LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 4.3.2016

PDF.InEmail

 

gieo-hat-tho-le-minh-quoc

 

Những ngày này, mẹ đã về quê. Thế là tự cơm nước. Loay hoay bếp núc thế nào mà đã làm bể hết mấy cái tô, cái chén. Không gian bếp núc lúc có mẹ, gọn gàng, ngắn nắp, sạch sẽ là thế, “nhìn bếp biết nết đàn bà”, nay ngổn ngang như bãi chiến trường. Khổ nổi, trưa nào cũng phải về nhà, đã thành thói quen, phải ăn cơm rồi ngủ. Vì thế, nay tự loay hoay phải bếp với núc, phải nấu với nướng. Chẳng ra làm sao.

Trưa nay thức dậy, cũng như mọi ngày, vớ tay lấy những sách báo đang la liệt, lổn nhổn trên giường nằm. Tạp chí Thơ số 1&2.2016 lọt vào tầm tay. Số này in dày gấp đôi vì phát hành vào dịp Tết, nhưng nay mới nhận được. Nhà phê bình Hồng Diệu có bài viết Mười bài thơ chưa in của nhà thơ Xuân Diệu. In cả thủ bút của tác giả Gửi hương cho gió. Thích câu thơ này: “Lắm lúc nhìn em sững mắt anh/ Cám ơn em đã đón anh nhìn/ Anh nhìn như thể rơi con mắt/  Và cả thời gian cũng đứng im”. 10 bài thơ này Xuân Diệu viết trong khoảng năm 1973, và là quà tặng nhân ngày Hồng Diệu cưới vợ. Ngẫm cũng hay. Những quà tặng khác từ năm 1974, có lẽ đến nay chắc không còn mà còn giữ được bút tích này là quý lắm đây. Thế thì, lúc đám cưới nếu mời nhà văn, nhà thơ, nói tóm lại  ta cần họ tặng cái gì? Tiền tươi thóc thật, quà mua ngoài siêu thị hay những bút tích tác phẩm của họ? Y tự thế thôi, chứ làm gì còn có cơ hội nữa. Đừng có mà mơ.

Trở lại với mấy câu thơ trên, thích câu thứ 3: “Anh nhìn như thể rơi con mắt”. Một cách nói ấn tượng. Đọc một lần, nhớ mãi. Trước đây, từng sững người với câu ca dao: “Xa nhau đã mấy thu tròn/ Nhớ em, anh khóc đã mòn con ngươi”. Khóc đến độ mòn con ngươi, cách nói ấy, dịu vợi, mới mẽ, tài tình đến lạ thường. Nước chảy đá mòn. Nước mắt chảy dầm dề lúc khóc, dẫu khóc ngày đêm nhưng con ngươi cũng không thể mòn. Biết là thế, người đọc vẫn chấp nhận một cách nói đã chuyển tải trọn vẹn “tín hiệu” thương nhớ đến tột cùng. Lại nữa, còn có câu này: “Vách thành cao lắm khó dòm/ Nhớ em, anh khóc đỏ lòm con ngươi”. Đọc từ văn bản với chữ “dòm”, chắc chắn người đang khóc phải là cô gái Trung, Nam bộ.

Em là con gái Phú Nhi

Bánh đúc bỏ bị vừa đi vừa nhòm

Phú Nhi là là chuyên làm đồ gốm ở huyện Phúc Thọ (Sơn Tây). Đồng nghĩa với "nhòm/ dòm” còn có nhìn, liếc, ngó, coi, trông, nghía… Cả thẩy đều dẫn đến kết quả là thấy một cái gì đó, hoặc thấy rõ ràng, rõ mồn một; hoặc cũng có thể chỉ thấy thoáng quá.

Thử xem, ngoài “đỏ lòm” con có bao nhiêu từ chỉ sắc màu đỏ? Này nhá: đỏ chót, đỏ chói, đỏ cháy, đỏ loét, đỏ lưỡng, đỏ lói, đỏ lòe, đỏ lỏm, đỏ lỏn, đỏ hỏn, đỏ lừ, đở ngầu, đỏ nọc, đỏ ối, đỏ tươi, đỏ giọi, đỏ thắm, đỏ điều, đỏ au, đỏ gay, đỏ cạch, đỏ chạch, đỏ ửng, đỏ bầm, đỏ đắn, đỏ hoe, đỏ khè, đỏ khé, đỏ rần, đỏ quạch…; còn nữa: đỏ au au, đỏ hồng hồng, đỏ loen loét, đỏ chon chót, đỏ đòng đọc, đỏ như son, đỏ hon hỏn, đỏ quành quạch, đỏ như gấc, đỏ lòm lom…; vẫn còn nữa: đỏ như hoa vông, đỏ như râu ngô, đỏ gay đỏ gắt, đỏ như quả bồ quân, đỏ như mặt trời mọc, đỏ như đồng hun, đỏ lơ đỏ lưỡng v.v…

Vách thành cao lắm khó dòm

Nhớ em, anh khóc đỏ lòm con ngươi

Đọc đến câu này, sực nhớ đến câu khác:

Cá trong lờ đỏ hoe con mắt

Cá ngoài lờ ngúc ngắc muốn vô

Tạm liệt kê đến đây, tạm đủ chất liệu cho bài viết Lắt léo tiếng Việt khi bàn về ngữ nghĩa của màu đỏ. Đã đỏ ắt có đen. Lâu nay, câu thơ Kiều: “Tuồng chi hoa thải hương thừa/ Mượn màu son phấn đánh lừa con đen”. Hiểu thế nào về “con đen” trong câu thơ này? Không riêng gì cụ Đào Duy Anh, nhiều bản Kiều đã in đều giải thích: “Con đen: Chỉ người dân đen, người khờ dại, liên hệ với con đỏ hay xích tử chỉ người dân nghèo khổ trần trụi”. Trong ngữ cảnh của câu thơ trên, xem ra không hợp lý. “Hoa thải hương thừa”, ai cũng hiểu nhằm chỉ loại đàn bà con gái không ra gì, không còn tiết hạnh như bông hoa đã hết “date”, bỏ đi, chẳng ai thèm ngó ngàng gì tới nữa. Đã thế, còn mượn  màu son phấn để đánh lừa “người dân đen, người khờ dại” à? Vô lý, sao không đánh lừa kẻ giàu sang, phú quý, quyền cao chức trọng để kiếm chút cháo có hơn không, chứ với “con đen” thì được nước nôi gì?

Suy luận như thế có đúng không? Đúng lắm. Bằng chứng từ điển của ông Huình Tịnh Paulus Của giải thích: “Con đen: con ngươi, tròng đen”. Thế thì, “Mượn màu son phấn đánh lừa con đen” là đánh lừa con mắt nhìn của người khác, bất luận người đó là ai. Và nó cũng chẳng liên quan gì đến “con đen” theo nghĩa chỉ hạng dân nghèo hèn.

Tiếng Việt rắc rối quá.

Sáng nay, tranh luận với người bạn về địa danh chợ Cây Da Sà. Viết Sà hay Xà? Mà khổ nổi “sà” hay “xà” đều có nghĩa. Sà: nó được đặt tên là do nhánh da trĩu xuống, lả xuống, sà xuống; xà: có thể hiểu cây đa đó có nhiều rắn. Vậy đâu là đúng? Gọi điện thoại hỏi vài anh em, mỗi người trả lời một phách. Chỉ có cái điện thoại đã nối mạng internet, thôi, bèn nhờ cậy ông Google. Nào ngờ trên mạng cũng không thống nhất, “sà” và “xà” loạn xà ngầu.  Vì thế, bèn quay về nhà lật sách xem sao.

Rằng, phải “sà” mới là đúng.

1. Cây đa mọc ở chợ, (nên mới “chết tên” chợ Cây Da Sà), nếu nó nhiều rắn, chắc chắn thiên hạ đã đốn mất tiêu rồi, làm quái gì còn tồn tại nữa?

2. Đọc lại Gia Định phong cảnh vịnh của cụ Trương Vĩnh Ký (1882) có câu: “Cây da Thằng Mọi/ Coi bán đủ thuốc xiêm, cầu mít”, chú thích: “Cây da Thằng Mọi là chợ ở thân trong chợ Điều Khiển, thân ngoài Nước Nhỉ, đường vô Chợ Lớn”. Chợ ấy lối cây da có họ bán hình thằng Mọi bằng đất bưng thắp đèn”; lại còn thêm câu này nữa: “Trên cây Da Còm nỡ để ông già gùi đội” (chú thích: Chợ Da Còm, đường Chợ Lớn ra Bến Thành, chợ ở ngoài Chợ Dũi”. Nhưng tại sao gọi “Da Còm”? Cụ Trương Vĩnh Ký không giải thích. Bèn tìm đọc Sài Gòn năm xưa của cụ Vương Hồng Sển, có đoạn: “Chợ Da Còm tức là chợ nhóm dưới gốc một cây da nhánh còm, lá gie khòm xuống mặt đất” (SĐD, Khai Trí XB năm 1968-tr.142). Qua hai thí dụ trên, có thể rút ra: Từ những gì đã thấy, cụ thể từ hình thể của hai cây da trên mà người ta gọi luôn cho dễ nhớ. Chứ chẳng phải vì có “xà”, có rắn gì ở đây cả.

Nói quả quyết thế, vẫn chưa yên tâm, vì chỉ là sự suy luận. Bèn lật quyển Sài Gòn đất và người (NXB Tổng hợp TP.HCM - 2015) của anh bạn Nguyễn Thanh Lợi xem sao? Anh giải thích: Cây da ở đường Bà Hom (quận 6), trước mặt chợ Phú Lâm mới, vốn là cây da sà (da si, ngừa) bị đọc chệch thành cây da sà. Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Chấp, 75 tuổi, thư ký đình Nghi Hòa, ngụ cư đã 4 đời thì trước đây, ở gần ngã tư Cây Da Sà có một cây da tuổi ước mấy trăm năm. Cây da này rất lớn, đường kính cũng phải vài người ôm, tàng cây phủ rộng vài chục mét, có nhiều nhánh sà xuống. Trong đó, có một nhanh mà rễ cái của nó đường kính đến một người ôm. Bên dưới có ngôi miếu Ngũ Hành. Năm 1956, cây da này chết và ngôi miếu theo đó cũng sụp đổ (SĐD, tr.53).

Cách lý giải có khác nhau, nhưng rõ ràng gọi Cây Da Sà là chính xác. À, trên Google/ maps cũng ghi Chợ Cây Da Sà.

Tiếng Việt rắc rối quá.

Chiều hôm qua, đọc trên Facebook của anh bạn Vương Công Đức, tác giả Trảng Bàng Phương chí có thông tin này cũng lý thú không kém: “Tối qua, tình cờ xem bộ phim tài liệu "Lịch sử biển đảo VN" chiếu trên đài Truyền hình VTV2, phim có chạy chữ tiếng Anh dịch cho nội dung phim và phần phát biểu của ông anh thân thiết - nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Lợi diễn giải về phong tục thờ cúng Cá Ông ở Cần Giờ và Phan Thiết. Không biết nghĩ sao mà nhà đài VTV2 dịch chữ "xin keo" trong tập tục cầu khẩn thần linh của ngư dân ở Cần Giờ được sang tiếng Anh là "ask glue". Theo đó ask tức là xin, còn glue là keo, hay keo dán (chẳng hạn như keo dán sắt 502 vậy)! Thế chẳng khác nào xin keo có nghĩa là đi "xin miếng keo dán" vậy(?).

"Theo ý nghĩa chữ keo trong dân gian, keo có nghĩa đen là lần, lượt... ví dụ như "thua keo này, bày keo khác", hoặc có nghĩa đen khác: con keo tức miếng gỗ nhỏ; còn nghĩa bóng là cơ hội, sự cho phép... Vì vậy không biết các bạn giỏi tiếng Anh dịch như thế nào, chứ theo tôi nên dịch theo nghĩa cảnh là "ask a permission" hoặc "ask a chance"... (Nnói thêm: xin keo trong tập tục dân gian (thường làm ở đình, chùa, đền, miếu...) là việc cầu khẩn thánh thần cho phép làm một việc gì đó quan trọng bằng cách người xin cầm 2 miếng gỗ nhỏ có 2 mặt khác nhau tượng trưng Âm Dương tung lên rớt xuống, nếu một sắp một ngữa (một Âm một Dương) là đặng (được), còn nếu cả 2 cùng sắp (Dương) hay cùng ngữa (Âm) là không đặng. Riêng nếu cả 2 cùng ngữa thì có thể xin lại keo khác, vì thánh thần chưa rõ ta muốn gì hay thử thách sự kiên trì của người xin)".

Nhân đây, xin bổ sung, "xin keo" còn gọi "xin âm dương". Ngoài miền Trung, chẳng hạn, ở nhà y không dùng "2 miếng gỗ nhỏ có 2 mặt khác nhau tượng trưng Âm Dương", đơn giản hơn, chỉ dùng 2 đồng tiền kẽm ngày xưa, giữa có lỗ hình vuông, bôi vôi trắng  vào 1 mặt của 2 đồng tiền đó để sử dụng lúc "xin keo".

Tóm lại. Ơ hay, câu chuyện đang hay kia mà, sao lại "tóm lại"? Nhưng "tóm lại" cái gì vậy Q?

Thưa, bàn chuyện chữ nghĩa lằng nhằng trong trong lúc cà phê cà phê cà pháo, cà kê dê ngỗng, con cà con kê, tóm lại bao giờ cũng có sự lý thú của nó.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 2.3.2016

PDF.InEmail

tinh-nho-got-sen

 

Đọc lại Số đỏ, chắc hẳn ai lại không phì cười trước cảnh ngộ đáo để: Trong lúc Tuyết, một cô gái tân thời đang tung tăng trong vườn hoa, có chàng thi sĩ lẽo đẽo theo sau: “đôi mắt lờ đờ, cái thân thể ốm o lẩn trong bộ Âu phục quần chân voi, cứ đăm đăm chiêu chiêu nhìn Tuyết”. Và… ngâm thơ: “Chẳng được như hoa vướng gót ai/ Lòng ta man mác tả tơi thay/ Vội vàng nhặt lấy bông hoa nát/ Ðể áp cho lòng nỗi đắm say!”. Lúc ấy, Xuân Tóc Đỏ đi bên cạnh Tuyết, chẳng lẽ im lặng để mặc cho “tình địch” sử dụng thơ chiếm lấy trái tim trinh nguyên của nàng ư? Không, Xuân Tóc Đỏ cũng há mồm ra đọc thơ, xem ra hiệu quả lắm, nếu không, sức mấy Tuyết thốt lên khen: “Giời ơi, anh là một bậc kỳ tài! Thật là xuất khẩu thành chương”?

Nhắc lại chi tiết này, dù dẫn chừng từ tiểu thuyết trào phúng, nhưng rõ ràng, Vũ Trọng Phụng đã lấy xây dựng tình tiết từ cuộc đời thật. Nghĩa là, tỏ tình bằng thơ trước đây phổ biến và nay, chưa chắc đã mất đi.

Một trong những câu thơ hay nhất của Lưu Trọng Lư: “Em chỉ là người em gái thôi/ Người em sầu mộng của muôn đời/ Tình em như tuyết giăng đầu núi/ Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời” - chính là thơ tỏ tình dành cô nữ sinh Phùng Thị Cúc, 17 tuổi học trường Thăng Long (Hà Nội). Sau này, cô sẽ là nhà điêu khắc lừng danh năm châu bốn biển: Điềm Phùng Thị. Từ những vần thơ thời thanh niên, mãi vài chục năm sau, khi gặp lại, cả hai đều đã lập gia thất, trong hồi ký Nửa đêm sực tỉnh, Lưu Trọng Lư kể: “Hôm ấy Nguyễn Tuân dắt Cúc lại ngồi bàn với tôi và vợ tôi là Mừng, Tuân cười xì xì: “Đây rồi, đối mặt thì ngâm gì thì ngâm đi”. Tất cả chúng tôi cùng cười với nhau vui vẻ, tưởng chừng như cuộc sống chẳng có điều gì xẩy ra, có khi như thật mà như đùa vậy”.

Vâng, cuộc sống nó vốn thế, cứ diễn ra mọi điều, có thể lúc mình không toại nguyện, nhưng về sau, ngẫm lại, biết đâu lại hay.

