LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 25.7.2016

PDF.InEmail

LOICUOIVOI-NHA-VAN-DI-XA-1R

 


Những người thích đùa là tập truyện ngắn châm biếm nổi tiếng của nhà văn Axit Nexin. Khoảng thập niên 1980, đọc qua bản dịch của Thái Hà, bạn đọc Việt Nam hoan nghênh ghê gớm. Đi đến đâu cũng nghe bạn bè hỏi: “Đã đọc Những người thích đùa chưa?” Còn nhớ lúc đó cười lăn cười bò với Hội nghị các nhà phẫu thuật. Đại khái tại thành phố nọ diễn ra một hội nghị y học mang tầm quốc tế. Các nhà bác sĩ, các nhà chuyên môn tài ba, lỗi lạc nhất thế giới cùng về dự tranh tài. Có người báo cáo đã thí nghiệm thành công việc thay đổi vân tay trên đầu các ngón tay; có người giới thiệu phát minh về một loại keo dán lại đầu người dù nó đã lìa khỏi cổ nhưng người đó vẫn sống trơ trơ; có người báo cáo công trình “cải lão hoàn đồng” cho một phụ nữ 65 tuổi trở thành thiếu nữ 18 xuân xanh v.v… Tóm lại, công trình của vị bác sĩ phẫu thuật nào cũng khiến cả hội nghị trầm trồ, thán phục, kinh ngạc.

Cuối cùng, giải nhất thuộc về ai?

Có một vị bác sĩ bước lên diễn đàn trình về phẫu thuật cắt amiđan! Cả phòng cười rộ lên trước “cái trò trẻ ranh ấy”. Có nhiều truyện ngắn hay, rất thâm thúy, sau khi đọc xong, có thể quên hết các chi tiết dẫn chuyện. Thế nhưng với câu “chốt hạ” cuối cùng, nếu “nặng ký”, sáng giá và bất ngờ thì lập tức nó sẽ “đóng đinh” trong trí nhớ người đọc. Càng tạo nên hiệu quả về giá trị nghệ thuật. Chẳng hạn, câu kết trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao là một thí dụ: “Tài thật! Tài thật! Tài đến thế là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo”.

Với truyện ngắn Hội nghị các nhà phẫu thuật, câu kết thúc thế nào khiến “Vẻ giễu cợt trên mặt các quan khách vụt biến mất, nhường chỗ cho vẻ kính phục sâu sắc đối với diễn giả. Những tràng vỗ tay vang lên như sấm. Toàn thể các nhà phẫu thuật dự Hội nghị quốc tế lần thứ mười đều nhất trí thừa nhận phẫu thuật cắt amiđan của các vị bác sĩ ấy là sự kiện lừng lẫy nhất trong lịch sử y học”?

Qua các đối thoại, bạn đọc được biết vị bác sĩ này đã cắt amiđan cho một nhà báo. “Các đại biểu lại phá lên cười rũ rượi: - Nhà báo, nhà buôn, viên chức hay anh lính thì có khác gì nhau?”. Đúng thế, chẳng có gì quan trọng cả. Hãy nghe nhà văn Axit Nexin đặt vào mồm nhân vật câu này: “Xin các vị trật tự! Vâng, thưa các vị, không có gì khác nhau. Nhưng vì hồi đó vừa ban hành luật báo chí, các nhà báo không sao mở mồm ra được, nên tôi buộc lòng phải cắt amiđan cho anh ta thông qua đường… hậu môn!”.

Những truyện ngắn hiện thực phê phán trước năm 1945 của nhà văn Nguyễn Công chẳng kém cạnh gì, thậm chí còn nổi trội hơn nữa là khác.

Nhắc lại mẩu chuyện này vì mới đây thôi, trong ngành phẫu thuật nước nhà vừa xẩy ra sự cố bi hài đến khiếp. Đố Axit Nexin có thể tưởng tượng ra nổi. Đó là chuyện của bệnh nhân nọ đau chân trái nhưng bác sĩ bệnh viện Việt-Đức (Hà Nội) mổ nhầm chân phải! Oái oăm chưa? Ly kỳ chưa? Kỳ diệu chưa? Đồng nghiệp Mr. Bim bình luận ngắn mà xốc: “Đến hột vịt lộn còn lộn huống hồ bác sĩ. Xui thôi, xem như được khuyến mãi đi”.

Khi nhắc đến từ “khuyến mãi” ắt người tiêu dùng, đi mua hàng, nhất là các bàn nội trợ khoái chí nhào vào ngay. Miêu tả cảm giác của sự hào hứng ấy, còn nhớ thời trước có cụm từ “Sướng rêm mé đìu hiu”, nay đã thay đổi, ví như “Phê như con tê tê”. Ai cũng biết, “hột vịt lộn” là trứng vịt đã ấp thành  con ở bên trong, và “lộn” là nhầm lẫn, lẫn lộn. Cả hai đồng âm, chẳng ăn nhậu gì với nhau, đứng cạnh nhau hóa ra gây cười một cách lý thú.

Đang làm quyển Lắt léo tiếng Việt. Tiếc không có thời gian để toàn tâm toàn ý. Đang viết cái này phải lộn qua thứ kia. Về từ “lộn”, thành ngữ có câu “Lộn thừng, lộn chão/ Nói lộn rồng lộn rắn/ Lộn chồng trốn chúa/ Lộn con toán, bán con trâu” ắt hiểu theo nghĩa lẫn lộn, chung chạ, rối rắm, lộn đầu lộn đuôi chẳng bề nào ra bề nào. “Tốt như rồng lộn”, nay ít nghe ai sử dụng, từ điển của Huình Tịnh Pauslus Của giải thích: “Rồng uốn mình quanh lộn; bộ lịch sự, xinh tốt”. Từ “rồng lộn” qua cách giải thích trên - từ năm 1895 đến thập niên 1930 đã khác. Bằng chứng trong tập Dòng nước ngược, qua bài thơ Lỡm cô Ngọc Hồ, nhà thơ Tú Mỡ có câu: “Hồ tù ngán nỗi con rồng lộn/ Ngọc vết thương tình kẻ cố đeo”. Sướng chưa? Đọc lái đi. Ngày còn thơ bé, những đứa trẻ lúc tinh nghịch quá thế, thường bị mẹ mắng: “Con ranh con lộn”. Mắng là mắng thế, nhưng mẹ vẫn thương con nhất nhà.

Trong một ngữ nghĩa nào đó, “lộn” cũng có nghĩa là “lên” chăng? Nếu “lộn ruột” là điên tiết; đau cả ruột thì “lên ruột” cũng được hiểu như thế. Bằng chứng từ thập niên 1960, trên tạp chí Phổ Thông của nhà thơ Nguyễn Vỹ có chuyên mục Thơ lên ruột. Các bài thơ tếu táo, châm biếm, đả khích, Nguyễn Vỹ ký bút danh Cô Diệu Huyền.

Quái lạ, cho sự liên tưởng thông qua những gì đã đọc. Từ cái hột vịt lộn, lại nhớ thời bé đã đọc truyện ngắn Thời nhỏ, có lần đọc truyện ngắn Miếng thịt vịt của nhà văn Vũ Hạnh. Thích quá. Trưa qua, thức dậy, với lấy trên đầu gường, lật đúng y trang có truyện ngắn đó. Đọc lại. Lại không còn cảm giác thích như trước nữa. Chỉ thích chi tiết này: “Thủ Tự có được bốn con bò cái tuy cày hơi yếu, nhưng vùng đất cát người ta chỉ cần sức cuốc. Nuôi bọn bò cái vì nó đái nhiều, tốt phân. Hai anh bò đực thiệt lớn, ráng sức đái một trận không bằng một chị bò cái xề xề đái rất lửng lơ”. Không phải ngẫu nhiên thành ngữ có câu “Đái như bò đái”. Đoạn văn trên quan sát quá giỏi. Nhà văn, nếu không biết quan sát thì viết cái gì?

Trở lại với vụ phẫu thuật. Nghĩ rằng, lãnh vực nào cũng có những kẻ cẩu thả, vô trách nhiệm.Ở văn chương trường văn trận bút, y biết lại có những người chỉnh chu, cẩn trọng và rất ý thức với công việc đang làm. Xin kể chuyện này: Nhà văn Trần Thanh Phương được bạn đọc cả nước thán phục là do mấy chục năm qua vợ chồng anh bền bĩ, kiên nhẫn cắt, dán các bài báo và sưu tập theo từng chủ đề. Nhờ vậy, mới đây thôi, anh đã công bố một quyển sách mà trước đó chưa có ai làm. Một quyển sách nặng về tình, về nghĩa và nhất là có liên quan đến đồng nghiệp đã xuôi chèo mái mát ở suối vàng.

Trước lúc đặt bút viết đề cương, vợ chồng anh nấu một mâm cơm cúng chung những người sẽ xuất hiện trong tập sách này đã về cõi âm. Sau khi sách in xong, anh ghi rõ ở bìa bốn: “Sách không bán”. Rồi lại làm mâm cơm cúng như một cách tạ ơn lần nữa. Anh lầm rầm khấn vái: “Trước hương khói, người sống chỉ cố gắng nhắc lại thật tóm tắt đôi điều tốt đẹp nhất của người quá cố. Và đó là những lời cuối cùng thương tiếc nặng lòng nhất của người đang sống gửi qua sông núi, mây trời vào nơi nhà văn, nhà thơ còn nán lại ít phút cuối cùng trước khi đi xa mãi mãi. Nếu chết mà có linh hồn, xin người ở cõi âm nhận tấm lòng thành  của người cõi dương”. Cảm động quá. Nghe rưng rưng.

Tập sách này có tên Lời cuối với nhà văn đã đi xa (NXB Hội Nhà văn-2016), là điếu văn của 107 nhà văn quá cố. Xưa nay, ở Việt Nam ta chưa hề có một tập sách kiểu như thế này. Đọc và nhận ra rằng, cách đọc điếu văn mỗi thời mỗi khác. Trước đây, ngay lúc hạ huyệt người trong ban tổ chức (hoặc gia đình) đọc và sau đó đốt luôn điếu văn; nay, điếu văn đã đọc khi quan tài còn đặt trong nhà tang lễ. Cách làm nào cũng được, miễn chân thành, ấm cúng, xúc động nhằm tưởng nhớ, thương tiếc người đã khuất. Việc làm của nhà văn Trần Thanh Phương trong thời buổi này có thể ghi nhận “hiếm” và “lạ”. Trân trọng và đáng quý ở chỗ cái tình, cái nghĩa. Tình nghĩa ấy bất vụ lợi.

Đôi khi chẳng cần đi Đông đi Tây, đội đá vá trời, chỉ làm những việc nho nhỏ cũng đã là một đóng góp chung. Cuộc sống nhố nhăng ra làm sao thì kệ. Con người ta vẫn buộc phải sống. Mà sống ắt phải kiếm việc làm đặng tự nuôi sống bản thân, chứ chẳng lẽ suốt đời ăn bám lấy bố mẹ? Kiếm việc làm thời buổi này có dễ dàng không? Câu hỏi nghiêm túc và "trầm trọng" ấy, có thể trả lời qua một bài thơ, được không? Ơ hay, sao lại không? Vừa rồi bài thơ lục bát “Thực trạng sinh viên ra trường” được dân cư mạng đã dành hơn 11.000 lượt "like", 4.000 lượt chia sẻ và vô số bình luận khác nhau. Bài thơ này được cho là của một tác giả có tên H.M.N.

Đầu đường Xây dựng bơm xe
Cuối đường Kinh tế bán chè đậu đen
Ngoại thương mời khách ăn kem
Các anh Nhạc viện thổi kèn đám ma

Ngân hàng ngồi dập đô la
In giấy vàng mã, sống qua từng ngày
Sư phạm trước tính làm thày
Giờ thay kế toán, hàng ngày tính lô.

Điện lực chẳng dám bô bô,
Giờ đang lầm lũi phụ hồ trên cao.
Lập trình chả hiểu thế nào,
Mở hàng trà đá, thuốc lào... cho vui

Nông nghiệp hỏi đến ngậm ngùi
"Số em chắc chỉ tiến lùi theo trâu"
Nhìn quanh, Thương mại đi đâu?
Hóa ra là đã nhảy tàu đi buôn....

Ngoại ngữ vẻ mặt thoáng buồn
Đang ngồi viết sớ, kiêm luôn bói bài.
Báo chí buôn bán ve chai
Giao thông đi chở thuê ngoài Đồng Xuân.

Bách khoa cũng gặp đôi lần
Buôn đồ điện hỏng, kiếm cân dây đồng
Mỹ thuật thì đang chổng mông
Đục khắc bia mộ, cũng mong lên đời

Mỏ địa chất mới hỡi ôi
Sáng thồ hai sọt, chào mời mua than
Thuỷ sản công việc an nhàn
Sáng cân mớ cá, cuối làng ngồi rao...!

Hàng hải ngồi gác chân cao
Bao giờ trúng số mua tàu ra khơi
Bác sĩ, y tá có thời
Học xong về huyện được mời chích heo...

Đọc xong bài thơ dù chua chát nhưng lại bật cười. Cười bởi cái sự “nói vống” lên, do đó, tự nó đã mang yếu tố hài hước. Sống, cần hài hước một chút.  Chứ nhìn vấn đề gì cũng "vấn đề, rất vấn đề", thấy tình hình nào cũng "tình hình rất tình hình" khiến mặt, mày, miệng, mũi, mắt, môi lúc nào cũng khó đăm đăm, nhăn mày nhíu trán như ông cụ non thì chơi với ai?


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 6.7.2016

PDF.InEmail

 

leminhquoc-TRUA-CAM

 

Có một thói quen đáng khen là những lúc đi chơi xa, y thường đem theo sách để đọc. Một quyển sách, đọc nơi này cảm nhận thế này nhưng lúc đến không gian khác lại cảm nhận thế kia. Cảm xúc từ những chữ lạ lùng chưa? Mới đây thôi nằm dài trên bãi biển Mỹ Khê (Đà Nẵng), đọc tập thơ của người bạn, người em mà vỗ đùi cái đét và nói như Tản Đà là “bược cười”. Phải thế chứ. Ngô Nguyệt Hữu viết rằng: “Con đường có lắm lá me/ Có gã nhà báo vỉa hè gọi bia”.

Thì ra, Sài Gòn thời này đã nhộn nhạo, sôi động, ồn ào khác trước nhiều lắm. Thời mới ra trường, y thường đến “đại bản doanh” của giới văn nghệ Sài Gòn là 81 Trần Quốc Thảo - trụ sở của Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật. Ở đó, y hay gặp nhà thơ Diệp Minh Tuyền. Có lúc nghe anh ngâm nga: “Con đường có lá me bay/ Chiều chiều ta lại cầm tay nhau về”. Rõ ràng, Sài Gòn chừng hai mươi năm trước vẫn còn yên ả lắm. Làm gì náo nhiệt cỡ như ngồi “vỉa hè gọi bia” loạn xạ, náo nhiệt như thời buổi này.

