LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 20.11.2015

PDF.InEmail


cam-nhan-ve-chiec-la-cuoi-cung

(ảnh:Internet)

 

Ông Kim Thánh Thán, thế mà hay. Những suy nghĩ lẩn thẫn, vụn vặt, chẳng có “triết lý” gì ghê gớm, nhưng ngẫm đi ngẫm lại mói thấy sâu sắc biết chừng nào. Rằng, “Cơm nước xong vô sự, lục lộn hòm nát, thấy các văn tự mới cũ, có đến mấy trăm bức. Những người thiếu nợ đó, hoặc chết rồi, hoặc còn sống, tóm lại đều không sao trả nổi. Vắng người liền lấy lửa trộn lộn đốt sạch. Ngửng nhìn trời cao, vắng ngắt không mây. Há chẳng sướng sao!”. Đốt sạch những “của nợ” đó, cảm thấy nhẹ lòng. Giữ lại chẳng thể đòi được nợ, trong lòng cứ mãi canh cánh nỗi phiền muộn. Ấy là tâm thế của một người biết sống vui với đời. Tự mình, tìm cho mình cho niềm vui ngay trong tầm tay, chứ nào phải đâu xa.

Tuy nhiên, với những lá thư tình ngày cũ, không ai nỡ chọn cách “ứng xử” như thế chăng?

Có người bảo, với phụ nữ, sau khi đã về nhà chồng, thư tình ngày trước không khác gì giẻ lót nồi, như giấy nhóm bếp. Họ không cần phải nhớ đến những du dương mật ngọt của thời thề non hẹn biển nữa. Họ quên. Buột phải quên đi hình bóng người cũ thấp thoáng trong lá thư ngày cũ đặng toàn tâm, toàn ý cho cuộc sống mới. “Nếu biết rằng tôi đã có chồng/ Trời ơi người ấy có buồn không?”. Câu hỏi của T.T.Kh, chỉ thoáng qua trong chốc lát, sau đó, sẽ quên. Làm sao có thể cung sống với người này lại thả hồn về hình bóng của dĩ vãng mộng mị xa vời vợi?

Cứ mưa cho ấm chỗ nằm

Đem thơ nhóm bếp đỡ đần sớm mai

Thơ ấy? Chính là những lá thư tình của ngày hoa niên nắng còn xanh trên tà áo mới, môi còn thơm mà mỗi lời thốt ra còn reo vang như tiếng ngọc.

Bây giờ, đã xa.

Vào một chiều hiu hắt gió, y cũng bắt chước Kim Thánh Thán. Lục lọi lại ngăn tủ, trong bề bộn cũ những tờ giấy nát, vẫn còn đó những lá thư  tình. Bùi ngùi và đọc lại. Những dòng chữ viết nắn nót, cẩn thận đầy yêu thương, nhung nhớ tưởng chừng như người ngọc còn ngồi cận kề. Đọc những những lá thư ấy, tự dưng lại thương cho tuổi trẻ còn nuôi dưỡng nhiều mộng đẹp thơ ngây. Ngày ấy, tưởng rằng, “chỉ có cái chết mới chia lìa lứa đôi”. Tưởng là tưởng thế. Đến một ngày, cũng con đường đó, vòm cây đó, nắng mai đó nhưng hai người rẽ ngã khác nhau.

Y nhớ lại những lúc thắp ngọn nến thơm, trải trang giấy pơluya trên mặt bàn, cầm bút lá rông hoặc lá tre chấm mực tím viết lại những câu thơ như ngụ ý lòng mình? Ánh nến sáng lờ mờ, khói thơm nhẹ mới tạo ra sự huyền ảo của tình yêu học trò. Rồi chép những câu thơ tình tứ của Xuân Diệu: “Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất/Anh cho em, kèm với một lá thư/ Em không lấy, và tình anh đã mất/ Tình đã cho không lấy lại bao giờ”?

Nhớ đến hình ảnh đó, y cảm thấy lòng rầu rầu như tơ chùng vào một chiều ngột gió. Hình ảnh đó, hiền lành, đáng yêu và trong trẻo biết chừng nào. Thư viết xong, thở phào sung sướng. Bỏ vào trong bao thư, tự làm lấy và sẽ gửi đến cho “nàng”. Ông Đoàn Chuẩn tinh tế quá đi thôi: “Đêm hôm nay ngồi dưới ánh trăng thu, viết tơ lòng gửi tới cho nhau rồi ngày mai nhắn mây đưa tờ thư, tới em đôi mắt sầu kèm theo bao ý thơ”.  “Nhắn mây” tức lá thư gửi được… gửi qua đường bưu điện! Nếu không thế, cậy nhờ người trung gian chuyển giúp lá thư tình. Dựa vào đâu, những lứa đôi yêu nhau lại nghĩ ra từ “chim xanh” rất đỗi thơ mộng và văn chương ấy? Cụ Đào Duy Anh giải thích: “Có truyện cổ tích nói rằng xưa vua Hán Vũ đế đương ngồi, có con chim xanh bay đến, Đông Phương Sóc nói: “Đấy là sứ giả của Tây Vương mẫu đến”. Sau người ta lấy chim xanh để tỷ dụ sứ giả, người đưa tin hay người làm mối”.

Đọc Tuấn, chàng trai nước Việt của Nguyễn Vỹ, thấy rằng từ đầu thế kỷ trước, khoảng chừng năm 1910, đã có “chim xanh” rồi. Này nhá, cô Ba Hợi thò tay trong yếm: “rút ra phong thư bằng giấy Tây, mà cô đã viết đêm qua, và đã gấp lại thật nhỏ. Cô đút thư trong bàn tay bé xíu của đứa em trai và nói thầm gì với nó. Cô bước đi thật nhanh, để em bé đứng lại sau, đưa thư cho cậu Bốn Thanh. Nó sợ sệt nói ấp úng: “Chị tui đưa cho chú cái này nè”. Chàng trai vui mừng và ngạc nhiên cầm giấy thì đứa bé đã chạy thật lẹ để theo kịp chị nó gần đến Cửa Bắc”. Thằng bé đó đích thị “chim xanh”.

Trước đó, lá thư đã trải qua một “quá trình" như thế nào?

“Tối hôm ấy, dọn dẹp bếp núc xong, cô ba Hợi lấy một tờ giấy Tây, bình mực tím và cây viết, cổ vừa đánh vần Quốc Ngữ, vừa viết thật kỹ". Nhận được thư, ắt viết thư trả lời. “Thanh ăn cơm tối xong, pha trà cho cha, rồi lấy sách Mạnh Tử ra đọc chương Lương Huệ Vương. Hết canh một, ông Xã ngủ, chàng mới xếp sách Mạnh Tử để trên đầu giường, và len lén lấy tờ “giấy Tây”, cán bút sắt và bình mực tím ra ngồi bàn. Dưới ngọn đèn dầu phọng, chàng vừa đánh vần vừa viết". Hình ảnh thân thiện, thận trọng này, vài thập kỷ sau cũng không thay đổi. Trong Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng, lúc từ chùa Giáng Long quay về Hà Nội, Ngọc viết thư cho Lan: "Bức thư ấy, trước kia, đã ba bốn lần Ngọc viết rồi, nhưng mỗi lần viết xong, chàng lại xé nhỏ vứt đi, vì một là chàng sợ Lan không biết quốc ngữ, hai là chàng sợ bị cự tuyệt. Lần này thì chàng nhất định quả quyết. Liền mở hộp giấy viết thư màu tím lấy một tờ ngồi viết". Rồi đến thế hệ của y cũng không khác gì mấy.

Cảm xúc ngồi viết thư, chắc chắn khác với lúc gõ từng con chữ trên bàn phím. Qua một lá thư tình, có thể thấy được tâm thế con người thời ấy. Những câu chữ Hán trong lá thư của Bốn Thanh gửi cô Ba Hợi như “Quân tử chi học dã, dĩ vi kỳ thân, tiểu nhân chi học dã, dĩ vi cầm độc” (Người quân tử học là để làm cho thân mình, kẻ tiểu nhân học là để làm trâu ngựa) v.v...  nay đã hoàn toàn biến mất. Đố ai, dù đuốc soi đèn, ròng rã tìm trong hàng vạn, hàng triệu lá thư tình mà tìm thấy... Tuy nhiên, đọc lá thư ấy, muôn năm cũ, dù có cũ kỹ đến cỡ nào đi nữa, có lẽ cách xưng hô “cô, cậu” vẫn còn gợi lên cái sự cảm động vì cái tình quê mùa, chân chất. Thân mật mà không suồng sã. Xa cách mà gần gũi. Tình yêu ấy chân thành, trong trẻo lắm.

Bây giờ, không cần phải đốt đèn dầu phọng nắn nót viết thư tình rồi đến “chim xanh” nữa. Các phương tiện hiện đại phục vụ giao tiếp giữa người và người đã được “trang bị tận răng”, nó đã làm thay đổi ghê gớm nếp sinh hoạt cũ. Cần gì phải chong đèn thổn thức, rạo rực, mê đắm trên giấy hoa tiên nữa chứ? Chỉ cần một cú click send là mọi việc đã đâu vào đấy. Tỏ tình dễ dàng quá phải không? Tình đến dễ ắt đi cũng dễ? Không ngu ngốc nghĩ thế. Tâm trạng của những người đang yêu, quyết liệt yêu dù thời đại nào, màu da nào cũng không khác gì mấy. Có điều hình thức tỏ tình ngày hôm nay đã kém đi sự thơ mộng nhiều quá. Làm sao có thể tìm được cảm giác rụt rè, sung sướng, hồi hộp lật trang giấy, đọc ngấu nghiến từng chữ. Ừ, nét chữ nàng mảnh khảnh nhỉ? Chữ “l” lả lướt ghê, chư “o” mới tròn trịa làm sao…; rồi thình thoảng lại kề lá thư sát mũi, cảm tưởng như còn thấp thoáng đâu đó hương thơm ngọc lan mà người yêu đã ép trong lá thư. Đọc xong và giữ gìn một nơi trân trọng.

Những lá thư tình trong thế giới phẳng đã khác. Có thể qua email, tin nhắn, inbox v.v… tuy nhiên, làm sao có thể lưu trữ từ ngày này qua tháng nọ. Chỉ cần hoặc cúp điện, hoặc mất sóng, nghẽn mạch hoặc bị hacker… là bao điều phiền toái xẩy ra. Hơn nữa, cách diễn đạt dù đầy đủ thông tin cần thiết nhưng chắc chắn nó không đem lại hiệu quả gần gũi, thân thiết như lúc cầm đọc lá thư. Có những lúc đọc xong lá thư ấy, buồn não nùng, hay tin người yêu đã phụ tình hoặc đã vì “bên tình bên hiếu” mà cất bước lên xe hoa bèn đóng cửa phòng: “Anh quay về đây đốt tờ thư/ Quên đi niềm ân ái ngàn xưa/  Ái ân theo tháng năm tàn/Ái ân theo tháng năm vàng/ Tình người nghệ sĩ phai rồi”. Còn bây giờ, chỉ cần mỗi động tác delete là “nhanh, gọn, lẹ” hoàn toàn phù hợp với tâm thế cả con người trong đời sống công nghiệp. Nhưng rồi, lúc ấy, đố ai có thể được nhìn thấy từng dòng chữ đã “thoát xác”, đã hóa thành ngọn khói xanh bay lãng đãng trong không gian tê buốt nỗi lòng? Đố ai nhìn thấy dấu vết của cuộc tình còn đọng lại qua một nhúm tro tàn?

Chiều nay, ngồi một mình và đọc lại những lá thư tình ngày cũ. Hình bóng của một thời trai trẻ ngốc dại, si mê, trong sáng đã ùa về chật chội trong tâm trí. Chữ hiện ra trước mắt mà nhòe nhoẹt đi bởi lớp sóng thời gian đã xa mất rồi. “Mắt biếc năm xưa nay đâu?”. Y hỏi y và không có một câu trả lời. Đốt đi những lá thư ngày cũ ư? Y không dám. Sắp xếp lại, cất giữ  vào một trong chiếc thùng thiết, khóa chặt lại và ném chiếc chìa khóa xuống mịt mùng sóng vỗ. Này em, “Tình cho đi không lấy lại bao giờ”. Dù gì, đôi ta đã cho nhau và có nhau những tháng ngày đã hằn vết trong đau từ trong tiềm thức, phải không?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 18.11.2015

PDF.InEmail

 

thuykieu-phu-1-R

Tư liệu của L.M.Q

 

Ngày hôm qua, 17.11.2012 đã có thông tin chính thức về Lễ Kỷ niệm cấp quốc gia 250 năm ngày sinh của Đại thi hào Nguyễn Du - Danh nhân văn hóa thế giới (1765-2015).

Có mấy “gạch đầu dòng” cần lưu ý:

Ngày 25.10.2013, tại kỳ họp lần thứ 37 của Đại Hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hieepk quốc (UNESCO) họp ở Paris đã chính thức ban hành Nghị quyết số 37C/15 vinh danh Đại thi hào Nguyễn Du cùng với 107 danh nhân toàn thế giới. Theo đó, hoạt động tôn vinh Đại thi hào Nguyễn Du được triển khai ở Việt Nam và tại các nước trong cộng đồng UNESCO (niên độ 2014-2015).

Ngày 15.8.2014, Văn phòng Ban chấp hành Trung ương Đảng đã có công văn số 8467-CV/VPTW nêu rõ: “Đồng ý chủ trương tổ chức Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 250 năm Ngày sinh của Đại thi hào Nguyễn Du, Danh nhân văn hóa thế giới trong năm 2015. Tỉnh Hà Tĩnh chủ trì tổ chức Lễ kỷ niệm”.

