LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 3.10.2017

 

ngay-di-tren-chu-5Ryyy

Tranh vẽ trên giấy dó của Lê Minh Quốc

 

Vừa đi Đà Nẵng về.  

Thành phố của năm tuổi thơ vẫn nguyên vẹn trong trí nhớ. Vẫn đi lại những con đường cũ. Vẫn những thức ăn của ngày xa xưa. Vẫn tháng 9 có cơn mưa tầm tã vào buổi sáng sớm. Vẫn giọt cà phê đắng môi. Vẫn âm vang tiếng gió tiếng mây tiếng lao xao từ vòm trời xa thẳm réo gọi. Vẫn mùi biển mặn trong không gian ngút ngàn kỷ niệm. Vẫn thế. Không gì khác. Đời người, hạnh phúc nhất vẫn còn một nơi chốn để quay về, tìm về. Những cuộc tình đã qua. Những cuộc tình đã mất. Tưởng là còn, ngỡ là mất nhưng rồi tất cả chỉ là một làn hương thoáng qua một chốc nhưng vạn kiếp ngàn đời đã hóa thành máu thịt.

“Xa xăm điện thoại một, hai/ Bốn, năm, sáu, bảy... chờ mai ngóng chiều/ Tưởng rằng nỗi nhớ mọc rêu/ Ngờ đâu nguyên vẹn màu yêu vẫn còn/ Tưởng rằng chiều xuống héo hon/ Ngờ đâu nắng đẹp tươi non bắt đầu/ Mưa nguồn chớp biển tiễn nhau/ Lúc quay lại vẫn ngọt ngào như xưa”. Cứ thế, sự ngọt ngào ấy chỉ còn trong tâm tưởng nuôi con người ta lớn lên, già đi và cuối cùng là một sự trống rỗng, rỗng không, vô hình hài hình tướng.  

Đôi khi tự nhủ, phải viết mỗi ngày. Rồi lại phân vân, viết để làm gì? Câu hỏi ấy trả lời ra làm sao. Thôi thì, cũng là một cách giết thời gian. Giết dần từng khoảng khắc của ngày. Một ngày. Vạn ngày. Đến ngày nào mới thôi? Chẳng thể biết được. Đôi khi con người ta cũng tự chán lấy mình. Một ngày tẻ nhạt quá đi mất. Quanh đi quẩn lại cũng chừng ấy nhúm chữ. Xáo đi, trộn lại và trải dài ra trước mắt. Là viết đấy à? Ngày nào cũng thế. Quanh đi quẩn lại cũng chừng ấy gương mặt. Lại nhớ đến câu thơ của Lưu Quang Vũ: “Tôi chán cả bạn bè/ Mấy năm rồi họ chẳng nói được câu gì mới/ Tôi bỏ ra đi, họ ngồi ở lại/ Tôi đi một mình trong phố vắng ban đêm”. Đi đâu? Y chẳng bao giờ dám đi đâu ngoài bốn bức tường nhà. Chán là thế.

Sực nghĩ, chung quanh mình còn có những con người tầm vóc lớn lao ghê gớm. Họ đã vượt ra ngoài ý nghĩ thông thường như y đã nghĩ. Họ đã biết nghĩ về người khác. Nghĩ về sự tồn tại của cả một cộng đồng. Tại sao họ thế sống trong tâm thế ấy? Câu này có thể trả lời bằng nhiều cái “gạch đầu dòng”, nhưng rồi, dù có liệt kê dài dòng đến cỡ nào cũng không thể thiếu đi một yếu tố quan trọng bậc nhất: môi trường xã hội mà họ đang sống.

Môi trường ấy cho phép họ có thể toàn tâm toàn ý suy nghĩ về những gì vượt ra ngoài cơm áo nặng nợ mỗi ngày, không phải đối mặt với những vụn vặt nhiễu sự, không phải thắt lòng đau đớn trước các thông tin chẳng ra làm sao về tham ô tham nhũng, ô nhiễm môi trường, chạy quyền chạy chức, con ông cháu cha, "con vua thì lại làm vua/ Con sãi ở chùa lại quét lá đa", lợi ích nhóm, bè phái cánh hẩu, an toàn thực phẩm, tranh tụng nhì nhằng, "Con kiến mà kiện cành đa/ Leo phải cành cộc leo ra leo vào/ Con kiến mà leo cành đào/ Leo phải cành cộc leo vào leo ra"… rất ư đúng quy trình. Vâng, rất đúng quy trình. “Tài thật! Tài thật! Tài đến thế là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo” - nhân vật của nhà văn Nam Cao, nếu bước ra ngoài trang văn cũng lại thốt lên câu ấy đấy thôi.

Thỉnh thoảng trong Nhật ký, đã đôi lần y biểu dương, thán phục những con người có tầm nhìn lớn lao đã biết sống cho người khác, vì người khác. Gần đây, sự thán phục ấy lại quay về trong sự suy nghĩ cỏn con của y. Rằng, thời đi học, ai cũng biết rằng, nếu muốn được công nhận một quốc gia mới thì phải có đủ điều kiện: dân số, chính phủ, ranh giới lãnh thổ và có khả năng tương tác với các nước khác. Rằng, nếu Liên Hiệp quốc công nhận thì sắp đến đây, trên thế giới sẽ có thêm một quốc gia nữa, nâng con số lên 194.

Quốc gia nào vậy?

Theo báo Tuổi Trẻ ngày 29.9.2017, “quốc gia” này có quốc kỳ, hộ chiếu, tem bưu chính, thậm chí cả quốc ca, tổng tuyển cử, đội tuyến bóng đá: “Nhưng điều đáng nói nhất là lãnh thổ của nó không phải dất đai mà hoàn toàn là… rác thải”. Đây là sáng kiến của Công ty truyền thông LADbible (Anh) cùng với tổ chức phi chính phủ Plastic Oceans Foundation (Mỹ) khởi động từ tháng 9.2017 - khi họ phát hiện, khảo sát khối rác thải nhựa rộng nửa triệu kilômet vuông đang bềnh bồng ngoài khơi Thái Bình Dương - diện tích gần bằng nước Pháp! “Quốc gia” này được đặt tên Trash Isles (Đảo Rác) cũng lên chiến dịch mà họ vận động Liên Hiệp quốc công nhận.

Công nhận để làm gì?

Là để mong muốn các chính phủ cùng chung ta “xóa sổ” nó đi, “nhấn chìm” nó đi. Và tổ chức trên sẽ tiếp tục “gây ồn ào” cho đến bao giờ mọi người chịu lắng nghe và hành động. Được biết, thông qua chiến dịch này, họ đã thiết kế sẵn quốc kỳ, hộ chiếu và cả tiền giấy (gọi là đồng debris, nghĩa là mảnh rác, tem bưu chính, tất cả làm từ vật liệu tái chế. Hiện nay, “quốc gia” nay đã có 130.000 người đăng ký trở thành công dân, thông qua mạng trực tuyến chage.org, tất nhiên họ không phải đến “an cư lạc nghiệp” tại Trash Isles. Công dân danh dự đầu tiên  của “quốc gia” này là cựu Tổng thống Mỹ Al Gore; nữ diễn viên 83 tuổi người Anh là Juli Dench đã đồng ý làm “nữ hoàng”, đơn giản bà từng thủ vai nữ hoàng Anh Elizabeth trong phim Shakespeare đang yêu và đã đoạt giải Oscar.

Những thông tin này, ngoài ý nghĩa lớn lao của nó, điều khiến nhiều người thích thú còn là sự trẻ trung, vui nhộn khi họ phát động chiến dịch Trash Isles nữa. Cũng là vấn đề về rác, thử hỏi rằng, nước Nam ta có gì để khoe không? Có chứ. Cùng với dịp, cuộc vận động này được tiến hành thì, thì sao?

Thì cứ theo như nguồn tin của báo Thanh Niên số ra ngày 8.9.2017, đây là ngày: “Công ty an ninh mạng Kaspersky công bố báo cáo 'Spam và lừa đảo trong quý 2/2017'. Theo đó, nhìn chung số lượng thư rác trung bình đã tăng lên 56,97%. VN trở thành quốc gia có nguồn phát tán thư rác đứng đầu (chiếm12,37%), vượt qua Mỹ (10,1%) và Trung Quốc (8,96%). Lượng thư rác độc hại đã tăng mạnh sau cuộc tấn công của WannaCry vào tháng 5, gây ảnh hưởng tới hơn 200.000 máy tính trên toàn cầu, dẫn tới sự hoảng loạn lớn cho người dùng và những kẻ gửi thư rác ngay lập tức đã tận dụng cơ hội này. Một trong những xu hướng chính là số lượng thư rác được nhắm mục tiêu đến hệ thống doanh nghiệp. Bên cạnh đó, số lượng thư kèm theo các Trojan, được gửi dưới danh nghĩa các dịch vụ chuyển phát quốc tế cũng gia tăng”.

Đọc xong mẩu tin này và tủm tỉm cười.

Lại tủm tỉm cười. Cười với gì nữa? À, cười với một “bài thơ” lục bát, chẳng rõ tác giả. Ghi lại trong Nhật ký để thấy rằng các công chức ăn lương như y đây, hiện nay đang quan tâm đến điều gì khi bước vào công sở. Trước hết, xin nhắc lại sự việc tại thành phố nọ đã ban hình Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp khối Nhà nước, trong đó có việc cán bộ, công chức không mặc quần jean, áo thun khi thực thi nhiệm vụ, là nhằm tiến đến chính quy hiện đại. Một quan chức giải thích:  “Trước khi soạn thảo, chúng tôi đã có nghiên cứu, tham khảo các tài liệu thì thấy quần jeans có xuất xứ từ các nước Châu Âu, dành cho những người lao động để người ta mặc đi lao động, sản xuất hoặc là đi chăn bò, chăn cừu”.

Thiên hạ có nhiều ý kiến khác nhau.

Và đây là những câu vần vè tếu táo: “Nội quy cấm được mặc quần/ Bò tới công sở, một tuần trừ lương/ Sếp thì đang rất là cương/ quyết phải thực hiện chủ trương cái quần/ Ai ai mặt cũng đầy phân/ vân là không biết có quần thay không!/ Rồi phải đeo phù hiệu công/ ti ở trước ngực hồng hồng xinh xinh/ Mình thì cũng hết cả tinh/ thần để làm việc nên mình im ru/ Thân thì chả khác gì cu/ li pha trà nước rồi thu dọn phòng/ Buồn ra quán gọi đĩa lòng/ lợn ngồi chễm chệ xơi xong rồi về”. Nội dung không có gì đáng bàn, sở dĩ gây cười vì nó viết theo phong cách tân hình thức với lối xuống câu cực kỳ ba trợn, dù vẫn tuân theo nhịp 6/8.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 20.9.2017


thio-le-rtan-21-R

 

À, thì ra thế. Y ồ lên một cách sung sướng.

Do đọc đi đọc lại nhiều lần mới vỡ lẽ ra rằng, có những câu thơ đã đọc, thích thú, thỉnh thoảng hay lẫm nhẫm trong đầu nhưng chắc gì đã hiểu rõ nghĩa. “Hư vô bóng khói trên đầu hạnh/ Cành biếc run run chân ý nhi” (Xuân Diệu). Nhịp của câu thơ thất ngôn như đang bước đi và dừng lại. Sự nhịp nhàng của trắc và bằng đã tạo ra cảm giác ấy. Sau giây phút băng khoăn ấy, có lúc tự hỏi: “Hư vô bóng khói trên đầu hạnh. Vậy hạnh là gì?”. Lâu nay, hễ một khi ngắc ngứ câu chữ gì đó, y lại nhờ cậy đến nhà nghiên cứu An Chi. Dẫu biết rằng, không nên một chút nào. Nhưng rồi bí quá, đành làm phiền là thế.  

Lần này, nhờ lật bộ Hán Việt từ điển của cụ Đào Duy Anh nên đã có thể tự giải thích một cách ngon ơ: “Hạnh: Một thứ cây, lá giống lá mơ, tên gọi là cây mận”. “Bấy giờ mận mới hỏi đào/ Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?”. Câu ca dao quen thuộc lắm. Mà đã xong đâu. Ông Xuân Diệu “nhiễu sự” thật. Đã thế lại còn: “Cành biếc run run chân ý nhi. Vậy ý nhi là gì?”. Thoạt định điện thoại hỏi nhà thơ Người đàn bà ngồi đan, thân phụ của chị - nhà nghiên cứu tuồng Hoàng Châu Ký đặt tên Ý Nhi cho chị là ngụ ý gì? Chẳng nhẽ, cái gì cũng hỏi?

Thôi thì, cứ hãy chịu khó tra từ điển đi nhé. Rằng, Hán Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng giải thích: “Tên một loài chim, có thuyết bảo là chim yến. Bản dịch Chinh phụ ngâm khúc: “Nay quyên đã giục oanh già/ Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo”; Tên một bậc hiền sĩ thời cổ, thấy chép trong thiên Đại tông sư của sách Trang tử”.  

À, thì ra thế. Y ồ lên một cách sung sướng.

Ngày trước, thuở mới quen nhau, cô người yêu thường bảo: “Đuôi mắt của anh như đuôi cá dolphin”. Dolphin là con cá heo. Y tuổi Kỷ Hợi lại là sự trùng hợp về tên gọi. Càng hay. Ý nàng muốn nói là “ con mắt có đuôi” đấy thôi. Nhờ thế, bèn có thơ: “con cá dolphin lặn lội suối khe/ được gặp em là vui như đứa trẻ/ Trương Vô Kỵ cũng chỉ là đứa trẻ/ bước chân đi không quá sợi lông mày”. Đọc lằng lằng trên mạng, mấy trang bói toán gì gì đó lại quả quyết, “con mắt có đuôi” -  là kiểu mắt của tướng người đa tình. Có trúng? Có trật? Nếu thế, “Đa tình con mắt Phú Yên” (Tản Đà), hóa ra người dân Phú Yên đa phần đều sở hữu con mắt có đuôi? Tầm bậy. Làm gì có chuyện đó.

Cái thú của đọc thơ, đôi khi không cần phải hiểu rõ nghĩa. Chỉ cần cảm. Cảm nhận vần điệu du dương, lúc nhịp nhàng khi trúc trắc, dẫu chẳng rõ nghĩa nhưng vẫn thích. Cần gì phải cân, đong, đo, đếm từng ngữ nghĩa, mệt lắm, hãy để âm điệu nhịp đi của câu thơ lướt ngang qua như gió thổi qua bờ tre, khóm trúc: “Ngõ ban sơ, hạnh ngân dài/ Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua” (Bùi Giáng). Không cần hiểu. Chỉ cần cảm. Nói thì nói thế. Hiểu rõ nghĩa vẫn thích hơn chứ? Vâng, thích hơn là cái chắc.

Cầm quyển sách nhẩn nha đọc, chậm rãi đọc, từ từ đọc, vẫn khoái hơn cả. Dù ai nói gì thì nói, chê “cùi bắp” cũng chẳng sao, y vẫn thích đọc từ trang sách giấy trắng mực đen. Chữ nghĩa sờ sờ ra đó. Đọc đi, đọc lại vẫn thích. Thích thì ghi thêm bên lề trang sách dăm ba câu cảm nhận; hoặc, nếu lúc đó bận rộn gì đó, có thể làm dấu, dăm ngày sau lại đọc tiếp. Ấy, cũng là cái thú đọc sách.

Mà đôi lúc cũng nản quá. Cuộc sống cuồn cuộn ngoài kia, có phải như sách vở đâu. Khác nhau lắm. Đọc tập sách Sống đẹp của Lâm Ngữ Đường, chương bàn về cái thú uống rượu, ta nhận ra rằng, muốn thưởng thức cái ngon của men, nồng nàn của một thứ chếnh choáng: “Đất say, đất cũng lăn quay/ Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười?” (Tản Đà) thì tâm trạng nào, cuộc vui nào cũng phải chọn không gian, lẫn thời gian phù hợp.

Thế thì, cái thú đọc sách cũng chẳng khác gì đâu. Một trong những yếu tố cấn có đầu tiên vẫn phải là sự lành mạnh của một môi trường sống. Nhìn ra ngoài của sổ, ùa vào tai, đập vào mắt bao nhiêu chuyện “khởi nghiệp” của một vài quan chức, họ cho biết nhờ chạy xe ôm, bán chổi đót, làm vườn đến thối cả móng tay, nuôi lợn… mà trở thành giàu sụ, giàu nứt đố đổ vách. Nghe phì cười. Cứ như thể đám đông chỉ trẻ con. Rồi lại có quan chức đó lúc mới ngồi vào cái ghế đó còn trẻ lắm, tuyên bố rất dữ dằn nhằm thể hiện sự trong sáng, trong sạch, đạo đức ngời ngời. Thiên hạ vỗ tay hoan nghênh vì hắn ta đang trẻ. Trẻ chưa hư hỏng. Trẻ còn nhiệt tình. Trẻ luôn nhiệt huyết mà cam tâm làm "đày tớ" cho Dân cho Nước. Phải ủng hộ người trẻ. “Đùng một cái” Thanh tra Chính phủ kết luận hắn ta sử dụng bằng giả, dính dáng mờ ám về nhà cửa, đất đai… Sao lại tha hóa, hư hỏng nhanh đến thế? Chẳng ra làm sao. Trong khi đó, y vẫn đóng cửa phòng, lơ mơ làng màng cùng sách vở có phải ngớ ngẫn lắm không?

Nếu chọn lấy một truyện truyện ngắn hay nhất cả văn học Việt Nam, có tầm thế giới, có tính nhân loại phổ quát, theo y vẫn là Chí Phèo của Nam Cao. Câu nói: “Tao muốn làm người lương thiện!” là bi kịch không lối thoát. “Ai cho tao lương thiện” là câu hỏi tàn khốc nhất, bi thảm nhất của hạng người muốn hoàn lương; hoặc muốn giữ lấy thiên lương. Tâm trạng cay đắng tột cùng của Chí Phèo đã lỗi thời chăng? Tự hỏi rồi nhếch mép cười.

Lại nhớ khi du lịch sang Hà Lan, được tham quan hệ thống máy móc của nhà máy chế biến sữa Campina. Quan sát sự sít sao của quy trình sản xuất, mỗi cái hộp giấy, cái chai nhựa kia tự nó vận hành theo những đường, những rãnh đã định sẵn, không chệch ra ngoài, cứ thế mà đi hết một chặng đường dài, y ngẫm nghĩ: “C’est la vie. Đời là thế. Bi kịch của con người lắm khi là anh rơi vào một guồng máy, dù ý thức nhưng không thể cưỡng lại được. Đến khi thoát ra được, muốn làm lại từ đầu thì than ôi tóc đã bạc, máu đã khô và mắt đã mờ không còn đủ hăm hở bước đi những bước mới”.

Nay, nghĩ thêm rằng, dẫu tự phản tỉnh, ý thức ngay từ lúc ấy, từ lúc còn trẻ trung thừa sức xóa ván cờ này chơi lại ván khác, nhưng rồi con người ta có được sự dũng cảm? Có thể thoát ra ra ngoài như ý muốn? Có đôi lần lan man nghĩ ngợi. Rồi lại quay về với thói quen đã mọc rễ từ ngay trong tiềm thức. Lại vẩn vơ vô thưởng vô phạt cùng những gì mà tiếng dội của thời sự khốc liệt không đập vào tai, không ùa vào mắt. Rồi lại đọc sách.

