LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 3.10.2016

 

nhat-ky--3.10.2016-formosa

 

Nửa đêm hôm qua trời mưa lớn. Mưa kéo dài đến sáng. Dậy sớm, vội bước ra đầu ngõ mua vài tờ báo mới. Để xem các đồng nghiệp tường thuật thế nào về vụ hàng ngàn người dân tập trung biểu tình trước Formosa. Trước đó, các trang báo điện tử của cơ quan đoàn thể vẫn lặng như tờ. Không một dòng, dù chỉ một dòng. Toàn bộ hệ thống báo chí tê liệt trước sự kiện này. Các tờ báo chính thống, nhà báo có thẻ do Bộ Thông tin Truyền thông cấp đã bỏ hẳn “trận địa” cho các trang mạng xã hội. Duy chỉ có Thanh Niên online đưa tin: “Hàng ngàn người dân Kỳ Anh tập trung phản đối Formosa gây ô nhiễm”. Nhưng sau đó rút bài xuống không kèn không trống. Tìm kiếm lại trên Google, chỉ thấy lưu lại vỏn vẹn mấy dòng chữ này: “Sáng nay (2.10), hàng ngàn người dân ở thị xã Kỳ Anh (Hà Tĩnh) đã kéo đến cổng của Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh phản đối việc công ty ... 02:45 PM - 02/10/2016”. Có người còn ví von cuộc biểu tình này không khác cái thời Xô Viết Nghệ Tĩnh của năm 1930:

Nọ Thanh Chương tiếp bước đứng lên.
Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên,
Anh Sơn, Hà Tĩnh một phen dậy rồi.
Không có lẽ ta ngồi chịu chết?
Phải cùng nhau cương quyết một phen.
Tổng này, xã nọ kết liên,
Ta hò, ta hét, thét lên mau nào!
Trên gió cả cờ đào phất thẳng,
Dưới đất bằng giấy trắng tung ra
Giữa thành một trận xông pha,
Bên kia đạn sắt bên ta gan vàng…

Số lượng tham dự cuộc tình ôn hòa này có thông tin cho rằng đã lên đến 10.000 người. Một con số quá khủng khiếp. Một sự kiện quá lớn. Thế nhưng, sáng nay, không một tờ báo chính thống nào đưa tin. Nguyên cớ tại làm sao? Thì ra, cách quản lý báo chí như cái kiểu thời bao cấp chỉ khiến người dân không còn có nhu cầu tìm đọc báo nữa. Thời buổi này, không chỉ cạnh tranh với các trang mạng xã hội, người làm báo còn bị án ngữ ngay trên đầu cái vòng kim cô nữa. Vậy còn nên cơm cháo gì? Từ vấn đề Bauxite Tây Nguyên, Hoàng Sa, Formosa... và nhiều sự việc khác, có thể rút ra một kết luận: Giữa nhà cầm quyền và người dân đang có khoảng cách. Khoảng cách đáng lo ấy ngày một lớn, càng khó tìm được tiếng nói chung.

Về hậu quả của Formosa, sau khi được “bật đèn xanh”, báo chí đã đề cập đến nhiều rồi. Gần đây nhất, Báo Tuổi Trẻ ngày 30.9.2106 đưa tin (nguyên văn): “Trên 19.000 người mất việc vì sự cố của Formosa”: Tại buổi họp công bố tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm ngày 29.9, Tổng cục Thống kê cho biết kết quả khảo sát các hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường do Formosa gây ra cho thấy trên 22.000 hộ gia đình bị ảnh hưởng việc làm, đời sống. Số lao động bị mất việc làm hoặc làm việc không còn ổn định lên tới trên 24.000 ngàn người (chủ yếu trong các ngành đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối, hậu cần nghề cá, nhà hàng - khách sạn). Trong số bị mất việc hoàn toàn lên tới trên 19.000 người, số phải tạm thời chuyển sang ngành nghề khác là gần 5.000 người. Tại các tỉnh bị ảnh hưởng sự cố này, số lao động có nhu cầu đăng ký đi xuất khẩu lên đến 17.253 người”.

Điếng lòng.

Con dân Việt lại tha phương cầu thực. Sau chiến tranh, hòa bình, thống nhất, tưởng rằng đã có thể yên ổn, chí thú làm ăn. Không ngờ lại thêm nhiều cuộc ly tán nữa, vì miếng cơm manh áo. Không rõ nhạc sĩ Hoàng Hiệp sáng tác ca khúc Đồng đội vào năm tháng nào, nhưng thời trong quân ngũ, thâp niên 1980, y đã từng nghe, từng hát: “Bạn tôi cho hay sau này xong chiến đấu sẽ lên nông trường sớm hôm trên đồng lái máy cày. Còn tôi mong sao bao ngày tôi đang sống sẽ không bao giờ mờ nhạt mai sau”. Nào ngờ, ước mơ thánh thiện ấy “tan tành mây khói” khi đối mặt với hiện thực phũ phàng. “Xuất khẩu lao động”, cụm từ này nghe chua chát và mỉa mai đến tột cùng của một kiếp nhân sinh. Thời chiến tranh có máu, xương máu, lấy máu xương làm hành trang vào đời; thời bình lại đổ mồ hôi sôi nước mắt ở xứ người để kiếm miếng cơm. Tủi nhục đến thế là cùng. Bài thơ Tiễn em trai đi Hàn Quốc, bạn thơ Cao Xuân Sơn viết năm 1994 biết đến lúc nào mới mất đi ý nghĩa thời sự?

Đừng xăm soi nữa bản đồ
dẹp đi cả chuyện múi giờ lệch chênh
nước Hàn ở phía... mông mênh
dĩ nhiên chẳng phải nước mình, vậy thôi!

Hàn là lạnh đấy, em ơi!
nhưng... đâu chả thế - đất trời người ta
ngày mai em như Kinh Kha
rắp mong một trận này qua khó nghèo

Đã mòn chân suối với đèo
mấy năm lính, hẳn ít nhiều gió sương
liều thêm, ừ, một đoạn đường
con thơ, vợ dại thương suông ích gì!

áo cơm nặng lắm, đi đi
chiếc ba lô cũ thích thì cứ mang
dặn em sức vóc là vàng
đừng đem vắt kiệt giá băng xứ người

Rủi may ai biết hở trời
đêm nay... anh rót rượu mời Kinh Kha...

Tiễn em đi bán sức lao động, không khác gì Kinh Kha sang Tần, đó mới chính là nỗi đau buốt của người đi kẻ ở. Trước những sự việc này đôi lúc cảm thấy, những gì mình đang viết với tư cách nhà báo, lại trở nên nhẹ hều, cứ như suy nghĩ của một ông già lẩm cẩm, ngớ ngẫn, chẳng “ăn nhậu” gì với mối quan tâm chung của cộng đồng. Biết làm thế nào nhỉ? Y vốn hèn. Thôi thì, lại quay về rị mọ cùng chữ nghĩa. Cũng không xong. Ai đời,  trong tiếng Việt hiện nay đã có những cách giải thích khác một vài từ lâu nay đã hiểu.

Chẳng hạn, anh chàng nọ làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự đấm vào mặt nhà báo đến chảy máu miệng, hộc máu mũi thế nhưng cách gọi mới là “gạt tay trúng má” (!?); đưa chân đạp một cú cho người ta té chúi nhủi, đập đầu xuống đất u đầu sứt trán lại gọi: “giơ chân hơi cao” (!?). Thậm chí thiên hạ đánh nhau ì sèo, vác mã tấu “luộc” nhau đến bán sống bán chết, thân tàn ma dại lại gọi “xô xát” (!?) v.v… Khi vì sự số Formosa, bà Cục trưởng Cục Việc làm Việt Nam cho rằng: “Ngư dân rời biển đi khuân vác là không thất nghiệp”. Hóa ra từ “thất ngiệp” đã hiểu qua cách khác nữa rồi. Vô cảm đến thế thì thôi. Thời quân chủ chuyên chế, các ông vua đặt ra lệ kỵ húy vì thế không ít chữ nghĩa bị méo mó, biến dạng. Ngờ đâu, thời nay cũng chẳng khác mấy, nếu xét theo hàm nghĩa nội tại của chữ nghĩa.

Trở lại với vụ báo chí đã phớt lờ đi vụ biểu tình sáng hôm qua tại Hà Tĩnh. Ai ai cũng nhếch mép cười ruồi về một cách “định hướng” thông tin đã quá lạc hậu. Báo chí không ghi nhận à? Các nhà làm sử phải ghi nhận chăng? Sực nhớ, vụ biểu tình rầm rộ, nổi đình nổi đám năm 1997 về vấn đề ruộng đất ở Thái Bình thì lúc ấy thế nào? Báo chí cũng “im thin thít như thịt nấu đông”, vậy thì những nhà làm sử sẽ ghi nhận chứ gì? Chưa chắc. Lật lại Việt Nam những sự kiện lịch sử 1975 -2000 do Viện Khoa học Xã hội - Viện Sử học đứng tên (NXN Giáo Dục - 2008) vẫn không hề có 1 dòng nào! Thế đấy. Cái gì cũng che giấu, cái gì cũng bưng bít cả. Thế nhưng, đừng lo, mạng internet đã và đang giải quyết sự bất cập một cách cố ý, bảo thủ đó.

Trời đã chiều. Ngoài trời, mưa lâm râm. Trong lòng, đang bão tố. Dừng bút thôi.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 29.9.2016


14448768_1418644251483367_1884425907359443735_nCảnh mưa Sài Gòn ngày 26.9.2016

 

Ngày nào cũng có chuyện. Để âu lo. Để buồn cười. Để “tám”. Để bù khú. Và cuối cùng, một cảm giác chung vẫn là ngao ngán. Sự việc gì cũng dẫn đến sự bẽ bàng, chán ngán, hoang mang và cuối cùng, tự hỏi: Sống trong thời đại nào vậy? Đi về phía thời gian, đã hoàng hôn bước qua dốc của xế chiều, y bèn tự nhủ: “Chẳng mấy chốc nữa, đời mình sẽ khép lại”. Vậy là xong. Một kiếp người. Chỉ tội nghiệp nhưng mầm non mới nhú. Hoa niên đang xanh. Tưng bừng sức sống. Phơi phới tin yêu. Sẽ thế nào? Tưởng rằng đã qua cái thời cụ Nguyễn Trường Tộ viết những câu đau đáu về thời cuộc rồi chứ? Tưởng đã qua. Tưởng mãi ư? Thì cứ ăn mãi dưa bỡ. Cũng chán nốt.

“Hiện nay tình hình trong nước rối loạn. Trời thì sanh tai biến để cảnh cáo, đất thì hạn hán tai ương, tiền của sức lực của dân đã kiệt quệ, việc cung ứng cho quân binh đã mệt mỏi, trong Triều đình quần thần chỉ làm trò hề cho vui lòng vua, che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền tài, chia đảng lập phái khuynh loát nhau, những việc như vậy cũng đã nhiều; ngoài các tỉnh thì quan tham lại nhũng xưng hùng xưng bá tác phúc tác oai, áp bức tàn nhẫn kẻ cô thế, bòn rút mỡ dân, đục khoét tuỷ nước, việc đó đã xảy ra từ lâu rồi.

Những kẻ hận đời ghét kẻ gian tà, những kẻ thất chí vong mạng, phần nhiều ẩn núp nơi thao dã, chính là lúc Thắng, Quảng (lãnh tụ khởi nghĩa nông dân thời Tần Thuỷ Hoàng) sẽ thừa cơ nổi dậy. Thế mà sao đối ngoại thì không có cách nào để động đến một mảy may lông của quân Pháp, cũng chẳng thuyết phục được ai để giải vây cho, lại đi tàn sát dân mình, giận cá chém thớt, khiến cho dân bị cái hại “cháy nhà vạ lây”. Thật đúng như câu nói: “đào ao đuổi cá”, “nối giáo cho giặc”. Cây cối trước hết tự nó hủ mục sau mới bị sâu đục; nước mình trước hết không biết tự giữ thể diện thì người ta mới khinh mình; dân loạn bên trong, rồi kẻ địch mới nhân đó mà vào. Như thế loạn không phải chỉ từ bên ngoài mà ở ngay trong nước vậy…

Cho nên mới nói: không sợ thế giặc ngang tàng mà sợ lòng người rời rạc. Lòng người đã rời rạc, đã muốn chóng mất, thì dù có thành trì bằng kim loại, có ao nước sôi cũng phải bỏ mà chạy, ai ở đó chịu chết mà giữ cho!”.

Đoạn này, trích từ  Thiên hạ đại thế luận, Nguyễn Trường Tộ viết vào tháng 3-4 năm 1863. Trương Bá Cần dịch, công bố trong tập Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo (NXB TP.HCM - 1988, tr.110). Vậy mà cứ tưởng cụ viết trong thời đại y đang sống. Cứ Tưởng mãi ư? Thì cứ ăn mãi dưa bỡ. Cũng chán nốt.

Sau tập Ngày viết mỗi ngày, là Nhật ký của năm 2015, trậm trà trậm trật mãi mới lấy được giấy phép xuất bản, y tự nhủ, thôi thì né tránh chuyện thời sự cho nó lành. Lượn đi cho nước nó trong. Yên thân yên phận. Ai đời, những gì báo chí chính thống đã thông tin, tường thuật, bình luận công khai, vậy mà khi đưa vào sách, hệ thống lại sự việc đã diễn ra từng ngày, người ta cũng cắt béng, thiến luôn. Bảo hoàng hơn vua. May quá, cuối cùng gửi ra một Nhà xuất bản ngoài Hà Nội, lại khác. Chẳng c gì phải xóa đi những dòng, những chữ đã ghi nhận lại sự việc ấy.

Nói lên một tiếng nói trung thực mà đơn giản chỉ là ghi nhận lại những gì báo chí nước nhà, báo chí “lề phải”, báo chí của đoàn thể đã thông tin, cũng khó nốt. Thật ra cách quản lý này đã lạc hậu so với những gì đang diễn ra trên các hệ thống thông tin mạng. Làm gì có thể bưng bít được thông tin toàn cầu? Phải chấp nhận nó thôi. Chẳng có một “bức tường lửa” nào hữu hiệu cả. Đời sau, hàng triệu đời sau, nhân loại còn phải dựng tượng ghi công ông Google, ông Facebook... Công nghệ thông tin đã quyết định sự thay đổi vĩ đại vào nhận thức, đời sống của công dân toàn cầu.

Trong khi đó, ta tự làm khó ta. Ta tự làm khổ ta. Làm khổ nhau từng câu, từng chữ. Sợ bóng sợ vía. Sợ cái nỗi sợ vô hình chẳng rõ từ bao giờ đã thâm căn cố đế trong não trạng. Người cầm bút không thiếu tài năng ư? Y tin thế. Nhưng thiếu bản lĩnh, dũng cảm để vượt qua nỗi sợ hãi bởi tự mình đã hoạn, đã thiến chính mình ngay trên từng trang viết. Đọc giai thoại về nhà văn lớn Nguyễn Tuân, chẳng rõ hư thực ra sao, mà chắc là thực, đại khái ông Vang bóng một thời cho biết, sở dĩ ông tồn tại được là do biết sợ. Di cảo của nhà văn Nguyễn Minh Châu cũng nói đến sự nhu nhược của cái sự cầm bút.