Ngày 31.10.2014, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành kế hoạch, cụ thể: Tuần Văn hóa, Du lịch Nguyễn Du bắt đầu từ ngày 28.11.2015 đến ngày 5.12.2015 tại quê hương Đại thi hào Nguyễn Du với các nội dung: Liên hoan nghệ thuật quần chúng các tỉnh với chủ đề “Tiếng thơ Tiên Điền”, Hội thi thuyết minh viên du lịch Hà Tĩnh, Chiếu phim về chủ đề Nguyễn Du và Truyện Kiều và trưng bày các ấn phẩm văn chương của Đại thi hào Nguyễn Du và Văn phái Hồng Sơn, hiện vật khảo cổ di tích Bãi Cọi, triển lãm ảnh về thành tựu kinh tế xã hội của tĩnh Hà Tĩnh và các hoạt động văn hóa nghệ thuật khác trên địa bàn toàn tỉnh.

Trong chuỗi sự kiện này, trước đó, đã có nhiều hội thảo khoa học về Nguyễn Du và Truyện Kiều đã được tổ chức.

Từ ngày 17.11.2105 đến 25.11.2015, tại TP.HCM, Tuần lễ triển lãm kỷ niệm Nguyễn Du được tổ chức tại Thư viện Khoa học tổng hợp.

Trời còn có bữa hôm nay
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời

Hay thật. Những gì nghĩ trong đầu, chưa kịp viết ra, đã thấy câu Kiều rành rành trước mắt.

Trong những ngày này, nội dung phiên họp chất vấn đại biểu Quốc hội (QH) được nhiều người quan tâm. Nhiều người tâm đắc, bình luận tán thành, ủng hộ câu hỏi của đại biểu (ĐB) Trương Trọng Nghĩa: “Nếu nhận viện trợ ODA và vay giá rẻ của Trung Quốc thì liệu sau này kiện đòi lãnh thổ được không khi chưa kịp trả?”. Trên mạng cộng đồng facebook, có nhiều status dành cho ông Nghĩa nhiều thiện cảm, khen ngợi. Sáng nay, từ báo chí chính thống đến các trang mạng xã hội đều đưa tin về cách trả lời của Bộ trưởng Bộ VH-TT-DL. Báo Thanh Niên còn in tấm hình lớn với dòng chữ: “Nhiều đại biểu Quốc hội cười nghiêng ngả sau câu trả lời “gây sốc” của Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh”. Ông ta phát biểu thế nào khiến thiên hạ “dậy sóng”?

Theo tường thuật của Báo Thanh Niên:

“Trăn trở thực trạng ngành du lịch, ĐB Phạm Thị Hải (Đồng Nai) đặt câu hỏi: “Chúng ta không so với Thái Lan được rồi nhưng so sánh với Lào, Campuchia, đến bao giờ du lịch VN được như họ?”. Bộ trưởng VH-TT-DL Hoàng Tuấn Anh nói: “VN quá giàu tiềm năng, nhiều danh lam thắng cảnh phong phú đa dạng nhưng quả thực, việc thu hút khách còn hạn chế”. “Tôi nhớ phiên chất vấn tại kỳ họp trước Chủ tịch QH có hỏi bao giờ du lịch VN bằng Thái Lan, Malaysia, Singapore. Tôi bỏ ngỏ, tôi để lại cho nhiệm kỳ tiếp theo trả lời việc này, tôi không dám trả lời”, Bộ trưởng thành thật. Liệt kê những tiềm năng, sản phẩm ngành du lịch... Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh xin nhận trách nhiệm, nhưng làm cả hội trường cười ồ: “Cái trách nhiệm này của chúng tôi sẽ truyền lại cho bộ trưởng kế tiếp. Vì thời gian không còn nữa thì làm sao bây giờ”. Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng nhận xét: “Đồng chí Bộ trưởng cho QH đi du lịch rất là mệt”.

Theo bình luận của Báo Tuổi Trẻ cũng phát hành sáng nay: “Còn nhớ, vào khoảng giữa nhiệm kỳ này, ông Tuấn Anh đã từng trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội về những vấn đề tồn tại, bức xúc trong ngành du lịch và trách nhiệm của một “tư lệnh ngành”. Vị bộ trưởng này đã trả lời rất vòng vo, dài dòng khiến Quốc hội nhiều lần cười rộ lên. Đến cuối phiên chất vấn, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phải bức xúc: “Tôi thấy từ sáng đến giờ Bộ trưởng bay ra bay vào nhiều quá” (trước đó ông Tuấn Anh khoe được bay đến nơi này nơi kia thăm thú các dự án du lịch)”!

Rõ ràng, không phải lần thứ nhất mà ông Bộ trưởng này có khả năng “gây cười”.

Câu phát biểu “xin truyền lại cho đời sau” khiến nhiều người nhớ đến câu thành ngữ: “kẻ ăn ốc, người đổ vỏ”, “kẻ ăn rươi, người chịu bão”, “quýt làm, cam chịu”. Câu phát biểu: “Chứ thời gian hết rồi còn biết làm gì bây giờ”, đã bộc lộ cái sự lưu luyến, tiếc nuối của một người sắp rời ghế, hết quyền lực chứ không phải nỗi trăn trở, đau đáu trách nhiệm của một người  “đứng mũi chịu sào”.

Phụ tình án đã rõ ràng
Dơ tuồng, nghỉ mới kiếm đường tháo lui

Hay thật. Những gì nghĩ trong đầu, chưa kịp viết ra, đã thấy câu Kiều rành rành trước mắt.

Trời đã chiều. Ngày vẫn ngày. Chẳng gì mới. Không gì cũ. Lang thang trên mạng một chút và đọc được thông tin này. Đáng suy ngẫm. Rằng, có cụ già nọ ở Thái Nguyên đã nghỉ hưu, sau nhiều ngày ngẫm về nhân tình thế thái, bèn viết ra chừng vài chục câu “châm ngôn”. Xin trích lại bởi chắc có nhiều người đồng tình:

“Dạy con trẻ vạn lời hay, không bằng nửa ngày làm gương, làm mẫu.

Cha nỡ coi khinh, mẹ dám coi thường, bước chân ra đường phi trộm thì cướp.

Cha mẹ ngồi đấy không hỏi, không han, bước vào cơ quan cúi chào thủ trưởng.

Con trai chào trăm câu không bằng nàng dâu một lời thăm hỏi.

Khôn đừng cãi người già, chớ có dại mà chửi nhau với trẻ.

Gọi cha: ông khốt, gọi mẹ: bà bô. Ăn nói xô bồ thành người vô đạo.

Coi khinh bên ngoại, chớ mong có rể hiền.

Ăn ở mất cả họ hàng, chớ mơ có nàng dâu thảo.

Rể quý bố vợ vì có nhà mặt phố. Con trai thương bố vì chức vì quyền.

Ngồi bên bia rượu hàng giờ, dễ hơn đợi chờ nửa giây đèn đỏ.

Ngồi cùng thiên hạ, trăm việc khoe hay. Mẹ ốm bảy ngày không lời thăm hỏi.

Đi có bạn đường chân không biết mỏi, còn có mẹ cha sao không hỏi khi cần.

Khoẻ mạnh mẹ ở với con, đau ốm gầy còm tùy nghi di tản.

Khấn Phật, cầu Trời, lễ bái khắp nơi, nhưng quên ngày giỗ Tổ.

Giỗ cha coi nhẹ, nuôi mẹ thì không. Cả vợ lẫn chồng đi làm từ thiện.

Một miếng ngọt bùi khi còn cha mẹ, một miếng bánh đa hơn mười ba mâm báo hiếu.

Cha mẹ còn thơm thảo bát canh rau. Đừng để mai sau xây mồ to, mả đẹp.

Bảy mươi còn phải học bảy mốt. Mới nhảy vài bước chớ vội khoe tài.

Tiếp thị vào nhà bẻm mép, cẩn thận cảnh giác, đôi dép không còn.

Cầu thủ thế giới tên gọi chi chi, thoáng nhìn tivi đọc như cháo chảy, ông nội ngồi đấy thử hỏi tên gì”.

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Hay thật. Những gì nghĩ trong đầu, chưa kịp viết ra, đã thấy câu Kiều rành rành trước mắt.

Ngày mai, 19.11.2015 tròn 28 năm ngày Việt Nam chính thức kết nối với mạng internet. Một vài số liệu cần ghi nhận: “Không gian internet đã phát triển mạnh và là một điểm sáng của VN trong gần 2 thập niên qua. VN có khoảng 41 triệu người dùng internet, chiếm khoảng 41% dân số. VN cũng có khoảng 26 triệu người tiếp cận các mạng xã hội trên thiết bị di động với thời gian 2 giờ trung bình mỗi ngày. Tốc độ tăng trưởng người dùng mạng xã hội ở VN thuộc vào hàng cao nhất trong khu vực. Các trang tìm kiếm và mạng xã hội lớn như YouTube, Facebook, Twitter, Viber đều được tự do hoạt động ở VN. Internet được mở rộng tới mọi đối tượng người dân, đặc biệt ở vùng núi, nông thôn, biên giới, hải đảo” (Báo Thanh Niên ngày 18.11.2015).

Cửa trời rộng mở đường mây,
Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần.

Hay thật. Những gì nghĩ trong đầu, chưa kịp viết ra, đã thấy câu Kiều  rành rành trước mắt.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 17.11.2015

PDF.InEmail

tungleminhquoc_sinh_nhat_80-1

Nhà thơ Lê Minh Quốc làm MC trong sinh nhật 80 của nhà thơ Thanh Tùng (nguồn: Trần Hoàng Nhân - Báo Thể thoa & Văn hóa ngày 17.11.2015)

 

Chộp lấy những con đường Hải Phòng
Dốc ngược chúng lên và nốc
Lấy mình làm cốc
Nốc những mối tình chưa xong
Rượu cất bằng nước mắt
Ông ngồi gắp cuộc đời
Nhắm toàn mồ hôi
Cuộc đời ném ông ra đường như giẻ rách
Chính ra ông phải giết người
Nhưng ông ngồi khóc
Khóc rất buồn cười
Nước mắt rơi toàn chữ
Dao thi ca đâm phụ nữ
Thơ làm trận bão tàn hung
Một trái tim thú dữ
Vật chết thơ đi hỡi thi sĩ Thanh Tùng
Ông vừa đi vừa hốt hoảng
Nhồm nhoàm nhai những đám mây Hải Phòng
Đêm đói quá nằm mơ ăn hải cảng
Và Hải Phòng ông đã uống xong…

Bài thơ này hay. Ấn tượng. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo viết  ngẫu hứng ngay trong đêm mừng sinh nhật 80 tuổi của nhà thơ Thanh Tùng. Như năm trước, lần này nhận lời làm MC cho chương trình, y đề nghị khách tham dự viết bài thơ ngẫu hứng vào sổ tay. Cuốn sổ này, Lan Hương- con gái của Thanh Tùng đang giữ. Giữ lại một kỷ niệm thơ khó quên về thân phụ. Quan niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” hoàn toàn sai lè lè. Con gái thương bố, lo cho bố không thua gì con trai, thậm chí còn chu đáo hơn là khác. Tổ chức sinh nhật cho bố, hạnh phúc nhất thuộc về người con. Một khi làm điều gì đó cho đấng sinh thành vui, há chẳng phải là một cách trả hiếu và cũng là hạnh phúc mình đó sao? Năm ngoái, cô con gái in tập thơ Thời hoa đỏ như món quà sinh nhật và cũng là cuộc tri ngộ cùng các thi hữu. Đến tham dự rất vui, hào hứng, và nhất là cảm động về tình cha con. Nói đến Thanh Tùng, khó thể quên bài thơ Thời hoa đỏ (Đình Bảng phổ nhạc):

Hoa như mưa rơi rơi
Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi
Như máu ứa một thời trai trẻ

Ai lại không nhớ về ngày tháng đó? Ôi, cái ngày vạm vỡ dại khờ. Điên cuồng ngốc nghếch. Trong trắng thiên thần. Mỗi một ngày chứa chan lộc biếc. Tình thơ nhung lụa. Mãi mãi thế chăng? Không bao giờ. Con người ta lớn lên. Khôn ngoan hơn. Kinh nghiệm hơn. Nhưng thật ra cũng là môt cách tình táo hơn. Đáng tiếc nhất lúc tuổi trẻ lại tỏ ra tỉnh táo quá. Đọc lại câu thơ của Thanh Tùng, lại nhận ra có bóng dáng của chính mình ngay trong từ con chữ:

Anh đâu buồn mà chỉ tiếc
Em không đi hết những ngày đắm say

Chỉ tiếc, đừng nên trách. Sự lựa chọn nào cũng có lý của nó. Trong đêm sinh nhật 80, anh đọc bài thơ mới nhất “Mùa thu ở Quảng Yên”:

Trời rót xuống bao nhiêu say
Em rót vào bao nhiêu nhớ
Những chào mời xiết một vòng ôm
Làm sao mà chứa nổi
Chân trời treo đầy tiếng sóng
Vẽ những đường hồi hộp của biển khơi
Cây vẽ lên tôi ảo giác
Tôi sẽ thành tan nát
Nếu không kịp trốn vào đâu!
Bông lau tím lật qua chiều đông tái
Cho tôi quên cả lối đi về
Em sôi nổi đến làm tôi ngần ngại
Có bao giờ tôi dám ước mơ đâu!

Bài thơ này, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha đã phổ nhạc. Tiếng hát ngập căn phòng. “Thơ viết về mẹ của Lan Hương đấy”. Anh nheo mắt, nghiêng tai nói nhỏ, nghe rưng rưng. Hình bóng của người tình, người vợ một thời vẫn còn lãng đãng đâu đó trong trí nhớ. Vợ anh qua đời vào năm 1989 vì bệnh tim, để lại hai người con, một trai, một gái. Năm đó, Lan Hương được khoảng 15 tuổi, anh không kết hôn lần nữa. Hình ảnh người vợ như lửa giấu trong tro, có lúc, lại ngun ngút cháy và câu thơ lại viết. Lại một cảm xúc day dứt. Rười rượi buồn. Đôi khi, một niềm đau, một nỗi vui lại là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ. Nhà thơ Thanh Tùng đề nghị con gái ngâm tặng mình một bài thơ chị sáng tác về mẹ:

... Mẹ mất rồi, con giấu mình với nỗi cô đơn
Mẹ yêu ơi, con vẫn biết con sinh ra từ cô đơn của cha, từ cô đơn của mẹ
Nên mỗi chiều về ngắm bóng cha con như nhìn thấy mẹ
Ánh mắt cha thầm nhắc cùng con câu thơ ngày cũ
Cả đời mẹ vẫn đi kiếm đi tìm
Nhưng chỉ thấy những điều tiếc nuối
Tiếc nuối ơi giờ mẹ ở đâu..."