Nghĩ rằng, đọc một bài thơ nếu biết thêm cảm hứng của tác giả bắt đầu từ hình bóng nào ắt cũng thú vị. Ông Hồ Dzếnh bảo rằng: “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở”, có lẽ chữ “đẹp” ở đây chính là cảm hứng, sự hưng phấn của nhà thơ lúc đang đeo đuổi người tình chăng? Mà một khi đang đeo đuổi, đang tán tỉnh, đang lên bờ xuống ruộng, đang hồn xiêu phách lạc, đang “như đứng trên lửa, như ngồi đống than”, đang thầm thương trộm nhớ thì cảm xúc thơ mới dạt dào như sóng vỗ. Những bài thơ nồng nhiệt yêu đương ấy, người nhận sẽ xiêu lòng chăng?

Chưa chắc.

Khi đang là sinh viên năm thứ hai, y đã chết mê chết mệt với một nữ sinh viên khóa trước, được giữ lại trường, học tiếp làm giảng viên. Trời, nghe giọng nói Mỹ Tho mà cứ ngỡ như uống nước dừa xiêm. Làm thế nào để bày tỏ tình cảm? Chỉ có thơ. Một trong những bài thơ y viết cho nàng năm tháng ấy, Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương, sau này nhiều người yêu thích: “Tình yêu làm nắng hạ hóa mưa xuân/ Có phải tôi về nên mùa này mưa vội?/ Qua kênh Chợ Gạo một chiều bão nổi/ Đôi mắt tôi chìm trong đôi mắt của em…”. Còn nhớ, buổi chiều hôm đó trời mưa tầm tả, y và bạn học Trương Nam Hương đã đi chung chiếc xe đạp sườn ngang lên nơi nhà nàng đang ở trọ để trao thư. Con đường Phạm Viết Chánh ấy, làm sao có thể quên?

Khi đến nơi, ướt như chuột lột, mặc tiếng gọi đến khản giọng nhưng cửa nhà vẫn im ỉm đóng. Đành bỏ bài thơ vào bao ni lông cho khỏi ướt, rồi ném luôn vào trong sân. Vài ngày sau, tình cờ gặp nhau, nàng bảo: “Em trả lại bài thơ cho anh đây. Em đã đính hôn rồi. Anh ấy cũng bộ đội xuất ngũ như anh”. Chính câu cuối cùng khiến y tự ý thức phải rút lui. Chẳng lẽ lại tán tỉnh một đồng đội, dù chưa gặp mặt nhưng cũng đã trải qua chiến tranh như mình? Vì thế, trong bài thơ Bài ca từ biệt mới có câu: “Tôi mường tượng dáng em về yểu điệu/ Lúc con sông bẽn lẽn áo vu quy/ Chim chóc ơi bay về đây uống rượu/ Chia sớt cùng tôi men đắng buổi chia ly…”.

Bẵng đi một thời gian dài, ngày nọ có một bạn đọc nam đến Báo Phụ Nữ TP.HCM tìm gặp y. Thật ngạc nhiên khi anh đưa Thiệp cưới và mời dự. Ngạc nhiên quá, y có quen biết gì đâu. Sau một lúc trò chuyện, anh cho biết đã chép bài thơ Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương nhằm “thay lời muốn nói”. Không ngờ, cô bạn gái gật đầu cái rụp. Một phần do thơ, còn một phần do nội dung nói đúng tâm trạng của chàng trai miền Trung yêu cô gái Tiền Giang. Anh kể: “Vợ sắp cưới của tôi tâm sự là bị “đốn ngã” bởi mấy câu này: “Đừng ví tôi như sỏi đá miền Trung/ Tình yêu đến ai không nghe cỏ hát?/ Tôi vội vã vì trong ruột đất/ Mẹ tôi gieo hạt lúa phải còng lưng”. Cô ta bảo đọc xong thương… tôi quá”.

Thế đấy, có những bài thơ đã viết, chính tác giả thất bại, trái tim giai nhân không run rẩy, xúc động mảy may nhưng lại ép-phê người tình của kẻ khác. Đúng. Làm sao có thể “thống kê” đầy đủ bao nhiêu người trải qua nhiều thệ hệ đã mượn thơ Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Bùi Chí Vinh, Trương Nam Hương, Nguyễn Nhật Ánh… để thổ lộ tâm tình? Và bao nhiêu người đã nhờ vần thơ ấy mà nên duyên vợ chồng?

Trong vòng hơn 20 năm đã in đến chục tập thơ, từ Trong cõi chiêm bao đến Thơ tình của Quốc, qua đó, có bao nhiêu bài thơ đã viết riêng cho những ai đó? Khó có thể đếm hết, dầu rằng vẫn còn nhớ như in từng nhan sắc ấy. Nhưng rồi, y nghiệm ra rằng, thơ không là gì cả. Những bài thơ ban đầu được gửi đi, có thể vọng về một tín hiệu nào đó, nhưng thơ không là tất cả. Ngoài thơ, tình yêu còn đòi hỏi nhiều yếu tố khác nữa. Nhiều lắm. Đôi lúc, người thơ không đáp ứng nổi, chẳng gì to tát, có thể chỉ là món quà ngày sinh nhật, câu nhắc chúc mừng ngày lễ Valentin, 8.3 chẳng hạn, nhưng rồi lơ đễnh, đễnh đoảng, lơ tơ mơ với thơ nên lại quên khuấy. Thế là bao nhiêu công sức tỏ tình bằng vần điệu du dương trở thành công cốc.

Đến một lúc nào đó, bản thân nhà thơ cũng không còn viết những bài thơ tỏ tình như thời trẻ nữa. Đơn giản, họ đã “yên bề gia thất”. Một lời hẹn hò, tỏ tình hết dám thốt ra; một chút say nắng cũng không; làm sao dám tung tăng, bay nhảy như thời trẻ? "chỉ cần nghe gió hát trên môi/ mây trời bay thấp thoáng/ bóng hồng khác lại khiến anh choáng váng/ săn đuổi theo bằng cảm xúc huy hoàng/ như lần đầu tiên/ như lần thứ nhất/ cũng đắm say đầu mày cuối mắt". Đã hết dám rồi. Hôm nọ, y bảo nhà văn Đoàn Thạch Biền: “Bây giờ Q sống nhẹ nhàng lắm. Nếu cái gì của mình ắt của mình, bằng không chẳng gì phải dằn vặt, đớn đau, thổn thức, mất ăn mất ngủ như trước. Tuyệt quá, phải không anh?”. Ông nhà văn Tình nhỏ làm sao quên cười mà rằng: “Thế, liệu còn có thơ?”.

Mà thôi. Thời tuổi trẻ đã xa rồi.

Đọc lại những bài thơ đã viết, chẳng thể lý giải vì sao, lúc ấy, thời điểm ấy, với người này, người nọ mình phải buột miệng thốt lên đau đớn: “Anh đi tìm trong bụi bặm lao xao/ Một tình yêu đang rụt rè bước đến/ Mọi sự vật anh đều nhìn lơ đễnh/ Đi giữa đám đông mà thắp đuốc tìm người/ Chẳng nhìn thấy ai trong dục vọng chợ đời /Anh tìm được anh bơ vơ như trẻ lạc”.

Tự dưng, thương quá.

Thương lấy tuổi trẻ và tình yêu vô tội của chính mình.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.2.2016

PDF.InEmail

 

ngy-tho-nguyen-tieu-2016

 

Tại miền Nam, Kim, Vân, Kiều truyện của Trương Vĩnh Ký là văn bản chữ Quốc ngữ đầu tiên. Lâu nay cứ tưởng Truyện Thúy Kiều do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo, in lần đầu 1925 là văn bản Kiều chữ Quốc ngữ đầu tiên in ở miền Bắc. Không phải, ở miền Bắc phải kể đến Kim Vân Kiều tân truyện của E.Nordemann in năm 1897. Vài năm trước, NXB Hội Nhà văn có tái bản quyển Quảng tập viêm văn (Annam văn tập) cũng của tác giả này, in lần đầu vào năm 1898, ngoài bìa ghi rõ “Dáo học Ngô Đê Mân chích lục”. Có thể hiểu “dáo”: giáo; “chích”: trích. Ông Nordemann là ai? Nói tắt một lời, ngày 1.4.1892 tại số nhà 59, phố Rue des Eventails, Hà Nội, Hội Trí Tri được thành lập theo sáng kiến của một số thông ngôn và giáo viên tiểu học bản xứ, với mục đích ban đầu là cùng trau giồi kiến thức và ngôn ngữ Pháp. Trong số các sáng lập viên của Hội có ông Nordemann - giáo viên tiểu học, sau này là Chánh Sở Học chính Trung Kỳ. Trụ sở của Hội Trí Trí về sau Trung tâm Giáo dục thường xuyên Nguyễn Văn Tố, số 47 phố Hàng Quạt, Hà Nội.

Có những điều lâu nay cứ tưởng là thế, tin là thế nhưng rồi đến một lúc lại cảm thấy trật lấc. Ngày kia, chừng mười năm trước có ghé sang Hội Nhà văn TP.HCM chơi. Lão nhà văn già bảo, về cuối đời sẽ viết lại cảm nhận của ông về Sài Gòn. Bèn hỏi, tại sao thế? Ông trả lời, ngày còn ở trong rừng chỉ qua sách báo, thông tin tuyên truyền cứ nghĩ “hòn ngọc Viễn Đông” thế này, nhưng khi đã sống lại phát hiện ra không hẳn, nó không thế này mà lại thế khác. Do đó, ông nhà văn lão thành này đã có những cảm nhận khác. Thế đấy. Nhận thức của mỗi người, có sự thay đổi cũng là lẽ tất nhiên. Hơn nhau, khác nhau ở chỗ là có dám trình bày lại lại sự thay đổi ấy hay không? Khó lắm.

Lâu nay, đã hiểu về chữ “chán chường” trong Truyện Kiều như giải thích của học giả Đào Duy Anh: “1. Đã trải qua nhiều rồi, không thích, không thú nữa, ví dụ: Quá chiều nên đã chán chường yến oanh; 2. Đã trải nhiều, không biết xấu hổ nữa; ví dụ Cổi xiêm lột áo chán chường”. Mà “chán chường” còn tạo nên cảm giác về một việc gì mà nình đã ngao ngán, chán ngán, đã bưa lắm rồi. Thế nhưng, ở thế kỷ trước, cụ thể những năm 1895-1896, năm ấn hành quyển Đại Nam Quấc âm tự vị, Huình Tịnh Paulus Của lại giải thích “chán chường” như sau: “no nê, vừa bộn, nhàm lờn. Chán chường: tỏ tường, bày ra trước mắt; thấy chán chường: thấy tỏ rõ; chán việc: nhiều việc, bộn việc; no chán: no rồi; ăn chán: ăn đầy bụng, hết muốn ăn; chán đồ ăn: chẳng thiếu chi đồ ăn; chán hê: nhiều lắm, dư ra; chán rồi: nhàm rồi; biết chán: biết dư, biết nhàm (tr.120).

Từ giải thích trên, có lẽ nhiều người đồng tình với với ý kiến của “nhà Kiều học” Nguyễn Quảng Tuân: “Cổi xiêm lột áo chán chường” là cởi lột áo xiêm bày ra trước mắt cho mọi người thấy. Nếu thế, câu thơ chỉ miêu tả hành động của Kiều chứ không ngụ ý cảm xúc của Kiều về việc làm đó. Giải thích như thế là đúng, vì lúc ấy, Kiều về tới Lâm Truy, bước vào “lầu xanh” và có một vài nhận xét đầu tiên. Nàng nhận xét từ mụ Tú “ăn gì to lớn đẫy đà làm sao” tới “Giữa thì hương án hẳn hoi/ Trên treo một tượng trắng đôi lông mày“. Nơi đó, các cô gái hành nghề buôn hương bán phấn: “Cởi xiêm lột áo chán chường/ Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm/ Đổi hoa lót xuống chiếu nằm/ Bướm hoa bay lại ầm ầm tứ vi”. Rõ ràng, lúc ấy Kiều chưa hề trải qua cảm giác " Đã trải nhiều, không biết xấu hổ nữa" như cụ Đào Duy Anh đã chú giải.

Đọc từ điển cũng có cái thú của nó đấy chứ?

Nhắc lại chi tiết nhỏ này bởi mấy ngày Tết vừa rồi về quê, nàng hỏi, anh có có đem sách gì theo đọc không? Tất nhiên có. Đó lá quyển Đồng âm dẫn giải và mẹo luật chính tả của Trần Văn Thanh, Việt Nam tu thư xuất bản tại miền Nam năm 1963. Nào ngờ, nàng nhăn mặt một cách kinh ngạc: “Thế à? Thế à?” cứ là như từ điển là loại sách không thể dùng để đọc giải trí. Nhiều người cũng có quan niệm đó, bởi loại sách này khô khan, chỉ dành phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập. Nghĩ thế thôi, cứ chịu khó lật từ điển đọc vài trang mỗi ngày mới vỡ lẽ ra nhiều điều lý thú chán!

Mới tối hôm qua, nàng bảo, anh phải siêng năng tập thể dục, ăn uống đầy đủ, chứ ốm tong, ốm teo, ốm như cà tong thì trông mất phong độ quá.  “Ốm” là “gầy”. Nghe câu “ốm như cà tong” nhưng thú thật “cà tong” là gì thì chịu chết. Nó cũng là một loại cò chăng? Nghĩ thế vì sực nhớ đến câu “ốm như cò ma”, bài vè Nam bộ cũng có câu: "dáng đi vất vưởng/ như thể cò ma"? Nó cũng là một loại như trái cà chăng? Nghĩ thế vì sực nhớ đến một loại cà dài ngoằng, ốm teo có cái tên cực kỳ oanh liệt là “cà dái dê”. Nó còn gọi “cà tím”, nướng lên, cho thêm một ít hành mỡ nữa rồi chấm nước mắm thì ngon tuyệt. Ca dao Nam bộ có câu:

Nên thì lập kiểng trồng hoa,
Chẳng nên đá kiểng trồng cà dái dê
Chẳng nên thiếp trở lộn về,
Dưỡng nuôi từ mẫu trọn bề hiếu trung

“Kiểng” là “cảnh”. Có cách giải thích là do kiêng âm "Cảnh" trong húy của Nguyễn Phúc Cảnh nên đọc thành "kiểng"; hoặc do con trai của vua Gia Long tên là Cảnh nên mới có biến âm đó. "Muốn làm kiểng lấy gái Sài Gòn/ Muốn ăn mắm cái, lấy gái đen giòn Bạc Liêu".  Cây cảnh/ cây kiểng; làm cảnh/ làm kiểng; cá cảnh/ cá kiểng; lính cảnh/ lính kiểng v.v… Lính cảnh không phải xông pha ra trận, đối mặt vơi hòn tên mũi đạn, chỉ ở hậu phương làm những việc phục dịch việc vặt, ngồi bàn giấy. Có một điều thú vị không rõ từ bao giờ “lính kiểng” lại trở thành “lính cậu?”.

Lòng vòng một hồi cũng không thể quên đi thắc mắc “cà tong” là gì?

Bèn tra từ điển Huình Tịnh Paulus Của, mừng quá, rành rành như vầy: “Con cà tong: Loài hươu, mang cao giò, chạy hay lắm”. Tóm lại, “cà tong, cà teo, cà nhom” là cao, gầy, mảnh khảnh, coi bộ ốm o. Mà thật ra, ốm (gầy) cũng chằng sao. Thời buổi này, chán gì người phải ăn kiêng, detox  để có được thân hình như y?

Về tình hình văn học nước nhà, trong thời điểm này có một vài sự kiện đáng chú ý: Ngày thơ Việt Nam năm 2016 đang triển khai ở các địa phương trong cả nước, nghĩ cho cùng, cũng là một phong trào “đến hẹn lại lên”. Chưa có dấu hiệu gì cho thấy thơ trở lại với trong đời sống. Hôm trước, y viết tham luận bằng thơ sẽ trao đổi trong tọa đàm “Sức sống thơ ca của TP.HCM từ 2010 đến 2015”. Tọa đàm này diễn ra vào lúc 8g30 sáng ngày 20.2.2106 tại Hội Nhà văn TP.HCM. Y quan niệm không phải thay đổi hình thức mà vấn đề là thơ viết về cái gì? Viết cái gì? Đơn giản vậy thôi:

Nhân loại đã chơi xong ván bài binh xập xám
Thể nghiệm đông - tây xáo trộn lằng nhằng
Hình thức à? À, chỉ là hình thức
Phải làm sao níu lại vệt sao băng?