Vừa rồi, có nhóm bạn trẻ mua bản quyền toàn bộ sách của nhà văn hóa Nguyễn Hiến Lê. Cũng là một cách P.R thương hiệu của một đơn vị làm sách tư nhân. Các em cho biết đợt đầu ra tái bản vài ba cuốn, trong đó, có Hồi ký Nguyễn Hiến Lê. Hỏi: “In bản nào? Bản trong nước hay bản in nước ngoài?”. Sau một lúc tranh luận, họ đành gác lại quyển đó. Nếu in bản do tác giả công bố ở nước ngoài, họ sợ. Mà với bản công bố trong nước, tái bản làm gì? Chẳng lẽ cứ lừa dối độc giả mãi sao? Bạn đọc thông minh lắm. Thừa biết các trò uốn éo hiện nay trong xuất bản.

Nghĩ cũng quái thật, hiện nay, tại một trụ sở nọ, bước vào trong, lập tức thấy một kệ sách. Đầy sách. Chỉ là sách “cúng cụ”. Ai muốn lấy thì lấy. Sách cho không. Đơn giản, sách thực hiện theo đơn đặt hàng của nhà nước. Phát hành ra ngoài ai mua? Cứ để hàng đống ở đó, ai tiện tay thì lấy, bằng không thì thôi. Tất nhiên, như mèo thấy mỡ, y lấy ngay. Về nhà nằm đọc mới nhận ra rằng, sách này của những tên tuổi lớn, có đóng góp cho văn hóa nước nhà. Tiếc là sáng tác, nghiên cứu, những gì tinh túy, tâm huyết nhất của họ lại không chọn, chỉ chọn in những bài nhì nhằng mà họ uốn éo một thời. Đau là chỗ đó. Người cầm bút nào có thể né tránh sự uốn éo đó, qua mỗi thời? Phải biết thương lấy họ. Cũng như thương lấy mình. Nó như Nguyễn Tuân, phải biết sợ để tồn tại.

Mới đây thôi, tại Hà Nội, có nhóm thanh niên gương biểu ngữ là câu thơ của nhà thơ nọ. Lập tức, bị công an “hốt” ngay. Mà câu thơ đó, nhà thơ uốn éo một thời. Một thời hoan nghênh, cổ xúy nồng nhiệt. Nay trưng ra lần nữa, ở thời điểm này, bỗng thấy buồn cười. Như một sự giễu nhại. Như một sự gây cười. Không ít người nhân cơ hội đó, “ném đá” tơi bời về phía nhà thơ. Chà, phủ nhận sạch trơn phần tinh túy khác trong sáng tác của nhà thơ nọ, đã có. Cách ứng xử ấy, nên chăng?

Mấy hôm nay, Sài Gòn mưa khủng khiếp. Từ những trận mưa kinh hoàng đó,  không ít trang thông tin, báo chí đã dùng từ “thất thủ”. “Thất thủ” theo giải thích của Đại từ điển tiếng Việt là “Không giữ được, để rơi vào tay đối phương” (tr.1548). Một bạn đọc cũng hài hước, khi đọc những bài báo ấy, bèn cảm tác bằng thơ như sau:

Lươn ngắn lại chê chạch dài
Hà Nội nào có hơn ai mà cười
Một cơn mưa lớn thoảng thôi
Là thành Hà Lội sụt sùi sóng rên
Thuế dân “chống ngập” tỉ tiền
Để cho nước lại dâng thêm mới tài!
Sài Gòn cũng rứa mà thôi
Phải đâu “thất thủ” trước trời bữa nay

Hay thật. Người Việt khéo đùa dai. Cách đùa ấy, nó thể hiện sự bất lực trước thiên nhiên, cụ thể là mưa. Chỉ một cơ mưa mà gây xốn trộn trong đời sống thường nhật là điều không bình thường. Rất không bình thường.

Thêm một điều đáng quan tâm, hiện nay cũng đang diễn ra một trò đùa nữa. Ai có thể chấp nhận? Rằng, bàn đến sự có mặt của cái quái thai Formosa không còn là sự cấm kỵ nữa. Trước đây, có vài cụm từ bị liệt vào hàng “nhậy cảm” cấm nhắc tới như Formosa, cá chết… thì nay đã khác. Đã được phép cho nói, cho phép bình luận trên báo chí chính thống. Vì lẽ đó, ông bạn già Nguyễn Đức Mậu - một nhà thơ nổi tiếng, mới có thể công bố bài thơ Formosa trên báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam số ra ngày 19.7.2016. Trước đó à? Còn xơi. Thế mới biết, sự thay đỏi về nhận thức thông tin, trong chừng mực nào đó, vấn đề nào đó đã có thay đổi nhanh hơn trước nhiều lắm. Bài thơ của anh Mậu nguyên văn như sau:

Miền Trung bị Formosa xả độc
Lão ngư dân buồn rầu quăn khói thuốc
Biển bây giờ đâu phải biển ngày xưa

Con trai lão bỏ nghề thợ lặn
Ra biển người thành phố làm thuê
Đã lâu không tin về

Con gái lão học tiếng Hoa, làm phiên dịch
Formosa vẫn đang tuyển thêm người
Ngày mai làm chài ra sao, ai biết?

Vợ lão hàng rong chạy chợ ngược xuôi
Cá bán ít người mua
Quang gánh lệch vai áo bạc

Đi biển không sống được
Đành thôi nghề, lão biết tính sao đây?
Không lẽ bỏ quê đến miền đất khác?

Mồ mã ông bà như tảng đá, gốc cây
Nắm xương bao đời dễ chi dời đi được?

Nhiều khi lão ra biển vắng người
Lặng nhìn con thuyền nằm chết khô trên cát

Nhiều đêm lão nằm mơ
Như thuở trước được bơi thuyền câu mực
Đêm đêm dập duềnh cá quẫy vệt lân tinh

Formosa là gì lão đâu có biết
Chỉ nghe sóng vỗ bờ nghẹn uất
Biển giờ đây như không phải biển quê mình

Đọc bài thơ nghèn nghẹn. Cần thiết hơn cả hàng triệu lần những tuyên ngôn, tuyên bố khác, rổn rãng ngôn từ, chữ nghĩa vu vơ. Nỗi đau ấy không của riêng ai. Bài thơ được in trên tờ Văn Nghệ càng có ý nghĩa thời sự về trách nhiệm của người cầm bút, vì ngay trang bìa, nơi măng-sết từ bao đời nay luôn luôn có dòng chữ định hướng: “Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội”.Miền Trung bị Formosa xả độc”. Vậy phải làm gì? Câu hỏi đó luôn là mối ưu tư của đồng bào cả nước. Ấy thế, trên trang web Thanh tra của Thanh tra Chính phủ, có thông tin: “Du lịch Formosa”: Ý tưởng “đánh thức” du lịch miền Trung:

“Điểm du lịch thứ nhất: Khu du lịch cá - thép - nơi diễn ra mối tình của nàng cá và chàng thép (vị trí tại Đèo Con - Khu Công nghiệp Vũng Áng - Hà Tĩnh). Tại đây, khách du lịch sẽ chứng kiến mối tình cá - thép và sự chung sống hài hòa qua các hoạt động du lịch trải nghiệm như: Đua mô-tô cá thép, cà phê cá thép, trải nghiệm 1 đêm ngủ trong bụng cá thép (khách sạn cá thép), tham quan bảo tàng các tác phẩm nghệ thuật từ cá thép...

Làng chài cá Gỗ - nơi nàng cá Gỗ sinh ra và lớn lên sẽ được tái hiện tại địa điểm bãi biển Hải Trạch - Quảng Bình trong điểm đến thứ hai. Tại đây, du khách sẽ được tìm hiểu về tổ tiên, nguồn gốc và huyền thoại về loài cá Gỗ, được ăn thử bữa cơm làng chài với cá Gỗ và tham gia chế tác, điêu khắc cá Gỗ...

Điểm đến thứ ba sẽ là khu du lịch “Thép đã tôi thế đấy...” là nơi chàng cá  - thép tu tập để vượt cổng Vũ Môn (địa điểm tại bãi biển Triệu An - Quảng Trị). Nơi đây là nơi sẽ kết nối 3 công viên chuyên đề độc đáo mang tên: Cá - cát; cá - gió và cá - nắng...

Điểm nhấn cuối cùng là khu du lịch cá - rồng: Nơi cá -thép tái sinh và hóa rồng tại điểm bãi biển Lăng Cô, Huế. Một trải nghiệm về quá trình hóa thân ngoạn mục của cá -thép gắn với hoạt động du lịch thú vị như: Thi thoát xác thành rồng, tham quan tượng đài cá thép hóa rồng, xem nhạc nước chủ đề cá hóa rồng... chắc chắn sẽ rất bất ngờ và thu hút du khách.

“Huyền thoại cá - thép là huyền thoại về một loại cá không chỉ biết bơi mà còn biết bay vì đã biết buông bỏ và thay đổi những đặc tính không phù hợp của mình để thích nghi và hòa mình với hoàn cảnh và môi trường mới. Huyền thoại cá - thép qua tour du lịch Formosa chính là huyền thoại của người dân miền Trung đầy bản lĩnh và trí tuệ, luôn có khả năng vượt lên nghịch cảnh để hoàn thiện chính mình”, TS.KTS Nguyễn Thu Hạnh, Chủ tịch STDe nhấn mạnh”.

Nghĩ gì? Xin miễn bình luận. Chẳng lẽ, đi ra phố, gặp Chí Phèo say rượu chửi cả làng Vũ Đại, ta đứng lại mà tranh luận phải quấy với nó?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 18.9.2016

 

mua-chinh-chienay-1R

Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa

Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi!

Có những lúc như thế. Thèm có thêm một khoảng thời gian nữa, dù ít ỏi. Để làm nốt cho xong việc gì đó. Nhưng rồi cũng không thể. Dẫu là một tích tắc. Phải chuyển qua việc khác. Những lúc đó mới thấy từng giây, phút quý báu biết dường nào. Ngược lại. Có lúc thời gian trống trải. Thừa mứa. Chẳng biết phải làm gì để giết hết một ngày.

Sáng nay, ngày chủ nhật. Trong tâm trạng đó. Rã rời. Bải hoải. Tự dưng chán ngán, ngao ngán hết mọi thứ. Ngồi nhìn qua ô cửa. Trời xanh đấy. Tiếng chim hót đấy. Nắng xanh đấy. Nhưng rồi, tự lòng mình đã quạnh hiu. Đã trống rỗng. Đã cũ rích. Chẳng tha thiết gì đến thế giới xung quanh. Cảm giác ấy, thỉnh thoảng lặp đi lặp lại. Sực nhớ đến câu thơ đã viết từ thời mới ra trường, lúc sống trong phòng trọ ở hẽm phía sau nhà thờ Vườn Xoài:

tôi khao khát được hồn lìa khỏi xác

nằm mê man cho hết chủ nhật này

khi nằm ngủ không gian thu hẹp lại

căn phòng tôi nhỏ bé tựa quan tài

Bây giờ, tâm trạng cũng thế. Lẻ loi. Đơn độc. Thế mới biết, sống ở tên đời, con người ta cần phải có một động lực gì đó. Có như thế mới nỗ lực vượt qua được tâm trạng ngao ngán của chính mình. Còn y? Y chẳng có một động lực gì cả. Có làm cũng thế. Không cũng thế. Chẳng khác gì mấy. Tự dưng lại cảm phục những người lánh xa cõi trần, lên núi đi tu, một mình một cõi. Vậy họ dựa vào đâu để ngốn hết một ngày, một đời? Chỉ có thể đức tin chăng? Hay vì gì khác? Y chẳng có gì khác. Viết hoài rồi cũng chán. Không thế, làm gì giết hết thời gian? Mà khổ nỗi, đôi lúc cảm thấy rằng cái sự viết cũng vô vị quá. Tẻ nhạt quá. Những gì đã viết, so với thời cuộc khốc liệt đang diễn ra lại có cảm tưởng như mình đang đi đứng trên mây. Chẳng ăn nhập gì với hiện thực xám xịt và chó đẻ đến tận cùng.

Sống?

Đôi lúc con người ta cũng phải né tránh những câu hỏi róng riết về trách nhiệm công dân. Nếu thế, trang viết đó cũng chỉ là một loại thuốc an thần. Nghĩ lại, mới thấy các ông nhà văn của dòng văn họ hiện thực phê phán Việt Nam hiện đại (1930-1945) lớn lao quá, vĩ đại quá. Họ bền chí đeo đuổi những vấn đề chính trị, xã hội, không thèm né tránh. Trong khi đó, những người viết báo, viết sách đương thời mà y ái mộ, họ đã viết được những gì? Chẳng nên khắt khe, nhưng thú thật, đọc chữ nghĩa chính thống thời buổi này chẳng khác gì uống một loại nước si rô ngòn ngọt. Chỉ có thế. Đã đứng ngoài cuộc đời. Đứng bên ngoài dòng chảy của xã hội. Mà cũng có thể, chính người cầm bút không đuổi kịp theo thời sự. Hiện thực xã hội vượt khỏi trí tưởng tượng của họ. Đã thế, lại không dám dũng cảm phản ánh lấy nó, làm sao có để lại được những gì cho người đọc? Nói như thế chắc rằng rất chủ quan. Nếu chế độ kiểm duyệt của của thực dân Pháp chỉ cần xách dép học tập theo một phần trăm cách quản lý như hiện nay, đố mà có Số đỏ, Tắt đèn, Bước đường cùng, Chí phèo…; sức mất mà có những bài báo ác liệt cỡ Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng v.v…

Mà nói đi cũng phải nói lại. Do không thể phản ánh hiện thực của thời đại đang sống, mỗi người cầm bút có cách lưa chọn khác nhau. Tùy họ. Cả thẩy đều đáng hoan nghênh. Ít ra với trách nhiệm về nghề, họ có cách để giúp bạn đọc tìm thấy niềm vui sống trong cuộc sống tẻ nhạt và bi thảm này. Có lần, nhà văn Sơn Nam cho biết, lúc Luật 10/59 của Ngô Đình Diệm ban hành, ông né tránh, giữ gìn sự an toàn, thiên lương của ngòi bút bằng cách mỗi ngày vào thư viện đọc tài liệu để viết quyển Tìm hiểu đất Hậu Giang, in từng kỳ trên tạp chí Văn hóa Á châu. Rồi sau đó, ông chú tâm khai thác chuyện khẩn hoang Nam bộ đầu thế kỷ XX với loạt truyện thuộc loại Hương rừng Cà mau. Ai dám nói đó không phải là dấu ấn làm nên tên tuổi Sơn Nam? Không dám đối mặt với hiện thực, người cầm bút có sự lựa chọn khác, miễn không xấu hổ với lương tâm là được.

Đáng sợ nhất là loại người thuộc loại “nhị hoa diện”, nói nôm na là “anh hề nhì”. Hãy nghe nhà văn Lỗ Tấn giải thích về vài hề này, khác với trước ở  chỗ “do kép già đóng, lúc đầu thì lấy lời can gian, sau chết theo chủ”.  Còn “anh hề nhì” thì sao? Anh ta khôn ngoan hơn nhiều: “Anh ta là trí thức, Anh ta biết chỗ dựa của mình là núi băng, nhất định không bền lâu, tương lai mình còn phải xu phụ người khác, cho nên được nuôi nấng, chia sẻ oai thừa, anh ta cũng phải giả vờ làm như mình không phải cùng một phường với tên công tử đó”.

