữa không? Một tập thơ in ra khó có thể xếp vào hạng “sách bán chạy”. In rất hạn chế. Nhiều tờ báo đã bỏ hẵn chuyên mục thơ. Vì lẽ đó nhiều người tìm cách tiếp cận bạn đọc qua các trang mạng xã hội, có nhiều người đọc hơn. Ừ, cứ cho là vậy nhưng đừng quên rằng tiếp cận từ văn bản in và lướt web là hai thao tác khác nhau lắm.

Người đọc trên mạng đối mặt với quá nhiều thông tin. Thông tin cuồn cuộn như mưa nguồn thác lũ đủ mọi đề tài, hình thức, “hầm bà lằng xắn cấu”. Do đó, người đọc dễ dàng bị cuốn theo, họ khó có thể nhẩn nha, bình tâm suy nghĩ, ngẫm ngợi từng chữ, từng từ, từng câu mà các nhà thơ đã chọn lọc chu đáo, dù chỉ là một dấu chấm, phết, một dấu hỏi, ngã… Cũng bài thơ đó, đọc lần một thấy bình thường, lạ thay, đọc lại nhiều lần lại có một cảm nhận khác. Bài thơ xuất hiện trên trang mạng xã hội chẳng hạn, không cho phép người đọc có được điều kiện ấy, bởi lẽ như đã nói, có quá nhiều thông tin đang phơi bày trước mắt, làm sao họ có thể dừng lâu, nghiền ngẫm với một câu chữ trong bài thơ đó. Đọc nhanh, đọc loáng qua để rồi còn đọc qua cái khác nữa. Vì lẽ đó, cách thể hiện câu chữ trên Facebook cũng khác, phải đáp ứng nhu cầu lựa chọn thông tin trong một rùng thông tin mà người đọc đang tiếp cận.

Không phải ngẫu nhiên, chuyện này đã xẩy ra. Chuyện gì? Sáng hôm qua, đi ăn sáng cùng thói quen cúi mặt vào tờ báo. Và đọc ngấu nghiến bản tin Đưa hành văn Facebook vào dạy tại đại học: “Trường đại học Delhi (Ấn Độ) sắp tới sẽ mở khóa dạy cách hành văn trên Facebook cho sinh viên ngành văn chương Anh. Theo Đài BBC dẫn lời Giáo sư Christel Devadawson, trưởng khoa văn chương Anh thuộc đại học trên, học cách viết dòng trạng thái trên trang Facebook sẽ là một phần của khóa học nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên.

Tờ The Hindustan Times cho hay ở Ấn Độ, phương tiện truyền thông xã hội có thể là bệ phóng giúp một nhà văn đầy tham vọng trở nên nổi tiếng, giúp họ dễ dàng tiếp cận lượng lớn độc giả hoặc thậm chí tìm được một nhà xuất bản.

Một chuyên gia khác tại Đại học Delhi giải thích thêm với Hãng tin Press Trust of India rằng: “Viết văn không nhất thiết là viết những cuốn sách nặng ký hoặc những tiểu thuyết khoa học giả tưởng lớn lao. Viết văn cũng bao gồm viết blog, viết thư hoặc cả những dòng trạng thái trên Facebook”. Ban giám hiệu Trường đại học Delhi sẽ đưa ra quyết định cuối cùng sau khi lấy ý kiến của dư luận về vấn đề trên, theo tạp chí India Today” (Báo Thanh Niên ngày 27.4.2017).

Về chuyện này, mà thôi, không bàn đến nữa. Chỉ lơ mơ ghi lại cái đề thi môn Văn khối 12 của Trường THPT Thủ Thiêm như sau: “Do được sáng tạo trong môi trường ảo, thậm chí nặc danh nên nhiều “ngôn ngữ mạng” trở nên vô trách nhiệm, vô lương tâm và vô văn hóa”. Có ai cãi gì không? Khoan đã, hãy nghe đồng nghiệp Minh Nhật có ý kiến: “Trong một đề thi văn, việc dẫn nguồn ngữ liệu là rất quan trọng nhằm xác định tính chính xác và chuẩn mực của thông tin,  nhưng trong buổi họp thống nhất đáp án, giáo viên đã hỏi về nguồn trích, tổ trưởng môn Văn của trường THPT không thể trả lời” (Báo Phụ Nữ TP.HCM số ra ngày 28.4.2017). Ấy là chưa nói về câu văn mơ hồ, thậm chí vô nghĩa. Thì ra, cái tội  nghiệp nhất vẫn là các cô cậu học sinh.

Mới đây, khi giao lưu ở Hội sách Hải Châu đã có cô nữ sinh thẳng thằn cho biết là không thích học môn Văn. Lỗi đó do đâu? Chẳng lẽ ngồi đây phân tích này nọ ư? Thôi đi, tớ xin can. Vậy thì hãy trở lại với bài thơ có câu: “Một bộ áo tàu coi cũng "hổ"/ Ba gian nhà khách chạm thời "long". Thử hỏi tác giả là ai? Xin thưa của Vũ Duy Thanh (1806-1859), người Ninh Bình.

Trong quyển Ninh Bình - Một vùng sơn thủy hữu tình (NXB Trẻ - 2007) nhà nghiên cứu Lã Đăng Bật có kể giai thoại thời Vũ Duy Thanh còn bé: Lần nọ Quan phủ Yên Khánh đi chợ Chàng (nay thuộc xã Khánh Cư, Yên Khánh) gặp Vũ Duy Thanh, muốn thử tài liền ra về đối: “Đi một thôi, đến chợ Chàng, vắt chân ngóe, ăn thịt ếch, có trả tiền, thế mới ương”. Vũ Duy Thanh hiểu rằng vế đối toàn các con vật: chẫu chàng, ngóe, ếch, ễnh ương và có hàm ý giễu cợt liền đối ngay: “Học Nam Kinh, thi trường phượng, đỗ bảng rồng, làm quận công, cuốc lấy bạc, nhanh như cắt”. Vế đối không chỉ có các con vật: phượng, rồng, công, cuốc, cắt mà còn hàm ý quan phủ ăn tiền của dân nhanh như cắt" (trang 399).

Con người thế nào, thơ văn thế ấy, khó có thể che giấu. Bài thơ thất ngôn bát cú nêu trên đã phản ánh đúng suy nghĩ của Vũ Duy Thanh, chứ nào phải uốn éo chữ nghĩa. Bằng chứng rằng, Khi giữ chức Tế tửu Quốc tử giám, ông được vua Tự Đức ban khen, có lần nhà vua hỏi: “Trẫm muốn ban chức cho khanh, khanh muốn chọn chức nào?”. Ông từ chối: “Được chuyên về rèn luyện nhân tài cho quốc gia, với thần như thế đã là thỏa nguyện”. Rõ ràng chọn lấy công việc đúng với sở trường, chứ không vì việc làm ấy đem lại đồng tiền nhiều hay ít khiến mình giàu hay nghèo, còn là quan niệm vui sống của người Việt.

Gió trăng kho sẵn tiêu không hết

Ngày tháng vần xoay mãi chẳng cùng.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 26.4.2017


chu-hoang-tu-1-R

 

“Một con ong chết.

Nắng xế qua triền cửa sổ.

Mùa hè đổi hướng.

Cummings chết: tôi không buồn. Hemingway, Blaise Cendrars, Hermann Hesse, Faulkner chết, tôi không buồn. Một con ong chết: tôi buồn lắm”.

Thuở học lớp 10 A2 tại Trường Phan Châu Trinh (Đà Nẵng), đọc câu văn này, y không thể lý giải tại sao Phạm Công Thiện lại có tâm trạng kỳ lạ đến thế. Không thể hiểu nổi. Quyển sách hay nhất của ông, theo y, chỉ có thể là Ý thức mới trong văn nghệ và triết học. Không phải bản in đầu tiên. Phải là bản in năm 1970 của NXB An Tiêm, trang trong có in thêm dòng chữ “Luận về ý thức mới sau mười năm lang bạt”. Sau 10 năm, tác giả có ghi chú, bổ sung thêm một nhiều đoạn, thỉnh thoảng in ital chèn giữa các trang đã viết. Những quyển viết khác của ông có đươc sự uyên bác, sâu sắc triết lý nhưng câu văn không bay bướm, thơ mộng như quyển trên. Chẳng hạn, một câu tầm thường, ai viết cũng được nhưng đọc một lần lại khó quên:

“Nha Trang, tháng 6 năm 1963.