Sáng nay, đọc tập sách Thơ Lỗ Tấn do Phan Văn Các dịch - NXB Lao Động cùng Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây in năm 2002. Đã từng đọc tạp văn của một người đưa ra cái thuyết “Đả lạc thủy cẩu”, hiểu nôm na là đánh chó đã rơi xuống nước rồi, còn phải phải theo đánh mãi nữa để nó không lội ngược lên bờ mà cắn mình. Tính cách con người ấy, rất quyết liệt. À, bỗng dưng lại nhớ đến một câu văn của Nam Cao. Cũng là chuyện “rơi xuống nước”, cụ Bá Kiến - bậc tiên chỉ đạo cao đức trọng đã từng dạy rằng: “Một người khôn ngoan chỉ bóp đến nửa chừng. Hãy ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi dắt nó lên để nó đền ơn. Hãy đập bàn đập ghế đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi thì lại vất trả lại năm hào “vì thương anh túng quá”! Và cũng phải tùy mặt nữa: những thằng có máu mặt, vợ đẹp, con đàn chính là những thằng dễ bóp; trái lại những thằng tứ cố vô thân, giết chúng thì dễ, nhưng giết được, chỉ còn có xương; mà gây với chúng là mở một dịp tốt để cho các phe nghịch xoay lại mình”.

Ấy là sự ma mãnh, khốn nạn có thể xếp vào thói hư tật xấu bậc nhất của người Việt đấy chăng?

Trở lại với Lỗ Tấn. Nhà văn hóa Phan Khôi cho biết: “Tôi từng đọc một cuôn sách nào đó, thấy dẫn một câu nói của Mao Chủ tịch nói về Lỗ Tấn rằng: “Khổng Tử là thánh nhân của thời đại phong kiến, Lỗ Tấn là thánh nhân của thời đại vô sản”. Thật chẳng quá đáng chút nào hết như có người tưởng. Khổng Tử là người tạo lập cái nề nếp tư tưởng đạo đức cho xã hội phong kiến là thánh nhân, thì Lỗ Tấn, người phá đổ cái nề nếp ấy đi mà tạo lập cái nề nếp tư tưởng, đạo đức khác cho xã hội vô sản, sao lại không là thánh nhân?”. Đoạn văn này trích trong bài Lỗ Tấn, một đại văn hào Trung Quốc và thế giới, in báo Nhân dân, số ra ngày chủ nhật 28.8.1955 tại Hà Nội. Sau này, khi thực hiện tuyển tập Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn (NXB Hội Nhà văn - 2007), Lại Nguyên Ân có chọn in lại.

Trong lời Tựa việt cho tập Thơ Lỗ Tấn do Phan Văn Các dịch, Lý Gia Trung - Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam cũng cho biết: “Chủ tịch Mao Trạch Đông rất thích thú thưởng thức thơ Lỗ Tấn và đã từng tự tay chép thơ Lỗ Tấn thành tác phẩm nghệ thuật thư pháp tặng bạn bè quốc tế” (tr.11).

Thơ Lỗ Tấn thế nào? Lật hú họa một trang ngẫu nhiên xem sao. Ấy là trang 192, in bài Công dân khoa ca, Phan Văn Các dịch Bài ca khoa Công dân và cho biết: Bài thơ này Lỗ Tấn cho in năm 1931; bấy giờ tên quân phiệt phản động Quốc dân đảng Hà Kiện là Chủ tịch chính phủ tỉnh Hà Nam, chủ trương thiết lập “Công dân khoa” (môn Công dân) trong nhà trường để thực thi giáo dục nô dịch” (tr.194).

Hãy đọc: “Tướng Hà Kiệm cầm dao làm giáo dục/ Rằng trong trường nên đặt những môn gì/ Trước tiên “Khoa công dân” không biết dạy điều chi/ Tôi viết sách giáo khoa cho, xin các ông đừng nóng nảy/ Làm công dân quả tình đâu có dễ/ Xin mọi người hãy chớ “lơ-tơ-mơ”/ Điều đầu tiên là chịu đựng, hiểu chưa?/ Làm như trâu và ngu như lợn:/ Sống thì nai lưng chém to vác nặng/ Giết mổ rồi thì thịt để ăn/ Dẫu chết toi chết dịch bởi ôn thần/ Cũng còn rán được lên mà lấy mỡ/ Điều thứ hai cần nhớ:/ Là phải biết cúi đầu/ Trước lạy ông lớn Hà, sau lại ông Khổng Khâu/ Lạy không dẻo sẽ đem đầu ra chém/ Mà cấm được van xin khi trảm/ Hễ van xin là phản động chứ sao/ Đại nhân có con dao, còn ngươi có cái đầu/ Ai nấy phải lo tròn thiên chức/ Điều thứ ba: cấm ngặt/ Không được nói tình yêu/ Tự do kêt hôn là… cái con tiều/ Hãy ngoan ngoãn là dì Mười hay dì Hai chục/ Nếu cha mẹ cần tiền thì bán phứt/ Lấy dăm trăm hay lấy vài nghìn/ Vừa giữ thuần phong vừa kiếm được tiền/ Có cách nào còn tốt hơn thế nữa/ Điều thứ tư nên nhớ:/ Là phải viết vâng lời/ Đại nhân là ông Trời/ Bảo sao thì làm vậy/ Nghĩa vụ công dân còn nhiều nữa đấy/ Nhưng chỉ riêng đại nhân hiểu lấy… thôi mà/ Chỉ xin các ông chớ khư khư ôm sách giáo khoa/ Kẻo đại nhân ngộ không vui lại bảo “a - la” là phản động”.

Phan Văn Các còn chú thích: “A - la” (A lạp) là phương ngôn Ninh Ba nghĩa là “tôi”, tớ”; ông lớn Hà” tức Hà Kiện; Khổng Khâu tức Khổng Tử”. Y không rõ câu “Hãy ngoan ngoãn là dì Mười hay dì Hai chục” tức ám chỉ những ai và như  thế nào? Với Bài ca khoa Công dân của Lỗ Tấn, cũng như mọi lần, hễ đọc được bài thơ hay, lại reo lên: “À, thì ra thế. Y ồ lên một cách sung sướng”?

Có mà điên.

Bần thần hết cả người.

Chuyện xưa tích cũ thôi ư?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.9.2017

 

ACho-gia-an-chi-1R

 

À, thì ra thế. Y ồ lên một cách sung sướng.

Trước kia, y chỉ cảm về câu thơ hay nhất trong Tình già - mở đầu cho phong trào Thơ mới, Phan Khôi viết: “Liếc đưa nhau đi rồi! Con mắt còn có đuôi!”, nay, đã hiểu thêm rồi. Đọc là học. Tác giả viết những quyển sách ấy, xét theo một nghĩa nào đó, chính là thầy. Y vẫn luôn tâm niệm rạch ròi như vậy. Lần đầu tiên ấn tượng chạy dọc theo sống lưng, nay còn nhớ mãi là lúc đọc An Chi bàn về từ “mày ngài” trong câu thơ tả Từ Hải. Sau khi dẫn thêm câu thơ từ Truyện Trinh Thử: “To đầu vú, cả dái tai/ Dày nơi ngư vĩ, cao nơi ngọa tàm”, ông viết: “Nếu đối dịch từng tiếng một thì ngư vĩ sẽ là “đuôi cá”. Nhưng đây cũng là một lối nói của tướng thuật mà Từ nguyên giảng như sau: “Nhà tướng thuật gọi nếp nhăn ở khóe mắt là ngư vĩ”. Vậy, “Con mắt có đuôi” trong thơ Phan Khôi, đích thị là “đuôi cá” đấy.

Có những quyển sách, lúc đặt trên kệ, không nên xa tầm tay. Bởi cần đọc để tra cứu nhiều lần. Lúc cần có ngay. Khỏi mất công tìm kiếm. Sách của nhà nghiên cứu An Chi, y xếp vào hạng sách ấy. Mà An Chi là ai? Hãy nghe ông Tự vịnh (2017): “Tám mươi hai tuổi vẫn chưa già/ Nhờ mê đọc sách với chơi hoa/ Ưu thời mẫn thế lòng day dứt/ Ái quốc lân quần dạ xót xa/ Vùi trong ngôn ngữ quên ngày tháng/ Bơi giữa trần ai nhớ mẹ cha/ Mặc phường nuôi lợn xây sơn thự/ Ta thà đọc sách với chơi hoa”. Xin lưu ý, hoa đây chỉ hoa, chứ không phải hoa đã xuất hiện trong một câu thơ Kiều từng gây tranh cãi.

Nhắc lại một chút để thấy, ở tập sách mới nhất của ông: Chữ nghĩa Truyện Kiều (NXB Tổng Hợp TP.HCM) cực kỳ đáng đọc. Lâu nay đã có nhiều văn bản Kiều và nhiều học giả đã giải thích, chú giải thế nhưng với An Chi, qua cách lý giải thấu đáo, uyên bác, ông đã “lật ngược vấn đề” một cách ngoạn mục và rất bất ngờ. Ông đã có cái nhìn khác các học giả tiền bối tầm cỡ như các cụ Hoàng Xuân Hãn, Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ…; các ông Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Huệ Chi, Vũ Văn Kính… mà khó ai bắt bẽ.

Khi đọc cây thơ “Nhờ mê đọc sách với chơi hoa”, y tủm tỉm cười khi nhớ ông luận về câu thơ lúc Thúc Sinh trố mắt nhìn Kiều: “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà”. Lúc ấy, ngăn cách tầm nhìn còn có: “Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa”. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều chọn “tẩm hoa”. An Chi lại khác. Ông chọn “tắm hoa” và lập luận: “Đây là Thúy Kiều tắm. Tắm hoa - hoa là ẩn dụ để chỉ Kiều - chứ không phải “tẩm hoa” như nhiều bản đã phiên. Đây đâu là phải chuyện “bức trướng hồng tẩm hoa”. Đây là Thúy Kiều tắm. Có tí ti sexy đấy! Nếu chẳng phải như thế thì làm sao có được bức họa khỏa thân: “Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”. Nghe ra chí lý thay.

Lại thêm một thí dụ khác.“Tư gia nghỉ cũng thường thường bậc trung”. Cứ như các học giả lừng danh xưa nay, đều cho rằng, thi hào Nguyễn Du sử dụng từ “nghỉ” theo thổ ngữ của người Hà Tĩnh, nhằm chỉ đại từ nhân xưng ngôi thứ 3, có ý rẻ rúng, xem thường. An Chi lại không nghĩ thế. Ông đi ngược thời gian, đi tìm văn bản xưa cũ để chứng minh rằng, “nghỉ”, vốn từ cổ và thuộc ngôn ngữ toàn dân. Chứng cứ, ông đưa ra: “Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (Roma, 1651) lấy tiếng Đàng Ngoài làm nền tảng đã ghi nhận nói: “Nghỉ: Người ấy, kiểu nói rất lịch sự”. Chưa hết, ông còn cho biết trong Thiên Nam ngữ lục, nó đã được dùng đến 25 lần. Phải chịu là An Chi tinh tế, có “con mắt xanh” dành cho kiệt tác Truyện Kiều.

Dăm ba thí dụ này cho thấy rằng, một khi đã khảo sát từ, tranh luận về học thuật, An Chi luôn cẩn trọng và chu đáo. Chính vì lẽ đó, một khi đã đưa ra kết luận thì người đối thoại phải “tâm phục khẩu phục”, nếu vẫn “cãi chày cãi cối”, ông lại tiếp tục tranh luận tới cùng. Ông thuộc một mẫu người luôn tâm niệm: “Người ta chỉ nên tranh luận với nhau một cách thẳng thắn, thậm chí có khi gay gắt nữa, để tiếp cận với chân lý, chứ người làm học thuật chân chính ai lại chờ chực cơ hội để hạ bệ người khác bao giờ”.  

Mà sự truy về gốc của ngữ nghĩa, chữ/từ ở An Chi là cả một sự cẩn trọng, chỉn chu. Trong bộ sách Rong chơi miền chữ nghĩa, 3 tập (NXB Tổng Hợp TP.HCM), khi ông bàn về chợ búa, heo cúi, con nghêu, con ngao, hát nghêu ngao,  hổ lốn, xào bần, tả pín lù, mèo hóa cáo, gà hóa cuốc, lai lịch ông Ba Bị, hóc, hóc búa v.v., ta phải thừa nhận rằng, cái sự đọc và tra cứu của ông rất khiếp. Tầm uyên bác ấy, khi đọc, ta vỡ lẽ ra nhiều chuyện mà trước đây chưa hiểu rõ hoặc đã hiểu không đúng.

Không chỉ có thế, nếu chỉ thuần từ ngữ, chữ nghĩa nặng nề về chuyên môn thì bạn đọc trình độ “thường thường bậc trung” (như y đây) làm sao có thể tiếp thu? Thế thì, điều đáng quý ở An Chi, theo y còn ở chỗ trực giác của một người say mê, nặng tình với tiếng mẹ đẻ mà có. Muốn được như thế, người viết còn phải am hiểu cả về dân tộc tính, phong tục, tập quán, v. v., của người Việt nữa, nếu không ắt ông không thể truy nguyên, tìm về những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ bị phổ biến qua những dị bản khó hiểu, thậm chí vô nghĩa. Chẳng hạn, lâu nay, ai cũng nhớ rành rành: “Một mai thiếp có xa chàng/ Ðôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin”. Liệu chừng có đúng với văn bản ca dao từ ngàn xưa ông bà mình đã để lại? Phải là “Ðôi bông thiếp trả, con chàng thiếp xin”.

Sau khi phân tích về “tam cương”, “tam tòng” của lễ giáo phong kiến, An Chi lập luận: “Người phụ nữ bị cái cương thứ ba và ba cái tòng trói chặt và nói chung thì họ cam phận vì có như vậy thì mới chính chuyên. Mình mang nặng đẻ đau nhưng trên danh nghĩa thì con là con của chồng. Vì vậy nên nàng mới xin. Chi tiết này khiến ta cảm động vì tình mẫu tử thiêng liêng. Mà đứa con thực ra cũng còn là một phần hình ảnh - và cả huyết thống – của người chồng cho nên, với con mình, nàng vẫn còn được gần chàng về mặt tinh thần. Hai câu ca dao đậm màu sắc trữ tình này mang tính nhân văn sâu sắc. Đem hai cái vòng vàng vào mà truất chỗ của đứa con, người ta đã làm cho câu ca dao trở nên thô thiển và biến người thiếu phụ đáng thương, đáng mến thành một mụ đàn bà tham lam”.

Ấy cũng là một trong những cái thú đọc sách khảo cứu, biên khảo của An Chi. Y vẫn còn thích, thích nhất ở sự thẳng thắn, rạch ròi, minh bạch của ông. Phẩm chất ấy rất đáng quý, cần tôn trọng trong mọi cuộc tranh luận, có như thế mới thúc đẩy sự tiến bộ của học thuật. Mẫu người ấy, ngày càng hiếm, bởi sự uốn éo, nói vuốt đuôi, nói ngoài học thuật ngày càng phổ biến.

Có lần, ông bảo: “Tôi luôn chủ trương phải tra cứu đến đầu đến đũa để điểm được đúng đích. Mà khi tự mình thấy đã đạt được đến điểm đích rồi thì An Chi không “ngại lời” trước bất cứ tên tuổi lớn nào”. Do cách nói thẳng thừng ấy, “thẳng mực tàu đau lòng gỗ” nên không ít nguời đâm ra oán, ghét. Một trong những chiêu trò, họ nêu ra, vin làm cái cớ phản bác là An Chi không có học hàm, học vị sáng giá thì sao lại dám đụng đến những “cây đa cây đề”? Họ cố tình quên rằng, không dưới một lần khi bàn về Câu chữ Truyện Kiều, lúc tranh luận với học giả Đào Duy Anh, An Chi cho biết dẫu bàn một chữ, kể cả “bàn về nhiều chữ của ông cũng không mảy may làm lu mờ được tên tuổi của ông trong tòa lâu đài đó. Tuy nhiên đấy chỉ mới là nói đi. Còn nói lại, thì dù Đào Duy Anh có là nhà văn hóa lớn đến mấy, ông cũng không phải là một thần tượng bất khả xâm phạm”.

Thiết tưởng, các học giả chân chính bao giờ cũng đồng tình với tâm niệm này. Hơn nữa, một khi tranh luận học thuật mà người đó đã khuất, nếu An Chi viết sai thì liệu có yên với dư luận? Nói như thế, để thấy rằng sự tranh luận về chữ nghĩa bao giờ cũng cần thiết, bởi người đọc đương thời được tiếp nhận với thông tin chính xác do An Chi đã dày công cải chính. Và lúc tranh luận với người còn sống sờ sờ ra đó, đã là học giả thứ thiệt, chẳng một ai vì đuối lý mà đâm ra “không nhìn mặt nhau”.

Lúc đọc quyển Những tiếng trống qua các nhà sấm (NXB Tổng Hợp TP.HCM), y thích thú biết thêm chi tiết sau những tranh luận về đôi từ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan: quốc quốc/cuốc cuốc/ nước nước; da da/ đa đa /gia gia?, “nhà Kiều học” Nguyễn Quảng Tuân nhắn nhủ: “Lẽ nào vì chữ “gia gia”/ Mà ông quên cả bạn già tình xưa”. An Chi trả lời: “Không đâu, tôi không hề quên đâu, bác Tuân. Tôi chỉ thẳng thắn trong học thuật mà thôi. Nếu gặp bác, tôi vẫn tay bắt mặt mừng như xưa. Tôi vẫn chờ bác điện thoại đến hỏi vợ tôi: “Sao, ông ấy đang làm gì đấy? Ông ấy đã dậy chưa?”. Tôi vẫn chờ điện thoại của bác đấy”. Chi tiết thân mật này khiến tôi nhớ đến một lớp học giả thời trước, lúc các cụ, các ông Trần Trọng Kim - Phan Khôi, Hồ Hữu Tường - Nguyễn Văn Xuân đã tranh luận về Nho học, về nghệ thuật đánh trống thúc quân; rồi lại nhớ đến Những bức thư đầm ấm trao đổi giữa các ông Quách Tấn - Nguyễn Hiến Lê…

Mà An Chi cũng “không phải dạng vừa đâu”, nếu tranh luận với những ai cố tình dùng ngôn từ thô tục, mạt sát, biếm nhẽ một cách chợ búa thì ông chẳng ngần ngại gì mà không trả lời thích đáng. Rằng, có người vì đuối lý mà vu lên, đại khái sự giải thích của An Chi “kết quả của cách suy luận vỉa hè và óc tưởng tượng phong phú”, ông lại tiếp tục tranh luận rồi “chốt hạ”: “Ai vỉa hè, ai chính thống, trong trần ai ai dễ biết ai”; hoặc: “Điều này chẳng gì lạ, vì từ cổ làm sao dễ hiểu cho được, nhất là khi nó được bàn dưới góc độ của từ nguyên học! Huống chi, nếu có muốn hiểu thì cũng phải thông minh một chút”. Cách nói “toạc móng heo” ấy xác đáng lắm, bởi vì rằng không ít người núp dưới một cái tên khác, không dám lộ mặt; hoặc chỉ là cha căng chú kiết vẩn vơ nào đó lại quyết cãi trối chết với An Chi hòng mong “ăn theo” sự nổi tiếng của ông.

So với nhiều người, An Chi xuất hiện muộn, lúc ngoài ngũ thập, đến năm 1990 ông mới bắt đầu viết và cộng tác với Kiến thức ngày nay, rồi “đứng tên” chuyên mục Chuyện Đông chuyện Tây của tạp chí từ gần cuối năm 1992 cho đến 2008. Và lập tức, đã nhận được sự ái mộ. Nay với bộ sách cùng tên, ông đã xuất bản 6 tập cả hàng ngàn trang in. Bấy giờ, bậc học giả Cao Xuân Hạo đã tuyên dương: “Nhiều bài giải đáp của An Chi làm cho người đọc thấy hé mở ra những luận điểm khoa học quan trọng và thú vị”; “Thêm vào đó là lời văn trong sáng, đĩnh đạc, nhiều khi dí dỏm một cách nhã nhặn và tuệ minh, làm cho việc đọc anh trở thành một lạc thú thanh tao”.