Nói đến Sài Gòn không thể không nhắc: “Hàng me xanh ngắt / Có tự bao giờ/ Mà nay đứng đó / Cho em làm thơ” (Nguyễn Nhật Ánh). Trong Sài Gòn tạp pín lù, cụ Vương Hồng Sển cho biết từ thời Pháp: “Khi qua đây, ban đầu họ trồng xoài, tiện lợi là xoài cho trái, sanh hoa lợi, đến mùa bán đấu giá, lấy tiền nộp kho, lúc ấy chỉ có xe kiếng, xe tờ, xe ngựa kéo, trẻ nít ra lộ lượm xoài có thể tránh xe dễ, sau này xe ô tô thường cán trẻ lượm vì xe chạy quá mau, rủi ro khó tránh nên đốn xoài, trồng me”. Nhưng sau người Pháp lại đốn me. Tại sao? Theo cụ Sển: “Lá me đọng nước, gọi mưa me, tạnh đã lâu mà khách qua đường vẫn ướt đầu, ướt áo, bèn thay me và chọn cây dầu, lá lớn, dễ quét hốt, và chọn cây sao, lá bền và gỗ, khi cây lớn nếu đốn sẽ dùng làm ván cầu và sườn rui tiện lợi”. Xin bổ sung thêm, không chỉ do “khách qua đường vẫn ướt đầu, ướt áo” mà còn vì sau mưa, vòm me vẫn còn sũng nước, dễ sinh ra muỗi, mòng ở cái xứ nhiệt đới này, sợ gây bệnh nên người Pháp không trồng nữa.

Tuy thế, hiện nay, đi trên đường phố, thỉnh thoảng vẫn còn gặp những me của một thuở đã là nhân chứng của thay đổi lịch sử qua năm tháng. Hôm kia, hôm kỉa, hôm kìa ngồi trên đường Bà Huyện Thanh Quan lai rai cùng nhà văn Đoàn Thạch Biền, nhà thơ Phan Hoàng tiếp đãi bạn Lưu Khánh Thơ, Nguyễn Đăng Điệp… thuộc Viện Văn học từ Hà Nội vào đây công tác. Ngồi ăn lẫu cá kèo sát lề đường, ngay dưới vòm me rợp mát. Có những câu thơ đã lẩn khuất đâu đó trong trí nhớ, như hạt mầm giấu dưới đất, gặp mua lại nhú mầm lên.

Nhìn lá me và lướt ngang qua đầu trong khoảnh khắc ấy là thơ, câu thơ của Lê Thị Kim: “Tay tôi như có ai cầm/ Thì ra một lá me nằm trong tay”. Lại liên tưởng qua câu thơ của Olga Bergolts: “Dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi/ Mưa thầm thì rơi mãi lúc chia ly”. Đêm ấy làm gì có mưa? Vậy mà vẫn cảm như ngoài trời đang mưa, ấy là ma lực của thơ vậy. Vòm me vẫn thế, chỉ có tâm thế của mỗi thời đã khác: “Có gã nhà báo vỉa hè gọi bia”. Ồn ào ào và náo nhiệt. Trong tiếng gọi bia ấy, có ai còn nghe lá me rơi nhẹ nhàng, khẽ khàng không? Vừa nghĩ đến đó, nhà văn Đoàn Thạch Biền nhẩn nha nhận xét: “Lá me thật lạ, hễ đã úa vàng thì rụng. Do đó, nhìn lên vòm me chỉ thấy những tầng lá biếc xanh”. Giật mình nhìn xuống đất, thấy lá me vàng như trải thảm. Ngước nhìn lên trời, đem tối, lấp lóa ánh đèn đường màu vàng chỉ một màu xanh dịu mắt.

Ở Đoàn Thạch Biền, anh luôn có những nhận xét chí lý đến thế.

Vừa rồi, y mới cho in tập sách Ngày viết mỗi ngày (NXB Hội Nhà Văn), đoạn này, có liên quan đến anh Biền, nhiều bạn đọc cũng cho rằng tinh tế: “Đọc sách mà vặn vẹo từng từ, từng chữ nếu tác giả đội mồ sống dậy ắt phải vỗ vai mà kết nghĩa tri âm. Lại nghĩ, trong đời sống, khi gặp tai họa, rắc rối, phiền muộn, có người ngao ngán thốt lên: “Chết quách đi cho rồi”. Tất nhiên, chẳng thèm muốn kiếp sau phải làm người nữa. Khỏi phải trả nợ đời lần nữa. Không làm người. Vậy làm gì? Nguyễn Công Trứ có câu thơ:

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

Tại sao thiên hạ lấy cây thông, tùng, bách tượng trưng cho người đàn ông? Sách đã giải thích, tuy nhiên, có lần nhà văn Đoàn Thạch Biền lại nghĩ qua một hướng khác, đại loại, vì loại cây đó khi lên cao nó mới xòe ra tán lớn, che rợp bóng mát mà các cây con cũng không ảnh hưởng gì, vẫn có thể phát triển. Và điều quan trọng là nó càng cao, đón sóng gió dữ dội vẫn càng thẳng, chứ không gẫy đổ. Trong khi đó, lại có những cây khác, dù chỉ còn thấp lè tè đã học đòi xòe tán che khuất các cây con rồi. Cách giải thích ấy ngộ nghĩnh mà cũng có lý đấy chứ? Lại nữa, nếu kiếp sau ông Nguyễn Công Trứ nguyện làm cây thông, Tản Đà tiên sinh lại khoái:

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay
Tuyệt mù bể nước non mây
Bụi hồng trông thẳm như ngày chưa xa

Tại sao lại là “đôi chim nhạn”, chứ không là một con nhạn riêng lẻ? (tr.89-90). Thế đấy, ngồi nhậu lai rai, nếu với người thông minh, sâu sắc, ta cũng có thể học được đôi điều gì đó. Lại nhớ, có anh Biền cho rằng, trên đời này chẳng có ai cao, ai thấp, mỗi người có mỗi việc. Bình thường thôi. Tất nhiên rồi. Nhưng câu này, nghe anh nói mới thấy chí lý: “Bàn tay có năm ngón, ngón út đừng tưởng vô tích sự. Này, khi ngứa lỗ tai, ta sử dụng ngón nào?”.

Tính cách của nhà văn có ảnh hưởng đến trang viết của họ. Ở Đoàn Thạch Biền, có lần nhà thơ Đinh Thu Hiền nhận xét, đại khái, chuyện tình trong tác phẩm của anh chỉ như cơn mưa phùn, không làm ướt áo. “Tình nhỏ làm sao quên”. Nhẹ nhàng. Lãng đãng. Ngày sau còn nhớ. Nhớ một cơn mưa phùn đã đi ngang qua đời mình. Thế thôi. Chỉ có thế mà dai dẳng trong trí nhớ người đọc như câu thơ của Trần Dạ Từ: “Người đi qua đời tôi/ Không nhớ gì sao người?”. Tiếng nói thảng thốt, tâm trạng và bùi ngùi quá đỗi.

Chỉ là thế, chỉ như cơn mưa phùn mà dai dẳng trong trí nhớ người đọc với cách xưng hô “tréo cẳng ngỗng” như đùa như thật: ông và em. Vì lẽ đó, có lần giới thiệu về anh, y viết chỉnh chu, chính xác: “Trong một trang tùy bút tài hoa, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường có viết một câu, đại khái, ông không thể tưởng tượng được, nếu một sớm mai thức dậy ở Huế, lại thấy dòng sông Hương biến mất. Vẫn biết mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng cũng có thể nói rằng, y không thể tượng tượng nổi, nếu ngày kia lật lại trang viết của nhà văn Đoàn Thạch Biền mà nhân vật không còn xưng hô “ông” và “em” nữa”. Đó “đặc sản” của văn xuôi Đoàn Thạch Biền”.

Thế còn thơ của Đoàn Thạch Biền thì sao?

Thì là thơ chứ trăng với sao gì nữa. Nhà văn viết thơ? Chuyện này không lạ. Các ông Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh, Thu Bồn, Nguyễn Nhật Ánh, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Quang Thiều, Trần Đăng Khoa… cũng thế thôi. Sự tài hoa ấy, trời đã cho thì cho đều ở nhiều thể loại.

Nhà văn Đoàn Thạch Biền làm nhiều thể loại thơ. Đủ sức in một tập ra tấm ra miếng. Nhưng đến nay vẫn chưa. Là người em thua anh đúng một con giáp, là người bạn cùng khề khà đối ẩm chừng ba mươi năm nên y được đọc khá nhiều thơ anh. Hay nhất vẫn là thơ năm chữ. Loại ngũ ngôn, thoạt đầu tưởng dễ, nhưng tìm chỉ năm chữ đắc địa đứng chung một câu là điều không dễ. Mỗi bài thơ năm chữ của anh đều gọn gàng một tứ thơ. Chỉnh chu. Và Đẹp. Đẹp bởi chi tiết thô ráp của đời sống. Thêm một giọt nữa là thừa. Thiếu một giọt nữa là thiếu. Rót rượu như thế, nhà văn Nguyễn Tuân dùng cụm từ bay bướm “bồng mắt thỏ”, phải là những tay danh tửu hảo hán. Đọc thơ của Đoàn Thạch Biền, y liên tưởng đến điều đó dẫu vẫn biết mọi sự so sánh đều khập khễnh. Chẳng hề gì.

Nhắc lại nhận xét này, bỗng nhiên rớt ngang qua trí nhớ là câu thơ lúc anh Biền ngồi lai rai cùng Vũ Hữu Định: “- Còn rượu không chủ quán/ - Dạ thưa còn hũ đầy/ Nhẩm tính tiền túi hết/ Bạn giả đò nói say”. Bạn chơi với bạn, thấu hiểu nhau đến thế là cùng. Biết bạn giả đò, nhưng biết làm sao: “Nghĩ mình đang lúc rách/ Đành chịu thua người xưa/ Không có áo cừu bán/ Đãi bạn uống cho bưa”. Từ “bưa” hay lắm. Rất miền Trung. Trong thơ Hàn Mặc Tử cũng từng xuất hiện: “Họ đã xa rồi khôn níu lại/ Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa”. Đã từng đên Huế từ năm tháng thò lò mũi xanh, thú thật chưa lúc nào y biết đến và cảm nhận được như câu thơ của anh Biền: “Đi dưới tàng cây muối/ Không thấy hoa trên cành/ Mai này trong trang viết/ Muối xanh màu lá xanh”. Thử hỏi, cây muối là cây gì vậy? Ối thơ ơi là thơ. Đọc thơ tưởng rằng, thư giản nhẹ nhàng, du dương theo vần điệu nhưng có những câu khiến ta phải giật mình.

“Ối thơ ơi là thơ”. Nhiều lần y thốt lên vì trăm lần như một, đều như vắt chanh rằng, thì, là mỗi lúc đi chơi xa, nếu gặp bạn bè văn nghệ thì quà tặng nặng trĩu va ly bao giờ cũng là… thơ. Thơ của bạn, đem về nhà. Đọc và yêu thương. Mến phục. Rồi cũng có đôi lúc chạnh lòng. Những con chữ ấy, bạn mình đau đáu, tâm tư, tìm kiếm từ ngày này qua tháng nọ, khi đã in thành sách, sách phát hành rộng rãi, liệu có còn tìm gặp tri âm?

Mới đây thôi, tại Tam Đảo, bạn thơ Trần Quang Quý gửi cho bản thảo Nhịp năm, sắp in. Có gì mới lạ không? Thì đây, anh Quý cho biết: “Vài năm trước, bắt đầu từ những bản nháp ghi chép, hoặc những bài thơ dài còn dang dở, thích câu thích ý mà mãi chưa hoàn thiện được, tôi thử sửa thành những bài thơ ngắn, nhưng không muốn giống như tứ tuyệt đã quá quen, đặc biệt là cấu trúc, niêm luật, vần điệu khắc khe, cũng giống nguồn gốc xuất xứ của nó. Và như có sự xui khiến nào đó, một cách ngẫu nhiên, tôi sửa thành thơ 5 câu và bỗng thấy nó “sáng ra”, bài thơ được nhất, theo cảm xúc, ý tưởng và chiêm nghiệm của mình”. Nói cách khác, Nhịp năm là bài thơ chỉ vỏn vẹn 5 dòng/ câu. Xin trích bài thơ Rụng của Trần Quang Quý: “Có một chiếc răng rụng/ tôi vẫn để trong ví mỗi ngày/ một mảnh đời đã tuột ra khỏi gốc số phận/ Mỗi lần mở ví ra tôi thấy/ chiếc răng vẫn đang nhai ký ức”. Một tứ thơ gọn gàng, hoàn chỉnh.

Thật ra, thơ 5 dòng/câu, trước đó, vào đêm 4.12.1969, nhà thơ Chế Lan Viên đã thể nghiệm, không gọi Nhịp năm như Trần Quang Quý, ông gọi thể thơ “ngũ tuyệt”, duy nhất có 1 bài: “Bờ sông mẹ tiễn đưa con/ Hai chục năm trời súng nổ/ Mẹ mất cũng chục năm rồi/ Sao ngỡ còn mẹ đứng đó/ Giữa nghìn trận nổ trông con”. Sau đó, không ưng ý bài thơ Ngũ tuyệt về mẹ, năm 1988, ông triển khai thành Bến đò mẹ tiễn, dài 18 câu. Nhắc lại chuyện này để thấy sự nhọc nhằn của công việc làm thơ.

Mà này giữa làm thơ và uống bia thì cái nào thú vị hơn? Không dám lạm bàn. Chỉ nghĩ rằng, thơ và bia và gì gì đi nữa cũng khó có thể sánh với giai nhân sắc nước hương trời, chim sa cá lặn, nguyệt thẹn hoa nhường. Không tin à? Cứ hỏi ông Đoàn Thạch Biền ắt có thơ rằng: “Em vô tư, tôi vô tư/ Ta vô tư quá làm hư cuộc tình/ Thôi đừng giả bộ mặt mừng/Khi trong tay bắt, đã lừng khừng buông/ Bây giờ kinh tế thị trường/ Em còn giấu được nỗi buồn… tôi mua”. Mới nghe thơ của ông Biền đến đó, lại giật thót người bởi:  “Có gã nhà báo vỉa hè gọi bia”. Thế đấy, “Mai này trong trang viết/ Muối xanh màu lá xanh”. Vui quá đi chứ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 5.7.2016

PDF.InEmail



dap-an-de-thi-thpt-quoc-gia-mon-van-nam-2016-123

 

Từ nay, vác vali ra khỏi nhà, không còn thấy mẹ dặn dò; quay về nhà cũng không thấy mẹ. Mẹ đã về Đà Nẵng. Cũng là cái cớ để về quê nhà thường xuyên hơn.

Vừa về Đà Nẵng, xem chương trình ca nhạc Boléro tại Nhà hát Trưng Vương. Đã chừng hơn 40 năm, kể từ thời còn đi học, nay mới đặt chân vào lần nữa. Nơi này có chừng 1.2000 ghế ngồi, kể cả trên lầu. Nhìn chung đã khác trước nhiều lắm. Bức tường phía ngoài cửa có bức phù điêu bằng xi măng, đắp hình nổi miêu tả cuộc khởi nghĩa oanh liệt của Hai Bà Trưng. Đêm 2.7.2016 chật kín khán giả. Mừng cho nhạc sĩ Lê Quang - người đã thực hiện chương trình này. Các ca khúc Boléro vẫn còn đủ sức hấp dẫn người yêu nhạc. Sức sống nó còn bền theo năm tháng.

Lần này về Đà Nẵng, ngủ nghỉ tại một resort gần với địa giới với Quảng Nam. Nơi này, thực hiện theo mô hình thiền định, tu tập, hòa nhập với thiên nhiên. Bước vào đã thấy các tượng Phật, chuông, cờ phướng, các thư pháp v.v… Chỉ ăn chay. Cấm uống rượu. Hạn chế cà phê, chỉ uống trà. Mỗi trưa, chiều đều có nhạc tôn giáo nhẹ nhàng, thoát tục vang lên, hòa lẫn cùng sóng biển. Tự dưng nản quá. Với y, mỗi một ngày đã là “tu tập” rồi. Sáng, trưa, chiều, tối đều quẩn quanh trong bốn bức tường với sách. Rồi gõ phím. Từng con chữ. Im lặng. Miệt mài. Cần cù từng ngày còn chưa nên “cơm cháo” gì. Tâm trí còn sân si lắm. Chứ dăm hôm ở lại đây cũng chẳng thể nên tích sự gì. Thế mà lại vác xác vào đó. Đáng đời chưa?