Thánh thật, từ những năm 1930, từ hiện thực của Trung Quốc, Lỗ Tấn đã chỉ ra rõ mồn một: “Chúng ta chỉ cần theo dõi một tờ báo nào đó, chừng một tuần lễ, thì có thể thấy khi nó oán hận ngày xuân, khi ca tụng chiến tranh, khi thì dịch những bài nói chuyện của Bécna Sô, khi thì bàn vấn đề hôn nhân. Nhưng trong đó, nhất định phải có khi nó tỏ ra khẳng khái, hiên ngang, bất mãn đối với quốc sự; đó là nó sử dụng cái ngón sau  cùng của nó đấy. Cái ngón sau cùng đó, một mặt khác cũng che đậy làm cho người ta không biết nó là bồi bút, nhưng dân đen thì thấy rõ lắm rồi, và đưa điển hình đó lên sân khấu từ lâu rồi” (Lỗ Tấn tạp văn, bản dịch của Trương Chính - NXB VHTT - 2003, tr.511-512).

Có hiểu như thế, bởi vì thế, thời buổi này, hiểu được con người thật đang hoạt động trên trường văn trận bút cũng không dễ. Lầm chết. Đã nghĩ thế. Thế, dạo này, mỗi ngày, y làm gì? Thì, vẫn rị mọ cùng chữ nghĩa đầy thôi. Vẫn chú tâm tìm hiểu sự lắt léo của tiếng Việt. Và đã ghi bên lề quyển Truyện Kiều, khi nhìn về thời cuộc:

tìm lại vầng trăng non tiết thanh minh ngày ấy
vẫn tin nắng lên dẫu rờn rợn mưa buồn
lời quê như hạt thóc vàng ẩn sâu thớ đất
tiếng Việt ơi, sông suối lại về nguồn…

Mấy hôm nay, tranh thủ thời gian đọc bản thảo “Mùa chinh chiến ấy” của nhà biên kịch Đoàn Tuấn. Viết về thế hệ y lúc đi bộ đội làm “nghĩa vụ quốc tế” ở Campuchia. May quá, hắn ta viết hay, hấp dẫn nên chỉ đọc một đêm là xong. Chỉ mới chừng hơn 60 ngàn chữ. Tuấn vẫn đang tiếp tục viết. Khi in có lẽ phải bố cục, cấu trúc lại cho chặt chẽ hơn. Nhớ đấy nhé. Đây là một trong những chương xúc động. Cần ghi chép lại. Không thể lãng quên.

Đoạn này Tuấn kể lúc từ phum Cầu Sắt về phum Choăm Sre: “Trời tối, hỏi dân, họ chỉ nhà. Nhưng đến nơi, trưởng phum đi vắng. Có mỗi cô em ở nhà. Cô bé khoảng 15 tuổi. Áo xanh trứng sáo. Váy màu vàng tươi. Tóc thiếu nữ tuổi dậy thì mượt như nhung. Từ mái tóc tỏa lên một mùi hương dìu dịu. Đặc biệt, cô bé có gương mặt trái xoan, vô cùng dịu dàng và thanh tú. Đôi mắt mở to, tràn đầy cảm xúc. Gương mặt như tỏa ánh sáng trong đêm.  Cô bé giới thiệu tên mình là Naryn, nhưng ở nhà thường gọi là Tút, nghĩa là Nhỏ Bé. Còn tôi vụng về, chẳng biết giới thiệu tên mình. Cô bé nói, để em dẫn anh sang phum bên. Vì cô không biết khi nào anh cô về. Trong khi đó, chúng tôi cần xe bò vào sáng sớm mai. Tôi có ấn tượng thật đẹp không những về  ngoại hình mà còn về giọng của cô. Cô bé nói tiếng Kh’mer với những âm thanh đẹp như chim hót. Rõ ràng. Thánh thót. Ngữ điệu nói thật trôi chảy. Giọng của cô thật trong sáng, âm vang. Sự nhiệt tình của cô bé khiến chúng tôi đi ngay.

Trên đường, tôi hỏi chuyện. Cô cho biết, mình đang sống với anh trai và chị dâu ở đây. Anh chị có hai con. Trước, gia đình cô ở Phnom Pênh. Sau bị Pol Pot dồn về miền rừng núi. Cha mẹ cô không còn. Tôi hỏi vì sao, cô thản nhiên nói: “Bị Pol Pot giết”. Người Campuchia nói chuyện bi kịch của gia đình mình hầu như không cảm xúc. Bởi đó dường như là chuyện hiển nhiên của họ trong những năm tháng này. Đường sang phum bên phải qua một cánh đồng. Đang mùa gặt. Lúa để đầy ruộng. Dân bên này có phong tục, gặt lúa không thèm mang về nhà. Cứ vứt ngoài đồng. Chẳng ai lấy của ai.  Mùi rơm rạ dâng trên cánh đồng thoảng gió gợi lên không khí no ấm, yên bình. Trăng sáng, tôi nhìn rõ mồn một từng lượm lúa, từng hạt lúa. Bông bào cũng mẩy căng. Đất Campuchia tốt thật.

Đang đi giữa đồng, bỗng tôi nghe thấy hàng tràng tiếng chó sói tru lên liên hồi. Tiếng chó cất lên từ bìa rừng, tiếp giáp ruộng, cách chúng tôi không xa. Tiếng sói tru từ hồi này sang hồi khác, bay lên không trung vắng lặng ngập tràn ánh trăng, ngỡ vọng đến tận trời cao. Tôi bỗng nhớ câu chuyện đọc hồi bé, để không sợ tiếng thú rừng, hãy cất lên tiếng nói của con người. Và cũng để không khí giữa chúng tôi  đỡ căng thẳng, tôi hỏi cô bé bằng tiếng Kh’mer: “Sơ mua ây?” (Con gì thế?). Không ngờ, cô bé đáp rõ ràng từng tiếng:“Con chó  rừng!”. Tôi không tin vào tai mình. Trời ơi, cô bé nói tiếng Việt! Thật kinh ngạc và kỳ lạ, giữa chốn rừng núi hoang vu, giữa cánh đồng xa lạ thế này, tôi được nghe tiếng Việt, lại từ cái miệng xinh đẹp của một cô bé như thiên thần thốt ra. Thậm chí, cái từ “rừng” với chữ “r”’, cô bé còn uốn lưỡi khi phát âm. Dễ thương làm sao!

Ôi tiếng Việt thân yêu, từ ngày vào lính, từ ngày ngang dọc trên bao chiến trường Campuchia, tôi chỉ toàn được nghe giọng con trai, giọng đàn ông. Đêm nay, giữa nơi hoang vắng này, tôi lại được nghe tiếng mẹ đẻ từ giọng nữ. Giọng Naryn như sợi tơ vàng ánh biếc lung linh giữa cánh đồng. Tôi vội cúi xuống:’“Naryn, em nói lại đi! Nói lại đi em!”. Lời tôi như cầu khẩn, như van lơn. Nhưng Naryn im lặng. Hoàn toàn im lặng. Em không nói một lời nào nữa.

Đi tiếp một quãng, vẫn giữa cánh đồng, tôi bỗng bước lên, quỳ xuống hỏi: “Naryn, em là người Việt Nam phải không?”. Cô bé nhìn thẳng vào mắt tôi, gương mặt đầy xúc động, môi mím lại, gật đầu. Nước mắt cô bỗng trào ra. Và tôi, cũng trào nước mắt. Tôi ôm cô bé vào lòng. Em bé nhỏ nép vào tôi như một niềm tin cậy, chở che.

Tôi chợt hiểu, mấy từ tiếng Việt ấy, đã bao năm, em phải giấu kín trong lòng. Giấu kín giữa tứ bề nguy hiểm. Giấu kín suốt ngày và đêm. Giấu kín cả trong lúc tỉnh táo nhất. Giữa đám đông. Lúc một mình. Giấu kín cả trong những giấc mơ khủng khiếp, nhọc nhằn. Em phải giấu thân phận  là người Việt, để đi qua địa ngục trần gian. Và  tiếng Việt thân yêu của tôi, đã được em xinh đẹp và thông minh, giấu ở những miền sâu thẳm và đẹp nhất trong tâm hồn mình. Mấy từ tiếng Việt đơn sơ ấy, như những mạch ngầm của sự sống, vẫn chảy đâu đó trong tâm khảm em. Đã  bao lần em sợ hãi, run lên khi kẻ thù thẩm tra, kiểm soát.

Đêm nay, giữa một nơi không còn thù địch, giữa một nơi không ai nghe thấy, rất thoáng đãng và dịu dàng, mầm cây tiếng Việt bắt đầu đâm chồi trong em; dòng suối tiếng Việt bắt đầu róc rách trong em. Ôi tiếng Việt tội nghiệp của tôi! Ôi Naryn bé bỏng mà anh hùng của tôi! Tôi cảm nhận sức mạnh và sự vĩ đại của tiếng Việt, cảm nhận sức mạnh và sự vĩ đại của người Việt qua thân hình mảnh khảnh của Naryn”.

Đọc đoạn văn này, ứa nước mắt. Ôi tiếng Việt. Hiểu như thế, cảm như thế, lúc đi xa Đất Nước, được nghe lại tiếng nói của người Việt thì bất kỳ người Việt nào cũng xúc động chân thành như Tuấn đã trải qua. “Lời quê như hạt thóc vàng ẩn sâu thớ đất/ Tiếng Việt ơi, sông suối lại về nguồn”… Câu thơ này tặng Tuấn.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 13.9.2016

 

Thư ngày 15.1.1983thu-KPC-ngay-15.1---1-Rthu-KPC-ngay-15.1---2-Rthu-KPC-ngay-15.1---3-Rthu-KPC-ngay-15.1---4-R

 

Thư ngày 25.6.1883

thu-KPC--1-R-Quocthu-KPC--2R-Quoc

 

Thư ngày 15.7.1983

15.7-thu-KPC-115.7-thu-KPC-215.7-thu-KPC-315.7-thu-KPC-315.7-thu-KPC-415.7-thu-KPC-5

 

Thư 29.9.1983

thu--1-KPC-a-1thu--1-KPC-a-2thu--1-KPC-a-3thu--1-KPC-a-4thu--1-KPC-a-5

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 23.8.2016

ta-ty-1-Rnien-giam

 

Vụ triển lãm “Những bức tranh từ Châu Âu trở về” diễn ra từ ngày 10. 7.2016 tại Bảo tàng Mỹ thuật TP. HCM, dù đã kết thúc. Nhưng dư âm vẫn  còn. Bởi lẽ, dù được giới thiệu là các tác phẩm của các danh họa từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nhưng chiều ngày 19.7, bảo tàng này ra  thông cáo: “15 bức tranh thuộc bộ sưu tập của ông Vũ Xuân Chung đang triển lãm tại bảo tàng không phải bản vẽ do tác giả đứng tên thực hiện”.

Ấy là một cách nói chỉnh chu, cẩn trọng chữ nghĩa, dù không khẳng định dứt khoát nhưng công chúng ngầm hiểu nhấn mạnh đến số tranh này đều tranh giả.

Thiết nghĩ, sự cẩn trọng này là cần thiết, chỉ có thể khẳng định như “dao chém chuối”, như “đinh đóng cột” vì muốn kết luận cuối cùng phải có  thẩm định của hội đồng chuyên môn. Cùng lúc liên quan đến triển lãm này, bà Tạ Thùy Châu - con gái họa sĩ Tạ Tỵ gửi đơn kiện tới TAND TP.HCM. Bà yêu cầu những người liên quan đến bức tranh có tên “Trừu tượng” phải ra trước pháp luật vì đã mạo danh và giả chữ ký của bố bà trên bức tranh đó. Sở dĩ như thế, vì bức tranh này, họa sĩ Thành Chương chứng minh khẳng định mình chính là tác giả.

Tuy nhiên, sau khi nhận đơn tòa án yêu cầu phải bổ sung thêm chứng cứ, trong đó có khoản phải chứng minh công dân Tạ Văn Tỵ ký bút danh Tạ Tỵ.

Khi đọc thông tin này, không ít người thuộc giới sáng tác giật mình và thót lên: “Thôi rồi Lượm ơi!”. Câu ấy, nghe ra da diết, sầu não lắm vì có thể đẩy vấn đề đi vào ngõ cụt. Khác gì “đánh đố” nhau. Biết thế nào được. Đã nói đến chuyện pháp lý, đối chất trước tòa nhằm làm sáng tỏ một vấn đề nào đó, bao giờ “quan tòa” cũng thực hiện theo nguyên tắc: “Trọng chứng hơn trọng cung”.

Lâu nay, có một sự thật hiển nhiên: văn nghệ sĩ có quyền ký nhiều bút danh khác nhau. Nguyên cớ tại làm sao có bút danh đó, chẳng một ai có thể chứng minh rõ ràng, dù có nghe chính tác giả nói nhưng làm gì có “giấy trắng mực đen”, làm gì có “dấu đỏ” của cơ quan chức năng xác nhận?

“Đọc thơ Xương, ăn chuối ngự”, đó hai đặc sản của Nam Định. Có lẽ, do ái mộ Tú Xương nên hàng loạt cây bút viết trào phúng, châm biếm đều ký bút danh chữ Tú đứng đầu: Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Tú Quỳ (Phan Quỳ), Tú Sơn (Phan Khôi - “tout seul: cô độc), Tứ Kếu (Trần Đức Uyển), Tú Duyên (Nguyễn Văn Duyên), Tú Trần (Trần Lê Văn, tức Tú Nuy), Tú Sót (Chu Thành), Tú Lơ Khơ (Nguyễn Nhật Ánh), Tú Hợi (Lê Minh Quốc)… Còn có hàng loạt người khác nữa, như Tú Rua, Tú Da, Tú Gân, Tú Cốt, Tú Thịt, Tú Nạc, Tú Lông, Tú Sụn, Tú Trọc, Tú Ba Rọi, Tú Veo…

Thủ hỏi, có bao nhiều cách đặt bút danh nữa?