Ẩn số ấy, tôi hỏi tôi dằn vặt
Hồn vía thơ ở đâu trong chín cõi vô hình?
Mỗi con chữ trổ bông trên cánh đồng chữ nghĩa
Là khi tôi dám thanh lọc máu mình


Giọt máu ấy tượng hình như hòn lửa
Thấu thị buồn vui không riêng chỉ một người
Mai sau nữa trên đường dài vạn dặm
Sứ mệnh của thơ không cách biệt với Đời

Nhà biên kịch Đoàn Tuấn comment:

Bây giờ thời của văn xuôi
Thơ như sương sớm lúc đời đang mơ.

Có lẽ Tuấn nói đúng. Thêm một sự kiện độc đáo nữa, cần ghi lại là nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã lập kỷ lục: 100 ngàn bản in lần đầu tiên cho tác phẩm Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồng (NXB Trẻ). Theo Nguyễn Nhật Ánh: “Tâm hồn con người cũng cần có vitamin, và sách - nhất là sách viết về động vật - là loại vitamin tuyệt vời nhất. Vì nếu con người ta biết yêu thương một con chó, thì hiển nhiên người ta sẽ biết yêu thương con người; xã hội nhờ vậy sẽ bớt đi những chuyện đau lòng”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 14.2.2016

PDF.InEmail

 

lang-hanh-huong-2RAm thờ ngoại cảnh. Ảnh chụp tại số 5 Lê Lợi (Huế)

 

Năm con khỉ Bính Thân, thế nhưng thiên hạ lại bàn luận về con rồng. Nguyên cớ thế này: ngay sau ngày đưa ông Táo về trời, NXB Hội Nhà văn cho ấn hành quyển Madam Nhu Trần Lệ Xuân - Quyền lực Bà Rồng. Quyển sách này, Mai Sơn dịch từ nguyên tác “Finding the Dragon Lady: The Mystery of Vietnam's Madame Nhu” của tác giả người Mỹ Monique Brinson Demery.  Dư luận quan tâm vì ai cũng biết bà Trần Lệ Xuân (1924-2011), tức bà Nhu, là vợ của ông Ngô Đình Nhu - cố vấn chính quyền ở miền Nam Việt Nam thời Ngô Đình Diệm. 

Liệu chừng, cụm từ “Bà Rồng”/ “Rồng Cái” có phản ánh được tính cách, số phận bà Lệ Xuân?

Trước nhất, có lẽ là ý kiến của Chị Đẹp phát biểu trên trang Facebook cá nhân: “Dragon lady dịch ra ‘bà rồng’ nghe thật kinh chứ, ngôn từ Việt Nam trước giờ chưa thấy gọi người đàn bà quyền lực nào là ‘bà rồng’ đâu. Nhớ chỉ có bà râu, bà râu oai hùng như bà Âu Cơ thôi à”. Ban đầu cứ tưởng Chị Đẹp dùng từ “bà râu” là tự bịa ra. Nào ngờ trong sinh hoạt cộng đồng của thanh thiếu niên ở miền Nam trước 1975, có ca khúc như vầy: “ Bà râu ơi! Bà râu ơi!/ Cháu muốn lên thăm bà trên núi/ Bà râu ơi! Bà râu ơi!/ Cháu muốn lên vuốt ve râu bà/ Bà oai hùng như bà Âu Cơ/Năm mươi con đang còn trên núi/ Bà oai hùng như bà Âu Cơ/Năm mươi con đang sống đất bằng”. Tất nhiên trường hợp bà Lệ Xuân không thể sử dụng cụm từ “bà râu”, những ý kiến khác đề nghị thay thế bằng bà La Sát, bà Chằn… nhưng cũng không thể. 

Về từ “bà rồng/rồng cái”, quả thật nghe lạ tai quá. Nếu có “bà rồng” ắt phải có “ông rồng”? Người Việt chưa bao giờ dùng “ông rồng” để chỉ đấng mày râu quyền lực, có tính cách như "bà rồng". Thậm chí người Việt không dùng từ "bà" để chỉ bất kỳ con vật nào. "Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn" trong thơ Nguyễn Trãi, nều đọc Kinh dịch ắt hiểu chỉ về mặt trời, về thời gian. Hiểu đúng câu thơ là ngụ ý đất nước không có vua. Có câu hát xưa: "Ngồi buồn nói chuyện trên non/ Một trăm thứ cá có con không thằng/ -Thầy ơi chớ nói bao đồng/ Một trăm thứ cọp có ông không bà". Chỉ gọi "ông cọp", không ai gọi "bà cọp". Do đó, khi nghe cụm từ "bà rồng" thấy ngớ ngẩn lắm. Về từ “cái” trong “rồng cái” chỉ cần lật từ điển tiếng Việt sẽ biết nó có cả thẩy bao nhiêu nghĩa. Có ý kiến cho rằng: “Madame Nhu không phải là người phụ nữ đầu tiên người Mỹ gọi là Rồng Cái. Cái danh xưng này dường như xuất phát từ nhân vật hư cấu trong truyện tranh Terry and the Pirates những năm 1930. Con Rồng Cái biếm họa đó là người đàn bà quyến rũ ghê gớm. Ả được tạo ra từ những nét mực vẽ phác rất hung tợn làm nổi rõ xương gò má góc cạnh và cặp mắt láo liên. Ả chỉ quan tâm đến tiền bạc và quyền lực. Từ đó, bất kỳ người phụ nữ châu Á nào không phù hợp với hình dung phương Đông một phụ nữ nhu mì, phục tùng mà lại sốt sắng đều bị dán nhãn “rồng cái”. Nữ hoàng cuối cùng của Trung Hoa, Từ Hy, là một, cũng như Tống Mỹ Linh, người sẽ trở thành Madame Tưởng Giới Thạch, và Madame Mao. Ngôi sao điện ảnh Mỹ gốc châu Á đầu tiên của Hollywood, Anna May Wong, được chọn hoặc vào vai phụ khiêm tốn là một cánh hoa mỏng manh hoặc là con rồng cái quỷ quyệt và đầy mánh khóe trong các phim như The Thief of Bagdad và Old San Francisco”.

Thông tin này, chính xác đến đâu, y chưa kết luận, đơn giản chỉ vì không có điều kiện kiểm chứng.

Khi mọi người sử dụng từ “cái” trong “Bố Cái đại vương” nhằm tôn vinh anh hùng dân tộc Phùng Hưng - người có công đánh đuổi giặc nhà Đường phương Bắc, rõ ràng thời đó, Bố Cái được hiểu là “cha mẹ”. “Em về nuôi cái cùng  con/ Anh đi trẫy hội nước non Cao Bằng” hoặc “con dại cái mang”. “Cái” là mẹ. “Tương tự, “cái” còn nhằm chỉ một sự vật có yếu tố to/lớn nhất. Thời nhỏ, mỗi lần mẹ nấu cơm, khi nước cơm sôi thường bảo: “Con lấy cho mẹ đôi đũa cái”. “Đũa cái” là đũa lớn nhất trong một/ nhiều bó đũa. "Hỡi anh đi đường cái quan/ Dừng chân đứng lại em than đôi lời", đường cái là đường lớn, đường chính; rễ cái, sông cái, thợ cái, cột cái v.v... là hiểu theo nghĩa đó; trong năm ngón tay/chân, ngón to nhất được gọi ngón cái; người trùm thiên hạ, có tính cách thủ lĩnh là “anh hùng cái thế” v.v… Tất nhiên, “cái” còn mang nhiều nghĩa khác nữa, nhưng ở đây không bàn đến vì ngoài phạm vi của nghĩa “bà rồng/rồng cái” dịch từ nguyên tác của quyển sách viết về bà Trần Lệ Xuân.

Một vấn đề cực kỳ lý thú được đặt ra, không rõ tự bao giờ “cái” còn nhằm chỉ về giới tính như “đực/cái”?

Sở dĩ, y quan tâm đến vì suy luận có lẽ ngay từ thời điểm đó, “cái” đã mất đi hoặc ít ra cũng không còn được ghi nhận như ý nghĩa có vai trò là “mẹ”, “to/lớn” nhất nữa. Khi nghe câu hỏi: “Con cái anh nếp tẻ thế nào?”, rõ ràng “cái” ở đây hàm nghĩa chỉ về giới tính để hỏi con cả/con trưởng, con thứ, con út; bằng không sẽ có cách hỏi khác: “Vợ con anh thế nào?”. Rõ ràng, “cái” theo nghĩa là mẹ, là to/lớn đã biến mất. Mà quái thật, không rõ có phải do từ sự “xuống cấp” này hay không mà rõ ràng có một điều dễ dàng nhận ra: từ “cái” một khi dùng gắn liền với người phụ nữ thường hàm ý xấu, mang sắc thái tiêu cực. Con cọp tất nhiên là dữ, nhưng phải là “dữ như cọp cái” mới đáng sợ; con ngựa đã từng tạo được thiện cảm qua ý niệm “mã đáo thành công”, nhưng khi một người đàn bà bị gán “ngựa cái” thì hàm nghĩa lại khác hẳn, gợi lên sự lăng loàn, trắc nết; khi nghe nói đến là “giặc cái”, “quỷ cái”, “chó cái” thì sao? Thì cũng không khác gì khi ta nghe đến “rồng cái”. Chẳng hay ho, tốt đẹp gì. Chỉ là sự khinh miệt, rẻ rúng, xem thường người phụ nữ.

Trong vốn từ tiếng Việt, từ xưa đến nay “cái” chưa bao giờ đi với “rồng” trở thành “rồng cái” nhằm chỉ người đàn bà: “Ả chỉ quan tâm đến tiền bạc và quyền lực”. Vì lẽ đó, khi dùng nó để chỉ một nhân vật điển hình như bà Trần Lệ Xuân, thiên hạ phản ứng cũng phải thôi. Mẫu người đó, lật lại lịch sử chỉ mới thấy có “Bà chúa Chè” Đặng Thị Huệ, chẳng hạn. Nhưng nó cũng không trở thành cụm từ mang tính khái quát với ý nghĩa vừa nêu trên. Tại sao như thế? Lịch sử Việt Nam trải qua nhiều triều đại không xuất hiện nhiều người đàn bà đã đóng vai trò như bà Trần Lệ Xuân hoặc dù có, nhưng không có tính cách và số phận như vậy. Nói cách khác, mẫu người đàn bà như trường hợp bà Trần Lệ Xuân không phổ biến, chưa từng lặp đi lặp lại, do đó, chưa có cụm từ nào dùng để chỉ khái quát mà khi sử dụng thì ai ai cũng thừa nhận. Sự thừa nhận này giống như khi ta dùng cụm từ “Thị Nở”, “chị Dậu”, “Chí Phèo”… để chỉ một mẫu người nào đó. Với bà Trần Lệ Xuân rõ ràng chưa có cụm từ nào, không thể dùng “bà rồng/rồng cái” gì sất, như đã phân tích trên vì nó hoàn toàn xa lạ trong tâm thức người Việt. 

Mà này, nói đi cũng phải nói lại, một khi đã xuất hiện cụm từ “bà rồng/rồng cái” nhằm chỉ “người đàn bà thép”, có quyền lực, có khả năng tham gia chính trường và có tham vọng thay đổi nó bằng mọi thủ đoạn, mọi tài trí thông minh, quyết đoán, độc ác hơn người thì biết đâu, từ cách sử dụng có tính cách “tiên phong” đó, dần dà về sau sẽ được mọi người chấp nhận? 

Mà cũng có thể lắm chứ. Cứ quan sát cách sử dụng lời ăn tiếng nói đã hình thành trong khoảng mươi năm trở lại đây, ta thấy có biết bao từ, cụm từ mới đã ra đời và rơi rụng dần. Không gì phải phê phán, dù cảm thấy khó chịu vì cụm từ đó nếu không đáp ứng được yêu cầu nội tại của hàm nghĩa vừa nêu trên (ít ra qua trường hợp bà Trần Lệ Xuân), tự nó sẽ mất đi. Thế thôi. Sực nhớ, ban đầu, khi nhà văn Nguyễn Công Hoan cao hứng nghĩ ra từ "Oẳn tà rroằn" nhằm chỉ kết quả của vụ ngoại tình giữa người đàn bà An Nam với ông tây đen mũi lõ: “Té ra thằng bé con chàng mà nước da lại đen như cái cột nhà cháy! Vậy nó không phải con Rồng cháu Tiên. Nó là giống "Oẳn tà rroằn" không biết chống gậy” - ban đầu có lẽ người ta chỉ thấy buồn cười. Nhưng rồi trải qua bao biến đổi, thay đổi về ngôn ngữ, nó vẫn “sống” sờ sờ, vẫn đồng hành cùng thời đại chúng ta đấy chứ?

À ghi lại kẻo quên, mấy ngày ở Huế, thỉnh thoảng vào La Résidence (5 Lê Lợi) uống cà phê, thấy ngoài vườn có am thờ và trên bệ khắc dòng chữ như sau: “Am thờ ngoại cảnh: Theo tín ngưỡng thờ cúng của đạo Phật và người dân Huế, “Am thờ ngoại cảnh” hiện diện ở hầu hết các gia đình ở Huế. “Am thờ ngoại cảnh” thường được đặt ở một góc vườn hoặc dưới một gốc cây cổ thụ trong vườn, tại đây có các vị thổ thần, thần cây và các thần linh ngoài trời được thờ cúng. Hằng tháng vào ngày trăng tròn và ngày cuối tháng, mỗi gia đình đều bày cúng hương, trầm, hoa quả, giấy tiền vàng bạc cầu mong được phù hộ để có được nhiều niềm vui, sức khoẻ và công việc làm ăn phát đạt”. “Am thờ ngoại cảnh” này, trong Nam cũng có và gọi đó là “bàn thờ thiên”? Còn nhớ, thuở nhỏ, trước nhà ông ngoại có trang thờ dì Nữ, em ruột của mẹ, mất lúc còn con gái. Đi đến những nơi nào nhìn thấy những am thờ ấy, lòng luôn nhẹ nhàng và dành nhiều thiện cảm.

Những ngày này còn có không khí Tết? Không rõ nữa. Từ Pilgrimage Village chuyển sang Vedana Lagoon, y hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài. Thế giới này có gì mà khiến y đắm đuối đến thế?

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.2.2016

PDF.InEmail

sang-mong-1-tet-2016

Sáng mồng 1 Tết Bính Thân (2016), từ trái: Lê Minh Tâm, Lê Minh Quốc, Lê Minh Tuấn


Ba ngày Tết vụt qua cái vèo. Chỉ nháy mắt là xong ngày xuân tuổi mới. Nắng ấm. Gió lạnh. Đường phố vắng. Những men say ngất ngưởng đã thoáng. Những nhố nhăng, bắng nhắng đã quên. Những hương vị của thời gian đã qua. Lại một mình cùng bàn phím. Chữ lại viết. Chữ lại đi. Từng con chữ tri âm. Chữ hái ra mây trắng. Chữ trôi về lãng du. Và cuối cùng là gì? Chẳng rõ nữa. Mồng 3 Tết, đưa ông bà. Sáng dậy sớm đã thấy sửa soạn bếp núc. “Ngày mai anh đi Huế rồi. Năm nay cúng sớm hơn mọi năm”. Thì ra thế. Nghe cô em dâu nói mà cảm động. Thì ra, cũng vì y đó thôi. Mọi năm thường là mồng 4 Tết. Ngoài sân đang đốt giấy vàng mã. Khói và tro bay loáng thoáng trong nắng. Hoa cúc vàng. Lá biếc xanh. Đà Nẵng trong tâm tưởng, trong mắt nhìn và tận trong sâu thẳm nỗi nhớ rõ rệt và đậm dấu nhớ không phai.

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

Tay kiếm cung mà nên dáng từ bi,

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Được mất dương dương người thái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không phật, không tiên, không vướng tục.