Với y, mỗi lần về Đà Nẵng thư giản là muốn được sống cùng bản năng. Như một cách tái tạo lại năng lượng sống. Về quê, một trong những thú vui của nó còn là được thưởng thức món ăn ngon quê mình. Vậy mà phải chay tịnh mỗi ngày. Ngao ngán quá. Bẽ bàng quá. Thôi kệ. Đành chấp nhận chứ sao. Thiên hạ giỏi thật, có thể nghĩ ra mọi cách để thu hút khách, như cái khu resort này. Đã trở lại Hội An. Ở Cửa Đại đã kè xong đất, cát chống xâm thực của biển. Tuy nhiên, đã không còn bãi biển dài thoai thoải thơ mộng như truóc nữa.

Mấy hôm nay, trên mạng xã hội bàn tán ầm ĩ, có nhiều ý kiến khác nhau về để thi môn Văn của kỳ thi phổ thông trung học quốc gia. Đề thi này, trích đoạn bài thơ Tiếng Việt của Lưu Quang Vũ:

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ

Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh

Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh

Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường

Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta
Tiếng chẳng mất khi Loa Thành đã mất
Nàng Mị Châu quỳ xuống lạy cha già.

Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi
Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán
Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.

Bộ GD và ĐT đã chọn văn bản từ tập sách Thơ Việt Nam 1945 - 1985, NXB Giáo dục, 1985, tr.218. Câu thơ gây tranh cãi là: “Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa”. Trước đây, các em học sinh được tiếp cận với văn bản: “Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa”. Nhiều người cũng đã thuộc như vậy. Do đó, một khi đề thi có khác đi một vài chữ, lập tức nhiều ý kiến phản đối khác nhau mà ai cũng cho mình có lý. Trước nhiều ý kiến tranh luận, gia đình Lưu Quang Vũ có trưng ra bút tích của tác giả nhưng rồi thiên hạ cũng không tin. Đa số cho không thể dùng từ “bùn” trong ngữ cảnh này.

Một loạt câu thơ có từ “bùn” được lôi ra nhằm minh chứng không thể sử dụng “bùn”. Chẳng hạn, “Rủ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi). Nếu bùn là quý, chẳng ai rủ đâu. Rồi ai lại không nhớ đến câu ca dao: “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Sinh thời nhà thơ Phùng Quán rất cực đoan khi đề nghị: “Đuổi câu phản trắc này khỏi kho báu dân gian”, đơn  giả chỉ vì: “Gốc của sen là thăm thẳm bùn đen”, là sen mọc lên từ chỗ thấp kém, tăm tối nhất. Trần Vàng Sao có câu thơ cũng nhắc đến: “Một vết bùn khô trên mặt đá”. Lại nữa, trong tập thơ Xem đêm của Phùng Cung có câu: “Va dấu chân em/ Khô bùn để lại”. Rõ ràng, bùn chẳng “sáng giá” mảy may gì cả. Trong lời ăn tiếng nói của người Việt còn có: Chân lấm tay bùn, Bùn lầy nước đọng, Đánh bùn sang ao, Rẻ như đất bùn v.v… Bùn chẳng hề “sang trọng”, “vẻ vang” gì. Thế mà đem so sánh bùn với tiếng Việt ư?

Vô lý quá đi mất.

Theo tôi, nhà thơ Lưu Quang Vũ dùng từ “bùn” là chuẩn xác và cực kỳ tài hoa.

Thử hỏi, có thể hiểu “bùn” như các câu thơ, thành ngữ vừa nêu trên? Hoàn toàn không. Theo Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (1931), có nhiều loại “bùn” như bùn hoa, bùn lầy, bùn lu, bùn non… Dù tên gọi khác nhau nhưng ai cũng biết đó là một thứ đất nhuyễn, mịn, đen sẫm do hòa lẫn trong nước lâu ngày, chưa kết rắn; trong điều kiện tự nhiên thì nhão, khi sấy khô thì rắn. Nếu bùn chính là đất đã “thuần hóa” đến mức cao nhất, thì tiếng Việt đã hoàn chỉnh và hoàn toàn có sức mạnh và khả năng đó. Nói cách khác, mọi sự việc/sự vật đều được tiếng Việt diễn đạt rất “chân”, rất “chuẩn” đến mức tuyệt đối. Khi so sánh “Ôi tiếng Việt như bùn…” là tác giả muốn nhấn mạnh đến sự “thuần túy” của tiếng Việt - có khả năng phản ánh đúng bản chất của sự việc/sự vật. Nó có khả năng diễn tả một cách nhuần nhuyễn, chính xác mọi thông tin nếu cần phải thông báo.

Tuy nhiên không chỉ có thế, Lưu Quang Vũ còn rất tinh tế, ý thức khi không dừng lại “như bùn” mà theo anh tiếng Việt còn là “như lụa”. Sự gợi cảm, uốn éo, lả lơi, phóng khoáng, đa dạng… của tiếng Việt cũng như lụa trước gió, luôn linh hoạt, uyển chuyển. Đâu phải bất kỳ trường hợp nào, tình huống nào cũng dùng đúng, dùng “chân” như từ vốn có. Mà người Việt còn có cách “nói trớ” đi nhằm kín kẽ hơn, “mềm hơn”, thanh lịch hơn,  uyển chuyển như lụa. Hễ ai “có tật giật mình”, chứ cần gì phải “nói toạc móng heo”. Trí khôn của người Việt còn là ở cách sử dụng lời ăn tiếng nói.

Và, sức mạnh của tiếng Việt chính là sự kết hợp của cả hai yếu tố: “thật” (như bùn) và “ảo” (như lụa).

Có hiểu như thế và phải thấy rằng, không phải ngẫu nhiên câu kế tiếp: “Óng tre ngà và mềm mại như tơ”. Xin đừng quên, tác giả dùng “tre ngà” tức tre đằng ngà, tức tre có màu vàng tươi, sọc xanh, thường trồng làm cảnh vì sắc màu nó đẹp nên mới có từ “óng”. Tre phải cứng, thẳng, chặt đổ nó không dễ, tất nhiên rồi. Do đó, mới có câu: “Nhất chặt tre, nhì ve gái”, nhằm chỉ hai việc không dễ dàng chút tẹo nào. Câu thơ này cho thấy, sức mạnh của tiếng Việt còn chính là sự kết hợp của cả hai yếu tố “cứng” (như tre) và “mềm” (như tơ) là vậy.

Một thi sĩ “thượng thừa” cỡ Lưu Quang Vũ khi dùng từ ắt có ý, có tứ chặt chẽ. Rằng, tiếng Việt “thật” và “ảo”; “cứng” và “mềm” thiên biến vạn hóa… Có như thế, dù rằng, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ dẫu có chưa hoàn thiện còn phải cải tiến, thay đổi gì gì đi nữa thì không thể phủ nhận một sự thật hiển nhiên: “Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói”. Hai từ “vẹn toàn” đắc địa làm sao.  Cũng trong bài thơ Tiếng Việt, dịp khác sẽ trở lại với văn bản: “Tiếng Việt ơi! Tiếng Việt ân tình”/ “Tiếng Việt ơi! Tiếng Việt xót xa tình”. Đâu là câu đúng của Lưu Quang Vũ?

Bàn về một văn bản, nhất là với thơ, một khi không ý kiến của tác giả, cách tốt nhất phải có khả năng thẩm thấu và biết phân tích. Nếu không, cứ phát biểu theo cảm tính thì cách làm đó rất xa lạ với thơ. Còn nhớ, câu thơ của Tố Hữu: “Người đi quấn áo chen chân/ Ờ sao như đã quen thân từ nào?”. Thế nhưng có nhiều văn bản lại quyết sửa thành “quần áo”. Giết thơ đấy ư? Xin đừng quên ngữ cảnh của câu thơ trên là diễn tả người tù bị xích chung tay trên đường đi đày lên Đắc Lay, vì thế mới có từ “quấn áo” là vậy.

Lại nhớ lúc hội thảo khoa học về nhà thơ Bùi Giáng tại Trường Khoa học xã hội và Nhân văn, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu tâm đắc với câu thơ của tác giả Mưa nguồn: “Ngoài vườn nụ đứng, nụ đằm”. Lập tức có tiếng xì xào cho rằng, anh nhớ sai câu thơ trên, vì theo tiểu đối: “đứng” sóng đôi với “nằm/ngồi” thì hợp lý hơn. Chẳng lẽ cỡ Bùi Giáng mà lại không biết điều đó à? Nghe ra có lý. Nhưng cái lý đó lại trật lấc bởi thi pháp của của Bùi Giáng là bất chấp sự có lý mà cố tình lái qua một hướng khác. Văn bản của anh Nhật Chiêu là đúng vì Bùi Giáng cũng đã từng viết: “Một lần thấy một ra ba/ Một lần thấy một mà ra bốn lần”. Tại sao “bốn lần”? Có như thế mới là “phong cách” thơ của Bùi Giáng lúc cà rỡn, bông phèn.

Trở lại với sự tranh luận về bài thơ của Lưu Quang Vũ, dám quả quyết rằng văn bản của gia đình tác giả trưng là chính xác, chứ không hề “ngụy tạo” như ai đó đã hồ đồ, không có căn cứ. Câu chữ của nó đúng như đề thì của Bộ GD và ĐT đã chọn văn bản: “Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa/ Óng tre ngà và mềm mại như tơ”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 27.6.2016

PDF.InEmail

ao-tuong-tho-LMQ


Đôi lúc cảm thấy chán. Chẳng muốn phải viết thêm gì nữa. Nhật ký mỗi ngày cũng bỏ bê. Chẳng màng đoái hoài đến nữa. Một ngày, từng ngày, mỗi ngày có quá nhiều sự kiện, làm sao có thể ghi hết? Ghi thì được, nhưng liệu có dám trình bày cảm nhận riêng tư về sự kiện đó không? Nếu không, ghi lại làm gì? Câu hỏi ấy, trả lời ra làm sao? Mà cần gì phải trả lời. Cứ thế, từng ngày lại trôi đi. Xa thẳm trời. Hun hút mây. Vậy thôi. Dấu vết của một ngày rồi cũng tan biến đi. Dấu vết của một đời cũng hư không nốt. Đừng bận tâm.

Mới vừa đi Tam Đảo. Dăm hôm. Đường lên đi lên và không gian nơi đó gợi nhớ một chút gì đó về Đà Lạt. Thật lạ, những chuyến đi ra Hà Nội, nếu ngủ nghỉ tại nhà nghỉ, khách sạn của hội, đoàn thì luôn có cảm giác sống trong thời bao cấp. Phòng ốc tềnh toàng. Máy lạnh/ máy quạt cà giựt cà tang. Chăn gối hôi hám. Ăn cơm chung. Sáu người một mâm. Đủ người là ăn. Không cần quen biết. Nếu bàn ăn bên cạnh, không có ai, cứ việc lấy thức ăn qua bàn mình. Nếu nhân viên phục vụ phát hiện, ắt phải trả tiền, bằng không thì thôi. Muốn bia bọt, phải trả tiền ngay. Mỗi suất ăn chỉ có thế. Thời buổi này, ngay cả đôi dép trong phòng cũng còn bị cắt cụt đầu; hoặc đôi dép trẻ con; hoặc hai chiếc khác nhau. Ấy là nhằm ngăn ngừa khách thuê phòng “chôm” lấy nó. Phải còn lâu, rất lâu nữa, Tam Đảo mới có thể trở thành một địa điểm du lịch đúng nghĩa của nó.

Tham dự hội thảo về 30 năm đổi mới văn học do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Đại khái thế. Thơ đổi mới thế nào? Câu hỏi này không có câu trả lời. Lúc trao đổi với tổ thơ, nhiều ý kiến cho rằng, cần ghi nhận công cuộc Đổi mới từ năm 1986. Lúc đó, nhà thơ được “cởi trói”, mới được viết đúng những điều mình đã suy nghĩ. Đề tài này, chủ đề nọ không còn bị cấm kỵ. Thế là đổi mới. Lấy cái hữu hạn để áp dụng cho cái vô hạn liệu có đúng?

Văn chương là chuyện của muôn đời. Cái muôn đời ấy được soi rọi bằng cái quy định, ràng buộc cụ thể ngắn hạn thì nó chẳng ra làm sao cả. Quay trở về “bản lai diện mục” của thơ mới đích thực là đổi mới. Chứ không phải dựa vào cái nghị quyết này nọ mà cho rằng đó là đổi mới. Có người bảo, cần đạt đến đỉnh cao như thơ Đường; lập tức, có ý kiến cho rằng vậy hóa ra cần gì đổi mới nữa khi quay về với thành tựu của hàng ngàn năm trước? Có người bảo, Đảng “cởi trói” cho văn nghệ, ấy là đổi mới. Vậy thì cái ông Vĩnh biệt tình em, nhà văn Nga có bị trói hay không mà vẫn có tác phẩm mới? Vậy thì ông Đặng Trần Côn có bị trói hay không mà vẫn có Chinh phụ ngâm?

Thật ra, bất kỳ thể chế chính trị nào cũng tìm mọi cách trói văn nghệ sĩ cả. Vấn đề đặt ra là trong hoàn cảnh đó, họ có dám viết và viết ra làm sao mà thôi. Ở Việt Nam, nhà văn Việt Nam thừa tài năng nhưng không có sự dũng cảm, nhẫn nại, dám viết, dám bỏ vào ngăn kéo, chờ thời tiết chính trị thuận lợi mới công bố. Nôn nóng quá, cần danh quá, nhìn chung đó là tâm lý chung của người cầm bút. Vì những lẽ đó, họ phải uốn éo, tự kiểm duyệt, tự thay đổi cho hợp với khẩu vị, cái tạng của người chọn đăng, dù rằng sự thay đổi đó họ không muốn.

Nhìn chung, những tham luận, tranh luận này nọ chẳng mấy ai quan tâm gì nhiều. Từ lâu nay, những cuộc họp thế này, nghĩ cho cùng vẫn là dịp anh em ba miền gặp gỡ nhau, tâm tình, hỏi han nhau. Thế thôi. Những cuộc gặp gỡ có tính cách dăm ba người thân thiết, đôi khi lại ích hơn những đăng đàn phát biểu này nọ. Mà thôi, cũng chẳng nên bận tâm nhiều làm gì. Viết lách là công việc riêng tư, rất riêng tư, khó có thể ai bảo ban được gì cho ai. Mỗi người một kinh nghiệm. Thậm chí, chẳng ai thèm đọc của ai. Biết thì biết vậy, nghe tên là nghe vậy nhưng đã đọc gì của nhau thì “chịu chết”, khó có thể trả lời rành mạch.

Đôi lúc, nghĩ rằng, các loại hình nghệ thuật hiện nay nó phù phiếm quá chăng? Nói như thế, vì sự kiện thời sự mỗi ngày khốc liệt quá, dữ dội quá, kinh khiếp quá nhưng rồi nhà văn đứng ở đâu? Còn nhiều, rất nhiều vấn đề đáng quan tâm hơn cái chuyện đổi mới thơ thẩn lẫn thẫn. Không phải ngẫu nhiên, khi y đọc bài thơ Ngày sống đời thơ đã được nhiều đồng nghiệp chia sẻ, tán thành là vậy. Với trách nhiệm công dân, hơn ai hết chính nhà văn luôn thường trực câu hỏi ấy ở trong đầu. Nếu không, trang viết nhẹ tênh và cũng chỉ là những vật trang sức làm dáng. Sứ mệnh của thơ không cách biệt với Đời. Khó thay. Viết về đời này nhưng đời sau vẫn còn chấp nhận lấy nó, mới là thơ, bằng không chỉ là những câu khẩu hiệu.