Huy,

Suốt đời tôi chắc chắn không bao giờ tôi quên được đôi mắt ướt lệ của một nàng ca sĩ mà chúng mình đã nhìn thấy vào một đêm mưa tầm tã trong một phòng trà mờ tối ở Saigon”.

Sao lại không quên? Sự ám ảnh không cùng ấy, từ lẽ gì? Câu văn 40 từ không bị ngắt quãng bởi dấu chấm, dấu phẩy, đọc lên có cảm như đang nghe môt câu nói vội, nói liền mạch, không dừng lại như sợ ai cướp mất. Mà cũng có thể do tâm trạng nôn nóng, vội vã, phải nói ngay tâm sự thầm kín trong lòng vì đang cần sự sẻ chia tin cậy.

Hôm giao lưu mới đây, tại Hội sách Hải Châu, trả lời câu hỏi của bạn đọc, y có nhắc đến nhà văn Lâm Ngữ Đường, đại khái, lúc trẻ đọc sách như nhìn trăng qua kẽ lá, lớn tuổi đọc sách như ngắm trăng ngoài sân, tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên sân thượng. Nay cũng câu văn trên, y vỡ lẽ ra rằng, Phạm Công Thiện lại “buồn lắm” khi một con ong chết, không quên được “đôi mắt ướt lệ” hẳn phải có nguyên cớ của nó. Chỉ ông mới thấu rõ ngọn ngành.

Và nay, với y, có lẽ rất khó quên ánh mắt nhìn và giọng nói ấy.

Rằng, đã từ lâu lắm rồi, y có quen với một người cháu bấy giờ đang là sinh viên, tất nhiên không biết mặt. Ngày nọ, cô báo tin đã ra trường và tìm được việc làm. Từ quê ở Quảng Nam ra Đà Nẵng làm việc, hẳn thu nhập tốt. Bèn gửi lời chúc mừng bằng cách gửi tặng bức tranh do y vẽ. Giao lưu tại Hải Châu lần đầu tiên (2015), cô đi một mình; lần thứ 2, cô đi với chồng vừa cưới. Và bây giờ, gặp nhau, cô bảo: “Cháu đi 2 người đây”. “Ủa, chồng đâu?”. Cô trả lời: “Ảnh bận việc”. Vậy, chỉ 1 chứ sao lại 2? Ngạc nhiên quá. Cô nói khẽ: “Cháu vừa có bầu”. Phải tin cậy, thân thiết lắm một bạn đọc mới thốt ra lời tâm sự đó. Tự nhiên cảm động và thấy vui. Vì lẽ đó, bó hoa tươi thắm của ban tổ chức trao tặng cho nhà văn đã giao lưu cùng bạn đọc, y tặng lại cho cô và không quên chúc mừng: “Mẹ tròn con vuông”.

Làm sao có thể quên những lần ra mắt sách ở Đà Nẵng, cô luôn có mặt; sách của y đã in cô đều tìm mua; thỉnh thoảng lại hỏi như một cách nhắc nhở: “Chú Q sắp in sách mới chưa?”. Với nhà văn, có thể chỉ một hai tình huống đơn giản như thế, đã lấy làm vui. Và cũng có thể, đó là lời động viên để họ tiếp tục bền bĩ cùng trang viết.

Ông Duyên Anh, một nhà văn nổi tiếng trước năm 1975 tại miền Nam,  viết nhiều, lời khen tặng cũng nhiều. Thế nhưng chỉ một lời khen đã khiến ông nhớ mãi. Rằng, thuở mới vào nghề, ông có viết truyện ngắn Con sáo của em tôi và được chọn in. “Nhờ truyện ngắn Con sáo của em tôi mà một số độc giả biết đến tôi và dành cho tôi nhiều cảm tình. Lần đầu tiên tôi nhận được bức thư của độc giả. Bức thư không một lời “ái mộ” chỉ vỏn vẹn một dòng: “Ông Duyên Anh, tôi bắt đền ông đấy, vì Con sáo của em tôi mà Tết năm nay tôi buồn muốn khóc”. Dòng chữ trách móc đó, tôi giữ thật kỹ. Thuở ban đầu mà. Bây giờ nhận được thư độc giả, tôi đọc vẫn còn xao xuyến nhưng không thể xao xuyến như thuở ban đầu”, Duyên Anh kể lại trong hồi ký.

Thuở còn sống, những lúc vui vẽ, hào hứng, họa sĩ Ớt thường khoe lại niềm sung sướng, hạnh phúc của một đời cầm bút. Rằng, dịp Tết về quê, bao giờ anh cũng nhận được câu hỏi của thân sinh: “Chữ ở đâu mà ngày nào con cũng viết được?”. Sự ngạc nhiên của người cha, đối với anh không một lời khen nào có thể sánh bằng. Nhà văn Sơn Nam cũng tương tự, khi sách in ra: “Tôi gửi một quyển về cho bác Hai tôi, ông không biết đọc chữ Hán, chữ Quốc ngữ gì cả, nhờ đứa cháu ngoại đọc lại, năm ấy bác đã khoảng 90 tuổi. Đứa cháu ấy viết lá thư ngắn gửi lên Sài Gòn, tóm tắt ý kiến của bác tôi mà tôi vô cùng trân trọng: “Thằng này nói dóc nghe được quá. Nói dóc mà có căn cứ”. Phải rồi, truyện ngắn, truyện kể gì gì đó đều là loại hư cấu. Nhưng hư cấu phải có căn. Có căn tức là mang cốt lõi hiện thực. Lời nhận xét của bác Hai khiến tôi hãnh diện với thâm tâm mình”.

Với y, mẹ y không biết chữ, chỉ mới thoát nạn mù chữ thời “Chín năm” kháng chiến, vì thế, những gì y đã viết, bà cụ không thể biết rõ. Thế nhưng, lạ thay, lúc y ngồi làm việc cùng chữ nghĩa thì bà cụ tôn trọng tuyệt đối, không khác gì một tín đồ khi nhìn thấy nhà sư đang tham thiền nhập định. Những lúc ấy, bà cụ đi đứng khẽ khàng, hoặc rón rén bước xuống nhà. Những gì y đã viết, dù chỉ con chữ nhì nhằng, lẳng nhẳng, dù chỉ là giấy bỏ đi nhưng đã có chữ của con, bà cụ lại xếp cẩn thận, ve vuốt thẳng thớm. Chắc chắn trong đời y, trước đây, bây giờ và sau này nữa sẽ không có một ai yêu thương, quan tâm đến những gì đã viết bằng tấm lòng của mẹ. Hạnh phúc và niềm sung sướng này, không gì có thể sánh nổi.

Tùy mỗi nhà văn, ai cũng có hạnh phúc và niềm sung sướng đó, và chính điều đó, buộc họ phải có ý thức, tự điều chỉnh lúc cầm bút.

Lâu nay, y từng khoác lác, hênh hoang là đã có nhiều sách. Thật ra một quyển sách mà y quý nhất lại là một bản chép tay. Ngày 23.7.1977, y đi bộ đội đóng quân tại Trung đoàn pháo cao xạ 573 ở Tam Kỳ. Nơi này, y chỉ tạm trú vỏn vẹn dăm tháng trong thời gian huấn luyện tân binh, rồi chuyển qua K. Vậy mà nay đã là một địa danh khó có thể quên. Mới đây, nhớ quá, bèn viết rằng:

Kỳ duyên, kỳ cục, quá kỳ

Bất kỳ đâu cũng Tam Kỳ, lạ chưa?

Thấy trong vạt nắng sợi mưa

Đan xen từng giọt: “Ngày xưa, Tam Kỳ”


Ngày xưa, từ thuở xuân thì

Dép râu, áo lính đang kỳ thư sinh

Mịt mù bụi đỏ trường chinh

Râu ria chớm mọc tân binh thao trường

Tam Kỳ neo giữ yêu thương

Bất kỳ đâu cũng kỳ hương dịu kỳ

Một kỳ tôi dặn chân đi

Kỳ tâm thăm lại Tam Kỳ, nhớ chưa?