Còn lâu y mới được ngất ngưởng như Nguyễn Công Trứ. Đó là người biết sống. Tâm thế y còn sân si lắm. Hỉ nộ ái ố vẫn đầy. Sức mấy có thể an nhiên tự tại nhìn ngắm cuộc đời một cách nhẹ nhàng đến thế. Còn phải vật lộn chán chê trong cuộc mưu sinh mỗi ngày. Làm sao có thể “thõng tay vào chợ”? Đi vào chợ là đi vào dòng đời với mọi sắc dục trần tục của một kiếp người. Chỉ các bậc thiền sư đi vào chợ mới có thể an nhiên như đang tu tâm dưỡng tính trên non xanh rừng thẳm.

Trăm năm trong cõi người ta”. Tiếng thở dài ngân vang thăm thẳm của 6 từ ấy đã vẽ ra một số kiếp, một phận người, một cuộc mưu sinh liên tục, dằng dai, không một phút nào ngơi nghỉ. Nếu thu gọn lại trong 1 từ, chỉ có thể là từ “chợ”. Thật ra cuộc chiến đấu kinh khiếp nhất không phải lúc đi giữa chợ bị sự tác động ngoại vật chi phối đến tâm, tính, tình mà chính là cuộc chiến chống lại chính mình. Chống lại những hằn học, ham hố, lăng nhăng, ba trợn ba trạo, ba que xỏ lá, đá cá lăn dưa, vẽ nhọ bôi hề từ phía bóng tối của tâm hồn. Làm thơ, vẽ vời chính là sự “thanh lọc”, “tẩy rửa” linh hồn để tìm về cái thuở vừa cất tiếng khóc oa oa chạm mặt cõi nhân sinh. Rồi bước chân đi vào trong “chợ”. Đi vào “trăm năm trong cõi người ta”. Tưởng chỉ “người ta” thôi ư? Không đâu, nơi đó còn có cả ngợm, người, tiên, thánh thần, ma ma Phật Phật … nữa. Rồi có lúc con người ta lại tự hỏi và tự tìm lấy câu trả lời: “Tôi là ai, từ đâu đến, và cuối cùng đi về đâu?”. Trong các câu hỏi vọng lên trong cõi hỗn mang trời đất, câu hỏi ấy là nhảm nhất. Sống là bước đi, là nhập cuộc. Sống đi. Lao về phía trước. Có lúc hài lòng, có khi thất vọng. Đời nó vốn thế. Vậy hà cớ gì phải bận tâm với câu hỏi chết tiệt kia? Nghĩ thế, bèn tự nhủ: “Làm thơ đi. Có phải nhẹ nhàng hơn không?”. Đúng thế.

Thời gian lầm lũi trôi qua

Sáng nay chợt thấy ối chà, chà xuân

Xuân là Tết. Tết, niềm vui ấy, dẫu ở độ tuổi nào đi nữa, con người ta vẫn còn nguyên vẹn sự háo hức và chờ đợi. Không gì thanh thản, hân hoan, rộn ràng cho bằng những ngày đợi Tết. Đợi một cảm giác đang đến trong từng phút giây, từng ngày. Thì ra, một trong những niềm hứng nhất, trong đó còn có cả sự chờ đợi nữa. Rồi sự chờ đợi ấy cũng đến. Tết đến. Rồi Xuân qua. Dòng chảy của thời gian ngàn đời vẫn thế.
Những ngày Tết, lại là dịp ngồi một mình và nghĩ về chính mình. Xoè tay ra thấy gì ngoài những đường mưu sinh ngang dọc đã hằn nếp? Thấy gì ngoài mây trắng đã đọng lại trên mí mắt? Thấy gì ngoài những ngọn gió thời gian đã thổi buốt óc? Thấy gì? Đôi khi con người ta chẳng thấy gì ngoài số tuổi đã chất chồng trĩu vai, chồn chân mỏi gối.

Sáng dậy sớm. Đi một vòng, đi lại những ngã đường đã từng đi. Lắng nghe dưới gót giày nhịp đi trên phố vọng lên tiếng gọi: “Q ơi”. Âm thanh ấy bao giờ cũng hiện diện rõ nét trong chính tâm hồn. Y mê đắm. Y đắm đuối nơi đã sống chỉ 18 năm nhưng lại trở thành cội nguồn. Về quê là gì? Là lúc con người ta nạp lại năng lượng. Năng lượng từ thiên nhiên, mái ấm, tình thân, bạn bè, từ giọng nói của vùng đất đã chôn nhau cắt rốn… Nạp lại năng lượng sống. Ý nghĩa của về quê đó chăng? Ai cũng có một nơi chốn để quay về. Cái lần cuối cùng ấy, ai cũng như ai. Chỉ ba tấc đất. Một nhúm tro. Vậy là xong một dấu tích một con người đã  từng có khoảnh khắc ngắn ngủi dẫm chân lên trái đất.

Ngày Tết qua nhanh. Sáng mồng 1, như mọi năm lên thắp nhang mộ ba, chị Ái. Trên đường về, ăn bê thui Cầu Mống. Tối lai rai cùng bạn bè. Ngày mồng 2, theo lệ cũ, anh em cựu chiến binh tập trung nhà Nghĩa, sau đó, lên nhà Bảo. Hôm nay, mồng 3 Tết rồi. Ở nhà. Mỏi mệt. Đã nghe những cuộc điện thoại, nhưng từ chối. Oải quá rồi. Thoáng nhớ mùi men đã chợn, đã ngấy. Ở nhà, đọc nhì nhằng cho nó lành. Đọc cái tin này, khiếp quá. Báo Thể thao & Văn hoá đưa tin lấy từ nguồn TTXVN: “Trong 3 ngày (từ ngày 28 đến sáng mùng 2 Tết), hệ thống các cơ sở khám, chữa bệnh đã khám cấp cứu cho 17.278 trường hợp do tai nạn giao thông (tăng 113% so với Tết Ất Mùi), trong đó 1.928 trường hợp chấn thương sọ não (chiếm 11,2%), 182 trường hợp phẫu thuật chấn thương sọ não (chiếm 1%). Tổng số ca khám, cấp cứu do đánh nhau là 1.971 trường hợp (giảm 83% so với 3 ngày Tết Ất Mùi)”.

Chiều mai đi Huế.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 5.2.2016

PDF.InEmail


tap-chi-nghien-cuu-han-nom-1R

 

Vàng tuy trời chẳng trao tay

Bình an hai chữ xem tày mấy muôn

…Từ xa xưa, Nguyễn Trãi đã viết trong Gia huấn ca hai câu thơ trên để thấy rằng bình an là điều đáng quý như thế nào. Vì vậy người Việt gặp nhau trong những ngày đầu năm mới, chúng ta vẫn thường chúc nhau “Bình an”, “An khang”… Thậm chí ngày thường, câu cửa miệng cũng là chúc nhau “An toàn”, “An lành”, “An nhiên tự tại”… (Thư Ban Biên tập - Báo Tuổi Trẻ số Tất niên 4.2.2016, tr.1). “Gia huấn ca của Nguyễn Trãi (1380-1442) là một tác phẩm có nội dung khuyên dạy những người thân trong gia đình, học trò, về cách ăn ở cư xử ở đời…” (Chuyện ẩm thực trong thi văn ngày trước - Kiến Thức Ngày Nay số Xuân 2016, tr.62). Như một sự mặc định lâu nay, hễ nói đến Gia huấn ca, mọi người lại gán cho Nguyễn Trãi. Từ nhiều năm nay, giới nghiên cứu đã có những ý kiến “nói khác” và chứng minh rằng, Nguyễn Trãi không phải là tác giả Gia huấn ca.

Có lẽ, người trước nhất lên tiếng nghi ngờ là học giả Hoàng Xuân Hãn, trong Thi văn Việt Nam (1951), ông đặt vấn đề: “Tuy nhiên, các chữ cổ, thường thấy trong những bài chắc chắn soạn đời Lê, ở đây thấy rất ít. Vả trong một vài nơi có nói đến các thứ đánh bạc như tổ tôm, tam cúc, chắn, đố mười. Không biết những trò chơi ấy đã có đời Nguyễn Trãi hay chưa? Nói tóm lại, ta không có chứng gì nhận chắc quyết lời tục truyền rằng tập gia huấn này là của Nguyễn Trãi. Nếu thật là của ông soạn ra, thì sự sao đi chép lại bởi người đời sau, và nhất là đời Nguyễn, đã làm cho phần văn cổ đã bị chữa đi nhiều rồi".

Vậy ai là tác giả Gia huấn ca?

Câu hỏi lý thú này, trên tạp chí Nghiên cứu Hán Nôm - 1984 của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nhà nghiên cứu Hoàng Văn Lâu cho biết: “Chúng tôi đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi được nêu từ kho thư tịch và tư liệu Hán Nôm”. Có thể tóm tắt, ông Lâu đã tìm được văn bản chép tay, ký hiệu AB.532. “Điều đáng chú ý là bản nay còn giữ lại được lời ghi chú, một Nguyên tự của tác giả và một bài Bạt ở cuối sách”. Từ những thông tin này, “cho chúng ta biết: 1. Tên của tác phẩm này (tức là bài thứ nhất trong Gia huấn ca)Phụ châm; 2. Phụ châm được tác giả sáng tác dựa trên những câu cách ngôn cổ và những câu ca dao, tục ngữ bằng quốc ngữ”. Ai viết Phụ châm? Nguyên tự không nêu tên tác giả. May quá, trong lời Bạt cho biết Phụ châm là sáng tác của Yên Thái Tôn sư. Vị thầy tôn kính ở Yên Thái là ai? Về địa danh Yên Thái, Hà Nội có phường Yên Thái, nhưng Nghệ An cũ, Thanh Hóa, Sơn Tây cũ, Nam Định cũng có địa danh Yên Thái; hoặc An Thái. An hoặc Yên cùng là 2 âm đọc của một chữ.

Chưa thể có câu trả lời dứt khoát.

Ông Lâu lại tiếp tục tìm kiếm các tài liệu khác. Ông tìm được hai văn bản có tên Xuyết thập tạp ký. Một bản ký hiệu A.1792. Một bản ký hiệu AB.132. Theo nhà thư mục học số Một của Việt Nam, cụ Trần Văn Giáp, tác giả Lược truyện các tác gia Việt Nam, Thư mục Hán Nôm khẳng định là tác giả Xuyết thập tạp ký là Lý Văn Phức (1785-1849). Văn bản ký hiệu A.1792 bị loại “vì nội dung của sách không phù hợp với bài tự của Lý Văn Phức ghi trong Xuyết thập tạp ký”. Văn bản ký hiệu AB.132 ngay trang đầu có bài tự của tác giả, ký tên: “Vĩnh Thuận Khắc Trai Lý Văn Phức Lân Chi”; phần Phụ châm được chép cuối sách có tên Phụ châm tiện lãm, ghi rõ “Lý Hồ Khẩu tiên sinh soạn”. Hồ Khẩu là địa danh. Ông Lý ở Hồ Khẩu là ai? Chính là Lý Văn Phức, người  làng Hồ Khẩu, huyện Vĩnh Thuận (Hà Nội). “Điều này hoàn toàn phù hợp với lời của bài Bạt trong Cảnh phụ châm, ký hiệu AB.532, nói rằng Phụ châm là tác phẩm của Yên Thái Tôn sư”.

Được biết, Hồ Khẩu và Yên Thái là hai làng liền nhau thuộc tổng Trung, huyện Vĩnh Thuận của Hà Nội cũ. Làng Hồ Khẩu, nơi hiện còn đền thờ Lý Văn Phức, vẫn được gọi là phố Yên Thái. Theo ông Lâu, Lý Văn Phức (1785-1849) đã viết Nhị thập tứ hiếu, Phụ châm và một số tác phẩm chữ Hán là lúc đang dạy học ỏ đây.

Sự việc đã rõ ràng. Vấn đề đặt ra vì sao Phụ châm của Lý Văn Phức lại "nhảy" vào Gia huấn ca và ghi tên tác giả là Nguyễn Trãi. 1. Sách cũ có nói Nguyễn Trãi viết Gia huấn ca, đời sau, có người tưởng rằng Phụ châm kia chính là Gia huấn ca nên đã sưu tầm, sắp xếp và lấy tên chung là Gia huấn ca? 2. Cũng có thể là một "ngụy thư" - nhằm gán cho Nguyễn Trãi? Nhắc lại rằng, Nam phong tạp chí số 48 (1921) từng "phát hiện" và in nhiều kỳ Lĩnh Nam dật sử, đề là tác phẩm của danh tướng Trần Nhật Duật. Sau đó, bổn báo phải có bài cãi chính trên số báo 53. "Râu ông nọ cằm bà kia" là chuyện thường tình trong văn học sử. Chẳng hạn, bài thơ Bán than: "Một gánh kiền khôn quẩy tếch ngàn/ Hỏi chi bán đó, dạ rằng than/ Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt/ Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn/Ở với lửa hương cho vẹn kiếp/ Thử xem sắt đá có bền gan/ Nghĩ mình lem luốc toan nghề khác/ Nhưng sợ trời kia lắm kẻ hàn" được gán cho danh tướng Trần Khánh Dư. Dù rằng, với các chứng cứ trên, đâu phải ai ai cũng “tâm phục khẩu phục” nhưng từ sự nghi ngờ của học giả Hoàng Xuân Hãn chắc chắn Gia huấn ca không thể ra đời từ thời Nguyễn Trãi. Xin nêu một ví dụ về từ ngữ đặng chứng minh cho ý kiến của Hoàng Xuân Hãn. Ông Nguyễn Dư, tác giả Khơi lại dòng xưa (NXB Lao Động) trong bài viết Đi tìm tác giả Gia huấn ca, có đoạn:

“Đua chi chén rượu câu thơ

Thuốc Lào ngon lạt nước cờ thấp cao

Chữ "Lào" được dân ta dùng từ thời nào? (…) Sách Dư địa chí (1438) của Nguyễn Trãi chép: "Biển cùng Vân, Linh ở về Thuận Hóa. Ở vùng ấy đất thì đen, mầu mỡ, hợp với trồng thuốc hút và thứ tiêu hạt to; ruộng thì vào hạng trung trung. Điện Bàn có trĩ vàng. Sa Bôi có chè lưỡi chim sẻ. Hải Lăng có thỏ lông trắng. Thuốc hút (chỉ dược) là thứ cây lấy lá cuộn vào giấy rồi châm lửa hút" (Nguyễn Trãi toàn tập, tr. 234). Đầu thế kỉ 15, nước ta có trồng cây thuốc hút (chỉ dược). Nguyễn Trãi không nói tới thuốc lào.

Cây thuốc hút của Nguyễn Trãi có phải là cây thuốc lá hay thuốc lào ngày nay không?

Lê Quý Đôn cho biết: “Sách Thuyết Linh chép: Thuốc lá (yên diệp) sản xuất từ đất Mân. Người ở biên giới bị bệnh hàn, nếu không có thứ này thì không trị được. Vùng quan ngoại, thuốc lá rất quý, đến nỗi có người đem một con ngựa đổi lấy một cân thuốc lá. (...) Cây thuốc lá sản xuất ở Lữ Tống (Phi Luật Tân) vốn tên là Đạm ba cô (tobacco). (...) Nước Nam ta lúc đầu không có cây thuốc lá ấy. Từ năm Canh Tí tức niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 3 (1660) đời vua Lê Thần Tông (...) người Ai Lao mới đem đến, nhân dân nước ta bắt đầu trồng cây thuốc lá. Quan dân, đàn bà con gái tranh nhau hút thuốc lá, đến nỗi có câu: "Có thể ba ngày không ăn, chớ không thể một giờ không hút thuốc lá". Năm 1665 đời vua Lê Huyền Tông, triều đình đã hai lần xuống lệnh chỉ nghiêm cấm, lùng bắt những người trồng thuốc, bán thuốc và lén hút thuốc, nhưng rốt cuộc không dứt tuyệt được. Người ta phần nhiều khoét cột tre làm ống điếu và chôn điếu sành xuống đất. Tro than thuốc lá lắm lần gây thành hoả hoạn. Lâu dần lệnh cấm bãi bỏ. Nay thì việc hút thuốc lá đã thành thói thông thường" (Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, bản dịch của Tạ Quang Phát, Văn Hoá Thông Tin, 1995, tập 3, tr. 158-159).