Sống trên đời, ai lại không yêu mẹ? Chính tình yêu đó giúp mỗi chúng ta trở nên hướng thiện hơn. Và trong sinh nhật, Thanh Tùng lại nhắc về mẹ, một bóng hình xa khuất nhưng vĩnh viễn tồn tại trong tâm thức. Một ký ức không phai. Tình mẫu tử bền chặt muôn đời. “Muốn lăn vào lòng mẹ/ Như những ngày còn thơ / Tiếng mẹ run như sóng/ Tiếng mẹ mềm như tơ/ Mẹ cười hay mẹ khóc/ Chỉ thấy mắt ta mờ”…Câu thơ của Thanh Tùng - một chàng thi sĩ đã 80 xuân đã khiến nhiều người cảm động khôn nguôi.

Và có điều lạ, bao giờ anh cũng hồn nhiên, ngơ ngác giữa trần thế, tại căn cớ làm sao? Chỉ có thể tại… thơ đấy thôi. Anh sinh ra ở Nam Định. Lớn lên và sống tại Hải Phòng, thời trai trẻ anh là công nhân bốc vác. Những giọt mồ hôi nhọc nhằn, mặn chát áo cơm ấy, chính là nguồn cảm hứng của thơ và thơ đã tạo cho anh sự yêu mến trong lòng bạn đọc từ nhiều thập kỷ trước. Nói như Trần Mạnh Hảo: “Thanh Tùng từng ăn Hải Cảng”. Con người đó, “chính ra ông phải giết người” nhưng thơ đã đến. Mọi sự đã thay đổi. Bây giờ, sống tai Sài Gòn, anh lại mải mê, đắm đuối với thơ. Trong cuộc vui, Thanh Tùng cho biết đang bắt tay viết trường ca Đất phương Nam như một cách tạ ơn vùng đất đã cưu mang anh những năm tháng cuối đời.

À, bạn bè của y cũng ngộ. Lúc đã say, họ có thể, đúng dậy, vừa nốc rượu, vừa đọc liên tu bất tận những câu thơ chợt đến trong đầu. Thanh Tùng là một trong số đó, dù bây giờ, anh đã bước sang lứa tuổi: “Bông lau tím lật qua chiều đông tái”. Mà nhà thơ làm gì có tuổi, chỉ có cảm xúc và tình yêu mới neo họ ở lại với bến bờ của thơ, phải không anh Thanh Tùng?


L.M.Q

 

SINHNHAT-80-CUA-NHA-THO-THANH-TUNGTừ trái: Ất Hợi, Kỷ Hợi, Đinh Hợi trong sinh nhật 80 của nhà thơ Thanh Tùng (Ảnh: Đinh Thu Hiền)

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 15.11.2105

PDF.InEmail

 

son-dau-1-R-hai-chi-em-1-R

Sơn dầu Lê Minh Quốc (2105)

 

Sáng nay, Chủ nhật lướt Facebook.

Mạng xã hội lớn nhất thế giới đã hỗ trợ người dùng cài đặt avatar in mờ màu quốc kỳ nước Pháp để tưởng nhớ các nạn nhân vụ khủng bố tại Paris. Một cách chia buồn với sự đau thương, mất mát của đồng loại. Màu cờ đó, ngày trước người Việt gọi là “cờ tam tài”, “cờ tam sắc”. Trong quyển Tuấn, chàng trai nước Việt của nhà văn Nguyễn Vỹ có đoạn, ông Charol, giáo sư Sử ký giải thích: "Lá cờ ba sắc của Pháp hồi khởi cuộc cách mạng 1789. Lúc bấy giờ nước Pháp còn là một nước quân chủ chuyên chế, lá cờ của nhà vua là màu trắng, dân chúng Paris nổi dậy đòi nhà vua phải chia sẻ quyền hành cho dân, và sau khi phá ngục Bastille, đòi vua phải triệu tập một hội nghị nhân dân. Chính trong hội nghị ấy, nhà lãnh tụ La Fayette đề nghị bỏ lá cờ trắng có hoa huệ (drapeau blanc fleur de lys) của vua, mà thay vào cờ của dân chúng thủ đô Paris, kèm hai bên màu trắng của vua. Lá cờ tam sắc được dân chúng hoan hô nhiệt liệt và từ đấy được coi là cờ cách mạng. Ðến khi tòa án nhân dân diệt Vua Louis XVI và Hoàng Hậu Marie Antoinette để thành lập chính phủ Cộng Hòa, lá cờ tam sắc vẫn được chính thức nhìn nhận là lá cờ của Cộng Hòa Pháp quốc, lá cờ của nhân dân Pháp".

Sự kiện bi thảm tại thủ đô Paris đã diễn ra sau vào tối 13.11.2105 (rạng sáng 14.11, giờ Việt Nam), ít nhất 128 người thiệt mạng và 180 người bị thương. Nhà nước Hồi giáo (IS) tuyên bố đứng sau chuỗi tấn công kinh hoàng nói trên. Báo Thanh Niên sáng nay, nhà báo Minh Trung căn cứ AFP, liệt kê “Các vụ khủng bố đẫm máu ở châu Âu”:

Ngày 2.8.1980: Hai thành viên của một nhóm khủng bố cho nổ bom trong phòng chờ của nhà ga Bologna ở Ý, khiến 85 người chết và 200 người bị thương.

Ngày 19.6.1987: Nhóm ly khai ETA đánh bom bãi đậu xe của một trung tâm mua sắm ở thành phố Barcelona của Tây Ban Nha, khiến 21 người chết và 45 người bị thương.

Ngày 15.8.1998: Nhóm ly khai của lực lượng du kích Quân đội Cộng hòa Ireland (IRA) tiến hành vụ đánh bom ở thị trấn Omagh thuộc Bắc Ireland (Vương quốc Anh), khiến 29 người chết và 220 người bị thương.

Ngày 11.3.2004: Các tay súng có liên hệ với al-Qaeda tiến hành hàng chục vụ đánh bom trên 4 xe lửa chạy về hướng Sân vận động Atocha ở thủ đô Madrid của Tây Ban Nha, khiến 191 người chết và khoảng 2.000 người bị thương.

Ngày 7.7.2005: Một số thành viên mạng lưới khủng bố al-Qaeda tiến hành 4 vụ đánh bom tự sát trên 3 tàu điện ngầm và 1 xe buýt 2 tầng ở thủ đô London của Anh, khiến 56 người chết và 700 người bị thương.

Ngày 22.7.2011: Thanh niên Na Uy có tư tưởng cực đoan Anders Behring Breivik tiến hành tấn công bằng bom bên ngoài một tòa nhà chính phủ ở thủ đô Oslo trước khi xả súng vào một trại thanh niên, làm tổng cộng 77 người chết.

Ngày 7.1.2015: Hai tên khủng bố mang súng trường tấn công văn phòng tạp chí Charlie Hebdo ở Paris, khiến 12 người chết và 11 người bị thương".

Sự cuồng tín chính là nguyên nhân dẫn đến tội ác khốc liệt, sa đọa bi thảm nhất của con người, dù rằng cuồng tín vào bất kỳ một giá trị nào, nhân danh bất kỳ sứ mệnh nào và vì bất kỳ mục tiêu nào. Lại sực nhớ lại đến vụ đắm tàu tàu Sewol vào sáng sáng 16.4.2.2014 tại Hàn Quốc. 304 người chết. Chiếc tàu này trên đường đi từ Incheon đến đảo Jeju bị lật úp giữa biển. 304 hành khách bỏ xác giữa trùng khơi. Đây là một trong những sự kiện kinh hoàng trong năm 2014. Lúc ấy, trên đường đi làm nhẫm trong óc mấy câu thơ vụt đến:

Chẳng một ai thịt sắt da đồng

Bốn phương nam bắc cũng tây đông

Lẽ thường muôn hướng chung một hướng

Giọt loãng nào không tựa máu hồng?

Cái chết của người xa lạ, còn thế, huống gì người cùng da vàng mũi tẹt. Trưa nay, ứa nước mắt về một tình chị em. Em Nguyễn Văn Uy, sinh năm 1943, chết ngày 8.1.1969. Chị Nguyễn Thị Tẩu viết về em lúc từ Sài Gòn ra Phan Thiết nhận xác em: “Khóc chán, kêu gào chán, các chị lôi tôi ra xe trở về. Dọc đường, tôi vẫn kêu gào như người điên, không ngại ngùng, không xấu hổ, không còn kể đất trời nào nữa. Chiếc cầu Mường Mán đây. Uy đã viết thư gửi về, kể cho tôi nghe về chiếc cầu này. Em tôi vẫn thích đứng nơi đây để nhìn trời, nhìn nước, nhìn hàng dừa ngả nghiêng soi bóng nước trong, nhìn đàn chim chiều chiều đang bay về tổ ấm. Chỗ nào em tôi vẫn hay đứng? Phía nào em tôi vẫn hay nhìn. Các chị ơi làm ơn cho tôi biết với. Để tôi sẽ in bàn chân lên chỗ em tôi vẫn đứng và ghen tức với khung trời đã thâu trọn những cái nhìn say đắm của em tôi. Tôi muốn tìm lại tất cả những gì dư ảnh của em tôi, dù lớn hoặc nhỏ; vì lúc này em tôi đã đi rồi, giống như dòng nước chảy dưới chân cầu không bao giờ trở lại” (Tạp chí Văn số 129 ngày 1.5.1969).

Đoạn văn bình dị, không hoa hòe hoa sói, đọc lên rưng rưng bởi thấm đẫm cái tình. Tình xót xa máu thịt, đã mất. Nguyễn Văn Uy, trong cuộc chiến vừa qua, cái tên ấy như hàng vạn cái tên khác. Một cái chết, như hàng vạn cái chết khác. Rồi lãng quên? Chẳng ai còn nhớ đến nữa? May thay, người chết trẻ còn để lại những cuốn sách Tượng đá sườn non, Bão khô, Ngựa tía, Quê nhà, Chiếc xương lá mục..., ký bút danh Y Uyên. Chị Tẩu viết: “Một cái gì đó dẻo dai, bền vững, sẽ chịu đựng nổi sự thử thách của thời gian, sự dễ quên tàn khốc của cuộc đời vô thủy vô chung này”. Cái đó là cái gì? Là những gì em đã viết? Là tình chị em cùng huyết thống? Đọc những trang viết xúc động này, tự dưng lại nhớ đến chị Lê Ngọc Sương - chị ruột của Bích Khê:

… Tôi mất em là mất cả một mùa hương

Cả ánh sáng và cả gì man mác

Tôi mất em, ôi! Cõi lòng tan nát

Tôi mất em! Trời hỡi, tôi mất em

Tình lên mi sầu dựng giữa màn đêm

Tôi muốn xé tử thần ra trăm mảnh

Tôi gào thét giữa đêm tàn trăng lạnh

Đòi hồn em và xác thịt em tôi…

... Nấm mồ được đặt trên miếng đất Hội quán ở gần Thu Xà và luôn bao năm lửa khói chỉ có một con quạ đứng im hơi. Em tôi đã chết. Nhưng bây giờ tôi vẫn không tin là em tôi đã chết (Tạp chí Văn số 64, 15.5.1966). Lại nhớ đến chị Lễ của Hàn Mặc Tử. Chơi giữa mùa trăng, không nên xếp vào thể loại tùy bút, gọi là thơ văn xuôi thì đúng hơn. Một áng thơ văn xuôi xuất sắc:

“Ánh sáng tràn trề, ánh sáng tràn lan, chị tôi và tôi đều ngả vạt áo ra bọc lấy, như bọc lấy đồ châu báu...

Tôi bỗng thấy chị tôi có vẻ thanh thoát quá, tinh khôi, tươi tốt và oai nghi như pho tượng Đức Bà Maria là bực tinh truyền chi thánh. Tôi muốn sốt sắng quỳ lạy mong ơn bào chữa. Nhưng trời ơi, sao đêm nay chị tôi đẹp đẽ đến thế này. Nước da của chị tôi đã trắng, mà vận áo quần bằng hàng trắng nữa, trông thanh sạch quá đi.

Tôi nắm tay chị tôi dặt lia lịa và hỏi một câu hỏi tức cười làm sao: “Có phải chị không hở chị?” Tôi run run khi tôi có cái ý nghĩ: Chị tôi là một nàng Ngọc nữ, một hồn ma, hay một yêu tinh. Nhưng tôi lại phì cười và vội reo lên: “A ha, chị Lễ ơi, chị là trăng, mà em đây cũng là trăng nữa!”.

Và lúc này, lại nhớ đến một tin nhắn, đã nhận vào lúc 0 giờ ngày 9.11.2012, từ Đà Nẵng, báo tin người chị đã về trời. Chị Lê Thị Ái. Một cái chết đã đến với một người. Nghĩ đến tận cùng, chết cũng là một sự giải thoát. Từ nhiều năm, chị đã phải chạy thận ở Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng. Một cuộc chạy đua với thần chết rất quyết liệt. Những người bệnh cùng thời với chị, đã hai mươi năm trước, tất thẩy đều bỏ cuộc. Và bây giờ đến phiên chị. Một nẻo về cuối cùng rồi ai cũng chạm đến. Như một lẽ tất nhiên. Không thể chối từ. Không thể thoái thác. Ai cũng về “cuối bến tình yêu”. Một hẹn hò đã dự báo từ khi con người cất tiếng oa oa chào đời. Từ nay, vĩnh viễn mất chị. Một phần máu thịt đã mất…

Lạ kỳ cho những giấc chiêm bao.