Đến nay, có thể quả quyết, sự xuất hiện của An Chi trên trường văn trận bút vẫn còn khiến nhiều người kinh ngạc, khó có thể “giải mã” về kiến văn của ông. Không hề giấu giếm, An Chi từng cho biết, từ thuở nhỏ, ông được học tiếng Pháp, sau đó lúc vào trường Tây Chasseloup-Laubat (nay là địa điểm của trường PTTH Lê Quý Đôn), ngoài tiếng Anh là sinh ngữ bắt buộc, ông còn chọn thêm tiếng Tây Ban Nha là sinh ngữ thứ hai. Trước đó nữa, thời Nam bộ kháng chiến (9-1945), từ quê nhà ở xã Binh Hòa, Gia Định (nay thuộc TP. HCM), ông được gia đình cho ra Chợ Lớn học ở trường Tàu Tam Dân học hiệu, với tên Tàu là Han Ri Chou. Rồi ông vào học Lycée Franco-Chinois vừa học tiếng Tàu, vừa học tiếng Tây. Nhưng đáng nể nhất ở An Chi vẫn chính là tinh thần tự học mà ông khiêm tốn “học thêm theo kiểu du kích”, và bộc bạch: “Còn những thứ khác như La Tinh, Hy Lạp, Sanskrit, v.v… không từng đươc học “chính quy” trong nhà trường, thì hiển nhiên cũng chỉ là do tự học nên trình độ chắc chắc cũng chỉ ở mức… đựng trong một cái lá tre mà thôi”.

Vậy, “giải mã” An Chi thế nào đây? Có phải “Nhờ mê đọc sách với chơi hoa” hay cơ duyên nào khác? Y nghĩ rằng, trong cuộc giao lưu tại Đường sách do NXB Tổng Hợp TP.HCM tổ chức vào ngày 14.10.2017 tới đây, nhân một loạt sách mới của An Chi vừa xuất bản, bạn đọc sẽ được nghe ông trả lời câu hỏi thú vị này.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.9.2017

 

1438658077-anh-14hoa-dine-diunjejpg

 

Đi nhậu lai rai cũng là một cách tìm kiếm, ghi chép thêm một vài chữ. Chữ đã cũ. Chưa từng nghe. Thiên hạ đã nói nát nước rồi. Nhưng, với y lại mới. Chiều qua, ngoài trời loáng thoáng mưa. Trên đường đi, như thói quen mọi lần, vẫn là lẫm nhẫm một hai câu thơ bất chợt ùa đến trong đầu. Rồi khi đến quán, ngồi xuống bàn, lấy bút ghi lại là xong. “Từ Đà Nẵng đến Sài Gòn/ Tặng bạn quyển sách vẫn còn thư hương/ Giọt bia nhòe nhoẹt chiều sương/ Học theo lá nõn ven đường an nhiên”. Thế thôi. Đến mùa lá nõn. Cuối mùa lá rụng. Chớ lăn tăn gì. Cưỡng cầu mà chi.

Ngay lúc nhà hàng dọn ta món có bông điên điển ăn kèm, anh Biền nói rằng, ở Nam bộ có câu thành ngữ: “Rể điên điển”. Chẳng rõ câu này ngụ ý là gì?

Thời sinh viên năm thứ 2,  y đã đi thực tế ở An Giang. Đi ghi chép văn học dân gian. Đã thấy hoa điên điển vàng rực trên dòng kênh. Sáng sớm ngồi xuồng theo anh chủ nhà đi hái bông điên điển. Và tất nhiên, làm sao không có thơ được chứ? Tình yêu đôi lứa trong bài thơ Chèo xuồng trên kênh Sình Hù in ở tập Trong cõi chiêm bao (1989), chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng: “Dòng kênh lấp lánh tiếng cười/ Níu xuồng nghiêng phía chỗ ngồi của em/ Tôi đâu dám nói gì thêm/ Hương vú sữa rót lênh đênh dịu dàng/ Nói gì tôi cũng xin khoan/ Vầng trăng còn khuyết. Vội vàng làm sao?/ Ỡm ờ em ngó trời cao/ Tôi nhìn xuống nước xôn xao cớ gì?/ Chiếc xuồng chậm rãi trôi đi/ Còn tôi hóa đá ngồi lì tỉnh bơ/ Dối lòng nên lại ngó lơ/ Vàng hoa điên điển vật vờ trôi theo”.

Hái hoa điên điển đem về xào dầu, mỡ ăn rất ngon. Thời bao cấp xa xăm ấy, được thế, đã là ngon. Rất ngon. Còn nhớ mãi đến giờ.

Mà “Rể điên điển” là gì vậy? Lưu ý, ở đây “rể” dấu hỏi, là con rể, làm rể, “Ăn trầu không có rễ như rể nằm nhà ngoài”, “Dâu dâu, rể rể cũng kể là con”…; chứ không phải “rể” ngã qua dấu ngã để thành cái “rễ” -  một bộ phận của cây, đâm sâu xuống đất/ bùn để hút dinh dưỡng nuôi cây. Theo anh Biền, đặc điểm của rễ cây điên điển là nó theo con nước. Nước cạn nó chỉ dài chừng ấy; nước sâu thì nó lại dài theo. Nói cách khác, tùy thời, tùy lúc mà rễ cây điên điển có sự thể hiện khác nhau, chứ không phải trước sau như một.

Với người miền Nam, cây điên điển rất quen thuộc, do đó, họ mượn sự đồng âm của rể/rễ để có thành ngữ “Rể điên điển” - ngụ ý chê trách con rể ở ăn không ra gì với gia đình vợ, khi “năm nắng năm mưa”, lúc cà trật cà duột, lúc thế này khi thế khác. Thậm chí ngay cả lúc bên nhà vợ đang tang gia bối rối: “Hỏi nào chàng rể ở đâu?/ Chàng rể uống rượu đi sau nói xàm”. Thì còn ra cái thể thống gì nữa? Loại rể ấy, làm sao có thể thốt được câu khiến ba má/ tía má vợ nghe mát cả ruột: “Thắp nhang cho sáng bàn thờ/ Kẻo cha mẹ quở không nhờ rể con”.

Có những câu thành ngữ, rõ ràng không xuất hiện từ rễ/rễ cây nhưng khi đi sâu vào tìm hiểu thì lại thấy. Thế mới là sự lắc léo của tiếng Việt. Chẳng hạn, đã từng nghe “Lục lăng củ trối”. Xin hỏi, củ trối là củ gì vậy? Đại từ điển tiếng Việt (1999) hoàn toàn không có từ củ trối. May quá, Đại Nam quấc âm tự vị cho biết củ trối đích thị là... cái rể. Kỳ quái chửa? “Rễ cái lớn ở dưới sâu. Nguyên củ cái lâu năm nằm ở sâu khó bấng khó đào. “Bấng cho được củ trối” thì là lấy cho hết gốc, làm cho hết cái khó”. Nhân đây nói tạt qua một chút, “bấng” tức “bứng” theo cách nói của người  Nam thuở xưa. Thỉnh thoảng đọc ca dao lại thấy sự biến âm tương tự: “Canh tư cất tiếng thề nguyền/ Khứ lai miêng bạch cho tuyền thủy chung”; “Phụ phàng chi mấy phụ phàng/ Keo sơn bậu đành dứt, ngỡi vàng bậu đành vong” v.v… Rõ ràng là miêng/ minh; ngỡi/ nghĩa...

Tại sao “lục lăng” lại kết model với “củ trối” để trở thành một câu cửa miệng của người miền Nam? Trước hết phải hiểu “lục lăng” là cái quái gì trước đã. Cũng theo Đại Nam quấc âm tự vị: “Cây tròn mà có khía; cây bền chắc; đứa ngang tàng không biết phép”. Cả hai loại ấy đều thuộc hạng gan lì, lì đòn, lì lợm như ta đã biết, do đó lúc kết hợp là nó dùng để chỉ hạng người cứng đầu cứng cổ, to gan lớn mật, ngang tàng, khó dạy bảo, sai biểu, ương bướng thầy chạy, hết thuốc chữa.

Mà có thật đó là câu nói của người Nam bộ?

Lý lẽ của học giả An Chi là từ câu "Lục lâm thảo khấu" và ông cho rằng: “Lục lăng là do nói trại từ Lục Lâm mà ra. Hai tiếng Lục Lâm vốn là tên một ngọn núi ở phía Đông Bắc huyện Đương Dương, miền Kinh Châu, nằm trong dãy núi Đại Hồng, tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc) ngày nay. Núi này nguyên là nơi tụ tập của những người nổi dậy chống lại chính quyền Vương Mãng vào cuối đời Tây Hán. Sử Trung Quốc ngày nay gọi đó là cuộc khởi nghĩa Lục Lâm, những nhà nước phong kiến Trung Hoa ngày xưa thì coi đó là giặc cho nên đã dùng hai tiếng lục lâm để chỉ những người chống chính quyền hoặc những tên bạo tặc cướp phá tài sản của dân lành. Nghĩa này đã được Mathews’ Chinese-English Dictionary ghi nhận là: “a bandit” (tên ăn cướp). Trong phương ngữ Nam Bộ, do không biết rõ xuất xứ nên nhiều người đã nói trại hai tiếng lục lâm thành lục lăng và hiểu là “đứa ngang tàng không biết phép” như đã dẫn ở bên trên” (Chuyện Đông chuyện Tây, NXB Trẻ - 2005, tr. 81).

Còn có câu thành ngữ nào cũng ra đời tương tự?

Chắc là có. Trước mắt, nêu lấy câu Cán ống nhựt dạ, Đại Nam quấc âm tự vị giải thích: “Giấy việc quan phải đệ đi gấp, chẳng kì ngày đêm”. Thành ngữ này dần dần nói trại thành: “Cắn ống giựt nhợ” và còn tồn tại đến nay - nhằm chỉ phải hành động, thực hiện ngay việc gì do một cách nhanh chóng, gấp rút, không thể chần chừ. Rõ ràng, “nhựt dạ/nhật dạ” âm Hán Việt (chỉ ngày đêm) đã biến hóa thành “giựt nhợ/giật nhợ” một cách nôm na, ngon lành, dễ hiểu. Chỉ nghe thoáng qua đã dễ dàng liên tưởng tới một việc bức bách, phải làm ngay: “Ai về nhắn với ông câu/ Cá ăn thì giựt để lâu hết mồi”. Nhợ là dây đánh bằng sợi, xe bằng chỉ như nhợ câu dùng để câu cá.

Một khi nghe tới từ nhợ, lâp tức ta liên tưởng đến dây nhợ lằng nhằng, vướng víu, “Dây mơ rễ má”, chằng chịt đan xen, quấn chặt, níu vào nhau, khó tháo gỡ. Tỷ như hai người bạn thân thiết, đến lúc không còn hợp tánh hợp nết, họ chia tay nhau, ấy là lẽ thường tình. Nhưng rồi có trường hợp không dễ dàng đâu, nếu người A nợ người B; hoặc ngược lại mà không chịu trả nợ. Thế mới phiền. Thành ngữ miền Nam có câu: “Nợ đóng cúc” là nợ dai không chịu trả, có đòi, có réo cũng chỉ nghe hứa với hẹn, hứa hẹn dai như giẻ rách, như “Con ma nhà họ Hứa”. Thế không lằng nhằng là gì?

Có phải cúc là nút? “Áo đơm năm nút viền tà/ Ai đơm cho bậu hay là bậu đơm? ”Đóng cúc” trong ngữ cảnh nợ nần kia, lại là do “đinh cúc” nói gọn, ông Huình Tịnh Paulus Của cho biết: “Đóng cúc: Đóng thứ đinh có búp trên đầu, nghĩa mượn là dai hoi. Mượn vật chi không muốn trả thì kêu là đóng cúc”. Nay, từ đóng cúc đã mất. Nếu cần, chỉ mắng quỵt/quỵt nợ (thường chỉ về tiền bạc). Câu trên, ông Paulus Của viết từ những năm 1895, nay có từ cũng đã “Mất hút con mẹ hàng lươn”: Dai hoi - tức là “Bộ bền bĩ, bộ dùi thẳng; để lâu lắc”.

Như đã biết, dây nhợ phải cùng một loại dây, chứ không thể thứ nọ xọ thứ kia, nửa nạc nửa mỡ, vì thế, ở miền Nam mới có tiếng lóng: “Dây thép lạc dừa” là tin đồn, tin truyền miệng, nói như ngôn từ thời buổi này là tin thông tấn vĩa hè. Mà loại tin ấy, nếu thất thiệt, nói dóc, không có chứng cứ rõ ràng ắt bị xếp vào hạng tin vịt. Vì sao gọi tin vịt? Ối dào, trả lời câu này, mỗi người giải thích mỗi phách, chẳng hạn, từ điểnVi.wikipedia cho rằng: “Thuật ngữ "tin vịt" được nhập vào báo giới chữ Quốc ngữ Việt Nam theo các báo Pháp hồi cuối thế kỷ 19, được dịch từ tiếng Pháp "canard" có nghĩa gốc là con vịt, nghĩa bóng chỉ "tin tức giả mạo", ở mức nhất định là để chỉ "báo chí" với điển hình là tờ Le Canard enchaîné (Vịt bị xích)”.

Có cần phải liên hệ xa xôi đến thế không?

Theo y, vịt ở đây đơn giản chỉ là từ vờ vịt mà Đại từ điển tiếng Việt giải thích: “Làm ra vẻ thế nào đấy để người ta tưởng là thật, cốt để che giấu: Làm bài đi vờ vịt mãi - giả vờ giả vịt”. Ắt có người cãi: “Ơ hay, sao không là con gì khác? Mà cứ phải là vịt?”. Thưa, trong tâm thức người Việt quan niệm: “Nghe như vịt nghe sấm” là nghe chỉ để mà nghe, chẳng hiểu ất giáp gì sất, không nhận thức được gì. Một kẻ như thế dẫu có dạy dỗ cũng chẳng khác gì “Nước đổ đầu vịt”, có bổ đầu ra nhét thông tin vào đầu cũng bù trất. Nói cách khác, với con vịt thì nó hoàn toàn không thu thập được thông tin chính xác nào cả - bởi chỉ nghe "ù ù cạc cạc". Vậy thì một khi nghe thông tin bịa đặt, không có thật, không chính xác thì như một lẽ tự nhiên, người ta xếp ngay vào hạng tin vịt/ tin vờ vịt là vậy.

Thì tạm thời cứ cho là thế.

Rồi chẳng lẽ, cụm từ “Tin xe cán chó” cũng bắt nguồn từ sự vây mượn xa lắc xa lơ như “Tin vịt” nữa à? Không đâu. Thành ngữ có câu: “Chó chết hết chuyện”, mà con chó, trời ạ, với người Việt chẳng mấy lúc được nâng niu, chỉ xếp vào hạng thấp kém, chẳng ra làm sao. Này nhé: Treo đầu dê bán thịt chó, Mèo đàng chó điếm, Lơ láo như chó thấy thóc, Giỡn chó chó liếm mặt, Bẩn như chó, Chó mặc váy lĩnh v.v… và v.v…  Chó còn là tiếng chửi tục tằn. Ông Tú Xương trợt vỏ chuối khoa thi năm Qúy Mão (1903), cáu quá bèn lôi ngay con chó ra mắng: “Tế” đổi làm "Cao" mà chó thế!/ "Kiện" trông ra "Tiệp" hỡi trời ôi!”. Có kẻ thất chí, bất đắc chí, chẳng rõ tài cán bao nhiêu, chữ nghĩa thế nào, khi gặp cảnh ngộ không ưng ý cũng “phán” ngậu xị: “Sự đời như cái lá đa/ Đen như mõm chó, chém cha cái sự đời”!

Thậm chí cô nàng kia, chẳng rõ vì cơn cớ gì mà lúc đêm hôm, anh chồng không chịu nằm chung. Né tránh “giao ban”. Không chịu “trả bài”. Bực quá đi mất. Làm gì đây cho thỏa cơn hả trời? Dễ thôi. Cô nàng: “Nổi giận đùng đùng ném chó xuống ao/ Đến đêm chồng lại lần vào/ Vội vàng vác sọt đi chao chó về”. Nếu anh chồng không chịu “lần vào” ắt có lẽ con chó đáng thương kia đã “xong phim”. Mà trong vụ cà chớn cà cháo, cơm không lành canh không ngọt, con chó nào có liên quan gì mà phải chịu cảnh “Giận cá chém thớt”? Thì ra con chó dễ bị “bắt nạt” quá đi mất.

Tóm lại, thân phận con chó chẳng ra gì cả.

Vậy thì, “Tin xe cán chó” là cái tin không quan trọng. Thừa “đất” thì đăng, bằng không ném sọt rác vẫn chẳng sao cả, chẳng mảy may ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới. 

Nói đi cũng phải nói lại. Dù xem con chó chẳng ra gì nhưng rồi lúc nó ngủm củ tỏi, con người ta phải nịnh/ lấy lòng nò đấy. Bằng chứng thành ngữ có câu: “Tiền cột cổ chó”. Đại Nam quấc âm tự vị giải thích; “Của bỏ, của bố thí. Ngu tục hiểu con chó chết rồi, hồn nó giữ cầu âm giái/ giới, cho nên phải cột tiền hối lộ mà tống táng, họa ngày sau nó đã không cắn mà lại đưa mình qua cầu âm ti”. Đành rằng, đây là “ngu tục” nhưng ngẫm lại vẫn là lòng nhân của con người dành cho con vật trung thành, sống có ích. Phải chăng, ông bà ta đặt ra tục ấy nhằm hạn chế đi sự sát sinh, giết chó ăn thịt chăng? Ước gì, “ngu tục” ấy trở lại trong thời buổi này, vì rằng đã không ít kẻ vì trộm chó mà chết thảm thương, phải trả giá sinh mạng ngang bằng con chó. Vào Google gõ từ khóa: “Chết vì trộm chó” lập tức có ngay kết quả: “Khoảng 308.000 kết quả (0,50 giây)”. 

Còn gì kinh khiếp hơn?


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 7.9.2017

cao-xuan-son-tet-dinh-dau

NHÀ THƠ CAO XUÂN SƠN

 

Chiều đã sẫm tối. Ngoài trời đang mưa tầm tả. Viết một câu lên facebook than rằng: “Đang buồn”. Ngay lập tức cái “cùi bắp” rèng réng reng như tiếng kèn xung trận giục giã: “Vậy, tìm một chỗ ngồi ngắm mưa đi Q ơi”. Nhìn ra ngoài trời mù mịt mưa bay, chập chờn những gió,  sấm sét đùng đùng, thử hỏi làm sao không cảm động?

Sống ở đời dễ hay khó? Chẳng rõ nữa. Nhưng lúc đơn độc trong bốn bức tường vây quanh là sách, mùi thời gian ẩm mốc từng ngày, lúc ấy, vâng, chỉ trong tích tắc lại có người chia sẻ, thử hỏi cuộc đời dễ chịu quá đi chứ? Rồi lại những cuộc ngồi ở lề đường, dưới tàn cây xanh, một chút men, một chút mưa nhập nhoàng trong đáy cốc. Và câu chuyện lại mở với những chữ nghĩa, văn chương, những câu thơ đọc cho nhau nghe. Lòng thêm vui một chút.

Với y, đã có những ngày như thế với bạn thơ Cao Xuân Sơn.