Theo Lê Quý Đôn thì cây thuốc lá được người Ai Lao đem vào nước ta năm 1660, nghĩa là hơn 200 năm sau khi Nguyễn Trãi chết”.

Đọc tài liệu cũ, biết thêm đôi chút điều gì đó, cũng là cái thú vậy. Những ngày này, chỉ một hai ngày nữa là Tết rồi, trong lòng chộn rộn, thư thái với cảm giác nghỉ ngơi, không bận rộn gì. Hôm qua đã mua về nhà hai chậu hoa vạn thọ. Mẹ y thích ngắm nhìn sắc màu vàng chanh; hoặc vàng nghệ của loại hoa có cái tên dân dã, bình dị ấy.

Sáng nay, thức dậy sớm. lại đọc lai rai một cái gì đó.  Đọc và dừng lại ở từ “mỗ”. Sở dĩ quan tâm, vì đồng nghiệp N.K.L đang ký bút danh này. Lâu nay, ai cũng biết “mỗ”: 1. tôi, ta, tiếng tự xung: “như mỗ đây”; 2. tiếng dùng để chỉ người, nơi, vật không rõ tên cụ thể: mỗ xứ, mỗ danh. Đại từ điển tiếng Việt của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam giải thích rành ràng. Đố mà cãi.

Thế nhưng khi đọc thơ văn cổ, khi gặp từ “mỗ” lại không thể hiểu theo nghĩa đó. Khi khảo sát thơ Quốc âm của Nguyễn Trãi, Tiến sĩ Trần Trọng Dương đã giải thích “mỗ” (từ cổ) theo nhiều nghĩa, xin lược ghi: 1. thường đứng trước danh từ phiếm chỉ, nọ, nào đó, chỉ người hay sự vật nào đó chưa biết một cách rõ ràng xác định. “Thủy chung mỗ vật đều nhờ chúa/ Động tĩnh nào ai chẳng phải sày”; 2. trỏ đối tượng đã nhắc đến, hoặc đối tượng mà ai cũng biết đến. “Ở thế những hiềm qua mỗ thế/ Có thân thì sá cốc chưng thân”, mỗ thế: cuộc đời này; 3. ngôi tự xung, ta, có thể là chủ ngữ, cũng có thể làm tính từ với nghĩa “của ta”. “Phú quý chẳng tham thanh tựa nước/ Lòng nào vạy, mỗ hây hây”; 4. trỏ số lượng nhỏ, chút, mảy may. “Từ ngày gặp hội phong vân/ Bổ báo chưa hề đặng mỗ phân”; 5. một. “Trúc thông hiên vắng trong khi ấy/ Nừng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm”.

Trước đây, trên tạp chí Hán Nôm (số 1.1988), nhà nghiên cứu Nguyễn Tá Nhí cũng đã có bài biết Tìm hiểu nghĩa của từ “mỗ”. Điều thú vị của bài viết này, tác giả đã khảo sát Nguyễn Trãi - Quốc âm thi tập, Hồng Đức - Quốc âm thi tập, Thiên Nam ngữ lục để chọn ra các câu có từ “mỗ”.  Những ai muốn biết tần số từ “mỗ” xuất hiện cụ thể ra làm sao, hãy tìm đọc số tạp chí trên.

Tắt bàn phím thôi. Tết rồi. Xuống phố thôi. Chẳng lẽ cứ ngồi nhà rị mọ với chữ nghĩa mãi sao?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 2.2.2016

PDF.InEmail

 

ho-trinh-o-Thang-Long-3R

 

Đâu rồi không khí nhộn nhịp, tất nập, ồn ào vào nhũng ngày giáp Tết?

Xuống phố, đi ngang qua chợ chỉ thấy vắng hơn mọi ngày. Chưa có cảnh mua bán tấp nhập, ồn ào. Chưa hề có một chút gì chộn rộn của ngày sắp Tết. Khác hẳn mọi năm. Vì sao thế? Kinh tế “bèo” quá chăng, nếu thế, sự vắng vẻ của thiên hạ trong các cuộc mua sắm cũng là điều dễ hiểu. Những ngày này thật thong dong. Đã cho phép không phải tuân theo thời khóa biểu ngiêm ngặt của mỗi ngày. Được tự do. Không còn phải bó buộc vào khuôn khổ. Được thoát ra ngoài. Thoát khỏi bàn phím. Đi xuống phố. Mua sắm nhì nhằng. Ngắm cảnh đường phố. Nhìn lá vàng bay. Và mỗi tối, đọc sách.

Quyển sách đang đọc là Địa chí Phan Rí Cửa (NXB Hội Nhà văn), Ban Chấp hành Đảng bộ Thị trấn Phan Rí Cửa chỉ đạo biên soạn, dày 570 trang in, khổ 16x21cm. Nhà văn Đoàn Thạch Biền tặng hôm trước. Anh có góp phần thực hiện, bởi lẽ từ năm 1971, anh từng dạy học ở  Phan Rí. Người ban đầu giúp anh nhận nhiệm sở nơi đó là ông Trương Gia Kỳ Sanh. Anh dạy lớp 12 môn Triết tại Trường TH Hòa Đa. Chính tại đây anh đã viết được những tác phẩm “để  đời” như Trái tim bằng gỗ thông, Mùa hè khắc nghiệt, Ví dụ ta yêu nhau, Những ngày tươi đẹp… Vì thế, anh bảo: “Xin nhận mơi này làm quê hương”.

Hôm nào sẽ đố anh Biền chơi. Đố rằng, ông Trương Gia Kỳ Sanh là con của ai? Xin thưa, con của cụ Nghè Trương Gia Mô (1866-1929) - một chí sĩ yêu nước. Ông nội của Trương Gia Mô, quê Gia Định là Trương Thừa Huy, giữ chức quan Chiêm sự thời vua Gia Long, tức người chuyên cung cấp mọi việc cho thái tử; bác là Trương Phác - Án phủ sứ Hà Tiên; thân phụ là Trương Gia Hội, cũng giữ chức quan lớn dưới triều Tự Đức. Cụ Nghè Trương Gia Mô từng có thời gian sống ở Phan Rí, hoạt động chính trị ở Bình Thuận. Cuối năm 1929 do bế tắc trong việc cứu nước, cụ lên lên đỉnh núi Sam (An Giang) gieo mình tự tử. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có câu đối viếng:

Trống đánh ngược, kèn thổi xuôi, nước mất nhà tan, trăm kế cũng thua cơ tạo hóa;
Núi toan dời, thời không gặp, trời cao, đất rộng, ngàn năm để hận khách anh hùng.

Ông Trần Bạch Đằng cũng thuộc dòng dõi cụ Nghè Mô. Đọc quyển Địa chí Phan Rí Cửa, thú thật, lần đầu tiên biết rằng: Phan Rí bắt nguồn từ tiếng Chăm, nằm trong vùng đất Tam Phan: Phan Rang (Parang), Phan Rí (Pảrik) Phan Thiết (Lithit). Tại sao gọi Phan Rí Cửa?  Nhà văn Đoàn Thạch Biền giải thích: “Phan Rí Cửa, chữ Cửa dịch thoát từ tiếng Pháp “port” là hải cảng. Tôi đã ở Cảng Đà Nẵng, Cảng Sài Gòn nên biết cư dân lập nghiệp ở cảng từ tứ xứ đến, theo những chuyến tàu thuyền cập bến. Họ sống không có óc hẹp hòi địa phương mà thường phóng khoáng. Hằng ngày đối diện với biển cả và sóng gió, họ hiểu “sinh tử thị ba” (sống chết như một đợt sóng). Do đó, họ sẵn sàng giúp đỡ người hoạn nạn” (tr.453).

Về yếu tố cảng tại một vùng đất, có ảnh hưởng đến tâm tính con người nơi ấy là lẽ tất nhiên. Trong quyển Phong trào Duy Tân, ông Nguyễn Văn Xuân còn lý giải thêm rằng, tinh thần đổi mới, mạnh dạn đổi mới, hiếu học, hay cãi của người Quảng Nam là hình thành từ thời chúa Nguyễn mở cửa tiếp đón các thương thuyền nơi xa đến làm ăn, buôn bán, kinh doanh tại cảng biển Hội An, Đà Nẵng. Nói cách khác, vùng đất đó có điều kiện giao lưu với nhiều nguồn văn hóa, họ được “mở mắt” nhìn ra thế giới, chứ không phải “ếch ngồi đáy giếng”. Phan Rí Cửa cũng là vùng đất như thế.

Đã từng đi đây đi đó, từng đến Phan Rí nhưng bây giờ mới biết, tính đến năm 1954, trước khi người Pháp rút khỏi Đông Dương, có đến 3 tên gọi được sử dụng chính thức trong văn bản hành chánh: “Phanri Cham (vùng Phan Rí có người Chăm), Phanri - Citadelle (Thành Phan Rí) và Phanri - Port (Cửa Phan Rí)” (tr.57). Đọc kỹ chương viết về nghề nghiệp, thích lắm, đơn giản vì có viết đến nghề làm nước mắm. Xin trao đổi rằng, làm nước mắm, chế biến mắm là do người Việt học từ người Chăm. Ý kiến này, nếu có cuộc tranh luận thì vui quá, phải không?

Ghi lại một vài từ ngữ “Nước mắm để lâu năm gọi là nước mắm lú” (tr. 64). Không rõ, ở Quảng Nam, nổi tiếng với nước nắm Nam Ô, gọi là gì? Tất nhiên “nước mắm đầu”, hàm lượng đạm cao, ở đâu cũng gọi là “nước mắm nhỉ”. Nước mắm không pha chế, nguyên chất, "nước mắm cốt" người miền Nam còn gọi “nước mắm đậm”; và bây giờ, thế hệ của y gọi đùa là “nước mắm zin”. Zin hiểu theo nghĩa “hàng còn zin”! “Nước mắm chanh dành ăn bánh hỏi/ Anh thương nàng theo dõi mấy năm”; “Nước mắm ngon dầm con cá đối/ Em biểu anh chờ để tối em qua”. Đọc lại Tuấn, chàng trai nước Việt của Nguyễn Vỹ, những vở kịch đầu thế kỷ XX, thấy rằng, để phê phán ai đó “mất gốc” người ta thường cho nhân vật đó… chê nước mắm. Cứ như thể, không thích nước mắm là đánh mất cái căn bản “quốc hồn quốc túy”. Nói như thế để thấy, trong ẩm thực của người Việt thiếu cái cũng có thể châm chước nhưng dứt khoát không thể thiếu nước mắm.

Nước mắm ngon dòm sâu đáy hủ
Thả miếng đu đủ xuống tận đáy bình
Mù u nhuộm thấm bông huỳnh
Bao nhiêu gái đẹp không nhìn
Dạ anh chỉ để thương mình em thôi!

Về bánh tráng, cái bánh tráng thì cả dãy đất miền Trung đều mê tít thò lò, nhưng chỉ Phan Rí mới có “bánh tráng mắm ruốc”. “Mắm ruốc là ruốc được phơi héo, tuyệt đối không dùng nước lã để rửa vì sẽ thối rữa, đem giã và hòa với nước muối (độ mặn vừa phải) trở thành khối mắm đặc, sau đó ủ kín, có thể dùng trong 6 tháng” (tr.64). Trong sách có đoạn viết về Công ty nước mắm Liên Thành, năm 1910, mở nhà lều làm nước mắm tại làng Hải Tân (nay đường Phạm Ngũ Lão). Công ty này đã quá lừng danh khét tiếng rồi, không nhắc thêm nữa. Có điều chưa mấy ai giải thích vì sao các chí sĩ của phong trào Duy tân như Nguyễn Trọng Lợi, Nguyễn Quý Anh, Nguyễn Thông, Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang, Nguyễn Hiệt Chi, Trương Quang Nghiêm… đặt tên Liên Thành? Chừng mươi năm trước, y biên soạn bộ sách Kể chuyện danh nhân Việt Nam, khi viết về nhà giáo Nguyễn Hiệt Chi, bố của nhà văn hóa Nguyễn Đổng Chi, có được gia đình cho mượn một vài tài liệu. Rằng, Liên Thành có nghĩa là thành Sen, là tên của Hà Tĩnh xưa. Các cụ đặt tên công ty nước mắm theo nghĩa đó. Tra cứu Bách khoa toàn thư mở Wikipedia lại thấy giải thích: “Tên Liên Thành được lựa chọn với ngụ ý bảo tồn truyền thống, có ý nghĩa là thành hoa sen, nguyên là tên cũ của tỉnh Bình Thuận, xuất phát từ một hồ sen nằm ở quận Hòa Ða”.

Viết đến đây, nhận được tin ông vua vọng cổ Viễn Châu (1921-1.2.2016) vừa qua đời, thật ngẫu nhiên lại lật đúng trang 87: “Sương thu lạnh bao trùm khắp nẻo/ Trăng hôm nay dìu dịu cả không gian/ Tôi và em gánh nước tận đầu làng/ Mùi cỏ dại mơ màng trong đêm vắng”. Bài vọng cổ Gánh nước đêm trăng của NSND Viễn Châu, được trích nhằm minh họa cho giếng làng ở Phan Rí. Chi tiết này hay: “Nổi tiếng nhất là cụ Phó Chà (Phan Thâu) ở làng Hải Tân tự bỏ kinh phí xây nhiều giếng làng”. Đời người, cần gì phải lấp đá vá trời, chỉ làm mỗi việc ấy cũng đáng hoan nghênh lắm rồi.  Và cái này nữa, cũng nghe lạ tai quá: “giàn hát”. Rạp hát trước nhất xuất hiện ở Phan Rí vào năm 1910. Tại sao nơi đây gọi là “giàn hát”? Trong khi đó, từ thường nghe vẫn là “gánh hát”. Ban đầu tưởng sai morat, nhưng đọc bài của anh bạn Phạm Thùy Nhân, vẫn thấy anh dùng từ “giàn hát”. Lạ chưa?

Ghi lại một vài câu ca dao hiện đại, xuất hiện từ thời bao cấp ở Phan Rí: “Đi buôn nuôi tài, nuôi phụ/ Nuôi thuế vụ, nuôi công an/ Nuôi lang thang, nuôi bốc vác/ Nuôi xích lô, ba gác/ Nuôi ma cô, nuôi ma túy/ Ăn lí nhí không dám ăn nhiều/ Ăn nhiều thì hết vốn”. “Nuôi tài, nuôi phụ” là nuôi tài xế, phụ xe (lơ xe); có lẽ từ “bác tài” xuất hiện khoảng thời gian này; “nuôi ma cô, nuôi ma túy” là do nguồn cơn nào, vì sao? Khó hiểu quá, suy luận rằng, đi buôn thời “ngăn sông cấm chợ” bị nhiều phiền toái, bị “làm luật”, vì sợ bọn ma cô, ma túy lưu manh mạt hạng chỉ điểm cho công an, thuế vụ nên người đi buôn phải “nuôi” luôn cả chúng? “Kẻ chí cả ăn khô cá chỉ/ Người công danh húp bát canh dông”. Con dông là đặc sản của vùng Phan Rí. Anh bạn nhà thơ Lê Nguyên Ngữ có mấy câu thơ thiệt hay:

Vó ngựa cương căng sùi bọt mép
Xe dừng bên đường toàn xương rồng
Đụn cát bên trời chen đụn cát
Giật mình dông chạy vểnh đuôi cong

Nhà văn Đoàn Thạch Biền cũng đã vài lần “lôi” con dông vào trong truyện ngắn của anh. “Lao động là vinh quang, lang thang là chết đói; nói ẩu thì ở tù, lù khù là không kinh tế”; “Xe than dễ đẩy, khó đề/ Khi đi trắng hẻo, khi về đen thui”. “Đề” là “démarreur”: khởi động cho máy nổ. Đọc lại câu này, tự dưng nhớ lại cả một thời: “Người ta đổ than từ nắp bình phía trên và mồi đốt phía dưới, khi than củi bén lửa là lúc khí mêtan, acetylen đi vào xi-lanh để bugi khởi động cho máy nổ, nhưng hiệu xuất rất thấp, vừa chạy vừa lấy khúc củi thổ vào bình chứa than ầm ầm, hơi nóng và bụi than đen lùa vào lòng xe” (tr.173). Theo Địa chí Phan Rí Cửa, xe than chấm dứt vào năm 1995.