Thơ viết tặng, nhắn nhủ đồng đội, cựu chiến binh Võ Đình Chiến nhưng thật ra dành cho chính y. Sở dĩ nhớ, còn vì một phần, tại đây, ngày nọ, y đã nhận được món quà của cô giáo dạy Văn gửi tặng. Hồi hộp, náo nức mở ra xem, đó là quyển sổ tay đã nắn nót chép lại, kể cả tranh minh họa trong tác phẩm Hoàng tử bé (Le Petit Prince) xuất bản năm 1943 của nhà văn Antoine de Saint-Exupéry. Quyển sổ tay đã theo y đi hết một chặng đường chiến binh. Hơn 5 năm chứ ít ỏi gì. Nay có những trang đã nhòe mực, có chỗ không đọc được nữa nhưng kỷ niệm vẫn tinh khôi như nắng ngọt, thanh khiết đầu mùa.

Chiều nay, lật ra xem lần nữa, lại thấy y có viết đoản văn vào lúc “gần Noel 1982”, tức lúc đang đóng quân tại Anglungveng - khu đông bắc Kampuchia: “Tình cờ, một buổi chiều nào đó. Trời lạnh, mây ảm đạm chập chờn xuống quanh đây. Dường như là sương khói. Dường như là mong manh. Anh lục lại ba lô thấy một quyển sổ. Anh nâng niu. Và đọc. Chữ nhòe. Chữ còn. Chữ mất. Anh đọc chợt nghe hồn lạnh. Tay run run. Và buổi chiều vọng về dư âm. Và sương khói.

Đó là kỷ niệm. Những viên phấn. Những chiếc lá. Những bóng chiều vàng úa ngã trên sân cỏ. Làm sao nhặt lại để cất giữ trong ngăn ký ức? Anh bàng hoàng sửng sốt. Trái tim đập nhịp như con ngựa già gõ móng trong đêm khuya thản thốt. Saint-Exupéry ở một chỗ nào? Cô giáo ở một chỗ nào? Dư âm bây giờ là tiếng khóc của trẻ thơ đói sữa, Những gót giày lang thang đi trong vô cùng. Chẳng biết mình sẽ về đâu. Bóng ngã về chiều đè nặng tậm hồn tôi đến nghẹt thở. Tuyệt vọng”.

Ông Lâm Ngữ Đường nói đúng lắm. Đọc Hoàng tử bé lúc này, tại Sài Gòn bình yên, hoa mộng thế này, làm sao có được cảm xúc như lúc đang ở chiến trường giữa tiếng súng nổ ì ầm, chết chóc từng ngày?

Mà này, tại sao chiều nay, lại nhớ đến quyển Hoàng tử bé. Thưa, chỉ vì rằng, vừa đọc trên báo Tuổi Trẻ ngày 21.4.2017 có in thông tin Hoàng tử bé được dịch nhiều nhất sau kinh Thánh - dịch từ báo Le Figaro:

“Theo Tổ chức Fondation Antoine de Saint-Exupéry, kiệt tác Hoàng tử bé (Le petit prince) của nhà văn Pháp vừa trở thành quyển sách được dịch nhiều nhất trên thế giới sau kinh Thánh nhờ bản dịch sang tiếng Hassanya vào đầu tháng 4-2017. Hassanya là một phương ngữ Ả Rập được sử dụng tại Mauritania, tây Sahara, nam Morocco, sa mạc Algeria, Senegal, bắc Mali, bắc Niger và đặc biệt tại thành phố Tarfaya (Morocco). Đây là nơi Saint-Exupéry (1900-1944) viết tiểu thuyết đầu tay Courrier Sud (Thư miền nam).  

Bầu trời xanh với ánh nắng rực rỡ và bãi cát vàng mênh mông của hoang mạc Tarfaya cũng là nguồn cảm hứng cho những minh họa của Saint-Exupéry trong Hoàng tử bé.

 Là ngoại ngữ thứ 300 chuyển tải tác phẩm Hoàng tử bé, tiếng Hassanya góp phần giúp Saint-Exupéry thực hiện ý tưởng mà ông ấp ủ: “Nghề đẹp nhất của con người là kết nối mọi người”.

Thích nhất câu kết của bài báo này. Quá hay. Thông điệp ấy là sứ mệnh của mỗi nhà văn đấy thôi. Những gì đã viết, đã in, bây giờ và mai sau nữa, bạn đọc có tìm ra một thông điệp gì mà nhà văn đã gửi gắm hay không? Câu hỏi đó không chỉ là chuyện chữ nghĩa nằm trong Sổ tay nhà văn, còn là niềm hy vọng cuối cùng của những ai thật sự sống bằng nghề cầm bút.

“Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” của Nguyễn Du là nằm trong ý nghĩa đó. Bậc thi sĩ thượng thừa quan tâm, đau đáu vẫn là đời sau có hiểu thông điệp cùa mình đã gửi gắm trong tác phẩm, chứ không phải vì có ai nhớ đến cái tên/ cái danh của mình đâu. Nếu chỉ vì thế, sức mấy Nguyễn Du toàn tâm toàn ý đạt đến bút lực tầm cỡ vô tiền khoáng hậu: “dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả tình đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy” (Mộng Liên Đường). Bút lực phi thường ấy, Nguyễn Du đã gửi cho đời sau thông điệp gì?

Mà này, chiều nay, nhắc lại Hoàng tử bé chỉ vì lý do như trên thôi ư? Còn gì nữa không? Còn chứ, vẫn chính là: "không bao giờ tôi quên được đôi mắt ướt lệ" và “Một con ong chết: tôi buồn lắm”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 25.4.2017

 

thi-ca-diem-hen-dai-TNTPHCM

 

Vừa đi Đà Nẵng. Đi dự Hội sách Hải Châu, bên bờ sông Hàn. Đã ba lần tổ chức, y đều tham dự đủ. Cũng là một cách trở về quê. Hào hứng. Vui vẻ. Dạo này, mẹ y lại càng đòi vào Sài Gòn. Đã ngoài 90 xuân, sức khỏe thế nào, liệu chừng có nên chìu theo ý của bà cụ không? Thôi kệ, cũng chẳng sao. Dù gì ở vùng đất phương Nam vẫn gió thuận mưa hòa, không khắc nghiệt như miền Trung. Mấy hôm về lại chôn rau cắt rốn, trời oi, nóng bức đến khiếp. May về chiều, gió từ sông Hàn thổi vào thành phố, dễ chịu hơn.

Về Đà Nẵng, quà tặng bạn bè thân thiết cũng chỉ là dăm quyển sách vừa mới in xong. Trên báo Người Lao Động số ra ngày 23.4, đồng nghiệp Lê Công Sơn nhận xét: “Từ đầu năm 2017 đến nay, nhà thơ Lê Minh Quốc đã làm được một “kỷ lục” khi xuất bản cùng lúc loạt tác phẩm mới: Cùng với tập thơ Yêu một người là nuôi dưỡng đức tin (NXB Hội Nhà văn và Văn Lang Book ấn hành), độc giả yêu mến anh còn có thể tìm đọc: Ngày sống đời thơ (bút ký, NXB Văn học),Tình ta đang nhảy Rock (tùy bút về hôn nhân gia đình), Trong tàn phai có nụ hồng thơm lên (tùy bút về lối sống, Phương Nam và NXB Hội Nhà văn), Lắt léo tiếng Việt (nghiên cứu, NXB Trẻ), Chuyện tình các danh nhân Việt Nam (biên soạn, NXB Tổng hợp TP HCM tái bản), để càng hiểu thêm về một nhà thơ xứ Quảng Nam đa tài và… đa tình”.

Tài mà chi. Tình mà chi. Nhật ký 31.12.2016, tự bạch: “Y không có bạn tri âm. Thật đấy. Thật không? Thế hỏi ai? Chẳng lẽ hỏi lấy chính mình? Ngớ ngẩn. Thôi thì, tìm lấy sự chia sẻ từ những tinh hoa đã vùi sau ba tấc đất, tìm ở đó một chút lòng thành đi tìm tri kỷ. Phần phúc, số mệnh mỗi người ngay từ lúc lọt lòng mẹ đã định hình là thế. Có phải không?”.