Trước đây, tạp chí Văn Học ở Sài Gòn (số ra ngày 15.3.1973) thực hiện chủ đề về bút danh, bút hiệu của văn nghệ sĩ Việt Nam. Trong số báo đó, nhà báo Thiên Tướng (bút danh của Vũ Bằng) có liệt kê, nay chỉ tóm lược đôi dòng:

Xuất phát từ đặc điểm vật chất hay tinh thần - như nhà văn Doãn Kế Thiện ký Bất Ác, nói được hai ý nghĩa, không ác là Thiện, mà bất ác còn là người hiền lành đúng như tính cách của ông; 2. Nhắc đến nguồn gốc địa lý - như Tản Đà: “Nước dợn sông Đà con cá nhảy/ Mây trùm non Tản cánh diều bay”; 3. Đảo lộn những con chữ trong tên thật, hoặc nói lái - như Nguyễn Thứ Lễ (Thế Lữ), Khái Hưng (Trần Khánh Giư). Mà “Lễ” đích thị là “lê ngã”, “ngã” là “ta”. Do đó, Thế Lữ ký thêm Lê Ta, mà đã có Lê Ta ắt phải có Lê Tây là vậy. 4. Từ nhân vật mà mình yêu thích; 5. Từ nghề nghiệp hay chức vụ; 6. Từ chữ Pháp được Việt Nam hóa - như Antoine Vensel (trợ bút báo Dân Chúng, tác giả truyện dài Con ma nhà chú Hỏa) ký Văn Sen; 7. Từ ngôi sao trong tử vi - như Thiên Hư (Vũ Trọng Phụng), Thái Bạch (Phạm Văn Giao), còn Vũ Bằng, mệnh lập tại thìn, có tử vi Thiên Tướng; 8. Phát sinh vì thời cuộc - như Bút Nguyên Tử (Dương Tấn Trương) vì lúc đó đang rộn lên về vấn đề “thời đại nguyên tử”; 9. Từ thể hiện cùng "trường phái" - như trường hợp “Tú”, hoặc “Tử” với Hàn Mặc Tử, Đồ Nam Tử, Thanh Tùng Tử, Cồ Việt Tử, hoặc trùng nhau như “Lang” với Nhị Lang (Dương Mầu Ngọc), Tam Lang (Vũ Đình Chí), Hoài Điệp Thứ Lang (Đinh Hùng) v.v… 10. Từ kỷ niệm thời thơ ấu, sự riêng tư, do tình cờ, ngẫu hứng; 11. Thể hiện lòng yêu nước, thương nòi v.v…

Những liệt kê này tương đối tạm đủ, dù còn có thể bổ sung thêm - như lấy từ câu nói trong kinh sách để nói lên chí hướng, tâm nguyện của mình, thường gọi “tên tự” Chẳng hạn, Trần Trọng Kim ký Lệ Thần, lấy từ câu trong Kinh Thi: “Nhược kim, dụng nhữ tác lệ”( Có công mài sắt, có ngày nên kim), Bùi Kỷ ký Ưu Thiên, lấy từ câu “Kỷ nhân ưu thiên” (Người nước Kỷ thấy trời thấp quá, luôn sợ trời sập)…Hoặc do từ tên thật mà rút gọn như Ngô Xuân Diệu (Xuân Diệu); giữ họ mà đổi tên như Phạm Kim Long (Phạm Thiên Thư); thay hẳn họ tên như Hà Huy Hà (Trương Khương Trinh) v.v… Khó có thể liệt kê cho xiết nguyên cớ ra đời của các bút danh/ bút hiệu/tên tự.

Lại có những trường hợp éo le hơn, dù là đàn ông đàn ang, “Râu hùm, hàm én, mày ngài/ Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao” nhưng lại ký tên phụ nữ, lấy gì chứng minh hả trời? Chẳng hạn, nhà báo, nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh ký Đào Thị Loan, Nguyễn Vỹ ký Lệ Chi, Diệu Huyền, Phạm Cao Củng ký Phạm Thị Cả Mốc, Lê Văn Trương ký Cô Lý, Hồ Dzếnh ký Lưu Thị Hạnh, Vũ Bằng ký Cô Ngã (lúc làm tờ Vịt Đực), Hoàng Thị Trâm, Hoàng Thiếu Phủ có lúc ký Hà Tiên Cô, Vũ Hạnh ký cô Phương Thảo, Trần Văn Thạch ký Trần Như Liên Phượng v.v… Rõ ràng, càng “chịu chết”!

Chưa hết, trường văn trận bút xưa nay, còn có thể liệt ra những bút danh/bút hiệu thuộc hàng độc: J.Leiba (Lê Văn Bái), tác giả những câu thơ hay, như: “Sầu đối gương loan, bóng lạ người/ Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai?”, “Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá! / Lệ lòng mong cạn chốn am Không / Cửa thiền một đóng duyên trần đứt / Quên hết người quen chốn bụi hồng”; Tchya (Đái Đức Tuấn); Tám Sẹc Ne - theo nhà văn Vũ Bằng lúc làm báo Dân Chúng, cây bút trào phúng Cát Hữu bắt chước theo cách gọi anh Ba, cô Tư của người Sài Gòn, còn Sẹc Ne (Charner - nay Nguyễn Huệ) là con đường đông vui, nhộn nhịp nhất; bí mật nhất cho đến này vẫn là T.T.Kh; nhân vật văn học nổi tiếng nhất ông Typn (Típ phờ nờ) trong kiệt tác Số đỏ, Ngym (họa sĩ Trần Quang Trân); Rit (Nguyễn Gia Trí) v.v…

Dù vậy, không chỉ đồng nghiệp mà ngay cả dư luận cũng mặc nhiên thừa nhận, chẳng hạn, Tú Mỡ bút danh của Hồ Trọng Hiếu, Tản Đà bút danh của Nguyễn Khắc Hiếu, Thiên Hư bút danh của Vũ Trọng Phụng, Phan Ngọc Hoan bút danh của Chế Lan Viên v.v… Tại sao họ ký bút danh đó? Không thể tìm được một chứng cứ gì rõ rệt, nếu hiểu theo nguyên tắc của pháp lý.

Xin dừng lại một chút với bút danh Thiếu Sơn.

Nói đến công dân Lê Sỹ Quý, chẳng mấy ai biết, nhưng Thiếu Sơn đã là một “từ khóa” của văn học Việt Nam hiện đại. Trong hồi ký của mình, Thiếu Sơn cho biết: “Đã từ lâu tôi đã có mộng làm văn sĩ và đã viết ít bài trên báo chí hàng ngày. Có báo cho đăng, nhưng phần nhiều không được đăng. Tôi muốn ký luôn tên họ thật của mình thì một người bạn khuyên tôi nên có một bút hiệu. Trước khi lấy bút hiệu Thiếu Sơn, tôi đã dùng nhiều bút hiệu khác. Thi sĩ Đông Hồ của Hà Tiên đã gửi thư cho tôi làm quen và hỏi về ý nghĩa của hai chữ Thiếu Sơn. Tôi trả lời là lòng người hoặc để ở sông hoặc để ở núi. Nhưng tôi thích núi hơn sông vì sông chảy mà núi đứng, Nhưng tôi không muốn nó già nua cằn cội do đó mà đặt là Thiếu (là trẻ) Sơn (là núi). Anh Đông Hồ khen hay nhưng sau khi gặp nhau và đã thân nhau rôi, tôi mới thú với anh là tôi xí gạt anh. Tôi ham coi hát Quảng Đông. Gánh lưu diễn tại Moncay (Móng Cái) cả tháng. Có anh kép hát oai phong lẫm liệt. Anh lấy tên Lầy Xỉu Sán, tức Lê Thiếu Sơn. Tôi mê anh, lấy tên anh làm bút hiệu của tôi vì hy vọng tôi sẽ múa bút trên văn đàn như anh múa kiếm trên sân khấu” (Thiếu Sơn nghệ thuật và nhân sinh - NXB Giáo Dục - 2008, tr.219).

Những dòng chữ này do chính tác giả viết, công bố  lúc còn sống, liệu có là chứng cứ trước tòa, nếu xẩy ra sự tranh chấp về bút danh?

Hơn nữa, có một sự thật phổ biến trong “trường văn trận bút”: “Đại diện Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xác nhận ở Việt Nam hiện chưa có cơ quan nào chứng nhận nghệ danh cho nghệ sĩ. Chính vì thế, không ít phiền hà đã nảy sinh như nêu trên. Việc đặt nghệ danh là quyền cá nhân, trong khi quản lý nghệ danh theo tên thật lại là việc của Bộ Tư pháp (Báo Người Lao Động số ra ngày 21.8.2016).

Vậy yêu cầu của tòa án buộc gia đình Tạ Tỵ phải chứng minh như  nêu trên, quả thật là điều không tưởng.

Tuy nhiên, cũng xin thưa rằng, từ thực tế đó, vẫn có thể căn cứ vào các tập kỷ yếu của hội, đoàn nghề nghiệp mà các văn nghệ sĩ đó đã/ đang sinh hoạt. Những thông tin về lý lịch, số nhà, số điện thoại, tác phẩm được công bố trong tập sách đó do chính họ cung cấp, có là một chứng cứ pháp lý?

Riêng về trường hợp Tạ Tỵ, y có tìm thấy một chứng cứ hết sức rõ ràng và thuyết phục: Năm 1970, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn Hóa (8 Nguyễn Trung Trực) của chế độ Sài Gòn có ấn hành tập sách Niên giám văn nghệ sĩ và Hiệp hội văn hóa Việt Nam (1969-1970). Sách dày 814 trang, khổ 16,5 x 24,5 cm. Danh sách của văn nghệ sĩ trong tập sách này xếp thứ tự chữ cái theo hệ thống alpha b.

ta-ty-2-1nien-giamR

Phần của họa sĩ Tạ Tỵ như sau (nguyên văn): “Tỵ (Tạ) sinh ngày 24.9.1922 tại Hà Nội. Hiện viết văn, làm thơ, vẽ. Cư ngụ tại: 18/8 Phan Văn Trị, Gia Định. Điện thoại: Quân sự 41.708. Thành tích văn hóa - Những tác phẩm đã xuất bản: Những viên sỏi, Nam Chi Tùng Thư, 1962; Yêu và thù, Phạm Quang Khai, 1969-1970. Cùng những họa phẩm lập thể triển lãm tại Hà Nội (1951), tại Sài Gòn (1956-1961). Tác phẩm dự định xuất bản: Hoài ca (thi phẩm), Triển lãm hội họa trừu tượng và 50 khuôn mặt văn nghệ sĩ. Tiểu sử: Tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội, 1943. Đã cộng tác với các Tạp chí văn học: Thế Kỷ, Quê Hương (Hà Nội), Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Sáng Tạo, Hiện Đại, Văn Học…” (tr.269).

Từ thực tế về việc văn nghệ sĩ bút danh vừa nêu trên, thiết nghĩ, chứng cứ từ kỷ yếu, niên giám nhằm “quản lý” họ cũng cần được chấp nhận như một chứng cứ pháp lý. Đối chiếu với các giấy tờ của công dân Tạ Văn Tỵ, ta sẽ thấy các thông tin trên là sự trùng khớp. Có như thế, vấn đề đang được dư luận quan tâm mới có hướng giải quyết rốt ráo.

Qua vụ kiện tụng này, vấn đề đặt ra lâu dài cho văn nghệ sĩ vẫn ở chỗ cần tiến hành đăng ký bản quyền không chỉ tác phẩm mà còn cả bút danh nữa, nếu muốn ngăn ngừa xẩy ra trường hợp rắc rối. Nghĩ cho cùng, trường hợp gia đình họa sĩ Tạ Tỵ không của riêng ai. Đây còn là một vấn đề thời sự, thiết thực khiến văn nghệ sĩ Việt Nam phải giật mình trước tình huống có thể xẩy ra mà họ, đồng nghiệp họ chưa lường trước và thật sự quan tâm đến.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.8.2016


tu_dien_1651

 

Thời điểm, Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum của Alexandre de Rhodes do Bộ truyền giáo in tại Roma ngày 5.2.1651, tiếng Việt thế nào? Ta thử tra cứu từ bản của NXB Khoa học Xã hội chụp lại và các ông Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính có thêm phần phiên dịch, in năm 1991. Đọc, để xem hơn 300 năm trước, lời ăn tiếng nói của người Việt, so với nay có gì khác? Dường như chẳng khác bao nhiêu. Sau đây là một vài từ, “lạ tai” với nhiều người. Mà cũng có thể không còn thông dụng nữa.

Chẳng hạn, “Ách”: Tai họa. Ngày ách: Ngày đen, ngày xui xẻo. Áy: Tàn úa. Câu Kiều: “Một vùng cỏ áy bóng tà”, trở nên dễ hiểu hơn. “Mót”: Đồ phế thải. Ăn mày, ăn mót cùng một nghĩa. “Ăn tạp”: Ăn thịt. Ngày ăn tạp: Ngày được phép ăn thịt. Nay, ta hiểu “ăn tạp” theo nghĩa khác là ăn “hầm bà lằng xắn cấu”, không có sự chọn lựa. “Áng ná”: cha mẹ. “Ánh tỏi: Tép tỏi, nhánh tỏi; “Áng hội”: Ngôi nhà trong đó có làm một cuộc cung hiến nào đó, như đền thờ v.v…; “Áo trui”: Áo trơn; “Ao”: Đo lại. “Ao gạo: Cân lại gạo cho đúng với cân hay đấu của mình; “Áp nhảm”: Người đui một con mắt. Ta hiểu là người bị chột.

“Bạc”: trắng; “Đỗ bạc người”: trú ở nhà người. Ở đậu ở bạc. “Bải, con bải đỉ bải”: người đàn bà dâm đãng, người đàn bà mãi dâm. Thành ngữ thuở ấy có câu “ Bẻ tiền bẻ đũa” nhằm chỉ việc ly dị: “Bẻ đồng tiền và những chiếc đũa dùng để ăn, là dấu hiệu tan vỡ của hôn nhân khiến người vợ từ lúc đó có thể lấy người chồng khác mà không có tội”. Ở phần giải thích “vợ/ rẫy vợ/ để vợ” có giải thích thêm: “Việc đó thực hiện với người An Nam bằng cách bẻ gẫy đôi đũa ăn và một đồng tiền bằng đồng, để trao cho vợ một phần, còn mình giữ lại phần kia, đối với người quý phái thì phải viết một tờ giấy rẫy vợ”. Tiền xưa đúc bằng kim loại nên có thể bẻ gẫy. Nay dùng tiền giấy, chẳng ai gọi gọi “bẻ tiền”. Câu thành ngữ trên, vì thế, mất đi vế đầu, chỉ còn vế sau. Mà nó còn tồn tại dài dài, vì người Việt trong bữa ăn hằng ngày sức mấy bỏ đũa qua dùng nĩa, muỗng, dao… như người phương Tây. Có người bạn của y sắp ra quyển sách “Ăn đậu bằng đũa”. Ai đời dùng đũa gắp trong trường hợp này, phải dùng tay chứ? Ấy là một cách nói về tiếp nhận sự khác biệt văn hóa một cách ba rọi.

“Bén”: dính, bám. Hiểu thể đọc những câu ca dao, thành ngữ này, dễ cảm nhận hơn. “Bao giờ cho gạo bén sàng/ Cho trăng bén gió, cho nàng bén anh”; hoặc “Quen hơi bén tiếng”, “Đến với đây như cây bén rễ/ Không thương mình hồ dễ thương ai”. Đồng nghĩa với “bén” còn ghi nhận áp, giáp. “Bết: Cuối cùng; “Bộ, cậu bộ”: Người bị thiến, hoạn quan. Từ “bộ” còn lưu lại trong câu: “Đẻ ông bộ cho làng nhờ”, nay đã mất hút theo cái chế độ quân chủ đã cáo chung từ năm 1945. “Bội, cái bội”: Nhà làm giả vì mê tín dành cho người chết; “Bợ”: Đi xin tiền. Vậy "nịnh bợ" là hiểu theo nghĩa đó; “Bợm, con bợm”: Gái điếm...

“Đi chợ đi búa”: Đi đến nơi hội họp của người bán. Nay, còn nghe “chợ búa”. Tương tự, hôi hám thì “hám: hôi thối, thối hám: xông mùi hôi nặng”; tre pheo thì “pheo” là tre; gớm ghiếc thì “ghiếc”: buồn nôn. Gớm ghiếc còn tồn tại, gớm ghỉnh nay đã mất; “bời” là nhiều, “chơi bời” là chơi nhiều; "thiết,thảm thiết" là yêu nhiều; “áo bực”: áo buồn thảm, áo tang. Suy ra “buồn bực” nghĩa là buồn như đang có tang, chứ không hiểu theo nghĩa hiện nay là buồn bã, bứt rứt khó chịu trong lòng v.v…

“Con cái”: con trai và con gái. Từ đó suy luận ra: “Em về nuôi cái cùng con/ Anh đi trẫy hội nước non Cao Bằng” là lời nhắn nhủ của người chồng dặn dò vợ nuôi các con, con trai con gái, “có nếp có tẻ”, chứ “cái” ở đây không chỉ về người mẹ. “Cạp đèn”: Khêu đèn. “Mua chung mua chạ”: Mua cùng một trật do tiền của nhiều người góp chung lại. “Chấm”: chạm tới. Áo dài chấm đất. Tay chấm đất: Tay chạm tới đất. “Chước, ngủ một chước”: ngủ một giấc. “Cắn cỏ”: Để tỏ dấu khiêm tốn trước mặt ai hầu xin ân huệ, dường như tự xưng mình là súc vật; “Cọ”: Lau chùi, đánh bóng; “Mồ côi mồ cút”: Người mồ côi cả cha lẫn mẹ v.v...

“Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai/ Nước sông trong chảy lộn sông ngoài/ Thương người xa xứ lạc loài tới đây”. “Tế: tế lễ” nhưng “tế ngựa” là chạy bằng ngựa. “Dái”: sợ. Thành ngữ còn nhận: “Khôn người ta dái, dại người ta thương, dở dở ương ương người ta ghét”, “Quen dái dạ, lạ dái áo”. Đồng nghĩa với “dái” là “khớn/ kinh”. “Dấu”: Mơn trớn, âu yếm. Yêu dấu là yêu thương, mơn trớn. "Na" cũng có nghĩa tương tự. Nhưng "nấc na" là khóc nức nở. “Dể”: Khinh. Dễ ngươi: xấc láo. "No" là no nê, dồi dào, đầy đủ. "Đã no mặt" mọi người đã có mặt, không sót một ai v.v...

Quái nhỉ, tại sao “Dim, con mắt lim dim” lại là: “Mắt nhắm một nửa vì có ghèn, có nhử”? Trong đó, phần “lim dim” lại giải thích: “Mắt tự nhiên nhắm một nửa. Lim: con mắt lim dim vì buồn ngủ”. Trong bài dân ca Trống cơm có câu: “Một đàn tang tình con xít/ Một đàn tang tình con xít/ Ố mấy lội, lội, lội sông/  Ố mấy đi tìm, em nhớ thương ai/ Đôi con mắt ố mấy lim dim”. Ta hiểu là con mắt chưa nhắm hẳn, còn hé mở. “Dùi”: cái dùi chuông. Một dùi, hai dùi: Một lần đánh kêu, hai lần đánh kêu. Nay ta hiểu là “hồi/ hồi chuông”. “Dững”: Tất cả. Dững rừng: Tất cả là rừng v.v...

“Đàn, bát đàn”: Bát thường, bát thô bằng đất; “Đang, đèn: Đèn. Tiền đang hỏa: Tiền dầu đèn tù nhân phải trả. Chi tiết này, gợi mở cho những suy nghĩ về “chế độ lao tù” dưới thời vua Lê chúa Trịnh. “Đanh”: Mỏ neo; “Đắnh”, tức “cái ấy” của người phụ nữ  "Lời nói phải tránh", vẫn còn tồn tại đến nay. Với người đàn ông, gọi là “con lô”.  “Lô ra” là đi trần truồng. Về sau, "lô" biến âm của từ "lõ" chăng? “Trái điếc”: Trái cây không ra trái. “Đợ con”: Cầm cố con. “Bán vợ đợ con”. “Làm đồ”: giả đò, làm bộ. “Đòi”: Người trên gọi người bề dưới v.v...

Khi đọc câu thành ngữ “Đội cầu thờ bụt” có lẽ nhiều người không rõ nghĩa. Thì đây, “Nhiều người mang trên đầu một tấm lụa (làm thành như chiếc cầu) mà người Lương dân nghĩ rằng các vị thần hay người chết đi qua trên đó”. “Người Lương dân” tức người thờ đạo ông bà, không vào đạo Chúa. “Đội ơn”: Mang ơn trên đầu, nghĩa là cám ơn...

“Đợt, cái đợt”: Ngăn kéo, bàn viết, những cái ngăn của rương tủ. Dấu vết của “đợt” ta có thể tìm thấy câu nói như “từng đợt sóng xô bờ”.  Xuân Diệu có câu thơ: “Yêu với căm, hai đợt sóng ào ào/ Vỗ bên lòng, dội mãi tới trăng sao”, là hiểu theo nghĩa từng lớp nhô lên đều đặn kế tiếp nhau. Nay chẳng còn dùng từ “cái đợt” nữa. “Đồng thân”: người con gái còn trinh tiết. Đồng còn đồng nghĩa với gương, vì vật dụng đó bằng đồng/ gương để dùng soi mặt. “Làm đồng làm cốt”: Bà phù thủy nhìn vào gương để làm phù chú. Thầy đồng: Thầy phù thủy sử dụng gương, chiếu kính. Rõ ràng “lên đồng/ ông đồng bà cốt” tồn tại đến nay vẫn còn hiểu theo nghĩa đó.

“Đú, voi đú”: con voi dữ; “Đũi, cái đũi”: Cây lụa dệt bằng tơ cặn con tằm, vải đũi. “Mẹ sắm con cái yếm nhất phẩm hồng/ Thắt lưng đũi tím, nhẫn hồng đeo tay”.  “Vải đũi” là vải dệt bằng tơ, nhưng “đũi cỗ”, “đũi tằm” thì lại khác, từ điển của Hội Khai Trí Tiến Đức ấn hành sau từ điển của Alexandre de Rhodes tròn 280 năm ghi nhận: “Giá đóng nhiều tầng”. “Gam”: Số, thăm. Bẻ gam/ bắt gam: Rút số bằng que găm để biết người ta sống lâu hay chết yểu. Có thể hiểu, đây chính là “xăm/ xin xăm” chăng? À, xem bói bằng cách xem chân gà đã có từ đời tám hoánh. “Xem giò: Bói bằng cách nhìn ngắm chân gà. Đó là việc mê tín mà người Lương dân An Nam khắp nơi sử dụng trong hầu mọi công việc họ sắp khởi sự” v.v...

“Dòm giỏ bỏ thóc" thường hiểu theo nghĩa như Nguyễn Đức Dương giải thích trong Từ điển tục ngữ Việt: "Nên xem kỹ cái giỏ (có lành lặn hay không) rồi hẳng bỏ thóc vào (cho đỡ bị rơi vãi)". Có thật "giỏ" là cái giỏ? “Giỏ miệng lại”: xen vào lời nói khác để cắt đứt câu chuyện của người ta, chõ miệng”. Đơn giản chỉ là xem có bao nhiêu người, miệng ăn để tính toán cho đủ, cho đúng, không dư thừa. Mấy câu thơ thiên hạ bịa ra, gán ghép cho anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ còn lưu truyền đến nay: “Ả ở nơi đâu bán chiếu gon / Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn/ Xuân xanh phỏng độ bao nhiêu tuổi/ Đã có chồng chưa, được mấy con?”. Thử hỏi, “gon” nghĩa là sao? Đại từ điển tiếng Việt và nhiều từ điển khác cũng giải thích: “Cỏ dùng để dệt chiếu, đan buồm: chiếu gon”. Xin bổ xung, “Gon, chiếu gon”: Chiếu mịn”, cách giải thích này còn hàm nghĩa về về tính chất nữa. “Hin, béo hin hin”: Béo phì nộn v.v..

Lại biết thêm một quan niệm khác của người Việt xưa: “Được rắn hổ đầm”. Rắn thì dễ hiểu rồi, “hổ đầm” là thế nào? “Con rắn mà người ta bày đặt nó ở trên trời và người ta tưởng ai gặp được nó thì sẽ hạnh phúc”. Lẩn thẩn tự hỏi, vậy câu: “Gặp rắn thì đi, gặp quy thì về”, ngoài cái nghĩa con rắn trường nhanh, lanh lẹ; con rùa chậm chạm ngụ ý công việc hanh thông hay chậm lụt, còn do từ quan niệm trên chăng?

Đọc câu chuyện cười khá lâu rồi, đại khái, anh chàng nọ sau dài ngày đi công tác về nhà, đột nhiên bắt gặp kẻ lạ nằm ngủ chung với vợ mình. Anh ta tức giận đùng đùng nắm cổ áo của hắn, quát to: “Bây giờ mày muốn gì?”. Hắn ta trả lời hiên ngang: “Có giỏi thì báng đi”. “Báng" là "húc": Con vật tấn công bằng sừng như con cừu, con bò v.v…”. Nhân vật “ông Phán mọc sừng” của nhà văn Vũ Trọng Phụng là kẻ bị vợ ngoại tình, cắm sừng. Nay, ít ai dùng từ “báng” nữa.

Anh chàng kia vừa thi đậu, bạn bè chúc mừng và bảo: “Khao đi”. Nhưng nghĩa “khao” thời trước lại khác: “Sự tế vị quỷ thần hay người chết để họ đừng làm hại thêm nữa. “Khao lao” cùng một nghĩa. “Đưa khao”: Tống khứ quỷ thần hay những người chết để họ đừng làm hại nữa, bằng cách sắm thuyền, ngựa và tất cả những đồ khác bằng giấy, rồi đốt đi, hay quẳng xuống dòng sông đang chảy để các thứ ấy không trôi trở lại được”. “Kháo”: rất khôn ngoan. “Khứng": muốn; “chẳng khứng”: chẳng muốn; “Lệ”: lo sợ. “Lệ gì” là sợ cái gì? Văn tế của cụ Nguyễn Đình Chiểu có câu:

Đêm thấy bòng bong che trắng lốp, những muốn ăn gan;
gày xem ống khói chạy đen xì, toan ra cắn cổ.

“Trắng lốp” ấy, trước cụ Đồ Chiểu tròn 210 năm, Alexandre de Rhodes ghi nhận “trắng lộp”: rất trắng. “Mạt”: Cuối hay tận cùng của vật gì. “Mả mạt”: Những mồ mả không còn hiệu lực phát quan chức cho những người liên hệ với người chết chôn táng trong đó, người Lương dân nghĩ một cách khờ dại như vậy”. Ngược với “mả mạt” nay, người ta thường bảo “mả kết”, không rõ thời Alexandre de Rhodes, từ đó đã sử dụng chưa? “Nôm, con nôm”: con ghẻ. "Thép: được nuôi dưỡng bằng của bố thí hay dư thừa của người khác" như ăn thép, bú thép v.v...

Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum, vần F cho biết: “Tất cả những gì có thể viết bằng f. thì sẽ việt bằng Ph. để phát âm phương ngữ này cho thích đáng hơn”.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 25.7.2016

LOICUOIVOI-NHA-VAN-DI-XA-1R

 


Những người thích đùa là tập truyện ngắn châm biếm nổi tiếng của nhà văn Axit Nexin. Khoảng thập niên 1980, đọc qua bản dịch của Thái Hà, bạn đọc Việt Nam hoan nghênh ghê gớm. Đi đến đâu cũng nghe bạn bè hỏi: “Đã đọc Những người thích đùa chưa?” Còn nhớ lúc đó cười lăn cười bò với Hội nghị các nhà phẫu thuật. Đại khái tại thành phố nọ diễn ra một hội nghị y học mang tầm quốc tế. Các nhà bác sĩ, các nhà chuyên môn tài ba, lỗi lạc nhất thế giới cùng về dự tranh tài. Có người báo cáo đã thí nghiệm thành công việc thay đổi vân tay trên đầu các ngón tay; có người giới thiệu phát minh về một loại keo dán lại đầu người dù nó đã lìa khỏi cổ nhưng người đó vẫn sống trơ trơ; có người báo cáo công trình “cải lão hoàn đồng” cho một phụ nữ 65 tuổi trở thành thiếu nữ 18 xuân xanh v.v… Tóm lại, công trình của vị bác sĩ phẫu thuật nào cũng khiến cả hội nghị trầm trồ, thán phục, kinh ngạc.

Cuối cùng, giải nhất thuộc về ai?

Có một vị bác sĩ bước lên diễn đàn trình về phẫu thuật cắt amiđan! Cả phòng cười rộ lên trước “cái trò trẻ ranh ấy”. Có nhiều truyện ngắn hay, rất thâm thúy, sau khi đọc xong, có thể quên hết các chi tiết dẫn chuyện. Thế nhưng với câu “chốt hạ” cuối cùng, nếu “nặng ký”, sáng giá và bất ngờ thì lập tức nó sẽ “đóng đinh” trong trí nhớ người đọc. Càng tạo nên hiệu quả về giá trị nghệ thuật. Chẳng hạn, câu kết trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao là một thí dụ: “Tài thật! Tài thật! Tài đến thế là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo”.

Với truyện ngắn Hội nghị các nhà phẫu thuật, câu kết thúc thế nào khiến “Vẻ giễu cợt trên mặt các quan khách vụt biến mất, nhường chỗ cho vẻ kính phục sâu sắc đối với diễn giả. Những tràng vỗ tay vang lên như sấm. Toàn thể các nhà phẫu thuật dự Hội nghị quốc tế lần thứ mười đều nhất trí thừa nhận phẫu thuật cắt amiđan của các vị bác sĩ ấy là sự kiện lừng lẫy nhất trong lịch sử y học”?

Qua các đối thoại, bạn đọc được biết vị bác sĩ này đã cắt amiđan cho một nhà báo. “Các đại biểu lại phá lên cười rũ rượi: - Nhà báo, nhà buôn, viên chức hay anh lính thì có khác gì nhau?”. Đúng thế, chẳng có gì quan trọng cả. Hãy nghe nhà văn Axit Nexin đặt vào mồm nhân vật câu này: “Xin các vị trật tự! Vâng, thưa các vị, không có gì khác nhau. Nhưng vì hồi đó vừa ban hành luật báo chí, các nhà báo không sao mở mồm ra được, nên tôi buộc lòng phải cắt amiđan cho anh ta thông qua đường… hậu môn!”.

Những truyện ngắn hiện thực phê phán trước năm 1945 của nhà văn Nguyễn Công chẳng kém cạnh gì, thậm chí còn nổi trội hơn nữa là khác.

Nhắc lại mẩu chuyện này vì mới đây thôi, trong ngành phẫu thuật nước nhà vừa xẩy ra sự cố bi hài đến khiếp. Đố Axit Nexin có thể tưởng tượng ra nổi. Đó là chuyện của bệnh nhân nọ đau chân trái nhưng bác sĩ bệnh viện Việt-Đức (Hà Nội) mổ nhầm chân phải! Oái oăm chưa? Ly kỳ chưa? Kỳ diệu chưa? Đồng nghiệp Mr. Bim bình luận ngắn mà xốc: “Đến hột vịt lộn còn lộn huống hồ bác sĩ. Xui thôi, xem như được khuyến mãi đi”.

Khi nhắc đến từ “khuyến mãi” ắt người tiêu dùng, đi mua hàng, nhất là các bàn nội trợ khoái chí nhào vào ngay. Miêu tả cảm giác của sự hào hứng ấy, còn nhớ thời trước có cụm từ “Sướng rêm mé đìu hiu”, nay đã thay đổi, ví như “Phê như con tê tê”. Ai cũng biết, “hột vịt lộn” là trứng vịt đã ấp thành  con ở bên trong, và “lộn” là nhầm lẫn, lẫn lộn. Cả hai đồng âm, chẳng ăn nhậu gì với nhau, đứng cạnh nhau hóa ra gây cười một cách lý thú.