Người dân Phan Rí rành đi biển, tất nhiên. Mỗi lần đóng thuyền mới có Lễ khai trương xuất hành, mâm cúng, ngoài dĩa tam sên, còn có cả miếng cá đuối khô nướng? Tại sao như thế, chỉ là giả thuyết: “theo quan niệm của tiền nhân vùng đất Phan Rí là đất Chămpa bên phải có một miếng cá khô đuối nướng?” (tr.212). Ngoài ra còn có cúng tống mộc (tẩy mộc), lễ vật như cúng xuất hành nhưng có thêm món gỏi và dăm cây gỗ nhỏ rồi làm bè chuối tựa như chiếc xuồng, khi cúng xong tất cả lễ vật đều để vào bè chuối ấy đem thả xuống nước. Chưa hết, khi hành nghề trên biển, nếu gặp các vị “thủy tộc” liên quan đến cá ông như cá đẻn, đuối, đú thì phải cúng thế lớp, tức cúng bằng giấy vàng bạc, vì theo quan niệm tâm linh là ghe bị “động”. Lúc ra biển, hành nghề không hiệu quả thì phải cúng sửa lưới, nhờ các thầy cúng đọc bùa chú, yếm bùa…

Tất nhiên không thể bỏ qua phần tư liệu về hát bả trạo. Bả là cầm, trạo là chèo, là vừa hát vừa cầm mái chèo. Nhà biên kịch Phạm Thùy Nhân cho biết, từ năm 1971 nghệ thuật hát bả trạo ở Phan Rí đã được Giáo sư - kịch tác gia Vũ Khắc Khoan công bố trong một công trình nghiên cứu nghệ thuật sân khấu dân gian tại Viện Đại học Đà Lạt. Kiểm tra lại từ Tìm hiểu sân khấu chèo (NXB Lửa Thiêng 1974) của ông Vũ Khắc Khoan, thấy tác giả có đề cập đến trong phần viết về chèo đưa linh.

Thơ ca dân gian ở Phan Rí, có nhắc nhiều đến cá mòi. “Quan đòi mặc kệ quan đòi/ Chờ ăn hết trã cá mòi mới đi”. “Trã”, Việt Nam từ điển  của Hội Khai Trí Tiến Đức (1931) giải thích: “Thứ nồi đất nhỡ, miệng rộng, nông đáy, thường dùng để kho nấu”. “Cô kia bới tóc cánh tiên/ Ghe bàu đi cưới một thiên cá mòi/ Không tin giở thử ra coi/ Rau răm ở dưới, cá mòi ở trên”, “Văn chương không bằng cái xương cá mòi” v.v… Có thể tìm đọc nhiều bài vè liên quan đến nghề đi biển của ngư dân vùng đất này. Nếu tỉ mỉ, có thể liệt kê ra hàng trăm loại cá khác nhau, cực kỳ phong phú: “Lưỡi trâu, mắc méo, cá phai/ Đuối ghim, đuối gián, đuối dơi, đuối lồi/ Cá nứt có điện từ trường/ Đụng vào nó giựt bắn người tâng tâng/ Nục sồ, bạc má, cá ngân/ Chỉ thịt, trang trác, cá cân, cá kình” v..v… Ít ai biết, cá đuối loại màu đỏ, đầu có chữ vạn, đuôi không “ghim” (gai), ngư dân Phan Rí xếp vào loại “thủy tộc”, không dám ăn, gọi là “Bà Lớn”.

Cái thú đọc sách thuộc loại “chí” như Đại Nam nhất thống chí, Trảng Bàng phương chí, Địa chí Đại Lộc, Địa chí Phan Rí Cửa v..v… là gì? Là có dịp du lịch qua vùng đất, tiếp cận lịch sử, văn hóa, con người vùng đất đó bằng ca dao hò vè, cổ tích, chuyện kể của người trong cuộc, dấu vết năm tháng lưu lại bằng hình ảnh, ký ức người dân địa phương… Lúc rảnh đọc đoạn này, lúc vội đọc đoạn kia, chẳng phải theo lớp lang gì mà vẫn thấy hứng, thấy thú. Thành công của người biên soạn còn là khi viết về nơi mình sinh ra, chôn nhau cắt rốn, gắn bó nhiều năm tháng tưởng rằng riêng lẻ nhưng rồi, người địa phương khác đọc vẫn thấy thích. Ừ, nơi nào trên dãy đất hình cong như chữ S không là quê hương, là quê cha đất Tổ? Sự gắn kết, thống nhất của một dân tộc, dân tộc “con Rồng cháu Tiên”, cùng chung một bọc "đồng bào", làm gì có sự phân chia vùng miền trong tâm thức?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 1.2.2016

PDF.InEmail

MUT-XUA-1-R

 

Thoáng đó, đã bước qua tháng 2. Ngày hôm nay, 23 tháng Chạp. Đưa Ông Táo về trời. Nhà chỉ hai mẹ con. Không nấu nướng gì. Sáng dậy sớm, thanh tịnh tâm hồn, thắp một nén ngang lên bàn thờ. Cảm thấy nhẹ nhàng. Chiều qua cùng anh Biền và Sơn ngồi ở quán nọ. Thích vì ngồi ngay phía ngoài sân, phố vắng, ít người qua lại. Lại được tặng sách. Quyển Trận đòn hòa giải của nhà văn Vũ Hồng, Lá Bối in năm 1970. Ngày 16.4.1987, tác giả tặng nhà văn Đoàn Thạch Biền bản đặc biệt, ngày hôm qua, y là người nhận giữ tập sách này. Trận đòn hòa giải là câu chuyện cảm động về tình cha con đùm bọc, yêu thương nhau, khi mà người mẹ/người vợ đã khuất núi. Nhà văn Võ Hồng mất vợ sớm, không đi bước nữa. Trận đòn hòa giải là một cách bày tỏ tấm lòng nhớ thương vợ của ông. Đọc đã lâu lắm rồi, từ ngày còn nhỏ xíu. Nay vẫn nhớ.

Còn nhớ, lúc vào chơi nhà của nhạc sĩ Thanh Tùng ở Bình Thạnh, rất bất ngờ khi thấy ngay phía sau bàn làm việc của ông là tấm ảnh chân dung người vợ quá cố, phóng rất to. Nhìn ảnh ấy, càng cảm động với ca từ: “Vắng em đời còn ai với ai/ Ngất ngây men rượu cay/ Đêm đêm liêu xiêu con đường nhỏ/ Cô đơn, cùng với tôi về”. Tìm quên nỗi buồn bằng men say là lựa chọn của nhiều người. Với Vũ Hoàng Chương lại khác: “Em ơi! lửa tắt bình khô rượu/ Đời vắng em rồi say với ai?”. Không còn em, không còn tri kỷ thì say làm gì? Thơ dành cho người tình bằng xương bằng thịt đó ư? Không phải đâu, vợ Vũ Hoàng Chương là chị ruột của Đinh Hùng, bà không mất sớm. Đọc nhiều về Vũ Hoàng Chương, chẳng hề có tài liệu nào cho biết ông lăng nhăng tình cảm, có nhiều bóng hồng đi qua đời. Thế thì “vắng em” trong câu thơ trên là ai? Là thuốc phiện đó thôi. Bằng chứng: “Tóc xoã tơ vàng nệm gối nhung/ Đây chiều hương ngát lá hoa dung/ Sóng đôi kề ngọn đèn hư ảo/ Mơ kiếp nào xưa đã vợ chồng”.

Đã có không khí Tết. Tuy nhiên, đường phố không ầm ĩ, náo nhiêt như mọi năm. Sáng nay, xuống chợ Bến Thành, ghé qua đường Lưu Văn Lang mua một ít mứt, thấy vắng vẻ lắm. Thiên hạ, chưa đi sắm Tết chăng? Do đã đọc qua quyển sách của bà chị Hồ Đắc Thiếu Anh viết chung với Nguyễn Hồ Tiếu Anh: Mứt Việt - vị ngọt Tết xưa (NXB Phụ Nữ) nên quan sát, đếm có cả thẩy bao nhiêu loại mứt đang bày bán. Không nhiều lắm. Làm sao có đủ các loại mứt như trong tập sách: mứt bí đao (bí xanh), mứt gùng lát, mứt cà chua bì, mứt khế, mứt cam sành, mứt củ năng, mứt củ sen, mứt đu đủ, mứt me, mứt dừa sữa, mứt gừng xâm (gừng củ), mứt khổ qua, mứt thơm (dứa), mứt đậu ngự, mứt hạt sen, mứt kim quất (tắc), mứt mãng cầu xiêm, mứt phật thủ, mứt trần bì gừng dẽo, mứt nghệ mật ong, mứt bát bửu. Có đến 21 loại mứt. Tất nhiên, vẫn có một vài loại mứt khác nữa, chẳng hạn mứt chanh mà chị Thiếu Anh không nhắc đến. Mà cũng đúng thôi, ngày Tết ngày nhất người ta vốn kiêng kỵ đủ thứ, chẳng lẽ mời nhau cái vị chua ngoa, ngoa ngoắt, chua lè? Những loại mứt trên, ngày càng mai một, ít người làm nữa. Sự cẩn trọng, khéo tay, tỉ mỉ, tinh tế ấy trong thời buổi này, mấy ai có đủ thời gian chế biến như xưa?

Đọc Báo Thanh Niên sáng nay,  trong bài Cổ tết thời hiện đại có nêu lên món ăn nghe thật lạ tai: “mọc vân ám”. Cái tên nghe cứ như đang đọc một tiểu thuyết diễm tình Trung Quốc. Hãy nghe ông Nguyễn Phương Hải, tác giả của bộ sách viết về ẩm thực Hà Nội, giải thích: “Đây là món mọc với những viên mọc được nhuộm màu từ lá, quả. Màu gấc cho mọc đỏ au. Lá mảng cộng cho mọc xanh. Hạt dành dành cho mọc vàng, còn những hạt đậu Hà Lan luộc chín cũng được thả lẫn trong bát mọc đông”. Quá sức kỳ công. Bài báo này, có nhắc đến chi tiết, ông Hải là là cháu 5 đời của “tổ nghề cơm tám giò chả” Trang Thị Lụa.

Thử hỏi, “cơm tám giò chả” là nó ra làm sao? Thắc mắc này biết hỏi ai? Thời buổi này, sướng thật chỉ cần Google là đâu ra đó ngay lập tức. Đại khái, có công sáng chế là vợ chồng cụ Nguyễn Văn Sự, Trang Thị Lụa - người làng Ước Lễ, huyện Thanh Oai (Hà Nội). Do vợ chồng làm nghề chả giò nên mọi người thường gọi cụ Phó Lụa hoặc Phó Giò.

Trang web Thăng Long- Hà Nội của Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cho biết: “Những năm đầu thế kỷ 20, gia đình cụ Phó Giò đã ra Hà Nội, thuê căn nhà ở đầu phố Hàng Bông, nhìn xế sang ngõ Tạm Thương để mở hàng giò chả. Vì hàng làm ngon, giá phải chăng, lại tận tâm phục vụ nên khách rất đông và mau chóng nổi tiếng khắp phố phường. Hai cụ không có con trai, chỉ có ba người con gái. Người con gái đầu lòng tên là Nguyễn Thị Bẩy lấy Trang Công Châu. Vào khoảng năm 1910, vợ chồng ông Trang Công Châu mở hàng giò ở xã Hiền Lương, nhưng hàng ế nên cụ Phó Lụa gọi về Hà Nội ở chung nhà để cùng làm giò. Cụ Phó Lụa nhường hẳn cho con rể và con gái bán hàng ở nhà (phố Hàng Bông) còn cụ thì mang hàng lên bán ở cuối phố Hàng Buồm, ngồi nhờ ở hiên nhà 118. Ngôi nhà này nguyên là cái kho chứa thuốc Bắc của một Hoa kiều; để tránh mưa nắng cho khách lúc cân hàng xuất nhập kho, chủ nhà đã xây tường hai bên ra gần sát mép đường và trên làm mái lợp ngói ta. Mỗi tháng mới cân thuốc một lần, nên hàng ngày cụ Phó Lụa ngồi nhờ.

Lúc đó, nhiều người các tỉnh về cất hàng ở Hàng Ngang, Hàng Đào, chợ Đồng Xuân... thường rẽ vào hàng cụ Phó Lụa ăn quà vừa ngon vừa sạch, chỗ ngồi kín đáo. Nhiều khách hàng gợi ý cụ thổi thêm nồi cơm nóng bán cho họ ăn với giò chả cho đỡ xót ruột, hơn là ăn bánh giày giò trừ bữa. Thế là cụ Phó Lụa chọn đong gạo tám xoan của người Bắc Ninh đem sang, kén nồi đồng điếu chứa nhiều cơm lại ủ nóng được lâu và bán cho khách từng bát cơm thơm ăn kèm giò chả. Cụ luôn luôn cải tiến cách nấu, cách ủ sao cho cơm dẻo, thơm, không có cháy và lúc nào cũng nóng. Khách ngày càng đông, cụ lại muối thêm dưa cải, dưa giá, dưa cần, dưa bắp cải cho khách ăn đỡ ngán... Thế là hình thành hàng “Cơm tám giò chả” đầu tiên ở Hà Nội. Người trong dòng họ khẳng định rằng cụ Trang Thị Lụa chính là thủy tổ nghề cơm tám giò chả của Thủ đô”.

Chế biến món ăn ngon, đời sau còn nhớ đến, cũng là một niềm vinh dự. Đi đi nhiều nơi, thưởng thức món ngon tại địa phương đó cũng là lạc thú ở đời. Đã khá lâu rồi, chừng nửa năm rồi, có ngồi nói chuyện với đồng nghiệp Ngọc Hồ, anh cho biết ở Quảng Trị - quê anh có món cháo, tên gọi nghe lạ tai: “cháo vạt gường”. Sở dĩ có tên gọi ấy là do bột gạo sau khi nhào kỹ, thái thành từng sợi nhỏ, trông như những thanh tre của vạt giường. Nấu chung với cá lóc, ăn cực ngon. Ca dao có câu: "Hải Lăng bán cháo vạt giường/ Trí Bưu bán ngói, Xuân Trường bán dưa"; "Nhớ chi như cháo vạt giường/ Đứng mơ mùi nén, ngồi thương mùi hành"... Ở Quảng Nam, nhà nghèo, người ta làm bánh lọc nhưng nhưn là hột mít. Lại nữa, có ai từng được ăn gốc chuối, cắt nhỏ ra làm nộm, trộn với đậu phọng? Cũng ngon luôn.

Mà nghĩ cũng lạ, sách dạy về món ăn thời nào cũng có. Nhưng rồi, có mấy ai nhờ đọc sách đó mà trở thành tay đầu bếp giỏi đâu. Vậy nhờ cái gì? Năng khiếu chăng? Có lẽ “Thực phổ bách thiên” in năm 1915 tại Hà Nội của bà Trương Thị Bích là cuốn sách trước nhất dạy về nghề nấu ăn? Bà Bích là con dâu của thi sĩ nổi tiếng Tùng Thiện Vương (1819-1870). Trong đó, gồm 2 bài thơ “tổng luận” và 100 bài thơ tứ tuyệt dạy nấu 100 món ăn món ngon xứ Huế (tổng cộng 102 bài). Độc đáo quá đi chứ. Đã lâu rồi, từ thời mỗi lần tổ chức Hội sách tại Công viên Lê Văn Tám, Ban Tổ chức còn có cuộc thi Sách vàng, y đã tận mắt nhìn thấy quyển sách đó. Và có chụp lại từng trang. Chẳng hạn, món cá rô um chuối:

Cá rô tách nạc bỏ xương ra
Mỡ nước um vàng rắc muối và
Lửa phải vùi tro không ngại khét
Đã thơm lại béo có chi qua.