Trong Đông Pháp thời báo,  số 778 (6.10.1928), ông Phan Khôi cho rằng: “Một bài thi, một bài văn, hay là một tập thi, một tập văn mà làm cho người ta quý trọng và lưu truyền được là nhờ có đặc sắc về hai đường: một là về đường mỹ thuật, hai là về đường lịch sử. Đặc sắc về mỹ thuật, nghĩa là thơ văn ấy hoặc tả cảnh hay, hoặc tả tình hay, đủ làm cho kẻ đọc đến mà sanh cảm, cũng như trong khi xem một bức vẽ hoặc xem một tấn tuồng mà giục nỗi vui buồn. Đặc sắc về lịch sử nghĩa là trong thi văn có lưu lại những cái dấu vết của xã hội đồng thời với tác giả; đời sau đọc đến có thể nhờ đó mà nhận ra cuộc đời hồi ấy hoặc ít hoặc nhiều, có thể đem thi văn ấy mà đối chứng với những điều nghi ngờ trong lịch sử. Từ xưa đến nay, những tay văn hào bất tử, thường là gồm cả hai mặt đó”.

Từ suy nghĩ này, ông Phan Khôi than phiền: “Hãy đọc cả tập Bạch Vân am thì thấy ra mười bài như một chục, bài nào cũng tả tình tả cảnh, bài nào cũng nói tâm nói tánh, nói gió nói trăng; song không tìm ra một bài nào có dấu vết của xã hội thời ấy cả. Mà thời ấy là thời họ Mạc tiếm nhà Lê, trong xã hội ta xảy ra biết bao nhiêu là việc, thế mà trong thơ ông Trạng ta bỏ hết cả, không thèm nói đến, dầu nói bóng lấy một vài lời cũng không !”.

Vấn đề Phan Khôi đặt ra là đúng, nhưng với trường hợp Nguyễn Bỉnh Khiêm lại không. Thơ của cụ Trạng Trình đã chạm đến vấn đề cốt lõi của muôn đời, vì thế, nó không cũ. Đọc cái muôn đời ấy vẫn nhìn ra được cái cụ thể, dấu vết của một thời thì đó là tài năng, thậm chí “trời cho”. Trong khi đó, đã có những trang viết được ghi nhận đó là hào khí, tâm thế, khí phách của một thời, thời mới xẩy ra đây thôi, nhưng nay đọc lại đã thấy nó lỗi thời. Có cần phải đưa ra thí dụ không? Cần gì, cứ nghe lại ca khúc của một thời thì sẽ nhận ra ngay đó thôi.

Ra Hà Nội lần này, cũng như những lần trước, lại trở về nhà với sự ái ngại là quà tặng của bạn văn. Vẫn sách. Vẫn tác phẩm của bạn. Đã là người sống bằng nghề viết, kiếm sống nhọc nhằn bằng từng con chữ nên càng thấu hiểu về công việc của nhau. Một tập thơ, một tiểu thuyết có bao nhiêu là chữ. Chữ viết ròng rã ngày nay qua tháng nọ, nhưng rồi khi in ra có mấy ai cầm lên đọc? Có mấy ai sẻ chia những gì đã viết? Nghĩ thế, đôi lúc nản quá. Bèn tự an ủi rằng, ném một vốc muối xuống biển, chẳng là gì nhưng rồi số phận mình, cái nghiệp của mình đã thế. Biết làm sao? Để hóa giải, cách tốt nhất hãy yêu lấy cái nghiệp đó. Vậy thôi.

Sáng nay, nhận đọc tập thơ Mai kia mốt nọ mình rời bỏ người ta của Ngô Nguyệt Hữu. Lại thêm một người đặt chân vào nghiệp nữa rồi. Có thể thoát ra nhanh, có thể lún sâu vào đó cho hết một đời. Chẳng rõ nên vui hay buồn nữa. “Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”. Những tập thơ của bạn bè đã ngày một đầy thêm trong tủ sách. Ai tặng sách gì thì không biết, nhưng hễ tặng thơ thì phải đọc cho bằng được, cho bằng hết. Người sống bằng nghề viết lách, có thể viết được nhiều thể loại khác nhau, tuy nhiên, chỉ có thơ mới phản ánh đúng nhất tâm trạng, thần thái của họ. Đọc một câu thơ, có khi hiểu được một con người.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 2.6.2016

PDF.InEmail

2_88968

 

Sực nhớ đến chuyện này: Vài năm trước đây, y cùng vài anh em nhà văn giúp công ty nọ tuyển chọn thơ, văn của các cây bút trẻ. Sau đó, công ty nọ đầu tư, in ấn, phát hành, quảng bá rộng rãi. Công việc này, báo chí khen ngợi dữ lắm, vì lần đầu tiên có công ty kinh doanh bỏ tiền in ấn tác phẩm của những người viết mới toanh; hoặc in chung với các tác giả đã nổi tiếng. Thật ra, cũng là một cách P.R cho sản phẩm văn hóa của công ty nọ.

Lại nhớ thêm chuyện này nữa: Lần nọ, y lại cùng công ty nọ thực hiện tập sách cho một sản phẩm vật chất được quảng bá dưới hình thức sách. Sản phẩm đó trong tập sách đó, người viết không đề cập đến một nhãn hiệu cụ thể, chỉ viết về sự an bình, thong dong, nghĩ ngơi... trong căn nhà của mình. Dù trong sách không viết về sản phẩm đó nhưng tác động của nó lớn hơn, bởi suy nghĩ của nhà văn, nhà báo khi chiêm nghiệm thể hiện qua cảm xúc sẽ giúp người đọc có cảm tình với sản phẩm đó nhiều hơn.

Đọc các tập sách đầu thế kỷ XX, biết rằng cách đây hàng trăm năm,  người ta biết đến cách tiếp thị này. Chỉ xin đưa một vài thí dụ: Tập sách Thời sự cẩm nang in toàn bộ vấn đề thời sự Nam kỳ năm 1925, dày 600 trang  - do nhà in Nguyễn Văn Của ấn hành năm 1926, tổng hợp các công văn, nghị định do thống đốc, toàn quyền...  ký và ban hành. Ngoài bìa ghi rõ: “Các quan chủ tỉnh trong Nam kỳ có mua một ngàn cuốn đặng phát cho các làng dùng”.  Trong tập sách đó vẫn có các trang quảng cáo đủ loại sản phẩm; tương tự, các tập sách của nhà văn ở Nam kỳ ấn hành thời điểm đó cũng vậy. Đừng nói đâu xa, chỉ mới trước 1975 thôi, hầu hết các tập sách viết về thú chơi cổ ngoạn, thú đọc truyện Tàu, chơi chim ca cảnh... của cụ Vương Hồng Sển đều ghi rõ do một công ty dược phẩm đứng ra in. Nhờ vậy đến nay ta vẫn còn nhớ đến sản phẩm của công ty đó. Khi một sản phẩm vật chất gắn liền với sách ắt sự tồn tại của nó lâu dài với thời gian hơn bất kỳ hình thức quảng cáo nào khác.

Nói dông dài một chút cũng không ngoài nhấn mạnh: nhờ hai việc làm trên nên có anh chàng nọ tin cậy, tạm gọi là X tìm riêng y. Đại khái, X cho biết sắp in một quyển tiểu thuyết và muốn một trong hai công ty kinh doanh trên bỏ tiền ra mua. Giá tiền 100 triệu đồng. Không phải số tiền nhỏ trong thời điểm đó. Y kinh ngạc quá. X này điên rồi à? Một cây bút vô danh in quyển sách đầu tay mà buộc thiên hạ mua với giá đó? Điên thật rồi. Chẳng phải đâu. Y chẳng hiểu gì sất. Đó là một cách P.R tên tuổi rất hiệu quả. Sự kiện này, báo chí sẽ tranh giành đưa tin ngay. Tín quá sốt dẻo. X bảo, thực hiện thương vụ này tất nhiên về phần X đã không có một xu teng nào nhưng còn tốn một số tiền trả cho y và công ty đứng ra mua tác phẩm đó. Qua thương vụ giả vờ, “diễn”, “đóng kịch” rất láu cá, thậm chí lưu manh này, bù lại, X được cái tiếng ngon ơ. Nổi tiếng ầm ầm. Còn rẻ hơn chán vạn cách mua danh khác.

Sở dĩ nhớ lại chuyện cũ rích này vì gần đây tập thơ nọ được công ty nọ mua với giá 500 triệu đồng. Một số tiền quá lớn nếu chỉ để mua tập thơ gồm 100 bài dạy kỹ năng sống cho con nít. Thôi thì, bàn chuyện đó làm chi. Sự việc cụ thể ra làm sao, chẳng ai biết rõ, cứ cho là thế, nào có “chết thằng tây đen” nào? Có điều anh em báo chí phân tích và kết luận đó chỉ là loại thơ tầm cỡ Bút Tre. Nghĩa là với các bài thơ đó, tác giả gieo vần ngẫu hứng, không theo chuẩn mực, quy định vốn có của thơ nên tạo ra sự ngớ ngẫn, gây cười.

Xin trích dẫn: “Cái miệng xinh xắn ngọt ngào/ Sinh ra là để xin chào, hê lô (hello)”; “Khó khăn là chuyện bình thường/ Như xe đang chạy gặp đường mấp mô/ Dòng đời gian khổ đẩy xô/ Thường tình như thể Thủ đô tắc đường/ Chịu đựng để luyện kiên cường/Hy sinh để thấm tình thương vơi đầy”; “Thứ nhất là kiệm thời giờ/ Thứ hai kiệm sức, thứ ba kiệm tiền/ Kiệm điện, kiệm nước đương nhiên/ Tránh đồ xa xỉ, ưu tiên hàng đầu…/ Kiệm để nước mạnh dân giầu/ Kiệm để không bị tụt sau dài dài/ Kiệm để không bị phí hoài/ Kiệm để biến lúa, sắn, khoai… thành vàng” v.v… và v.v… Kỹ năng dạy cho con em nhà ta đấy chăng?

Thôi kệ thiên hạ, bàn làm chi. Chỉ kinh ngạc là với vần vè ấy lại được không ít nhà văn, nhà thơ chuyên nghiệp, nhà phê bình văn học, nhà quản giáo dục, thầy cô giáo… đáng kính của nước nhà lại hùa vào khen nức nở, tống nó lên ngút tận mây xanh. Chẳng rõ vì động cơ vì lại thế? Hỏi thế, vì hơn ai hết chính họ thừa sức, dư trình độ chuyên môn để “ngửi ra” cái mùi gọi là chất lượng. Từ cái trò tung hô vô tội vạ, hẫu lốn này, lại nhớ đến tay vô danh nọ cả gan chỉnh sửa lại toàn bộ Truyện Kiều, báo chí “nện” tơi bời nhưng than ôi, lại có một vị giáo sư đáng kính lại khen ngợi hết lời khi viết Tựa!

Thời buổi gì mà lạ lùng quá. Trong một xã hội, thành trì cuối cùng để níu giữ lại sự nề nếp, thành trì đạo đức của mỗi cá thể, mỗi nếp nhà chính là văn hóa. Nay, lãnh vực văn hóa cũng bị thao túng nốt. Không chỉ trong nước, nó còn có thể móc ngoặc với tổ chức nước ngoài. Chẳng hạn, mới đây, Liên minh Kỷ lục Thế giới (WorldKings) trao bằng kỷ lục thế giới cho cuốn thơ “khổng lồ” nặng 54kg. Nghĩ mà tội nghiệp cho thể loại thơ, người làm thơ chân chính.

Trong những ngày này, như thói quen, y vẫn nhặt nhạnh chữ nghĩa làm vui. Xin ghi nhận vài từ mới. Chẳng hạn, “Kẹo lạc không đường”. Ủa, từ này cũ rách rồi kia mà? Ai cũng biết kẹo lạc làm bằng đường mật nước nấu với lạc rang, vị rất ngọt nhưng nay đã có hàm nghĩa khác. Nó được sử dụng khi đánh giá về đường hầm bêtông tại km4+900 đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng. Cứ theo như tường thuật của Báo Tuổi Trẻ (21.5.2016): “Nhìn vào mảng vỡ người dân thấy toàn đá dăm xếp rời rạc, giữa các viên đá có khe rỗng, không thấy ximăng gắn kết. Khi dùng tay gỡ thì từng viên đá dăm rơi lả tả, không hề có sự kết dính. Rất nhiều người bức xúc vì đường cao tốc này hơn 45.000 tỉ đồng mà làm cái hầm chui chất lượng quá kém. Người dân chúng tôi bảo nhau cái này không thể gọi là bêtông vì không thấy ximăng. Hay nói kiểu dân gian là nấu kẹo lạc mà không có đường nên rời rạc từng hạt lạc, không thành khối được”.

Lại nữa, “Động cơ là gì?”. Cụm từ đó, tràn ngập trên các trang mạng xã hội với đủ mọi sắc thái khác nhau. Có thể tóm tắt, nó xuất phát từ tranh luận trên VTV về chuyện chia sẻ thông tin trên Facebook như thế nào. Câu hỏi ấy được thốt ra từ miệng người dẫn chương trình và lập tức trở nên “nổi như cồn”. Từ “động cơ” có tính cách chụp mũ ấy bị biếm nhẽ, cười cợt qua một sắc thái khác. Trong rất nhiều thí dụ, y chọn câu này tếu nhất: "Động cơ của bạn là gì?”, “Dạ, em toàn quay tay, không có động cơ ạ”. Ở đây, người viết sử dụng cách chơi chữ đồng âm dị nghĩa. “Động cơ”, từ nghĩa: “Những gì thôi thúc con người có những ứng xử nhất định một cách vô thức hay hữu ý và thường gắn liền với những nhu cầu”, đột ngột trở thành: “Thiết bị dùng để biến đổi một dạng năng lượng nào đó thành cơ năng” - mà Đại từ điển tiếng Việt đã giải thích. Nếu chỉ có thế, câu thoại trên chưa đủ khả năng gây cười. Thiên hạ cười bởi “quay tay” thay cho động cơ đã trở thành tiếng lóng.

Đang cười, cười luôn thể. Cho vui. Cho đời thêm tươi. Rằng, tại cuộc hội thảo một số vấn đề lớn cần sửa đổi của Luật Phòng, chống tham nhũng được Ủy ban Tư pháp của Quốc hội tổ chức ngày 24.5.2016 tại Quảng Ninh. Có ông nọ, chức danh Phó cục trưởng Cục cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế và tham nhũng đề xuất: “Đề nghị nghiên cứu không in các loại tiền có mệnh giá lớn. Nếu chỉ in loại tiền có mệnh giá 20.000 đồng thôi, không cho phép giao dịch bằng ngoại tệ thì người ta rất khó đưa phong bì bởi khi đó phong bì rất dày”. Đề xuất này, theo báo chí đánh giá thì nó bao gồm những từ: “Lạ, ngớ ngẩn, vô tác dụng”.

