LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 13.4.2017

Con_duong_xua_em_di_Chau_Ky__Ho_Dinh_Phuong_1

Ngày vẫn ngày. Vẫn thế. Vẫn xuống phố mỗi ngày. Sài Gòn, đường phố thông thoáng hơn. Tạo nên tình yêu sâu đậm, những dấu yêu không thể phai nhạt theo năm tháng, với nhiều người còn là một góc phố nhỏ đã gắn liền với năm tháng hoa niên. Nơi ấy, chẳng có gì ghê gớm lắm đâu, có thể là một vòm cây xanh mát, một gánh hàng rong ăn vặt, một xe bán hủ tiếu, một sạp báo tuềnh toàng…. Bỗng chốc, tất cả được “nhổ/bứng” đi sạch sẽ, trống huơ, trống hoác, dẫu có thoáng đãng hơn nhưng rồi ta lại cảm thấy xa lạ, lạc lõng. Mới đây thôi, trên con đường Lý Chính Thắng có khá nhiều sạp báo. Muốn mua tờ báo nào cũng dễ dàng. Nay, đã mất hút. Nếu còn, chỉ là một chỗ ngồi túm tụm, nhiều tờ báo nhét vào cái thùng nhỏ xíu đặt sát vách tường, không còn bày biện như trước nữa. Đôi lần đi ngang qua, lại nhớ đến câu thơ của Tú Xương:

Cô hàng bán sách lim dim ngủ

Thầy khoa tư lương nhấp nhổm ngồi

Chỉ đúng ở vế sau. Nhốp nhổm bởi sợ bị phạt chiếm lòng lề đường. Sực nghĩ, khác với không gian của miền quê đã cố định với đặc thù cây đa, bến nước, sân đình… thì hồn của một phố thị chính là nơi góc phố nhỏ ấy, dù chật chội, dù chen lấn, dù gì đi nữa thì nó cũng là một phần máu thịt, đã trở thành ký ức của con người đã quen thuộc nơi ấy. Đừng nói đâu xa, với con người Sài Gòn, mỗi góc phố, dù có khác nhau đến đâu thì cũng gắn liền với những tiện ích mà nơi khác khó có được. Tiện ích ấy đã hình thành, đã gắn liền với tính cách văn hóa, nếp sinh hoạt hằng ngày của họ và cũng từ đó, họ có thể kiếm sống mỗi ngày.

Không phải sinh ra tại Sài Gòn nhưng đã gắn bó hơn nửa đời người tại vùng đất này, do đó, y đã nhiễm thói quen: ở góc phố này, trong lúc chờ đèn đường xanh, đỏ chỉ cần í ới một tiếng, ngay lập tức đã có người bán sạp báo gần đó đưa tận tay những tờ báo mới. Nhanh, gọn, lẹ. Không mất thời gian. Nơi góc phố kia, trưa nắng chói gắt, tạt ngay vào lề đường là có ngay ly nước mía mát rười rượi… Đại khái thế. Phong cách sống của người Sài Gòn là thế. Thật ra, bất kỳ thành phố nào trên quả địa cầu này cũng mang nét đặc thù riêng biệt, có như thế mới tạo nên diện mạo/ hồn của thành phố đó. Mà dù có bất cập đi nữa, nhưng cũng khó có thể xóa bỏ theo suy nghĩ chủ quan duy ý chí.

Làm sao có thể thay đổi được hồn của những con phố đã định hình ngay từ trong tập quán, thói quen, nền văn hóa của cư dân bản địa? Nếu muốn, phải bắt đầu từ một sự chuẩn bị khác, trước nhất, không phải bài toán kinh tế cho những số phận kiếm sống gắn liền với góc phố đó, dù là cần, nhưng điều cần hơn vẫn là chuẩn bị một quy hoạch chu đáo về hạ tầng đầy đủ điều kiện nhằm đáp ứng hữu hiệu, hợp lý cho việc thông thoáng đó.

Nghĩ ngợi linh tinh lang tang vẫn là thói quen của mỗi ngày. Nghĩ và viết. Ngày tháng trôi qua, chỉ có thế. Nhưng rồi đôi lúc cảm thấy mệt mỏi, ngao ngán vì có những vấn đề khó có thể viết cặn kẽ hết mọi ý tứ. Hôm nọ, ăn phở nhắc lại ý kiến này với Ngô Kinh Luân, hắn ta bảo: “Bổn phận của trí thức vì tinh thần xây dựng mà phải nói, dù rằng, tiếng nói ấy chẳng có ai nghe”. Rồi cả hai lại nhớ đến đoạn văn trong tập Việt Nam nghĩa liệt sử, in năm 1918. Tập sách chữ Hán này ghi soạn giả Đặng Đoàn Bằng, tu đính giả Phan Thị Hán, khi dịch ra tiếng Việt nhà nghiên cứu Tôn Quang Phiệt xác định “do nhiều người góp lại, trong đó Phan Bội Châu đã góp phần nhiều (NXB Văn Học -1972, tr.7).

Dù đang phở thơm ngon, nghi ngút khói, tái nạm vè gầu gân thơm nức mũi nhưng cả hai vẫn ngưng đũa, đồng thanh du dương như đứa trẻ mẫu giáo học thuộc lòng: “Ông đi khắp thôn quê thị thành, mưa nắng không nài để nói chuyện với dân chúng. Lúc thì kể chuyện Đông sang Tây, từ nhỏ đến lớn, vạch rõ các tập tục hủ lậu của nước ta, ngu hèn yếu đuối của dân ta và tỏ lòng đau xót. Ông nói như hát như khóc, như cười như mắng. Xét về kết luận thì công kích cựu học, khuyến khích dân tộc, khai thông dân trí đề xướng dân quyền, chỉ mấy việc ấy thôi, lúc đầu ông diễn giải, nhân dân người ta ít vui lòng nghe, có lúc họ cho ông Bất Nhị đã phát điên. Nhưng ông là một ngôi sao trong học giới có danh vọng lúc bấy giờ, một người quân tử, nên càng được quần chúng tín ngưỡng. Ông đã trở thành người chuyên đi tuyên truyền, giải thích không mệt mỏi để mở mang dân trí nên càng ngày nhân dân ta càng hoan nghênh ông. Vì thế các cuộc nói chuyện càng lâu càng đông người nghe. Ông lại càng nỗ lực làm việc. Có lúc đang giữa trưa, đi chân không lún dưới bùn, đứng dưới trời nắng chang chang mà vẫn nói chuyện, thao thao bất tuyệt, mồ hôi đầm đìa mà vẫn không dùng quạt. Nhờ ông diễn giải nhiều nên các danh từ “dân quyền”, “công lý” rộng khắp dân gian, người Pháp rất là căm ghét”. (Bản dịch Tôn Quang Phiệt - NXB Văn Học,1972).

Ấy là đoạn văn viêt về chiến sĩ Duy tân Trần Quý Cáp (1870 - 1908), người làng Bất Nhị ở huyện Điện Bàn (Quảng Nam). Đọc sử, còn là một cách noi gương tiền nhân. Thừa biết thế, nhưng y còn lâu, không đáng xách dép cho cụ Trần. Nói như thế, bởi có nhiều thông tin hằng ngày cần ghi lại như rồi y cũng nhắm mắt, bịt tai, làm lơ cho nó xong, cho nhẹ nhàng tâm trí. Sức mấy dám nói.

Mấy hôm nay, lãnh vực văn hóa nghệ thuật có gì đáng quan tâm không? Thoáng đó, đã một tuần trôi qua cái vèo. Hôm nọ, Đoàn Tuấn nhắn tin đã vào Sài Gòn vì giải thưởng Cánh diều vàng. Hắn ta bảo, mỗi ngày phải ngồi xem phim ròng rã đến mỏi mắt, nay mọi việc đã kết thúc. Điều gì còn đọng lại? Y chẳng rõ vì không quan tâm lắm đến chuyện giải thưởng, còn  anh em đồng nghiệp lại hay “tám” chuyện ngoài lề: đạo diễn của bộ phim Cha cõng con trả lại Giấy khen cho ban giám khảo, chỉ vì không đồng ý với kết quả. Trong khi đó, giải thưởng cụ thể ra làm sao, tác phẩm nào đoạt giải chính thức, nội dung, thủ pháp nghệ thuật, bút pháp có gì mới v.v… chẳng nghe ai bàn tán đến. Các giải thưởng thường niên nói chung của các hội, đoàn ngày càng nhạt từ trong sự quan tâm của công chúng.

Lại sực nghĩ, ở trên đời những gì thuộc về xì can đan, giai thoại, việc làm có tính cách khác thường… thì mọi người hay bàn tán nhiều hơn chăng? Nói như thế, vì mới đây có 5 ca khúc bỗng dưng được nhắc đến với tần số chóng mặt trên các mạng xã hội, báo chí. Ca từ, giai điệu hay, dở thế nào, chưa bàn đến nhưng rõ ràng, đã có nhiều người biết đến, nhớ lại chỉ vì một lệnh cấm khôi hài. Các ca khúc bị Cục Nghệ thuật biểu diễn (Cục NTBD) tạm dừng lưu hành bao gồm: Cánh thiệp đầu xuân (Lê Dinh - Minh Kỳ), Rừng xưa (Lam Phương), Chuyện buồn ngày xuân (Lam Phương), Đừng gọi anh bằng chú (Diên An), Con đường xưa em đi (Châu Kỳ - Hồ Đình Phương). Lý do cấm chỉ vì “những ca khúc này đều bị sai lời, thậm chí có những ca khúc bị thay lời khác”.

Vấn đề đặt ra một cách nghiêm túc, làm sao có thể tìm cho được bản gốc của tác phẩm, với chữ ký của tác giả? Đồng nghiệp trên báo Lao Động  ngày 5.4.2017 đặt câu hỏi: “Nhiều độc giả bày tỏ sự hoang mang, vì trong khi Cục NTBD đưa ra lý do “cấm” là vì các ca khúc này bị sửa lời, sai tên tác giả, vi phạm nghiêm trọng các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan, nhưng lại không công bố bản gốc để khán giả so sánh, đối chiếu và phân biệt với dị bản. Trong trường hợp không tìm được bản gốc thì chẳng lẽ khán giả, người nghe sẽ mãi mãi không được thưởng thức ca khúc này trên sân khấu ca nhạc trong nước?”.

Với lý do cùi bắp, không tưởng của Cục đưa ra, dư luận đã phản ứng dữ dội, nếu thế, ngay cả Dạ cổ hoài lang và hàng loạt ca khúc khác cũng bị cấm nốt. Cứ cái đà này, ngay cả Truyện Kiều, ca dao, tục ngữ cũng cấm tiệt vì không chấp nhận một tồn tại hiển nhiên đó là dị bản của nó. Ối dào, vấn đề trầm trọng này, thiên hạ bàn tán nát nước, y không nhắc lại và biết chắc chắc rằng, với quyết định ngớ ngẩn trên Cục Nghệ thuật biểu diễn đã bị “ném đá” tơi bời. Chưa dừng lại đó, Cục Nghệ thuật biểu diễn lại cho rằng, ca khúc Nối vòng tay lớn muốn hát phải xin phép, vì nó chưa được đưa vào dnah mục các bài hát được phép phổ biến.

Giọt nước đã tràn ly.

Ca khúc trên, theo báo chí cho biết đã từ lâu đã được chọn đưa vào sách giáo khoa âm nhạc lớp 9 (tập 1). Và ghi nhận rất rõ: “Bài hát Nối vòng tay lớn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là tiếng nói tình cảm của những người VN yêu nước, mong muốn cùng nắm tay, kề vai sát cánh bên nhau để tạo dựng cuộc sống yên vui, thanh bình vươn tới mục tiêu cao cả vì một đất nước VN thống nhất, độc lập, hòa bình, hạnh phúc”. Vậy đó. Không phải ngẫu nhiên, trên báo chí gần đây đã có nhiều ý kiến, bài viết tâp trung phân tích các quyết định của Cục.

Theo thông tin từ báo Tuổi Trẻ, tính đến nay, chỉ mới có 2.586 bài hát được phép phổ biến! Con số ấy, nói lên điều gì? Việc cho phổ biến lại các ca khúc sáng tác tại miền Nam trước năm 1975 nên thực hiện như thế nào? Câu hỏi này, từ hơn 10 năm trước đã đặt ra và nay vẫn còn lặp lại lần nữa. Nó còn kéo dài đến bao giờ? Tự dưng lại nhớ về một kỷ niệm đã cũ có liên quan đến nhà thơ Vũ Hữu Định. Câu thơ anh viết: “Mai xa lắc trên đồn biên giới”, Phạm Duy giữ nguyên khi phổ nhạc. Thế nhưng cũng vì chữ “đồn” mà nó bị ách lại. Lúc ấy, bạn thơ Đông Ky Rét có quyên tiền thân hữu in tập thơ gồm cả di cảo của Vũ Hữu Định, từ chữ “đồn” đã được biên tập thành “đồi” để sách có thể xuất bản. Thật ra, phải thừa nhận rằng, với văn hóa không thể chấn chỉnh, điều hành, định hướng bằng các biện pháp hành chánh. Cấm hoặc không, tự nhu cần thẩm mỹ của bản thân người thưởng thức, tiếp nhận đã là câu trả lời thuyết phục nhất.