Đôi lúc lẩn thẩn tự hỏi, đã quen nhau từ lúc nào? Khó có thể trả lời chính xác. Chỉ nhớ rằng, ngày nọ lúc cà kê dê ngỗng tâm tình, Sơn bảo: “Nhiều người ít quan tâm đến văn học thiếu nhi, cứ tưởng mãi sau này mình mới viết cho tụi nhỏ. Kỳ thực, văn học thiếu nhi với mình như một định mệnh”. Nghe lạ tai quá! Thì đây: "Bài thơ đầu tiên mình in khi chuyển trường từ Hà Nội vào Sài Gòn là trên Trang thiếu nhi thứ năm hằng tuần của báo Sài Gòn Giải phóng năm 1981. Cuốn sách đầu tay Con chim xanh ngoài ô cửa xuất bản năm 1987 là tập truyện ngắn viết cho thiếu nhi, in tới ba chục ngàn bản.

Thêm một kỷ niệm đáng nhớ: truyện ngắn Bức tranh Tết của chú bé họa sĩ in nửa trang báo Xuân Phụ Nữ TP.HCM năm 1982 cũng là một truyện thiếu nhi, được trả tới 500 đồng. Cũng năm đó, bài thơ Mùa phấn hoa bay in trên báo Xuân Công nhân giải phóng, tiền thân báo Người lao động - cũng được nhuận bút những 500 đồng. Trong khi học bổng hàng tháng của nam sinh viên 22 đồng. Mình thật sự kinh ngạc. Số tiền đó thừa sức mua vài chiếc... xe đạp”.

Rời ghế giảng đường ngành ngữ văn Sư phạm (khóa 1978-1982), Sơn ghé qua bục giảng trường PTTH Ngô Quyền (Biên Hòa) hai năm, sau bỏ sang Hội Văn nghệ theo hẳn nghiệp viết lách. Bảy năm sau (1991), một biến cố bất ngờ buộc Sơn bỏ xứ Đồng Nai về hẳn Sài Gòn làm báo, tiếp tục công việc "góp gió thành báo, góp báo thành sách" nuôi cậu con trai hai tuổi mồ côi mẹ.

Trong khoảng trên dưới một thập niên sau đó, dường như Sơn đã kịp hoàn chỉnh những nét chân dung của mình trong mắt bạn bè với 5 tập thơ riêng: Tự tình (1989), Đêm giã biệt (1990), Cánh cửa khép hờ (1994), Chuông lá (1999), Phố và em (2002) và 5 tập truyện, thơ khác cho thiếu nhi. Như có sự xếp đặt của duyên phận, tháng 4.2001, Sơn bỏ tạp chí Thanh Niên, về NXB Kim Đồng (Chi nhánh TPHCM) theo lời mời của một người làm sách rất đáng kính trọng là nhà giáo dục Nguyễn Thắng Vu. Sơn về với thế giới tuổi thơ, với những trang sách ngộ nghĩnh, vui nhộn, hồn nhiên, trong sáng mà Sơn là một trong những người đã góp phần như Mèo khóc chuột cười (2006), Con chuồn chuồn đẹp nhất (2010), Hỏi lá hỏi hoa (2016)…

Dấu ấn đậm nét với giới làm sách Sài Gòn là từ ngày Sơn về, NXB Kim Đồng có thêm một Ban biên tập tại Chi nhánh TPHCM, hàng năm tổ chức hàng trăm đầu sách mới thiếu nhi. Sơn chính là người được giám đốc Nguyễn Thắng Vu giao nhiệm vụ tạo dựng Tủ sách Tuổi mới lớn với mục tiêu "giãn biên": mở rộng biên độ lứa tuổi của sách Kim Đồng, bao gồm luôn tuổi mới lớn từ 15 đến 18 với phương châm: khách quan, công bằng, chấp nhận mọi xu hướng sáng tác. Từ tủ sách đó, hàng trăm sáng tác đầu tay của các cây bút trẻ và rất trẻ ở mọi miền đất nước được trình làng, được công chúng lần đầu biết đến.

Vậy chẳng phải định mệnh là gì? Ừ, cứ cho là thế.

Tuy nhiên, những người quen biết, đọc thơ Sơn từ hơn ba chục năm nay đều hiểu, mảng sáng tác mà Sơn tâm huyết nhất là thơ, không phải và không riêng thơ cho thiếu nhi. Lặng lẽ, bền bỉ, gần như vắng bóng trong các bàn tiệc lễ lạt, hội hè, Sơn đã sớm tìm được cho mình một giọng thơ riêng với khá nhiều bài thơ được người yêu thơ và bạn bè nhắc nhớ: Tiếng hát xương rồng, Khóc ông nội, Độc ẩm, Nợ, Viết giữa những hồi chuông điện thoại, Tự họa, Chuông lá...

Một trong những bài thơ hay nhất của anh, theo y và nhiều người bình vẫn là Tiễn em trai đi Hàn Quốc. Câu chuyện xuất xứ của bài thơ này kể ra cũng ngang trái lắm. Ngày xa xưa, những năm tháng chiến tranh, cụ thân sinh của Sơn - một nông dân cày cuốc ở làng Vạn Thọ, xã Nhân Bình, huyện Lý Nhân (Hà Nam) đi bộ đội. Ngày trở về, ông mang trên mình nhiều vết thương, trong đó có cả vết thương từ khẩu súng của lính đánh thuê Park Chung Hee. Sau hòa bình, em ruột của Sơn - một bộ đội biên giới - xuất ngũ về, chẳng biết làm gì nuôi vợ con, lại phải tìm đường sang đánh Pắc (kiếm sống) ở xứ Pắc (Park Chung Hee).

Thử hỏi có tréo ngoe không?

Lúc ấy, về thủ tục, giấy tờ chẳng có gì phải bàn thêm, đã đầy đủ nhưng lạ thay, muốn đi được, dù là “hợp tác lao động” nhưng thông lệ “đầu tiên” vẫn rạch ròi, lạnh lùng, sòng phẳng: “Phải 30 triệu việc này mới xong”. Thời điểm đó, số tiền đó, dẫu Sơn có nằm mơ đi nữa cũng không thể biết nó mặt tròn mặt dẹt ra sao. Khó lắm. Đành rằng, “quyền huynh thế phụ” nhưng rồi “tiền đâu?” vẫn là câu hỏi không lời đáp. Mọi việc sẽ dẫm chân tại chỗ nếu không có sự tận tình của một người anh, một người lính cùng thời với với anh Văn Lê giúp đỡ: nhà thơ Vũ Duy Chu. Bấy giờ, anh Chu đang công tác tại Công ty Hợp tác nước ngoài của Bộ Giao thông vận tải, đã đứng ra bảo lãnh.

Đêm chia tay, bịn rịn người đi kẻ ở, hai anh em Cao Xuân Sơn đã bày cuộc nhậu ra trò. Lúc đã ngà ngà say, thấy chú em cứ loay hoay ngắm nghía tấm bản đồ tìm xem xứ Hàn là xứ nào, đột nhiên Sơn đứng bật dậy, quơ bút viết luôn những câu thơ vừa vụt ngang trời. Tưởng như chỉ cần với tay, nhón gót là hái được những sáu, tám du dương đang vang vọng loáng thoáng hơi men: “Đừng săm soi nữa bản đồ/ Dẹp đi cả chuyện múi giờ lệch chênh/ Nước Hàn ở phía… mông mênh/ Dĩ nhiên chẳng phải nước mình, vậy thôi/ Hàn là lạnh đấy, em ơi / Nhưng… đâu chả thế - đất trời người ta/ Ngày mai em như Kinh Kha/ Rắp mong một trận này qua khó nghèo”. Câu thơ tự sự. Thủ thỉ. Tâm tình. Một người anh dành cho em. Xúc động lắm.

Do em là bộ đội đã từng cầm súng đánh quân bành trướng ở phía Bắc, vì thế, câu nối tiếp: “Đã mòn chân suối với đèo/ Mấy năm lính, hẳn ít nhiều gió sương/ Liều thêm, ừ, một đoạn đường/ Con thơ, vợ dại, thương suông ích gì?”. Đọng lại trong trí nhớ người đọc: “Liều thêm, ừ, một đoạn đường”. Nghe ra chua chát. Ừ, "liều thêm” vậy, chẳng còn cách nào khác. Những câu thơ cuối khác gì tiếng thở dài: “Áo cơm nặng lắm, đi đi/ Chiếc ba lô cũ thích thì cứ mang/ Dặn em sức vóc là vàng/ Đừng đem vắt kiệt giá băng xứ người/ Rủi may ai biết hở trời/ Đêm nay… anh rót rượu mời Kinh Kha…”.

Hỡi ôi,  lúc ấy, chàng “Kinh Kha” đã nằm say ngất ngưởng, không còn biết trời trăng mây gió gì sất. Bài thơ Tiễn em đi Hàn Quốc in trên tạp chi Văn nghệ quân đội nhân một cuộc thi thơ. Bấy giờ, quan hệ Việt Nam -Hàn Quốc đã mở ra trang sử mới của tình hữu nghị, vì lẽ đó, lúc chấm giải nghe nói nhiều người chần chừ, đắn đo. Chẳng sao cả, có một điều thú vị hơn nhiều, mãi sau này, khi sang đến “Nước Hàn ở phía… mông mênh”, nghe nhiều ngươi đồng cảnh ngộ chép và đọc bài thơ này, cậu em mới hay anh mình đã tặng riêng cho một bài thơ đầy ám ảnh.

Với tôi, một khi chơi với bạn, luôn nghĩ rằng, chiến hữu ấy là người có tài. “Trời đất cho ta một cái tài/ Giắt lưng dành để tháng ngày chơi” (Nguyễn Công Trứ). Này, xin hỏi, bạn bè văn nghệ của y có tài gì? Câu hỏi ấy hóa ra rất thừa, bởi lẽ, dưới gầm trời này, trông ra sáu cõi hỗn mang của trời đất, ai lại không biết Cao Xuân Sơn vốn là tay thơ thứ thiệt? Thơ vận vào người. “Người thơ phong vận như thơ ấy”. Câu thơ của Hàn Mặc Tử vụt ngang qua trí nhớ khi nhớ đến bạn mình, như một lẽ tự nhiên.

Từ nhiều năm nay, Cao Xuân Sơn vẫn là một người đứng ra ngoài mọi thi phi, náo nhiệt, ồn ào. Thế nhưng, nếu cần, vì bạn bè, anh cũng không kém gì ai nhất là trong nhưng cuộc vui thân tình tràn ngập men say bốc lên óc và những câu thơ lại vọng đến. Lúc ấy, chỉ có thơ. Nếu có ai đó, quan sát lúc các nhà thơ ăn nhậu ồn ào, ắt sẽ kinh ngạc không rõ vì đâu những câu chữ du dương cứ mãi tuôn trào một cách lớp lang, chỉn chu?  

Cao Xuân Sơn cũng thế. Có điều, đáng sợ, đáng nể nhất không rõ đọc từ lúc nào, nhớ từ khi nào mà lúc ấy, Sơn có thể đọc vanh vách các bài thơ theo yêu cầu của bạn bè. Làm sao có thể quên, lúc ngoài trời đang mưa tầm tã. Cao hứng lên, Sơn đọc vanh vách luôn những bài thơ Đường. Tiếng đọc thơ của anh, dù nhỏ nhưng đã khiến thiên hạ đang ồn ào, phải lặng đi, im phăng phắt. Và lắng nghe thơ. Phải nói rằng, Sơn là người có trí nhớ cực tốt.

Hỏi ra mới biết, Sơn là dân học chữ Hán. Đang học năm thứ 3 ở Đại học Sư phạm Hà Nội, Sơn chuyển vào TP.HCM, học chung với bạn bè mà nay đã có tên tuổi như nhà báo Quốc Kế, nhà thơ Đặng Nguyệt Anh... Ít ai biết, trước đó, niên luận năm thứ 2, Sơn đã viết Tinh thần phản chiến trong thơ Đỗ Phủ. Thời điểm 1979, quân bành trướng đang tràn qua phía Bắc, tiếng súng vọng đến tận mũi Cà Mau. Sơn đã phê phán sự hiếu chiến, phi nhân ấy bằng chữ nghĩa của chính ông cha chúng. Đó mới là Cao Xuân Sơn. Một ý thức chính trị rõ rệt khi bàn về một thi hào được văn học Trung Quốc xếp vào một trong hai nhà thơ vĩ đại nhất, bên cạnh Lý Bạch. Lúc ra trường Sơn có niên luận về Giáo học pháp (phương pháp giảng dạy) với số điểm dành cho thủ khoa.

Và Sơn đi dạy học, năm 1982. Thật hay, hay thật, Sơn dạy ở Trường PTTH Ngô Quyền (Biên Hòa) - nơi mà nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đã từng học. Mọi việc sẽ chẳng có gì thay đổi, nếu vào một ngày đẹp trời cuối năm 1984, nhà văn “đường rừng” tài hoa Lý Văn Sâm không tình cờ gặp Sơn ở Hội Văn nghệ. Bấy giờ Sơn đã có thơ, truyện ngắn in lai rai trên các báo, trong đó có cả tờ Văn  nghệ Đồng Nai của Hội Văn nghệ Đồng Nai mà tác giả Kòn Trô đang là chủ tịch. Chẳng rõ thế nào ông lại "bỏ nhỏ" vào tai Sơn: "Về Hội đi cháu. Trường Ngô Quyền không có cháu đã có người khác...".

Rồi cuối năm 1991, Sơn về TP.HCM làm việc tại Ban đại diện của Tạp chí Thanh Niên chung với nhà thơ Đinh Đức Thướng. Bấy giờ, người vợ đầu của Sơn ở TP.HCM vừa mất, đứa con trai mới 2 tuổi, Sơn phải đảm nhận vai trò “gà trống nuôi con”. Có chuyện này, kể ra không nhỉ? Ừ, chẳng sao. Ấy là lúc Sơn xin nhập hộ khẩu, cán bộ đòi hỏi phải có người bảo lãnh theo quy định. Ai bảo lãnh bây giờ?

Có lẽ trong toàn bộ hồ sơ xin nhập hộ khẩu tại nước Nam ta, cái đơn của Sơn là quái chiêu, độc đáo nhất. Đơn rằng: “Tôi tên là Khương năm nay 2 tuổi xin được bảo lãnh cho bố tôi là Cao Xuân Sơn về nuôi tôi”. Phía dưới có ký tên bằng cách điềm chỉ ngón tay nữa chứ. “Cái khó ló cái khôn” chăng? Không, là một cách tếu táo, tinh nghịch của một nhà thơ đã từng tự bạch: “Thơ tôi là nước mắt niềm vui tôi, là sắc màu lộng lẫy nỗi buồn tôi. “Người làm sao của chiêm bao làm vậy”, tôi luôn tự nhủ: cái điệu tâm hồn mình thế nào cứ rót lên trang giấy như thế, dối trá biển lận mà làm gì. Thơ hay thì hay với muôn đời, hoặc chỉ hay trong chốc lát - với một người cũng thế thôi”.

Trong trí nhớ ấy, trí nhớ của Cao Xuân Sơn nếu chia nhiều ngăn, chắc chắn luôn có thơ. Tận sâu thẳm tâm hồn của Sơn vẫn là thơ. Chính vì thế, trong phép ứng xử với nhau cũng thơ nốt. Chẳng hạn, vào một chiều trời mưa dầm dề, lúc y đang đặt dấu chấm xuống trang Nhật ký: ‘“Đang buồn””, lập tức một cuộc điện thoại của Sơn gọi đến: “Rượu đỏ nhé?”. Thân tình ấy, khiến cảm động không nguôi. Sơn là vậy. Dù không nhiều lời, ít gặp nhau nhưng Sơn hiểu và hiểu rất rõ về bạn. Bạn đang vui hay buồn. Chỉ đọc loáng qua những gì bạn vừa viết, đã viết là Sơn có thể cảm nhận được ngay.

Thế đấy, ai dám bảo nhà thơ vốn lơ tơ mơ thả tâm hồn bay lên cõi địa đàng với cây đàn lia (lyre), chứ không hề dẫm chân dưới đất?

Từ cây đàn ấy, những bài thơ của Cao Xuân Sơn rung lên những câu thơ nhói lòng: “Nghiêng bình dốc cạn chiêm bao/ Bóng ai trên vách… hao hao bóng mình” (Độc ẩm). Trong thần thoại Hy Lạp, Orpheus phải xuống tận địa phủ đi tìm Eurydice. Sơn cũng đi nhưng anh đi qua tâm hồn của chính anh. Hình bóng xa khuất ấy cũng là bạn của tôi, của Sơn từ những ngày trai trẻ. Vì thế, đọc những câu thơ ấy cứ rưng rưng mãi. Rồi, Sơn lại yêu. Ai cũng thế. Tình yêu lại đến cũng là lúc mở ra những cảm hứng mới cho Thơ và Đời.

Đời lặng lẽ và giản dị như chính Sơn đã cảm nhận: “Nảy tự bùn đen hoa vẫn sen/ Sắc hương lịm tắt cả sang hèn/ Từ đâu duyên khởi, anh nào biết?/Chỉ biết từ em, nắng mới nhen”. Đọc những câu thơ ấy, cám ơn nhà thơ ư? Không, phải cám ơn người phụ nữ đã đem lại cho Sơn cảm xúc trong trẻo ấy. Dù rằng, một mảng thơ của Sơn là thế sự, một mảng khác là thơ dành cho thiếu nhi, nhưng y vẫn thích nhất, nhớ nhất là thơ tình: “Thôi mặc kệ một ngày hay một kiếp/ Chỉ đã kim, hương đã lửa, nước đã bèo/ Mình có nhau, đời thêm nhộn nhịp/ Và bốn mùa yêu dấu cũng về theo”. Nghe nhẹ nhàng, xao xuyến và cứ vang ngân mãi.

Trong móng tay của nhiều nhà thơ đã thành danh tại Sài Gòn, y đồ rằng vẫn còn đó một chút bùn của quê nhà trên đồng cạn dưới đồng sâu, thì Cao Xuân Sơn cũng thế. Sâu thẳm trong anh những ngày nắng hanh khô tại Sài Gòn, muốn uống một chai vang đỏ phải ngồi phòng máy lạnh, ai biết rằng, lúc ấy, giữa ngày xuân xanh phơi phới mà trong lòng thi sĩ đang rét mướt những giọt mưa phùn ở Hà Nam xứ Bắc? “Anh nhắm mắt nghe mưa / đếm từng cơn nghẹt thở” như chính anh đã tự thú.

Có như thế, cuối cùng sự còn lại ở đời sống này là gì, nếu không là thơ? Mà đã vậy thì: “... Thôi thì mình tay cứ nắm lấy tay/ học chim chóc cứ vừa bay vừa hót/ học dòng sông vừa trôi vừa dào dạt/ học bếp than hồng vừa cháy vừa reo... (Nợ - CXS). Phải thế không, bạn mình ơi?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 6.9.2017

cung-voi-me-ngayCùng với mẹ ngày 31.8.2017 tại Sài Sòn



Thế là mẹ đã về quê. Có lẽ là lần cuối cùng mẹ ở chung nhà với y.  Mãi mãi không bao giờ còn nghe câu nói trìu mến từ dưới sân nhà vọng lên: “Con ăn gì, mẹ nấu?”. Mãi mãi không bao giờ gặp lại hình ảnh, mỗi sáng dắt xa ra khỏi nhà, lại nghe: “Trưa về, con ăn gì mẹ nấu?”. Tình cảm của người mẹ, nhất là lúc đã già lại thường nghĩ đến món ăn dành cho con. Thời bé, “Con ăn nhanh, ăn nhiều, mẹ thương”. Lúc gần đất xa trời, suy nghĩ ấy cũng không thay đổi. “Ăn vóc học hay”. Ăn cho nên vóc nên dáng, khỏe mạnh; học cho hay, cho giỏi. Người mẹ nào cũng nghĩ về con như vậy thôi.