Vui chưa? Chưa vui à. Đọc thêm cái này ắt vui. Rồi cười ngay cái rụp. Tại Trung tâm Tư vấn pháp luật (Trường ĐH Luật Hà Nội) diễn ra vào ngày 30.5.2016, phần thi môn "Kỹ năng chung về tư vấn pháp luật" yêu cầu các sinh viên tư vấn: Anh A hoặc vợ anh A có phạm tội hình sự không? Tội gì? Chồng chị A sẽ phải làm gì? Nói gì trước cơ quan tố tụng để có lợi cho gia đình họ trong vụ việc cụ thể này v.v.... Đề thi như sau:

1. Hai vợ chồng anh A
Sinh được một cậu bé
Dễ thương và mạnh khỏe
Nay đã 4 tuổi rồi
2. Rồi một hôm đang ngồi
Cô vợ liền tâm sự
Anh ạ! Con vẫn… bú
Dù em hết sữa rồi!
Nó vẫn cứ nhằn thôi
Nhiều hôm em đau quá!
Anh A cười ha hả
Việc đó dễ thôi mà
Bôi chút dung dịch là
Con ngậm cay… bỏ bú!
3. Mặt trời vừa mới nhú
Anh A liền mang sang
Lọ dung dịch màu vàng
Bôi đôi gò bồng đào
Hôn vợ yêu một cái
Anh A vội đi làm
Anh đến thẳng cơ quan
Làm lu bu công việc
4. Một hồi sau mới biết
Mình lấy nhầm lọ rồi
Lọ thuốc cực độc… ôi!
Con ơi! Ba có tội!
5. Ba đã giết con rồi!
Hốt hoảng lẫn rối bời
Người chồng liền tức tốc
Phóng vội xe về nhà
Nhìn thấy từ xa xa
Nhà đông người qua lại
Người thì hô cấp cứu
Kẻ bảo nó chết rồi
Ôi! Ba giết con rồi!
Anh A khuỵu trước cổng!
6. Như phép tiên, rồi bỗng
Đứa bé từ trong nhà
Rẽ đám đông chạy ra
Ôm chầm lấy người cha
Hổn hển… mách rằng là
Chú HÀNG XÓM gần nhà
Chết trong kia ba ạ!

L.M.Q

 

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 24.5.2016

PDF.InEmail

mocban2_xbfq

Mộc bản Trường Lưu (ảnh: Báo Thanh Niên)

 

Nếu thế giới mạng phản ánh đúng nhất suy nghĩ của công chúng, ắt phải ghi nhận, chưa bao giờ người Việt hồ hởi đến thế. Đó là tình cảm của người Việt dành cho Tổng thống Mỹ Barack Obama trong chuyến thăm chính thức Việt Nam - từ ngày 23 đến ngày 25.5.2016. Tình cảm ấy có thật. Náo nức, chờ đợi, thân thiện và hy vọng. Cả một rừng người, cờ, hoa thắm, hình ảnh “người đàn ông quyền lực nhất thế giới” đã xuất hiện trên các ngả đường. Báo chí đồng loạt đưa tin “nhất cử nhất động” những gì liên quan đến sự kiện quan trọng này. Lòng dân hoàn toàn khác, khác vô cùng lúc Tổng bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cùng phu nhân Bành Lệ Viện sang thăm hữu nghị Việt Nam - từ ngày từ 5 đến 6.11.2015.

Đúng 21 giờ 30 phút ngày 22.5.2016, chuyên cơ Air Force One chở Tổng thống Mỹ Barack Obama đã hạ cánh xuống sân bay quốc tế Nội Bài (Hà Nội). Khi vừa rời khỏi chuyên cơ, Tổng thống Mỹ đã nhận được bó hoa tươi thắm từ tay một nữ sinh. Đó là em Trần Mỹ Linh - sinh năm 1995 tại Hà Nội, đang là sinh viên khoa Ngôn ngữ học, Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn (thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội). Em kể với báo giới: “Khi tặng hoa cho ngài, em đã nói: “Chào mừng Tổng thống đã đến thăm Việt Nam”. Sau đó, ngài đỡ lấy bó hoa và tươi cười rạng rỡ đáp: “Cảm ơn cô bé, bó hoa rất đẹp”.

Dịp này Báo Thanh Niên Online có điểm lại 8 câu nói “để đời: của Tổng thống Mỹ Barack Obama dành cho giới trẻ. Y thích nhất câu này, lúc ông trả lời phỏng vấn tạp chí Ladies’ Home Journal, số tháng 9.2008: “Để nhận xét liệu rằng một quốc gia có thể phát triển hay không, hãy nhìn vào cách nó đối xử với phụ nữ. Nếu phụ nữ được giáo dục, được đối xử bình đẳng, đất nước đó sẽ hướng tới tương lai. Nhưng nếu phụ nữ bị đàn áp, bạo hành, tước đoạt cơ hội tiếp thu kiến thức, cả dân tộc đó sẽ trở nên chậm tiến”.

Khi sang Việt Nam, sáng 6.11.2105, tại Hội trường Quốc hội, trong bài phát biểu quan trọng, ông Tập đã đọc hai câu thơ cuối của bài Tẩu lộ (Đi đường) nằm trong tập thơ Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Trùng sơn đăng đáo cao phong hậu/ Vạn lý dư đồ cố miện gian" (Sau khi lên đến đỉnh cao nhất giữa các lớp núi, thì muôn dặm giang sơn thu cả vào trong tầm mắt). Sau đó, ông Tập có nói rằng: “Nhà thơ Vương Bột đời Đường của Trung Quốc cũng từng nói: “Đăng Thái Sơn nhi lãm quần nhạc/ Tắc cương loan chi bản mạt khả tri dã” (Theo biển xanh mà xem các nguồn nước, thì sự qui tụ của sông ngòi [về đó] có thể thấy được; lên Thái Sơn để ngắm núi non, thì gốc ngọn của núi gò có thể biết được). Không những thế, ông Tập còn dẫn ngạn ngữ: “Mất hàng ngàn vàng mua láng giềng gần”; “Người thân mong người thân tốt, láng giềng mong láng giềng tốt”, dẫn ra bài hát chung của 2 nước Trung -  Việt: “Bên sông tắm cùng một dòng, tôi nhìn sang đấy, anh nhìn sang đây” v.v…

Xưa nay, văn hóa luôn đóng vai trò sứ giả của ngoại giao. Với việc ông Tập trích dẫn thơ, ngạn ngữ nêu trên, báo chí Việt Nam đã tập trung phân tích “ẩn ý” của nó là gì? Phải vậy thôi, giữa lời nói và việc làm đã và đang có khoảng cách quá xa, người Việt nghi ngờ, nghi ngại, không tin cậy cũng phải thôi. Thành ngữ tiếng Việt, không rõ từ bao giờ đã xuất hiện câu: “Thâm như Tàu”.

Với Tổng thống Mỹ Barack Obama, trưa ngày 24.5.2016 ông có  bài diễn văn trước hơn 2.000 người tại Trung Tâm Hội nghị Quốc gia (Hà Nội). Khi khẳng định về chuyện chủ quyền thiêng liêng, không thể phủ định của Việt Nam, ông đã dẫn lời bài Thơ Thần Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt: "Sông núi nước Nam vua nam ở / Rành rành định phận tại sách trời". Nói về những triển vọng trong mối quan hệ giữa hai nước, ông dẫn ca từ trong ca khúc Mùa xuân đầu tiên của nhạc sĩ Văn Cao: "Từ đây người biết quê người/Từ đây người biết thương người/Từ đây người biết yêu người..."; nhắc lại câu “Nói vòng tay lớn” của Trịnh Công Sơn.... Trước khi kết thúc bài phát biểu, ông trích dẫn hai câu Kiều của Nguyễn Du:

Rằng: “Trăm năm nữa từ đây
Của tin gọi một chút này làm ghi

Hai câu Kiều, theo thứ tự là câu 355-356. Lúc Kiều và Kim Trọng lúc mới quen nhau, sau gặp gỡ: “Đã lòng quân tử đa mang/ Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung”.  Quan hệ Việt - Mỹ, từ nay, nếu được thế, tốt quá. Cầu mong là thế. Chọn 2 câu ấy, phải thừa nhận, ông Barack Obama tinh tế, cực giỏi. Còn nhớ, Tháng 11.2000, Bill Clinton - Tổng thống đầu tiên của Mỹ thăm Việt Nam sau 25 năm chiến tranh kết thúc, ông đọc Kiều:

Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân

Rồi ngày 8.7.2015, tại cuộc chiêu đãi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden cũng đã dẫn câu thơ trong Truyện Kiều để nói về quan hệ Mỹ - Việt Nam:

Trời còn để có hôm nay
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời

Các vị nguyên thủ quốc gia của Mỹ chọn câu Kiều, câu nào cũng hay, hợp tình hợp lý. Nhưng phải là: “Rằng: “Trăm năm nữa từ đây/ Của tin gọi một chút này làm ghi” mới thấy rõ ràng dấu ấn cá nhân, bản lĩnh của người đã vận dụng câu đó bởi nó thể hiện sự chủ động. Nghe đến đó, đọc đến đó, sực nhớ đến Kim Trọng. Lúc biết tấm lòng của Kiều: “Được lời như cởi tấm lòng/ Giở kim hoàn với khăn hồng trao tray”, chàng đã nói 2 câu mà Barack Obama đã vận dụng. Còn Kiều: “Sẵn tay khăn gấm quạt quỳ/ Với cành thoa ấy tức thì đổi trao”.

Những ai đã đọc Kiều ắt biết, sau giây phút tương ngộ tuyệt vời ấy, hoạn nạn đã xẩy ra trong gia đình Kiều, nàng bán mình chuộc cha và bắt đầu dấn thân vào mười lăm phong trần gió bụi. Không nên liên tưởng làm gì. Thơ là thơ. Đời là đời. Có thể, nói chuyến đi thăm hữu nghị của Tổng thống Mỹ là thông tin hào hứng, phấn khởi, vui vẻ nhất của người Việt trong khoảng thời gian này - một thời gian có quá nhiều biến động, nhiều sự kiện đau lòng.

À, có còn thông tin này, cần ghi nhận thêm: Chiều 19.5.2016, Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh) còn gọi Mộc bản Trường Lưu; Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (Thừa Thiên-Huế) được Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương (MOWCAP) thuộc UNESCO công nhận là di sản tư liệu thuộc MOWCAP.

Đọc sử sách ắt biết, năm 1782, Thượng thư Bộ Hộ là Thám hoa Nguyễn Huy Oánh (1713-1789) về nghỉ ở quê, cụ mở trường dạy học và thành lập Thư viện Phúc Giang. Cụ còn trích ruộng làm “học điền” để khuyến khích việc học, in sách được nhà vua ban khen "lấy văn trồng người mở kế trăm năm". Dòng họ này ghê gớm lắm. Con trai cụ Oánh là Nguyễn Huy Tự, tác giả Hoa Tiên; con trai Nguyễn Huy Tự là Nguyễn Huy Hổ, tác giả Mai Đình mộng ký… Số lượng mộc bản thuộc thư viện dòng họ Nguyễn Huy Oánh cụ thể thế nào? Báo Thanh Niên số ra ngày 20.5.2106 cho biết, đại khái, trước đây, Mộc bản Trường Lưu chất đầy 3 gian tại nhà thờ Nguyễn Huy Oánh. Thống kê năm 1953 - 1955, số lượng chỉ còn gần 1.700 bản. Rồi do nhận thức chưa cao nên nhiều bản bị chẻ làm củi đun, nay chỉ còn 375 bản.

Về Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (Thừa Thiên - Huế) mới năm ngoái đây thôi, các nhà nghiên cứu văn hóa đã “giải mã” hệ thống di sản tư liệu độc đáo trên các đền đài, lăng tẩm, cung điện triều Nguyễn tại cố đô Huế. Xin chép lại một bài thơ ghi trên Điện Thái Hòa - nơi đặt ngai vàng, thể hiện quyền uy của của một triều đại -  được các nhà nghiên cứu ghi nhận: "Mang ý nghĩa là bản tuyên ngôn độc lập của vương triều nhà Nguyễn". Bài thơ nguyên văn được phiên âm như sau:

"Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng Bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường, Ngu

Dịch nghĩa:

Nước Việt đã ngàn năm văn hiến
Cơ đồ vạn dặm đã thống nhất hoàn toàn
Từ thuở Hồng Bàng mở nước
Trời Nam đã một cõi sánh với Đường, Ngu
(Bản dịch của Phạm Đức Thành Dũng).

Di sản cha ông để lại còn nhiều. Nhiều bí ẩn chưa thể giải mã hết. Cuộc sống thường nhật mỗi ngày có gì bí ẩn không? Chắc chắn có nhiều. Nhưng thôi, không bàn làm gì. Chỉ muốn đừng lại với những con số vừa “bí ẩn” lại “bí hiểm”, chẳng hạn: “1086/127/2/6/15/41”, “1806/127/2/6/15/48/2A”, “1806/127/2/6/15/48B” v.v… Con số gì vậy hả Q? Xin thưa, đó là… số nhà hiện nay tại Nhà Bè, Bình Tân thuộc TP.HCM -  đồng nghiệp báo Pháp Luật sau khi thâm nhập thực tế, đã phải thốt lên não nùng: “Điên đầu với số nhà 'siêu xuyệt'.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.5.2016

PDF.InEmail


tranh-le-minh-quoc-9RRRTranh sơn dầu Lê Minh Quốc

 

Dăm năm trước đây, không rõ từ “sáng kiến” của ai, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã trình Thủ tướng Chính phủ đề án Quốc hoa Việt Nam. Không những thế, người ta còn thêm Đề án bình chọn Quốc tửu, Quốc phục. Ồn ào trên báo chí và trong dư luận một thời. Nay, đã in thin thít như thịt nấu đông. Kết thúc không kèn không trống. Chẳng đâu vào đâu.

Do đó, thật bất ngờ và cảm động khi hay tin: Thượng viện bang California (Mỹ) vừa nhất trí thông qua dự thảo nghị quyết số 73 công nhận ngày 15.5 là ngày Áo dài của bang này. “Do chiếc áo dài Việt Nam từ lâu được thừa nhận là biểu tượng của văn hóa thẩm mỹ và là niềm tự hào của các thế hệ người Việt sau này, vì thế để tôn vinh sự đa dạng của xã hội Mỹ, cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã tổ chức sự kiện cộng đồng có tên lễ hội Áo dài (Áo dài Festival) hai năm một lần”. Người Nhật có cả một tạp chí về Kimono nhằm quảng bá cho chiếc áo truyền thống của Xứ Phù Tang. Ở Việt Nam, không hề. Và chính họ đã có sáng kiến chọn ngày 4.4 hằng năm là Ngày của phở tại Nhật.

Đáng quý thay, những sáng kiến ấy, góp phần không nhỏ quảng bá văn hóa Việt đến với thế giới.

Ngày Chủ nhật vừa rồi, đọc tờ báo Sài Gòn Giải phóng phát hành ngày 15.5.2015, thích thú với một vài thông tin liên quan đến món ăn Việt Nam. Đại khái, ngày 26.5 sắp tới, ấn bản Le Petit Larousse cho năm 2016-2017 sẽ ra mắt công chúng Pháp. Trong ấn bản mới lần này, đáng chú ý có xuất hiện từ “phở”, "nuoc-mâm" (nước mắm), “Têt”... Năm 2014, cả hai từ “phô” (phở) và “bo bun” (bún bò) đã được định nghĩa trong từ điển Le Petit Robert. Trước đó, món “nem” cũng được định nghĩa trong Larousse.

Loáng thoáng với một vài thông tin này. Vẫn cảm thấy dễ chịu hơn khi phải nhìn vào hiện thực mỗi ngày. Mà này, có phải đọc sách cũng là một cách “ăn”, nếu không làm sao có cụm từ “thực phẩm của tâm hồn”? Rồi đôi khi, có những quyển sách cũng khiến độc giả bị hóc xương. Có lẽ, “thành ngữ” mới nhất liên quan đến chuyện đọc là “hóc xương gà”. Hãy nghe nhà báo Kiều Mai Sơn giải thích: “Xuất phát từ việc bài ca dao “Gió đưa cành trúc la đà /Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương”, được dịch sang tiếng Tây rồi chuyển ngữ ngược về tiếng Việt đã ra một bản dịch mới như sau: “Cuồng phong lay ngọn trúc/  Thổi xuống tà-vẹt đường/ Vợ trời đánh một hồi chuông/ Súp gà húp vội, hóc xương mấy lần”. Nghe ra cũng vui tai.