Trưa nay, nằm đọc tập san Áo Trắng số tháng 3.2017. Dừng lại với truyện ngắn Nấm mồ côi của nhà văn Đoàn Thạch Biền. Tưởng rằng ấy là một cách chơi chữ. Không phải, nhân vật Long cho biết: “Độc và đẹp thường đi chung với nhau. Ông thấy cây nấm nào bụ bẫm, to hơn bình thường, mũ nấm phớt hồng xin đẹp chứ không có màu xám tro, đó là nấm độc. Cây nấm độc thường mọc một mình, chung quanh nó không có cây nấm nào khác, có lẽ chính bọn nấm lành cũng sợ bị lây độc”. Chi tiết này có thật hay không? Chưa bàn gì sâu vào nội dung, với chi tiết là lạ này (ít ra với y) cũng là sự hấp dẫn.

Với ý kiến trên, nhân vật xưng tôi phát biểu: “Tôi muốn gọi nấm độc là nấm “cô đơn”, vì nó phải đứng lẻ loi một mình”. Với người Việt, từ “mồ côi”, “cô đơn” luôn gợi lại cho ta sự cảm thông và thương xót. “Nước chảy bon bon/ Con vượn bồng con lên non hái trái/ Anh cảm thương nàng phận gái mồ côi”. Ai lại không động lòng? “Mồ côi tội lắm ai ơi/ Đói cơm khát nước biết người nào lo”. Ai lại không cảm thương trắc ẩn? Ấy thế, lại sử dụng cho tên gọi loại nấm độc, xem ra chưa “ngon” lắm.

Trời đã chiều. Ông sư trụ trì của ngôi chùa đối diện nhà vừa mất. Vì thế, những ngày này không còn nghe tiếng chuông, tụng kinh đều đặn như trước nữa. Nhìn thoáng ra ngoài sân, hàng cau vẫn thảnh thơi trong sắc chiều. “Trước cau sau chuối/ Chuối sau cau trước” - câu thành ngữ này nhằm nói lên sự thẩm mỹ của người Việt trong việc bố trí không gian nhà ở? Có người bảo thuở sinh thời GS-TS Trần Văn Khê từng giải thích: “Người ta thường chỉ trồng cây chuối ở sau nhà, vì "chuối" nói theo giọng Nam bộ là "chúi", trước nhà mà trồng chuối (chúi) sợ xui xẻo. Còn "cau" nói theo giọng Nam bộ là "cao", cao đẹp, cái gì cao đẹp thì người Việt bày ra phía trước, cho nên trước nhà thường trồng cau”.

Nghe ra cũng có lý đấy chứ?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 5.3.2017

17155205_10210551668820419_1088615112735469770_n

 

Chiều nay, lên cư xá Thanh Đa đi viếng nhà văn Nguyễn Quang Thân vừa mất. Lần đầu tiên đi sâu vào trong khu vực này, không ngờ thấy rộng rãi, đâu ra đó, rợp bóng cây xanh. Chiều yên ả đến nhẹ nhàng. Mọi xô bồ là ở ngoài đường lộ, chứ phía trong khu vực này yên tĩnh lắm. Nơi này, món ăn khoái khẩu, nhiều người biết đến nhất vẫn là “cháo vịt Thanh Đa”. Loại vịt cỏ, nhỏ con, ít mỡ. Ăn rất ngon và cũng do nghệ thuật pha chế nước chấm. Nơi này, y cũng đã từng đến cũng vì món thịt heo luộc cuốn bánh tráng, bánh canh Trảng Bàng - ngồi ở quán dọc theo bờ sông Sài Gòn, lồng lộng gió chiều.

Trên đường đi, nhớ đến Nguyễn Quang Thân (1936-2017), trong y lại sống dậy vài suy nghĩ về những thế hệ nhà văn luôn thể hiện ý thức công dân trên từng trang viết. Lật lại lịch sử báo chí nước nhà, có một điều dễ dàng nhận ra: nhà văn không chỉ “sống” với văn chương mà còn phải đau đáu với “thập loại chúng sinh” ngay từ trong đời thường. Nói cách khác, đã nhà văn thì anh không thể đứng ngoài thời cuộc.

Lần cuối cùng gặp Nguyễn Quang Thân là lúc anh đến tòa soạn báo Phụ Nữ TP.HCM ký nhận nhuận bút.

Nhìn thấy vóc dáng to cao, khỏe mạnh, lực lưỡng, nói cười rổn rảnh dù đã gần 80 xuân xanh, ngạc nhiên lắm. Dường như ở con người này, tuổi già không thèm béng mảng tới, dấu vết mệt mỏi không hằn vết trong tâm trí. Như mọi lần, dù ít gặp nhau, nhưng hễ đã gặp thì câu chuyện lại kéo dài. Lúc ấy, y còn nhớ là đã hỏi anh: “Lúc gặp bạn bè cũ, điều gì khiến anh ghét nhất”. Không nghĩ ngợi nhiều, anh nói ngay: “Tớ ghét nhất là lúc gặp bạn bè cùng trang lứa, bằng tuổi tớ nhưng chẳng biết gì về vi tính, email, internet gì cả. Họ như sống ở một cõi khác. Chán nhất lúc gặp nhau, hỏi: “Dạo này, có gì mới không?”. Kể đến đây, anh vỗ vai y cái đét, đau điếng: “Trời, thông tin thay đổi mỗi giờ, mỗi ngày mà hỏi thế, tau biết trả lời thế nào?”.

Trong lý lịch tự khai, anh cho biết: sinh năm 1936, quê Hương Sơn, Hà Tĩnh. Năm 1952: thiếu sinh quân, học viên trường Quân chính Bộ tư lệnh Liên khu 4. Năm 1962-1964: học viên Trường bồi dưỡng viết văn của Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1972: Cán bộ Sở Thủy lợi Hải Phòng. Năm 1996: công tác ở Hội Văn nghệ Hải Phòng. Về hưu sống tại TP.HCM.

Anh vừa mất đột ngột lúc 3g15 ngày 4.3.2017 sau cơn đột quỵ tại nhà riêng thọ 82 tuổi. Sau khi thắp nén nhang, vợ anh - nhà văn Dạ Ngân cho biết anh đột quỵ lúc đang bơi mà xưa nay anh bơi rất giỏi, không thua gì rái cá. Nhân viên hồ bơi xem lại hồ sơ đăng ký bơi của anh, họ tìm thấy có ghi số điện thoại, liền gọi ngay. Không ngờ, đó là số điện thoại của anh mà máy lại để ở nhà. Nghĩ rằng, trên những giấy tờ cần thiết, có lẽ cũng nên ghi thêm số điện thoại của người gần gũi, tin cậy nhất của mình.

Nổi đình nổi đám nhất trong một loạt tác phẩm của anh, có thể kể đến Chú bé có tài mở khóa - Giải thưởng Văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam (1985), đã tái bản nhiều lần. Ngoài ra còn là các Giải thưởng văn học khác như Cơn bão H - Giải ba cuộc thi truyện ngắn báo Văn học (1963); Vũ điệu cái bô - Giải nhì truyện ngắn báo Văn nghệ (1991- 1992); Cây bạch đàn vô danh - Giải ba cuộc thi kịch bản phim của báo Văn Nghệ (1994); Hạc về Bồng Lai - Giải nhì cuộc thi Bút ký - Phóng sự của báo Văn Nghệ (1994)… Sau đó, với kịch bản Hội thề, anh lại nhận Giải nhất kịch bản phim truyện 1.000 năm Thăng Long (2005); tiểu thuyết Hội thề - Giải A cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà Văn Việt Nam (2006 - 2009).

Vói nhà văn, sự nhạy bén, trăn trở và quan tâm đến số phận con người trong việc dựng lên hình mẫu của nhân vật; nếu có tâm, có tài, nhà văn phải sống trọn vẹn trong khoảnh khắc ấy. Có người chỉ lấy chất liệu ấy đưa vào tác phẩm; có người lại thể hiện bằng phong cách báo chí - một vũ khí sắc bén nhắm chuyển tải kịp thời thông điệp của chính mình đến bạn đọc. Nguyễn Quang Thân thuộc dạng nhà văn thứ hai. Tâm thế ấy của anh rất gần với các bậc tiền bối Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, Vũ Bằng, Phan Khôi, Nguyễn An Ninh… của làng báo Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

Từ năm 1995, lúc vợ chồng anh còn ở Hà Nội, Ban Biên tập báo Phụ Nữ TP.HCM đã mời anh cộng tác chuyên mục Chợt nghĩ (sau này đổi thành Sổ tay văn nghệ). Do sự phân công của tòa soạn, y là người chịu trách nhiệm trao đổi đề tài cùng anh. Sức viết của anh ghê gớm lắm, tuần nào anh cũng có bài bình luận về mọi vấn đề liên quan đến văn hóa nghệ thuật. Lúc ấy, suy nghĩ của anh đã bắt đầu ít nhiều “lấn” sang lãnh vực xã hội. Viết đều đặn cho chuyên mục này chừng 3 năm, anh tạm ngưng, bởi lẽ công việc sáng tác tiểu thuyết, kịch bản phim đòi hỏi anh phải dành nhiều thời gian hơn.

Rồi sau này, khi vào ở hẳn tại TP.HCM, anh lại chính thức viết ròng rã nhiều năm liền cho chuyên mục Suy nghĩ cuối tuần (in vào số thứ sáu hàng tuần) - đề cập đến vấn đề rộng và sâu hơn về thời cuộc. Chính từ “diễn đàn” này, tầm vóc và vai trò công dân của nhà văn Nguyễn Quang Thân càng được bạn đọc biết đến rộng rãi hơn. Nhiều lần anh tâm sự, đó vẫn là chuyên mục mà anh hào hứng nhất, vì nơi ấy anh có thể cất lên tiếng nói tự lòng mình - tiếng nói về trách nhiệm Kẻ Sĩ trước thời cuộc. Mà thái độ này, thật ra không xa lạ với các nhà văn, nhà báo chuyên nghiệp nếu luôn đau đáu, suy tư cùng nhịp thở của dân tộc mình.

Do tự ý thức như vậy nên trong Kỷ yếu Nhà văn Việt Nam hiện đại,  Nguyễn Quang Thân bộc bạch thẳng thắng: “Văn chương tự cổ vô bằng cớ. Nhưng nhờ công nghệ tin học, văn sách hiện đại còn bền hơn cả bia miệng. Viết ra một câu bẩn thỉu thì dù có vạn pho sách hào nhoáng cũng không chữa nổi. Người đời luôn nghĩ, đống sách kia chẳng qua cũng chỉ để che đậy cái tâm địa thật của anh trong câu văn bẩn thỉu mà thôi”.

Tự bạch này quyết liệt làm sao.

Âu cũng là tính cách của một con dân xứ Nghệ.

Với chuyên mục Suy nghĩ cuối tuần, đã đứng tên chuyên mục thì buộc phải viết, dẫu “cụt hứng” thì cũng phải tìm đề tài, tạo ra cảm hứng mà viết. Viết trối chết. Viết nhẩn nha. Viết cay đắng. Viết sung sướng. Viết như thế nào hoàn toàn phụ thuộc theo dòng thời sự mỗi ngày. Nếu không chuẩn bị tâm thế ấy, khó có thể đi hết một chặng đường dài. Nói như thế, để thấy cái nghề cầm bút nhọc nhằn, bận rộn biết bao.

Mà nghĩ cho cùng, sự nhọc nhằn ấy có là gì đâu, đã họa sĩ thì vẽ, đã nhà văn thì viết, dễ thôi mà, nhưng cái khó nhất là khi đối mặt với thời cuộc.

Ở Nguyễn Quang Thân là một sự rạch ròi, thẳng thắn, không phải uốn éo nói cho có. Đọc lại những bài viết trong chuyên mục Suy nghĩ cuối tuần từ nhiều năm trước, y nhận ra dẫu sự việc cụ thể đã đi qua nhưng suy ngẫm của anh vẫn còn có ý nghĩa thời sự.

Có thể nêu một vài thí dụ, chẳng hạn, bàn về vấn đề nhân tài, mới đây Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc kêu gọi: “Chọn người tài chớ không chọn người nhà”, từ năm 2011, Nguyễn Quang Thân đã đặt vấn đề Nhân tài, thừa hay thiếu? và anh trả lời: “Nhân tài hiếm nhưng không thiếu nếu có mắt xanh vì dân vì nước cầu hiền chứ không vì lợi ích cục bộ, cá nhân. Và quan trọng hơn là biết người tài cần gì. Nếu không, thảm đỏ chỉ đón được kẻ cơ hội mà thôi” (PN - 9.9.2011).

Với cái ác đã và đang diễn ra ở nhiều lãnh vực, sự trừng phạt người vi phạm là đúng, nhưng theo anh vẫn chưa đủ, phải là “Nhìn thẳng vào sự thật, vào nguyên nhân sâu xa, thừa nhận những bất cập ở tầm vĩ mô để thay đổi căn bản một tình trạng xuống cấp”. Sự thay đổi ấy cụ thể ra làm sao, với tư duy của một nhà văn, anh chỉ nhìn tới đó và thừa nhận “không dễ chút nào” (PN - 28.8.2011). Tuy nhiên, trách nhiệm của Kẻ Sĩ vẫn là dám chỉ ra những điều bất cập nhằm góp phần thay đổi một nhận thức.