Ngày ấy, y quyết định không thông báo cho mẹ biết. Giữa khuya nghe tin dữ, bà cụ sẽ trằn trọc khó ngủ. Không ngờ, sáng hôm sau, y thức dậy sớm, mới 5 giờ sáng đã thấy mẹ ngồi tự lúc nào và buộc miệng hỏi ngay: “Ái chết rồi à?”. Kinh ngạc, làm sao bà cụ có thể biết? Làm sao có thể biết? Thì đây: “Đêm qua, không biết reng mà tau chẽng ngủ được. Cứ nhắm mét lơ mơ làn màng là nghe con Ái gụa: “Mẹ ơi! Mẹ về với con!”. Nghe tiếng gọi khẩn thiết ấy như xa như gần, như mơ như thật, mẹ y không thể ngủ yên và thao thức đến sáng. Quả nhiên, chị Ái đã chết đúng vào thời điểm mà mẹ chập chờn mộng mị…

Sự trùng hợp ngẫu nhiên chăng?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 14.11.2015

PDF.InEmail


tuong-mo-NGUYEN-DINH-VUONG

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 11.11.2015

PDF.InEmail



honi-huong-1-R-1967

 

Vừa rồi trên Tuổi Trẻ Online (07/11/2015 21:47), bạn đọc Đ.T cho biết đã căn cứ từ Tạp chí Chọn Lọc in 1965 “Xin tạm nêu ra vài từ” về tiếng lóng. Nếu chu đáo hơn phải cho biết cụ thể số báo, năm tháng phát hành số báo đó. Những từ đó một thời thịnh hành tại Sài Gòn, nay hầu như “tiệt chủng”. Thiết nghĩ, việc làm này rất đáng hoan nghênh. Ít nhiều cho biết lời ăn tiếng nói của một thời. Tiếng lóng không tồn tại mãi mãi, nó sẽ mất theo năm tháng. Cùng một sự việc, sự vật nhưng mỗi thời có cách diễn đạt khác nhau. Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ biên soạn (NXB KHXH 1986), tiếng lóng: “Cách nói một ngôn ngữ riêng trong một tầng lớp hoặc một nhóm người nào đó, nhằm chỉ để cho trong nội bộ hiểu được với nhau mà thôi”.

Bài viết Người Sài Gòn giờ không thấy xài mấy tiếng lóng này nữa của bạn Đ.T, có đoạn như sau:

“Dầu cù là: bản thân dầu cù là không thể là tiếng lóng, nhưng ở đây có nghĩa là “Đảng Cần Lao”. Từ này xuất hiện cuối thập niên 1950, đầu 1960. Đó là khoảng thời gian cầm quyền ở miền Nam của chánh quyền Ngô Đình Diệm. Giới viên chức thường hỏi nhau: “Ê, ông có bôi dầu cù là không?”, là có ý hỏi: “Ông có chân trong đảng Cần Lao không?”. Có “bôi dầu cù là” thì thế nào cũng được nâng đỡ về mọi mặt vì Đảng đó do chính quyền Diệm -Nhu lập ra.

Tây hạ thành: mỉa mai những cái gì cổ lổ, cũ kỹ quá xá. Chẳng hạn như có người mặc cái áo cũ mèm, người ta bảo: “Cái áo đó có từ hồi Tây hạ thành”, tức là có từ cả trăm năm, từ khi người Pháp đánh thành Hà Nội. Không chỉ nói về những món đồ, từ này còn nói về khái niệm phi vật thể, kiểu như ông nào đọc diễn văn dùng nhiều từ cổ quá lủng củng và có khi biền ngẫu thì bị gọi là dùng ngôn ngữ “Tây hạ thành”. Từ này na ná như từ hiện nay cũng còn một số người xài: thời Bảo Đại ở truồng.

Con cháu nhà Hán: Trong cuốn “Hán Sở tranh hùng” có chuyện vua Hán Cao Tổ vốn họ Lưu, sau này phá tan được nhà Tần lên làm vua lập nên nhà Hán. Vì vua nhà Hán họ Lưu nên người ta dùng chữ “con cháu nhà Hán”  để chỉ những người có tánh “lưu... manh” khó chơi.

Phỗng: Khi đánh bài tổ tôm, khi ta đánh ra hai quân bài giống nhau, người khác đánh ra một quân giống hệt, ta có quyền “phỗng”. Đáng lẽ quân bài đó người ngồi mé trên ta có thể ăn để ghép vào cỗ bài của họ nhưng ta có đôi sẵn trong tay, ta có quyền kéo quân bài đó về phía mình, đó là ”phỗng”. Người ở mé trên mình bị nâng mất quân bài đáng lẽ mình được, tức là bị phỗng tay trên. Từ này người gốc Bắc nói nhiều hơn.

Khổng tử viết: Thập niên 1950, 1960 cả nước mới thoát ra khỏi chế độ phong kiến chỉ năm mười năm, nền nho học đã tàn lụi trước đó xa hơn chút nhưng vẫn còn kha khá những người theo nho học, nệ cổ. Có anh đạo đức dù không tới nơi nhưng lúc nào cũng làm ra vẻ nhà nho đạo mạo nghiêm cẩn. “Khổng tử viết” tức là “Đức Khổng tử có nói”, trong các sách Tứ thư, ngũ kinh, các danh sĩ Trung Hoa xưa mỗi khi muốn dạy ai thường lấy câu này ra để dựa cho chắc ăn. Thế là khi dân Sài Gòn ngán các anh hủ nho nói trên khi họ muốn lên lớp ai thì gọi là “Khổng tử viết”, muốn chỉ cho thấy rằng anh đọc sách nho học như con vẹt, chẳng thèm suy nghĩ gì.

Hia: Có nghĩa là cắt xén. Ai có tóc dài, râu dài thì bị nhắc phải ...hia bớt đi, phải cắt ngắn đi. Hia còn có nghĩa là ném, vứt, lại có nghĩa là khuân vác. Ví dụ như: “túm cổ, hia ra ngoài!”, hay “hia vài bao vô đây!”. Không ai biết tại sao có từ này, nhưng giới lính tráng miền Nam trước đây dùng nhiều.

Nghe lại những từ lóng này, có thể hình dung những ngữ cảnh cụ thể mà bây giờ những người trẻ không thể hình dung ra được”.

Đọc xong bài viết của Đ.T, thích lắm nên bèn tìm kiếm một vài tư liệu khác bổ sung thêm, chẳng hạn, căn cứ từ Tạp chí Hồi Hương số Xuân Đinh Mùi (1967) ấn hành tại Sài Gòn. Do tạp chí này in typo, phổ biến nội bộ nên có lẽ chẳng mấy ai còn lưu giữ, có sự cộng tác của càng cây bút nổi tiếng như Huỳnh Phan Anh, Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Nhã Ca,  Minh Đức Hoài Trinh, họa sĩ Thái Tuấn, Nguyễn Trung… Thập niên 1960 ấy, tác giả bài viết là TMQ ghi nhận “Tiếng lóng mới”. Ấy thế, nay đã cũ rồi, thậm chí cũng có từ đã “tiệt chủng”, có từ có ngắc ngoải như những từ mà Đ.T vừa nêu trên.

“Xin tạm nêu ra vài từ” bổ sung thêm về tiếng lóng:

Ác, ác ôn, ác liệt, ác địa: có nghĩa là hay, số dzách, đặc biệt khác đời, hách, le… “Tao vừa mới quen được một nàng đẹp ác”.

Bay bướm: Trạng từ hay tĩnh từ có nghĩa là hay ho, ngon lành, số dách, có tính cách tài hoa. “Hai tên kia nhảy nhót bay bướm một cây”.

Chưởng lực: Lấy trong các truyện kiếm hiệp Tàu có nghĩa là tài cán, khả năng. “Chưởng lực mày còn yếu quá, sức mấy mà cạnh tranh nổi với tớ”.

Một chưởng: Một cú, một đòn, một vố cũng lấy từ truyện kiếm hiệp. “Tớ vừa bị nàng cho một chưởng còn ê cả người”.

Đi một đường lả lướt: Làm một việc hết sức bay bướm. “Hôm qua mình cố đi một đường lả lướt với em, nhưng có một tên mất dạy nó đi đường lả lướt hơn”.

Lại có một sự: Thay vì nói có chuyện gì, việc gì. “Lại có một sự ăn nhậu tối nay”.

Láng: Tùm lum, lung tung, không có trật tự. “Bữa nay đi cắm trại tớ ăn láng hết”.

Quê một cục: Quê mùa, đần độn, cù lần. “Thằng ấy quê một cục”.

Tám, chín: Cái tên dùng để chỉ bất cứ ai, như cái tên Charlie của Mỹ. “Bỏ đi Tám/ Thôi mà, Tám/ Giỡn hoài, Chín”…

Teo: Đồng nghĩa với “lúa”, “Hắn hỏi mãi làm mình teo luôn”.

Như điên: Diễn tả sự tột bực, sự hăng say. “Sài Gòn dạo này các cô phóng xe như điên”.

Ông bạn dân chủ: Chỉ các ông bạn người Mỹ. “Các ông bạn dân chủ coi bộ hiểu mình hơn so với lúc trước”.

Quái xế, vồ xế, thổi nghẽo, mõi, thổi: Có nghĩa là ăn cắp xe. “Vừa mới để xe ở đây có năm phút mà mà ông tướng nào thổi mất rồi.

Nghèo mà ham: Không hội đủ diều kiện mà muốn cho cố. Chẳng hạn, thấy một thằng hết sức cù lần chạy theo một cô hết sức lả lướt, có thể nói: “Thằng ấy, nghèo mà ham”.

Còn lâu, còn khuya, tới Tết Ma-rốc, Tết Công-gô, Tây ăn trầu: Dùng để chỉ một sự việc khó bề xẩy ra. “Còn khuya cậu mới tán được cô đó/ Bao giờ anh lên chức? - Tết Ma-rốc”.

Chết lính: Dùng để chỉ một hành động có phương hại đến nhiều người, gây hậu quả không hay cho nhiều người. “Chị làm vậy chết lính rồi còn gì, trời!”.

Ngoài ra còn có thể kể thêm vài từ nay còn sử dụng như “chém, cứa” có nghĩa là tính quá mắc tiền: “Cái quán này chém ác”; “bịnh”: tương đương với dở, yếu, kém, bậy quá. “Có những tên không giúp hội bao nhiêu mà chỉ trích cái này, cái nọ, bịnh quá”; “chịu chơi”; “chơi chịu”; “gà chết, gà nuốt dây thun”; “mừng hết lớn”; “là cái chắc” v.v…

Tất nhiên,vẫn chưa đủ.

Tham khảo nhiều bạn bè, tạm thời liệt kê thêm: "sức mấy mà buồn”; "quá cỡ thợ mộc" (hết cỡ, vượt ra ngoài khuôn khổ), “mút mùa Lệ Thủy” (chỉ thời gian xa thăm thẳm), "xưa rồi Diễm" (chuyện đó cũ xì, cũ mốc rồi), "mát trời ông Địa" (chỉ trạng thái hài lòng, hả hê sung sướng), “hết xẩy” (chắc như bắp rang, không trật vào đâu nữa), “kênh xì bo" (nhìn đểu có ý gây sự), "luyện chưởng” (đọc truyện kiếm hiệp), “đi bốn vùng chiến thuật" (đi khắp nới khắp chốn, từ đồng bằng, hải đảo đến cao nguyên), “đi vùng 5" (đi về âm phủ); . "xi cà que” (người bị tật ở chân, hàng kém chất lượng), “nâng bi” (nịnh bợ),  “xôi cồ” (ngực to), “khô mực” (cà-vạt), “lặn” (đi trốn), “địa” (bị theo dõi), “con ghệ” (con gái), “cớm” (cảnh sát) “cớm chìm” (công an), Sơ-mi gỗ (quan tài), “vãng tuồng” (kết thúc). "tận cùng bằng số" (bắt chước theo cách báo tin kết  quả sổ số kiến thiết, qua đài phát thanh; có nghĩa mọi việc, việc đó đã xong xuôi, không còn có cơ hội làm lại)…

Còn gì nữa không ta? À, còn chứ! Chẳng hạn, “thanh minh thanh nga” (giải bày chuyện oan ức), "đổng" (đồng hồ), "lấy le" (phô trương, tỏ ra là người quan trọng), “lúa rồi” (toi rồi); 'làm tàng' là ỷ mình hơn người mặt nào đó thì coi thường người khác, “hầm bà lằng, búa xua, tá lả (lộn xộn), "xế" (xe), “xế điếc” (xe đạp), “xế độ” (xe máy lên đời), xế hộp (xe hơi), “bá chấy bò chét” (hết xẩy, tuyệt), chị em ta (gái mại dâm), “bề hội đồng” (hiếp dâm tập thể), “lết bánh” (xỉn quắc cần câu), “chơi líp ba ga” (chơi tới bến, “chơi xả láng sáng về sớm”), “chơi cho đáng mặt bầu cua cá cọp” (chơi đàng hoàng, chơi ra chơi, không ba que xỏ lá), “dân chơi Cầu Ba Cẳng” (dám làm mà không dám chịu)…

Chà, còn gì nữa không ta?

Chiều rồi, tiếng chuông chùa đối diện nhà đang ngân vang câu kinh tiếng kệ. Thôi thì, vừa lắng nghe vừa viết thêm đôi dòng nữa.

“Xệ” (quê quá xá là quê), “quê xệ/ quê một cục/ quê độ”, “mát dây diện” (hâm, khùng, tàn tàn, điên điên), “chó lửa” (súng lục), “leo cây” (chờ đợi theo lời hứa nhưng người đó xù luôn, không đến), “đô" (bự con), “35 dê” (chỉ  người có máu dê xồm), "cùi" (chuyện đó không thể xẩy ra/ “Cậu mà tán được hoa hậu X thì tớ cùi”, “mới cáo cạnh/ mới cáo xèng (mới 100%), “đổng” (đồng hồ đeo tay); "xí xọn/ xí xa xí xọn”, “xì trum” (ảnh hưởng từ truyện tranh Xì trum, động từ dùng đa nghĩa cho trong nhiều trường hợp/ “Em cho anh xì trum một cái nhá? - Khỉ, xì trum nè anh! Ở đó mà đòi hun với hít, còn lâu) v.v…

Trong văn chương, nhiều nhà văn cũng sử dụng tiếng lóng, điều này giúp cho nhà văn khắc họa rõ nét được tính cách nhân vật.