Đang làm quyển Lắt léo tiếng Việt. Tiếc không có thời gian để toàn tâm toàn ý. Đang viết cái này phải lộn qua thứ kia. Về từ “lộn”, thành ngữ có câu “Lộn thừng, lộn chão/ Nói lộn rồng lộn rắn/ Lộn chồng trốn chúa/ Lộn con toán, bán con trâu” ắt hiểu theo nghĩa lẫn lộn, chung chạ, rối rắm, lộn đầu lộn đuôi chẳng bề nào ra bề nào. “Tốt như rồng lộn”, nay ít nghe ai sử dụng, từ điển của Huình Tịnh Pauslus Của giải thích: “Rồng uốn mình quanh lộn; bộ lịch sự, xinh tốt”. Từ “rồng lộn” qua cách giải thích trên - từ năm 1895 đến thập niên 1930 đã khác. Bằng chứng trong tập Dòng nước ngược, qua bài thơ Lỡm cô Ngọc Hồ, nhà thơ Tú Mỡ có câu: “Hồ tù ngán nỗi con rồng lộn/ Ngọc vết thương tình kẻ cố đeo”. Sướng chưa? Đọc lái đi. Ngày còn thơ bé, những đứa trẻ lúc tinh nghịch quá thế, thường bị mẹ mắng: “Con ranh con lộn”. Mắng là mắng thế, nhưng mẹ vẫn thương con nhất nhà.

Trong một ngữ nghĩa nào đó, “lộn” cũng có nghĩa là “lên” chăng? Nếu “lộn ruột” là điên tiết; đau cả ruột thì “lên ruột” cũng được hiểu như thế. Bằng chứng từ thập niên 1960, trên tạp chí Phổ Thông của nhà thơ Nguyễn Vỹ có chuyên mục Thơ lên ruột. Các bài thơ tếu táo, châm biếm, đả khích, Nguyễn Vỹ ký bút danh Cô Diệu Huyền.

Quái lạ, cho sự liên tưởng thông qua những gì đã đọc. Từ cái hột vịt lộn, lại nhớ thời bé đã đọc truyện ngắn Thời nhỏ, có lần đọc truyện ngắn Miếng thịt vịt của nhà văn Vũ Hạnh. Thích quá. Trưa qua, thức dậy, với lấy trên đầu gường, lật đúng y trang có truyện ngắn đó. Đọc lại. Lại không còn cảm giác thích như trước nữa. Chỉ thích chi tiết này: “Thủ Tự có được bốn con bò cái tuy cày hơi yếu, nhưng vùng đất cát người ta chỉ cần sức cuốc. Nuôi bọn bò cái vì nó đái nhiều, tốt phân. Hai anh bò đực thiệt lớn, ráng sức đái một trận không bằng một chị bò cái xề xề đái rất lửng lơ”. Không phải ngẫu nhiên thành ngữ có câu “Đái như bò đái”. Đoạn văn trên quan sát quá giỏi. Nhà văn, nếu không biết quan sát thì viết cái gì?

Trở lại với vụ phẫu thuật. Nghĩ rằng, lãnh vực nào cũng có những kẻ cẩu thả, vô trách nhiệm.Ở văn chương trường văn trận bút, y biết lại có những người chỉnh chu, cẩn trọng và rất ý thức với công việc đang làm. Xin kể chuyện này: Nhà văn Trần Thanh Phương được bạn đọc cả nước thán phục là do mấy chục năm qua vợ chồng anh bền bĩ, kiên nhẫn cắt, dán các bài báo và sưu tập theo từng chủ đề. Nhờ vậy, mới đây thôi, anh đã công bố một quyển sách mà trước đó chưa có ai làm. Một quyển sách nặng về tình, về nghĩa và nhất là có liên quan đến đồng nghiệp đã xuôi chèo mái mát ở suối vàng.

Trước lúc đặt bút viết đề cương, vợ chồng anh nấu một mâm cơm cúng chung những người sẽ xuất hiện trong tập sách này đã về cõi âm. Sau khi sách in xong, anh ghi rõ ở bìa bốn: “Sách không bán”. Rồi lại làm mâm cơm cúng như một cách tạ ơn lần nữa. Anh lầm rầm khấn vái: “Trước hương khói, người sống chỉ cố gắng nhắc lại thật tóm tắt đôi điều tốt đẹp nhất của người quá cố. Và đó là những lời cuối cùng thương tiếc nặng lòng nhất của người đang sống gửi qua sông núi, mây trời vào nơi nhà văn, nhà thơ còn nán lại ít phút cuối cùng trước khi đi xa mãi mãi. Nếu chết mà có linh hồn, xin người ở cõi âm nhận tấm lòng thành  của người cõi dương”. Cảm động quá. Nghe rưng rưng.

Tập sách này có tên Lời cuối với nhà văn đã đi xa (NXB Hội Nhà văn-2016), là điếu văn của 107 nhà văn quá cố. Xưa nay, ở Việt Nam ta chưa hề có một tập sách kiểu như thế này. Đọc và nhận ra rằng, cách đọc điếu văn mỗi thời mỗi khác. Trước đây, ngay lúc hạ huyệt người trong ban tổ chức (hoặc gia đình) đọc và sau đó đốt luôn điếu văn; nay, điếu văn đã đọc khi quan tài còn đặt trong nhà tang lễ. Cách làm nào cũng được, miễn chân thành, ấm cúng, xúc động nhằm tưởng nhớ, thương tiếc người đã khuất. Việc làm của nhà văn Trần Thanh Phương trong thời buổi này có thể ghi nhận “hiếm” và “lạ”. Trân trọng và đáng quý ở chỗ cái tình, cái nghĩa. Tình nghĩa ấy bất vụ lợi.

Đôi khi chẳng cần đi Đông đi Tây, đội đá vá trời, chỉ làm những việc nho nhỏ cũng đã là một đóng góp chung. Cuộc sống nhố nhăng ra làm sao thì kệ. Con người ta vẫn buộc phải sống. Mà sống ắt phải kiếm việc làm đặng tự nuôi sống bản thân, chứ chẳng lẽ suốt đời ăn bám lấy bố mẹ? Kiếm việc làm thời buổi này có dễ dàng không? Câu hỏi nghiêm túc và "trầm trọng" ấy, có thể trả lời qua một bài thơ, được không? Ơ hay, sao lại không? Vừa rồi bài thơ lục bát “Thực trạng sinh viên ra trường” được dân cư mạng đã dành hơn 11.000 lượt "like", 4.000 lượt chia sẻ và vô số bình luận khác nhau. Bài thơ này được cho là của một tác giả có tên H.M.N.

Đầu đường Xây dựng bơm xe
Cuối đường Kinh tế bán chè đậu đen
Ngoại thương mời khách ăn kem
Các anh Nhạc viện thổi kèn đám ma

Ngân hàng ngồi dập đô la
In giấy vàng mã, sống qua từng ngày
Sư phạm trước tính làm thày
Giờ thay kế toán, hàng ngày tính lô.

Điện lực chẳng dám bô bô,
Giờ đang lầm lũi phụ hồ trên cao.
Lập trình chả hiểu thế nào,
Mở hàng trà đá, thuốc lào... cho vui

Nông nghiệp hỏi đến ngậm ngùi
"Số em chắc chỉ tiến lùi theo trâu"
Nhìn quanh, Thương mại đi đâu?
Hóa ra là đã nhảy tàu đi buôn....

Ngoại ngữ vẻ mặt thoáng buồn
Đang ngồi viết sớ, kiêm luôn bói bài.
Báo chí buôn bán ve chai
Giao thông đi chở thuê ngoài Đồng Xuân.

Bách khoa cũng gặp đôi lần
Buôn đồ điện hỏng, kiếm cân dây đồng
Mỹ thuật thì đang chổng mông
Đục khắc bia mộ, cũng mong lên đời

Mỏ địa chất mới hỡi ôi
Sáng thồ hai sọt, chào mời mua than
Thuỷ sản công việc an nhàn
Sáng cân mớ cá, cuối làng ngồi rao...!

Hàng hải ngồi gác chân cao
Bao giờ trúng số mua tàu ra khơi
Bác sĩ, y tá có thời
Học xong về huyện được mời chích heo...

Đọc xong bài thơ dù chua chát nhưng lại bật cười. Cười bởi cái sự “nói vống” lên, do đó, tự nó đã mang yếu tố hài hước. Sống, cần hài hước một chút.  Chứ nhìn vấn đề gì cũng "vấn đề, rất vấn đề", thấy tình hình nào cũng "tình hình rất tình hình" khiến mặt, mày, miệng, mũi, mắt, môi lúc nào cũng khó đăm đăm, nhăn mày nhíu trán như ông cụ non thì chơi với ai?


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 6.7.2016

 

leminhquoc-TRUA-CAM

 

Có một thói quen đáng khen là những lúc đi chơi xa, y thường đem theo sách để đọc. Một quyển sách, đọc nơi này cảm nhận thế này nhưng lúc đến không gian khác lại cảm nhận thế kia. Cảm xúc từ những chữ lạ lùng chưa? Mới đây thôi nằm dài trên bãi biển Mỹ Khê (Đà Nẵng), đọc tập thơ của người bạn, người em mà vỗ đùi cái đét và nói như Tản Đà là “bược cười”. Phải thế chứ. Ngô Nguyệt Hữu viết rằng: “Con đường có lắm lá me/ Có gã nhà báo vỉa hè gọi bia”.

Thì ra, Sài Gòn thời này đã nhộn nhạo, sôi động, ồn ào khác trước nhiều lắm. Thời mới ra trường, y thường đến “đại bản doanh” của giới văn nghệ Sài Gòn là 81 Trần Quốc Thảo - trụ sở của Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật. Ở đó, y hay gặp nhà thơ Diệp Minh Tuyền. Có lúc nghe anh ngâm nga: “Con đường có lá me bay/ Chiều chiều ta lại cầm tay nhau về”. Rõ ràng, Sài Gòn chừng hai mươi năm trước vẫn còn yên ả lắm. Làm gì náo nhiệt cỡ như ngồi “vỉa hè gọi bia” loạn xạ, náo nhiệt như thời buổi này.

Nói đến Sài Gòn không thể không nhắc: “Hàng me xanh ngắt / Có tự bao giờ/ Mà nay đứng đó / Cho em làm thơ” (Nguyễn Nhật Ánh). Trong Sài Gòn tạp pín lù, cụ Vương Hồng Sển cho biết từ thời Pháp: “Khi qua đây, ban đầu họ trồng xoài, tiện lợi là xoài cho trái, sanh hoa lợi, đến mùa bán đấu giá, lấy tiền nộp kho, lúc ấy chỉ có xe kiếng, xe tờ, xe ngựa kéo, trẻ nít ra lộ lượm xoài có thể tránh xe dễ, sau này xe ô tô thường cán trẻ lượm vì xe chạy quá mau, rủi ro khó tránh nên đốn xoài, trồng me”. Nhưng sau người Pháp lại đốn me. Tại sao? Theo cụ Sển: “Lá me đọng nước, gọi mưa me, tạnh đã lâu mà khách qua đường vẫn ướt đầu, ướt áo, bèn thay me và chọn cây dầu, lá lớn, dễ quét hốt, và chọn cây sao, lá bền và gỗ, khi cây lớn nếu đốn sẽ dùng làm ván cầu và sườn rui tiện lợi”. Xin bổ sung thêm, không chỉ do “khách qua đường vẫn ướt đầu, ướt áo” mà còn vì sau mưa, vòm me vẫn còn sũng nước, dễ sinh ra muỗi, mòng ở cái xứ nhiệt đới này, sợ gây bệnh nên người Pháp không trồng nữa.

Tuy thế, hiện nay, đi trên đường phố, thỉnh thoảng vẫn còn gặp những me của một thuở đã là nhân chứng của thay đổi lịch sử qua năm tháng. Hôm kia, hôm kỉa, hôm kìa ngồi trên đường Bà Huyện Thanh Quan lai rai cùng nhà văn Đoàn Thạch Biền, nhà thơ Phan Hoàng tiếp đãi bạn Lưu Khánh Thơ, Nguyễn Đăng Điệp… thuộc Viện Văn học từ Hà Nội vào đây công tác. Ngồi ăn lẫu cá kèo sát lề đường, ngay dưới vòm me rợp mát. Có những câu thơ đã lẩn khuất đâu đó trong trí nhớ, như hạt mầm giấu dưới đất, gặp mua lại nhú mầm lên.

Nhìn lá me và lướt ngang qua đầu trong khoảnh khắc ấy là thơ, câu thơ của Lê Thị Kim: “Tay tôi như có ai cầm/ Thì ra một lá me nằm trong tay”. Lại liên tưởng qua câu thơ của Olga Bergolts: “Dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi/ Mưa thầm thì rơi mãi lúc chia ly”. Đêm ấy làm gì có mưa? Vậy mà vẫn cảm như ngoài trời đang mưa, ấy là ma lực của thơ vậy. Vòm me vẫn thế, chỉ có tâm thế của mỗi thời đã khác: “Có gã nhà báo vỉa hè gọi bia”. Ồn ào ào và náo nhiệt. Trong tiếng gọi bia ấy, có ai còn nghe lá me rơi nhẹ nhàng, khẽ khàng không? Vừa nghĩ đến đó, nhà văn Đoàn Thạch Biền nhẩn nha nhận xét: “Lá me thật lạ, hễ đã úa vàng thì rụng. Do đó, nhìn lên vòm me chỉ thấy những tầng lá biếc xanh”. Giật mình nhìn xuống đất, thấy lá me vàng như trải thảm. Ngước nhìn lên trời, đem tối, lấp lóa ánh đèn đường màu vàng chỉ một màu xanh dịu mắt.

Ở Đoàn Thạch Biền, anh luôn có những nhận xét chí lý đến thế.

Vừa rồi, y mới cho in tập sách Ngày viết mỗi ngày (NXB Hội Nhà Văn), đoạn này, có liên quan đến anh Biền, nhiều bạn đọc cũng cho rằng tinh tế: “Đọc sách mà vặn vẹo từng từ, từng chữ nếu tác giả đội mồ sống dậy ắt phải vỗ vai mà kết nghĩa tri âm. Lại nghĩ, trong đời sống, khi gặp tai họa, rắc rối, phiền muộn, có người ngao ngán thốt lên: “Chết quách đi cho rồi”. Tất nhiên, chẳng thèm muốn kiếp sau phải làm người nữa. Khỏi phải trả nợ đời lần nữa. Không làm người. Vậy làm gì? Nguyễn Công Trứ có câu thơ:

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

Tại sao thiên hạ lấy cây thông, tùng, bách tượng trưng cho người đàn ông? Sách đã giải thích, tuy nhiên, có lần nhà văn Đoàn Thạch Biền lại nghĩ qua một hướng khác, đại loại, vì loại cây đó khi lên cao nó mới xòe ra tán lớn, che rợp bóng mát mà các cây con cũng không ảnh hưởng gì, vẫn có thể phát triển. Và điều quan trọng là nó càng cao, đón sóng gió dữ dội vẫn càng thẳng, chứ không gẫy đổ. Trong khi đó, lại có những cây khác, dù chỉ còn thấp lè tè đã học đòi xòe tán che khuất các cây con rồi. Cách giải thích ấy ngộ nghĩnh mà cũng có lý đấy chứ? Lại nữa, nếu kiếp sau ông Nguyễn Công Trứ nguyện làm cây thông, Tản Đà tiên sinh lại khoái:

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay
Tuyệt mù bể nước non mây
Bụi hồng trông thẳm như ngày chưa xa

Tại sao lại là “đôi chim nhạn”, chứ không là một con nhạn riêng lẻ? (tr.89-90). Thế đấy, ngồi nhậu lai rai, nếu với người thông minh, sâu sắc, ta cũng có thể học được đôi điều gì đó. Lại nhớ, có anh Biền cho rằng, trên đời này chẳng có ai cao, ai thấp, mỗi người có mỗi việc. Bình thường thôi. Tất nhiên rồi. Nhưng câu này, nghe anh nói mới thấy chí lý: “Bàn tay có năm ngón, ngón út đừng tưởng vô tích sự. Này, khi ngứa lỗ tai, ta sử dụng ngón nào?”.