Thật ra “hóc xương gà” như thế vẫn còn dễ chịu. Khó chịu nhất vẫn là được tặng những tập sách thực hiện bằng kinh phí Nhà nước, do Nhà nước đặt hàng. Nhiều, rất nhiều quyển sách có ghi rành rành phía sau “Sách Nhà nước tài trợ”. Từng thấy loại sách đó chất từng đống cao nghềnh nghệnh trong các tiệm sách cũ, bán với giá rẻ mạt. Hầu hết nó không hề có mặt trong các hệ thống phát hành. Dường như, in xong, quyết toán xong là người ta xong nhiệm vụ, không cần biết “đầu ra” của nó thế nào. Cách làm phổ biến nhất là đưa vào Thư viện, vùng sâu, vùng xa… tất nhiên những nơi đó cũng mua bằng tiền Nhà nước; bằng không, cứ tống ra vỉa hè bán theo lối cân ký lô.

Gần đây nhất, phải kể đến “Dự án công bố, phổ biến tài sản văn hóa, văn nghệ dân gian Việt Nam”. Loạt sách này, in xong phát hành ở những nơi đâu? Theo Báo Thanh Niên: “Sách tiền tỉ đem bán… giấy vụn”! Tìm hiểu sâu hơn mới biết:  “Tổng chi phí cho toàn bộ dự án gồm 2 giai đoạn là 240 tỉ đồng. Kết thúc giai đoạn 1 của dự án (2008 - 2012), với số vốn đầu tư 90 tỉ đồng của nhà nước, đã có 1.000 công trình được in thành 644 đầu sách phát hành ra thị trường. Mỗi đầu sách đều được in 2.000 cuốn. Giai đoạn 2 của dự án (2013 - 2017), nhà nước tiếp tục đầu tư 150 tỉ đồng, nhưng trước phản ánh của báo chí về nhiều sai sót nghiêm trọng cả nội dung lẫn hình thức, dự án đã có chấn chỉnh. Toàn bộ sách đều được liên kết xuất bản với NXB Khoa học Xã hội năm 2015. Đến nay, chưa có con số thống kê chính thức, nhưng ước lượng có khoảng hơn 100 đầu sách được đơn vị này cấp phép trong năm 2015” (Báo TN số ra ngày 11.1.2016).

Các con số tiền tỉ ấy và "nhiều sai sót nghiêm trọng cả nội dung lẫn hình thức" nói lên điều gì? Nghĩ gì đi nữa, lại càng cảm phục những nhà văn kiếm sống chân chính chỉ bằng ngòi bút.

“Hóc xương gà” không hề dễ chịu. Nhưng vẫn còn hơn “hóc toàn tập”. Có những quyển sách cầm trên tay, vừa lật ra, vội vàng khép lại, nhẹ nhàng đặt vào vị trí cũ.

Loại sách gì vậy?

Sáng nay, vừa đọc tờ Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam số 20 (14.5.2016). Dừng lại với "Diễn đàn lý luận văn học", nhà nghiên cứu Trần Đình Sử có bài viết Nỗi đau trong văn chương. Kết thúc, ông viết: “Tính từ thời đổi mới đã ba mươi năm qua rồi mà tác phẩm lớn được coi là chưa có, các tác phẩm cứ bằng bằng như đồi thấp, không có đỉnh. Lại có ý kiến cho rằng nhà văn ta thiếu tài. Tôi chưa bao giờ cho là như thế. Hãy nhìn lại xem, nhà văn ta đã sống sâu, sống thật với nỗi đau của nhân dân ta trong suốt  mấy thế kỉ qua hay chưa? Đã thấy nỗi đau đứt ruột về nỗi thống khổ của con người hay chưa? Làm gì có con trai có tài và con trai bất tài. Mọi con trai đau đớn đều cho ngọc. Cái tài tự nó chưa là gì cả, nó chỉ có nghĩa khi đem dùng vào việc gì. Rất có thể ta đã phí tài vào việc miêu tả những cái không quan trọng, dùng vào nơi không đúng chỗ. Hãy bớt đi lời ngợi ca, bớt đi lời khen  ngợi, hãy sống thật sự với nỗi đau của lòng mình, và để nó toát ra tự nhiên dưới đầu ngọn bút. Khi ấy ta sẽ thấy thiên tài xuất hiện. Hãy làm người bình thường, khi đau thì kêu. Xưa ta chê nhà thơ lãng mạn không đau mà rên, hàm ý là giả đối. Nhưng nếu đau thật mà không kêu thì có giả dối hay không?”.

Ở Nam Bộ có câu; “Đau chơn há miệng”. Có ai dám há miệng không? Suy nghĩ của ông Trần Đình Sử tiêu biểu lắm đây. Đã nhiều người bàn "nát nước" rồi. Nhưng cuối cùng mọi việc vẫn ì ạch, dẫm chân tại chỗ. Cứ nhìn trên mặt báo chính thống thì rõ. Có gì thay đổi đâu. Vẫn là những nếp nghĩ, tư duy, quan điểm của từ thời xa lắc xa lơ. Nhưng rồi nó cứ còn kéo dài, ì ạch đến nay. Cứ đọc những tập sách "cúng cụ" thì rõ. "Cúng cụ" chẳng gì sai cả, vấn đề là nội dung của nó ra làm sao? Chẳng cần suy nghĩ, cập nhật thông tin, tâm thế người đương thời, cứ việc "sao y bản cũ" từ vài thập kỷ trước.Là xong. Kinh phí do Nhà nước tài trợ. Chẳng việc gì bận tâm nó có bán được hay không, nội dung có đáp ứng nhu cầu bạn đọc hay không. Đọc loại sách ấy, há chẳng phải "hóc toàn tập" đó sao?

Lại có thêm một điều kỳ cục nữa: Cuối tháng 4.2016, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tổ chức hội thảo quốc gia “Thế hệ nhà văn sau 1975”. Họ có in tập kỷ yếu Thế hệ nhà văn sau 1975 - Diện mạo và thành tựu (NXB Hội Nhà văn), dày 528 trang khổ lớn.

Tuy nhiên, điều gì khiến thiên hạ "hóc xương gà"?

Trên Báo Sài Gòn Giải phóng (ra ngày 8.5.2016), nhà thơ Phan Hoàng - Phó chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM cho biết: “Phần thứ nhất có tiêu đề Một số vấn đề lý thuyết và lịch sử văn học mang tính lý luận, tuy có đề cập tổng quan văn học cả nước sau năm 1975 nhưng chủ yếu vẫn là ở Hà Nội và miền Bắc. Trong khi phần thứ hai là Một số vấn đề tác giả và tác phẩm lại hầu như chỉ phản ánh các nhà văn ở Hà Nội và miền Bắc, duy nhất chỉ một tác giả ở phía Nam được nói tới là một nữ nhà văn của Thừa Thiên - Huế”. Anh viết tiếp: “Câu chuyện về cuộc hội thảo làm tôi nhớ cách đây gần một năm, ngay trước Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ IX nhiệm kỳ 2015-2020, nhà văn lão thành Trần Thanh Giao đã cảnh báo sự thiên lệch trong hoạt động văn học khi ông cho rằng hội của cả nước mà như hội của… miền Bắc. Chẳng những ông mà nhiều nhà văn khác ở phía Nam cũng nhìn nhận như vậy”. Phan Hoàng nói đúng. Điều này, ai ai cũng thấy, có điều anh thấy và dám nói.

Còn quan tâm đến văn hóa nghệ thuật nên ghi lại sự việc này.

Thật ra, giữa lúc này, thời cuộc đang dậy sóng với biết bao vấn đề nóng bỏng về nhân sinh, môi trường v.v.. còn ghê gớm hơn nhiều. Thử hỏi bạn đọc bình thường, có mấy ai quan tâm đến những chuyện “quốc gia đại sự” nêu trên? Mà than ôi, ngay cả người trong cuộc, đang sống bằng nghề cũng chẳng quan tâm nốt. Thế thì, nhà văn đang quan tâm đến gì? Câu hỏi này, trong lúc này, đâm ra lại khó có thể trả lời một cách sòng phẳng, rõ ràng. Văn chương chữ nghĩa nếu đứng ngoài lề cuộc sống có ích gì? Những ngày này, đọc những gì của thơ, của văn trước hiện trạng khốn cùng của xã hội? Chắc chắn rằng những gì đã đọc, chẳng hề thấy vọng về dư âm của ngày tháng này. Nó phù phiếm. Giả dối. Có phải “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”, vì lý do ấy, phải không, thưa cụ Tản Đà?

Sực nhớ đến nhân vật Điền của nhà văn Nam Cao: “Cái sự thật tàn nhẫn luôn luôn bày ra đấy. Sự thực giết chết những ước mơ lãng mạn gieo trong đầu óc Điền cái thứ văn chương của bọn nhàn rỗi quá. Điền muốn tránh sự thực, nhưng trốn tránh làm sao được? Vợ Điền khổ, con Điền khổ, cha mẹ Điền khổ. Chính Điền cũng khổ. Bao nhiêu người nữa, cùng một cảnh, khổ như Điền! Cái khổ làm héo một phần lớn những tính tình tươi đẹp của người ta. Tiếng đau khổ vang dội lên mạnh mẽ. Chao ôi! Chao ôi! Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng Điền. Điền chẳng cần đi đâu cả. Điền chẳng cần trốn tránh, Điền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời...”.

Mãi đến bây giờ, các nhà văn tài năng, đáng kính trọng của chúng ta vẫn còn loay loay như Điền hay đã khác? Nếu còn loay hoay trong sự dằn vặt ấy, nghĩ cho cùng vẫn còn may cho tiền đồ văn hóa nước nhà. Chỉ e rằng, chẳng mấy ai dám thức tỉnh như Điền.

Y có gì khác không?

Không hề, y vẫn cứ nhắm mắt trôi theo dòng đời. Vậy tại sao lại viết những suy nghĩ này? À, tự chì chiết lấy chính mình đấy thôi. Chì chiết, tự vấn mà không dám thay đổi, y cũng giả dối nốt.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 17.5.2016

PDF.InEmail

bia-tuoi-tre-cuoi-1RRbia-tuoi-tre-cuoi-3RR

Báo Tuổi Trẻ Cười chọn lấy bìa nào?

 

Trước đây, do tò mò, y có đọc quyển Đèn cù của Trần Đĩnh. Đọc thì đọc thế thôi, chẳng mấy quan tâm. Một giai đoạn lịch sử, được nhìn qua lăng kính cá nhân là cần thiết vì nó mở ra một góc nhìn khác. Qua đó, có thể nhìn lại sự kiện nào đó rõ nét hơn, đa chiều hơn. Tuy nhiên, điều hạn chế là do mang yếu tố chủ quan, hơn nữa chủ đích tác giả là gì nên khó có thể biết rõ hư thật về một sự kiện nào đó. Nghĩ thế, y chỉ đọc loáng thoáng, hơn nữa, cũng chẳng mấy quan tâm về nội tình của sự việc mà Trần Đĩnh trình bày. Một tác phẩm văn học lại khác, mỗi người đều có thể nhìn nhận, đánh giá tùy theo nhận thức, trình độ thẩm mỹ…, dù chủ quan nhưng chẳng hề sợ ai bắt bẽ. Trước một sáng tạo nghệ thuật, người thưởng ngoạn đều bình đẳng. Còn đọc hồi ký cá nhân, cảm nhận thế nào còn là chuyện khác.

Với Đèn cù, nói đi cũng phải nói lại.

Ngoài chuyện chính trị, chẳng rõ hư thực ra sao nhưng có một vài phản ánh sinh hoạt thời ấy, rất cần thiết cho người nghiên cứu tiếng Việt. Đó là một số từ bị bị bóp méo đến thảm hại. Mà cần gì thời đó, bây cũng vậy thôi. Nếu khảo sát trên báo chí cũng có thể dễ dàng nhận ra. Tức là trước một sự việc, thay vì dùng từ đã có, chuẩn xác, người ta lại chọn cách nói khác làm nhẹ/nặng theo chủ đích bởi sự nhậy cảm của nó. Những ngày này, “cá chết” là một từ nhậy cảm. Bàn về nguyên nhân “cá chết” là một sự nhậy cảm. Có bài “Lời than thở của các loài cá” của tác giả Người hóng chuyện -  nguyên văn như sau:

“Hơn tháng trôi qua, kể từ ngày những con cá đầu tiên chết nổi lềnh bềnh trên mặt biển, lũ cá vẫn ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì đang và sẽ xảy ra.

 Thông tin vô cùng nhiễu loạn. Lúc thì “do tác động của các độc tố hoá học thải ra từ hoạt động của con người trên đất liền và trên biển và tảo nở hoa, gọi là hiện tượng thuỷ triều đỏ”. Rồi “Kết quả quan trắc nước biển đạt tiêu chuẩn”. Đặc biệt, sau khi các ông bụng bự xuống tắm để chứng minh biển sạch mà cá vẫn chết dạt vào bờ, loài cá càng hoang mang. Kinh hãi nhất là dự báo nước biển bị ô nhiễm kim loại nặng, cá chết trước, người ăn cá tích tụ dần chất độc vào người, sẽ từ từ chết sau…

Loài cá cứ bơi vòng vòng, vòng vòng. Trong khi chờ cái chết tới, chúng tranh thủ thở than.

Cá Chim nói:

- Ôi ước gì mình bay được như chim để thoát khỏi vùng biển chết chóc này.

Cá Đao nghe vậy, chém gió một phát:

- Cậu không thấy chim cũng ngủm, xác phơi đầy đảo chim à?

- Cá Đuối rên hừ hừ: “Ôi, tui đuối quá rồi. Có ai cứu với?”

Đàn cá Bạc Má khóc rống lên:

- Hu hu, chắc thế hệ sau chúng tớ bị đổi thành cá Bạc Phước!

Các loại cá Thu, Ngừ, Chình, Trích, Nục, Liệt, Đối, Phèn, Chỉ Vàng… diễu hành từng đoàn, kêu la rân trời trong vô vọng. Bỗng, có tiếng tuyên bố:

- Chúng ta quyết liệt, khẩn trương, trong thời gian sớm nhất tìm ra thủ phạm gây ô nhiễm môi trường, có biện pháp khắc phục triệt để, ổn định đời sống loài cá, tránh gây hoang mang trong xã hội, kẻo thế lực thù địch trong và ngoài biển lợi dụng kích động.

Lũ cá nhìn quanh, tìm xem ai vừa nói rồi cá Đối la to:

- Thôi đi ông Sạo! Ông nói nữa, tụi tui đổi s thành x, kêu ông là Cá Xạo đó nha.

Cá Mập, Bạch Tuộc vẫn thấy nhởn nhơ. Đàn cá còn lại cứ bơi, bơi, ngày càng lo lắng:

- Cứ như vầy hoài, chắc dân tộc cá chúng ta trở thành cá Lú (tên khoa học: Parapercis sexfasciata) hết quá!”