Tiêu biểu nhất có lẽ là tác phẩm Bỉ vỏ của nhà văn Nguyên Hồng. Ông viết vào năm 16 tuổi, lúc vừa mới được ra khỏi tù. Do có được một vốn sống phong phú và một kho ngôn ngữ dồi dào, nhà văn Nguyên Hồng đã thành công khi xây dựng những nhân vật dưới đáy xã hội. Thử một ví dụ: “Tối nay, các tay anh chị họp đủ mặt ở nhà Năm Sài Gòn. Người mặc quần lĩnh, áo nhiễu tây trắng cổ bẻ, chân xỏ xăng-đăn bốn quai, là Tư Lập Lơ, trùm chạy vỏ trong chợ sắt”. Tại sao phải là chạy vỏ mà không là chạy dọc? Vì hai cụm từ này để chỉ kẻ cắp kia mà! Hãy nghe nhà văn nói: “Chạy vỏ để chỉ chung những ăn cắp đường, ăn cắp chợ. Còn kẻ cắp trên tàu thủy, tàu hỏa hay ô tô là chạy dọc”. Thử trưởng tượng, chúng ta loại bỏ tiếng lóng của Năm Sài Gòn, đại loại như những câu thơ mà hắn đã than thở:

Anh đây công tử không vòm
Ngày mai kện rập, biết mòm vào đâu.

Hoặc:

Không vòm, không sộp, không te
Niễng mũn không có ai mê nỗi gì?

(vòm: nhà, kện rập: hết gạo, mòm (chính là mõm): ăn, niễng mũn: một chinh). Những tiếng lóng ấy thay thế bằng tiếng phổ trông thì rõ ràng tính cách Năm Sài Gòn bị mờ nhạt đi nhiều lắm.

Nghĩ rằng tiếng lóng, mỗi thời đại đều được thay đổi. Chẳng hạn, thời Bỉ vỏ trong xã hội có mật thám và đội xếp nên mới có tiếng lóng cớm chùng và cớm tẩy. Còn bây giờ thì giới giang hồ nói: “cớm mún quả tớm” nghĩa là “công an bắt quả tang”. Xin thử liệt kê một vài tiếng lóng thời vi tính: bẻ đê (giật đồng hồ), ăn đọp (ăn cắp súng), móc mắt (ăn cắp vặt), nàng áo đỏ (xe DD), công chúa ngủ (xe Dream), lò hấp (nơi tiêu thụ xe gian), thua nguội (bị bắt ngay sau khi gây án), gà móng đỏ (gái mại dâm) v.v… Rõ ràng ngôn ngữ này chỉ “lưu hành” trong một tầng lớp, một giới nào đó mà thôi.

Tuy nhiên, vẫn có những tiếng lóng “đàng hoàng” đi vào trong thơ - chủ yếu là thơ châm biếm, trào lộng. Thời buổi này, thường nghe nói đến “cò” - nhằm chỉ những người đứng ra làm trung gian của dịch vụ nào đó đặng hưởng huê hồng, chứ không phải là loại “chim có chân cao, cổ dài, mỏ nhọn…” như Từ điển tiếng Việt đã giải thích. Xin trích một bài thơ cò - dĩ nhiên nó ở tiếng lóng:

Con cò bay lả bay la
Bay từ bàn giấy bay ra vỉa hè
Thì thầm hù dọa rủ rê
Cửa trước “Khó lắm! Khó bề xong đâu”
Cò quen lối tắt, ngõ sau
Chịu chi bảo đảm làm mau lấy tiền
Đường dây uy tín ưu tiên
Cho cò chút cháo rồi yên tâm… chờ!
Vẽ vời rắc rối giấy tờ
Quấy bùn đục nước… cốc mò cò xơi
Bao giờ hết nạn cò mồi
Cửa sau, cửa ngách rối bời… khổ dân!
(Hoàng Duy, báo Thanh niên số 24-9-1997)

Hoặc cũng là bài thơ về con cò, nhưng ở đây đã thấy một loạt tiếng lóng khác xuất hiện:

Pháp luật tôi cũng xem thường
Có ô dù lớn, có xuồng bơi to
Ví dù có gió đắm đò
Thì xuồng cứu hộ vớt cho tôi nằm
Cò tôi đích thị cò quăm!
(Trúc Lâm - báo Lao Động số 3-11-1996)

Con cò ở đây không còn mang ý nghĩa của biểu tượng ẩn dụ trong ca dao. Gần đây chúng ta thường nghe đến từ “cơm bụi’ “giá bèo” - nhằm chỉ những quán cơm bình dân giá rẻ dành cho người lao động ở thành thị. Tiếng lóng ấy, có lẽ nhà thơ Nguyễn Duy là người đem vào thơ trước nhất:

Rủ nhau cơm bụi giá bèo
Yêu nhau theo mốt nhà nghèo… vô tư!

Nhà văn là người đi nhiều nơi, nhiều chốn, đi để quan sát và ghi chép lời ăn tiếng nói của nhân dân đặng làm phong phú vốn ngôn ngữ của mình. Nhà văn Tô Hoài là một trong những người rất chịu khó ghi chép những từ ngữ mà ông nhặt nhạnh được. Trong Sổ tay viết văn (NXB Tác phẩm mới -1997), ông ghi: “Nàng ấy ô-ten-lo quá! (cô ấy nước da đen quá!), Một tê (một triệu bạc) một vé, một vên, một vét (một vạn bạc), thằng Mẽo (đế quốc Mỹ).

Chiều rồi. Tạm dừng ở đây.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.11.2015

PDF.InEmail

 

bai-thio-than-cua-LTK--1R

BÀI THƠ THẦN - TƯƠNG TRUYỀN CỦA DANH TƯỚNG LÝ THƯỜNG KIỆT

 

Có lẽ, thói quen của nhiều người là mỗi ngày, thỉnh thoảng lại “leo” lên Facebook. Có lúc thoáng qua như chuồn chuồn đạp nước, có khi “ăn dầm nằm dề”. Rồi, đọc status của ai đó, cao hứng thì “nhảy vào” bình luận một đôi câu. Đọc, có thể nhận ra tính cách của con người đó. Sống thế nào, tư cách thế nào, có thể che giấu ở đâu chứ một khi đã thể hiện bằng dòng chữ viết thì khó lắm. Gần đây, dư luận phản đối dữ dội việc sách Giáo khoa Ngữ văn 7, tập 1 thay đổi bản dịch bài Thơ Thần của Lý Thường Kiệt.

Sự ra đời của bài thơ này tuyệt đẹp. Tháng Chạp năm 1076 đánh nhau với giặc Tống,  vị danh tướng đời nhà Lý "sợ quân minh có ngã lòng chăng, bèn đặt ra một chuyện nói rằng có Thần đọc cho bốn câu thơ"  (Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim). “Thế là Thần hiển linh đọc thơ, “phối hợp tác chiến” đúng vào thời điểm khi người mở cuộc phản công đánh quân xâm lược. Văn chương chưa hoàn toàn tách khỏi lĩnh vực huyền thoại, nhưng huyền thoại đẹp biết bao! Câu chuyện không thật mà vẫn nói rất nhiều sự thật. Thơ của người đã biến thành thơ của thần, mặc dầu người ở đây sinh thời vẫn nổi tiếng ghét mê tín dị đoan và về sau uy danh lừng lẫy chẳng kém gì thần” (Văn học Việt Nam trên những chặng đường chống phong kiến Trung Quốc xâm lược - Viện văn học - NXB KHXH 1981).

Với hoàn cảnh ra đời của bài nổi tiếng này, rõ ràng, Lý Thường Kiệt chứng tỏ là người rất am hiểu về binh thư. Ông đã biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật tấn công bằng quân sự và nghệ thuật binh vận bằng thơ ca, nghệ thuật động viên tinh thần chiến đấu của binh sĩ... Trong lịch sử hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, bài Thơ thần của Lý Thường Kiệt được xem là “Bản tuyên ngôn độc lập” lần thứ nhất của Tổ quốc ta:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Đã có nhiều bản dịch, chẳng hạn:

Đất nước Đại Nam, Nam đế ngự,
Sách trời định phận rõ non sông.
Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?
Bây hãy chờ coi, chuốc bại vong.
(Ngô Linh Ngọc dịch)

Sông núi nước Nam, Nam đế chủ,
Cõi bờ định rõ tại thiên thu.
Cớ sao nghịch tặc dám xâm phạm?
Bay liệu, rồi đây chuốc bại hư.
(Bùi Văn Nguyên dịch)

Và đây là văn bản của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam công bố trong tập Lịch sử Việt Nam (tập 1, NXB KHXH - 1971):

Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Trong công trình nghiên cứ mẫu mực, đầy đủ nhất về Lý Thường Kiệt, học giả Hoàng Xuân Hãn dịch:

Sông núi nước Nam, vua Nam, coi

Rành rành định phận ở sách Trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Bay sẽ tan tành chết sạch toi

Nhiều thế hệ học sinh đã quen thuộc với bản dịch đã in trong tập Lịch sử Việt Nam vừa nêu trên. Gần đây, những nhà làm sách giáo khoa lại thay bằng bản dịch khác:

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ
(Lê Thước - Nam Trân)

Trao đổi về một vấn đề học thuật là chuyện bình thường, tuy nhiên, người trao đổi, tranh luận phải có kiến văn, có tinh thần cầu thị và nhất là phải biết lễ phép. Lễ phép với tiền nhân. Lễ phép với người đang đối thoại. Quái lạ, có nhiều người vỗ ngực xưng tên, hùng hùng hổ hổ mắng sa sả tác giả bản dịch trên. Xin thưa, lũ hậu sinh chúng ta chữ nghĩa không đầy lá mít, không đầy nắp hến nếu so với trình độ Hán học của cụ Lê Thước - Nam Trân. Họ là những nhà Hán học cự phách. Vấn đề đặt ra bản dịch đó, có gì sai sót, chứ không phải đọc không thuận tai như đã từng quen thuộc bản dịch trước rổi quay ra phỉ báng hai nhà giáo đáng kính trên.

Một tác phẩm tiếng nước ngoài, có nhiều bản dịch là lẽ thường tình. Một khi công chúng đã công nhận, chấp nhận bản dịch đó thì chẳng việc gì phải thay đổi cả. Với các kiệt tác trứ danh như Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) hoặc Hịch tướng sĩ (Trần Hưng Đạo) v.v… đến nay khó có thể có bản dịch nào vượt trội hơn, được yêu thích hơn bản dịch của Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ. Thế nhưng, người khác muốn dịch lại lần nữa cũng là lẽ thường tình, “bình thường như cân đường, hộp sữa”. Vấn đề là nhà làm sách Giáo khoa chọn bản nào cho học sinh?

Trong trường hợp thay đổi bản dịch bài Thơ Thần của Lý Thường Kiệt, sự bất cập đó thuộc về nhóm biên soạn. Thú thật, chẳng rõ nguyên cớ ra làm sao họ lại thay đổi bản dịch đã quen thuộc? Để làm gì? Hay “thừa giấy vẽ voi” chăng? Rồi cũng chẳng rõ ra làm sao Bộ GD-ĐT lại có sáng kiến đẻ ra môn “Công dân với Tổ quốc” nhằm gộp 3 môn "Sử - Đạo đức công dân - An ninh quốc phòng" vào với nhau. Điều này có nghĩa môn Sử không còn là môn học độc lập!  Đối mặt với dự thảo “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể", Hội Khoa học lịch sử Việt Nam quyết định sẽ tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia: “Môn sử phải là môn bắt buộc và môn độc lập trong chương trình giáo dục phổ thông” vào ngày 15.11.2015 tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (ở Hà Nội). Cuối cùng, số phận của môn Sử sẽ được (hay bị) “xử” thế nào, ta hãy chờ xem.

Trở lại với sự tranh luận vừa qua. Ý kiến này đáng ghi nhận khi bàn về câu thứ 4: “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. Tác giả Đặng Ngọc Hùng - Trường Cao đẳng cộng đồng Bình Thuận cho biết: “Rõ ràng, câu thứ tư trong bản dịch “Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!” không làm toát lên hết chiều sâu, tính minh triết của nguyên tác. "Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư" có nghĩa là “Chúng bay sẽ thấy [chúng bay] tự chuốc lấy thất bại”; ở đây bại kết hợp với hư là thất bại đến mức thảm hại, tan nát, không còn gì.

Câu thứ tư của nguyên tác, như đã nói, có ít nhất hai nghĩa:

Một, chúng bây tự chuốc lấy thất bại. Đây là nghĩa chính, sát với nguyên tác. Xâm lược là hành động đi ngược lại sách trời, trái với chân lý nên ắt phải tự chuốc lấy bại vong. Đặt vào ngữ cảnh bài thơ, thất bại ở đây là do trời phạt, vì dám làm trái sách trời. Thâm ý của cha ông ta là ở đây! Tôi xin nói thêm, cái thần của nguyên tác nằm ở chữ thủ (取). Chữ này thuộc bộ hựu (bên trái là chữ nhĩ 耳 - lỗ tai). Theo Từ điển từ nguyên tiếng Trung của Nguyễn Mạnh Linh (Nhà xuất bản Hồng Đức 2008), ngày xưa, khi quân đội đánh nhau, bên thắng trận thường chặt đầu hoặc cắt tai kẻ bại trận mang về làm bằng chứng lập công. Trong giáp cốt văn, chữ thủ giống hình một tay cầm cái tai đã bị cắt. Do đó thủ có nghĩa là lấy, bắt được, tìm lấy, chuốc lấy. Vậy “thủ bại hư” có nghĩa là chính tay (mình) làm cho (mình) thất bại. Hay biết chừng nào!

Hai, “Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”, đây là nghĩa suy theo lô gíc. Chúng bây sang xâm lược nước Nam thì người Nam với truyền thống yêu nước nồng nàn từ bao đời, với bản năng tự vệ, sẽ đánh lại chúng bay để bảo vệ sơn hà xã tắc.