Chừng mươi năm trước, lần đầu tiên du lịch Thái Lan, lúc quay về nhà, mẹ đã về Đà Nẵng. Cảm giác thế nào? “Lang thang sang Thái Lan/ Trở về không gặp mẹ/ Căn nhà rộng gấp hai/ Con hóa thành đứa trẻ/ Đây giường nằm của mẹ/ Sợi tóc bạc vẫn còn/ Bảy mươi còn xuôi ngược/ Cũng vì cháu với con/ Chập choạng bóng hoàng hôn/ Bếp lửa giờ tắt ngúm/ Buổi sáng nắng mai lên/ Con mải mê ngủ nướng/ Không được nghe từng tiếng/ Gọi con dậy đi làm/ Bốn mươi còn làm biếng/ Mẹ không lời than van/ Lang thang sang Thái Lan/ Mơ về nhà gặp mẹ/ Bây giờ chỉ mình con/ Bơ vơ như đứa trẻ”. Bài thơ viết lúc “tứ thập”, nay ngoài năm mươi với hình hài đã là những sợi tóc bạc trắng mà nào nên cơm cháo gì đâu. Vẫn “Bơ vơ như đứa trẻ” thì rõ ràng ông trời chơi khăm quá. Mà đổ lỗi cho ông trời làm cái gì, sao không tự nhủ: “Lỗi tại tôi”, có phải chính xác hơn không?

Đã trải qua những ngày phải tính toán, cân nhắc từng chút một. Rằng, làm sao đưa mẹ lên máy bay để về quê? Khó quá đi thôi. Lúc ấy, vừa đám tang ông anh, mẹ lại nằm bệnh viện với sức khỏe đang từng ngày tụt dốc. Ngoài 90 rồi còn gì? Cuộc chạy đua từng giờ. Nếu phải về bằng xe đò, tàu lửa, nào khác gì một chuyến hành xác cả hàng chục tiếng đồng hồ với đường dài hàng ngàn cây số? Có nỡ đành lòng không? Ấy là chưa kể, nếu chẳng may mẹ Về trời lúc trên dọc đường đi thì bất hạnh biết dường nào? Đã ngưng hơi tắt thở, trong quan niệm của người Việt phải là nằm xuôi tay nhắm mắt trong căn nhà của mình. Không thể có một lựa chọn nào khác, nếu có sự lựa chọn cuối cùng. 

Ơn trời, mọi việc đều suông sẻ.

Thật lạ, với đấng sinh thành, dù nằm bệnh, dù hơi tàn lực kiệt, thở không ra hơi, nói ra tiếng, từng ngày, từng ngày chỉ nằm một chỗ nhưng lại là điểm tựa tinh thần cho của gia đình. “Đêm đêm thắp ngọn sao trời/ Cầu cho cha mẹ sống đời với con” là nằm trong ý nghĩa nhân văn đó. Mẹ sống từng ngày phải thuốc thang, cơm bưng nước rót nhưng lại là niềm an ủi lớn lao nhất mà con người ta còn có thể nhận ra được dưới gầm trời này.

Một khi mất cha/mẹ là lúc con người ta mới thật sự chia lìa vĩnh viễn với cội nguồn của sự hình thành, tạo dựng nên thân xác, hình hài của chính họ. Sự ràng buộc căn bản nhất, then chốt nhất đã không còn, dù rằng có anh có em, cô dì chú bác nhưng cũng chỉ là yếu tố cần chứ chưa phải là đủ. Bấy giờ, con người ta chính thức lẻ loi, đơn độc trong cõi hỗn mang của trời đất, của vũ trụ, của cõi nhân sinh này. Mãi mãi, không bao giờ họ còn được sống trong cảm giác: “Khi gai đời đâm ứa máu bàn chân/ mấy kẻ đi qua/ mấy người dừng lại?/ sao mẹ già ở cách xa đến vậy/ trái tim âu lo đã giục giã đi tìm” (Đỗ Trung Quân). Ấy là sự linh cảm của tình mẫu tử mà không một sự huyền bí nào có thể sánh nổi. Đơn giản chỉ vì rằng, tình cảm mẹ dành cho con là một lẽ tự nhiên. Sự tự nhiên ấy, làm sao có thể lý giải nếu điểm xuất phát không là tình máu mủ từ ruột thịt do chính người mẹ sinh ra?

Một bài viết cũ, viết đã lâu. Đọc lại vẫn bùi ngùi. Đã viết trong những ngày mẹ phải nhập viện. Viết rằng:

“Một mẹ già bằng ba lần giậu”.

Đến một lúc nào đó, một hoàn cảnh nào đó, con người ta mới thấm thía câu thành ngữ này. Có đôi lúc, trong cuộc sống bề bộn, bận rộn của mỗi ngày, ở chung với mẹ, ta cảm thấy “xốn mắt” lắm. Làm sao có thể chìu được người già? Khoảng cách giữa hai thế hệ là một vực thẳm. Cả hai khó có thể hiểu, chia sẻ những mối quan tâm chung. Đứa con bước ra khỏi nhà, tự trong lòng đã gánh lấy một áp lực từ công việc, từ mối quan hệ ngoài xã hội; trong khi đó với người mẹ lại khác, chỉ là những chuyện vặt vãnh, bếp núc. Có cũng được, không cũng chẳng sao, nếu cần, thuê lấy Osin là xong tất. Chẳng gì phải bận tâm.

Nghĩ là nghĩ thế. Nhưng rồi, lúc mẹ nhập viện, ở nhà thui thủi một mình/với vợ con mới ngộ ra rằng, phải là mẹ, có mẹ thì mọi việc mới chu toàn đâu ra đó. Thích nhất trong đời của nhiều người, với nhiều người có lẽ vẫn là câu nói: “Con ăn gì mẹ nấu cho”. Một sự tự nguyện, tự giác mách bảo từ tình mẫu từ, chỉ biết rằng hễ con ưng ý, hài lòng là vui.  

Niềm vui của người mẹ già đơn giản lắm. Chỉ cần con ăn ngon, ngủ ngon, không bệnh tật là vui. Niềm vui ấy, đã có, ngay từ lúc đứa con vừa lọt lòng cất tiếng khóc oe oe và thầm lặng suốt một đời. Chẳng người mẹ nào kể công đã nuôi con cực nhọc như thế nào, nếu nhắc lại cũng chỉ kể về niềm vui. Vui gì? Vui, lúc con bập bẹ tiếng nói đầu tiên gọi ba, gọi mẹ. Vui, lúc còn son trẻ, mỗi lần đi chợ về, con ùa ra níu áo: “Mẹ ơi, quà con đâu?”. Thế rồi, khi đã đủ lông đủ cánh, đủ sức bay nhảy giữa trời cao đất rộng, có lúc nào ta nhớ đến món quà, tấm bánh dành cho mẹ? Hay có nhớ, nhưng rồi bận rộn quá, tặc lưỡi: “Dịp khác”.

Dịp khác ấy, bao giờ mới đến?

Ở trong nhà, vai trò của mẹ mờ nhạt lắm. Thế nhưng, khi không có mẹ mới thấy trống trải biết chừng nào. Thì ra, lâu nay nhà cửa gọn gàng, bếp núc đâu ra đó; cái bàn, cái ghế sạch sẽ không một hạt bụi; mọi vật dụng sắp xếp ngăn nắp, nề nếp… chẳng phải tự nhiên mà có. Một tay mẹ quán xuyến tất cả. Muốn tìm cái gì, hỏi cái gì, có khi chưa kịp hỏi, quyển “từ điển mẹ”. đã lặng lẽ trả lời. Một ánh sáng lặng lẽ phía sau lưng, khiến ta thấy cuộc sống của mỗi ngày ổn định, hài lòng.

Mà than ôi, người mẹ chẳng hề đòi hỏi gì cho riêng mình. Ngày nọ, y hào hứng ngồi vẽ. Tràn trề sắc màu hò reo nhảy múa. Bỗng nghe tiếng nói chậm rãi của mẹ, từ phía sau lưng: “Từ 11 giờ đến chừ, mẹ cảm sốt, không ngủ được”. Giọng nói ấy không hề than thở buồn rầu, nghe như bà cụ đang thủ thỉ, đang “méc” lại một chuyện oan ức gì đó. Cứ như thể thời còn bé bị ai đó bắt nạt; hoặc ấm ức điều gì chỉ đợi mẹ, chờ ba về đến nhà để “méc” cho bằng được. Già rồi, chỉ dựa vào con. Y vội trấn an: “Xoàng thôi. Mưa nắng thất thường, ai mà không cảm sốt. Không sao đâu”. Bà cụ im lặng. Không dám nói gì thêm, không “mè nheo” nữa. Mãi đến lúc vẽ xong tranh, y mới buột miệng một câu hú họa làm ra vẻ như đang an ủi: “Hay con đưa mẹ đi khám bệnh?”. Bà cụ mừng rỡ, gật đầu ngay, chứng tỏ nẫy giờ muốn nói nhưng không dám thổ lộ. Đưa mẹ đi khám bệnh. Và bác sĩ… cho nhập viện luôn.

Thế đấy, đôi khi chúng ta vô tâm vô tư, vô ý vô tứ quá thể.

Mỗi lần vào bệnh viện thăm, bao giờ bà cụ cũng hỏi: “Con ăn gì chưa?”. Rồi lại nói: “Chịu khó vài ngày, ít bữa nữa về nhà, mẹ nấu cho”. Hỡi ôi, y chẳng ra làm sao cả. Ở với mẹ nhưng rồi có hiểu gì về mẹ, có bao giờ trò chuyện gì không? Chỉ năm thì mười họa. Chỉ là những câu hỏi nhát gừng. Hỏi bâng quơ rồi đắm đuối với những hư ảo, mộng mị xa vời. Vẫn đong đưa theo những cuộc chơi phù phiếm mơ mơ màng màng chẳng nên tích sự gì: “Ta cầm hương hoa vung vãi khắp nơi/ cho mối tình đầu, tình sau, tình cuối/ thì lúc ấy mẹ ngồi trong bóng tối/ tựa cửa một mình chống chọi với mùa đông”.

Đến một lúc nào đó, một hoàn cảnh nào đó, con người ta mới thấm thía câu thành ngữ: “Một mẹ già bằng ba lần giậu”. Chẳng phải đâu, hãy ngay tự bây giờ, mỗi một ngày, cần dành lấy một khoảnh khắc nghĩ về mẹ. Nghĩ về những ngày còn có mẹ, chỉ cần thế, sẽ cảm nhận được biết bao điều có ý nghĩa nhất trong cuộc đời này”.

Bây giờ, đã là lúc nghĩ đến giây phút vĩnh viễn không còn gặp mẹ.

Ngày đó, sẽ đến. Từng ngày đi qua là từng ngày đưa mẹ về với cõi hư không ấy. Phải biết trước, nhận thức trước, chấp nhận trước để không gì bất ngờ, ngỡ ngàng. Biết để chu toàn hơn. Biết để lo lắng chu đáo hơn. Để biết rằng, không bao giờ còn có dịp: “bất chợt ta nhìn hai hố mắt mẹ sâu/ đã thấy sự lo toan, buồn phiền, mệt mỏi/ mẹ chỉ âm thầm và suốt đời lặng lẽ/ gương mặt đăm chiêu ngay thảnh thơi nằm”. Câu thơ ấy, viết vào lúc nào? Y không nhớ nữa. Sẽ không còn là sự đánh thức trách nhiệm một khi đã sa đà, ngao du phù phiếm dẫu là lúc đang trên đỉnh trời của cõi địa đàng du hí...Lúc ấy, “Chẳng có gì níu kéo anh rời khỏi cơn mê” nhưng rồi lại giật mình, sực nhớ đến một điểm dừng: “Ngoài một điều duy nhất/ Mẹ/ Vâng, mẹ tựa cửa mẹ hiền lành mẹ nhẫn nại như đất/ Chờ anh về từ lúc chiều đã khuất...”.

Sẽ mãi mãi không bao giờ còn được sống trong tâm cảnh kỳ diệu nhất của tình mẫu tử: “những miếng ngon vật lạ trên đời/ con đã nếm chân trời góc biển/ vẫn không ngon hơn một củ khoai lùi/ mẹ bóc vỏ mớm cho con ngày thơ ấu/ những miếng ăn từ bàn tay mẹ nấu/ còn có cả tấm lòng/ cả gió rét mùa đông/ mẹ tất tả giật gấu vá vai kiếm từng xu ngoài chợ/ một đồng lãi gánh mười đồng nợ/ ăn mắm mút dòi/ dè sẻn chắt chiu/ ngay cả lúc cơm sôi/ còn có cả giọt mồ hôi/ của mẹ/ ngay cả khói chiều/ bếp lửa reo cũng ấm êm hạnh phúc/ làm sao có thể quên?/ sống để dạ chết mang theo/ làm sao có thể quên một điều giản dị:/ “thượng đế nhân từ không có mặt ở khắp mọi nơi/ ngài đã sinh ra các bà mẹ”/ mẹ là hiện thân của từng giọt lệ/ đã vì con mà khóc/ vui cũng khóc/ buồn phiền cũng khóc/ đã vì con gạt đi nước mắt/ lao ra giông tố cuộc đời/ xòe cánh tay mỏng manh như nắng lụa/ chở che con bóng mát dưới vòm trời/ may mắn cho ai còn có mẹ”. 

Ngày không còn ấy, mãi mãi không còn. Sẽ đến.

Có những cuộc chia tay, biệt ly đằm đìa nước mắt, nhưng cũng có thể đó là ngày hội. “Trẻ làm ma, già làm hội”. Khi đã ngoài 90 được trở về với Đất, trở về với Cát bụi há chẳng phải là ngày hội đó sao? Đã không thể nào giữ lại được, phải chấp nhận lấy cuộc chia ly ấy. Một lẽ sinh tồn trong trời đất. Không thể nào khác. Ngày ấy, hãy tự nhủ với lòng mình, hãy lắng nghe tiếng nói thầm vọng lên rất khẽ, rất khẽ như sự cựa mình của một hạt mầm vừa nhú lên khỏi mặt đất để gặp Ánh sáng ngàn đời bất tuyệt: “tưởng tượng một ngày kia/ trăng treo trên vòm trời Đà Nẵng rất khuya/ mẹ khỏe mạnh giã gạo/ hương cau thơm rụng đầy sân nhà ông ngoại/ thuở ấy mẹ mới về với cha/ mới nghĩ vậy thôi con sung sướng khóc òa/ một niềm vui vĩnh cửu...”.

Niềm vui vĩnh cữu ấy, đã có thì hãy giữ gìn và nâng niu như một hành trang trong cõi nhân sinh này. Rồi đến một lúc nào đó, chính mình cũng sẽ là một sự nối tiếp. “Trăm năm như chớp mắt/ Mẹ đã đi chợ về”. Và sung sướng thay, hạnh phúc thay, đó cũng chính là lúc ta cùng mẹ, cả hai mẹ con cùng “đã đi chợ về”. Đã rời khỏi chợ/ cõi chợ đời - nói như triết gia Hermann Hesse: “Dù đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này” nhưng một khi trần gian đã chối bỏ thì cũng gì phải sợ hãi bởi lẽ trên hành tình hư vô ấy mỗi chúng ta vẫn còn có mẹ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 30.8.2017

 

nuocman_RXEGnuoc_mam7

 

Lâu qua không gặp Z. Sau khi tanh bành banh chành, ra môn ra khoai, đen ra đen, trắng ra trắng về cuộc chiến giữa nước mắm truyền thống và công nghiệp, hắn ta bị buộc nghỉ việc. Thôi nghề làm báo. Lúc ấy, nhận định về phi vụ khét tiếng này, ông Bộ trưởng Bộ Thông tin truyền thông cho rằng đã có dấu hiệu của sự cấu kết bất lương trong truyền thông của doanh nghiệp, thậm chí vi phạm pháp luật.. Ai đời, họ quả quyết như đinh đóng cột rằng, nước mắm truyền thống “có chứa thạch tín vượt ngưỡng”. Ăn vào chỉ có nước sớm về chầu ông vãi. Khiếp. Những trang sử thăng trầm về nghề nước mắm truyền thống sẽ còn ghi lại sự việc này.

Tưởng rằng, từ đây chẳng ai còn đụng gì đến nước mắm nữa. Cứ để yên cho người ta làm ăn như hàng ngàn đời nay có phải tốt hơn không?

“Nước mắm ngon dầm con cá liệt/ Em có chồng rồi nói thiệt anh nghe”. Âm điệu câu ca dao du dương quá đi mất. Nhịp nhàng bằng trắc. Cách gieo vận lưng ở giữa câu đã cho thấy một “ý tại ngôn ngoại”  - giữa anh/em đã là một sự gắn kết, dù không nói ra nhưng người đọc đã tự hiểu lấy, bởi “liệt” đã bắt nhịp với “thiệt”, đố ai gỡ cho ra?

Nghĩ thế, rồi tự nhủ, hôm  nào về Đà Nẵng phải mua cho bằng được vài lít nước mắm Nam Ô đem vào Sài Gòn. Có nước mắm nhỉ ở ngoài quê, bữa cơm ngon hơn. Yêu đời hơn và yên tâm hơn. Lại nhớ đến câu: “Nước mắm xem màng màng, Thành hoàng xem cờ quạt”. Hiểu nôm na “màng màng” là váng nổi trên mặt chất lỏng, nói cách khác là nước mắm “dậy mùi”, có như thế mới là nước mắm ngon. Xem cờ quạt, cờ xí lộng lẫy, rực rỡ cỡ trong ngày lễ, ngày hội thì mới biết Thành hoàng của làng đó được trọng vọng ra làm sao.

Sáng nay, như mọi buổi sáng, từ lúc 5 giờ sáng thì người giao báo đã đưa báo đến tận nhà. Đọc và choáng với thông tin cực kỳ “cùi bắp”: Nước mắm phải dùng muối iod. Theo cơ quan chức năng giải thích là nhằm chống bệnh bướu cổ, đần độn và các rối loạn do thiếu vi chất này sinh ra. Báo Phụ Nữ TP.HCM đặt câu hỏi về quy định này, có phải: “Làm khó nhà sản xuất, bất cập với người tiêu dùng?”. Đọc xong, mới thấy câu trả lời là có. Có thật. Nhiều doanh nghiệp sản xuất nước mắm truyền thồng cho biết: “Nếu cứ bắt buộc phải dùng muối iod vào quá trình chế biến sẽ đánh mất mùi vị đặc trưng truyền thống của nước mắm nhà thùng”.

Sực nhớ, ở Huế vài năm trước, cơ quan chức năng cấp tỉnh đã  ra Quyết định Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận bún bò Huế. Quy chế này gồm 5 chương với 19 điều, 5 Phụ lục. Đọc và tủm tỉm cười. Âu cũng là cái thú của những ai thích thư giản với câu chữ. Nếu ngày trước, thực dân đế quốc Pháp cũng ra quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận phở An Nam thì chuyện gì sẽ xẩy ra?