Bài báo này, in trên báo Thế giới tiếp thị số 20 phát hành “Từ ngày 12-18.5.2106” - phụ trương của báo Nông thôn ngày nay. Trước đó, số 18-19 cũng in bài Mãi mãi là người đến sau. Kết quả: Báo Nông thôn ngày nay bị phạt 140 triệu đồng vì “vi phạm quy định tại Điểm b, Khoản 6, Điều 8 Nghị định số 159/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản. Cục cũng có văn bản đồng ý với văn bản đề nghị của Báo Nông thôn ngày nay xin tự đình bản 3 tháng với ấn phẩm trên từ ngày 14/5/2016, nhằm kiện toàn đội ngũ cán bộ, xây dựng lại quy trình xuất bản”.

bai-bao-ve-ca-1RRR

Với tờ Tuổi Trẻ Cười số  547, đúng lịch phát hành là ngày 15.5.2016, nhưng mãi đến hôm nay mới có trên sạp báo. Có sự thay đổi nội dung, kể cả bìa. Khổ nổi, cũng là bài vở bàn về chuyện “cá chết”. Cầm tờ báo TTC trên tay, đã thấy có sự khác xa với những gì đã quảng cáo trên báo Tuổi Trẻ ngày 14.5.2016.

Trưa nay ngủ dậy, đi ra khỏi nhà một chút. Đã nghe bà con bàn tán xôn xao về vụ cá chết trắng dòng kênh Nhiêu Lộc. Lạ quá đi mất.

Mà cũng lạ quá đi mất. Ngày 18.5.2016, tại khu vực trung tâm Sài Gòn vắng hoe. Vắng như chùa Bà Đanh. Nghe đâu có những cuộc biểu tình nên dây kẽm gai vẫn giăng kín các ngả đường. Y ngồi quán cà phê nhìn qua công viên 30.4 và cảm nhận:

Một chủ nhật
Gió mát nắng xanh đi quanh phố xá
Chim chóc hót reo trong veo vòm lá
Bình yên?
Rất bình yên
Sao trong công viên
Không một bóng người?
Thẩn thờ nhìn đất ngó trời
Không một ai lảng vảng
Bởi đồng phục quẩn quanh
Chỉ đồng phục quẩn quanh
Công viên xanh
Ai ám sát?

Trưa ngay hôm đó, lang thang xuống phố đi bộ bởi tò mò muốn biết hư thật có người tuyên bố “tọa kháng”. Nếu có sẽ như thế nào nhỉ? Tò mò quá đi mất. Không chỉ tò mò mà vai trò của một nhà báo không thể dứng ngoài sự kiện chính trị đang diễn ra. Và cảm nhận:

Phố đi bộ
Dài hun hút
Nắng ngùn ngụt
Tôi rét buốt
Những cái nhìn rờn rợn sau lưng
Nền gạch hoa bóng loáng
Gai nhọn mọc dưới chân
Bởi đồng phục quẩn quanh
Chỉ đồng phục quẩn quanh
Phố đi bộ
Sẫm một màu tối tăm?

Những ngày này, muốn viết thêm một vào điều gì đó, đã thấy, đã cảm nhận. Mà thôi. Chiều qua, có một trận mưa lớn. Hôm nay, thời tiết vẫn oi bức.
L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 8.5.2016

PDF.InEmail

13100791_10201451330761479_7373797883618055797_n

 

Lâu nay, y đứng bên ngoài biến động của đời sống. Chỉ nhủ thầm, hãy cố gắng làm tốt công việc mỗi ngày. Cũng là một cách thể hiện trách nhiệm công dân. Có những lúc đi xuống phố, nhìn cảnh vật mà nhớ đến câu thơ của Nguyễn Đình Thi: “Ôi những cánh đồng quê chảy máu/ Dây thép gai đâm nát trời chiều”. Lòng buồn rười rượi. Cảm thấy xa lạ với thành phố đã gắn bó từ năm tháng tuổi trẻ, sau khi rời khỏi quân ngũ. Đi ngang qua, không dám nhìn, né tránh, ngoặt sang đường khác. Bỏ mặc ngoài tai những tiếng hô hào chống Trung Quốc, bảo vệ môi trường, tiếng kêu dân oan bị lấn chiếm đất đai… Y không quan tâm đến. Bỏ mặc. Lao theo những công việc cơm áo mỗi ngày.

Rồi có lúc giật mình, tự kiểm qua bài thơ dài, rồi xé bỏ, chỉ còn nhớ loáng thoáng: “Hơn hai mươi năm đi làm báo/ Tâm hồn tôi lơ lửng trên mây/ Tôi phóng sự mây, tôi điều tra gió/ Bài báo đời chưa ráo mực đã phai”. Tất nhiên thôi. Xa lánh đời, thì mong gì có được những bài báo có ích cho đời. Rồi cứ thế, tự bằng lòng, hả hê với chính mình. Một con ốc chui sâu vào trong vỏ. Trú thân an toàn. Mặc bão giông gào thét. Những tiếng kêu của đời sống, oan khốc của bụi bặm nhận sinh không chạm đến đời sống yên tĩnh của y.

Và cứ thế, từng ngày y sống.

Nói thì nói thế, thỉnh thoảng, y cũng ham vui, cũng có mặt nơi đám đông biểu tình. Để làm gì? Chỉ để quan sát như một người khách qua đường. Tất nhiên, không mấy quan tâm. Chủ nhật vừa rồi, có người bảo: “Ngoài phố thiên hạ biểu tình đông lắm”, y ngạc nhiên: “Ủa. vậy à?”. Sau đó, lên mạng xã hội kiểm tra lại, quả nhiên, có thật. Nếu báo chí là tấm gương phản ánh hiện thực của đời sống, rõ ràng nó nhợt nhạt lắm. Tự nó đã có một khoảng cách. Và cũng còn có một khoảng cách giữa báo chí và thông tin trên mạng. Trước ngồn ngộn thông tin. Biết tin vào đâu? Thú thật, y cảm thấy khó khăn. Rồi từ nhận thức, từ những gì đã đọc, đã kiểm chứng từ nhiều nguồn lại càng xác tin rằng, đích thị y là kẻ đang đứng bên ngoài. Bên ngoài hơi thở của nhịp sống đang diễn ra mỗi ngày. Y chẳng biết gì sất.

Thế mà làm báo à?

Với ý thức công dân, đôi lúc, y tự cảm thấy xấu hổ cho chính y. Than ôi, cái sự xấu hổ đó thoáng qua rất nhanh. Rồi chẳng mấy bận tâm nữa. Lại cúi gằm mặt vào trang sách. Thời buổi nào cũng có những văn nghệ sĩ sống trong tâm thế dằn vặt đó. Dằn vặt vì hèn, không dám mở mắt nhìn. Có đôi lúc cảm thấy bất lực, lại thở than: “Hãy sống giùm tôi, hãy nói giùm tôi, hãy thở giùm tôi” (Trịnh Công Sơn). Họ cần một nơi trú ẩn. Miễn an toàn. Rồi tìm cách bào chữa sau. “Tháp ngà văn chương” là cụm từ của nhà phê bình văn học Thiếu Sơn (1908-1978). Nhiều người có suy nghĩ như ông: “Tôi tiếp tục sự nghiêp văn chương và lấy làm tự mãn, tự kiêu là mình đã sống trong Tháp Ngà để tài bồi cho văn hóa” (Tạp chí Đứng Dậy, số 64 - 8.12.1974, tr.21). Trách nhiệm của người cầm bút trí thức, chỉ có thể thôi ư? Để viết được câu đó, phải là lần ở tù từ năm 1972-1974, trước đó ông đã "nằm hộp" nhiều lần. Tiếc rằng, tập sách tương đối đầy đủ nhất: Thiếu Sơn - nghệ thuật và nhân sinh (NXB Giáo Dục - 2008). Tập sách này do em ruột của ông là NSƯT Quang Hưng và PGS-TS Nguyễn Thị Thanh Xuân sưu tầm và giới thiệu. Làm "tuyển tập" về một người, có khi chỉ cần mỗi một bài đó, chỉ 1 trang là đủ; mà thiếu mỗi bài đó, dù ngàn trang vẫn là thiếu.

Gần đây, sau vụ cá chết hàng loạt tại Vũng Án (Hà Tĩnh), lan rộng đến các tỉnh miền Trung, tâm hồn y đã xáo trộn. Đã có một nhận thức khác. Chẳng lẽ cứ trăng hoa tuyết nguyệt mãi sao? Hiện thực dữ dội ấy, không còn là của riêng ai nữa. Số phận của dân tộc đang đối đầu với cá chết, ngập mặn, thực phẩm bẩn… Đâu còn là vấn đề của riêng một ai? Mới đây, Báo Tuổi Trẻ từng có bài viết: "Vận nước trên chiếc bàn ăn". Vậy thì, lúc đó, y đang đứng ở đâu với vai trò của một nhà báo, thiên chức của một nhà thơ? Đã qua rồi cái thời anh chàng nhà thơ: “nghĩa là ru với gió/ Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây” (Xuân Diệu). Thật ra mơ thì cứ mơ, nào ai cấm cản gì đâu. Nhưng rồi, tự y cảm thấy chẳng ra làm sao cả. Đừng trách bạn đọc xa lánh thơ, hoặc các loại hình nghệ thuật khác, bởi lẽ tự bao giờ, tự lúc nào người sáng tạo ra nó đã thoát ly khỏi đời sống?

Như một cách tự kiểm, sáng ngày 1.5.2016, ngồi trong phòng cắm cúi viết Nhật ký thơ.

những ngày này giật mình tỉnh giấc
nắng ngoài hiên sao tái nhợt thế này?
tiếng chim hót một màu đen xám ngoét
trên đường phố dòng người như xác chết
con mắt cá ươn đi đứng vô hồn
không bình minh chỉ rặt mỗi hoàng hôn
là những ngày đang sống
tôi dửng dưng đứng bên ngoài biển động
không nghe tiếng sóng
đang rền vang nước mắt chảy ròng ròng
ngư dân nhẫn nại nhọc nhằn
nằm dọc biển bờ cứng đờ như xác cá
ôi đất nước bốn ngàn năm vất vả
một miếng ăn cũng nghẹn họng từng giờ
ngày ngày đối mặt với hư vô
liệu ích gì sức sống của thơ
vần điệu véo von cũng ồn như lý thuyết
có cứu được bãi bờ đang giẫy chết
cá đang nằm xếp lớp xác xương khô?
là xác người hiện hữu phía tương lai
có thể là em, có khi là mẹ
là tôi, là anh, là chị...
những cỏ dại hoa hèn
những tăm tối dân đen
đi về phía đường hầm đâu lối thoát?
ngoài biển Đông điệp trùng tiếng hát
ai hát quốc ca Trung Quốc đẹp vô cùng?
Hoàng Sa ơi máu chảy ruột mềm
Tổ quốc ơi đã lìa da mất thịt
ngày đang sống là oan hồn xám xịt
treo chập chờn trên ngọn sóng thời gian
tình yêu tôi đã bốn ngàn năm
đâu mùa vàng rập rờn hương lúa chín
khỏe khoắn đại dương xanh
đâu trăng rằm hương bưởi
vỗ tay hát nhịp dân ca
cánh cò bay lả bay la
chỉ còn trong giấc mơ thăm thẳm
những ngày tôi đang sống
đất nước như con thuyền bị đắm?
chẳng phải đâu
ngày mai thôi, chỉ ngày mai thôi sẽ rợp trời bóng nắng
lại cùng đinh nhẫn nại kéo thuyền lên
tôi nhủ thầm bằng tiếng Việt thiêng liêng

Sáng hôm nay, trời mát hơn một chút, nhờ vài ngày qua đã có chút mưa trút xuống. Trời xanh trong. Đi ăn bún riêu. Trên đường về, ghé lại quán cà phê đường Hàn Thuyên, mới hay hàng quán không được bán vì có biểu tình. Đành đi tiếp. Đi một đoạn nữa, nhìn qua phía công viên thấy cảnh giằng co giữa gã trung niên với hai thanh niên trẻ cùng mặc áo pull, một đen, một trắng. Bên cạnh có một thanh niên niên khác cầm lấy tấm biểu ngữ đã xếp, kẹp vào nách, chỉ chỏ, nói gì đó, nghe không rõ.

Dù bị túm cổ áo, thanh niên trẻ mặc áo pull trắng vẫn đôi co: “Anh bắt em vì lý do gì?”. Gã trung niên vẫn lôi cổ áo, đằng đằng sát khí, không thèm nói gì, chỉ nghe những tiếng chửi thề. Đôi bên vẫn giằng co, lập tức một cú đấm từ dưới quai hàm dội ngược lên mặt. Thanh niên áo pull trắng ôm mặt đầy máu. Lập tức, đám dân phòng mặc áo xanh lá cây đang đứng phía trước chạy ùa tới lôi kéo. Thanh niên áo pull trắng bị đẩy lên chiếc hơi màu đen.

Còn thanh niên áo pull đen thì sao?

Anh ta bị dân phòng bẻ quặt tay, lôi khỏi công viên, dù bị đẩy ra ngoài lề đường vẫn từ tốn: “Mấy anh cho biết tôi bị bắt vì lý do gì?”. Không một ai trả lời. Một chiếc xe cảnh sát vừa trờ tới, anh ta bị tống lên xe. Dòng người vẫn đi qua, vẫn đứng thản nhiên xem. Y tò mò dừng lại nhìn xem tấm biểu ngữ vừa tịch thu có dòng chữ gì, vì lúc đó, nó được trải ngay dưới đất để một vài người chụp bằng điện thoại di động. Y đã đọc thấy dòng chữ như sau: “Chúng tôi muốn biết sự thật vì sao cá chết?”. Cuối dòng chữ đó, có vẽ con cá chỉ còn trơ lại bộ xương.

Lúc đó, chừng 8g45. Đó là vụ bắt bớ trước nhất của ngày hôm nay. Thiên hạ vẫn dửng dưng đứng nhìn, không một ai dám lên tiếng hoặc can thiệp.

Y không nghĩ sáng nay sẽ có biểu tình. Vì thế, rời khỏi đám đông và bước vào quán cà phê thuộc tòa nhà Metropolitan - đối diện nhà thờ Đức Bà. Khác với mọi ngày, thực khách không được ngồi ngoài sân. Nhìn qua các ngã đường Đồng Khởi, Nguyễn Du đều thấy nhiều hàng rào kẽm gai. Đường Nguyễn Du từ phía Hai Bà Trưng đi về đường Đồng Khởi bị chận lại. Đường Đồng Khởi ngay Sở Văn hóa Thông tin cũng có hàng rào kẽm gai chận ngang. Y ngồi trong phòng máy lạnh và nhìn loáng thoáng ra ngoài, nhìn qua tấm cửa gương. Chỉ thấy có nhiều công an và dân phòng. Không mấy người dân còn lảng vảng ở đó nữa.

Chừng nữa tiếng đồng hồ sau, y rời khỏi quán cà phê, bước ra ngoài.

Thật lạ lùng, đột nhiên nghe gào rú điếc tai. Đó là loa phóng thanh. Nẫy giờ ngồi trong phòng kín nên chẳng hay biết gì. Đại khái, yêu cầu người dân tự giải tán, trả lại sự yên bình cho thành phố, nếu ai quá khích sẽ bị sử lý theo luật pháp. Các loa phóng thanh rất to. Nhìn về phía công viên, đập vào mắt y,  trời ơi,  cả một rừng người. Trên tay họ đều có cầm các tấm bảng nhỏ, hầu hết màu trắng, viết chữ đen. Người biểu tình hô vang những gì? Y không nghe rõ. Bèn đi lững thững qua bên kia công viên, phía đối diện và tiếp tục quan sát. Có một anh chàng nọ, đứng cạnh y vừa gương điện thoại đi động chụp hình, liền bị công an cấm cản. Ngay lập tức, có một thanh niên khác mặc thường phục đến bá vai đẩy đi chỗ khác. Chừng 20 phút sau, đám đông chuyển hướng, họ tràn ra phía đường lộ sát nhà thờ Đức Bà.