Một trong những điều gần như xuyên suốt trong các bài bình luận về thời cuộc, theo y, đáng ghi nhận, đáng quý nhất nhất ở chỗ Nguyễn Quang Thân lấy từ góc nhìn và đau đáu cùng tâm thế người dân nghèo. Nhờ đó, anh đã nhìn ra Sức mạnh tiềm tàng: “Nhiều người tự hỏi: tại sao cũng người dân ấy nhiều khi mất cả nhiều năm trời không chịu di dời ngôi nhà tranh vách đất của mình cho một dự án xây dựng, nay bỗng vui vẻ và bỏ lại nhà cửa, gia tài, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của chính quyền; kỷ cương, niềm tin đã bị lung lay, bị đánh mất đang sống lại? Tại sao mới đây chỉ cần một va quệt nhỏ trên đường người ra sẵn sàng thí mạng. nay bỗng thấy ấm áp trên đường sơ tán hay trong những ngôi nhà đùm bọc dân tránh bão?”

Câu hỏi “Tại sao?” ấy vẫn là bài toán đặt ra mọi lúc, mọi thời mà vẫn không hề lỗi thời, nếu thật sự hướng đến một thể chế “do dân, vì dân”.

Và nhà văn Nguyễn Quang Thân lý giải: “Nhân dân vẫn còn đó. Khi đi cùng nhân dân, thực sự vì dân chứ không vì quyền lợi nhỏ nhen của cá nhân hay của nhóm đặc quyền, khi người dân thấy rõ nhiệm vụ mình phải làm là vì sự sống còn của chính mình và đất nước thì niềm tin và sức mạnh bùng lên mạnh mẽ lạ thường, có thể làm sáng mắt những ai vẫn còn coi dân như cỏ rác hay cái vú sữa để bòn rút” (PN - 15.11.2013).

Và cũng từ phía nhân dân, khi chứng kiến tấm lòng người dân trong tang lễ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, anh đã viết được một câu rất hay: “Khóc ông là khóc cho cả chính mình, nói bằng nước mắt cho quá nhiều những gì nhân dân đang muốn nói. Hãy tin vào nước măt của nhân dân vì nó ít khi nhầm lẫn” (PN - 11.10.2013).

Cũng như nhiều nhà văn khác - những người không tìm sự trú ẩn yên thân, “mũ ni che tai”- nói như nhà văn Thiếu Sơn là chui vào “Tháp ngà văn chương”, Nguyễn Quang Thân đích thực làm người dấn thân. Theo dòng thời sự, anh đã lên tiếng Không thể khiếp nhược trước cái ác; Sân gôn, sân gôn, lại sân gôn; Thủy điện vô can mà không vô can; Thực phẩm sạch: Tương lai của nòi giống; Khi nhà quản lý khoa học chơi bum-mê-răng; Những nhân bản buồn v.v… Khó có thể liệt kê hết các bài báo của anh đã viết ròng rã mười năm trời trên báo Phụ Nữ TP.HCM, đó là chưa kể in ở các báo khác nữa.

Nếu có ai đặt câu hỏi rằng: “Có phải những bài viết cho chuyên mục Suy nghĩ cuối tuần là lúc Nguyễn Quang Thân đã nói thật lòng mình?”.

Đừng ngây thơ nhé. Nhân kỷ niệm sinh nhật 35 năm báo Phụ Nữ TP.HCM chính anh đã tâm sự: “Viết báo (cả viết văn nữa) ở xứ mình, tôi có thể không nói hết được một trăm phần trăm điều mình muốn viết, muốn nói. Nhưng không ai có thể bắt tôi nói ngược lại ý nghĩ của mình. Giữa tôi và Ban Biên tập báo Phụ Nữ TP.HCM ngoài tình bạn “Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình” còn có sự sòng phẳng và tôn trọng nhau, ít ra là trong cái nguyên tắc ấy”.

Tôi đồ rằng, với nhiều nhà văn, trong đó có Nguyễn Quang Thân, khi cất lên tiếng nói phản biện, chính là lúc họ làm sống lại lời cảnh báo của văn hào Somerset Maugham (1874-1965): “Điều tồi tệ nhất trong quan hệ con người chính là sự vô cảm, dửng dưng”.

Chiến đấu chống lại sự vô cảm ấy, chỉ là trách nhiệm của mỗi nhà văn? Không đâu. Điều đáng mừng là đồng hành cùng nhiều tầng lớp khác,  nhà văn Nguyễn Quang Thân đã tham dự với tư cách người trong cuộc để cất lên tiếng nói có trách nhiệm. Mà trách nhiệm ấy, thôi thúc từ mệnh lệnh của một ngòi bút luôn hướng đến sự hoàn thiện, tốt đẹp trong xã hội mà chúng ta đang sống.

Vĩnh biệt anh, nhà văn Nguyễn Quang Thân - một nhà văn dấn thân.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 27.2.2017

Damcuoichuot

 

Đã từ lâu, y rất thích đọc tạp văn của văn hào Lỗ Tấn, bởi lẽ với tâm thế chiến đấu không khoan nhượng, ông đã sử dụng ngòi bút như ngọn roi tiên phong quất vào thói hư tật xấu của chính dân tộc ông - dân tộc Trung Quốc. Thái độ cách mạng quyết liệt ấy là nhằm dẫn đến một sự thức tỉnh.

Dân tộc nào cũng có sự hạn chế, khiếm khuyết, khuyết tật ngay từ trong tính cách, nếp nghĩ. Dân tộc Việt không là ngoại lệ, vì lẽ đó, đầu thế kỷ XX khi nước mất nhà tan, ngọn gió văn minh phương Tây tràn vào nước ta xốc tung mọi nề nếp đã định hình trước đó hàng ngàn năm, bấy giờ, các nhà Nho cấp tiến đã giật mình đau đáu cùng vận mệnh nước nhà. Một trong trong những mối quan tâm hàng đầu của các cụ khi đứng trong đội ngũ của phong trào Duy tân vẫn là tinh thần “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.
 

Muốn có được sự “lột xác” đó, trước hết phải dũng cảm nhìn nhận lại thói hư tật xấu của dân tộc mình. Có như thế mới dẫn đến sự thay đổi, sửa chữa triệt để, y nghĩ, đó chính là hiện thân của đổi mới.

Phải nói thật rằng, cho đến nay, vẫn chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu thấu đáo về hạn chế của người Việt. Dù rằng, ai cũng thấy, ai cũng biết nhưng rồi chữa trị căn bệnh ấy từ đâu? Câu trả lời không dễ dàng. Chỉ xin nêu một trong nhiều, rất nhiều thói xấu tiêu biểu: vô kỷ luật.

Đừng nhìn đâu xa, hãy nhìn lại từ bản thân mình, bất kỳ ai cũng có dịp “trải nghiệm”. Có thể dẫn chứng từ các cuộc đám cưới, đó là sự ngán ngẫm vì thói quen chung vẫn là sử dụng… “giờ cao su”. Sự co giãn thất thường này, khiến những ai tự giác chấp hành đúng quy định chỉ có nước méo mặt. Dù đến chậm, không đúng giờ nhưng rồi ai cũng có cách bào chữa, đại khái: “Từ từ rồi khoai cũng nhừ”, chậm chút có gì đâu mà cứ nhắng lên (!?). Nghe thế, ắt có người bèn đùa mà rằng: “Dân ta hầu hết là chuyên gia xài giờ dây thun mà dây thun ngâm dầu lửa mới ghê, không phải đi dự đám tiệc mà ngay cả hội họp, làm việc nơi công sở. Bài thuốc gia truyền trị bệnh này quá dễ, hãy thông báo trước rằng: "Ai đến đúng giờ sẽ được nhận phong bì chứa số tiền không nhỏ", bảo đảm họ sẽ nghiêm chỉnh đến sớm hơn giờ qui định” (!?).

Tính vô kỷ luật ấy do ta chủ động tạo ra, miễn cảm thấy hài lòng là được. Còn nếu cho rằng bị áp đặt từ phía khác, ta lại có cách “tiếp thu” khác hẳn, dù “trẻ trâu” không xứng “tầm” chút nào. Chỉ xin nêu một sự việc vừa diễn ra gần đây: Trong một trận đá banh nọ, tỷ số của hai bên đang là 2-2, đội A được được hưởng quả phạt đền ở phút 80. Đội B không đồng tình, phản đối bằng cách “buông súng”, chơi “ầu ơ ví dầu” để mặc cho đối thủ… mặc sức ghi bàn. Sự phản ứng này rất rẻ con, thể hiện sự cù nhầy, bướng bỉnh, dù rằng vẫn có cách giải quyết tích cực hơn, thế nhưng họ vẫn bất chấp miễn sao cho “đã nư” là được, còn hậu quả ra làm sao thì không cần nghĩ đến.

Có nhiều sự việc dù biết sai nhưng người ta vẫn cố tình thực hiện cho bằng được. Chẳng hạn, dư luận phản ứng dữ dội về chuyện dựng biện thự, biệt điện to đùng đoàng trái phép, thậm chí xây ngay khu vực rừng phòng hộ nhưng vẫn “Chuyện nhỏ như con thỏ”. Rồi chuyện lấn chiếm lòng lề đường, tè bậy, đua xe, vượt đèn đỏ v.v… vẫn diễn ra mỗi ngày. Vậy, kỷ cương phép nước loạn thật đấy chứ? Dù thừa biết nhưng rồi từ người dân không một chút quyền lực đến quan chức, kẻ có “máu mặt” cũng bất chấp. Tại sao như thế? Có thể do xuất phát từ suy nghĩ “Phép vua thua lệ làng”; hoặc “Nén bạc đâm toạc tờ giấy”; hoặc “Sơn ăn tùy mặt, ma bắt tùy người”; hoặc “Bó lý không bằng một tí tình” v.v… Nghĩa là dù thế nào đi nữa, vẫn có cách giải quyết ổn thỏa.

Tâm lý này đã hình thành từ rất xa xưa, nay muốn thay đổi không thể một sớm một chiều. Và qua đó, ta thấy rằng, nếu “Thượng bất chính, hạ tất loạn”; nếu luật pháp không nghiêm thì bất kỳ chuyện gì cũng có thể xẩy ra. Một khi đã xẩy ra rồi, sự sai trái, vi phạm ấy lại có cách để “hợp thức hóa”. Đau đớn là ở chỗ đó chăng? Chưa đâu, lại có chuyện còn đau đớn hơn nhiều. Ấy là dù không vi phạm gì, nhưng rồi kẻ có quyền thế lại áp đặt, “chụp mũ” cho kẻ khác tội lỗi tày trời, tìm cách “xử trảm” nếu thích. Không phải y nói cho sướng miệng đâu, có thật đấy. Chỉ xin nêu ra một thí dụ, chọn lấy trường hợp này, chỉ vì nó liên quan đến lãnh vực mà y quan tâm nhất: thơ.

Rằng, trên trang blogspot của nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Công, anh có kể lại nỗi oan khuất của thân phụ. Chỉ vì tham gia xướng họa thơ Đường luật mà năm 1984, cha anh bị buộc thôi việc và khai trừ khỏi hội văn học ở địa phương nọ. Tóm tắt như sau: Nhân ngày xuân, lòng người phơi phới, đất trời thanh tân, các văn nghệ sĩ tỉnh nhà đua nhau ngâm nga, múa bút “Xướng họa thơ vui, năm Tý nói chuyện chuột” do báo của tỉnh tổ chức.

Bài thơ xướng của ông chủ tịch hội văn nghệ:

Năm Tý về đây nhắc chuyện đời

Không coi chừng chuột, chuột sinh sôi!

Chùm nem sơ hở con chù vọc

Đĩa chả thờ ơ lũ cống lôi!

Lạ nhỉ? Chơi không toan gọn lốm,

Ơ kìa! Ngồi rỗi chực ngon xơi!

Hẹn nhau sắm bả phòng năm chuột

Hễ chúng bò ra giết tiệt nòi!

Bài “Họa” của thân phụ Hoàng Tuấn Công:

Giống chuột làm sao vẫn sống đời?

Con đàn cháu lũ cứ sinh sôi!

Đồ ăn bè cánh chia phần nhậu,

Của để tớ thầy hợp sức lôi!

Tiếc lọ chê ai đành chuột phá,

Hoài cơm trách bạn để mèo xơi!

Triệt đường ẩn nấp hang cùng hốc,

Cống lỗ chi chi cũng hết nòi!

Theo y, bài họa hay hơn. Không cần phải dài dòng bình về hai bài thơ này, chỉ nói rằng, nội dung cả hai đều bình thường, không hề có ngụ ý xỏ xiên, mượn bóng nói hình, dương đông kích tây quái quỷ gì cả. Thế nhưng, tai ách ập đến cho người họa, thế có lạ không chứ?

Cứ như theo anh Hoàng Tuấn Công kể lại: “Họ phân tích như sau: “Con đàn cháu lũ” ở đây ý chỉ “con ông cháu cha” đời nối đời hưởng đặc quyền đặc lợi. “Đồ ăn bè cánh chia phần nhậu/ Của để tớ thầy hợp sức lôi” ám chỉ chuyện vây bè, kéo cánh, ăn cắp của công, tham ô, hối lộ, móc ngoặc với nhau. Của ít chia nhau ăn, của nhiều hợp sức lôi về nhà làm giàu. Không thể chấp nhận được! Chế độ này là khối "đại đoàn kết", chỉ có quan hệ “đồng chí”, "đồng nghiệp", tại sao lại có từ “bè cánh”, “tớ thầy” ở đây? Tác giả nói “Tiếc lọ”, thì “lọ” cũng là “bình”. Mà “bình” là tên người viết bài “xướng” chứ còn ai vào đây? Hóa ra, cấp trên vì nương tay với “Bình” nên không chống tiêu cực? Thật quá "thâm ý"! “Hoài cơm trách bạn để mèo xơi”, “mèo” đây đích thị là những người nắm pháp luật rồi! Dám nói họ là “hoài cơm” sao? Lại còn định “Triệt đường ẩn nấp hang cùng hốc/ Cống lỗ chi chi cũng hết nòi!”. Tác giả muốn “diệt” tận gốc, từ “ông to” đến “ông nhỏ” kia ư?”.