Tính cách của nhà văn có ảnh hưởng đến trang viết của họ. Ở Đoàn Thạch Biền, có lần nhà thơ Đinh Thu Hiền nhận xét, đại khái, chuyện tình trong tác phẩm của anh chỉ như cơn mưa phùn, không làm ướt áo. “Tình nhỏ làm sao quên”. Nhẹ nhàng. Lãng đãng. Ngày sau còn nhớ. Nhớ một cơn mưa phùn đã đi ngang qua đời mình. Thế thôi. Chỉ có thế mà dai dẳng trong trí nhớ người đọc như câu thơ của Trần Dạ Từ: “Người đi qua đời tôi/ Không nhớ gì sao người?”. Tiếng nói thảng thốt, tâm trạng và bùi ngùi quá đỗi.

Chỉ là thế, chỉ như cơn mưa phùn mà dai dẳng trong trí nhớ người đọc với cách xưng hô “tréo cẳng ngỗng” như đùa như thật: ông và em. Vì lẽ đó, có lần giới thiệu về anh, y viết chỉnh chu, chính xác: “Trong một trang tùy bút tài hoa, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường có viết một câu, đại khái, ông không thể tưởng tượng được, nếu một sớm mai thức dậy ở Huế, lại thấy dòng sông Hương biến mất. Vẫn biết mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng cũng có thể nói rằng, y không thể tượng tượng nổi, nếu ngày kia lật lại trang viết của nhà văn Đoàn Thạch Biền mà nhân vật không còn xưng hô “ông” và “em” nữa”. Đó “đặc sản” của văn xuôi Đoàn Thạch Biền”.

Thế còn thơ của Đoàn Thạch Biền thì sao?

Thì là thơ chứ trăng với sao gì nữa. Nhà văn viết thơ? Chuyện này không lạ. Các ông Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh, Thu Bồn, Nguyễn Nhật Ánh, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Quang Thiều, Trần Đăng Khoa… cũng thế thôi. Sự tài hoa ấy, trời đã cho thì cho đều ở nhiều thể loại.

Nhà văn Đoàn Thạch Biền làm nhiều thể loại thơ. Đủ sức in một tập ra tấm ra miếng. Nhưng đến nay vẫn chưa. Là người em thua anh đúng một con giáp, là người bạn cùng khề khà đối ẩm chừng ba mươi năm nên y được đọc khá nhiều thơ anh. Hay nhất vẫn là thơ năm chữ. Loại ngũ ngôn, thoạt đầu tưởng dễ, nhưng tìm chỉ năm chữ đắc địa đứng chung một câu là điều không dễ. Mỗi bài thơ năm chữ của anh đều gọn gàng một tứ thơ. Chỉnh chu. Và Đẹp. Đẹp bởi chi tiết thô ráp của đời sống. Thêm một giọt nữa là thừa. Thiếu một giọt nữa là thiếu. Rót rượu như thế, nhà văn Nguyễn Tuân dùng cụm từ bay bướm “bồng mắt thỏ”, phải là những tay danh tửu hảo hán. Đọc thơ của Đoàn Thạch Biền, y liên tưởng đến điều đó dẫu vẫn biết mọi sự so sánh đều khập khễnh. Chẳng hề gì.

Nhắc lại nhận xét này, bỗng nhiên rớt ngang qua trí nhớ là câu thơ lúc anh Biền ngồi lai rai cùng Vũ Hữu Định: “- Còn rượu không chủ quán/ - Dạ thưa còn hũ đầy/ Nhẩm tính tiền túi hết/ Bạn giả đò nói say”. Bạn chơi với bạn, thấu hiểu nhau đến thế là cùng. Biết bạn giả đò, nhưng biết làm sao: “Nghĩ mình đang lúc rách/ Đành chịu thua người xưa/ Không có áo cừu bán/ Đãi bạn uống cho bưa”. Từ “bưa” hay lắm. Rất miền Trung. Trong thơ Hàn Mặc Tử cũng từng xuất hiện: “Họ đã xa rồi khôn níu lại/ Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa”. Đã từng đên Huế từ năm tháng thò lò mũi xanh, thú thật chưa lúc nào y biết đến và cảm nhận được như câu thơ của anh Biền: “Đi dưới tàng cây muối/ Không thấy hoa trên cành/ Mai này trong trang viết/ Muối xanh màu lá xanh”. Thử hỏi, cây muối là cây gì vậy? Ối thơ ơi là thơ. Đọc thơ tưởng rằng, thư giản nhẹ nhàng, du dương theo vần điệu nhưng có những câu khiến ta phải giật mình.

“Ối thơ ơi là thơ”. Nhiều lần y thốt lên vì trăm lần như một, đều như vắt chanh rằng, thì, là mỗi lúc đi chơi xa, nếu gặp bạn bè văn nghệ thì quà tặng nặng trĩu va ly bao giờ cũng là… thơ. Thơ của bạn, đem về nhà. Đọc và yêu thương. Mến phục. Rồi cũng có đôi lúc chạnh lòng. Những con chữ ấy, bạn mình đau đáu, tâm tư, tìm kiếm từ ngày này qua tháng nọ, khi đã in thành sách, sách phát hành rộng rãi, liệu có còn tìm gặp tri âm?

Mới đây thôi, tại Tam Đảo, bạn thơ Trần Quang Quý gửi cho bản thảo Nhịp năm, sắp in. Có gì mới lạ không? Thì đây, anh Quý cho biết: “Vài năm trước, bắt đầu từ những bản nháp ghi chép, hoặc những bài thơ dài còn dang dở, thích câu thích ý mà mãi chưa hoàn thiện được, tôi thử sửa thành những bài thơ ngắn, nhưng không muốn giống như tứ tuyệt đã quá quen, đặc biệt là cấu trúc, niêm luật, vần điệu khắc khe, cũng giống nguồn gốc xuất xứ của nó. Và như có sự xui khiến nào đó, một cách ngẫu nhiên, tôi sửa thành thơ 5 câu và bỗng thấy nó “sáng ra”, bài thơ được nhất, theo cảm xúc, ý tưởng và chiêm nghiệm của mình”. Nói cách khác, Nhịp năm là bài thơ chỉ vỏn vẹn 5 dòng/ câu. Xin trích bài thơ Rụng của Trần Quang Quý: “Có một chiếc răng rụng/ tôi vẫn để trong ví mỗi ngày/ một mảnh đời đã tuột ra khỏi gốc số phận/ Mỗi lần mở ví ra tôi thấy/ chiếc răng vẫn đang nhai ký ức”. Một tứ thơ gọn gàng, hoàn chỉnh.

Thật ra, thơ 5 dòng/câu, trước đó, vào đêm 4.12.1969, nhà thơ Chế Lan Viên đã thể nghiệm, không gọi Nhịp năm như Trần Quang Quý, ông gọi thể thơ “ngũ tuyệt”, duy nhất có 1 bài: “Bờ sông mẹ tiễn đưa con/ Hai chục năm trời súng nổ/ Mẹ mất cũng chục năm rồi/ Sao ngỡ còn mẹ đứng đó/ Giữa nghìn trận nổ trông con”. Sau đó, không ưng ý bài thơ Ngũ tuyệt về mẹ, năm 1988, ông triển khai thành Bến đò mẹ tiễn, dài 18 câu. Nhắc lại chuyện này để thấy sự nhọc nhằn của công việc làm thơ.

Mà này giữa làm thơ và uống bia thì cái nào thú vị hơn? Không dám lạm bàn. Chỉ nghĩ rằng, thơ và bia và gì gì đi nữa cũng khó có thể sánh với giai nhân sắc nước hương trời, chim sa cá lặn, nguyệt thẹn hoa nhường. Không tin à? Cứ hỏi ông Đoàn Thạch Biền ắt có thơ rằng: “Em vô tư, tôi vô tư/ Ta vô tư quá làm hư cuộc tình/ Thôi đừng giả bộ mặt mừng/Khi trong tay bắt, đã lừng khừng buông/ Bây giờ kinh tế thị trường/ Em còn giấu được nỗi buồn… tôi mua”. Mới nghe thơ của ông Biền đến đó, lại giật thót người bởi:  “Có gã nhà báo vỉa hè gọi bia”. Thế đấy, “Mai này trong trang viết/ Muối xanh màu lá xanh”. Vui quá đi chứ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 5.7.2016



dap-an-de-thi-thpt-quoc-gia-mon-van-nam-2016-123

 

Từ nay, vác vali ra khỏi nhà, không còn thấy mẹ dặn dò; quay về nhà cũng không thấy mẹ. Mẹ đã về Đà Nẵng. Cũng là cái cớ để về quê nhà thường xuyên hơn.

Vừa về Đà Nẵng, xem chương trình ca nhạc Boléro tại Nhà hát Trưng Vương. Đã chừng hơn 40 năm, kể từ thời còn đi học, nay mới đặt chân vào lần nữa. Nơi này có chừng 1.2000 ghế ngồi, kể cả trên lầu. Nhìn chung đã khác trước nhiều lắm. Bức tường phía ngoài cửa có bức phù điêu bằng xi măng, đắp hình nổi miêu tả cuộc khởi nghĩa oanh liệt của Hai Bà Trưng. Đêm 2.7.2016 chật kín khán giả. Mừng cho nhạc sĩ Lê Quang - người đã thực hiện chương trình này. Các ca khúc Boléro vẫn còn đủ sức hấp dẫn người yêu nhạc. Sức sống nó còn bền theo năm tháng.

Lần này về Đà Nẵng, ngủ nghỉ tại một resort gần với địa giới với Quảng Nam. Nơi này, thực hiện theo mô hình thiền định, tu tập, hòa nhập với thiên nhiên. Bước vào đã thấy các tượng Phật, chuông, cờ phướng, các thư pháp v.v… Chỉ ăn chay. Cấm uống rượu. Hạn chế cà phê, chỉ uống trà. Mỗi trưa, chiều đều có nhạc tôn giáo nhẹ nhàng, thoát tục vang lên, hòa lẫn cùng sóng biển. Tự dưng nản quá. Với y, mỗi một ngày đã là “tu tập” rồi. Sáng, trưa, chiều, tối đều quẩn quanh trong bốn bức tường với sách. Rồi gõ phím. Từng con chữ. Im lặng. Miệt mài. Cần cù từng ngày còn chưa nên “cơm cháo” gì. Tâm trí còn sân si lắm. Chứ dăm hôm ở lại đây cũng chẳng thể nên tích sự gì. Thế mà lại vác xác vào đó. Đáng đời chưa?

Với y, mỗi lần về Đà Nẵng thư giản là muốn được sống cùng bản năng. Như một cách tái tạo lại năng lượng sống. Về quê, một trong những thú vui của nó còn là được thưởng thức món ăn ngon quê mình. Vậy mà phải chay tịnh mỗi ngày. Ngao ngán quá. Bẽ bàng quá. Thôi kệ. Đành chấp nhận chứ sao. Thiên hạ giỏi thật, có thể nghĩ ra mọi cách để thu hút khách, như cái khu resort này. Đã trở lại Hội An. Ở Cửa Đại đã kè xong đất, cát chống xâm thực của biển. Tuy nhiên, đã không còn bãi biển dài thoai thoải thơ mộng như truóc nữa.

Mấy hôm nay, trên mạng xã hội bàn tán ầm ĩ, có nhiều ý kiến khác nhau về để thi môn Văn của kỳ thi phổ thông trung học quốc gia. Đề thi này, trích đoạn bài thơ Tiếng Việt của Lưu Quang Vũ:

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ

Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh

Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh

Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường

Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta
Tiếng chẳng mất khi Loa Thành đã mất
Nàng Mị Châu quỳ xuống lạy cha già.

Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi
Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán
Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.

Bộ GD và ĐT đã chọn văn bản từ tập sách Thơ Việt Nam 1945 - 1985, NXB Giáo dục, 1985, tr.218. Câu thơ gây tranh cãi là: “Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa”. Trước đây, các em học sinh được tiếp cận với văn bản: “Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa”. Nhiều người cũng đã thuộc như vậy. Do đó, một khi đề thi có khác đi một vài chữ, lập tức nhiều ý kiến phản đối khác nhau mà ai cũng cho mình có lý. Trước nhiều ý kiến tranh luận, gia đình Lưu Quang Vũ có trưng ra bút tích của tác giả nhưng rồi thiên hạ cũng không tin. Đa số cho không thể dùng từ “bùn” trong ngữ cảnh này.

Một loạt câu thơ có từ “bùn” được lôi ra nhằm minh chứng không thể sử dụng “bùn”. Chẳng hạn, “Rủ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi). Nếu bùn là quý, chẳng ai rủ đâu. Rồi ai lại không nhớ đến câu ca dao: “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Sinh thời nhà thơ Phùng Quán rất cực đoan khi đề nghị: “Đuổi câu phản trắc này khỏi kho báu dân gian”, đơn  giả chỉ vì: “Gốc của sen là thăm thẳm bùn đen”, là sen mọc lên từ chỗ thấp kém, tăm tối nhất. Trần Vàng Sao có câu thơ cũng nhắc đến: “Một vết bùn khô trên mặt đá”. Lại nữa, trong tập thơ Xem đêm của Phùng Cung có câu: “Va dấu chân em/ Khô bùn để lại”. Rõ ràng, bùn chẳng “sáng giá” mảy may gì cả. Trong lời ăn tiếng nói của người Việt còn có: Chân lấm tay bùn, Bùn lầy nước đọng, Đánh bùn sang ao, Rẻ như đất bùn v.v… Bùn chẳng hề “sang trọng”, “vẻ vang” gì. Thế mà đem so sánh bùn với tiếng Việt ư?

Vô lý quá đi mất.

Theo tôi, nhà thơ Lưu Quang Vũ dùng từ “bùn” là chuẩn xác và cực kỳ tài hoa.

Thử hỏi, có thể hiểu “bùn” như các câu thơ, thành ngữ vừa nêu trên? Hoàn toàn không. Theo Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (1931), có nhiều loại “bùn” như bùn hoa, bùn lầy, bùn lu, bùn non… Dù tên gọi khác nhau nhưng ai cũng biết đó là một thứ đất nhuyễn, mịn, đen sẫm do hòa lẫn trong nước lâu ngày, chưa kết rắn; trong điều kiện tự nhiên thì nhão, khi sấy khô thì rắn. Nếu bùn chính là đất đã “thuần hóa” đến mức cao nhất, thì tiếng Việt đã hoàn chỉnh và hoàn toàn có sức mạnh và khả năng đó. Nói cách khác, mọi sự việc/sự vật đều được tiếng Việt diễn đạt rất “chân”, rất “chuẩn” đến mức tuyệt đối. Khi so sánh “Ôi tiếng Việt như bùn…” là tác giả muốn nhấn mạnh đến sự “thuần túy” của tiếng Việt - có khả năng phản ánh đúng bản chất của sự việc/sự vật. Nó có khả năng diễn tả một cách nhuần nhuyễn, chính xác mọi thông tin nếu cần phải thông báo.