So sánh giữa hai nghĩa, nghĩa thứ nhất vừa sát với nguyên tác, vừa minh triết: chúng bay tự chuốc lấy bại vong (tự mình làm cho mình thất bại), thể hiện tầm thế chính nghĩa cao vời và tư tưởng quyết chiến nhưng chuộng hòa hiếu của cha ông ta. Ngẫm kỹ, cho đến ngày nay, để cho kẻ thù “thủ bại hư” vẫn là một ý hay, sâu sắc, thậm chí vẫn hiện hữu trong đường lối ngoại giao mà Việt Nam đang theo đuổi: nước nào đi ngược lại Công ước quốc tế, chính nghĩa, nhân tâm thì sẽ bị thế giới cô lập, lên án, thậm chí trừng trị. Có khi không đánh về vật chất mà kẻ thù vẫn bại, đó là tư tưởng độc đáo của Đại Việt” (nguồn: Báo Pháp Luật TP.HCM Online post Thứ Hai, ngày 9/11/2015 - 20:01).

Nhân đây xin gợi ý thêm, có lẽ các bản dịch trên chưa nêu rõ, làm nổi bật ý nghĩa chữ "đế" chăng? Thiển ý, đó mới là "nhãn tự" của bài Thơ Thần. Đọc những bài tranh luận của người am hiểu vấn đề và nhất là thể hiện văn ngôn điềm đạm, nhún mình, bao giờ cũng thấy thích. Dù người có kiến văn uyên bác, học lực uyên thâm nhưng cách viết hằn học, trịch thượng thì đọc cũng mệt. Đọc ý kiến của những người chẳng biết họ học hành thế nào, kiến thức ra sao nhưng chỉ rặt mạt sát, châm chích, gân cổ gào toáng lên, nói năng hùng hùng hổ hổ như thể “mục hạ vô nhân” thì còn gì chán ngán hơn? Lâu nay, đã có nhiều chuyên đề bàn luận, đúc kết về tính cách của người Việt, có lẽ thái độ tranh luận hiện nay cũng đang dần dần hình thành thêm một tính xấu đấy.

Tiếc rằng, trong thời điểm này, ít thấy ai nhắc lại tư tưởng quân sự của Lý Thường Kiệt: Ngày 27.10.1075, một đạo quân do phó tướng Tôn Đản chỉ huy đã vượt biên giới đánh thẳng lên Ung Châu (Nam Ninh - Trung Quốc). Còn đạo quân thứ hai do Lý Thường Kiệt chỉ huy đã bí mật, thần tốc vượt đường biển đánh chiếm Châu Khâm và Châu Liêm. Trong cuộc hành quân sang đất Tống, để dân Tống biết được việc làm chính nghĩa của ta, Lý Thường Kiệt đã cho phân phát bài văn: “Lộ bố”:

“Trời sinh ra dân chúng, vua có đức thì tin yêu. Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân. Nay vua Tống ngu hèn, không theo khuôn phép thánh nhân, nghe cái kế tham tà của An Thạch, bày ra phép “thanh miêu”, “trợ dịch” khiến trăm họ hao kiệt, lầm than, để thỏa mãn cái mưu nuôi béo thân mình.

Số là muôn dân đều dựa vào trời, bỗng sa vào sự độc hại của thói tham lợi. Bề trên cố nhiên phải thương xót. Nhưng việc từ trước, thôi không nói làm gì.

Bản chức vâng mệnh quốc vương, chỉ đường Bắc tiến, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có cái ý phân biệt quốc thổ, chứ không phân biệt chủng dân. Phải quét sạch cái bẩn thỉu hôi tanh để ca thuở đẹp của ngày Nghiêu, để hưởng hội lành của tháng Thuấn.

Nay ta ra quân cốt cứu vớt muôn dân. Hịch văn truyền đến để mọi người đều nghe. Ai nấy hãy tự suy xét, chớ có mang lòng sợ hãi” (Theo bản dịch của Trần Văn Giáp - Tổng tập văn học Việt Nam, tập 1 - NXB KHXH -1997).

Trong tập sách trên có giải thích: "lộ bố": bài văn viết trên vải trương ra trước công chúng, trên đó nêu tội ác của địch, hoặc chính nghĩa của ta"; Vương An Thạch: Tể tướng thời vua Thần Tông nhà Tống; "thanh miêu": chính sách của triều đình bỏ tiền cho dân vay khi lúa còn non, sau thu lại, dân phải trả lãi; "trợ dịch": là chính sách cho dân nộp tiền để miễn sai dịch".

Hậu sinh khả úy. Chúng ta đang sống trong thời đại oanh liệt của khí phách Lý Thường Kiệt đấy chăng?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 7.11.2015

PDF.InEmail


6thu-but-hobieu-chanh
                                                      Thủ bút nhà văn Hồ Biểu Chánh. Tư liệu L.M.Q

Những ngày này, bỏ mặc giông tố ngoài phía bên ngoài cửa sổ. Lật Liêu trai chí dị, đọc lại truyện Thư si (mê sách) của Bồ Tùng Linh. Rờn rợn từng chân tóc với câu chữ như ma mị, ám ảnh. Có thật không cái chi tiết độc đáo này xẩy ra trong lúc đọc sách? Lúc ấy, Lang Ngọc Trụ hoảng hồn thấy người đẹp bước ra từ cổ thư: “Mỹ nhân ung dung bước xuống đất, rõ ràng là một giai nhân tuyệt thế. Lang lạy hỏi là thần gì, mỹ nhân cười nóì: “Thiếp họ Nhan tên Như Ngọc, chàng đã biết từ lâu rồi. Hằng ngày được chàng rủ mắt xanh, nếu thiếp không tới một phen e rằng ngàn năm sau không còn ai tin vào cổ nhân”. Rồi họ chăn gối suốt những canh tàn gió lộng. Đã đọc truyện ngắn này từ lúc hoa niên, nay đã già, đọc lại, vẫn giữ nguyên cảm giác lành lạnh sau gáy như thuở ấy.

Y cũng đã từng nhiều đêm ước mơ được như Lâm Ngọc Trụ.

Trên đời này, có những con người lạ lùng lắm. Những gì đã mê đắm, yêu thích từ buổi còn thò lò mũi xanh, đến lúc ngoài ngũ thập vẫn không gì thay đổi. Có những ngày lang thang các ngã đường bán sách cũ ở Sài Gòn, bao giờ y cũng nhìn thấy thắng bé con thơ dại trở về ngay trong mắt. Từ lúc mới học lớp bảy, lớp tám y đã có những buổi chiều đi dọc theo con đường Ông Ích Khiêm, ngay chợ Cồn (Đà Nẵng). Con đường này, người ta bán sách báo cũ, tràn ra cả một đoạn đường dài tấp nập, huyên náo người đi ngược kẻ đi xuôi. Mặc kệ, y vẫn đứng giữa nắng sớm, mưa chiều tìm lục lọi, tìm kiếm như một gã thư si. Hễ sách cũ, sách hay, thấy là lạ là mua, chẳng cần phải nghĩ ngợi gì thêm. Bây giờ cũng vậy. Nỗi niềm mê sách đã là một phần của máu thịt, trở thành ký ức của đời sống.

Sáng ngày 6.11.2105, trao đổi cùng các bạn trẻ yêu sách cũ qua chủ đề: “Nghề chơi cũng lắm công phu”. Một bạn đọc hỏi, đại khái, còn trẻ, chưa nhiều kinh nghiệm, lại không nhiều tiền thì nên “chơi sách” bằng cách nào? Nhà sưu tập Phạm Thế Cường - chủ nhiệm Câu lạc bộ Người yêu sách Nguyễn Huy Tưởng gợi ý nên tìm mua loại sách thuộc sở trường của mình. Tán thành ý kiến này, y bổ sung thêm, hễ cứ thích là mua, dù rằng, có thể quyển sách thuộc lãnh vực đó, mình chẳng hề biết tí tẹo nào. Cần gì, cứ xếp lên kệ sách, ắt có lúc sẽ cần đến. Bằng không, nếu biết có ai đó đang cần, đem tặng lại, há chẳng phải là lúc đem về một niềm vui đó sao?

Sách có linh hồn của nó. Ngồi giữa cái “thư viện” ngay trong nhà với  hàng ngàn quyển sách, y ngẫm lại và thấy đúng. Nếu có duyên, sách sẽ tìm đến mình trong những lúc ngẫu nhiên, không ngờ đến. Nếu không vì chữ “duyên” vi diệu của triết lý đạo Phật, làm sao tôi có thể sở hữu những quyển sách giáo khoa in bằng tiếng Việt cách đây hơn 100 năm? Làm sao có thể sưu tập được những quyển sách của hai miền Nam - Bắc ấn hành lúc cả nước kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du? Làm sao có thể đọc được bộ Đại Việt sử ký toàn thư bằng loại giấy bổi in năm 1945? Ôi, cái năm tàn khốc, bi thảm ấy, hơn 2 triệu đồng bào chết đói, tự dưng lòng chùng xuống khi thấy cả những cọng rơm khô, gày đét nằm lẫn trong những dòng chữ. Cầm sách đọc, dù ngoài trời nắng ấm, ngồi phòng máy lạnh, thoáng đãng mà lòng lạnh buốt.

Sách cũ không chỉ là sách. Nhìn trang sách, qua kỹ thuật in ấn còn thấy diện mạo xã hội của một thời. Y tin chắc rằng, ai cũng còn có những quyển sách in ấn thời bao cấp. Loại giấy đen xì, xếp chữ typo, chữ mờ, chữ đậm, đọc muốn trợn tròng con mắt. Nay, có những quyển đã tái bản, giấy trắng hơn, in đẹp hơn nhưng quyển sách cũ ấy vẫn không bỏ đi. Giữ lại chứ? Giữ lại một kỷ niệm êm đếm của ngày khốn khó. Giữ lại kỷ niệm của tháng ngày từ làng Đại học xa tít ngoài xa lộ Đại Hàn, lũ sinh viên bọn y đã cọc cạch đạp xe về chợ Thủ Đức, về Sài Gòn mua cho bằng được sach mới phát hành. Ngày đó, bước vào hiệu sách nản ghê gớm bởi trên quày sách có những hàng chữ “Sách mẫu, không bán”; “Sách bán theo giấy giới thiệu”... Vì thế, có những lúc thèm thuồng, nuốt nước bọt mà cổ họng đáng nghét, đứng ngây dại nhìn lấy cái bìa sách như muốn thâu gọn cả vào trong trí nhớ. Rồi tiu ngỉu, thất vọng bước ra về.

Sực nhớ, đã lâu lắm rồi, ở sân 81 Trần Quốc Thảo, Q.3, ngồi trò chuyện với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Ông bảo: “Một ca khúc sở dĩ được nhiều người nhớ đến vì ca khúc đó có gắn với kỷ niệm một thời của họ”. Sách cũng thế. Trong cuộc giao lưu về sách tại NVH Thanh Niên, một bạn đọc phát hiểu: “Tôi đến với Ngày hội sách cũ 2015 vì muốn tìm lại những quyển sách đã đọc thời niên thiếu”. Một lý do rất đơn giản, nhưng ít nhiều nói lên tình cảm người đọc dành cho sách cũ.

À, có chuyện này nghe xong thấy vui, ghi lại kẻo quên. Hôm nọ gặp Nhật - người bạn vai em sinh năm 1977. Có lần em cho biết có nguyện vọng được một lần lai rai với nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Nguyên cớ thế này, Nhật kể: Trong thập niên 1980, Nhật mới học lớp Tư có thầy Hoàng từ Hố Nai về làng Phước Tân, quê em dạy học. Lúc ấy, các thầy cô chưa có nhà tập thể nên phải tạm trú trong nhà dân. “Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”, ba mẹ Nhật mời thầy về ở chung nhà. Thời đó, các tiệm cho thuê truyện còn nhiều, thầy Hoàng - giáo viên dạy môn toán nhưng lại mê văn thơ nên cũng thường thuê truyện. Mỗi đêm, khoảng chừng bảy giờ tối, sau khi cơm nước xong, thầy cho gọi các cô cậu nhóc học trò tụ tập trước sân nhà và đọc truyện cho nghe. Mỗi đêm đọc chục trang, rồi đêm sau lại đọc tiếp. Tình thầy trò cảm động quá. Nhật nhớ lại, cuốn sách đầu tiên trong đời em được nghe thầy đọc là quyển Còn chút gì để nhớ. Từ dạo đó, Nhật đã mê Nguyễn Nhật Ánh, mê văn chương là vậy. Thì ra, sự giáo dục của người thầy qua những trang sác từ năm tháng ấu thơ hết sức quan trọng.

Không phải ngẫu nhiên, sách cũ ngày một “có giá” vì lúc đó người ta vui mừng như tìm lại được ký ức tuổi thơ. Nghe Nhật kể, trong lòng y cũng dạt dào một niềm vui và nhớ lại cái thuở học trò của mình, thời còn sinh hoạt cộng đồng: Khoảng năm 1973, từ Sài Gòn, nhà văn Nhật Tiến đã gửi tặng bạn đọc dài hạn báo Thiếu Nhi các tác phẩm của ông. Tờ báo này do Nhật Tiến làm chủ bút, ông Khai Trí Nguyễn Hùng Trương chủ nhiệm và bỏ tiền đầu tư. Anh em, bè bạn chuyền tay nhau đọc. Sau này, những Chim hót trong lồng, Thềm hoang… luôn gợi trong tâm trí y một tình cảm quý mến về nhà văn đi trước. Ôi, văn chương đôi khi lại lưu lại trong lòng con người ta những yêu dấu khó xóa nhòa.