Đọc xong lập luận đó, thú thật, y bó tay. Không thốt nên lời.

Sự việc rối rắm, quá hớp này nhùng nhằng, kéo dài mãi. Người bị kết án phải mất mấy năm trày vi tróc vẩy, rồi mới được minh oan. Đèn trời soi xét. Mãi đến năm 1988, thân phụ Hoàng Tuấn Công mới được Hội nghị toàn thể hội viên của Hội văn nghệ tỉnh nọ quyết định phục hồi Hội tịch. Kết thúc có hậu. Nhắc lại chuyện này để thấy rằng, việc chụp mũ người khác cũng là thái độ vô kỷ luật của người có quyền chức, vì họ không tuân theo quy định của luật pháp mà chỉ thực hiện tùy hứng rất chủ quan.

Dù gì đi nữa, nói đi cũng phải nói lại. Phải thừa nhận ra, khi nước nhà xẩy ra nguy biến, lạ thay, thói xấu vô kỷ luật ấy lại không có chỗ dung thân. Nếu không, làm gì có thể hàng trăm, hàng vạn người thời nhà Trần đồng lòng xăm hai chữ “Sát Thát” nhằm thể hiện tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Nguyên - Mông? Chỉ mỗi một thí dụ ấy cho thấy, người Việt không xa lạ với tính kỷ luật. Thậm chí rất kỷ luật, nếu không, vua Quang Trung làm sao có thể chỉ huy cuộc hành quân thần tốc đánh tan tành xác pháo 20 vạn quân Thanh?

Thế nhưng, tính kỷ luật ở người Việt đã khác rồi chăng? Không dám hồ đồ kết luận nhưng ai cũng dễ dàng nhận ra hiện nay, sự vận động trong xã hội có lúc không tuân thủ theo quy định nội tại, chỉ diễn ra theo xu thế tùy nghi, tùy hứng, tùy thuộc vào các mối quan hệ cá nhân hơn là từ kỷ cương phép nước như “Mạnh được yếu thua”, “Hy sinh đời bố củng cố đời con”, “Một người là quan cả họ được nhờ”… Đây chính là cơ hội tốt cho tính vô kỷ luật phát triển bởi luật của nó là “luật rừng”. Bất chấp hết, miễn là được việc trong thời điểm đó.

Lý giải ra làm sao về thói xấu này?

Trong công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai (NXB Văn hóa văn nghệ -2016), GS-TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Thiếu ý thức pháp luật là một trong những chứng bệnh tiêu biểu phát sinh từ tính linh loạt của người Việt Nam. Đây là một biểu hiện tập trung và nghiêm trọng nhất của thói tùy tiện” (tr.403). Không những thế, “còn có nguồn gốc từ đặc trưng của tính cộng đồng. Do tính cộng đồng mạnh nên ý thức về pháp luật của mỗi cá nhân phù thuộc vào ý thức pháp luật của số đông; hễ thấy số đông coi thường pháp luật thì các cá nhân sẽ yên tâm mà hùa theo. Do sức mạnh của tâm lý đám đông, nhiều khi nguyên nhân này còn chi phối mạnh hơn cả tính nguyên nhân tính linh hoạt” (tr.406).

Sự lý giải này rất đáng suy ngẫm, tất nhiên chưa thể dừng lại ở đó.

Vậy, làm sao để thay đổi?

Dám nhìn nhận thói xấu của dân tộc mình, không giấu diếm, che đậy thì may ra mới có thể tự giác sửa chữa triệt đễ, tận gốc. Cần có một tinh thần của Lỗ Tấn. Mà thật ra, tinh thần cách mạng ấy hoàn toàn không xa lạ với các trí thức Việt Nam từ đầu thế kỷ XX, từ thời các cụ Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Lương Văn Can, Nguyễn Văn Vĩnh… và ngay cả Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam như Nguyễn Văn Cừ cũng đã dũng cảm viết tác phẩm nổi tiếng Tự chỉ trích (1939) v.v…

Y không tin bất kỳ sự thay đổi nào đến từ phong trào rầm rộ “ra quân” nhất thời bằng cách xử phạt hành chánh. Bất quá cũng chỉ là “Bắt cóc bỏ dĩa”, rồi đâu lại vào đó. “Ếch kêu dưới vũng tre ngâm/ Ếch kêu mặc ếch, tre dầm mặc tre”. Đó chỉ giải quyết phần ngọn. Gốc rễ của vấn đề này vẫn là chiến lược nhằm thay đổi ngay từ trong nhận thức. Chiến lược ấy, chỉ có thể bắt đầu từ giáo dục.

Hỡi ôi! Xin gióng lên một tiếng chuông: Đã đến lúc thôi vuốt ve, ru ngủ nhau bằng những mỹ từ rổn rãng, nhàm tai nữa - bởi nội hàm của nó là những giá trị không có thật; hoặc có thật nhưng đã thất lạc, lạc hậu từ lâu lắm rồi.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 26.2.2017


20170207150529-thu-uyen-le-minh-quoc-ghe

Tranh sơn dầu của LÊ MINH QUỐC


Ngày chủ nhật. Một ngày có gì khác mọi ngày? Với y, không gì khác. Vẫn thế. Vẫn lặng lẽ mỗi ngày cùng công việc đã chọn lấy từ lúc bước chân vào đời. Nghiệm rằng, nếu yêu lấy nghề, ngay lúc đang cật lực làm nghề, nhọc nhằn lao động cũng đã là một cách thư giản và thụ hưởng lấy niềm vui. Hai mươi năm trước, trong tập thơ Tôi chạy theo thơ, y đã tự bạch: “Tay lóc ngóc gõ lọc xọc/ Một tảng đá ngồi trước bàn/ Vận dụng nội lực lên dốc/ Chẳng bao giờ chịu đầu hàng/ Nhoay nhoáy đêm ngày xoèn xoẹt/ Chữ ơi ốm béo ngắn dài/ Văn chương cái nghề cực nhọc/ Tự nguyện làm tù khổ sai”.

Liệu có thật ích kỷ hay không, vì đôi khi để có niềm vui đó, y lại nhắm mắt bịt tai không hề đoái hoài gì đến những sự việc thời sự đang diễn ra ngay trước mắt. Những thời sự khốc liệt khiến tâm hồn tan hoang như bão trút, sấm sét đùng đùng. Tại sao lại né tránh? Trả lời câu hỏi này, không khó nhưng trình bày ra môn ra khoai lại ngại mất thời gian, không cần thiết, nên thôi.

Đôi khi nghĩ rằng, sống trên trần gian này không khó lắm đâu, ai cũng sống được, dù rằng họ đang sống trong hoàn cảnh bi đát đến cỡ nào. Vậy khó nhất là gì? Vẫn là làm thế nào giữ được sự trong trẻo của tâm hồn. Nhìn cuộc sống an nhiên tự tại, không sắc màu u ám, không tị hiềm, không ganh ghét. “Mỗi ngày, tôi chọn một niềm vui” (TCS), nghĩ cho cùng là một thái độ sống tích cực hay một sự thỏa hiệp tự lừa dối lấy chính mình? Chẳng lẽ trong cái cõi nhân sinh hỉ, nộ, ái, ố có những sự việc tàn khốc quất ngang qua số phận hàng triệu con người, chẳng hạn vụ Formosa, vậy cách lựa chọn tốt nhất là ngoảnh mặt đi và tìm lấy sự an toàn để có được niềm vui? Câu trả lời khó hay dễ vẫn tùy thuộc vào thái độ sống, tâm thế của mỗi người.

Một ngày của y tẻ nhạt quá. Quanh đi quẫn lại với chỉ là những con chữ. Sống bằng những con chữ. Chữ nuôi sống mỗi ngày. Rồi lấy đó làm niềm vui. Mải mê chìm đắm. Vậy không tẻ nhạt là gì? Vẫn biết là thế, nhưng làm sao thay đổi? Mà thay đổi để làm gì? Những câu hỏi này ngớ ngẫn quá đi mất. Do nghĩ thế, y lại chìm vào trong mê đắm. Mê đắm về người. Mê đắm về chữ. Liệu có nên chăng? Câu trả lời đã có. Đó là hôm nọ, đọc lại thần thoại Hy Lạp.

Chuyện rằng, Orphée/Orpheus là con của Apollon - Thần Ánh sáng, Nghệ thuật,Tiên tri và Calliope - Nữ Thần của Thi ca. Chàng là nhạc sĩ đại tài, khi cất lên cung cầm tuyệt diệu thì trần gian này mọi sự vật đều thay đổi. Dù ác thú, hung bạo nhất cũng tự cải tạo tâm tính để trở nên thánh thiện, chan hòa yêu thương. Orphée yêu Eurydice - Nữ thần của núi sông thơ mộng. Chẳng may, ngày nọ nàng bị rắn độc cắn chết. Nhớ thương vợ đêm ngày ròng ròng nước mắt, trái tim vụn vỡ tan tành, tâm trí héo khô, tâm tư sầu não, vì thế, Orphée  nhất quyết đi xuống âm ty tìm vợ cho bằng được.

Ttrong văn chương, truyện kể của nhân loại, chỉ có mỗi Orphée đi xuống cõi âm phủ tìm vợ chăng? Không đâu. Thật thú vị khi có sự trùng hợp lạ lùng: người chồng thủy chung, thương vợ nhất nước Nam ta là Phạm Công, lúc tìm vợ - Cúc Hoa cũng đi xuống cõi ấy.

Lúc đi xuống âm ty, Orphée đã gẩy cung đàn tuyệt diệu: “Khi cao, vút tận mây mờ/ Khi gần, vắt vẻo bên bờ cây xanh/ Êm như lọt tiếng tơ tình/ Đẹp như Ngọc Nữ uốn mình trong không/ Thiên Thai thoảng gió mơ mòng/ Ngọc Chân buồn tưởng tiếng lòng xa bay” (Thế Lữ)... Âm thanh của chín cõi càn khôn hội ngộ, khiêu vũ trên phím đàn của chàng đã khiến các chư vị quỷ thần đều phải cảm động, xao xuyến. Ma lực của tiếng đàn ấy dữ dội đến độ vợ chồng chúa Âm ty là Hadès và Persphone động lòng thương hại trả lại Eurydice cho chàng.

Với Phạm Công, truyện cổ tích Việt Nam, ta có biết thêm một hai chi tiết khác, đại khái, trải qua biết bao gian khổ nhưng vẫn không tìm thấy Cúc Hoa, chàng viết thư cầu cứu Diêm vương: “Nước trong leo lẻo/ Sóng vỗ là đà/ Có rắn mãng xà/ Cất cao cái cổ/ Vợ tôi âm phủ/ Cách trở nghìn trùng/ Tìm kiếm hết lòng/ Phương nào chẳng thấy/ Hai con thơ dại/ Dương thế miền xa/ Nhớ mẹ nhớ cha/ Hai bề cam khổ/ Vái cùng Hậu thổ/ Soi xét lòng đau/ Sống thác nhường nào/ Xin cho tôi biết”. Tóm lại cũng giống như Orphée, trải qua nhiều gian nan, thử thách cuối cùng, Phạm Công tìm thấy vợ. Diêm vương cảm động trước tấm lòng thủy chung của chàng nên cho Cúc Hoa tái sinh. Hai vợ chồng cùng trở về dương thế trong sự vui vầy của mọi người và nhà vua nhường ngôi cho Phạm Công. Từ đó, gia đình Phạm Công - Cúc Hoa sum họp, đời đời vinh hiển.

Trong khi đó, kết thúc của Orphée lại khác hẳn. Bi đát. Đau đớn. Thăm thẳm đất trời. Rầu rầu nước mắt. Thương thay.

Lúc vợ chồng chúa Âm ty đồng lòng cho Orphée dẫn vợ về cõi trần, với điều kiện dọc đường đi tuyệt đối chàng không được ngoái lui nhìn vợ. Khổ nỗi, lúc sắp vợ qua khỏi ranh giới cõi âm phủ, tâm hồn nghệ sĩ của Orphée lại rung lên nỗi niềm xao xuyến, hồi hộp, âu lo đến lạ thường: liệu chừng Eurydice có đi theo sau hay chúa Âm ty phỉnh gạt? Thoạt nghĩ, nếu lúc ấy cùng đi theo chồng, nàng Eurydice cao hứng ngâm nga mấy câu thơ của Huy Cận thì Orphée yên tâm biết chừng nào, ắt không có mối nghi nghi nghi ngờ ngờ ấy. Ngâm câu câu gì? Câu này: “Ồ, những người ta đi hóng xuân/ Cho tôi theo với, kéo tôi gần! Rộn ràng bước nhịp hương vương gót/ Nhựa mạnh tuôn trào tưởng dính chân”. Thì chắc chắn chàng rất yên tâm, lầm lũi bước đi theo lời dặn dò đã thỏa thuận.