Tuy nhiên không chỉ có thế, Lưu Quang Vũ còn rất tinh tế, ý thức khi không dừng lại “như bùn” mà theo anh tiếng Việt còn là “như lụa”. Sự gợi cảm, uốn éo, lả lơi, phóng khoáng, đa dạng… của tiếng Việt cũng như lụa trước gió, luôn linh hoạt, uyển chuyển. Đâu phải bất kỳ trường hợp nào, tình huống nào cũng dùng đúng, dùng “chân” như từ vốn có. Mà người Việt còn có cách “nói trớ” đi nhằm kín kẽ hơn, “mềm hơn”, thanh lịch hơn,  uyển chuyển như lụa. Hễ ai “có tật giật mình”, chứ cần gì phải “nói toạc móng heo”. Trí khôn của người Việt còn là ở cách sử dụng lời ăn tiếng nói.

Và, sức mạnh của tiếng Việt chính là sự kết hợp của cả hai yếu tố: “thật” (như bùn) và “ảo” (như lụa).

Có hiểu như thế và phải thấy rằng, không phải ngẫu nhiên câu kế tiếp: “Óng tre ngà và mềm mại như tơ”. Xin đừng quên, tác giả dùng “tre ngà” tức tre đằng ngà, tức tre có màu vàng tươi, sọc xanh, thường trồng làm cảnh vì sắc màu nó đẹp nên mới có từ “óng”. Tre phải cứng, thẳng, chặt đổ nó không dễ, tất nhiên rồi. Do đó, mới có câu: “Nhất chặt tre, nhì ve gái”, nhằm chỉ hai việc không dễ dàng chút tẹo nào. Câu thơ này cho thấy, sức mạnh của tiếng Việt còn chính là sự kết hợp của cả hai yếu tố “cứng” (như tre) và “mềm” (như tơ) là vậy.

Một thi sĩ “thượng thừa” cỡ Lưu Quang Vũ khi dùng từ ắt có ý, có tứ chặt chẽ. Rằng, tiếng Việt “thật” và “ảo”; “cứng” và “mềm” thiên biến vạn hóa… Có như thế, dù rằng, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ dẫu có chưa hoàn thiện còn phải cải tiến, thay đổi gì gì đi nữa thì không thể phủ nhận một sự thật hiển nhiên: “Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói”. Hai từ “vẹn toàn” đắc địa làm sao.  Cũng trong bài thơ Tiếng Việt, dịp khác sẽ trở lại với văn bản: “Tiếng Việt ơi! Tiếng Việt ân tình”/ “Tiếng Việt ơi! Tiếng Việt xót xa tình”. Đâu là câu đúng của Lưu Quang Vũ?

Bàn về một văn bản, nhất là với thơ, một khi không ý kiến của tác giả, cách tốt nhất phải có khả năng thẩm thấu và biết phân tích. Nếu không, cứ phát biểu theo cảm tính thì cách làm đó rất xa lạ với thơ. Còn nhớ, câu thơ của Tố Hữu: “Người đi quấn áo chen chân/ Ờ sao như đã quen thân từ nào?”. Thế nhưng có nhiều văn bản lại quyết sửa thành “quần áo”. Giết thơ đấy ư? Xin đừng quên ngữ cảnh của câu thơ trên là diễn tả người tù bị xích chung tay trên đường đi đày lên Đắc Lay, vì thế mới có từ “quấn áo” là vậy.

Lại nhớ lúc hội thảo khoa học về nhà thơ Bùi Giáng tại Trường Khoa học xã hội và Nhân văn, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu tâm đắc với câu thơ của tác giả Mưa nguồn: “Ngoài vườn nụ đứng, nụ đằm”. Lập tức có tiếng xì xào cho rằng, anh nhớ sai câu thơ trên, vì theo tiểu đối: “đứng” sóng đôi với “nằm/ngồi” thì hợp lý hơn. Chẳng lẽ cỡ Bùi Giáng mà lại không biết điều đó à? Nghe ra có lý. Nhưng cái lý đó lại trật lấc bởi thi pháp của của Bùi Giáng là bất chấp sự có lý mà cố tình lái qua một hướng khác. Văn bản của anh Nhật Chiêu là đúng vì Bùi Giáng cũng đã từng viết: “Một lần thấy một ra ba/ Một lần thấy một mà ra bốn lần”. Tại sao “bốn lần”? Có như thế mới là “phong cách” thơ của Bùi Giáng lúc cà rỡn, bông phèn.

Trở lại với sự tranh luận về bài thơ của Lưu Quang Vũ, dám quả quyết rằng văn bản của gia đình tác giả trưng là chính xác, chứ không hề “ngụy tạo” như ai đó đã hồ đồ, không có căn cứ. Câu chữ của nó đúng như đề thì của Bộ GD và ĐT đã chọn văn bản: “Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa/ Óng tre ngà và mềm mại như tơ”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 27.6.2016

ao-tuong-tho-LMQ


Đôi lúc cảm thấy chán. Chẳng muốn phải viết thêm gì nữa. Nhật ký mỗi ngày cũng bỏ bê. Chẳng màng đoái hoài đến nữa. Một ngày, từng ngày, mỗi ngày có quá nhiều sự kiện, làm sao có thể ghi hết? Ghi thì được, nhưng liệu có dám trình bày cảm nhận riêng tư về sự kiện đó không? Nếu không, ghi lại làm gì? Câu hỏi ấy, trả lời ra làm sao? Mà cần gì phải trả lời. Cứ thế, từng ngày lại trôi đi. Xa thẳm trời. Hun hút mây. Vậy thôi. Dấu vết của một ngày rồi cũng tan biến đi. Dấu vết của một đời cũng hư không nốt. Đừng bận tâm.

Mới vừa đi Tam Đảo. Dăm hôm. Đường lên đi lên và không gian nơi đó gợi nhớ một chút gì đó về Đà Lạt. Thật lạ, những chuyến đi ra Hà Nội, nếu ngủ nghỉ tại nhà nghỉ, khách sạn của hội, đoàn thì luôn có cảm giác sống trong thời bao cấp. Phòng ốc tềnh toàng. Máy lạnh/ máy quạt cà giựt cà tang. Chăn gối hôi hám. Ăn cơm chung. Sáu người một mâm. Đủ người là ăn. Không cần quen biết. Nếu bàn ăn bên cạnh, không có ai, cứ việc lấy thức ăn qua bàn mình. Nếu nhân viên phục vụ phát hiện, ắt phải trả tiền, bằng không thì thôi. Muốn bia bọt, phải trả tiền ngay. Mỗi suất ăn chỉ có thế. Thời buổi này, ngay cả đôi dép trong phòng cũng còn bị cắt cụt đầu; hoặc đôi dép trẻ con; hoặc hai chiếc khác nhau. Ấy là nhằm ngăn ngừa khách thuê phòng “chôm” lấy nó. Phải còn lâu, rất lâu nữa, Tam Đảo mới có thể trở thành một địa điểm du lịch đúng nghĩa của nó.

Tham dự hội thảo về 30 năm đổi mới văn học do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Đại khái thế. Thơ đổi mới thế nào? Câu hỏi này không có câu trả lời. Lúc trao đổi với tổ thơ, nhiều ý kiến cho rằng, cần ghi nhận công cuộc Đổi mới từ năm 1986. Lúc đó, nhà thơ được “cởi trói”, mới được viết đúng những điều mình đã suy nghĩ. Đề tài này, chủ đề nọ không còn bị cấm kỵ. Thế là đổi mới. Lấy cái hữu hạn để áp dụng cho cái vô hạn liệu có đúng?

Văn chương là chuyện của muôn đời. Cái muôn đời ấy được soi rọi bằng cái quy định, ràng buộc cụ thể ngắn hạn thì nó chẳng ra làm sao cả. Quay trở về “bản lai diện mục” của thơ mới đích thực là đổi mới. Chứ không phải dựa vào cái nghị quyết này nọ mà cho rằng đó là đổi mới. Có người bảo, cần đạt đến đỉnh cao như thơ Đường; lập tức, có ý kiến cho rằng vậy hóa ra cần gì đổi mới nữa khi quay về với thành tựu của hàng ngàn năm trước? Có người bảo, Đảng “cởi trói” cho văn nghệ, ấy là đổi mới. Vậy thì cái ông Vĩnh biệt tình em, nhà văn Nga có bị trói hay không mà vẫn có tác phẩm mới? Vậy thì ông Đặng Trần Côn có bị trói hay không mà vẫn có Chinh phụ ngâm?

Thật ra, bất kỳ thể chế chính trị nào cũng tìm mọi cách trói văn nghệ sĩ cả. Vấn đề đặt ra là trong hoàn cảnh đó, họ có dám viết và viết ra làm sao mà thôi. Ở Việt Nam, nhà văn Việt Nam thừa tài năng nhưng không có sự dũng cảm, nhẫn nại, dám viết, dám bỏ vào ngăn kéo, chờ thời tiết chính trị thuận lợi mới công bố. Nôn nóng quá, cần danh quá, nhìn chung đó là tâm lý chung của người cầm bút. Vì những lẽ đó, họ phải uốn éo, tự kiểm duyệt, tự thay đổi cho hợp với khẩu vị, cái tạng của người chọn đăng, dù rằng sự thay đổi đó họ không muốn.

Nhìn chung, những tham luận, tranh luận này nọ chẳng mấy ai quan tâm gì nhiều. Từ lâu nay, những cuộc họp thế này, nghĩ cho cùng vẫn là dịp anh em ba miền gặp gỡ nhau, tâm tình, hỏi han nhau. Thế thôi. Những cuộc gặp gỡ có tính cách dăm ba người thân thiết, đôi khi lại ích hơn những đăng đàn phát biểu này nọ. Mà thôi, cũng chẳng nên bận tâm nhiều làm gì. Viết lách là công việc riêng tư, rất riêng tư, khó có thể ai bảo ban được gì cho ai. Mỗi người một kinh nghiệm. Thậm chí, chẳng ai thèm đọc của ai. Biết thì biết vậy, nghe tên là nghe vậy nhưng đã đọc gì của nhau thì “chịu chết”, khó có thể trả lời rành mạch.

Đôi lúc, nghĩ rằng, các loại hình nghệ thuật hiện nay nó phù phiếm quá chăng? Nói như thế, vì sự kiện thời sự mỗi ngày khốc liệt quá, dữ dội quá, kinh khiếp quá nhưng rồi nhà văn đứng ở đâu? Còn nhiều, rất nhiều vấn đề đáng quan tâm hơn cái chuyện đổi mới thơ thẩn lẫn thẫn. Không phải ngẫu nhiên, khi y đọc bài thơ Ngày sống đời thơ đã được nhiều đồng nghiệp chia sẻ, tán thành là vậy. Với trách nhiệm công dân, hơn ai hết chính nhà văn luôn thường trực câu hỏi ấy ở trong đầu. Nếu không, trang viết nhẹ tênh và cũng chỉ là những vật trang sức làm dáng. Sứ mệnh của thơ không cách biệt với Đời. Khó thay. Viết về đời này nhưng đời sau vẫn còn chấp nhận lấy nó, mới là thơ, bằng không chỉ là những câu khẩu hiệu.

Trong Đông Pháp thời báo,  số 778 (6.10.1928), ông Phan Khôi cho rằng: “Một bài thi, một bài văn, hay là một tập thi, một tập văn mà làm cho người ta quý trọng và lưu truyền được là nhờ có đặc sắc về hai đường: một là về đường mỹ thuật, hai là về đường lịch sử. Đặc sắc về mỹ thuật, nghĩa là thơ văn ấy hoặc tả cảnh hay, hoặc tả tình hay, đủ làm cho kẻ đọc đến mà sanh cảm, cũng như trong khi xem một bức vẽ hoặc xem một tấn tuồng mà giục nỗi vui buồn. Đặc sắc về lịch sử nghĩa là trong thi văn có lưu lại những cái dấu vết của xã hội đồng thời với tác giả; đời sau đọc đến có thể nhờ đó mà nhận ra cuộc đời hồi ấy hoặc ít hoặc nhiều, có thể đem thi văn ấy mà đối chứng với những điều nghi ngờ trong lịch sử. Từ xưa đến nay, những tay văn hào bất tử, thường là gồm cả hai mặt đó”.

Từ suy nghĩ này, ông Phan Khôi than phiền: “Hãy đọc cả tập Bạch Vân am thì thấy ra mười bài như một chục, bài nào cũng tả tình tả cảnh, bài nào cũng nói tâm nói tánh, nói gió nói trăng; song không tìm ra một bài nào có dấu vết của xã hội thời ấy cả. Mà thời ấy là thời họ Mạc tiếm nhà Lê, trong xã hội ta xảy ra biết bao nhiêu là việc, thế mà trong thơ ông Trạng ta bỏ hết cả, không thèm nói đến, dầu nói bóng lấy một vài lời cũng không !”.

Vấn đề Phan Khôi đặt ra là đúng, nhưng với trường hợp Nguyễn Bỉnh Khiêm lại không. Thơ của cụ Trạng Trình đã chạm đến vấn đề cốt lõi của muôn đời, vì thế, nó không cũ. Đọc cái muôn đời ấy vẫn nhìn ra được cái cụ thể, dấu vết của một thời thì đó là tài năng, thậm chí “trời cho”. Trong khi đó, đã có những trang viết được ghi nhận đó là hào khí, tâm thế, khí phách của một thời, thời mới xẩy ra đây thôi, nhưng nay đọc lại đã thấy nó lỗi thời. Có cần phải đưa ra thí dụ không? Cần gì, cứ nghe lại ca khúc của một thời thì sẽ nhận ra ngay đó thôi.

Ra Hà Nội lần này, cũng như những lần trước, lại trở về nhà với sự ái ngại là quà tặng của bạn văn. Vẫn sách. Vẫn tác phẩm của bạn. Đã là người sống bằng nghề viết, kiếm sống nhọc nhằn bằng từng con chữ nên càng thấu hiểu về công việc của nhau. Một tập thơ, một tiểu thuyết có bao nhiêu là chữ. Chữ viết ròng rã ngày nay qua tháng nọ, nhưng rồi khi in ra có mấy ai cầm lên đọc? Có mấy ai sẻ chia những gì đã viết? Nghĩ thế, đôi lúc nản quá. Bèn tự an ủi rằng, ném một vốc muối xuống biển, chẳng là gì nhưng rồi số phận mình, cái nghiệp của mình đã thế. Biết làm sao? Để hóa giải, cách tốt nhất hãy yêu lấy cái nghiệp đó. Vậy thôi.

Sáng nay, nhận đọc tập thơ Mai kia mốt nọ mình rời bỏ người ta của Ngô Nguyệt Hữu. Lại thêm một người đặt chân vào nghiệp nữa rồi. Có thể thoát ra nhanh, có thể lún sâu vào đó cho hết một đời. Chẳng rõ nên vui hay buồn nữa. “Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”. Những tập thơ của bạn bè đã ngày một đầy thêm trong tủ sách. Ai tặng sách gì thì không biết, nhưng hễ tặng thơ thì phải đọc cho bằng được, cho bằng hết. Người sống bằng nghề viết lách, có thể viết được nhiều thể loại khác nhau, tuy nhiên, chỉ có thơ mới phản ánh đúng nhất tâm trạng, thần thái của họ. Đọc một câu thơ, có khi hiểu được một con người.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 10 trong tổng số 51

trinhduyson