Cái thú chơi sách cũ còn là lúc được nhìn tận mắt bút tích của nhà văn. Thời nới vào nghề báo, có lần được diện kiến nhà sưu tập tranh Lâm Toét, qua cà kê lai rai ông khuyên, đại ý, nghề báo là nghề được tiếp xúc với nhiều người nổi tiếng, chẳng hạn, lúc được gặp các nhà văn nên tận dụng cơ hội ấy xin chữ ký, thủ bút của họ ký ngay trên sách. Những tập sách đó có giá trị gấp nhiều lần sách bày bán thông thường. Ngẫm lại thấy đúng. Vừa rồi, tay bán sách cũ ở đường Trần Huy Liệu đã bán quyển Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, in lần thứ nhất vào năm 1940 với giá 12 triệu đồng. Quyển sách được đẩy lên giá cao ngất đó, chỉ vì có dấu ấn Nguyễn Tuân thể hiện qua từng dòng bút tích. Quý là thế. Hiếm là thế. Xem sách cũ của nhà sưu tập Phạm Thế Cường, biết rằng trước năm 1945, nhà văn Nguyễn Công Hoan chỉ khi tặng sách cho bạn chỉ ký mỗi chữ “Hoan” nhưng từ sau năm hòa bình lập lại ở miền Bắc, ông ký rõ ràng đầy đủ họ tên. Chi tiết này lý thú quá, phải không? Tương tự, y quý lắm quyển Ông cử của Hồ Biểu Chánh, in năm 1940 vì ông có ghi thêm dòng chữ bằng màu mực tím: “Có vợ đó mới có chồng đó; có cha đó ắt có con đó” và ký tên thật Hồ Văn Trung.

Qua sưu tập sach cũ, còn thấy được nhân tình thế thái nữa. Anh bạn y là nhà văn nổi tiếng, ngày nọ anh rủ đến chơi nhà. Lúc có men say, anh trút lòng: “Q à, ông nghĩ thế nào trong trường hợp này?” Nói xong, anh đứng dậy ôm ra chừng mươi cuốn sách. Trời, đó là sách do anh đã tặng bạn bè nhưng chẳng rõ vì lý do gì lại chui tọt vào cửa hàng bán sách cũ?  Y bèn an ủi: “Thôi kệ, sách mình đã in ra tặng bạn, bạn không có duyên giữ lại ắt có người khác. Buồn làm chi”. Mà thôi, dưới gầm trời này, chẳng có ai sở hữu được cái gì vĩnh viễn đâu.

Mới đây thôi, thiên hạ nhốn nháo lên vì tủ sách của nhà thơ Huy Cận được rao bán. Cả hàng trăm quyển sách có chữ ký, thủ bút đã lọt vào các tay dân chơi sách cũ. Hễ ai có duyên thì giữ được, cũng như đồ cổ, hết hết nợ, hết duyên tức khắc sẽ qua tay người khác. Có lẽ gây “chấn động” nhất trong vài năm trở lại đây là tủ sách của giáo sư nọ được gia đình thanh lý với giá rẻ mạt. Chị bạn y - người bán sách cũ đã “trúng quả” đậm. Có ai ngờ, chính những bộ sách quý đó đã giúp cho chồng chị lúc túng bấn nhất đã có tiền trải qua mấy cơn phẫu thuật! Người này giữ, người khác hưởng, âu cũng là cái lẽ thường tình trong trời đất. Dù gì khi hưởng lộc, họ vẫn còn nhớ đến cái ơn của người đã sưu tập gìn giữ. Vậy là đủ.

Dù được xếp vào giới chơi sách cũ, nhưng thật ra không đúng, y chỉ là người mê sách. Vì mê sách nên có bao nhiêu tiền, ngay từ bé đến giờ, y cũng nhín tiêu xài để mua sách, dù bây giờ trong nhà đã không còn chỗ trữ nhưng vẫn cứ mua. Mua để được ngắm nhìn cho no nê con mắt. Thỏa mãn sự thèm thuồng của mùi thời gian thấp thoáng trong từng trang đã cũ, đã úa, đã nhọc nhằn phiêu dạt theo năm tháng. Và không chỉ thế, với y, sách cũ chỉ có giá trị một khi những tư tưởng, tinh hoa trong sách ấy được vận dụng cho cuộc sống hiện tại, được phổ biến rộng rãi đến nhiều bạn đọc. Giữ một quyển sách cũ đến hàng trăm năm, sách rất quý nhưng chỉ mỗi mình đọc, mỗi mình biết, liệu có ích gì?

Sống trên đời, ai cũng phải mê một cái thú gì đó. Mê sách là một cái thú. Mà cái thú này, thời buổi này, y biết có những người sở hữu nhiều sách quý, đồ sộ không thua gì các cụ Vương Hồng Sển, Đông Hồ, Nguyễn Văn Y, Bằng Giang… Nhưng liệu ai có tâm thế, mê sách, quý sách như chí sĩ yêu nước Nguyễn Thông? Trước khi mất, cụ có ghi lại trong Di chúc: “Sách vở là gia truyền quý nhất, không được đem gửi người khác. Sau khi ta trăm tuổi mỗi khi gặp ngày giỗ thì lấy sách ra bày ở hai bên trên bàn thờ thay cho mâm cúng cơm”. Ôi! Tấm người xưa dành cho sách khủng khiếp biết dừng nào?

Còn y, một hậu sinh mê sách, luôn xác tín: “Thư trung hữu mỹ nhan như ngọc”. Vì thế, nhiều lần đọc sách mà ước gì mình được như nhân vật Lang Ngọc Trụ của Bồ Tùng Linh tiên sinh. Được thế, âu cũng là cái duyên tri ngộ giữa sách và người từ thuở lọt lòng đã mê đắm với sách.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 30.10.2015

PDF.InEmail

2707253096_e945426703

(Ảnh: Internet)

 

“Những ngày này, các vụ án giết người rúng động xã hội đang xét xử”.

Buổi sáng, thức dậy sớm, thanh tịnh tâm hồn, nhìn đời bằng con mắt trong veo, lướt qua vài trang báo, đọc dòng chữ đó, đột nhiên ly cà phê đắng tê đầu lưỡi. Mà ngày nào cũng như ngày nào, lạ thay, cũng nhan nhản các thông tin đen tối, những phát biểu hắc ám, những trò ma mị của tầng lớp ăn trên ngồi trốc, làm sao có thể nhìn cuộc đời bằng con mắt lạc quan?

Và đám đông? Những con người lô nhô lóc nhóc chỉ là hạt bụi trôi theo dòng đời, trong đó có y, lại thế nào? Khó có thể có cái nhìn mọi vấn đề, chỉ gói gọn trong một vài vụ xử án hiện nay. Đã thấy gì? Đã cảm nhận những gì?

Thử hỏi, trong cuộc sống hiện tại, con người ta gần gũi, thân mật và có thể chia sẻ mọi điều chăng? Không hề. Cứ vác xác đi ra đường phố mỗi ngày, có lúc sẽ gặp lắm tình huống oái ăm. Kìa, có người vừa bị giật đồ, té ngã chỏng ngọng giữa đường, mặc kệ, dòng người thản nhiên đi qua, Không đoái hoài ngoái nhìn. Chẳng ai muốn ra tay nghĩa hiệp mà có thể họ cho “chuyện ruồi bu”. Biết đâu sẽ vướng vào phiền toái khác ngay sau đó. Mệt. Cứ né xa càng cho nhanh.

Thế nhưng, cùng một sự việc, nếu có sự tụ tập của đám đông, quả nhiên, có nhiều người lại bày tỏ thái độ khác. Người ta khen mình cũng ngoác mồm miệng ra khen; người ta chê mình cũng vỗ đùi đành đạch mà chê. Khen chê ấy, không phải độc lập suy nghĩ mà chỉ là sự bắt chước theo nhau.

Cả hai thái độ nói trên, nghĩ cho cùng chính là biểu hiện của sự vô cảm.

Thật chạnh lòng, khi chứng kiến một phiên tòa lưu động xử kẻ nghiện hút, ăn cắp tại khu phố nọ. Lúc kết thúc, bà mẹ của bị cáo thốt lên những lời chân thành xin lỗi bà con chòm xóm. Tâm tình ấy có được chấp nhận hay không? Phải được chứ. Thế mà, lập tức cả hàng trăm con người nhao nhao chế giễu bằng những lời lẽ cộc cằn, miệt thị. Vẫn biết, sự căm giận không sai, nhưng kẻ xấu phải nhận bản án tương xứng, há gì đám đông lại tiếp tục “ném đá” về phía bà mẹ? Sao nỡ gây thêm tổn thương lần nữa, khoét sâu vào nỗi bất hạnh của người mẹ có đứa con hư đốn?

Hẳn nhiều người người con nhớ vụ án kẻ giết người đã xử ở tòa án tỉnh nọ. Lúc Kiểm sát viên luận tội đề nghị áp dụng hình phạt tử hình, ngay lập tức phía gia đình bị cáo òa lên khóc lóc thảm thiết, đớn đau vì biết sắp vĩnh viễn mất đi một người thân. Ngược lại gia đình bị hại khua chiêng, gõ mõ, đánh trống ầm ĩ, đồng loạt vỗ tay hả hê lắm, sung sướng như vừa trúng số độc đắc, chỉ thiếu điều khui sâm-banh ăn mừng tại tòa. Gia đình bị hại từng đau đớn xé lòng vì đã mất người thân, nay phía thân nhân bị cáo cũng có nỗi buồn đau tương tự. Hả hê sao đành?

Còn gì bẽ bàng, thô lậu hơn trước những tiếng cười vô tư, khoái trá của đám đông lúc dự buổi xử án kẻ giết người vừa diễn ra tại Yên Bái? Có tội, ắt đến tội. Đó là công lý. Tuy nhiên, thỉnh thoảng đám đông lại nổ ra những trận cười bất tận, do bị cáo là người dân tộc Dao, không rành tiếng Việt, khi quan tòa hỏi một đằng, bị cáo trả lời một nẻo, chỉ thế. Bo chí tường thuật: “Nhiều đoạn bị cáo và người liên quan khai không đúng câu hỏi làm người dân phía dưới cười. Bị cáo thấy người dân phía dưới cười nên cũng cười theo”. Kẻ giết người không ghê tay, kẻ sát nhân không còn biết mùi tanh của máu, phút chốc trở nên tên hề đáng thương hại. Ai đã làm nên điều kinh tởm đó? Chính là sự vô cảm cảm của đám đông. Một đám đông không ý thức đang chứng kiến giây phút kinh hoàng đau đớn của người bị hại. Hóa ra cái ác, cái xấu không khiến người ta ghê gớm, kinh sợ mà chỉ dem lại sự cười cợt, nhộn nhạo?

Hành xử theo lối vô cảm ấy cũng không khác gì cái ác?

Có ai trong đám đông ấy nghĩ rằng, ngồi dưới hàng ghế theo dõi xử án thì người thân, bà con ruột thịt của nạn nhân đang đau đớn như thế nào? Làm sao gan ruột họ không quặn thắt, không đứt đoạn khi nghe thủ phạm kể lại quá trình phạm tội. Họ ứa nước mắt. Nuốt nước mắt vào lòng để khỏi bật ra tiêng khóc. Hỡi ôi, ngay lúc ấy lại rôm rã những tiếng cười. Tiếng cười ấy, vô cảm. Tiếng cười ấy, không có tình người. Trước nổi đau của người khác, “hiệu ứng” đám đông “lạc quẽ”, vô cảm ấy nói lên điều gì, nếu không phải là sự bất nhẫn của tâm lý bày đàn?

Vài năm trở lại đây, thú thật, y đã có thay đổi trong việc tiếp cận thông tin mỗi ngày. Né xa những gì đem lại sự hậm hực, bực bội, cáu tiết. Cuối cùng, chính mình phải gánh lấy nỗi nặng trĩu mây mù ấy. Chẳng việc gì phải thế. Chọn lấy cách uống thuốc an thần như trở về với một thế giới riêng tư là mở ra những sách và đọc. Đôi khi trang sách đã mủn, nát theo thời gian, chẳng ích lợi gì, nhưng rồi ít ra nó cũng đem lại niềm thư thái, sự an vui dẫu trong chốc lát.

Hôm nọ, nhạc sĩ Hà Quang Minh tặng cho quyển tạp bút Ăn nỗi nhớ (NXB Hội Nhà văn) của anh vừa in. Đọc một loáng là xong. Dừng lại với chi tiết này. Sở dĩ thế, vì anh có viết đôi nét về những con người không thuộc về đám đông. Đám đông xa lánh, không thèm chơi với họ: “Ở Hà Nội, thời thập niên 80, tôi còn nhớ mãi một từ mà tôi cho rằng đáng được liệt vào hàng “xuất sắc” là từ “leng keng” dành để ám chỉ những ai hâm hấp. Cái từ “leng keng” ấy  nó có tính tượng thanh khủng khiếp và sự trừu tượng của nó khiến người ta liên tưởng đến những đầu óc lúc nào cũng ngớ ngẩn ăn nói lung tung, suy nghĩ như thể trong đầu luôn có cái chuông tàu điện”. Từ ngữ, cách nói ấy không dừng lại, sau đó, nó được thay thế bằng “lái tàu điện”, “đếm lá”… Hà Quang Minh viết tiếp: “Hãy hình dung một người cứ ngơ ngẩn vừa đi vừa ngửa cổ đếm lá trên vòm cây thì bạn đủ hiểu cái sự “hâm hấp” ấy nó rõ ràng ra sao”. Kể ra cũng là một cách mà Minh ghi lại lời ăn tiếng nói của một thời. Những kẻ “hâm hấp” ấy, trong Nam lại gọi “mát” (mượn tiếng Pháp “masse”, chỉ bộ phận dẫn điện bị chạm, “có vấn đề”), "mát dây điện", “chạm điện”, “té giếng”, "chập cheng", “dở hơi”, “tửng”, “hâm”, "hấp",…Gần đây, giới teen lại "đẻ" ra từ "dở  hơi ăn cám lợn"!