Vậy nên, trong lúc ấy, không thể kiềm chế được lòng mình, Orphée ngoảnh lại nhìn đàng sau, bỗng có tiếng sét nổ vang, Eurydice ngã quỵ xuống chết lần nữa và thân thể tan biến thành mây khói. Vĩnh viễn từ đây, Orphée không còn được gặp vợ lần nào nữa. Hóa ra, chàng Phạm Công còn may mắn hơn nhiều. Từ đó, Orphée sống dỡ chết dỡ, lúc nào cũng kêu gào hãy trả lại Eurydice lại cho chàng. Trong khi đó, nhiều, rất nhiều giau nhân mỹ nữ vây quanh tìm mọi cách giúp giải khuây nhưng chàng không thèm màng tới. Cuối cùng, các người đẹp ghét quá, bèn hè nhau cấu xé chàng tan tành. Cái đầu chàng lăn tới bờ sông Hèbre nhưng vẫn không ngớt tiếng kêu than Eurydice. Thương thay.

Có phải vì tình chồng nghĩa vợ, con người ta mới chấp nhận tìm đến, trải qua một hành trình gian nan đến thế? Với người yêu, liệu chừng điều đó có xẩy ra không? Khó có câu trả lời. Nhưng biết rằng chết theo người mình yêu, tiêu biểu nhất vẫn là trường hợp Romeo và Juliet. Hãy nghe lại tiếng than khóc của Juliet để thấy tình yêu của họ lớn lao, kinh khiếp biết dường nào (bản dịch của Đoàn Thế Bính): “Nào, hỡi đêm tối hãy lại đây. Romeo anh, hãy lại đây với em. Anh là ánh dương trong đêm tối, vì anh sẽ nằm dưới đôi cánh của đêm, trắng ngần hơn tuyết đọng trên lưng quạ. Nào hỡi đêm đen diệu hiền, hỡi nàng tiên trìu mến có đôi mắt đen láy, hãy mang lại cho em chàng Romeo của em. Và khi chàng chết, hãy cắt xương thịt chàng ra thành muôn ngàn ngôi sao bé nhỏ; chàng sẽ làm cho bầu trời tươi đẹp đến nỗi trần gian ai cũng sẽ say sưa đêm tối mà thờ ơ với ánh dương rạng rỡ…”.

Tội tình nhất vẫn là chàng Trương Chi, chàng không có được tình yêu của Mỵ Nương như Juliet dành cho Romeo, vì thế, tiếng lòng của chàng ngàn vạn đời sau, muôn năm kiếp kiếp vẫn khiến mọi người ứa lệ:

Nợ tình chưa trả cho ai

Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan

Từng câu thơ đầm đìa nước mắt, vẽ lên bằng nước mắt. Thương thay.

Như đã nói chỉ có chồng đi tìm vợ, mới dấn thân xuống cái cõi tuyền đài. Còn người yêu đi tìm người yêu thì sao? Bất quá cũng chỉ là: “Tìm em xa gần, đất trời rộn ràng/ Tìm trong sương hồng, trong chiều bạc mệnh/ Trăng tàn nguyệt tận chưa từng tuyệt vọng đâu em/ Tìm trong vô thường có đôi dòng kinh, sấm bay rền vang/ Bỗng tôi thấy em dưới chân cội nguồn/ Tôi mời em về đêm gội mưa trong/ Em ngồi bốn bề thơm ngát hương trầm” (TCS). Bất quá cũng chỉ là: “Tìm nhau trong thống khổ/ Tìm nghe câu than thở/ Tìm nhau như goá phụ tìm mộ bia” (PD). Trong tình yêu, ai ai cũng thế. Chẳng gì khác.

Thế mới biết tình chồng nghĩa vợ mới có một giá trị tuyệt đối trong kiếp nhân sinh. Bằng không, cũng không là gì? Tại sao thế? Trong tập thơ đang in Yêu một người là nuôi dưỡng đức tin (NXB Hội Nhà văn), y viết: “lúc ấy thượng đế bảo rằng nếu yêu Ta thì các ngươi hãy sinh con đẻ cái không gì đẹp hơn bằng hình ảnh người đàn bà bụng chửa dạ mang bởi đó chính là hình ảnh của Ta”. Bởi từ đó mới có thể mở ra một sự tiếp nối, bằng không cuộc tình dù đẹp đến đâu chăng nữa, có là gì không?

Trở lại chuyện tình Orphée của Eurydice, có lời bình nào nào cho kết cục bi đát của họ? Còn nhớ, thi sĩ trung niên Bùi Giáng có bình bằng vài câu lục bát. Nói ra điều này, ắt không ít người cho rằng y bịa mua vui. Không hề, mấy câu thơ đó như sau:

Đừng yêu vợ quá thiết tha

Yêu nhiều mà lại hóa ra phụ lòng

Trên đường khúc khuỷu long đong

Cũng đừng chối bỏ bướm ong với đời

Chung tình chi lắm ai ơi

Cho mòn ruỗng thịt, cho rời rã hương

Lối lui, nẻo tiến, đôi đường

Đủ ngần ấy điệu, mới đúng phường người ngoan

Với thể loại khác, con người ta có thể giấu đi lòng mình, tâm sự thật của mình, nhưng với thơ thì không thể. Thơ là tiếng lòng, tự nó thế nào thì câu chữ thế ấy, khó có thể uốn éo, giả vờ. Ngờ rằng, đó cũng chính là nỗi lòng của Bùi Giáng khi nhìn lại trường hợp của chính ông đấy thôi. Là một cách ông tự nhủ với lòng khi hình ảnh người vợ chết trẻ, khoảng năm 1948 tại Trung Phước (Quảng Nam) luôn đeo đẳng, ám ảnh thường trực trong trí nhớ. Đôi khi cũng nên tự biết dập tắt đi ngọn lửa tương tư, thương nhớ cháy bùng, âm ỉ lửa bén trong cõi lòng tan nát. Quên đi. Biết quên cũng là một liều thuốc màu nhiệm. Để rồi lại tái sinh một lần nữa. Nói thì nói thế. Khó lắm. Khó đến cỡ nào? Hãy nghe Xuân Diệu tâm tình:

Người ta khổ vì cố chen ngõ chật

Cửa đóng bưng nên càng quyết xông vào

Rồi bị thương, người ta giữ gươm dao

Không muốn chữa, không muốn lành thú độc

Điều kỳ diệu nhất của tình yêu là gì? Chỉ có thể là, một khi đã nhìn thấy rõ ràng ràng kết thúc của nó, nói như Xuân Diệu: “Đến khi hay, gai nhọn đã vào xương” nhưng vẫn quyết tin rằng không, cứ lầm lũi bước tiếp. Bước đi và cất lên tiếng hát trong vô vọng. Mà thôi, không bàn tiếp nữa. Chỉ xin hỏi, mấy câu lục bát trên có phải của tác giả Mưa nguồn? Không tin à? Cứ tìm đọc tạp chí Thời  Nay số 53 (1.12.1961) thì rõ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 22.2.2017

16a5ce5f-f900-4625-9533-2092dec166f0
                                                                   Nhà biên kịch ĐOÀN TUẤN


Từng ngày trôi qua nhanh quá. Mới đó, cuối tháng 2 rồi. Trời đất mát mẻ. Công việc hanh thông. Chẳng có gì đáng bận tâm. Ấy thế, vẫn không viết được cái gì cho ra hồn. Những việc vặt vãnh này nọ đã cấu xé thời gian ra từng mảnh vụn. Tựa như mớ tiền bị chẽ nhỏ ra, chẳng mua được cái gì ra tấm ra miếng.

Chiều nay, ngồi đọc lại vài trang báo cũ. Chẳng cũ gì, cũng mới đây thôi. Thích thú và ngạc nhiên với một thông tin mà có lẽ ít ai chú ý đến. Như mọi người đã biết, hiện nay có 6 lục địa được công nhận trên toàn cầu, bao gồm châu Phi, Nam cực, Úc, Âu - Á, Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Thế nhưng sắp có thêm một lục địa mới: Zealandia. Cái tên này là do Giáo sư địa chất Bruce Luyendyk đặt vào năm 1995, dù thời điểm đó các khu vực đất đai tại đây chỉ đáp ứng được 3 trong số 4 đặc điểm cần thiết để được nâng cấp thành lục địa.

Theo Báo Thanh Niên số ra ngày 18.2.2017: “Ngày 17.2, CNN đưa tin Zealandia với diện tích 4,9 triệu km2 sẽ là lục địa thứ 7 và cũng là em út nhỏ nhất trong gia đình lục địa trên trái đất, nếu được xác nhận. Nó là khu vực hầu như bị nhấn chìm hoàn toàn trong lòng Thái Bình Dương, và điều quan trọng hơn cả là bờ biển của nó có thể chứa hàng chục tỉ USD giá trị nhiên liệu hóa thạch. Vị trí của nó bao trùm New Zealand và lãnh thổ hải ngoại New Caledonia của Pháp. Zealandia cũng sẽ là lục địa “trẻ nhất, mỏng nhất và chìm trong nước nhiều nhất”, với 94% khu vực đất đai bị ngập trong nước, theo các nhà nghiên cứu”.

Ai dám bảo, thông tin này không thú vị? Hỏi như thế là ngốc. Bởi lẽ, sống ở đời mỗi người có một mối quan tâm riêng. Những gì ưng ý, tâm đắc của mình chắc gì người khác đã đồng tình? Những câu thơ đau đáu viết ra, sửa chữa từng câu, từng dấu hỏi, ngã rồi đọc lại, lắm lúc vỗ đùi cái đét, sướng mê tơi nhưng biết đâu người khác lại dửng dưng như không? Nói như thế, bởi y thừa biết, biết lắm những đồng nghiệp suốt một đời cầm bút, chỉ lấy chữ làm trọng bởi yêu lấy chữ nhưng rồi chắc gì lọt vào “mắt xanh” của thiên hạ?

Từng đọc đâu đó mẩu chuyện này, nhớ mãi. Nhà thơ Khương Hữu Dụng vốn là tay cự phách trong làng dịch thơ Đường. Với hai câu thơ nổi tiếng Trường hận ca của Bạch Cư Dị:

Trì trì chung cổ sơ trường dạ

Cảnh cảnh tinh hà dục thự thiên

Ông phải lao tâm khổ tứ suy nghĩ rất nhiều. Nếu trước đó Tản Đà đã dịch thành bốn câu: “Tiếng canh tối tùng tùng điểm trống/ Năm canh dài chẳng giống đêm xưa/ Sông Ngân lấp lánh sao thưa/ Trời như muốn sáng, sao chưa sáng trời?”. Riêng hai câu sau Khương Hữu Dụng cho là tuyệt diệu. Vậy phải dịch lại thế nào, vì mình là người dịch sau? Mất một thời gian suy ngẫm, cân nhắc, ông tìm ra hai từ khác đắc địa hơn là thay  “lấp lóa” cho “lấp lánh”; và dịch:

Sông Ngân lấp lóa trời chưa sáng

Muốn sáng mà sao chửa sáng trời?

Sau đọc lại, thấy từ "chửa" nặng nề quá. Phải thay từ khác. Chưa hết, ông còn suy ngẫm thêm là phải dụng bút thế nào để nói lên tâm sự của Đường Minh Hoàng buồn cho cái đêm cứ kéo dài, trời không chịu sáng? Cuối cùng ông đã tìm ra... cái dấu phẩy!

Sông Ngân lấp lóa trời chưa sáng

Muốn sáng mà sao chẳng sáng, trời?

Muốn thêm được cái dấu phẩy vào một câu thơ dịch, quý hơn vàng, ông Khương phải mất ba mươi năm! Cái dấu phẩy bé tẹo tèo teo ấy, khi đọc thơ, mấy ai chú ý đến? Vậy nên, cái nghiệp cầm bút nó nhọc nhằn quá đi mất. Từng giọt mồ hôi ròng ròng tuôn theo dòng chữ đã viết, mấy ai đã thấu hiểu? Tự nhủ, “Đã mang lấy nghiệp vào thân”, những số phận lữ hành cô độc ấy vẫn lầm lũi băng qua sa mạc đang hiện diện trước mắt mỗi ngày là cái màn hình. Phẳng đến lạnh lùng. Chẳng cần gì tiếng vỗ tay. Chẳng cần gì lời động viên. Những gì đã viết, nếu có duyên với nhau, không lúc này ắt lúc khác sẽ có người thành tâm chia sẻ. Đọc lại quyển Chương Dân thi thoại của Phan Khôi, làm sao không hứng thú với chi tiết: “Cách đây hai mươi năm, tôi (Phan Khôi) có ông dượng tên Nguyễn Lâm, Ấm Sinh, con quan Phụ đạo Nguyễn Thành Ý, đi Đàng Trong về, đọc cho tôi nghe bài thơ Tống biệt của người bạn ở Bình Thuận:

Trái mù u trên núi

Chảy xuống cửa Phan Rang

Ông đi về ngoài nớ

Trong lòng tôi chẳng an

Bao giờ ông trở vô

Gặp tôi ở giữa đàng

Nắm tay nói chuyện chơi

Uống rượu cười nghênh ngang!