Dứt khoát khi bàn về phở, Thạch Lam không thể viết câu: “Và người hàng phố tìm dấu hiệu để gọi tên anh cho dễ nhớ: anh phở trọc, anh phở Bêrê, anh phở Mũ Dạ, anh phở Cao... và dặn thằng nhỏ chớ mua hàng khác về "ông không ăn mà chết đòn". Sự tinh tế Thạch Lam còn ở câu này: “Như cái thứ phở thực cũng như bản tuồng, chèo. Để nguyên tuồng chèo cổ thì hay, chứ đã pha cải lương vào thì hỏng bét. Có chăng muốn cải cách thì để nguyên vị, mà cách làm tinh vi hơn lên. Cái nội dung và thể tài vẫn cũ, mà tinh thần thì ngày một sắc sảo thêm vào. Kẻ viết bài này vẫn trung thành với lối phở cổ điển cũng như ưa nghe tuồng chèo giữ đúng điệu xưa”. Và ông cũng có biết mỗi người bán phở có cách chế biến theo kiểu gia truyền. Không ai giống ai. Mội người một vẻ, mười phân vẹn mười. Dù vẫn là “lối phở cổ điển” hoặc “đã pha cải lương vào” đi nữa.

Nếu quán/ gánh phở nào cũng tuân theo một nguyên tắc bất di bất dịch từ sắc màu, mùi vị, nguyên liệu, công thức chế biến… y chang như nhau, có lẽ phở đã tự đào thải tư lâu rồi. Tương tự, cũng bún bò Huế nhưng o Sen khác với o Rớt lại khác với mụ X, Y, Z nào đó chứ? Nay, người ta quy định phải “đồng phục” trăm phần trăm từ “hình thức” đến “nội dung”, còn gì là cái thú ẩm thực nữa? Quy chế về bún bò Huế đã ban hành như thế nào? Thì đây. Đây là các “chỉ tiêu”:

“Trạng thái: Nước dùng trong, không đục, nóng, nổi nhiều váng mỡ trên mặt.    

Màu sắc: Sản phẩm hội đủ các màu tươi thắm tạo sự bắt mắt, ngon miệng: Trên bề mặt của tô bún có màu đỏ cam của ớt phi dầu (hoặc mỡ); màu trắng của sợi bún; màu nâu của thịt, huyết (tiết); màu vàng cam của chả cua, hồng nhạt của chả heo; màu xanh của hành, ngò; màu đỏ của lát ớt;…

Mùi: Sản phẩm phải dậy mùi thơm của nước bún, bao gồm mùi của thịt, sả, hành quyện vào nhau trong đó mùi sả thơm nồng hơn bên cạnh còn có mùi thơm nhẹ của các loại rau gia vị, ruốc và không có mùi lạ khác.

Vị: Ngon, ngọt đậm đà của các loại thịt và xương hầm, cay vị ớt, không có vị lạ khác. Ăn xong vẫn còn vị của bún bò Huế không lẫn với vị của thực phẩm khác.

Các loại rau và gia vị ăn kèm: Rau sống: cải con, rau thơm, xà lách, giá đỗ, bắp chuối. Các loại rau sống được thu mua từ các nhà cung cấp uy tín và chất lượng (có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng). Các loại rau có trạng thái tươi tự nhiên. Các loại gia vị như: nước mắm, ớt tươi, ớt tương, chanh”.

Chưa hết đâu. Còn đây là “tiêu chí”:

“Bún tươi: Là loại thực phẩm dạng sợi tròn, trắng, mềm, được làm từ tinh bột gạo với phụ gia bột lọc, được luộc chín trong nước sôi; sợi bún dài, hơi dai, không đứt gãy; sợi bún không có mùi chua, mùi lạ.

Các loại thịt và sản phẩm thịt: Thịt giò heo có khoanh tròn dày khoảng 2,5 - 3cm, được ninh vừa đủ độ chín để đảm bảo miếng thịt được giòn, ngọt và không bị nhừ; Thịt bò bắp, bò gân được cắt từ những miếng thịt đã hầm vừa đủ độ chín trong quá trình chế biến nước dùng. Chả heo, bò, cua; huyết (tiết) đã được luộc chín”… Ngay cả, “Bát (tô), thìa (muỗng), đĩa kê bằng sứ; đũa tre” cũng nằm trong “tiêu chí” nốt.

Phải răm rắp thực hiện đúng bài bản catlogue mới được cấp nhãn hiệu chứng nhận “Bún bò Huế”. Hay quá đi chứ. Vâng, rất hay.

Rằng hay thì thật là hay.

Trong khi đó, cái gu của người sành ẩm thực lại khác hẳn. Chẳng ai giống ai. Chẳng hạn, với y trên đời nay chỉ có thể gọi Phở bà Dậu là phở. Ngon nhất. Mê nhất. Ăn đến nay đã mòn răng. Có lúc nửa đêm giật mình tỉnh giấc, lưng lửng đói lại thầm mong trời mau sáng đặng có thể thỏa mãn sự cái sự thèm. Thế thì, kẻ khác cũng vậy chăng? Chưa chắc đâu. Có người lại chê bai bải, chê ỏng chê eo, đã thế lại cho rằng, chẳng phải là phở. Mà phở thì phải là…; đã bún bò Huế thì phải là… Ối dào, mỗi người một phách. Khó thể nói đâu là chỉ tiêu. Đâu là tiêu chí. Vậy nên mọi sự áp đặt chủ quan trong ẩm thực phải thế này, phải thế kia đều “tào lao bí đao” cả.

Có nhiều người, như y đây, chẳng phải thèm ăn gì cho cam nhưng đôi lúc cũng tò mò tư hỏi: Chẳng biết, ngày xưa, các ông vua nước Nam ta khoái ăn những món nào? Nói cách khác đâu là đặc sản vùng miền phải “tiến vua”?  Tìm hiểu chuyện này cũng lý thú đây. Ít ra, ta cũng biết đặc sản độc đáo của từng vùng miền. Và đó cũng chính là niềm tự hào, hãnh diện của cư dân nơi đó. Tình yêu quê hương cũng vun vén, hình thành từ những những miếng ngon dân dã, quê kiểng. Sau này, đi xa, tiền xúng xính nhưng chắc gì có thể ăn được đặc sản đó?

Phải nó thật rằng, sau khi thống nhất nước Nam, dưới triều Nguyễn việc ghi chép về các điển chương chế độ, điển pháp, quy chuẩn…. mới được tổ chức bài bản, chu đáo, đầy đủ hơn cả. Riêng về bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước ghi nhận: “Triều Nguyễn là triều đại khá quan tâm đến công tác công văn giấy tờ, đặc biệt dưới thời vua Minh Mệnh, vua hầu hết tự soạn thảo các văn bản quan trọng, duyệt lãm phê điểm vào các văn bản tấu trình. Vua cũng ban hành khá nhiều quy định đối với công tác văn thư như soạn thảo tấu tư phải hợp lệ, xét duyệt tấu tư, quản lý sổ sách công văn, sử dụng ấn tín đúng trình tự… Có thể nói chế độ quản lý văn thư lưu trữ của triều Nguyễn đã đi vào ổn định từ đời vua Minh Mệnh. Đến thời Tự Đức công tác công văn giấy tờ phần lớn vẫn tuân theo những điển lệ cũ nhưng cũng có một số thay đổi hoặc chế định thêm”.

May quá, trong nhà có bộ sách này (bản dịch của Viện Sử học, NXB Thuận Hóa - 1993). Quyển 120 (tập 8) ghi chép về Phẩm vật ở địa phương phải “cung tiến” dưới triều Minh Mạng. Tuy nhiên, xin lưu ý có những thứ đã thay đổi, tùy theo thời gian, chẳng hạn, năm Minh Mạng thứ 21: “Các phẩm vật như bánh phục linh, bánh mì, mứt tẩm đường mật, bỏng nếp tẩm đường, cốm ở kinh cũng dễ tìm, rồi sau đó cơ sở lý thiện làm, còn Hà Nội không cần phải tìm kiếm để cung tiến như trước nữa”. Suy ra các phẩm vật trên vốn là “món ngon Hà Nội”, do người Hà Nội sáng chế ra đầu tiên, sau đó, các nơi khác mới bắt chước làm theo.

Trước đây cứ nghĩ rằng, đã là phẩm vật, thổ sản độc đáo thì địa phương đó có trách nhiệm cung tiến? Không hẳn thế. Đọc Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ mới biết nhà nước phải bỏ tiền ra mua. “Đến tiết nào, các địa phương có lấy hay mua các thứ quả phẩm để kính dâng, số bao nhiêu chiểu giá trả tiền, đến cuối năm vào sổ, chi tiêu đệ lên, do bộ Hộ cho thanh toán, lấy làm lệ vĩnh viễn”; “Vật không đáng bao nhiêu mà dân cũng lấy việc ấy làm lẽ sống, phải nên tùy từng hạng xét trả tiền, để dân được nhờ”. Cách tính như sau: “Quả dừa cứ 100 quả giá tiền 3 quan, cam đường cứ 100 quà giá 2 quan tiền, quả boòng boong cứ 4 sọt làm một gánh giá tiền  3 quan…” v.v…

Các phẩm vật này là để nhà vua “ngự thiện”?  Không hẳn, còn dành để phục vụ cho lể tế Nam Giao, lễ hưởng ở nhà Thái Miếu, ngày Thánh đản, ngày giỗ và ngày thánh thọ, tết Vạn thọ, tết Chính đán, Đoan dương, Trung thu… Do đó, số lượng của mỗi thứ rất nhiều. Chẳng hạn, trái boòng bong ở Quảng Nam, thời Gia Long hằng năm vào mồng 8 tháng 9 lấy 6.200 quả và phụ 4.400 quả; ngày 12 tháng đó lại lấy thêm 2.200 quả và phụ 4.400 quả. Về sau, thời Minh Mạng, Thiệu Trị có giảm bớt…

Phẩm vật cung tiến như sau: Gạo mới và hoa quả ở hạt Thừa Thiên; Quả dừa của 2 tỉnh Vĩnh Long và Định Tường; Quả xoài của tỉnh Phú Yên; Quả chanh của tỉnh Bình Định; Quả chanh và quả boòng bong của tỉnh Quảng Nam; Các thứ dưa hấu, bột hoàng tinh, thịt cửu khổng khô (là một giống sống ở bể như con sò mà to, ăn thịt rật ngon, vỏ dùng làm thuốc), tương đậu, rượu dâu ở tỉnh Quảng Bình; Cam đường ỏ tỉnh Thanh Hóa, Hải Dương; Quả vải ở tỉnh Hà Nội, Mắm rươi ở tỉnh Ninh Bình, Nam Định; Sa lê (thứ lê thường) ở tỉnh Cao Bằng; Tuyết lê (thứ lê vỏ trắng) ỏ tỉnh Tuyên Quang… Riêng ở thành Gia Định hằng năm phải dâng 10 con vây cá (có lẽ đuôi cá nhám), ốc ở chằm nước 10 bao đem đi theo đường bể, ba ba bể, cà cuống cả trứng… Ngoài ra, còn có cả cá sấu nữa.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 29.8.2017

e77chaydan_jpg_dan_chay_pha_nguc

Ảnh: Chạy đàn phá ngục

 

Có thằng chồng say như trong chay ngoài bội

Ngó vô trong nhà như hội Tần vương

Bởi say sưa nhậu nhẹt, hủ chìm hủ nổi, mềm như sợi bún, say quắc cần câu, say mèm say khướt, say cúp bình thiếc, say lết bánh, nôn thốc nôn tháo, cho chó ăn chè, vì thế, cô vợ mới ngao ngán gọi là “thằng”. Đọc ca dao, thỉnh thoảng gặp từ “con” dành cho vợ/người tình thốt ra từ miệng người đàn ông, dù họ đang yêu thương đằm thắm; từ “thằng” không hề thấy quý cô/quý bà sử dụng đến. Ai nỡ gọi, “hoàng tử của lòng em” là “thằng” bao giờ? Chỉ khi nào khinh miệt, khinh bỉ, rẽ rúng, tức giận và cắm lên đầu cho cái sừng, họ mới gọi “cây tùng, cây bách”; “trụ cột” kia là “thằng”.

Mà thôi, chuyện nhà của thiên hạ, bàn luận làm chi.

Chuyện đáng bàn vẫn là câu thành ngữ “Trong chay ngoài bội”. Việt Nam tự điển (1971) do Lê Văn Đức biên soạn, Lê Ngọc Trụ giải thích: “Trong nhà thì làm chay thí thực; ngoài sân thì cất giàn để hát bội cho người xem, chỉ nhà giàu sang, thường có đám tiệc khách khứa”. Thí thực là đồ ăn bố thí cho ma đói (ngạ quỷ), cô hồn vất vưởng vất vơ, không có thân nhân cúng kiếng; nhưng đem đồ chay cúng dường cho tăng ăn, người ta cũng gọi thí thực.

“Mùi thiền đã bén muối dưa/ Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng/ Sự đời đã tắt lửa lòng/ Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!”. Lúc ấy, dứt khoát Thúy Kiều ăn chay, còn gọi ăn lạt, chứ không ăn mặn nữa. “Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối”. Cách gọi “mặn”, “lạt” đã thể hiện tính chất món ăn theo quy định của một tôn giáo. Vì thế, khi nghe nhắc đến vật gì có chất mặn như mắm, như muối, chẳng hạn: “Chuyện chẳng có gì, hắn ta thêm mắm, thêm muối nghe rợn cả người”, tức thêm thắt bịa đặt, nói vống lên, có ít xít cho nhiều, sai lệch với sự việc vốn có.

Lắc léo cho tiếng Việt còn ở chỗ, một khi nghe nói ngủ chay, lập tức ta hiểu là người đó ngủ một mình, không chung chạ xác thịt; hoàn toàn khác với ngủ mặn. “Bóng gương thấp thoáng dưới mành/ Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa” (Cung oán ngâm khúc), “Mỏi gối chồn chân cũng muốn trèo (Hồ Xuân Hương), có người cùng thủ thỉ, tâm tình, đầu ấp tay gối là ngủ mặn. Vậy một khi uống chất men không kèm mồi, không có gì nhấm nháp đưa cay, chỉ rượu với rượu, cũng tỷ như ngủ chay một mình, ta gọi “uống chay” chăng? Theo đúng điệu đệ tử Lưu Linh phải gọi “uống suông”. Không rõ hai câu thơ này của ai, nghe ra cũng “dân chơi” lắm:

Thơ suông nước ốc ngâm còn váng,

Rượu lạt non chai vẫn chén khà

“Thơ suông nước ốc” là thơ nhạt/nhạt thếch. Liên tưởng qua câu cửa miệng “Nhạt như nước ốc” ắt rõ nghĩa ngay thôi. Không rõ câu thành ngữ: “Sáng trăng suông bà về vậy” là ngụ ý gì? Thử suy luận xem sao, trăng sáng là trăng rằm, trăng tròn, những đêm trăng vành vạnh ấy, ở nông thôn bà con chòm xóm thường tụ tập lại nhau tán gẫu, không chỉ tán suông mà có thêm bát nước chè tươi, kẹo lạc, chén trà hoặc chén rượu… cho rôm rã. Ấy thế, khi bà đến, gọi bà là do tuổi tác và tất nhiên do vai vế nên bà được mọi người trọng vọng, đon đả đón mời. Nhưng rồi, chỉ có thế, chẳng có gì ngoài “sáng trăng suông”, chẳng được cái nước non gì nên bà bực bội bỏ về quách cho xong. Thái độ không ưng ý, hài lòng của bà gói gọn trong từ “vậy”. Nghĩa bóng: dù được nghe bao nhiêu lời “có cánh”, mát cả ruột, sướng cả tai; hoặc được nhìn bao cảnh đẹp kỳ thú nhưng rốt cuộc chẳng có thêm gì khác - bất quá cũng chỉ mỗi “sáng trăng suông” thì cũng chẳng nên cơm cháo gì. Nói gì thì nói, “Có thực mới vực được đạo”.

Trong khi đó, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Dư: “Chữ “vậy” ở cuối câu nói cho thấy sự thất vọng của người đàn bà. “Về vậy” có nghĩa là “đành phải về”. Ngày xưa, ở thôn quê cũng như ở thành thị, sáng trăng là dịp trẻ con rủ nhau vui đùa trong xóm, ngoài ngõ. Nhưng sáng trăng lại bất tiện cho những việc làm lén lút như trộm cướp, hẹn hò bất chính. Dường như người đàn bà trong tranh đang gặp tình cảnh này. Bà muốn "đi đêm" nhưng trăng cứ sáng vằng vặc, rõ như ban ngày thế kia thì... hỏng chuyện! Bỏ về là vừa. Nghĩa bóng của câu nói: định làm chuyện mờ ám nhưng không thành”.

Có những câu thành ngữ đã ra đời cách thời hiện tại quá xa, ít ai còn biết/nhớ đến nghĩa cụ thể của nó, do đó, có người suy luận kiểu này, người kia nghĩ qua chuyện khác cũng là lẽ thường tình.

Hãy trở lại với “Trong chay ngoài bội”. Đã rõ từ chay rồi. Vậy bội là gì? Đại Nam quấc âm tự vị (1895) giải thích: 1. Trò bội: cuộc ca hát, đám hát, bạn hát; 2. Bội bè: con hát, bạn hát; 3. Áng bội bè: thì là trường ca hát; 4. Hát bội: con hát, kẻ làm nghề ca hát. Nghĩa từ của từ “bội” trong ngữ cảnh trên đã rõ. Vấn đề đặt ra ở đây, lúc “trong chay” thí thực, thì “ngoài bội” diễn tuồng gì? Ngắc ngứ chưa? Chịu thua chưa? Nếu không nghiên cứu thấu đáo, làm sao nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng có thể trả lời đâu ra đó? Đọc xong phải chịu ngay.

Theo ông Trảng: “Kết quả kiểm tra hồi cố cho biết rằng, trước năm 1945, các trai đàn ở Nam bộ đều có hát Phật (hiểu là tuồng tích có liên quan đến đạo Phật, gọi chung là tuồng đám). Việc biểu diễn ngoài bội thì hoặc mời các gánh hát bội đảm nhận và càng lúc càng nhiều cuộc lễ. Các Tăng sĩ ứng phú dặm mặt, thay y trang biểu diễn. Đến năm 1952, Hòa thượng tăng trưởng Giáo hội Phật giáo Lục Hòa Tăng Việt Nam ra lệnh cấm nên việc tăng sĩ diễn tuồng không còn nữa. Hòa thượng Tăng trưởng thuộc tông môn chùa Giác Lâm (quận Tân Bình), vốn là một kinh sư ứng phú nổi tiếng; nhưng qua kinh nghiệm, Thượng tọa thấy việc người tu hành lên sân khấu tác hại đến oai nghi: “Phàm kẻ xuất gia tu hành mà vẻ mặt, vẻ mày, mang râu, mặc giáp để bước lên sân khấu làm trò cười cho thiên hạ thì tự mình làm nhẹ thể ông thầy tu, tự mình làm cho người khác  khinh khi Tam bảo”. Từ đó, hát Phật dần dần mai một và ngày nay không còn nữa” (Tạp chí Kiến thức ngày nay - 10.4.2015).

Có phải ở trong Nam tổ chức “Trong chay ngoài bội” cũng có ý nghĩa ná ná như nghi lễ “Chạy đàn phá ngục” - tên gọi khác của “Đàn Mông Sơn Thí Thực” ngoài Bắc? Chỉ là một hay là hai nghi lễ khác nhau?

Đọc trên trang điện tử của Báo Ảnh Việt Nam (17/07/2012 13:32 GMT+) thấy có đoạn: “Trong văn hóa phương Đông, ngày rằm tháng Bảy âm lịch có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó là ngày xá tội vong nhân cho dân gian tỏ lòng kính Phật, hiếu thuận với tổ tiên, cha mẹ và cúng thí cho các vong hồn nơi địa phủ. Giới tăng ni Phật tử gọi đây là ngày Lễ Vu Lan, cũng là ngày diễn ra một trong những nghi thức quan trọng và phức tạp bậc nhất của nhà Phật: Lễ cúng Đàn Mông Sơn Thí Thực.