“Lửa phải vùi tro” có thể hiểu là lửa chỉ riu riu, lửa nóng như không có ngọn. Nghe đâu, ở quê của Chí Phèo, có món cá trắm kho ngon lắm. Niêu kho bằng đất sét, mỗi lần kho cá bằng “lửa phải vùi tro” mất chừng mười mấy tiếng đồng hồ. Kỳ công thật. Món ăn ngon, con người ta nhớ lâu lắm. Trong bài viết Món ăn Huế đăng trên Tạp chí Sông Hương số tháng 6.1983, nhà nghên cứu Nguyễn Đắc Xuân có kể: "Tôi nhớ có một lần bà nội tôi cúng đất. Lúc bà vừa đặt con gà luộc vàng hươm lên bàn thì bà liền chạy ra vườn bẻ một nạm bông phượng đỏ thắm cắm vào cánh con gà luộc. Tôi thắc mắc: “Bàn thờ đã có hoa rồi mệ còn cắm thêm bông phượng làm chi nữa?” Bà tôi đáp: “Cắm thêm bông phượng không thôi trông con gà nó trống quá!”. Lúc đó tôi chưa hiểu vì sao. Cho mãi đến sau này tôi mới hiểu đó là cách sử dụng màu tương phản của người Huế. Màu đỏ hoa phượng đã làm cho màu vàng con gà rôm lên, tạo cảm giác ngon hơn". Xin lạm bàn một chút, cách cắm thêm bông phượng có lẽ không phải như ông Xuân suy luận, cái chính là một cách "che đậy" để con gà không "lõa lồ". Khi bà cụ bảo: "Trông con gà nó trống quá" là chính nói lên cái ý đó. Sự tinh tế của các bà nội trợ còn là ở cách bày biện cả món ăn nữa.

Mà ông trời cũng oái oăm thật, sống cả đời người, chắc gì đã được ăn, được thưởng thức hết những món ngon vật lạ? Thế mà, hàm răng lại mau “xuống cấp” nhất, trong khi đó, có một thứ lúc về già không cần phải sự dụng như thời trẻ thì nó chẳng chịu rụng quách cho xong?

Chiều nay, trao giải thưởng thơ Tứ Tuyệt của Tập san Áo Trắng. Lúc thay mặt Ban Giám khảo viết nhận xét chung, y nghĩ rằng: “Thơ tứ tuyệt, rất dễ làm ngắn gọn, chỉ vỏn vẹn 4 câu. Ngoáy bút chỉ một phát là xong béng. Tưởng là tưởng thế thôi. Thật ra, cực khó. Bởi quy định nghiêm ngặt chỉ chừng ấy chữ, không thể thêm bớt một dòng nào nên mỗi chữ buông ra phải cân nhắc, tính toán chu đáo. Nếu là một bức tường, mỗi chữ là một viên gạch già lửa, có như thế mới tạo nên sự vững chắc. Tứ tuyệt không phải chỉ 4 câu mà phải đạt đến cái “tứ”. Tứ thơ là linh hồn của tứ tuyệt. Có những nhà thơ lúc về già, “gừng đã cay”, nghề đã thạo mới dám chạm bút vào thể thơ này”. Hãy nghe nhà thơ Chế Lan Viên “định nghĩa” về thơ Tứ tuyệt, tất nhiên cũng... bằng thơ tứ tuyệt: “Uốn cả hồn anh thành tứ tuyệt/ Kẹt trong hẻm đá voi quỳ chân/ Đã đưa ngà được lên trăng sáng/ Vòi chửa buông xong để uống vần”. Nhà thơ Việt Nam viết nhiều tứ tuyệt nhất, có lẽ là Yến Lan. Mỗi lần đọc lại bài thơ này của Yến Lan, bao giờ cũng xúc động ghê gớm: “Khế chua chị nấu lá mồng tơi/ Em ước cùng ăn đến trọn đời/ Tang mẹ mãn rồi bà mối giục/ Chị đi bát đũa cũng mồ côi”. Thơ viết về ngày chị đi lấy chồng. Rưng rưng mãi. Nhất là câu cuối: “Chị đi bát đũa cũng mồ côi”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 28.1.2016

PDF.InEmail

 

bai-hoc-thuoc-long-ao-moi-1R

 

Đã thấy xuân về với gió đông
Với trên màu má gái chưa chồng
Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn giời đôi mắt trong

Đi xuống phố những ngày này, lại nhớ đến những câu thơ của Nguyễn Bính. Hà Nội, Sa Pa, Nghệ An, Ba Vì… đang rét buốt, lại có tuyết rơi. Trong lòng cảm thấy chộn rộn, chẳng rõ vì lẽ gì, ấy là cảm hứng thường trực của những ngày sắp Tết. Dành lấy thời gian sắp xếp lại sách vở đang bề bộn. Rồi cũng chẳng đâu vào đâu. Lẽ ra đặt sách lên kệ, lại lật vài trang, thấy hay hay, thế là ngồi đoc luôn một mạch. Đến lúc đọc xong, thời gian đã trôi qua cái vèo. Tóm lại, chẳng sắp xếp được già cả. Thì đó, vừa lật quyển Sông Hương số tháng 9.2014, đọc bài viết Đà Linh, tôi nhớ… của Phùng Tấn Đông. Cả hai, y đều quen, vì thế, tò mò đọc thử xem sao. Trong đó, Đông có nhắc đến câu đối:

Con rồng đá đá anh Hùng ra Bắc;
Cái bóng đè đè em Diệu qua Tây.

Hùng là Nguyễn Đức Hùng, tên thật của Đà Linh; Con rồng đá là tên quyển tiểu thuyết của Vũ Ngọc Tiến; Diệu là Đỗ Hoàng Diệu, tác giả quyển Bóng đè. Cả hai quyển này đều do NXB Đà Nẵng cấp giấy phép, thời Đà Linh là “chủ xị”. Sau vụ đó, Đà Linh bị buộc phải rời khỏi nhiệm sở, ra Hà Nội về NXB Lao Động rồi qua đời; Đỗ Hoàng Diệu có chồng, định cư ở nước ngoài. Hai tập sách trên một thời ầm ĩ, tạo tranh luận ồn ào nhưng rồi, nay, chẳng mấy ai nhớ đến nữa.

Trong quyển Thuở mơ làm văn sĩ, in từng kỳ trên tuần báo Thiếu Nhi năm 1971, của nhà văn Nhật Tiến cho biết: “Căn cứ vào dư luận độc giả, cuốn được khen nồng nhiệt nhất vào thời kỳ đó là cuốn "Đất" của nhà văn Ngọc Giao. Tác phẩm này diễn tả cuộc đời vợ chồng anh Xã Bèo khốn khổ, sống chết cho mảnh đất của mình. Tôi xúc động nhất là cái cảnh chị Xã Bèo còn đau chưa khỏi mà vẫn phải theo chồng ra ruộng. Rồi anh chị thay nhau làm trâu kéo cầy để để vỡ mảnh đất của mình cho kịp ngày gieo mạ. Đó là một hình ảnh chua xót của người nông dân Việt Nam sau tám mươi năm Pháp thuộc, nhưng đấy cũng là hình ảnh hào hùng, kiên nhẫn, chịu đựng của một thế hệ mới đang ra công khai dựng lại từ đầu với hai bàn tay trắng và với sự bền bỉ, nhẫn nại chỉ có ở những con người quê mùa, chất phác”.

Trong quyển Lược sử văn nghệ Việt Nam (NXN Vàng Son - Sài Gòn 1971), nhà văn Thế Phong ca ngợi hết lời. Cuốn tiểu thuyết Đất của Ngọc Giao in năm 1940, nhà văn Tam Lang viết Tựa: “Đất ở đây, trong những dòng chữ cháy bỏng này sẽ tiết ra, sẽ dựng lên cả một cuộc đời già lửa, uất nghẹ của những con người được sống, thiết tha sống, thấy lẽ sống chỉ khi nào được bám chặt vào đất, ghì lấy đất…”. Mới đây, năm 2012, Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà văn Ngọc Giao, Phương Nam Books vừa phối hợp cùng NXB Văn học phát hành gần 1.000 trang di cảo của nhà văn Ngọc Giao để lại sau gần nửa thế kỷ. Bộ sách gồm 3 tập: Bến đò rừng (truyện ngắn), Đốt lò hương cũ (ký), Mưa thu (truyện dài). Tiếc là không tái bản tập Đất. Mà hầu như độc giả hôm nay chẳng mấy ai nhớ, biết đến tiểu thuyết này của Ngọc Giao, dù rằng đã có một thời được dư luận chú ý.

Mấy hôm nay, đã mua nhiều báo Xuân, báo Tết. Đọc nhẩn nha mỗi ngày, không gì phải vội.

Trong đời người, có nhiều điều để nhớ. Vết nhớ ấy như một một cụm tuyết trắng, đôi lúc loang ra trong tâm tưởng và gợi lên môt chút rét nhè nhẹ. Lạ thay, cũng từ đó, tự trong lòng lại ấy ấm áp thêm một chút. Y muốn nhắc lại nỗi nhớ của những bài học thuộc lòng trong sách giáo khoa tiểu học. Những bài học ấy không có gì to tát, chỉ là những câu chuyện có tính cách luân lý nhưng rồi mấy ai có thể quên. Đó là những chủ đề về công ơn cha mẹ, tình thầy trò, bổn phận học trò, yêu thương loài vật… Thật ra những bài học về chủ đề ấy, thời nào cũng cần, và không hề trở nên “lạc hậu” - nếu đứa trẻ sinh ra đời được giáo dục để trở thành môt người có ích cho xã hội. Mỗi thế hệ, có một  cách để nhớ về trang viết đã đọc, đã học ngày tuổi thơ.  Có một lần, đã khá lâu rồi, y có hỏi nhà văn Sơn Nam, vì sao ông lại viết được truyện ngắn cực hay: “Tình nghĩa giáo khoa thư”. Ông cười nhè nhẹ: “Q có nhớ đến câu này không? “Văn chương nghe như đờn Nam Xuân : Nước mềm, đá rắn thế mà nước chảy mãi đá cũng phải mòn. Sợi dây nhỏ, cây gỗ lớn, vậy mà dây cưa mãi gỗ cũng đứt. Con kiến nhỏ, cái tổ to, thế mà kiến tha lâu cũng đầy tổ. Người ta cũng vậy...”. Từ thời đi học, được đọc những bài văn ấy, tôi đã thích và nhớ mãi nên mới có nhận xét ấy”. Y hiểu, ý ông nhấn mạnh, ngoài yếu tố giáo dục dạy nhân cách làm người còn là “hơi văn”, “nhịp văn” nữa. Nghĩa là, văn viết cho học trò, dù in trong sách giáo khoa nhưng cũng phải chỉnh chu, du dương và “đâu ra đó”, không thể cẩu thả. Vâng, y tin rằng, nhiều thế hệ đã thêm lòng yêu mến văn chương chính là từ những bài học khai tâm đó.

Vừa đọc tờ báo Xuân nọ, đồng nghiệp Lại Văn Long - tác giả truyện ngắn Kẻ sát nhân lương thiện từng đoạt giải Nhất của cuộc thi nọ đã chừng mươi năm trước, có kể lại kỷ niệm thời thò lò mũi xanh qua một  tạp bút. Trong đó, anh ghi lại dăm câu của bài học thuộc lòng thuở tiểu học. Một vài bạn đọc ở nước ngoài, qua trang web của y, biết y có nhiều sách giáo khoa in trước năm 1975 tại miền Nam nên nhờ chép lại giúp và cho biết cụ thể hơn. Từ tư liệu đã sưu tập, y biết rằng bài học thuộc lòng này có tựa Áo mới của tác giả Phước Nghĩa, in trong tập Việt ngữ lớp 3, nhóm Lửa Việt biên soạn, NXB Cảnh Hồng (173 Cô Giang Sài Gòn- Đ.T: 93716) ấn hành năm 1973:

Chiếc áo hàng bông đã rách rồi,
Mẹ cho con áo mới đi thôi.
Con xin gìn giữ không làm bẩn,
Chỉ mặc vào trường chẳng mặc chơi.

Chiếc áo may xong đã mấy ngày,
Vạt dài thườn thượt, rộng hai tay.
Con nhìn chiếc áo buồn rơi lệ,
Mẹ bảo: trừ hao kẻo chật ngay.

Bà mẹ nghèo chu đáo quá đi thôi. Đọc câu thơ cuối, lặng người một lúc, một nỗi niềm xa xăm từ ký ức của thuở lên năm, lên bảy đã ùa về... Như một cơn gió lạnh hắt hiu. Nhớ ơi là nhớ ngày còn học ở Trường Nam tiểu học. Nhớ nhất lúc ra chơi, bao giờ cũng đến dãy hàng rào sát đường Thống Nhất (nay Lê Duẩn) mua lấy chiếc bánh cam. Bánh chiên giòn, tròn gần bằng trái cam, bên trong có nhưn đậu xanh nhuyễn nhừ, ăn ngon lắm. Vị ngọt ấy còn theo mãi đến giờ. Một quyển sách đã in ra đời, nếu có duyên dẫu trăm năm sau vẫn còn có người tìm đọc. Bằng không thì thôi. Những quyển sách giáo khoa của một thời, “ối dào, sách dành cho bọn con nít”, thế mà đến nay nhiều người vẫn còn nhớ như in đó thôi, dù rằng họ đã già khú đế.

Những ngày gần cuối tháng
Em nhìn mẹ lo âu
Ngại ngùng em thăm hỏi
Mẹ em chỉ lắc đầu

Một hôm em thoáng thấy
Tay già lật từng trang
Quyển sổ dày chữ số
Lẩm nhẩm tính giá hàng

Em reo lên: “Thưa mẹ,
Con đang làm toán đây
Mẹ giao con tính sổ
Cộng, trừ… nhanh như bay”

Đây là bài học thuộc lòng Tính sổ của tác giả Hoàng Oanh, in trong Quốc văn bộ mới lớp nhì do Lê Thành Phát, Phạm Trường Thiện và Nhóm giáo viên biên soạn, NXB Việt Hương in tại miền Nam 1970. Thế đấy, bài học học thuộc lòng dành cho học trò, đâu cần phải là những vấn đề gì lớn lao, to tát đâu. Thế hệ của y nhớ đến, thế hệ sau chắc gì đã được đọc? Nhưng chắc chắn một điều: tình cảm mẹ con trong hai bài thuộc lòng trên đời nào cũng có, giá trị nhân văn ấy bất biến.

Mà thôi, chuyện chữ nghĩa còn thể bàn dài dài. Cái ồn ào của hôm nay, có thể chỉ là tro lạnh của ngày mai. Vẫn biết là thế, nhưng rồi “đã mang lấy nghiệp vào thân”, người cầm bút vẫn cứ lầm lũi bước đi, trên từng trang viết. Tinh thần đó, từ năm 1967, nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị đã “tuyên ngôn”:

Và nếu ai đó ngắm nhìn
dừng chân và cảm mến
con người trong tôi
tức là tôi thành công
Nếu tôi thất bại
và chẳng ai chìa tay cho tôi
tôi đút tay vào túi, thật sâu
Mặc kệ.
Không sao đâu, Marie
Em vẫn đẹp như thường

Có những cái viết ra, hoàn toàn bình thường, chẳng cao siêu gì nhưng rồi vẫn còn có người nhớ đến. Có những cái tưởng là ghê gớm lắm, nhưng rồi chỉ cần qua một mùa bầu bán, thay đổi nhân sự là đã cũ rích như cái giẻ rách. Có những câu tuyên bố đùng đoàng sấm vang chớp giật, tưởng chưng như có thể “thay trời đổi đất, sắp đặt lại gang san”, nhưng rốt cuộc “ba voi không được bát nước xáo”.

Báo Đời sống & Pháp luật số Xuân 2016, thuộc Cơ quan Trung ương Hội Luật gia Việt Nam, có bài Chiêm nghiệm thông điệp mừng năm mới của các nguyên thủ thế giới. Đọc xong, y bình chọn lấy một câu tâm đắc nhất: “Gặp núi thì mở đường, gặp sông thì xây cầu”. Người nói câu này là Tổng thống Hàn Quốc, bà Park Geun-Hye. Câu nói ấy, ai nói cũng được nhưng rồi có nghe ai nói đâu, chỉ nghe quá nhiều câu cao siêu, trừu tượng quá mà cũng có thể dù biết tỏng chẳng ai thèm tin nữa nhưng họ vẫn cứ nói trơn tru như cháo chảy. Mà việc phá núi, xây cầu cho dân, vì dân, thời buổi nào, sắc tộc nào cũng cần bởi nó thiết thực, sát sườn với cuộc sống mỗi ngày. Tính ưu việt của một thể chế chính trị không nằm ở đó thì ở đâu?