Ông dượng tôi đọc bài ấy cốt để làm trò cười, ý ông cho là thơ gì mà nói như nói chuyện vậy. Bấy giờ tôi còn bé, thấy ông cười cũng cười. Sau tôi tỉnh ngộ ra, biết là hay, thì ông Lâm đã chết. Bài ấy mới nghe dường như quê, nhưng tôi đã đọc cho mấy tay rành thơ nghe, ai cũng chịu”. Ông Phan Khôi nhận xét đúng, vâng, quả là bài thơ hay. Bài thơ lấy vần “ang”, thoạt nghe ngang phè phè nhưng quý ở chỗ cái tình tri kỷ. Nếu sau này gặp lại, chẳng khách sáo, màu mè gì, dù gặp giữa đàng đi nữa cũng nắm tay nhau, nói cười rổn rảng rồi nốc rượu nghênh ngang! Còn gì khoái trá hơn?

Lâu chuyện của Phan Khôi kể về bài thơ trên nặng về cái tình. Có lẽ cho đến nay, nặng tình nhất với Tự Lực văn đoàn vẫn là nhà văn Vu Gia. Anh đã thực hiện nhiều tập sách nhất về các nhân vật chủ chốt nhóm này, có thể kể đến Khái Hưng - nhà tiểu thuyết; Thạch Lam - thân thế và sự nghiệp; Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học; Hoàng Đạo - nhà báo, nhà văn; Trần Tiêu - nhà văn độc đáo của Tự lực văn đoàn; Tú Mỡ - người gieo tiếng cười, Thế Lữ - một khách tình si. Nghe đâu, một tập sách khác về Xuân Diệu của anh cũng sẽ ấn hành nay mai. Với y, khi đọc văn chương của nhóm này, một trong những điều tâm đắc, yêu quý nhất vẫn là trong phép cư xử của họ nặng về cái tình.

Còn nhớ đến chuyện này, đã đọc đâu đó, đã lâu. Cứ kể lại, hôm nào hỏi anh Vu Gia kỹ càng xem sao. Rằng, nhà văn Hoàng Đạo có viết truyện ngắn Bóng thủy tiên (in trong tập Tiếng đàn, 1941), là một câu chuyện tình diễm lệ rất hay. Đọc xong, nhà thơ Thế Lữ đã “diễn” lại thành thơ! Thế Lữ làm điều đó, có lẽ vì tình tiết trong truyện ngắn này phù hợp với thơ hay vì tình bạn? Có lẽ cả hai. Nay kể lại, nhiều người có thể không tin nhưng thưa rằng, “nói có sách mách có chứng”: Trong tập Mấy vần thơ,   Thế Lữ ghi rõ “phỏng theo văn xuôi Bóng thủy tiên”. Nhắc lại cho tiết này, còn vì y muốn xác tín những gì đã viết ắt có sự đồng cảm của người khác, không lúc này ắt lúc kia.

Mấy hôm nay, đọc nhiều bản thảo. Dừng lại với tập bút ký văn học Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn. Với y, cũng nặng về cái tình của nhau. Cả thảy 160 ngàn chữ. Sắp in. Bằng mọi cách để in. Tập sách viết về thế hệ của bọn y thời ở chiến trường K trên quê hương Chùa Tháp. Thời buổi này, những trang viết về năm tháng chiến tranh của thập niên 1980, liệu có còn ai quan tâm? Cần quái gì. Đã là người trong cuộc ắt phải viết. Như một cách trả nợ cùng đồng đội về năm tháng của tuổi trẻ. Đọc và rưng rưng cảm động nhớ về tình bạn cầm súng thuở mới 18, đôi mươi. Trích lấy một đoạn Tuấn viết về y, lúc đóng quân ở sát biên giới Kampuchia - Thái Lan: “Một hôm, tôi sang chỗ Quốc chơi. Y đi đâu mà để võng treo toong teng thế này? Thôi cứ nằm chờ, đợi Quốc về. Nhưng vừa ngồi vào võng, định ngả mình, tôi thấy lạ. Nhìn vào đầu võng, thấy toàn thơ là thơ. Nhìn xuống giữa võng, cũng thấy toàn thơ Quốc viết. Đầu kia cũng vậy. Hắn viết bằng bút bi nên chữ không nhòe, rất rõ. Tôi lật mặt kia của võng lên xem, cũng thấy thơ Quốc viết đầy. Cái anh chàng này, không có giấy hay sao mà phải viết thơ lên võng thế này?”.

Nếu không là tri kỷ, là yêu thơ của nhau làm sao Tuấn có câu kết mà xong ứa nước mắt: “Một người lính như thế, nhỡ chết đi thì tiếc biết bao!”.

Từ kỷ niệm cũ mà Tuấn vừa nhắc trên, chiều nay, sực nghĩ nhà thơ rất gần với…các nhà nghiên cứu khoa học. Tại sao à? Trong lúc thiên hạ đang lo toan, cắm mặt xuống cơm áo gạo tiền, họ lại viễn vông mãi tận đẩu tận đâu. Chẳng hạn, việc quan tâm lục địa mới Zealandia vừa nêu trên “ăn nhậu” gì với mái ấm riêng tư của mình? Lại nữa, họ còn quan tâm đến cả việc... lập quốc gia trên không gian! Không tin à? Theo Báo Thanh Niên ra ngày 6.10.2016: “Tờ The Guardian dẫn lời Chủ tịch Ủy ban Khoa học không gian của UNESCO Igor Ashurbeyli, người đứng đầu dự án Asgardia, tuyên bố “quốc gia” này sẽ là “miền đất hứa cho nghiên cứu khoa học và loại bỏ mọi giới hạn địa chính trị”.

Xin hỏi, Asgardia là gì? Bài báo này giải thích: “Theo thần thoại Bắc Âu, Asgard là vương quốc của các vị thần. Tại đó, Odin, Thor, Loki và nhiều vị thần khác ngự trong cung điện Valhalla và quan sát đời sống của người trần dưới cõi phàm. Hình ảnh này chính là nguồn cảm hứng cho một nhóm khoa học gia và doanh nhân để xây dựng kế hoạch thành lập Asgardia, quốc gia đầu tiên trên không gian”. Đọc xong thông tin này, tự dưng tủm tỉm cười. Các nhà khoa học rõ là khéo có óc tưởng tượng, nào kém gì các nhà thơ? Trong Di cảo thơ Chế Lan Viên có bài tứ tuyệt Hái trên trời:

Mẹ già chạy gạo nuôi anh từng ngày từng buổi

Một tháng bao lần ngô ghế theo khoai

Thế mà anh đi tìm nắm cỏ tiên để hái

Mẹ cần ăn, anh cho nắm cỏ hái trên trời!

Đành rằng là thế. “Đã mang lấy nghiệp vào thân”. Biết thế nào. Trở lại với “quốc gia đầu tiên trên không gian”, ghi nhận thêm đôi dòng nữa bởi trước đó, y chưa hề biết đến: “Theo Popular Science, Asgardia có thể tạo ra những thách thức không nhỏ đối với Hiệp ước thượng tầng không gian (OST) do 104 quốc gia ký kết năm 1967 nhằm tạo ra khuôn khổ pháp lý cho hoạt động trong không gian. Nếu Asgardia tự xưng là một nhà nước có chủ quyền thì có thể sẽ vi phạm quy định của OST rằng không một quốc gia nào có thể tuyên bố chủ quyền hoặc chiếm đóng bất cứ khu vực hay thực thể nào trên vũ trụ và công cuộc thám hiểm không gian phải nhằm mục đích phục vụ cho toàn thể nhân loại. Mặt khác, OST cũng quy định quốc gia nào phóng vật thể bất kỳ lên không gian thì phải chịu trách nhiệm về nó, bao gồm cả những tổn thất có thể gây ra đối với trái đất hoặc tài sản của quốc gia khác trên quỹ đạo. Trong trường hợp Asgardia thì sẽ rất khó xác định trách nhiệm nếu xảy ra sự cố”.

Đọc xong bài báo, hiểu thêm đôi điều, là một cái thú. Đọc xong bài thơ, phát hiện ra câu hay, là một cái thú. Đôi khi chỉ có thế đã thấy lòng nhẹ nhàng, hài lòng chứ nào phải chờ có được những gì lớn lao, to tát.


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 2.2.2017

16388354_1869313576686700_6285984214730166570_n

 

Cất cánh phi cơ chỉ một giây

Đã chạm tuổi thơ dưới gót giày

Mới vừa hít thở cùng Đà Nẵng

Đã say trời đất ủ men say

Cảm giác ấy là của lúc xế trưa ba mươi. Ngày Tết qua nhanh. Đã vào lại Sài Gòn. Mệt mỏi đến bã người. Cũng như mọi năm, thấy Tết là sợ. Sợ nhất vẫn là lúc phải bắt nhịp lại công việc mỗi ngày. Không phải ngẫu nhiên, trước Tết có nhiều ý kiến cho rằng nên nhập Tết Tây và Tết Ta làm một. Ăn một cái Tết Tây thôi. Thế là đủ. Ý kiến này bị “ném đá” tơi bời. 

Bản tin “203 người chết vì tai nạn giao thông trong 7 ngày Tết” cho biết: "Theo thống kê của Cục Cảnh sát giao thông (Bộ Công an), trong 7 ngày nghỉ Tết Đinh Dậu 2017, cả nước xảy ra 368 vụ tai nạn giao thông (TNGT), làm chết 203 người, bị thương 417 người... So với cùng kỳ tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016, TNGT tăng 29,5% về số vụ, tăng 11,5 % số người chết, tăng 48% số người bị thương… Nguyên nhân một phần là tâm lý ngày xuân, người tham gia giao thông tùy tiện vi phạm luật, nhiều người lái xe sau khi uống rượu bia, không đội mũ bảo hiểm (nguồn: vnexpress ngày 1.2.2017).

Sáng mồng 5 Tết, Đà Nẵng có mưa phùn. Thời tiết lành lạnh. Quán xá đã bắt đầu mở cửa. Chen chân. Chật cứng. Khó có thể kiên nhẫn ngồi chờ thưởng thức món ăn ngon nào. Rồi lại bia bọt. Nát và nhão cả người. Làm gì cho hết mấy ngày Tết, nếu không là bù khú nhậu nhẹt? Sáng hôm ấy, dậy sớm, ngồi trước căn nhà của thời hoa niên, ngó đất nhìn trời và viết vu vơ đôi câu thơ. Ngôi nhà này, y đã sống và mãi mãi là nơi chốn của lúc quay về cùng Đà Nẵng. Có lẽ, ưng ý nhất vẫn là những câu lục bát đã viết từ Tết năm 2016.

Ngôi nhà của tuổi ấu thơ

Tôi về sung sướng lật tờ giấy thơm

Thấy từ ký ức rạ rơm

Những ngày đi học rập rờn nắng mưa


Vòng tay ngoan ngoãn dạ thưa

Vẫn còn ba mẹ đón đưa ân cần

Nền nhà còn đó dấu chân

Tường nhà vọng tiếng tình thân của đời


Quay về gặp tuổi lên mười

Hoa niên xanh thắm mây trời chưa xa

Nghe từ trẻ nhỏ ê a

Âm vang tiếng ấy hoá ra tiếng mình


Cội nguồn một dạ đinh ninh

Vẫn vẹn nguyên một dấu tình không phai

Hạt mầm. Biếc lá. Xanh cây

Tôi về cầm lấy bàn tay vỗ về


Về nhà? Tôi lại về quê

Quê nhà muôn thuở là quê của nhà

Bỗng nghe tiếng khóc oa oa

Tôi lọt lòng mẹ bước ra cõi người

Về quê nhà, còn có mẹ, cảm giác ấy hạnh phúc và sung sướng biết dường nào. Có lẽ cũng chẳng còn dài nữa. “Mẹ già như chuối chín cây”. Rồi đén một lúc nào đó, gã trung niên là y cũng bước vào ngưỡng cửa ấy.  Vòng quay một đời người qua nhanh. Ngày xuân,con én đưa thoi. Chớp mắt là về một cõi khác. Sáng nay, xuống phố. Sài Gòn vẫn vắng người. Thiên hạ còn mải mê du xuân chúc Tết. Trên trang facebook cá nhân, nhà văn Bùi Anh Tấn cho biết: "Theo thống kê của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, hiện cả nước có 7.966 lễ hội, trong đó có 7.039 lễ hội dân gian, 332 lễ hội lịch sử - cách mạng, 544 lễ hội tôn giáo và gần 30 lễ hội du nhập. Ngoài ra, còn những lễ hội nội bộ như ngành, địa phương, đơn vị, dòng họ... Chưa kể một số lễ hội "mới" chưa được thống kê bổ sung như các lễ hội du lịch, lễ hội bánh tét, lễ hội hoa... Tính ra, trung bình mỗi ngày trên đất nước ta diễn ra khoảng 22 lễ hội. Tức hơn một giờ, ở Việt Nam lại có một lễ hội diễn ra... Liệu trên thế giới, có nước nào, dân tộc nào "yêu" lễ hội như Việt Nam chúng ta chăng?". Thông tin này, anh Tấn quên bổ sung thêm chi tiết đã ghi rành rành trên pano khắp các nẻo đường: "Lễ hội đền Trần Thái Bình di sản văn hóa vật thể phi quốc gia". Xin miễn bình luận.