Những gì đã viết, đã gửi gắm tấc lòng, có ai đọc, chứ đừng nói gì đến sự chia sẻ. Đôi khi cảm thấy rầu rầu như cỏ mọc. Như sương khuya đẫm ngọn trăng trên đỉnh trời xa thẳm. Nhìn vào đám đông, nhìn vào bạn đọc và tự hỏi: Đâu những gương mặt cần gặp của đêm giao lưu vào lúc 19g30 ngày 21.4.2017 bên dòng sông đã gắn bó từ năm tháng tuổi thơ? Mỗi người một mối quan tâm. Chẳng nên đòi hỏi gì cả. Chữ nghĩa văn chương đã viết ra là tự thỏa mãn lấy lòng mình. Vậy là đủ rồi. Vâng, ạ. Thì cứ biết thế. Có những người do tài năng, do may mắn và nhiều yếu tố khác, khi một tập sách mới in ra, lập tức đã có hàng triệu người tìm đọc. Ngược lại, có người in ra chẳng khác gì một viên sỏi ném xuống nước. Chỉ vọng một tiếng vang. Thế thôi. Mà thật ra, một tập sách, nhiều tập sách dù ồn ào hoặc lặng im cũng chẳng là gì cả.

Với y, chẳng vui mà cũng chẳng buồn. Cứ lầm lũi từ ngày này qua tháng nọ, miệt mài đi trên con đường đã chọn từ lúc oa oa khóc chào đời. Y đã chọn? Không đâu. Số phận, phần kiếp của y chính là thế. Không gì khác. Viết đi. Viết cho đến lúc tàn hơi kiệt sức, buông bàn phím cũng là lúc mãi mãi xa rời Cõi Tạm. Biết là thế. Tin là thế. Y vẫn đi, đi mãi trên con đường chữ và nghĩa. Và cũng không mấy bận tâm đến sự phản hồi từ bạn đọc, người thân, bạn bè, đồng nghiệp về những gì đã viết. Những chiều ở Đà Nẵng vẫn cùng anh Nguyễn Nhật Ánh, bạn Nguyễn Văn Sanh ăn bún bò Huế ở quán Thủy. Có lần, anh Ánh bảo, đại khái, bạn bè có khen một câu cũng không vì thế mình nổi tiếng hơn, danh giá hơn nhưng đó là sự sẻ chia cần thiết như một cách tiếp cho nhau nguồn năng lượng vui sống. Suy nghĩ này đúng lắm. Chơi với nhau, cùng bạn viết, những lời nói, thái độ nào tiếp sức thêm cho bạn thì nên. Bằng không, cũng không là gì. Và cũng chính vì thế, các tập sách ghi lại nhật ký từng năm của y đều khẳng định một tâm thế về sự ràng buộc quyết liệt: Ngày trong nếp ngày, Ngày viết mỗi ngày, Ngày sống đời thơ và nay mai lại in Ngày đi trên chữ. Dù ngày nào đi nữa, với y cũng đã lập trình.

Đôi lúc ngồi một mình soi rọi lấy lòng mình mà nghĩ thế, chứ nếu bước chân ra khỏi bốn bức tường của căn nhà yêu quý thì y lại tự cười lấy chính y. Mỉa mai quá đi mất, dòng đời có quá nhiều chuyện cần quan tâm, cần suy nghĩ hơn, trong khi đó cứ bào mòn mãi lấy cái tôi thì liệu có ích kỷ quá không? Đã có câu trả lời. Sáng sớm tại Đà Nẵng, ngày 21.4.2017, đọc dòng chữ này trên tờ báo Thanh Niên vừa mới phát hành:

“Tối qua, tại xã Đồng Tâm, người dân chăm chú theo dõi chương trình thời sự lúc 19 giờ tối chờ đợi thông tin từ TP.Hà Nội về vụ việc đang xảy ra ở xã. Người dân vẫn tiếp tục tỏ ra không tin tưởng tất cả những người lạ mặt muốn có ý định vào thôn Hoành. Ngay cả những dân ở thôn liền kề là Đồng Mít, người xã Thượng Lâm sát đó cũng bị hạn chế ra vào thôn Hoành.

Theo lời anh Nguyễn Mạnh Quang (30 tuổi, người thôn Đồng Mít), mỗi người lạ mặt muốn vào thôn Hoành phải có người quen dẫn vào. Người trong thôn Hoành đi làm về phải nhận mặt quen biết mới vào được. Người lạ mặt có ý định vào thôn Hoành đều được hỏi han kỹ càng, nếu không có lý do chính đáng, chắc chắn bị chặn lại. Tất cả các đường ra, lối vào thôn Hoành đều được dựng hàng rào, chướng ngại vật, cắt cử người canh giữ để kiểm soát người ra vào.

Ban ngày, gạch đá được dẹp gọn vừa đủ xe máy, xe đạp đi lại. Ban đêm, các lối vào thôn Hoành được chặn kín gạch đá, chướng ngại vật. Theo một thanh niên trong thôn, vài ngày nay, tình hình trong thôn Hoành rất căng thẳng, người dân cắt cử nhau thay phiên canh gác, khi có động sẽ đánh kẻng để báo cho tất cả cùng biết. Sóng điện thoại chập chờn lúc được, lúc không. Điện thi thoảng cũng bị cắt”.

Tự dưng lại nhớ đến những tài liệu đã đọc trong thời kháng chiến chống Pháp, bấy giờ có câu khẩu hiệu: “Mỗi làng là một pháo đài”. Oái oăm thay cho sự liên tưởng trong thời buổi này. Chỉ cần gõ từ khóa “xã Đồng Tâm” trên Google: “Khoảng 5.900.000 kết quả (0,40 giây). Thành ngữ có câu: “Hôn nhân, điền thổ, vạn cổ chi thù”, nếu đời này không giải quyết dứt điểm, ắt kéo dài đến đời sau. May mắn thay đã có sự đối thoại thỏa mãn về tình lẫn về lý. Thông tin này, cũng đọc trên Thanh Niên, số phát hành ngày 24.4.2017:

“Tôi là Nguyễn Đức Chung - Chủ tịch UBND TP.Hà Nội xin cam kết như sau:

1- Trực tiếp kiểm tra đoàn thanh tra, chỉ đạo sát sao, làm đúng sự thực, khách quan và đúng pháp luật khu vực đất đồng Sênh rõ ràng đâu là đất quốc phòng, đâu là đất nông nghiệp, không mập mờ, đảm bảo đúng quyền lợi cho nhân dân Đồng Tâm theo quy định của pháp luật.

2- Không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với toàn thể nhân dân xã Đồng Tâm.

3- Cam kết chỉ đạo, điều tra, xác minh việc bắt và gây thương tích cho cụ Lê Đình Kình, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Chủ tịch UBND TP.Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã ký”.

Dư luận xã hội có nhiều, rất nhiều ý kiến hoan nghênh, khen ngợi, tán thành bản cam kết này. Điểm nóng tại thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức (Hà Nội) đã hạ nhiệt dần. Vị vua anh hùng Trần Nhân Tông từng trải qua của hai cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên - Mông, nhìn thấy sự trung thành của gia nô, gia đồng nên ngài luôn dành cho họ nhiều thiện cảm. Lúc ngự chơi, giữa đường gặp họ, ngài đều gọi rõ tên và ân cần hỏi: “Chủ mày đâu?”. Những lúc ấy, ngài thường bảo các quan hầu cận: “Ngày thường, có thị vệ hai bên nhưng khi nước nhà hoạn nạn chỉ có bọn ấy đi theo thôi”. Tự cổ chí kim, không một nhà nước nào đối đầu, thù nghịch với Dân mà có thể tồn tại. Cụ Nguyễn Trãi dạy rằng: “Đẩy thuyền đi là dân mà lật thuyền cũng là dân”. Đó là chân lý của ngàn đời.