Thời còn nhỏ, thỉnh thoảng được mẹ dẫn ra chợ Cồn. Xin nhắc lại, khoảng thập niên 1960 - 1970, ở chợ Cồn có cà phê Xứng cực kỳ nổi tiếng, bán ngay trong chợ. Bất cứ ai gọi, có người bưng ly cà phê nóng hổi đến tận nơi. Thuở ấy, chưa biết uống cà phên nên không rõ nó ngon như thế nào. Nổi tiếng thứ hai là một nhân vật điên điên khùng khùng, suốt ngày lang thang trong chợ. Anh ta ăn mặc chỉnh tề, áo bỏ trong quần, dù quần áo đã cũ rích, rách nát, bẩn thỉu. Đi chân không. Tay cầm quyển từ điển dày cộm, đi và đọc, thỉnh thoảng dừng lại, ngửa mặt nhìn lên trời và nói hàng loạt câu tiếng Pháp. Nghe bảo rằng, anh chàng này du học ở Pháp, học rất giỏi nhưng do “ngộ chữ” nên thành kẻ “dở người” (?!).

Đâu phải ở Đà Nẵng chợ Cồn mới có, ở đâu đâu cũng có mẩu người đáng thương ấy. Nhà thơ Xuân Diệu kể lại trong bài viết Sống với ca dao, dân ca miền Nam Trung bộ, ông nhắc một về nhân vật độc đáo không kém: “Ông “Tốc-xi-măng” ở Quy Nhơn dở khờ dở dại, thích mặc một cái áo ka ki màu vàng như áo người đưa thư hay áo của người giữ ghi xe lửa. Mặc quần tây, đi giày rách, cầm một cái ba-tong, đội một cái mũ như mũ các thầy ký hỏa xa đi trên tàu; ông “Tốc-xi-măng” thích tự làm những cái lon, những mề dây để đeo; trẻ còn cứ chạy theo ông tưởng là ông cai, đội thật”.

Nhà thơ Xuân Diệu sinh năm 1916, lớn lên và đi học ở Quy Nhơn. Từ đó, ta suy luận, khoảng thời gian Xuân Diệu đi học phổ thông, rồi tính cách nhân vật đươc miêu tả, rõ ràng ông “Tốc-xi-măng” là “cựu chiến binh”, bị đưa sang “mẫu quốc” làm “bia đỡ đạn” lúc Pháp đánh nhau với Đức năm 1918. Có thể suy luận thêm, “Tốc-xi-măng” không phải tên thật. “Tốc” tức “tốc kê” (toqué) nhằm chỉ người gàn gàn, hâm hâm. Lạ cho tiếng Việt, khi mượn tiếng nước ngoài nhằm chỉ một trạng thái tinh thần, nhưng có lúc (buồn tình chẳng hạn) lại gọi gọn chỉ mỗi từ “tốc”; hoặc nếu cao hứng lên gọi luôn “tốc tốc”.

Mẫu nhân vật này, chắc chắn nổi tiếng nhất vẫn là Trạch Văn Đoành. Một nhân vật khó quên của nhà văn Nam Cao: “Nghĩ đến cách mặc của hắn bao giờ người ta cũng nghĩ đến mùa đông. Bởi mùa đông mới thật có những người mặc chẳng vì ai, nhưng chỉ vì sự dễ chịu của mình. Đoành thuộc vào hạng ấy. Suốt một mùa, hắn chỉ mặc một cái ba-đơ-xuy sắc chó gio. Hắn mua hồi đi lính sang Tây. Có bảy mươi quan. Thế mà bền…Cái áo-đơ-xuy mất hết cúc rồi. Hắn đơm hai cái dải thật to được bắt giao nhau để thắt lại ở sau lưng. Chặt chẽ và gọn gàng không kém một cái đai”.

Tiếc là nhân vật dở hơi, dở ngợm dở người này ít xuất hiện trong văn học Việt Nam. Họ không xứng đáng hay nhà văn không có dịp quan sát? Mà thôi, những con người ấy, chẳng ai thèm quan tâm dẫu họ xuất hiện chình ình trong đám đông. Y lại thấy thương. Bởi họ chẳng hại ai, chẳng thèm hùa theo đám đông. Không “ăn theo nói leo”, thấy người khác “ăn khoai” mình cũng “vác mai đi đào”. Họ là họ, dù rằng, tội nghiệp lắm.

Trời đã chiều. Có email nào không?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 22.10.2015

PDF.InEmail

 

30_Dong_1985sTiền giấy 30 đồng phát hành năm 1985


Gió dựa thân tường, lưng gió phẳng;

Trăng nhìn cửa sổ, mắt trăng vuông.

Tâm thế ấy, thong dong tĩnh tạo lắm. Sức mấy, y  có thể đạt đến. Còn lâu. Biết quá mà, trong đầu y chỉ túc trực câu hỏi: Cần danh hay cần tiền?

Nói dối lòng mình làm gì chứ. Rằng thưa, y cần cả hai, nhưng nếu chỉ chọn một, dứt khoát y chọn tiền. Dạo này, trên cơ quan truyền thông rộ lên về chuyện “đạo thơ”. Cũng vì cái danh. Người này “thuổng” thơ của người nọ. Tranh cãi ì sèo. Đòi kéo nhau ra tòa. Thiên hạ có nhiều ý kiến khác nhau. Tưởng chừng như bầu trời sắp sập. Khiếp quá. Phải nói thật rằng, lâu nay, có còn mấy ai quan tâm đến thơ nữa đâu. Nhân xẩy ra vụ thưa kiện, nay, thơ bỗng dưng “có giá” hơn không? Chắc là không. Trong thế giới quái quỷ này, thơ đang đứng ở đâu trong lòng bạn đọc. Đã có những bài thơ nào tạo ra hiệu ứng xã hội trong đời sống này. Đã có những vần thơ nào đã khiến con người ta nhìn lại vai trò công dân, tự chọn lựa một thế đứng, cất lên tiếng nói của chính suy nghĩ tự đáy lòng trong sự xô bồ của nhiều giá trị hoặc bị đánh tráo, hoặc “mạ vàng” hoặc đã lỗi thời? Tìm đi. Đốt đuốc giữa ban ngày, tìm đi, có tìm thấy không?

Y không biết.

Có điều, biết chắc chắc rằng, tiền là điều có thật. Vì thế, những ngày ngay, quay lại đọc những quyển sách đã viết về tiền như  Ngân hàng Việt Nam quá trình phát triển và xây dựng (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam biên soạn (NXB Chính trị Quốc gia - 1996), 100 năm tiền giấy Việt Nam của Tạ Chí Đông Hải, Đặng Văn Khoa (NXB Trẻ và Hội Tem TP.HCM - 1994),  Tư duy kinh tế Việt Nam chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975 - 1989 của Đặng Phong (NXB Tri Thức -  2008). Đọc xong và ghi chép, âu cũng là một thói quen.

Năm 1975:

Sau ngày thống nhất đất nước, hệ thống ngân hàng của Sài Gòn cũ được tiếp quản. “Toàn bộ số tiền ta thu được là 150 tỷ đồng; trong đó, tiền các loại trong kho của Ngân hàng Quốc gia là 125 tỷ, quỹ lưu dụng 7,8 tỷ, tổng số tiền quỹ của các ngân hàng tư nhân thu được trên 19 tỷ”. Ngày 6.6.1975, Hội đồng Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định 04/PCT- 75 thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Như vậy, ngay sau ngày thống nhất, có tuy cùng tên gọi nhưng Nam - Bắc có hai hệ thống ngân hàng.

- 6g sáng ngày 22.9: Thu đổi tiền Sài Gòn cũ, phát hành tiền ngân hàng Việt Nam theo tỷ lệ 1 đồng ngân hàng VN = 500 đồng tiền Sài Gòn cũ. Dù vậy, loại 50 đồng tiền Sài Gòn cũ vẫn còn được sử dụng. Chính vì mức quy định như trên nên dẫn đến tình trạng nhiều gia đình giàu có phải chuyển tiền của mình cho người khác đứng tên đổi giúp... Lưu ý: Đơn vị  tiền tệ của đồng tiền mới ở miền Nam giống như đơn vị tiền tệ ở miền Bắc (đồng, hào...). Như vậy về danh nghĩa, đơn vị tiền tệ giữa hai miền đã có sự gống nhau. Căn cứ theo Quyết định số 12/QĐ ngày 21.9 của Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam, mức đổi tiền quy định như sau:

- Không quá 100.000 đồng tiền của chế độ cũ đối với nhu cầu sinh hoạt; từ 200.000 đến 500.000 đồng và tối đa không quá 1.000.000 đồng đối với những hộ và cơ sở kinh doanh. Số tiền còn lại trong bảng kê khai được quy ra tiền mới, gửi vào quỹ tiết kiệm hoặc tài khoản tiền gửi tại ngân hàng.

Đợt đổi tiền này kết thúc vào ngày 30.9.1975. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước VN, tổng số tiền Sài Gòn cũ đã thu về là 486 tỷ.

Năm 1976:

Ngân hàng Quốc gia tại miền Nam chỉ tồn tại ngắn ngủi đến tháng 7.1976. Sau kỳ họp Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất (Quốc hội khóa VI), khai mạc ngày 24.6.1976, đã thông qua các Nghị quyết đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, quy định Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc huy; bầu các cơ quan và chức vụ lãnh đạo cao nhất nước... Theo đó, Ngân hàng Quốc gia ở miền Nam được hợp nhất vào Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành một hệ thống ngân hàng thống nhất. Tuy nhiên vẫn sử dụng 2 loại tiền Nam - Bắc.

Năm 1978:

Ngày 25.4: Hội đồng Chính phủ ra Quyết định về việc thống nhất tiền tệ trong cả nước, phát hành tiền ngân hàng mới, thu đổi tiền ngân hàng cũ ở miền Bắc và miền Nam. Ngân hàng Nhà nước phát hành loại giấy bạc 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng và tiền kim khí 1 hào, 2 hào, 5 hào. Đổi tiền lần này HĐ Chính phủ ra Quyết định số 88/CP quy định:

+ 1 đồng tiền ngân hàng mới = 1 đồng tiền ở ngân hàng miền Bắc.

+ 1 đồng tiền ngân hàng mới = 0,80 đồng tiền ở ngân hàng ở miền Nam.

+ Tiền ngân hàng cũ có mệnh giá từ 1 đồng trở lên không kê khai đổi trong thời hạn quy định sẽ không còn giá trị. Các loại tiền lẻ từ 0,5 đồng trở xuống được tiếp tục lưu hành theo giá trị ghi ở đồng tiền.

+ Việc kê khai được tiến hành trong vòng 6 tiếng đồng hồ, từ 6 giờ sáng đến 12 giờ trưa.

- Ngày 3.5: 38 tỉnh thành và thành phố trong cả nước đã đổi tiền theo đúng kế hoạch đã định. Kể từ 12 giờ ngày 6.5.1978, cả nước chỉ lưu hành một loại tiền thống nhất. Đợt đổi tiền này thu về 2.694,7 triệu đồng quy ra tiền mới. Lưu ý: Tờ giấy bạc CHXHCN Việt Nam ra đời. Đây là lần đầu tiên cả nước cùng đổi tiền mới. Đặc điểm của loại giấy tiền mới này là in hình Quốc huy, Quốc hiệu nước CHXHCN Việt Nam và hình Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt, đổi tiền lần này, Ngân hàng Nhà nước có cho lưu hành loại giấy tiền 30 đồng.

Năm 1981:

- Ngày 22.1: Ngân hàng phát hành các loại giấy bạc 100 đồng, 30 đồng và 20 đồng.

Năm 1985:

- Ngày 13.9: Lệnh thu - đổi tiền. Trong 5 ngày (từ ngày 14.9 đến 19.9), toàn lãnh thổ Việt Nam tiến hành thu đổi tiền. Ngân hàng Nhà nước phát hành các loại  giấy bạc: 500 đồng, 100 đồng, 50 đồng, 30 đồng, 5 đồng, 2 đồng, 1 đồng. Quy định như sau:

+ 10 đồng mới = 10 đồng cũ.

+ Việc thu đổi chỉ thực hiện với các loại tiền có mệnh giá từ 20 đồng trở lên; các loại tiền từ 10 đồng trở xuống được phép tiếp tục lưu hành theo giá trị quy đổi ra tiền mới.

+ Mức tiền được đổi tối đa là 20.000 đồng tiền cũ, số còn lại được đổi ra tiền mới ghi vào biên lai và chuyển gửi ngân hàng.

Đợt này tiền cũ thu về 57.468 triệu đồng. Lưu ý: Ngân hàng Nhà nước phát hành thêm loại tiền giấy có mệnh giá 100.000 đồng, có hình Chủ tịch Hồ Chí Minh in nổi và in chìm, có dây bảo hiểm là tờ giấy bạc in theo công nghệ hiện đại nhất từ trước đến thời điểm đó.

Năm 2003:

- Ngày 17.12: Lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam loại tiền giấy được sử dụng bằng chất liệu polymer. Tờ giấy bạc có mệnh giá cao nhất là 500.000 đồng.

Đọc những thông tin về tiền, bỗng dưng trong đầu lại nhớ mấy câu thơ trong bài Cậu bé và cô bé của Bi Maurice Careme, nhà thơ Hồng Thanh Quang đã dịch từ bản tiếng Nga:

-Nếu tớ được là con trai,

Cô bé có lần đã nói,

Từ lâu tớ đã bỏ đi

Sang châu Phi chơi cho khoái…

-Còn nếu tớ là con gái,

Cậu bé liền đáp lời ngay,

Thay cho chỉ mầu tớ sẽ

Xâu kim bằng tia nắng mai…

Rồi hai người dần khôn lớn,

Cùng nhau nên vợ nên chồng,

Với nhau sáng trưa chiều tối

Họ toàn nói chuyện tiền nong…

Nếu ai đó, có thời gian tìm đọc lại ca dao, tục ngữ, thành ngữ, thơ ca  hò vè chắc chắc sẽ ra quan niệm của người Việt về đồng tiền. Một khi đã có tiền, không cần phải đôn đáo đầu này đầu nọ kiếm tiền. Nằm khèo ở nhà đọc sách, có phải thú hơn không? Có những câu thật hay, chắc rằng, đọc qua một lần ắt nhớ nhưng rồi, tiếc là không rõ tác giả:

Gió dựa thân tường, lưng gió phẳng;

Trăng nhìn cửa sổ, mắt trăng vuông.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 10 trong tổng số 45

298
trinhduyson