Chiều nay, dù trống rỗng từ thể xác đến linh hồn nhưng cũng gắng gượng gõ bàn phím. Tập lấy lại thói quen của những ngày hăm hở, sung sức trước Tết. Dịp Tết nào cũng thế, quá mệt cho cái sự nghỉ ngơi quá dài ngày và giết cái sự dài ngày ấy bằng cách nâng ly nốc cả biển bia, sông rượu trôi tuột qua cổ họng. Nghĩ cũng vui. Rồi nghĩ cũng chán. Đành phải thế. “Tết mà”. Câu nói quen thuộc ấy luôn thường trực trong tâm trí của y, sau lần tặc lưỡi.

Ngoài trời, u ám. Thời tiết thật lạ. Như sắp có mưa. Ảm đạm. Quả nhiên đã rơi mưa ngoài hiên. Nghĩ vẩn vơ một chút. Cũng chuyện chữ nghĩa. Làng nhàng. Cho vui trong sắc màu tẻ nhạt của buồi chiều đang mưa như thác đổ. Dám cả quyết rằng, hiện nay, người đàn ông nổi tiếng nhất trên thế giới, mọi động tĩnh gì của ông ta đều trở thành sự chú ý của dư luận năm châu bốn biển: Donald Trump. Trước đó, cuộc chạy đua vào Nhà Trắng của ông ta cùng bà Hillary Clinton, thiên hạ thót tim theo dõi từng chút một và tha hồ bình luận. Y không hiểu gì thể lệ bầu cử ở Mỹ, về chính trị nên không dám hó hé gì. Nay, ông ta đã trở thành tổng thống thứ 45 của nước Mỹ.

Thích thú với thông tin: “Nhức đầu với việc dịch tên ông Trump sang tiếng Trung”, theo Báo Thanh Niên ngày 26.1.2017: “Tên chính thức của ông Trump theo người Trung Quốc là Te Lang Pu, dịch ra có nghĩa là “phi thường, sáng chói và được ngưỡng mộ”, một cái tên mà chắc chắn ông Trump nhất định chọn nếu có thể đặt tên cho chính mình. Tuy nhiên, nó cũng có thể mang nghĩa “bất thường, ồn ào và dung tục”, 100% là cái tên mà những người phản đối muốn gọi ông này, theo tờ USA Today ngày 25.1.2017.

Sở dĩ có sự trái ngược chan chát về nghĩa trên là do người Trung Quốc không đọc được tên bằng ngôn ngữ khác mà diễn dịch tất tần tật sang ký tự bằng tiếng Hán, dựa trên âm để dịch chứ không phải chữ viết. Kết quả là khi viết một tên nước ngoài bằng tiếng Trung, bạn có thể bổ sung thêm nghĩa mới vào tên của người khác dù muốn hay không. Do nguy cơ trên, Trung Quốc có văn phòng dịch thuật thuộc hãng thông tấn Tân Hoa xã. Các nhân viên ở đây dịch hàng chục tên nước ngoài mỗi ngày, và nếu là trường hợp nhạy cảm, họ sẽ chuyển cho Bộ Ngoại giao để xét duyệt.

Và tất nhiên trong những ngày qua, cơ quan trên tối tăm mặt mũi khi chuyển tên các thành viên trong nội các mới ở Washington. Ứng viên ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson trở thành Di Le Sen, cố vấn tổng thống Kellyanne Conway là Kang Wei, và Ryan Zinke, ứng viên bộ trưởng Nội vụ, là Jin Ke. Thế nhưng Hồng Kông và Đài Loan lại chọn cái tên khác cho ông Trump: Chuan Pu, được đánh giá là cái tên tốt nhất vì ngắn gọn và gần nghĩa nhất so với nguyên tác”.

Đọc lại thơ văn vô sản thập niên 1930, mới biết rằng, ngày ấy, người Việt dùng từ “Lý Ninh” để gọi Lénin. Không rõ đến thời điểm nào mới gọi Lê Nin? Cái tên của một con người quan trọng đến vậy. Ai cũng có một cái tên. Nhưng rồi, hầu hết trở thành Vô Danh. Các nhà nho dấn thân ngày trước rất coi trọng cái tên của mình, nay thiên hạ cũng thế thôi. Chằng gì khác. Hôm nào rảnh rỗi, đọc lại tiểu sử của nhà nho Trần Danh Án xem sao. Một người viết hai câu thơ này, há nào phải tầm thường:

Nam nhi bất tác oanh thiên sự,
Hư độ phù sinh tử diệc hưu.

(Tài trai không làm được việc vang trời. thì sống cũng uổng một đời, rồi chết cũng thôi).

Ai rồi không chết? Vậy cứ sống thỏa thích theo ý mình, có phải tốt hơn không? Không dám có ý kiến gì. Đọc sử, đôi khi lại thấy tiếc cho Nguyễn Hữu Chỉnh. Thơ là người. Câu thơ vận vào người dễ như bỡn. Tương truyền Chỉnh ứng khẩu năm 8 tuổi, lúc theo cha đi chúc Tết thầy đồ, lúc ấy, thầy bảo vịnh cái pháo:

Xác không vốn những cậy tay người,

Bao nả công trình, tạch cái thôi.

Kêu lắm lại càng tan tác lắm,

Thế nào cũng một tiếng mà thôi.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Quỳnh Chân: “Người ta thường luận rằng "khẩu khí" bài này cho thấy Chỉnh không có thực tài, làm nên sự nghiệp đều "cậy tay người", song càng trèo cao càng ngã đau, rút cục chết phanh thây mà công danh cũng không còn, khác nào làm cái pháo công trình mà chỉ nổ tạch một tiếng, tan xác là hết. Cũng may sự nghiệp văn chương của Chỉnh không dừng lại ở bài Vịnh cái pháo nên ngày nay chúng ta còn có cơ hội suy xét Chỉnh một cách công bằng hơn” (Thế Kỷ 21, số 64, tháng 8, 1994). Luận như thế, có hợp lý không? Y không có ý kiến. Tình cờ, đọc trên mạng vi.wikisource, thấy có một dị bản khác của bài thơ này. Có lẽ do người đời sau, vì thương lấy số phận của Chỉnh mà chỉnh lại chăng?

Pháo mới kêu to một tiếng đùng

Hỡi ơi xác pháo đã tan không

Tiếc thay thân pháo không còn nữa

Nhưng đã tan ra vạn sắc hồng

Bài thơ này, xét ra “có hậu” hơn. Cũng may, ở Việt Nam cấm đốt pháo đã lâu, thời ông Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng thì phải. Còn nhớ bấy giờ, trên tờ Người Hà Nội, nhà văn Tô Hoài có viết bài luận về cách làm pháo ngày xưa, bị rày rà to. Không có tiếng pháo rồi cũng quen đi. Tốt thôi. Đôi khi, ngồi suy nghĩ vẩn vơ này nọ cũng là một cách ngốn cho mau hết thời gian của một buổi chiều bó chân ngồi nhà, bởi ngoài trời đang mưa. Nói như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Trong lòng phố mưa đêm trói chân”. Thời nhỏ đọc và thích câu này: “Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách” (Mưa không có then khóa mà giữ được khách).  Thật ra, bình thường thôi, câu đối lại hay hơn: "Sắc bất ba đào dị nịch nhân" (Sắc đẹp chẳng phải sóng gió mà làm đắm đuối người ta). Lúc đã liễu chán hoa chê, lăn lóc đá, mê mẩn đời, nghiệm lại thấy chẳng sai. Và mỗi lần đọc lại thấy thích. 

Và bây giờ thích gì? Chẳng rõ nữa.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 15.1.2017

 

ngay-me-benh1R

 

Người đời thử ngẫm mà hay

Trăm năm thì ngắn, một ngày dài ghê

Còn ai, ai tỉnh ai mê

Những ai thiên cổ đi về những đâu?

Thơ Tản Đà. Một chữ đã viết ra, làng trên xóm dưới đều đọc, sau này, nếu muốn xóa đi, dễ hay khó? Muốn trả lời câu hỏi đó, phải tự trả lời câu hỏi này: Chữ ấy, mình đã viết trong tâm thế, tâm thức nào? Để từ đó, khi đối diện lại, dù nó đã bị xóa đi hay vẫn còn sờ sờ ra đó, dù nhận thức đã thay đổi nhưng người viết cũng không mắc cỡ, xấu hổ với chính mình. Một chữ đã viết ra, dù bạn đọc đã xóa, đã quên nhưng làm sao xóa khỏi lòng mình? Cái nghề cầm bút nhọc nhằn là ở chỗ đó, chứ không phải vì tất bật mưu sinh, bận rộn gõ phím mỗi ngày. Đã ăn hạt ngọc trời đến mòn răng bằng nghề cày chữ, nếu nhìn lại những gì đã viết, y nghĩ gì?

Chỉ xin bàn về một chuyện nhỏ, ấy là những lúc viết Chuyện tình các danh nhân Việt Nam, Kể chuyện danh nhân và tiểu thuyết lịch sử, qua đó, y đã có những mối thân tình anh em từ con cháu của người đã khuất. Ngày gần đây, cuối năm y lại nhận từ bưu điện nhiều, khá nhiều tài liệu về họa sĩ Mạnh Quỳnh. Đã khá lâu, chừng hơn mười trước, y có viết bài báo Họa sĩ Mạnh Quỳnh và thi sĩ La Fontaine, không còn nhớ đến nữa. Đột nhiên, ngày nọ y nhận được điện thoại của con trai họa sĩ Mạnh Quỳnh nhắc lại. Từ một bài báo mở ra một cái tình. Quý thay. Với khá nhiều tài liệu vừa nhận được, qua Tết, đọc kỹ, có thể viết được cái gì đó.

Sáng hôm qua, đến Trường Đại học Sư phạm mừng sinh nhật 80 của PGS-TS Trần Hữu Tá. Với những gì y đã viết, đã có nhiều người nhận xét, đánh giá, thú thật, vẫn thích nhất lời nhận xét, đại khái theo ông, y là mẫu người vừa có khả năng chặt tre vừa có khả năng vót tăm. Ngắn mà đầy đủ. Dịp này, tập sách Trần Hữu Tá - Từ bục giảng đến văn đàn (NXB Thanh Niên) được ấn hành. Ngồi trong hội trường, cầm tập sách tranh thủ đọc loáng thoáng, biết thêm chi tiết: Trước đây, công trình nghiên cứu Nhìn lại một chặng đường văn học, dày 1.400 in, khổ 19x24 cm do ông chủ biên, đề cập đến dòng văn học yêu nước tại đô thị miền Nam suýt bị ách lại, cấm phát hành.

Hãy nghe nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ kể lại: “Nhân, trong phần trích dẫn các bài viết trước 1975, có một bài của Cao Tùng, với cái tít “Thiên tài Phạm Duy”, vốn được đăng trên tạp chí Trình bày. Ngay khi đọc và sửa bản in, tôi đã thấy ngại, vì lúc đó nhạc sĩ Phạm Duy chưa được cho về nước, và người ta còn “úy kỵ” ông lắm, tôi có đề nghị anh Tá nên thêm vào hai dấu ngoặc kép để trước và sau hai chữ thiên tài. Nhưng anh Trần Hữu Tá cương quyết không chịu. Đó là thái độ làm việc nghiêm túc và trung thực của một nhà nghiên cứu văn học chân chính. Vậy mà sự chân chính ấy suýt phải trả giá không nhỏ” (SĐD, tr.210-211).

Sau đó, trên báo Tuổi trẻ chủ nhật số ra ngày 1.6.2000 có đăng bài của Tần Hoài Dạ Vũ “viết giải thích tác giả bài báo gọi “thiên tài” Phạm Duy chỉ là một cách nói mỉa”, chứ nào phải ca ngợi gì, nhờ vậy mọi việc được thu xếp ổn thỏa, suôn sẻ. Lật lại quyển sách Nhìn lại một chặng đường văn học kiểm chứng, mới biết Tần Hoài Dạ Vũ nhớ sai, tác giả là Cao Thanh Tùng, chứ không phải Cao Tùng; tựa bài báo là “Phạm Duy… bất tử” từng in trên tạp chí Trình bày số 23 ra ngày 3.7.1971, chứ không phải “Thiên tài Phạm Duy”. Dù sai một, hai chi tiết vừa nêu nhưng câu chuyện trên có thật, nhắc lại đến thấy lại não trạng của một thời. Những người đứng ngoài, không theo nghiệp nghiên cứu khó có thể hình dung ra nổi.

Trong bài viết PGS-TS Trần Hữu Tá - một người hiền chọn in trong tập sách  Trần Hữu Tá - Từ bục giảng đến văn đàn, y có nhắc lại một  kỷ niệm về công trình Từ điển văn học (bộ mới) do ông đồng chủ biên với các ông Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu. Cười cho cái thói ngựa non háu đá của y. Rằng, đã từng đọc bộ sách này từ thời sinh viên, đến lúc ra trường, đọc kỹ hơn, phát hiện ra trong đó còn  thiếu nhiều tác giả. Thế là y viết bài góp ý. Rồi mươi năm sau, còn nhớ hôm ra mắt Từ điển Văn học (bộ mới) tại Công ty Fahasa, ông còn chủ động nhắc lại chuyện đó một cách vui vẻ. Thì ra cái tâm độ lượng, cái tính học thuật của ông là vậy.

Có lẽ, y góp ý đúng nhưng lúc đó, ông không tiện trả lời vì ở thời điểm thập niên 1980 còn có những “rào cản” nhất định khi chọn người này, không chọn người kia! Sau này, lăn lộn trường văn trận bút, đã kiếm sống bằng nghề viết ròng rã gần hết đời người, ăn cơm mòn răng từ nhuận bút, y mới nhận ra sự đời đâu đơn giản như đã nghĩ. “Thức lâu mới biết đêm dài”. Còn nhiêu khê chán. Khổ nỗi, thời trẻ, y nào có hiểu.