Trời đã chiều. Đã nghe tiếng chuông chùa trước nhà vọng lên như mọi chiều. Lắng tai nghe ấy sự âm vang thuần khiết. Và tất nhiên, như một thói quen là đọc sách. Đọc vẩn vơ vì cho nhẹ nhàng chăng? Đúng thế. Bèn lật trang sách cũ, kỳ lạ thay, lại là những câu thơ vịnh tờ báo, về cái nghề mà y kiếm cơm ăn đến mòn răng. Thơ về đề tài này, xưa nay vốn hiếm, bèn ghi lại như một tài liệu cho nhũng ai quan tâm đến lãnh vực báo chí. Nhân đây giải thích rằng, xưa kia những tờ báo nhăng nhố, lá mặt lá trái, nịnh bợ nhà cầm quyền, xuyên tạc ý nguyện người dân, tung tin thất thiệt (tin vịt) ắt bị gọi báo hại, báo đời - là loại báo không đáng tin cậy. Và có thơ rằng:

Chỉ đáng vò đi để độn lò,

Câu đây móc đó đọc buồn xo.

Phao đi đồn lại nhiều tin quấy,

Vùi lộn chôn lầm lắm hạm to.

Bịa cảnh canh khuya cô tú đợi,

Bày trò đêm tối lính đồn lo.

Hãy xem đạo Dụ ghi điều luật,

Đồn lạc tin sai phạt mấy bò.

“Hạm” ngoài nghĩa tàu chiến, còn chỉ hùm, cọp, hổ nhưng trong ngữ cảnh trên là nhằm chỉ kẻ ăn hối lộ. “Đạo dụ” có thể hiểu nôm na là các điều, khoản đã quy định trong luật. Còn “bò” là tiếng lóng chỉ tiền trăm, chứ không phải con bò: “Thấy anh hay chữ em hỏi thử đôi câu/ Thuở xưa ông vua Thuấn cày trâu hay bò?”. Bắt chước câu đố trên, bèn hỏi, bài thơ trên có bao nhiêu cụm từ cố tình sử dụng cách nói lái? Câu đố quá dễ. Ai cũng biết thôi. Câu này khó hơn, bài thơ này của ai? Trước lúc trả lời, chép thêm một bài thơ nữa:

Ai cũng than phiền ánh điện lu,

U u ám ám tợ mây mù.

Đêm xuân sao nhuốm màu thu đạm,

Lòng đã u buồn, điện cũng u.

Trong quyển Thi ca châm biếm và trào lộng Việt Nam (Nhà sách Khai Trí in năm 1969), nhà nghiên cứu Hoàng Trọng Thược cho biết tác giả là Phan Minh Phụ, sinh năm 1913, người Thừa Thiên Huế là cháu của Thượng Tân Thị (1878 - 1966), tác giả 10 bài thơ Khuê phụ thán rất nổi tiếng trong văn học sử. Đọc lại bài thơ vịnh tờ báo hại lần nữa, tủm tỉm cười một mình. Lại cười ý vị với bài thơ của cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vy (1881 - 1968), chơi chữ khéo lắm:

Chạy chửa chai chân chẳng chịu chừa

Chín chìu chua chát chán chê chưa

Cha chài chú chóp chơi chung chạ

Chả chính chuyên chi chớ chực chờ

Rồi lại cười lần nữa mà cười chua chát với đoạn văn Chuyện của Cự vừa đọc trên facebook:

“Cuối cùng các cụ cũng chốt cắt cái chức cũ của Cự. Cự cũng cay cay.

Các con cùng các cháu của Cự chắc cũng cay cú chứ chả chơi. Cự cũng cố cầm cự, các con của Cự: “Cha cứ chiến cho con!”. Có cu cháu chuyên chuyện chạy chọt cũng chen chân: “Chú cứ chạy các cửa cho cháu, các cụ cũng cần cứu chú chứ!”.

Cự cũng cố các cách, cuối cùng cũng chịu chết...

Chiều chập choạng, có cu cháu của Cự call cho chú cung cấp chuyện: "Các cụ cho cắt chức cũ của chú". Cự cười: 'Cắt cái chức cũ chứ có chuyện chi”.

Cự là ai? Ai biết, có giỏi thì trả lời đi.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 16.4.2017

 

image002tingthan_trao_phiungthi_ca_xu_hue


Đọc sử, đôi khi cũng cần đến những giai thoại, lời kể trong dân gian, nếu không khó có thể giải thích hết nội tình. Ai cũng nhớ đến câu ca dao: “Vạn Niên là Vạn Niên nào?/ Thành xây xương lính, hào đào máu dân”. Câu này lưu truyền từ đời vua Tự Đức, Nhắc đến nó, ắt nhớ đến “giặc chày vôi”. Những lao công xây thành “Đôi vai gánh đá xương mòn/ Mông trôn roi đánh chẳng còn mảng da” vì căm thù, uất ức đã tuân theo lời Đoàn Hữu Trưng (1844 - 1866) nổi dậy, khi khởi loạn họ cầm theo vũ khí là cái chày vôi. Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp chóng vánh. Sừ sách đã viết nhiều rồi, không nhắc lại nữa. Câu thơ trên quá xuất sắc, miêu tả bằng chữ, đọc lên rợn thít da là trích từ bài thơ lục bát Trung nghĩa ca - dài 498 câu, do Đoàn Hữu Trưng  viết trong những ngày tù ngục. Trưa nay, nằm đọc lại và chú ý đến câu này:

Cỡi rồng từ thuở thăng thiên

Kim ngôn sắc đế ngôi truyền trừ quân

Vì Trương Đăng Quế tôi gần

Bày mưu kiểu chiếu xây vần cho ai?

Có người giải thích rằng, “4 câu trên ý nói Trương đăng Quế giả chiếu đưa Tự Đức lên ngôi thay Hồng Bảo”. Có chính xác không? Cần phải tra lại sử sách. Có điều cần ghi nhận là trong tập Tinh thần trào phúng trong thi ca xứ Huế (1973) của Hoàng Trọng Thược căn cứ vào nhiều tài liệu: “Tương truyền Hồng Nhậm (sau này là vua Tự Đức) là con của Trương Đăng Quế, lúc bấy giờ là quyền thần rất có thế lực tại triều, lại là chồng của một bà công chúa em vua Thiệu Trị, nên xuất nhập bất cấm ở cung điện nhà vua. Nhơn dịp vợ vua Thiệu Trị là bà Từ Dũ Hoàng thái hậu và vợ Quế cùng sanh con nhằm một ngày, Quế lợi dụng sự bất cấm nói trên để đem con trai mình là Trương Quang Đản vào Nội (giấu trong tay áo thụng) đánh lộn sòng với con trai vua Thiệu Trị. Trong hàng nội giám và thị nữ trong cung, có người hay chuyện nhưng không ai dám hé môi vì sợ Quế hãm hại”.

Sự việc này có thật hay không? Hỏi thế, ngớ ngẩn lắm. Chỉ có thể trả lời chính xác, nếu lúc ấy khởi nghĩa của Đoàn Hữu Trưng thành công. May ra, trong thời điểm đó, mọi việc mới có thể công bố minh bạch rõ ràng. Bằng không, sự “tương truyền” vừa nêu trên chỉ là bịa đặt. Chẳng giá trị gì. Lấy gì chứng minh? Dù rằng, trong Trung nghĩa ca, có câu: “Chi bằng ra sức phò trời/ Đem về chánh thống mới hay tôi lành”, nhà nghiên cứu Hoàng Trọng Thược có lý khi bình: “Có lẽ đó là một duyên cớ cho Đoàn Hữu Trưng vin vào lật đổ vua Tự Đức và sách lập con trai trưởng Hồng Bảo là Ưng Đạo lên ngôi”.

Thành ngữ có câu thật hay: “Để lâu phân trâu hóa bùn”. Có những sự việc là A sờ sờ ra đó, người ta gọi B nhưng đố ai dám cãi, dám nói ngược lại. Dần dà, đời này, đời sau và sau vài đời nữa mặc nhiên thiên hạ thừa nhận đó là B. Oái oăm chưa? Mà đến khi gọi lại đúng sự vật với tên gọi là A, lúc ấy, chẳng còn có ý nghĩa gì nữa.