Sau lễ thỉnh Phật và dâng Lục cúng kéo dài suốt ban ngày, chập tối, lễ cầu siêu với màn “Chạy đàn phá ngục” theo tích “Mục Liên tầm mẫu” mở màn bằng tiếng nhạc réo rắt, trống phách vang lừng. Giữa khói hương nghi ngút, giọng đọc canh kệ ngân nga, ê a đưa đẩy, một vị sư, đầu đội mũ hoa sen, vai khoác áo cà sa, tay cầm tích trượng quấn dải khăn trắng cung kính dẫn đầu đoàn người đi qua những đàn tế tượng trưng cho năm cửa ngục. Nhà sư dừng lại. Tả hữu là hai tiểu đồng tay cầm hoa đăng nghiêng mình cúi lạy đàn tế. Chính lúc ấy, trống kèn, não bạt, thanh la, tiu cảnh.... đồng loạt vang lên bạo liệt kinh hồn. Tiết tấu dồn dập ấy chính là mở đầu cho một vũ điệu mau hoạt đến thần kì.

Nhà sư tay bắt quyết múa lượn uyển chuyển và dứt khoát, chân vẽ những hình vô định lên mặt đất. Khi khoan, khi nhặt, vũ bão rồi tĩnh tại, những thủ quyết được tung ra liên hồi như muốn gửi gắm lời cầu khẩn của chúng sinh tới Thích ca bằng cử chỉ của chính ngài. Bỗng một tiếng hét vang lên: “Phá cửa ngục!”, tức thì nhà sư múa trượng vòng tròn quanh chiếc bát úp dưới đất, dí vào trôn bát và di nó trên mặt đất theo hình những mật trú bí hiểm. Bất chợt, chiếc tích trượng giơ lên chọc tan chiếc bát. “Cửa ngục” đã được phá, từ ấy chúng sinh có thể thoát khỏi địa phủ lên trần hưởng lộc. Tiếng trống kèn lại vang lên, thúc nhà sư lần tái diễn màn múa lần lượt phá những cửa ngục còn lại. Là một nghi thức quan trọng, Đàn Mông Sơn hội tụ đầy đủ các làn điệu đặc trưng của âm nhạc nhà chùa và diễn ra trong nhiều ngày”.

Vậy, xét về ý nghĩa trong nghi lễ Phật giáo, “Trong chay ngoài bội”“Chạy đàn phá ngục” có liên quan nhau?  Hay chỉ là một nghi lễ mà Nam/Bắc có cách thể hiện khác nhau? Không am tường gì về Phật giáo, y không dám có câu trả lời. Chỉ nêu ra, biết đâu có người giải thích thì hay quá.

Mà này, khoảng thời gian nào, con người ta rãnh rỗi nhất, có thể ngồi nói liên tu bất tận, không thèm liếc mắt vào cái đồng hồ, bất chấp ngày lên đêm xuống? Thưa rằng, chỉ có thể là lúc cà kê dê ngỗng ngồi trong quán nhậu, khật khừ bên ly bia/ rượu, dẫu “Thơ suông nước ốc ngâm còn váng/ Rượu lạt non chai vẫn chén khà”. Thế đấy. Lúc ấy, nếu được đối ẩm với người am tường về vấn đề Phật học, được nghe họ giải thích cho thắc mắc trên thì tốt quá. Tiếc thay, khoảng thời gian ấy, hầu hết chỉ là những câu chuyện tầm phào mua vui, “buôn dưa lê” nhạt phèo, chẳng vào đâu cả. Nói như thế để làm gì? À, là một cách tìm ra cái cớ để từ chối cuộc rủ rê nhậu nhẹt chiều hôm qua. Thế là y đóng cửa thư phòng, lật sách mày mò tìm cách trả lời câu hỏi trên. Cuối cùng vẫn bí rị. Chưa tìm ra câu trả lời. Biết thế, chiều qua đi nhậu đàn đúm có phải hay hơn không?

Không, nhờ lật sách mới tình cờ đọc thấy một đoạn văn ngắn trong Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng.Lý thú lắm. Hãy đọc đi. “Ngoài sân chùa, ở giữa bày ba tầng án thư chồng lên nhau theo hình bậc thang. Hai bên cũng đều có án thư. Nến thắp linh tinh, ánh sáng phản chiếu vào những mặt kính tròn ở các mũ giấy bày la liệt, trong lấp lánh tựa những ngôi sao. Đêm nào các nhà sư cũng cắt lượt nhau tụng kinh đến tận hai, ba giờ sáng, hoặc ngồi ở chiếu giữa, hoặc đứng sát các án thư bên. Cứ xong một lần tụng niệm lại có đánh trống lớn, trống con, thanh la, não bạt, nghe rất là inh ỏi.

Đêm thứ ba vào đàn giải kết.

Sư cụ chùa Long Giáng vì già yếu, mà việc đàn chay lại khó nhọc, nên một đồ đệ của cụ là sư ông chùa Long Vân đứng chủ trương. Sư ông ngồi ở chiếu giữa, tụng kinh một lúc lại chạy vòng quanh đàn, nghĩa là đi lượn khắp các hàng án thư, theo nhịp nhanh hay chậm của tiếng trống và tiếng thanh la. Sau lưng sư ông gần hai chục người chạy theo, nào tiểu, nào vãi, nào thiện nam, tín nữ cùng là những người nhà sự chủ.

Ngọc đứng ngắm một tràng người, tay chấp ngực, chạy lượn khúc, quanh co, khi tiến, khi lui rất nhẹ nhàng, ăn nhịp như lăn trên đôi bánh xe nhỏ, lại tưởng tượng đến những người bằng giấy trong chiếc đèn kéo quân đêm hôm rằm tháng tám. Chạy xong một tuần, sư ông lại vào chiếu giữa múa mênh quyết ấn trông rất dẻo tay, rồi cầm kéo cắt những đồng tiền kết giấy thành hình người và treo lủng lẳng ở ba hàng dây giăng quanh bàn.Cứ mỗi lần lại cắt bốn, năm đồng kỳ cho hết là tan đàn”.

Qua những gì nhà văn Khái Hưng miêu tả, lại tự hỏi, có phải đây chính là nghi lễ “Chạy đàn phá ngục” đã diễn ra ở ngoài Bắc từ thập niên 1930?
 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 28.8.2017

tuoitre-kiemchung

 

 

Nhìn qua lãnh vực nào cũng thấy sai/sai phạm. Đó là đặc điểm của tháng ngày đang sống. Sai đâu cũng còn có thể sửa, chấn chỉnh làm lại, chứ sai ở lãnh vực giáo dục thì nguy quá. Ý kiến này chẳng mới mẻ gì. Xưa nay các nhà sư phạm đã bàn luận, tranh luận, trao đổi “nát nước” từ hội thảo đến hội nghị; từ nhà bếp ra phòng khách; từ quán cà phê, bia bọt nhì nhằng đến hội trường oang oang mi-cờ-rô...

Tóm lại, lãnh vực giáo dục đang “có vấn đề” là câu chuyện thời sự đang sờ sờ ra đó. Thời của ông Bộ trưởng nhiệm kỳ trước tuyên bố kỳ thi tuyển đại học là “Trận đánh lớn”. Nghe khiếp quá, y bèn viết cái tiểu phẩm đăng trên báo Pháp luật TP.HCM số ra ngày 22.8.2015. Kết thúc là mấy câu vần vè: “Quyết tâm! Quyết tâm! Quyết tâm!/ Hoan hô sự nghiệp trăm năm trồng người!/ “Đánh” ngược rồi lại “đánh” xuôi/ Thí sinh vật vã nếm mùi gian truân…”. Mùi gian truân ấy, đến đời Bộ trưởng sau, có gì thay đổi không?

Có câu hỏi, tự nó đã là câu trả lời.

Từ năm 1442, Tiến sĩ Thân Nhân Trung khẳng định: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà càng lên cao; nguyên khí suy thì nước yếu mà càng xuống thấp. Bởi vậy, các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo hiền tài bồi đắp thêm nguyên khí”. Câu nói này, thời đại nào cũng đúng và có tính phổ biến của toàn cầu, chứ không riêng gì suy nghĩ của người Việt Nam.

Thế thì, sự “bồi đắp thêm nguyên khí” hiện nay ra làm sao?

Sáng qua, đọc tờ báo Thanh Niên và kinh ngạc: “Một thầy cùng lúc hướng dẫn 44 học viên thạc sĩ của 3 chuyên ngành: Đây là một trong những sai phạm của Học viện Khoa học xã hội (KHXH) thuộc Viện Hàn lâm KHXH VN, trong tổ chức quản lý đào tạo sau ĐH mà kết luận thanh tra của Bộ GD-ĐT vừa chỉ ra”. Chỉ đôi dòng ngắn ngủi ấy, lại trở thành tiếng thở dài vô tận của bất kỳ ai quan tâm đến nền giáo dục nước nhà. Mà này, sai phạm này lại diễn ra ở một học viện thuộc Viện Hàn lâm KHXH VN lại càng kỳ quái. Xưa nay, nghe đến mấy từ “Viện Hàn lâm” lập tức trong trí óc con người ra nghĩ đến một cơ quan của trí tuệ, của học thuật; và của tất cả những gì sáng giá nhất thuộc lãnh vực văn hóa-giáo dục của một đất nước đó. Thế mà nó vẫn xẩy ra sai phạm tày trời. Cứ như đùa. Như giỡn chơi.

Bấy lâu nay, trên trang báo Tuổi trẻ điện tử có mở cuộc thăm dò: “Một số người có điều kiện kinh tế có xu hướng muốn bỏ ra nước ngoài làm ăn, sinh sống. Theo bạn, lý do chính là vì: Tìm cơ hội làm ăn tốt hơn/ Lo lắng về chất lượng môi trường/ Mong con cái được giáo dục tốt hơn/ Lý do khác”. Tính đến sáng ngày 28.8.2017 tạm thời kết quả như sau: “Tìm cơ hội làm ăn tốt hơn: 10,4%; Lo lắng về chất lượng môi trường: 18,5%; Mong con cái được giáo dục tốt hơn: 57,7%; Lý do khác: 13.4%”. Các con số này nói lên điều gì?

Có câu hỏi, tự nó đã là câu trả lời.

Từ năm 1334, khi định lại phép thi cử, vua Lê Thái Tông ra chiếu: “Muốn có nhân tài, trước hết phải chọn người có học, phép chọn người có học thì thi cử là đầu”. Lẩn thẩn đọc lại vài tài liệu cũ để xem thi cử ngày trước ra làm sao. Thời trước thi cử là thi Kinh nghĩa, thơ, phú... mà chuyện “văn mình vợ người” là phổ biến, chẳng có gì chuẩn mực khi chấm cả. Do đó, các thí sinh tin rằng chuyện đậu, rớt còn phụ thuộc vào âm đức của gia đình mình nữa, “học tài thi phận” là vậy.

Nếu thí sinh hoặc bố mẹ làm việc thiện thì khi vào thi sẽ được đấng “khuất mày khuất mặt” báo ân; còn nếu làm ác, dứt khoát bị báo oán, gặp nhiều rủi ro không lường hết được. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà trong trường thi Hà Nội thời Nguyễn, ngay gần nhà Thập đạo có dựng lên hai miếu thờ Báo Ân và Báo Oán. Lúc làm lễ tiến trường, người ta không quên đốt giấy vàng mã nghi ngút!

Khi gọi thi sinh vào trường thi, nghe câu đầu tiên khiến các thí sinh rợn tóc gáy: “Báo oán giả tiên nhập! Báo ân giả thứ nhập! Sĩ tử thứ thứ nhập!” (Ma báo oán vào trước! Ma báo ơn vào thứ hai! Các thí sinh theo thứ tự vào sau!). Sau khi họ vào xong, cửa khóa chặt lại và truyền tiếp một lệnh nghiêm ngặt: “Khẩn bế trường môn! Nội bất xuất, ngoại bất nhập, vi lệnh giả trảm!” (Đóng chặt cửa trường, trong không được ra, ngoài không được vào, kẻ nào trái lệnh sẽ bị chém đầu!).

Hai miếu Báo Ân và Báo Oán tại trường thi Hà Nội đã bị phá bỏ sau khi Pháp chiếm Hà Nội để lập Nha Kinh lược, tức Thư viện Trung ương ngày nay.

Từ câu hô trên, nhà văn Nguyễn Tuân hư cấu thành truyện ngắn Báo oán cực hay. “Ba năm trước, cũng ngày tế tiến trường năm Mão, cảnh trời đất cũng âm thầm gần bằng ngày này. Quan chánh chủ khảo khoa ấy, theo tục lệ quen của mỗi khoa thi, cũng cúng tam sinh khấn mời những oan hồn nên nhập vào trường trước hết mà báo oán trả thù. Rồi ông Ðầu Xứ vào trường, rồi oan hồn hiện lên ngay ở kì đệ nhất. Một người đàn bà trẻ, xoã tóc, ẵm con, hiện ngay lên dưới lều, ngay chỗ đầu chõng, kêu gào giữ rịt lấy tay không cho viết. Gào khóc chán, người đàn bà ấy lấy mớ tóc xoã quất vào mặt ông cứ bỏng rát lên và cười sằng sặc, lấy nghiên mực đổ vào quyển của ông. Lần ấy ông xin đổi quyển đến hai ba lần. Vẫn người đàn bà quấy nhiễu không tha, để quyển ông cứ tì ố mãi. Lúc gần chiều, ông nổi một cơn đau bụng hoắc loạn, phải bỏ dở kì thi, nhờ người dìu về nhà trọ. Thế là ông bay ngay kì kinh nghĩa. Một người đầu xứ hay chữ và được Quan Đốc khen ngợi luôn mà hỏng ngay nhất trường thì có thảm thương không”.

Tại sao ông Đầu Xứ bị báo oán? Nhà văn Nguyễn Tuân viết tiếp: “Biết là có oan hồn hiện lên cố phá không cho mình mở mặt với thiên hạ, ông để tâm tra xét chuyện nhà. Thì ra, lúc sinh thời, cụ Huấn đẻ ra ông đã phạm vào một việc thất đức. Lúc sinh thời cụ Huấn, cụ đã mang lấy trách nhiệm tinh thần về cái chết của một người nàng hầu tài tình nổi tiếng một thời. Người thiếp đó, lúc tự ải, đã có mang được sáu bảy tháng. Cái âm oán ấy còn theo đuổi ông mãi, nếu ông cứ còn lều chiếu ở cửa trường thi. Đấy là lời người thiếp đó lúc ốp vào con đồng khi phụ lên. Nàng xưng là cô và gọi ông Đầu Xứ Anh là nó, cười sằng sặc và giọng nói the thé: “Nó còn đi thi, cô còn báo mãi. Các người hỏi cô muốn những gì ấy à! Cô muốn, cô muốn nó phạm huý, cho nó bị tội cả nhà kia. Nhưng nhà nó cũng có một ông mãnh thiêng lắm, cô không tàn hại nó được như lòng cô muốn”. Con đồng chỉ lắc lư nói có thế, nếu có gặng hỏi thêm thi chỉ khóc hu hu rồi lại lăn ra mà cười như bị ma ếm. Ông Đầu Xứ lạnh đến tuỷ xương sống trong người”. 

Chỉ là chuyện hư cấu do nhà văn tưởng tượng? Không đâu. Mới đây, ngày 20.6.2015 tại TP.HCM, Hội thảo Khoa học về Đào Tấn do tỉnh Bình Định phối hợp với Bộ VHTT và DL, Hội đồng Lý luận phê bình VHNT,Trung ương, Hội Nghệ sĩ Sân khấu VN và Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc VN tổ chức kỷ niệm 170 năm sinh danh nhân Đào Tấn.

Thầy của Đào Tấn là nhà soạn tuồng Nguyễn Diêu, biệt hiệu Quỳnh Phủ, Cúc Ông - sinh 1821 tại làng Nhơn Ân, quận Tuy Phước (Bình Định).  Ngay thuở nhỏ, ông nỗi tiếng là người tài hoa và học giỏi nhất trong làng. Trong thời gian trọ học để tiếp tục lai kinh ứng thí, Nguyễn Diêu và con gái ông chủ nhà có thầm đính ước. Sau những lời thề non hẹn biển, cô thôn nữ đã trao cho ông cái ngàn vàng quý báu nhất của đời người con gái.

Năm tháng trôi qua… Ông thi đậu Tú tài năm Tự Đức thứ 13 (186O). Trước tin vui này, có người láng giềng sốt sắng gả con gái cho ông. Do không được biết chuyện tình thầm kín của con nên cha mẹ của Nguyễn Diêu đã nhận lời! Điều này khiến ông đau khổ hết sức. Đôi mái đầu xanh ôm nhau khóc nức nỡ. Lúc này, nàng có thai đã mấy tháng. Giữa tình và hiếu biết chọn bên nào? Đêm ấy, ánh trăng chênh chếch trên ngọn cây cau cũng nhợt nhạt như cảm thông với nỗi đau này. Gục đầu trên vai người mình yêu, nàng cất lên tiếng hát huê tình não ruột: “Từ ngày giấy rã hồ trôi/ Anh ngồi anh khóc, em ngồi thở than/ Nhạn xa chen bóng mây tàn/ Dưới khe nước chảy trên ngàn ve kêu/ Ra đi là sự đã liều/ Mưa mai ai biết, nắng chiều ai hay/ Dám đâu trách mẹ trách thầy/ Trách trời sao nỡ đọa đầy tấm thân!”.

Nước mắt Nguyễn Diêu cũng rơi lã chã! Bóng trăng mờ nhạt dần. Nguyễn Diêu bịn rịn chia tay với người tình. Ông bước chân chạy thật nhanh, nhưng tiếng khóc của nàng tưởng chừng như đang níu ông quay trở lại. Từ đó, ông không còn gặp lại nàng nữa. Ngày ông cắn răng phụ tình, vui duyên mới làm tròn chữ hiếu để làm vừa lòng cha mẹ. Đó cũng là ngày nàng kết liễu đời mình. Nàng đã nhảy xuống giếng tự tử. Nhận được hung tin, Nguyễn Diêu rất đau khổ. Nỗi ám ảnh về nhan sắc người tình đầu tràn ngập trong tâm trí của ông.

Lạ thay, sau đó, cứ mỗi lần lều chõng vào trường thi Bình Định thì ông lại thấy nàng. Trước mắt ông là người con gái bồng con, nét mặt tiều tụy buồn thương. Nàng trân trân nhìn ông như oán, như trách. Ông khiếp vía muốn kêu lên nhưng lưỡi cứng đờ như đeo đá. Đứng nhìn sững ông trong giây lát, nàng biến mất. Nguyễn Diêu không còn tâm trí nào để làm bài nữa. Có kỳ thi bài làm của ông rất hay nhưng lại phạm húy, có kỳ thi đã làm xong bài thì lại bị vấy mực nên khoa thi nào ông cũng trượt.  

Người đàn bà tội nghiệp ấy, chính nàng đã tạo nên nguồn cảm hứng  để Nguyễn Diêu vở tuồng bất hủ Ngũ Hổ Bình Tây. Về sau, nhà văn hóa Đào Tấn - ông vua nghệ thuật tuồng Việt Nam có làm lễ trước bàn thờ thầy xin sửa một đoạn trong vở tuồng để từ đó, Ngũ Hổ Bình Tây trở thành viên ngọc không tì vết. Nguyễn Diêu mất năm 1880.