Ủa? Sao y lại “lên gân” quan tâm đến chuyện quốc gia đại sự đến thế?

Bình tĩnh đi cưng. Xìu xìu lại đi. Ừ, thì xìu vậy. Ối chà chà, sắp Tết rồi.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 25.1.2016

PDF.InEmail

quoc-tu-hoa-quoc(nguồn: Báo Tinh Hoa Việt số XUÂN 2016)

 

Thời gian này, báo Xuân, báo Tết đã phát hành lai rai. Khó có thể đoán định, tờ báo nào bán chạy nhất, bạn đọc yêu thích nhất. Đầu năm 2016, cụ thể, ngày 9.1, Đường sách Nguyễn Văn Bình chính thức khai mạc. Từ ngày 25.1.2016 đến ngày 31.1, tại đây, Sở Thông tin và truyền thông phối phợp cùng Hội Nhà báo TP.HCM tổ chức Triển lãm báo Xuân năm Bính Thân. Cũng trong dịp này, Thư viện Tổng hợp TP.HCM còn cung cấp tư liệu, thực hiện triển lãm Báo xuân xưa.

Trưa nay, như thói quen, sau cơm trưa lại đọc báo. Dừng lại với bài viết “Phạm Cao Củng  - thuở vào nghiệp văn” của đồng nghiệp Ngô Kinh Luân, in trên ANTG số  173 (1.2016). Cứ theo đó, thời “tiền chiến” độc giả rất khoái đọc tiểu thuyết kiếm hiệp. Nguyên bản in ấn tại Hong Kong, dịch giả nước ta dịch lại. Thuở đó, chưa có Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật. "Thấy người ta ăn klhoai, mình cũng vác mai đi đào, nhà văn Phạm Cao Củng cũng  nhào vô. Từ đặt tên, hỗn danh của nhân vật đến các thế võ bí truyền, kể cả văn phong ông "nhại" theo cũng rất… Tàu. Mỗi tập kiếm hiệp thời đó in chỉ 16 trang, giá bán 3 xu/ tập, phát hành hàng tuần. Nói tóm lại, “Tiểu thuyết ba xu” chắc chắn cụm từ này của người Việt. Nó ra đời vào lúc nào? Ra đời trong thập niên 1930 là nhằm chỉ loại sách viết nhanh, viết vội, đọc giải trí, đọc xong rồi bỏ, do đó, tác giả bịa ra bút danh nào đó vì không dám chường mặt ra.

Sau năm 1954 tại miền Nam, tiểu thuyết kiếm hiệp, còn gọi truyện “chưởng” cũng "làm mưa gió trên" mặt báo miền Nam.

Cụ thể vấn đề này như thế nào?

Tham khảo Báo chí tập san (số 1 phát hành Xuân 1968 tại miền Nam) có bài viết của nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh - Tổng thư ký Việt Tấn xã của chính quyền Sài Gòn, là ký giả chuyên viết bình luận thời sự cho các báo Dân Chủ Mới, Thần Chung, Trắng Đen, Sống Mới...; và một vài tài liệu khác, thu thập được vài thông tin đáng tin cậy:  Khoảng năm 1959-1960, lần đầu tiên tờ Dân Nguyện của ông Hà Thành Thọ đăng nhiều kỳ tiểu thuyết Lam y nữ hiệp, do một một độc giả tình cờ đọc được, thấy hay nên dịch gửi đăng báo.  Loại truyện kiếm hiệp này, giới xuất bản ở Hong Kong gọi là “võ hiệp tân trào” - nhằm phân biệt với loại “cựu trào” đã xuất bản trước thời Thế chiến thứ II.

Loại "cựu trào" từng dịch và in trên báo chí Việt Nam, có thể kể đến Càn Long du Giang Nam, Giang hồ kỳ hiệp, Hỏa thiêu Hông Liên tự v.v... Riêng Bồng Lai hiệp khách rất nổi tiếng thời "tiền chiến" do ông Lý Ngọc Hưng dịch, có lẽ là phóng tác. Thế nhưng, khi Phạm Cao Củng xuất hiện (ký bút danh Văn Tuyền) với bộ Lục kiếm đồng, đúng như đồng nghiệp Ngô Kinh Luân cho biết: "Danh tiếng của bộ truyện này vang rền từ Nam chí Bắc, ăn khách hơn cả những bộ kiếm hiệp Tàu được chuyển ngữ xịn". Tại sao như thế? Hãy nghe ông Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh lý giải: "Thật ra, kỹ thuật... phi kiếm của Văn Tuyền (Phạm Cao Củng) có lẽ không hơn gì kỹ thuật nội công của ông Lý Ngọc Hưng nhưng bộ Lục kiếm đồng bỗng dưng được ưa chuộng là vì anh Văn Tuyền đã biết đưa sắc màu "diễm tình" vào tiểu thuyết của anh. Bộ Lục kiếm đồng đúng là "truyện Tàu của Việt Nam" nhưng lại hay hơn ở điểm chẳng những có phi đao phi kiếm mà còn có những chuyện yêu nhau theo trào lưu mới" (SĐD, tr,75)

Khi tờ Dân Nguyện, đăng từng kỳ Lam y nữ hiệp, vì mới và lạ nên lập tức độc giả đón đọc, khen hay. Thấy ăn khách, một tờ báo ở Sài Gòn hồi đó liền kêu ngay dịch giả cuốn Lam y nữ hiệp về với họ, bằng cách giản dị là trả tiền nhuận bút cao hơn tờ Dân nguyện. Rồi trên tờ báo nọ bỗng xuất hiện một tiểu thuyết võ hiệp Lã Mai nương - cuốn này còn thành công hơn Lam y nữ hiệp, độc giả càng khoái hơn nữa. Lập tức, loại truyện này bắt đầu rộ lên ở báo chí miền Nam để câu khách. Liền đó, hai dịch giả thuộc loại “cao thủ võ lâm” tạo được tên tuổi là Tiền Phong - thường gọi là “Sìn Phoóng”, một nhà văn có tuổi và là người Minh hương, đọc chữ Tàu nhanh như chớp; và Tam Khôi, một dịch giả trẻ nhưng giỏi về Hán tự.

Thật ra, Tiền Phong là người đi trước nhất, vì từ trước ngày làng báo Sài Gòn bắt đầu có chuyện “chưởng”, ông đã đọc nhiều tiểu thuyết võ hiệp ở Hong Kong gởi sang, nhưng đọc giải trí, lúc vui kể lại cho vợ con và vài người bạn thân nghe, chớ không vì mục đích dịch để kiếm tiền. Thấy Lam y nữ hiệp và Lã Mai nương múa kiếm trên làng báo, ông Tiền Phong sẵn máu nghệ sĩ, liền dịch luôn hai ba bộ tiểu thuyết Tàu mà mọi người đánh giá là hay nhất, trong đó có bộ Bích huyết kiếm của Kim Dung, cho in trên tờ Đồng Nai.  Thấy Tiền Phong dịch Bích huyết kiếm, Tam Khôi liền chọn một bộ khá dài cũng của Kim Dung để dịch. Đó là bộ Anh hùng Xạ Điêu, đăng trên tờ Dân Việt.

Từ đó, tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung bắt đầu tràn ngập làng báo Sài Gòn.

Trong hồi ký Mười năm làm báo, nhà báo Vũ Mộng Long có cho biết những chi tiết khá bi hài: “Có báo sắp chết nhờ Cô gái Đồ Long mà hồi sinh anh dũng. Khi Cô gái Đồ Long, bộ cuối cùng của trường thiên Ỷ thiên kiếm, Đồ Long đao chấm dứt (trường thiên này gồm ba bộ: Anh hùng Xạ Điêu (đăng ở Dân Việt), Thần điêu đại hiệp (đăng ở Báo mới)  và Cô gái Đồ Long (đăng ở Đồng Nai) thì làng báo Việt Nam khai thác trường thiên tiểu thuyết Thiên long bát bộ cũng của Kim Dung. Nhưng tên truyện của Kim Dung được “đặt lại” cho mỗi báo. Báo thì A Tỷ Kiều Phong, báo thì Lục mạch thần kiếm, báo thì Cô Tô Mộ Dung.

Ngày ông Trần Ngọc Huyến giữ chức Thứ trưởng thông tin đặc trách báo chí, liền ra tay cấm nhật báo không được đăng truyện kiếm hiệp. Mỗi nhật báo chỉ được đăng một “phơi ơ tông” cây nhà lá vườn. Ông Huyến muốn làm cách mạng báo chí và đặt báo chí vào đúng vị trí thiêng liêng của nó. Nhưng ông Huyến bị văng mất chức rất sớm và Tổng trưởng Phạm Thái nắm lại quyền hành, “phá” ông Huyến bằng cách tung hê tiểu thuyết Tàu, Tây, Ta cho làng báo. Kết quả là nhà văn Kim Dung thao túng nhật báo miền Nam trong những thập niên 1960-1970. Báo Chính Luận cũng nhào vô khai thác. Đến nay chỉ có nhật báo Đuốc Nhà Nam là không đăng tiểu thuyết kiếm hiệp.

Hiện tượng tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung xâm lăng nhật báo miền Nam đẻ thêm một hiện tượng kỳ quái  sau đây: Nhật báo Xây Dựng “ngứa ngáy” cho đăng Tàn chi lệnh do Tam Khôi dịch. Người dịch khôn ngoan không chịu tiết lộ tên tác giả nên không ai biết Tàn chi lệnh đã in thành sách, bán ở vỉa hè Chợ Lớn! Dịch giả Lã Phi Khanh vớ được cuốn Lệnh xé xác, thấy có vẻ hợp với độc giả Tia Sáng nên dù nó rất ngắn, bèn được Lã Phi Khanh nối tiếp dài dài, vô tận... Rồi ông Lã Phi Khanh bỏ Tia Sáng, đem Lệnh xé xác sang Thời Đại. Thế là báo Tia Sáng đã cử một dịch giả “sáng tác” tiếp theo. Trên hai nhật báo, hai ”bản dịch”... đối lập nhau và cả hai dịch giả đều nhận mình dịch đúng nguyên tác, bản dịch của người kia là giả mạo! Ngoài Kim Dung, nhiều tác giả tiểu thuyết kiếm hiệp Hồng Kông, Đài Loan xuất hiện tấp nập (Tuần báo Tuổi Ngọc số 27 ra ngày 25.11.1971).

Còn nhớ ngày nhà báo kỳ cựu Phan Nghị còn sống, năm đó đã 80 xuân, là nhân chứng sống của báo chí miền Nam, y có hỏi về các chi tiết vàu nêu trên. Ông Ngị đồng tình và phát biểu: “Thời ấy, với các nhật báo, tầm quan trọng của Kim Dung còn hơn cả... sự thay đổi nội các. Người ta mê Kim Dung tới mức độ bữa nào không đăng tiếp truyện Kim Dung là ăn mất ngon. Các trí thức khoa bảng trước đây chỉ thích đọc báo Tây, nay cũng phải mua báo Việt để đọc Kim Dung. Quả là một hiện tượng lạ!”. Điều đáng nói là từ hiện tượng trên, một số nhân vật kiếm hiệp của Kim Dung đã thâm nhập vào lời ăn tiếng nói của người miền Nam. Chẳng hạn, câu hát bình dân: “Có cô gái Đồ Long xóc bầu tôm cua cá...” hoặc câu nói “tẩu hỏa nhập ma”, “tiếu ngạo giang hồ”, “cái bang đại hiệp”, “cho một chưởng” v.v...

Chi tiết đáng lưu ý vừa kể trên là gì?

Với y, đó là cái tài làm mài mại, na ná, nhại theo của người Việt, kể cả chuyện sáng tác tiểu thuyết kiếm hiêp. Khoảng năm 1972, khi tiểu thuyết diễm tình của Quỳnh Giao đang ăn khách, lập tức xuất hiện nhiều tác phẩm ăn theo mà báo chí thời đó gọi là “Quỳnh Giao giả”. Rồi sau này, khoảng thập niên 1980-1990 khi tư nhân có quyền tham gia thị trường sách, lập tức một loạt truyện kiếm hiệp đã ra đời, tất nhiên do nhà văn Việt Nam viết nhưng cứ độc giả lầm tưởng dịch từ truyện Tàu. Giỏi thế là cùng. Cái giỏi này cũng là cái sự láu cá, khôn vặt của người Việt. Trong tình huống nào, họ cũng có thể luồn lách, lươn lẹo, sử lý uyển chuyển, linh hoạt miễn khỏe cái thân. Thì đây, ông đại sứ Cộng hòa Pháp tại Việt Nam Jean-Noel Poirier, đã có chừng 30 năm công tác tại Việt Nam, với tất cả những gì đã trải nghiệm, đã quan sát ông có đưa ra nhận xét đánh lưu ý về tính kỷ luật của người Việt. Ông nói: “Ví dụ, một dây chuyền cần 15 thao tác, nhưng nếu không giám sát, người Việt Nam lập tức “sáng tạo” để rút bớt các công đoạn, chỉ làm 8-9 quy trình. Trên thực tế, các công ty lớn đã nghiên cứu rất kỹ, mỗi quy trình phải có ý nghĩa nhất định mới đảm bảo chất lượng sản phẩm. Nếu người Việt không tuân thủ thì sản phẩm làm ra không đạt chuẩn quốc tế”. Thế à? Làm gì có ông đại sứ nào lại nói thẳng đuột, nói huỵch toẹt ruột ngựa thế kia? Không tin à? Nếu thế cứ lật tờ báo Lao Động Xuân 2016, tìm trang 12 đọc đi nhá!

Mấy hôm nay, thời tiết thất thường. Dẫn lại nguồn tin AFP, Báo Thanh Niên cho biết: Bão tuyết làm tê liệt miền đông nước Mỹ, 15 người chết, trên 4.400 chuyến bay bị hủy, các sân bay ở New York, Philadelphia, Washington và Baltimore ngừng hoạt động. Chính quyền Washington và New York ban hành lệnh cấm đi lại. Các cơ quan khí tượng dự báo đợt bão tuyết, được mệnh danh "Snowzilla" có lượng tuyết dày 56 cm ở Washington, trở thành một trong những đợt bão tuyết nghiêm trọng nhất kể từ năm 1869 (TN số ra ngày 23.1.2016). Điều đáng ngạc nhiên là lần đầu tiên trong lịch sử, tại Thủ đô Hà Nội lại có tuyết rơi! Theo Báo điện tử Motthegioi: “Từ đêm qua (23 giờ ngày 23.1) nhiệt độ tại Hà Nội đã xuống dưới 4 độ C. Và tại Vườn quốc gia Ba Vì (Hà Nội) đã có tuyết rơi, tuy không dày như ở các khu vực Sa Pa, Lào Cai, Lạng Sơn”. Kiểm chứng từ nhiều nguồn khác,  thông tin trên chính xác. Từ hôm 22.1.2016, Sở GD&ĐT Hà Nội đã có công văn về việc cho học sinh THCS nghỉ học khi nhiệt độ xuống dưới 7 độ C. Các em được nghỉ học vào ngày 25.1.2016. Trong khi đó, Sài Gòn vẫn nóng bức như mọi ngày.

Những ngày này, y đang làm gì?

Thì vẫn dõi theo  vở tuồng Đào kép mới của nhà văn hiện thực phê phán Nguyễn Công Hoan, viết xong vào ngày 5.8.1936 tại Hà Nội. “Một người tinh mắt, mỉm cười, trỏ lên sân khấu nói: "Các ngài thử nhìn kỹ xem bọn kép này là mới hay cũ. Cái anh lần trước ngồi kia, thì bây giờ bỏ bộ râu ra và ngồi đây. Cái anh ngồi bên này bây giờ vận mũ khác áo khác và vẽ mặt khác. Vả được độ một vài thằng kép khổ hoặc con đào ươn, mà đã nhặng lên là mới, là chấn chỉnh, thì chúng mình chỉ mắc một lần là cùng" (...). Nghe tiếng trống kèn cổ động ầm ĩ, họ cũng biết rằng gánh hát còn sống đó, song, chẳng ai muốn để ý xem tối nay, trong rạp, bọn vua quan trò hề ấy họ ậm oẹ với nhau những trò gì!”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 7 trong tổng số 45

298
trinhduyson