Thành ngữ lại có câu: “Con đã mọc răng còn nói năng gì nữa”. Ấy là lúc đứng trước một sự việc đã rồi, khó có thể xoay xở. Thòng thêm câu này, bởi liên tưởng đến trường hợp Hoàng Sa đã mất vào tay Trung Quốc. Vài trăm năm sau, con cháu Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Lý Thường Kiệt… dù vẫn biết chủ quyền thuộc về mình nhưng liệu có lấy lại được máu thịt đã mất vào tay ngoại xâm? Câu hỏi này bi quan quá, phải không. Dù biết thế, nhưng vẫn đặt câu hỏi ấy. Với trách nhiệm công dân, mỗi người có một cách thể hiện lòng thành trước hiện thực đất nước. Y có gì, ngoài thơ?

Lao xao tiếng nói

Dặt dìu tiếng mây

Rộn rã tiếng ngày

Nôn nao tiếng gió

Có cả tiếng tôi

Chuyện trò với cỏ

Muôn năm ngàn thuở

Muôn kiếp vạn đời

Tiếng chồng tiếng vợ

Chẳng gì xẻ đôi

Tiếng của lòng tôi

Lẫn trong tiếng sóng

Nhọc nhằn đau đớn

Hoàng Sa - Hoàng Sa

Tiếng của mọi nhà

Âm vang hồn Việt

Tiếng đời xanh biếc

Hỏi, ngã, sắc, huyền…

Tiếng quê dìu dặt

Biếc hồng cánh sen

Tiếng nói quê hương

Ruột rà tiếng đất

Bàn tay nắm chặt

Vọng tiếng Tổ Tiên

Giọt máu thiêng liêng

Không bao giờ mất

Hoàng Sa - Việt Nam

Tiếng lòng Thống Nhất

Trở lại với câu: “Đọc sử, đôi khi cũng cần đến những giai thoại, lời kể trong dân gian, nếu không khó có thể giải thích hết nội tình”. Có lẽ phải thòng thêm câu nữa: “Ít ra cũng có thể xác định được tính cách, quan điểm của nhân vật nếu đọc trước tác của họ”. Nói như thế, vì lâu này, sử sách đã chép về số phận của Ông Ích Khiêm nhưng chưa thấy ai nó đến thuở bình sinh ông không tán thành chủ trương vua Tự Đức: thuê bọn giặc Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc để tiêu diệt giặc Pháp. Bằng chứng Ông Ích Khiêm có để lại bài thơ:

Áo chúa cơm vua hưởng bấy lâu,

Đến khi có giặc phải thuê Tàu.

Từng phen võng giá mau chân nhảy,

Ðến buớc chông gai thấy mặt đâu?

Tiền bạc quyên hoài dân xác mướp,

Trâu dê ngày hiến đứa răng bầu.

Ai ơi! Hãy chống trời Nam lại,

Kẻo nữa dân ta phải cạo đầu.

“Cạo đầu” là gọt tóc theo tục người Mãn Thanh. Nhân vật Lê Quýnh, đời sau vẫn nhớ đến ông, dành cho nhiều thiện cảm dù ông sống lưu vong, chạy theo Lê Chiêu Thống trốn sang Tàu sau trận đòn sấm sét của nhà Tây Sơn. Lúc bọn Quýnh bơ vơ đất khách quê người, Phúc An Khang - Tổng đốc lưỡng Quảng cho vời đến Quảng Tây dụ bảo gióc tóc và thay đổi đồ mặc. Trong tập sách Ngàn năm áo mão, nhà nghiên cứu Trần Quang Đức cho biết Lê Quýnh đã tức giận trả lời:  “Bọn ta đầu có thể chặt, chứ tóc không thể cạo; da có thể lột, chứ y phục không thể thay!". Đến năm Gia Long thứ 3 (1804) Quýnh được thả về nước, sau đó thường xõa tóc, mặc áo cừu, du ngoạn ở chùa Đại Đồng (Hải Dương). Tác giả "Vân nang tiểu sử" ca ngợi, mười mấy năm trời ở Trung Quốc mênh mông, xõa tóc rủ áo dài duy có mình ông mà thôi”.

Tìm hiểu sâu hơn một chút ắt biết trên tạp chí Hán Nôm, số 4 (77) 2006 có in bài văn bia về Lê Quýnh do con cháu viết. Văn bia này do GS Hoàng Xuân Hãn phát hiện và từng công bố năm 1969: “Đến nơi, nghe tin chúa cũ (vua Lê) cùng bọn bày tôi đi theo đã cắt tóc, thay đồ mặc như người Thanh. Nhà Thanh bắt buộc các ông phải cắt tóc, các ông không chịu, giữ tinh thần bất khuất suốt mười ba năm ròng. Ông nội tôi có thơ rằng:

Thân hãm trong tù ôm tiết trắng,

Mệnh treo sợi tóc tỏ lòng son.

Khí tiết của các ông phát ra lời không phải chỉ một chỗ. Do đó, chúa cũ lệnh cho ghi chép thành Tứ công tập. Người Thanh cũng khâm phục gọi bốn ông là Tứ nghĩa sĩ”.
 

Biết thêm chi tiết trên, càng thấu rõ cái tâm, cái chí, cái nhìn sáng suốt của Ông Ích Khiêm ở câu thơ kết: “Ai ơi! Hãy chống trời Nam lại/ Kẻo nữa dân ta phải cạo đầu”. Tiếng kêu thống thiết ấy thời nào cũng đúng, là một sự nhắc nhở không bao giờ thừa. Về chủ trương thuê bọn Cờ Đen đánh Pháp thời đó, lợi và hại ra làm sao? Câu hỏi này chẳng hề vu vơ, ngẫu hứng đâu.

Hơn năm mươi năm trước, Hội Sử học Việt Nam đã đặt ra câu hỏi đó. Trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 34 (1.1962) mở diễn đàn Bình luận về một số nhân vật lịch sử - bắt đầu từ Lưu Vĩnh Phúc. Mở đầu, nhà nghiên cứu Văn Tân có bài Lưu Vĩnh Phúc tướng Cờ Đen và các hành động của ông tại Việt Nam. Cuộc thảo luận kéo dài nhiều số báo liền, tháng 9.1962, trên số 42, ông Trần Huy Liệu đã có bài tổng kết, bên cạnh khẳng định chiến công to lớn, “Chúng ta không phủ nhận những hành vi tàn bạo của quân Cờ Đen trên đất nước Việt Nam”.

Những vấn đề thuộc về lịch sử, thỉnh thoảng y đọc và lấy làm thú vị nên ghi chép lại là vậy.

Chỉ riêng chuyện để tóc hay cắt tóc thôi, đã là bao nhiêu chuyện để nói. Lúc người Pháp sang, các cụ trong phong trào Duy tân chủ trương phải cắt búi tó đi. Người Quảng Nam trước nhất thực hiện là cụ Phan Châu Trinh. Từ năm 1906, cụ Phan đã hớt tóc sau đó, cụ thường nói khích để các người khác bắt chước theo. Lúc nào cụ cũng bảo: “Người đời, nhất là bọn nhà nho chúng ta, hay có tánh rụt rè, không dám làm việc. Mỗi khi có việc đáng làm, họ thường tìm cớ trách trút, có khi họ nói: Việc nhỏ, không xứng đáng. Trong ý họ, đợi đến việc lớn kia. Nhưng nếu họ đã có ý không muốn làm thì đối với họ việc nào cũng sẽ là nhỏ cả, thành thử cả đời họ không có việc mà làm!”; “Nào! Thử "cúp" đi có được không? Đừng nói là việc nhỏ; việc này mà các anh không làm được, tôi đố các anh còn làm được việc gì!”

Kể lại chuyện trên báo Ngày Nay số 149 (15 Fevrier 1939), cụ Phan Khôi còn cho biết thêm: “Hớt tóc cũng là một cớ buộc tội trong vụ án năm 1908 ở mấy tỉnh Trung Kỳ. Làm người không có việc gì cả, chỉ đã hớt tóc mà cũng bị ghép vào mặt luật bất ưng vi trọng, phải 18 tháng tù. Lại, cuộc phiến loạn năm 1908 ấy, trong các ký tái của người Pháp cũng gọi là “cuộc phiến loạn của đảng hớt tóc” (Révolte des cheveux tondus). Xem đó đủ thấy hớt tóc ở thời đại ấy bị coi là nghiêm trọng dường nào”.