Từ cuộc đời cụộc đời của Nguyễn Diêu, nhân vật của Nguyễn Tuân đã nhắc nhở ta điều gì?

Có nhiều ca dao, thành ngữ liên quan đến lãnh vực giáo dục nước nhà. Chỉ đơn cử câu: “Sinh đồ ba quan”? Hiểu ra làm sao? Tra nhiều sách giải thích về thành ngữ lại thấy bỏ sót. Không chỉ là chuyện chữ nghĩa, nó còn liên quan đến chuyện thi cử của một thời, dẫu ai cũng biết sinh đồ là học trò, là người đỗ Tú tài thời Lê, nếu không có kiến văn làm sao tường tận?

May quá, trong Khoa mục chí của bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí, nhà bác học Phan Huy Chú có đoạn: “Năm 1750, cho mọi người nộp tiền vào thi Hương. Trước đây, khi mới trung hưng, mỗi người đi thi nộp 5 tiền gọi là tiền thông kinh, để chi tiền ăn cho Hiệu quan ở huyện. Từ thời Thái Bảo thi hành phép điệu, phí tổn về tiền thi đều lấy ở tiền công, tiền thông kinh này cũng nộp nhưng để chi phí vào việc làm trường và sắm đồ dùng cho quan trường. Đến bấy giờ, Thự phủ Đỗ Thế Giai cho rằng dụng binh tiêu phí nhiều, tiền tài Nhà nước thiếu thốn, cho mỗi người nộp tiền 3 quan, không phải khảo hạch, đều được vào thi, cũng gọi là tiền thông kinh. Vì thế, người làm ruộng, người đi buôn cho chí người hàng thịt, người bán vặt cũng đều làm đơn nộp tiền xin thi cả. Ngày vào thi đông đến nổi giày xéo lẫn nhau, có người chết ở cửa trường. Trong trường thi, nào mang sách, nào hỏi chữ, nào mượn người thi thay, thay nhau làm bậy, không còn biết phép thi là gì”.

Sự việc tồi tệ này diễn ra vào lúc Minh Vương Trịnh Doanh đem quân đi đánh Nguyễn Doanh Phương. Lúc thắng trở về, nghe tin này xôn xao trong dư luận, ông giận quá bắt các ông Hương cống phải thi lại hết. Kết quả là hơn phân nửa bị rớt. Từ  đó, trong dân gian mới câu mỉa mai “Sinh đồ ba quan” là vậy. Sau này, dưới đời vua Quang Trung, thay mặt nhà vua viết “Chiếu về việc lập nhà học”, danh sĩ lỗi lạc Ngô Thì Nhậm cũng chống lại việc nộp tiền để được đi thi Hương và ấn định: “Sinh đồ ba quan nhất thiết bắt về làm dân, cùng dân chịu sưu dịch”.

Sáng nay, đọc bài Điểm học bạ lớp 12: “ảo” tung chảo trên báo Phụ Nữ TP.HCM có đoạn: “Điểm học bạ của học sinh lớp 12 toàn khá giỏi và xuất sắc nhưng kết quả thi trung học phổ thông lại rôi nhiều như sung rụng. Độ vênh về điểm số từ hai kỳ thi này vô tình làm lộ việc cho diểm “ảo” ở các trường THPT và các trung tâm giáo dục thường xuyên TP.HCM”.

Chỉ riêng tại TP.HCM? Không đâu. Vậy, trích dẫn thêm thông tin đi chứ? Nghe câu hỏi ấy, y lại nhớ đến một câu thơ của Tú Xương. Câu gì vậy?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 23.8.2017

bo-truong-1503029601bui-thanh

 

Nhiều sự kiện thời sự đang diễn ra. Lẽ nào không ghi nhận? Đã từng dặn dò như thế, nhưng rồi lại tự nhủ cứ nhắm mắt, bịt tai cho nó nhẹ nhàng cái sự đời. Biết thêm mà không bàn ra môn ra khoai, không có chính kiến rõ ràng, không thay đổi được thì biết để làm gì? Để thêm nặng đầu chăng? Rồi có lúc ghìm lòng không đặng, buông ra tiếng chửi thề cho khoay khỏa bực bội thì chẳng ra làm sao. Mà nhắm mắt, bịt tai có phải là một sự lựa chọn khôn ngoan?

Gần đây, theo ghi nhận của y đã có một bài báo viết rất ngắn, chỉ 92 từ, nhưng lại tạo hiệu ứng đồng tình nhiều nhất trong dư luận. Đó là bài báo Xin nói thẳng với Bộ trưởng - in trong chuyên mục Thời sự & và suy nghĩ của báo Tuổi Trẻ số ra ngày 18.8.2017. Đồng nghiệp Bùi Thanh viết: “Đã 17 ngày trôi qua và bây giờ chỉ có thể nói thẳng với ông Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải: phải bỏ ngay trạm thu phí Cai Lậy trên quốc lộ 1 và truy cứu trách nhiệm những người liên quan! Hãy chấp nhận sửa sai, chứ không thể tiếp tục đối phó dư luận và bảo vệ điều phi lý. “Một Chính phủ kiến tạo, liêm chính và hành động”. Những gì diễn ra ở trạm thu phí Cai Lậy rõ ràng đang đi ngược lại thông điệp này, thưa Bộ trưởng!”.

Chỉ có thế.

Một tiếng nói dứt khoát. Mạnh mẽ. Liệu chừng sau này, khi đọc lại bài báo trên, thế hệ sau có thể hình ra những gì đã xẩy ra ở trạm Cai Lậy (tỉnh Tiền Giang)? Tại sao không? Chỉ cần một cú click chuột ngay trên bàn phím, một thao tác nhỏ trên điện thoại là xong. Trước sự thu phí vô lý ấy, cánh tài xế đã phản ứng bằng cách không chỉ dùng tiền có mệnh giá nhỏ, họ còn vò các tờ tiền nhàu nát rồi bỏ vào chai nhựa. Muốn thu tiền ư? Cứ thế nhé. Rất mất thời gian. Có lúc trạm thu buộc phải “xả cửa” hướng miền Tây đi Sài Gòn để giảm bớt ùn tắc. Kể ra các tài xế cũng có máu hài hước. Phản ứng thông minh, tinh quái và tháu cáy.

Còn có những gì nữa không? Tất nhiên còn. Còn nhiều lắm. Mà thôi. Việc liệt kê sự kiện theo dòng thời sự, xin dành cho các nhà sử học, các vị ghi chép thành nhiều tập sách như Chuyện từng ngày mà ông Đoàn Thêm đã thực hiện tại miền Nam trước 1975. Còn y thì sao? Lại vẩn vơ chìm đắm vào cái cõi riêng tư đang quan tâm. Ai cũng có cái quyền ấy, tùy theo lựa chọn của mỗi người. Cũng tỷ như người thích Boléro, kẻ thích dòng nhạc khác, bình thường thôi, chẳng gì phải mạt sát, tranh luận hơn thua. Mỗi người có một gu thẩm mỹ, dù không đồng tình nhưng việc gì phải chê bai, khích bác, đả kích, châm chọc? Nói như thế vì dư luận hiện đang dấy lên cuộc tranh luận giữa hai phe thích/không thích Boléro. Liệu có cần thiết không? Không. Xã hội còn nhiều, rất nhiều vấn đề sát sườn hơn, đang cần phải có tiếng nói tranh luận, phản biện, cần có tiếng nói hợp ý tâm đầu. Nhưng rồi, thế nào?

"Rộng thương cỏ nội hoa hèn

Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau"

Nghe lời vừa ý gật đầu

Cười rằng: "Tri kỷ trước sau mấy người?"

Ấy là lúc Thúy Kiều đối đáp cùng Từ  Hải. Lại quay về cái cõi thư hương bộn bề sách vở. Phủi lớp bụi mờ trên trang sách, bước vào đó, sẽ là gì? Chẳng là gì cả. Không khéo lớp bụi mờ ấy cũng phủ nốt lên hình hài của chính y đấy thôi. Chấp nhận nó đi. Tháng rộng ngày dài? Tháng cùn ngày mủn? Chẳng rõ. Luôn nghĩ rằng, đọc cũng là học. Sách vở quá nhiều, đọc làm sao hết. Có người đã đọc và viết lại. Mình đọc của họ cũng là học.

Ca dao có câu: “Một mai trống thủng khó hàn/ Dây dùn khó đứt, bạn lan khó tìm”. Bạn lan là bạn ra làm sao? Theo Việt Nam từ điển (1971) do Lê Văn Đức biên soạn, Lê Ngọc Trụ hiệu đính: “Bạn lan: Bạn tốt, bạn quý”; Phương ngữ Nam bộ của Nam Chi Bùi Thanh giải thích: “Người bạn quân tử đáng quý như hoa lan”. Từ này, nay không mấy ai sử dụng nữa, kể cả “bạn ngọc": “Mặt đất láng nguyên tự nhiên cây cỏ mọc/ Bởi phận tôi nghèo, bạn ngọc có đôi”, Đại từ điển tiếng Việt (1999) không ghi nhận, đã thay thế bằng bạn lòng, bạn vàng, bạn tình.

Có những câu ca dao, dù đọc thoáng qua/đọc kỹ bao giờ trong lòng cũng dội lên một nỗi niềm trắc ẩn. Rười rượi buồn. Thăm thẳm nhớ. Nhưng rồi biết tâm tình cùng ai. Tội nghiệp nhất vẫn là những cô nàng sống trong tâm cảnh: “Chàng buồn có chốn thở than/ Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya”. Có thể xếp vào những câu ca hay nhất trong kho tàng văn chương Việt Nam. Một cách nói dịu vợi đến nao lòng. Không hề than trách bạn tình. Chỉ mình mình biết. Chỉ mình mình hay. Đốm lửa nhỏ nhoi của ngọn nhang hắt hiu ấy, gợi lên một không gian quạnh quẽ. Im ắng lạ thường. Tĩnh mịch. Cô độc nhất vẫn là lúc nhìn ngọn khói lãng đãng, tan loãng trong đêm hôm khuya khoắt. Rồi ngọn nhang sẽ tàn. Đốm lửa sẽ tắt. Biết lấy gì làm bầu bạn? Đêm dài vẫn dài. Gà chưa gáy sáng. “Nửa đêm về sáng, đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi”. Cố nhân cũng đồng nghĩa với “bạn lan”: Ðêm nằm ôm gối thở than/ Gối ơi là gối con bạn lan nó xa rồi”.

Tiếng kêu ấy, chỉ là viên sỏi ném xuống lòng sông dài rộng mênh mông. Đêm tối đen. Ai nghe lấy một tiếng lòng nức nỡ?

Còn nhớ chừng mươi năm trước khi đến Đà Lạt, có thăm một xưởng thêu nọ. Quan sát nhìn thấy các cô thợ trẻ cắm cúi, chăm chú, nhẫn nại, tỉ mỉ từng đường kim mũi chỉ. Không nói không cười. Lặng lẽ. Không biểu hiện một sắc thái gì trên gương mặt. Cứ như thể họ đang sống ở một thế giới khác. Chỉ chú tâm miệt mài cùng công việc, bất chấp mọi tiếng động ồn ào xung quanh. Lạ quá. Tại làm sao họ lại có được tâm thế ấy? Đã nhà báo lấy thông tin viết bài, đã nhà văn lấy chất liệu phân tích tâm lý nhân vật thì phải tìm hiểu căn kẽ, biết cách gợi chuyện. Sau đó, y mới biết rằng: Một khi đã vào làm việc nơi này, họ được ông chủ dành cho khoảng thời gian để thực hiện xong hai việc riêng tư, trọng đại nhất đời người. Sau khi đã làm xong phần việc ấy, bây giờ với họ chỉ còn công việc và công việc. Hai việc đó là gì? Là thêu xong hai bao gối. Một, bọc lấy cái gối đêm tân hôn; và một, bọc cái gối kê đầu lúc nằm trong cỗ quan tài.  

Nghe mà rờn rợn.

“Ðêm nằm ôm gối thở than/ Gối ơi là gối con bạn lan nó xa rồi”. Lúc thất tình não nùng, xa cách tuyệt vọng, trong đêm khuya quạnh vắng ấy, chỉ có chiếc gối và ôm lấy gối. Không phải ngẫu nhiên, quan hệ giữa bạn tình, bạn trăm năm, bạn lan, bạn ngọc được gọi “Đầu ấp tay gối”. Cụm từ ấy, đã là một sự gắn bó chặt chẽ. Đằm thắm. Quấn quýt. Có đôi có lứa. Khó có thể tách rời. Rồi lúc “Biệt ly nhớ nhung từ đây/ Chiếc lá rơi theo heo may”, niềm an ủi còn sót lại vẫn là cái gối.

Còn là cái gì nữa? “Chàng về để áo lại đây/ Áo thời thiếp mặc, gối mây đợi chờ”. Tại sao lại là áo? Chỉ vì có mùi thương, mùi nhớ, mùi ăn nằm, mùi ân ái, mùi chung chạ…, nói gọn lại là mùi hương đã từng có nhau. Quyện lấy nhau trong hơi thở đầm đìa thân xác. Ông Nguyễn Du đúng là bậc thượng thừa, tuyệt đỉnh kongfu phân tích về tâm lý, thói quen của sự nồng nàn chăn gối ấy: “Hương gây mùi nhớ”. Từ “gây” cực kỳ chuẩn xác. Là sự gợi lên, nhóm lên, nhen lên. Có những việc đã qua, đã quên, đã chìm sâu trong tiềm thức, đã thất lạc trong ký ức thế nhưng chỉ một mùi hương cũ thoáng đến, thoáng qua dù vô tình hay cố ý đều khiến con người ta nhớ lại mồn một. Nhớ rõ nét. Nhớ từng chân tơ kẽ tóc.

Khốn khổ chưa?

Hạnh phúc chưa?

Cô nàng trong câu ca dao hàng ngàn năm trước, “Áo thời thiếp mặc” để “tưởng nhớ mùi hương:”, nàng còn đặt đầu trên chiếc gối mây. Có phải đây là chiếc gối làm bằng song mây từ cây mây? Có thể lắm. Tùy theo vật dụng mà người ta đặt tên cho chiếc gối ấy. “Gối rơm theo phận gối rơm/ Có đâu dưới thấp mà chờm lên cao (Lục Vân Tiên), là cái gối nhồi rơm, đệm bằng bàng,  còn gọi gối đệm. Tùy theo hoàn cảnh sang giàu, nghèo khó, ai cũng có chiếc gối. Sung sướng, hoan lạc, tình nghĩa nồng nàn nhất vẫn là “Đầu ấp tay gối”. Thê thảm, rầu rĩ nhất vẫn là những ai “Gối đất nằm gai/ Gối tuyết nằm sương”. Thương thay cho “Người đi kẻ ở”, lúc ấy gối đầu vào tay ai?

Đến một độ tuổi nào đó, người ta lại nhận ra rằng, chính Huy Cận thời trai trẻ lại nói hộ lòng mình lúc đã bước qua lứa tuổi xế chiều. Lúc 18, đôi mươi, nhựa đời rạo rực. Men tình dạt dào trong từng thớ máu. Tim còn đập nhịp Tango. Co chân nhảy một cú là chạm tay đến trời xanh. Làm sao có thể cảm thông: “Cơn gió hiu hiu buồn tiễn biệt/ Xa nhau chỉ biết nhớ vơi ngày/ Chiếu chăn không ấm người nằm một/ Thương bạn chiều hôm, sầu gối tay”. Đầu mình gối lấy tay mình. Cô độc quá.

Cụ Nguyễn Du tâm lý lắm. Bao dung lắm. Dù rằng, nàng Kiều đã “Thân sao bướm chán ong chường bấy thân”, nhưng khi đến với Thúc Sinh, cụ vẫn dành cho những câu thơ tình hay nhất. Lâm ly nhất. Cảnh biệt ly giữa đôi bạn lan này, tuyệt đẹp. Rất ấn tượng. Và chỉ diễn ra đúng một lần. Không lập lại. Lúc ly biệt của mối tình son sắt ấy, ngay cả thiên nhiên cũng động lòng. Không đứng ngoài cuộc. Và vầng trăng đêm ấy là “nhân chứng”, đã chứng kiến cũng bùi ngùi, thương xót họ đến độ phải an ủi bằng cách: “Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường”. Câu thơ ấy, còn là gì? Là ngầm ý tán thành của cụ Nguyễn dành cho mối tình Thúc Sinh - Thúy Kiều.

“Ðêm nằm ôm gối thở than/ Gối ơi là gối con bạn lan nó xa rồi”. Có lúc nào đó, khi đọc sử, chẳng hạn đọc Đại Nam thực lục, bắt gặp từ “ôm gối” ta cũng hiểu như đã từng hiểu chăng? Không đâu. Còn nhớ đã khá lâu có đọc bài báo của nhà nghiên cứu Bùi Thị Mai (Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV), nhan đề Lễ “ôm gối” dưới triều vua Minh Mạng qua mộc bản. Cứ tưởng “ôm gối” là… “ôm gối”. Nhâm to rồi đấy cưng. “Gối” ở đây lại là “Khoanh tay bó gối/ Mỏi gối chồn chân”; “Ví dù theo thói người ta/ Uốn lưng, co gối cũng nhơ một đời” (Nhị độ mai).

Vậy, lễ “ôm gối” là gì?

Cứ vào Đại Nam thực lục và nhiều tài liệu khác, nhà nghiên cứu Bùi Thị Mai cho biết lễ này - tên gọi theo chữ Hán là “bão tất”, chỉ diễn ra dưới thời vua Minh Mạng. Năm 1835, lúc quân triều đình dập tắt được cuộc chống đối của các dân tộc ít người vùng Tây Bắc do Nông Văn Vân - thổ ty châu Bảo Lạc cầm đầu. Nhà vua xuống Dụ: “Trải qua mọi gian hiểm mới nên được công to. Tuy là bổn phận của đạo tôi con phải làm nhưng vì nước khó nhọc, làm ta bớt mối lo ở phương Bắc. Trẫm lẽ nào quên đi mà không hậu đãi, ngoài việc ban công ban thưởng, phong tước đền công đã có Dụ thi hành rồi, nay cho bộ Lễ bày nghi lễ, chọn ngày tốt, trẫm ngự ở cửa Đại Cung, cho các quan đại thần lui quân về vào chầu và cho Phạm Văn Điển, Tạ Quang Cự, Lê Văn Đức làm lễ ôm gối để tỏ ý trẫm coi như Hoàng tử vui đùa dưới gối. Đây là cái lễ trẫm mới nghĩ ra, mà vì tình thì rất thân yêu, ở chỗ tình lễ vua tôi, không còn gì hơn nữa”.

Ý nghĩa lễ này, gói trọn trong câu: “để tỏ ý trẫm coi như Hoàng tử vui đùa dưới gối”. Câu “huynh đệ chi binh” hoàn toàn phù hợp với lễ “ôm gối”. Về sau các vua nhà Nguyễn không duy trì nữa, tuy vẫn ban thưởng, phong tước cho người có công. Thích thú với thông tin này, bèn tự cười: “Sao bây giờ mới biết? Sách vở nhiều cho lắm, nếu không đọc, nào ích lợi gì?”. Nghe thế, bèn cãi: “Chẳng sao. Biết đâu nhờ đọc của người khác, rồi sẵn sách vở đã có, kiểm tra lại thì cũng tốt thôi”. Đúng thế, tài liệu hiện nay không thiếu, cứ cậy nhờ ông Google là xong, Nhưng xin chớ chủ quan, phải kiểm chứng lại từ tài liệu gốc cho chắc ăn.

Tất nhiên.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 4 trong tổng số 52

trinhduyson