Y quay về quán cà phê của tòa nhà Metropolitan và tiếp tục đứng quan sát.

Đã có những cuộc xô xát rất dữ dội xẩy ra. Có nhiều người bị bắt, có nhiều người được giải vây.

Đã có một loạt xe buýt cỡ lớn đậu ngay trên đường.

Đã có nhiều người biểu tình bị bắt, đẩy lên xe buýt, xe cảnh sát.

Đã có nhiều cuộc giải vây ngoạn mục giúp người biểu tình không bị bắt.

Đã có những tiếng vỗ tay, cổ vũ khi xe buýt chở người người biểu tình bị bắt vừa lướt ngang.

Cả một rừng người nhốn nháo, la hét, giằng co với dân phòng; có một rừng người vỗ tay hò reo.

Có tiếng nói của ai đó, đứng bên cạnh y: “Nếu là trước đây, bị đàn áp thế này, bọn sinh viên chúng tôi đã đốt xe buýt rồi”. Bây giờ hoàn toàn không hề có. Chỉ là biểu tình ôn hòa. Nghĩ cho cùng, cái đau nhất nhìn đâu cũng thấy người Việt mình.

Còn nhớ lần nọ, ngồi lai rai với anh bạn thuộc thành viên chủ chốt của tờ báo nọ, anh bảo: “Q còn nhớ cái vụ các anh X, Y, Z đến báo mình không?”. Sao lại không? Ngày ấy, “phái đoàn” gồm nhiều thủ lĩnh của phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh tại Sài Gòn trước 1975, bất ngờ ghé đến tờ báo nọ và họ yêu cầu được gặp ban biên tập. Tiếp hay không tiếp và tiếp như thế nào? Họ cho biết là đến để trình bày quan điểm về vấn đề Trung Quốc kéo dàn khoan án ngữ biển Đông; yêu cầu có phóng viên tham dự tường thuật. Cuối cùng, anh bạn của y được ban biên tập phân công tiếp khách. “Thế anh phát biểu gì sau khi nghe và đọc các kiến nghị đó?”. Ngẫm nghĩ một lát anh nói khẽ, giọng buồn buồn: “Dù gì cũng là anh em đàng mình. Thời trước 1975, mấy ảnh là người lãnh đạo trực tiếp của tụi mình. Khó quá. Trước kia, địch ta rõ ràng, không gì phân vân, lấn cấn khi hành động. Nay, dù gì cũng anh em đàng mình”.

Cái khó chính là chỗ đó.

Nhìn chung quanh, với y, chỉ là người Việt da vàng mũi tẹt. Biểu tình có thật. Dùng vũ lực giải tán biểu tình là có thật, nhưng mục đích cuối cùng là gì,  y hoàn toàn không có thông tin để thấu hiểu. Y chỉ là người đứng phía bên ngoài, vì thế không dám có một kết luận nào. Chỉ biết rằng, dù có vì mục đích gì đi nữa, dù là ai nhưng một khi sử dụng vũ lực để giải tán biểu tình thì quyết rằng, đó không phải là phép ứng xử văn minh của một thể chế đang hướng tới mục tiêu: vì dân, do dân, dân biết, dân bàn dân kiểm tra. Nghĩ thế, có đúng không? Lại biết rằng, năm kia, vụ biểu tình chống Trung Quốc diễn ra trước Nhà hát lớn, y có ngồi ở quán cà phê Continaltan để quan sát. Có gặp rất nhiều người quen, anh em báo chí, văn nghệ sĩ. Lúc đó, người biểu tình cầm cờ đỏ sao vàng, ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sáng nay, hoàn toàn không hề thấy. Chỉ là những tấm bảng trắng ghi các câu chữ màu đen lên trên đó. Và hầu hết, họ đều còn rất trẻ. Không gặp một ai quen.

Trên đường về, phóng xe ngang qua Bưu điện, định ghé vào Đường sách - nơi đang diễn ra Những ngày văn học châu Âu đang tổ chức lần đầu tiên tại TP.Hồ Chí Minh từ ngày 8.5 đến ngày 12.5.2016. Muốn tạt vào lắm, đang cầm Thư mời. Nhưng thôi, trưa rồi. Hơn nữa, còn phải vào Bệnh viện Gia Định thăm mẹ đang nằm bệnh. Trên đường đi về. Lại thấy các hàng rào kẽm gai đến nhức mắt. Lẫm nhẫm mấy câu thơ chợt đến:

trong Tháp Ngà văn chương
tôi đã sống những ngày gió lộng
âm vang từng tiếng động
là nỗi cô đơn tủn mủn nhạt phèo
phía ngoài trời biểu ngữ hò reo
tôi cẩn thận bịt tai nhắm mắt
ngoài biển Đông bão giông gầm thét
lật ngược tâm hồn chỉ hằn vết dửng dưng
có những ngày rầm rập bước chân
người xuống đường nhiệt tình như tuổi trẻ
tôi quay mặt vào Tháp Ngà lặng lẽ
rị mọ ngôn từ chữ nghĩa vu vơ
không nghe mùi biển mặn cá khô
đã nhầy nhụa ngay từ trong tiềm thức
chả dại gì đối đầu cùng sự thật
cứ hào hứng nhịp đồng ca
còn đây em nõn nà
váy vẫn ngắn thịt da thơm ngon lắm
mặc kệ phố phường dòng người chết đắm
tôi vẫn lửng lơ
những phận nghèo phiêu bạt về đâu?
chẳng việc gì phải biết
tôi chỉ thấy cành non lá biếc
vẫn xum xuê rợp bóng xuống trong đời
có những ngày đường phố sẫm mồ hôi
đòi quyền sống cho những con cá chết
đòi Hoàng Sa giữa đêm đen mù mịt
tôi vẫn cứ thản nhiên ngoài cuộc
ngoài đời sống
phía bên ngoài cơ cực
hỡi anh em hỡi số phận cần lao
tôi đang đứng nơi đâu?

Buồn khiếp. Ông Phùng Quán bảo: “Lúc ngã lòng tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”. Y vịn vào đâu? Xin thưa rằng:

ngày mai thôi, chỉ ngày mai thôi sẽ rợp trời bóng nắng
lại cùng đinh nhẫn nại kéo thuyền lên
tôi nhủ thầm bằng tiếng Việt thiêng liêng

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 5.5.2016

PDF.InEmail

phuong_dai_2RR

Nhà thơ Phương Đài (1932-2016)

 

Những ngày này, lại chạy như cờ lông công. Anh trai nằm Bệnh viện 115. Mẹ nằm Bệnh viện Phú Phuận. Hôm trước, đi phúng điếu nhà thơ Phương Đài. Cảm thấy đời trôi qua nhanh quá. Nhờ có gợi ý, thúc giục của bạn thơ Phan Hoàng mới thu xếp thời gian viết bài về người quá cố. Mà không thể không nhắc lại một kỷ niệm cũ. Đã cũ. Viết rằng:

“Trong đời ai cũng một lần đi cưới vợ, chừng hơn ba mươi năm trước tôi cũng thế. Theo kế hoạch của ngày qua nhà đàng gái, ba tôi từ Đà Nẵng có mặt tại Sài Gòn lúc 8 giờ. Thế nhưng do trục trặc tàu xe nên không thể đúng hẹn. Mọi việc đã chuẩn bị đâu ra đó, đã ấn định, không thể chậm trễ. Không còn cách nào khác, mọi người đã “bầu” nhà thơ Phương Đài đại diện cho đàng trai. Tháp tùng đi theo, ngoài “nhân vật chính” là tôi, còn có các bạn bè văn nghệ như nhà thơ Đặng Nguyệt Anh, Trần Hữu Dũng, Đoàn Vy, Xuân Huy, Trương Nam Hương, Đoàn Vị Thượng... May quá, sau phần chào hỏi đúng chóc “giờ song hỉ” của “ngày lành tháng tốt” tại nhà gái, ba tôi kịp thời có mặt trong phần nghi lễ chính thức.

Từ sự việc đó, tôi đã thật sự xem nhà thơ Phương Đài là “má nuôi”.

Sở dĩ, trước đó, tôi có mối thân tình với với nhà thơ nữ nổi tiếng của miền Nam, tác giả Đất mẹ (1965), Hiến lễ mùa thơ (1971) cũng là từ nhà văn Sơn Nam. Thỉnh thoảng, tôi chở ông đến thăm, trò chuyện với các bạn văn nghệ cùng thơ với ông. Lần nọ, tại nhà riêng trên đường Thích Quảng Đức của nhà thơ Phương Đài, cô đã tặng tôi tập Hiến lễ mùa thơ. Trong đó, nhà văn Sơn Nam viết Tựa, khẳng định: “Phương Đài là nhà thơ tranh đấu”. Và ông lý giải: “Thơ Phương Đài chứng tỏ rằng đấu tranh cho dân tộc là đề tài chan chứa nhiều tình cảm. Và ca ngợi tình cảm cá nhân chưa hẳn là ủy mị, là lạc hậu nếu thi nhân giàu lòng yêu Tổ Quốc. Mười mấy năm qua, Phương Đài không còn là người cô độc. Vì người đang yêu Tổ Quốc, người đau khổ vì chiến tranh mỗi ngày thêm đông và đang có những hành động tích cực”.

Do hoạt động trong phong trào yêu nước: “Lên đường tay mạnh dìu tay yếu/ Thôi hết từ đây bước độc hành”, nhà thơ Phương Đài đã bị chính quyền Sài Gòn bỏ tù. Nhiều phụ nữ miền Nam trong tù ngục đã sinh con, nhà thơ Phương Đài đã viết về trường hợp của chính mình: “Sinh con, lính gác tù bên cạnh/ Trong đau kiêu hãnh nở vườn đời/ Nhìn con cười xóa niềm băng hoại/ Mẹ mộng thành chim cất cánh bay” (Lời này cho Phương Dung). Hình ảnh chim bồ câu, tượng trưng cho hòa bình, thời ấy đã được nhiều nhà thơ miền Nam sử dụng. Ngay cả nhà thơ miền Nam như Chim Trắng, có lần cho biết sau Hiệp định Geneve, từ tên thật Hồ Văn Ba, ông ký bút danh đó cũng không ngoài mục đích đấu tranh cho thống nhất đất nước. Nhà thơ Phương Đài cũng từng tâm niệm: “Mơ đến mùa xuân thắm nụ đào/ Mùa xuân Nguyễn Huệ phất cờ cao/ Ngàn hoa nở cánh, bồ câu hiện/ Thơ đổ vườn xuân ngập ánh sao”.

Tưởng cũng nên nhắc lại, khi hay tin nhà thơ Phương Đài qua đời, nhà văn Bích Ngân là người trước nhất loan tin trên trang web của Hội Nhà văn TP.HCM. Có thông tin này cần lưu ý, từ bài thơ Lời này cho Phương Dung: “Mẹ tặng con theo gương bà ngoại/ Gia tài bất khuất là nơi đây/ Là niềm tin tưởng trong truyền thống/ Là nhục nhằn trong hãnh diện này”.. nhà văn Bích Ngân cho biết: “Bà ngoại” trong câu thơ là nhà báo nhà thơ Song Thu, thân mẫu của nhà thơ Phương Đài, một nhà hoạt động cách mạng tiền bối. Nhà thơ Phương Đài còn là cháu gọi nhà thơ Phạm Phú Thứ (một đại thần triều nhà Nguyễn và là một trong số người có quan điểm canh tân đất nước trong những năm nửa cuối thế kỷ 19), người có khí tiết thanh cao, là ông cố ngoại”.

Sinh thời, nhà thơ Phương Đài cũng nhiều lần kể tôi nghe về chi tiết vừa nêu. Tạp chí Phổ Thông, từ số xuất bản đầu năm 1960, Diệu Huyền (bút danh của nhà thơ Nguyễn Vỹ) có viết loạt bài Các thi sĩ cuối cùng của thế hệ lão thành, ta thấy tác giả bài thơ nổi tiếng Gửi Trương Tửu đã xếp nữ sĩ Song Thu chung “chiếu làng văn” với các cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị (thân phụ Tôn Nữ Hỷ Khương), Thường Tiên (con của trai của vợ chồng nhà thơ Lê Quang Chiểu - Trần Ngọc Lầu), Cao Ngọc Anh (ái nữ của cụ Cao Xuân Dục, cô ruột nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo), Song Thanh… Nhắc lại chi tiết trên, để thấy rằng nhà thơ Phương Đài cũng thuộc hạng “con nhà nòi”, có nếp thư hương truyền thống.

Sau năm 1975, nhà thơ Phương Đài vẫn tiếp tục sáng tác, có thể kể đến Đi giữa mùa thơ, Nắng hoàng hôn...  Có lẽ ấn tượng nhất là tập thơ Sợi mưa hồng, nhà thơ Lê Giang cảm nhận tinh tế, chính xác: “Hồn thơ vừa hiền dịu, nhỏ nhẹ, từ tốn, vừa ray rứt, băn khoăn, mong muốn thổ lộ. Phương Đài luôn gói ghém một chữ Tâm rưng rưng lấp lánh”.  Nhắc lại kỷ niệm về nhà thơ Phương Đài, tôi không thể quên chị Cúc - con gái của cô, cũng có thời gian làm việc tại Văn phòng Hội Nhà văn TP.HCM. Chị xinh đẹp, hiền lành và có khuôn mặt giống như mẹ. Ngày đó, anh em làm thơ trẻ chúng tôi thường ghé thăm mẹ con cô và bàn luận thơ, đọc thơ cho nhau nghe.

Nay vĩnh biệt nhà thơ Phương Đài, xin chép lại bài thơ Đến thăm mẹ, tôi đã viết trong khu vườn nhà thơ Phương Đài từ năm tháng ấy, đã in báo Văn Nghệ TP.HCM số 496 (ra ngày 4.9.1987) như nén nhang đưa tiễn người đi:

Con đến thăm bóng trăng vườn mẹ
Ở Sài Gòn lại nhớ điệu dân ca
Vòm câu xanh hạnh phúc giữa sân nhà
Treo vạt trăng cong mang hình lá biếc

Trăng vườn mẹ bốn mùa rất tuyệt
Màu tình yêu thắp sáng chỗ con ngồi
Trăng dịu dàng ấp úng mãi trên môi
Mẹ đọc ca dao tình sâu nghĩa nặng

Giọng của mẹ ngọt ngào gạo trắng
Có cánh cò trắng biếc Cửu Long Giang
Bước trong vườn cây ngỡ đi giữa cung đàn
Cây trái thơm tho về đây hội ngộ

Dòng sông nơi đâu mà con nghe sóng vỗ
Thấp thoáng mùi hương vú sữa tím trời
Nghe nhịp chèo sông nước hát à ơi!
Đọng hoài trong con bài thơ mẹ đọc

Trăng của thơ bềnh bồng trên mái tóc
Vườn cây xanh như lòng mẹ ân tình
Con ngồi võng nhà mẹ giữa nội thành
Như bơi xuồng trong ca dao hồi bé

Chợt rung lên một bầy chim se sẻ
Bay về đây ấm áp bóng trăng lên
Thăm mẹ một lần có lẽ chẳng hề quên
Làn điệu dân ca ngọt ngào gạo trắng

Thoáng đó, “má nuôi” của tôi - nhà thơ Phương Đài “một chữ Tâm rưng rưng lấp lánh” đã thuộc về thế giới của “người muôn năm cũ”.

Thử hỏi, lòng sao không buồn?”.


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 5 trong tổng số 45

298
trinhduyson