Mỗi thời mỗi khác. Có việc nghiêm trọng ở thời điểm này, nhưng sau đó, chẳng là gì cả. Vấn đề còn lại, cốt lõi nhất, quan trọng nhất vẫn lúc đương thời để sống, để tồn tại người ta đã chọn lấy thái độ nào?

L.M.Q
.

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 15.4.2017

17903948_1286931631426838_1617662029014865486_n


Phải thế chứ. Phải thay đổi, con người ta  mới dễ thở. Bằng không, ngột ngạt lắm đây. Có những ngày, từ sâu thẳm con người y đã hiện diện nhân vật Thứ của nhà văn Nam Cao. Thứ mải mê đọc sách, nhưng rồi: “Những cái ấy có nghĩa lý gì bên cạnh cuộc sống sôi nổi, rất ồn ào, rất chật vật, rất đau thương ở quanh ta? Những cái ấy có nghĩa lý gì, bên cạnh ngay chính những lo lắng, những băn khoăn, những tủi hờn ở trong ta? Lúc này mà bình tĩnh nằm đọc sách, Thứ thấy mỉa mai quá!”.

Vâng ạ, nhưng biết làm sao? Chỉ nghĩ,  rồi đến một lúc nào đó mọi việc cũng phải thay đổi. Nhanh hay chậm? Không rõ nhưng phải thay đổi. Có lẽ Sống mòn vẫn tác phẩm hay nhất viết về tâm trạng của trí thức miền Bắc trong những ngày sắp diễn ra Cách mạng tháng Tám (1945). Sự nhùng nhằng, ngắc ngoải, vướng víu, ù lì, ngột ngạt, oi bức của đêm trước nổ ra cơn giông thật khủng khiếp. Từng ngày Sống mòn và mòn dần. Biết đâu chưa kịp đón nắng mai lên, có người đã buông xuôi, đã bất lực. "Trong trường dạ tối tăm trời đất/ Có khôn thiêng phảng phất u minh/ Thương thay thập loại chúng sinh/ Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người". May quá, việc nào cũng có thể thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Nhìn thấy và chấp nhận yếu tố tích cực của nó cũng là một cách vui sống.

Cái gì cũng có hai mặt của nó, khi mạng xã hội được nhiều người sử dụng, đã xuất hiện câu vè mỉa mai hài hước:

Phận làm trai gõ phím bình thiên hạ

Chí anh hùng click chuột định giang sơn

Một loạt từ mới hội nhập vào lời ăn tiếng nói hằng ngày: cúng phây, anh hùng bàn phím, ném đá, bán hàng qua phây v.v… Nhưng phải thừa nhận rằng, hiện nay chính các trang mạng xã hội đã góp phần định hướng dư luận xã hội. Nhiều đồng nghiệp cho biết, mỗi ngày không thể không lướt facebook vì họ cần tìm thông tin, tìm đề tài... Và cộng đồng ấy, tạo nên môt sự gắn kết và có sức lan tỏa ghê gớm.

Nói như thế, bởi sực nhớ đến vụ việc cấm vĩnh viễn 5 ca khúc sáng tác tại miền Nam trước năm 1975. Nay, số phận của nó thế nào? Thật bất ngờ, sáng nay “gió đã xoay chiều”. Dẫn đến tác động thay đổi đó là vai trò của truyền thông.  Ròng rã nhiều ngày liền trên các trang mạng xã hội đã có nhiều ý kiến phê phán, chỉ trích gay gắt về quyết định vội vàng, không cân nhắc của Cục nghệ thuật biểu diễn. Sự lên tiếng này, tất nhiên báo chí chính thống không đứng ngoài và đã tạo ra một “hợp đồng tác chiến” ngoạn mục. Những ai dù dửng dưng nhất cũng không thể thờ ơ, vô cảm trước sự cấm đoán trật chìa trên. Nói thật, quyết định của Cục lấy cớ do quy định cấp phép đã tạo ra rối rắm, quậy bùn dưới ao, tung hỏa mù chỉ có thể xuất phát từ cơ chế “xin-cho” mà thôi.

Sáng nay, thông tin từ báo chí, chẳng hạn bản tin trên Saigongiaiphong online cho biết: “Ngày 15.4, Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch cho biết vừa ra văn bản yêu cầu thu hồi văn bản tạm dừng lưu hành 5 bài hát sáng tác trước năm 1975. Văn bản do Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL Vương Duy Biên ký nói rõ: Vừa qua, Cục Nghệ thuật biểu diễn ban hành văn bản tạm dừng lưu hành 5 bài hát sáng tác trước năm 1975 đã được phép phổ biến gồm "Cánh thiệp đầu xuân", tác giả Lê Dinh - Minh Kỳ; "Rừng xưa", tác giả Lam Phương; "Chuyện buồn ngày xuân", tác giả Lam Phương; "Con đường xưa em đi", tác giả Châu Kỳ - Hồ Đình Phương và "Đừng gọi anh bằng chú", ghi tên tác giả là Diên An, trên cơ sở văn bản đề xuất của Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM là chưa đủ căn cứ, gây phản ứng trái chiều trong dư luận xã hội". Vì thế, "Yêu cầu Cục Nghệ thuật biểu diễn thu hồi Quyết định số 20/QĐ-NTBD ngày 22-3-2017 của Cục Nghệ thuật biểu diễn. Bộ đề nghị tổ chức kiểm điểm, nghiêm khắc rút kinh nghiệm sâu sắc đối với tập thể, cá nhân tham mưu việc tạm dừng lưu hành 5 bài hát sáng tác trước năm 1975 đã được phép phổ biến nêu trên”.

Ít ra phải thế chứ. Nếu các vụ việc trì trệ đã và đang tồn tại, lại được “chốt hạ” nhanh chóng thế này, dân tình đỡ khổ biết bao nhiêu.

Có những sự việc oái oăm diễn ra mỗi ngày, đôi khi y có cảm tưởng như đang đọc tiểu phẩm trào phúng. Trí tưởng tượng của nhà văn còn kém xa, đi sau hiện thực của đời sống nhiều lắm. Hãy thử đọc các câu hỏi: “Có hút thuốc lá, lào không?”, “Uống rượu bia thường xuyên không?”, “Sử dụng ma túy không?”; “Biện pháp tránh thai đang dùng?”, “Kỳ có thai cuối cùng?”, “Số lần có thai?”, “Số lần sẩy thai?”… Các câu hỏi này đành cho những nam thanh nữ tú đã trưởng thành, chuẩn bị kết hôn? Không, dành cho… học sinh tiểu học tại một trường học ở quận Cầu Giấy (Hà Nội). Liệu chừng khi diễn tuồng tại nhà hát Quảng Lạc, Kép Tư Bền có nghĩ ra tình tiết gây cười đến thế không?

Có lẽ trong thơ Việt Nam, chỉ mỗi Hồ Xuân Hương có bài thơ viết về nói ngọng:

Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông,

Chúng bảo nhau rằng: “Ấy ái uông”.

Hãy thử đọc bảng thông báo tại sân bay quốc gia: “Những hành khách có chuyến bay lối tiếp, để chánh hành lý bị kẹt lại, xin xuất trình thẻ hành lý để làm thủ tục chuyển tiếp”. Dòng chữ này in vi tính rõ ràng ràng, chứ không phải viết tay. Đọc xong, bèn cười. Những chữ bắt đầu bằng “l/n”, “tr/ch”… nhiều người mắc phải. Ngay cả vị “tư lệnh” đứng đầu một ngành nọ cũng phát ngôn ngọng nghịu, do đó, đã có một lúc bị thiên hạ phàn nàn dữ quá. Có người bảo, chẳng rõ đùa hay thật, nếu muốn khắc phục nhầm lẫn trên, mỗi ngày nên tập đọc, đọc thật to, đọc chậm rãi từng chữ một: “Nếu nói lầm lẫn lần này nữa thì lại nói lại. Nói cho đến luôn luôn lưu loát hết lầm lẫn mới thôi”.

Sực nghĩ, sống trong một xã hội thế nào, sự quan tâm của con người ta thế ấy, Trong lúc ta quan tâm những chuyện vặt vãnh mưu sinh hằng ngày, chuyện rất đỗi sát sườn với miếng cơm manh áo, trong khi đó con người ở xã hội khác lại quan tâm đến những vấn đề lớn lao hơn nhiều. Chẳng rõ, có ai quan tâm, đồng cảm với thông tin này không? Y vừa đọc trên báo Thanh Niên (số ra ngày 11.4.2017).

Rằng, một ngày nào đó, nếu xẩy ra “thảm họa tận thế” do biến đổi khí hậu hoặc chiến tranh hạt nhân thì các giống cây trồng, di sản văn hóa và lịch sử quan trọng của nhân loại sẽ như thế nào? Xin thưa, hiện nay, tại quần đảo Svalbard quanh năm băng giá của Na Uy đã có một căn hầm khổng lồ. “Theo chuyên trang Wired, khoảng 940.000 loại hạt giống của tổng cộng gần 3.800 loài từ nhiều quốc gia trên thế giới đang được lưu trữ tại đây. Mỗi loại được đóng gói cẩn thận vào từng túi riêng biệt, sau đó được niêm phong vào những chiếc thùng kín đặt trong căn hầm luôn giữ ở nhiệt độ không đổi để duy trì chất lượng hạt giống suốt nhiều thập niên”.

Chưa hết, "Kho lưu trữ thế giới cũng đang được xây dựng dưới lớp băng vĩnh cửu tại Svalbard, cách Bắc cực khoảng 1.000 km với nhiệt độ luôn ở mức dưới 0°C. Thay vì trữ lương thực, Kho lưu trữ thế giới sẽ vận hành như một thư viện để chính phủ các nước, tổ chức khoa học, cũng như các cá nhân có thể lưu giữ những dữ liệu quan trọng về văn hóa, lịch sử... một cách an toàn”. Cách thức lưu trữ ra làm sao?

Hãy đọc: “Đặc biệt, trong Kho lưu trữ thế giới sẽ không chứa sách cổ, phim, CD hay ổ cứng mà Công ty Piql của Na Uy sẽ phụ trách chuyển đổi mọi thông tin được gửi đến thành một tín hiệu đặc biệt in lên những tấm phim cảm quang làm từ vật liệu đặc biệt không bị ăn mòn. Live Science dẫn lời ông Rune Bjerkestrand, người sáng lập Piql, cho hay quá trình này tương tự như việc biến dữ liệu thành “các mã QR lớn trên tấm phim” hoặc chữ được khắc lên đá. Với kỹ thuật này, các dữ liệu sẽ tồn tại nguyên dạng, không bị hư hại và cũng không thể chỉnh sửa. Các tấm phim sẽ được cho vào hộp an toàn và đặt trong căn hầm. Piql tuyên bố mỗi tấm phim đặc biệt như vậy có tuổi thọ 500 - 1.000 năm. Mặt khác, cách tồn trữ này không đòi hỏi phải có thiết bị giải mã phức tạp khi cần truy xuất”.

Thông tin này thú vị quá phải không? Nếu tham gia vào hai kho dự trữ toàn cầu này, Việt Nam ta sẽ gửi gì? Hạt giống rau muống và kiệt tác Truyện Kiều chăng?

Mấy hôm nay, công việc nhà xem như tạm ổn. Căn nhà, y đang ở, mua vào năm bao nhiêu? Lật lại hồ sơ mua bán nhà ắt rõ. Hồi đó, chỉ mua 4 cây vàng. Vàng 5 triệu đồng một lượng. Tiền của gia đình. Sau đó, nhờ có công ăn việc làm ổn định, mua tiếp căn thứ hai, 25 cây vàng, sát vách nhà. Đập vách nối thông qua. Và căn nhà này cũng đã sửa chữa dăm ba lần. Lần này, lại mệt mỏi vì sự nhiêu khê của giấy tờ, thủ tục hành chánh. Rồi cũng ổn thôi. Trong thời gian này, rất cảm động với bài viết của đồng nghiệp Ngô Kinh Luân. Hắn ta viết gì? In trên báo đàng hoàng đấy. Cần ghi lại nhằm yêu dấu một cái tình. Hắn ta viết rằng:

“Tuần nào cũng gặp nhau đôi lần, không sáng thì khuya. Tuần nào cũng nhắn tin một lần, nói chuyện công việc. Thoắt cái hai tuần liền không thấy nhắn, bài vẫn đọc trên nhật báo lớn hằng ngày, biết là không có chuyện gì bất trắc. Vậy thì là làm sao lại không nhắn? Dân chơi này không nhắn thì dân chơi kia nhắn.

"Nếu không có chuyện gì thì gặp nhau chút, có phải đi kinh tế mới đâu mà mười ngày rồi không thấy mặt nhau". "Chưa được, chưa được, đang bận quá, L. ơi". "Ok, fine. Ai mà không bận, tóm lại là không thể gặp chứ gì?". "Gặp, gặp, qua tuần gặp L. ơi, đang sửa nhà". "Cái gì chứ, sửa nhà thôi mà, có cần phải bận vậy không?". Nhắn xong lại thấy thương.

Người anh em thân một mình, chữ nghĩa làm vui, nữ nhân đến rồi đi biết ai tri kỷ. Mẹ già xót con trai vào ở cùng, nay mẹ già mệt phải về lại cố hương. Xa mẹ phút chốc lâm cảnh bụi đời ngay. Có mẹ thì về nhà cơm nóng canh ngọt, xa mẹ thì cơm hàng cháo chợ. Có mẹ thì rượu say về được ăn chè đậu xanh, xa mẹ thì nhậu say về trùm chăn ôm bụng đói ngủ. Có mẹ thì về nhà xoa đầu con mèo nghịch đùa, xa mẹ thì ăn gì cũng phải tranh thủ xin bịch nilon mang thức ăn về cho con mèo kẻo nó đói. Có mẹ thì kê cao chân mà đọc sách, không có mẹ thì loay hoa loay hoay. Lại thêm bây giờ sửa nhà, đến chỗ chợp mắt ba mươi phút buổi trưa theo thói quen cũng không có.

Dân chơi mất chất hẳn, không ngủ trưa được, không uống rượu được thì mất hẳn khí chất dân chơi. Thời may cái máy tính để bàn còn gõ chữ được nên tranh thủ viết đều, chứ không mất số má giang hồ luôn.

Đang họp với lãnh đạo thì người anh em gọi: "Đi ăn phở, nhất định phải đi, anh có chuyện muốn nói". "Dân chơi đang họp với lãnh đạo, không đùa được". "Ok. vậy thì họp xong phải đi nha, nhất định phải gặp".

Nắng gay gắt trên đầu, đến nơi đã thấy người anh em ngồi chờ sẵn. Phở như vẫn như, ăn như vẫn như, cà phê đá như vẫn như. Người anh giúi vào tay ba quyển sách mới vừa in, quyển Tình ta đang nhảy rock, Trong tàn phai có nụ hồng thơm lên và quyển thơ Yêu một người là nuôi dưỡng đức tin... Lâu lắm mới được đọc thơ của người anh em một cách trọn vẹn thế này, thơ tài hoa hơn hẳn nét dân chơi mà người anh em sẵn có.

Nhưng có gì đó hơi ngộ ngộ, là làm sao, là một năm ra hơn mười đầu sách hay sao? Là làm sao, cũng phải để cho người ta có thời gian để đọc nữa chứ. Là làm sao, ai nói gì thì nói, còn chỗ chịu in thì mình in thôi. Là làm sao, còn chưa kể đến sách tái bản đấy, nhé. Rồi, đồng ý. In thì trả nhuận bút, mưu sinh bằng nghề chữ có chỗ in thì còn ra sách, người ta còn mua thì còn viết thôi".

Đúng thế, ngày viết mỗi ngày. Viết như một thói quen. Một nghĩa vụ. Không cần đợi cảm hứng. Mỗi ngày lại đọc. Rồi lại viết. Dù có lúc tự mỉa mai như nhân vật Thứ của Nam Cao, nhưng cũng không thể không tìm lấy sự lãng quên, tìm vui từ trong những trang sách, đành rằng những gì đang đọc chẳng hề ăn nhập gì với hiện thực của đời sống. Nên chăng?

Hỏi đấy, trả lời đi?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 3 trong tổng số 48

trinhduyson