Thế đấy, nhận thức mỗi thời mỗi khác. Đôi khi nhớ lại những câu chuyện đã qua, y biết, có nhiều người tự hỏi, một chữ đã viết ra có xóa đi được không là vậy. Thôi thì cái tâm, cái lòng thế nào thì hãy viết thế, nhờ đó, vừa nhận được những tài liệu rất quý về họa sĩ Mạnh Quỳnh? Thời đó viết gì? Viết rằng:

Quái lạ, một họa sĩ tiên phong trong lãnh vực sáng tác truyện tranh nổi tiếng cùa Việt Nam như Mạnh Quỳnh, lại không có mấy tài liệu đề cập đến.

Thế nhưng, trong ký ức của những người cùng thế hệ thì vóc dáng của ông vẫn còn sừng sững. Mọi người thường nhắc đến ông với tất cả sự khâm phục. Nhà thơ Thy Ngọc ở tuổi “cổ lai hy”, nay ngoài 80 xuân nhớ lại: “Năm tôi học lớp 3, lớp 4 tiểu học thì họa sĩ Mạnh Quỳnh đã nổi tiếng. Bấy giờ, ông vẽ truyện tranh phiêu lưu, vui nhộn nhưng lại có tựa bí hiểm là Kao co và vẽ nhân vật Vá, Vếu cho tờ báo Cậu Ấm - Cô Chiêu của ông Thái Phỉ Nguyễn Đức Phong”.

Cậu Ấm - Cô Chiêu là tờ báo nhi đồng đầu tiên trong tiến trình lịch sử báo chí Việt Nam. Từ số 1 đến số 12 (ra ngày 8.5.1935) có tên Cậu Ấm báo con trai. Bắt đầu từ số 13 (ra ngày 15.5.1935) được đổi tên thành báo Cậu Ấm - Cô Chiêu. Tòa soạn đặt tại số 82 Rue du Coton (Phố Hàng Bông - Hà Nội). Báo in theo khổ 19x 29 cm, dày 20 trang. Họa sĩ Mạnh Quỳnh là cây cọ chủ lực của tờ báo này.

Nhà thơ Thy Ngọc nói tiếp: “Họa sĩ Mạnh Quỳnh họ Ngô, ấn tượng đối với tôi là vóc dáng của ông cao lớn, nói năng không hoạt bát nhưng lúc nào cũng trẻ trung, hay cười - tạo cho người gặp đầu tiên những tình cảm đáng tin cậy. Ngoài việc vẽ truyện tranh, ông còn là người đầu tiên vẽ phim không cử động ở hiệu ảnh Hạ Long. Thời đó, chưa có băng vidéo hoạt hình, do đó, tuổi nhỏ của chúng tôi rất mê loại “phim” của ông. Không rõ từ bao giờ, ông đã mở lớp vẽ tư ở nhà riêng tại Hàng Trống - trước đó ở phố Nhà Thương Khách. Nhiều họa sĩ nổi tiếng hiện nay từng là học trò của ông”.

Nhà thơ Thy Ngọc cho biết thêm, Mạnh Quỳnh còn là người vẽ tranh minh họa cho bộ truyện ngụ ngôn của thi sĩ Pháp La Fontaine (1612-1695).

Lần đầu tiên đến Việt Nam, tên thi sĩ lừng danh này được phiên âm qua Hán - Việt là Lã Phụng Tiên, được dịch in bằng chữ Quốc ngữ trong quyển Hải lục cách ngôn do Đỗ Thận chủ trương, in tại nhà in H. Schneider và bán tại hiệu Ích Ký (58 Hàng Giấy - Hà Nội) cùng thời với hoạt động của trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Còn bài thơ ngụ ngôn đầu tiên được công bố trên báo chí Quốc ngữ là Truyện con sói và con chiên con  đăng trên tờ Đại Nam đăng cổ tùng báo (số 821 ngày thứ Năm 10.10.1907) và người dịch là nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936). Sau đó, tập hợp lại những bài đã in, Nguyễn Văn Vĩnh cho xuất bản tập La Fontaine - Thơ ngụ ngôn (Trung Bắc Tân Văn XB năm 1928), gồm 44 bài mà người minh họa là họa sĩ Mạnh Quỳnh. Nét vẽ của ông đậm đặc cảnh vật và người Việt Nam. NXB Cảo Thơm ở miền Nam tái bản vào năm 1969.

Xem La Fontaine - Thơ ngụ ngôn ta thấy hết sức thú vị. Chẳng hạn, với bài Anh chàng đứng tuổi với hai chị nhân ngãi - họa sĩ Mạnh Quỳnh vẽ người đàn ông khăn đóng, tay cầm ô; còn phụ nữ thì chít khăn mỏ quạ, tay cầm quạt. Truyện cô hàng sữa, ông vẽ nhân vật chính là cô Perrette giống hệt hình ảnh cô gái quê đầu thế kỷ XX v.v...

Biết được điều này, hẳn La Fontaine rất hài lòng, bởi lẽ, ngụ ngôn của ông đã đạt đến tính phổ biến của nhân loại, thì mỗi nơi có một cách tiếp cận riêng với từng nhân vật ấy là lẽ tất nhiên. Thông điệp trong ngụ ngôn này là “Không bao giờ bán da con gấu khi chưa hạ được nó”; hoặc “Chạy chẳng lợi ích gì, mà phải biết khởi hành đúng lúc”, “Nghi ngờ là mẹ của an toàn”, “Bụng đói thì không có tai” v.v…đâu chỉ dân tộc Pháp mới cảm nhận như vậy, ở Việt Nam cũng thế thôi. Đặc biệt, loài vật của La Fontaine hiện ra dưới nét vẽ của Mạnh Quỳnh thật ngộ nghĩnh. Ngay cả con vật dữ tợn như sư tử, sói… cũng đều biết cười. Và trông nét mặt chúng đáng yêu làm sao!

Chính vì có cách thể hiện độc đáo của riêng mình, nên mãi đến bây giờ, ở Việt Nam, chưa có họa sĩ nào minh họa thơ ngụ ngôn La Fontaine tuyệt hơn Mạnh Quỳnh. Theo nhà thơ Thy Ngọc thì ông sinh khoảng trước năm 1920 và mới mất độ dăm năm trở lại đây tại Hà Nội”.

Nhân đây cũng xin nói luôn, cách đây chừng mươi năm, chính từ bộ Cậu Ấm - Cô Chiêu, y đã sưu tập đầy đủ tập truyện dài nhiều kỳ Đảng Rỗ Bẩy của nhà văn Nguyễn Công Hoan và NXB Trẻ đã in lại thành sách. Bài báo trên y cho rằng từ năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh là người đầu tiên dịch thơ ngụ ngôn của thi sĩ Pháp La Fontaine. Nay nhận thức lại, trước đó rất nhiều năm, từ năm 1881 chính nhà văn Trương Minh Ký với Truyện Lang Sa diễn ra Quốc ngữ, in từng kỳ trên Gia Định Báo mới là người đầu tiên dịch thơ La Fontaine, tuy nhiên ông lại sang văn xuôi.

Thoáng đó, có nhiều người, y viết về thân sinh, người thân của họ, qua đó đã có mối thân tình nhưng nay họ cũng mất, chẳng hạn trường hợp chị Vũ Mỵ Hằng - con gái nhà văn Vũ Trọng Phụng, bà cụ Nguyễn Thị Thịnh - vợ của bác sĩ Đỗ Xuân Hợp... Hôm kia điện thoại hỏi thăm mới biết chị Vân - con gái nhà văn Lê Văn Trương ọp ẹp lắm rồi, phải chạy thận thường xuyên. Nhắc lại để thấy phần số đời người ngắn lắm. Ngắn như một chớp mắt. Rồi tan biến mất hút.

Sáng nay, dậy sớm như mọi ngày và vẫn cần mẫn gõ phím. Trong lòng không hề gợn lên một chút gì về xuân vói Tết. Mua Sài Gòn giải phóng, tờ báo này đã in bài thơ Ngày mẹ bệnh, y viết tặng bạn Nguyễn Minh Nhựt. Viết tặng do ngày nọ tình cờ đọc trên trang Facebook thấy anh cạo trọc đầu vì cầu mong, khấn nguyện cho mẹ mau lành bệnh:

“Trong con, mẹ - đóa hoa sen

Một đời chân chất dấu phèn chân quê

 

Châu Thành yêu dấu Bến Tre

Trăng đêm sáng. Nắng trưa hè. Vẫn xanh

 

Tuổi thơ hoa bưởi, hương chanh

Thơm bàn tay mẹ dỗ dành giấc mơ

 

Lời mẹ ru. Nhịp ầu ơ

Vẫn lắng đọng giọt phù sa quê mình

 

Từng ngày vạt nắng lung linh

Vẫn cầu cho mẹ ấm tình xưa sau

 

Bóng dừa biêng biếc nhịp cầu

Mẹ lại khỏe - lẽ nhiệm mầu trong con”.

Bài thơ mở đầu và khép lại bằng 2 từ “trong con” cho thấy sự nhận thức về mẹ mỗi thời mỗi khác. Ngày còn thơ ấu, ai cũng nghĩ mẹ mình là đóa sen, là Phật Bà, là sự màu nhiệm tuyệt vời nhất, đúng như câu danh ngôn rất hay: “Thượng đế không có mặt ở khắp mọi nơi nên ngài đã sinh ra các bà mẹ”; lúc mình lớn lên, mẹ mình lại già yếu, mình chỉ cầu mong một điều thiêng liêng: “Mẹ lại khỏe - lẽ nhiệm mầu trong con”. Nguyện cầu về lẽ màu nhiệm ấy, mỗi người có một cách, có người “Đêm đêm thắp ngọn sao trời/ Cầu cho cha mẹ sống đời với con”, còn bạn mình lại xuống tóc. Vì thế rất cảm động. Cảm động về sự hiếu thảo của bạn mà viết.


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 11.1.2017

 

bng_binnh01_19

Cái bùng binh

 

Câu thơ này của Hồ Dzếnh. Xao xuyến. Ngậm ngùi.

Có anh chàng nọ Tưởng chuyện ngàn sau, lúc nằm trong áo quan, nhớ gì? “Ngậm ngùi nhớ trắng rừng mai/ Cảm thương sông nước ghi bài điếu tang/ Ngựa gầy, bóng gió mênh mang/ Cờ đen rủ lối, cây vàng nẻo xa…”.  Nỗi nhớ ấy, bình thường thôi, nếu có. Không gì ghê gớm lắm đâu. Đây mới sức bật, sự sáng tạo của một tâm hồn như tơ rung, bóng liễu, làn điệu của hồn thơ ấy rất gần với Huy Cận: “Ta nằm trong ván trông ra/ Tủi thân vì thấy người hoa vẫn cười”. Sao lại tủi thân? Mình đi về một cõi hư vô khác, người hoa vẫn cười, vẫn đẹp, vẫn thanh xuân mơn mỡn, vậy cớ sao không vui? Lại tủi thân ư? Lạ quá đi mất. Bởi tủi thân, cho nên: “Ta toan… giận dỗi xa đời/ Chợt hay: khăn liệm quanh người vẫn thơm”. Thế mới khổ. Mới đau. Luyến tiếc. Nhớ nhung. Buồn rầu thăm thẳm. Nhưng nào làm được gì nào? Vậy nên, “Nát thân không nát nổi hồn/ Lẫn trong cái chết vẫn còn cái đau”.

Theo bạn thơ là nhà biên kịch Đoàn Tuấn: "Dạo huy Cận còn sống, ông làm việc ở căn phòng ngay dưới tạp chí mình. Một lần, hỏi tại sao ông viết bài Trông lên? Ông cười: Mình tưởng tượng mình nằm dưới mộ, trông lên đời. Những câu thơ đẹp tuyêt:''Nằm im dưới gốc cây tơ/ Nhìn xuân trải lụa trên tờ lá non''. Đoạn này mới hay:'' Gió đưa hơi, gió đưa hơi/ Lá thơm như thể da trời: lá thơm/ Da trời mới tỏ sao hôm/ Mầu tinh khiết đã vào ôm giữa hồn/ Giữa trời hình lá con con/ Trời xa sắc biển, lá thon hình thuyền''. Bài thơ Tưởng chuyện ngàn sau cũng viết trong tâm thế đó, nhưng Hồ Dzếnh lại nghĩ lại nhớ đến "người hoa vẫn cười". Bóng dáng người hoa, trong đời ai cũng có. Làm sao có thể quên? Làm sao có thể nhớ? Làm sao có thể quên đi mùi hương trong áo, váy của nàng? Ông Ngô Thì Sỹ (1972-1780) có viết mười bài thơ nhớ vợ. Bài Tứ tuyệt nào cũng đầm đìa nước mắt. Chập chờn nhớ nhung. Yêu thương ngây ngất. Thích nhất bài thứ tư, y tạm dịch:

Nhớ nàng, lại mặc áo nàng

Vẫn còn sực nức hương lan thuở nào

Đường kim, mũi chỉ sít sao

Dấu tay còn đó. Nàng đâu? Não nùng…

Không rõ, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có đọc thơ Ngô Thì Sỹ hay không, nhưng có viết câu này: “Tình yêu như thương áo, quen hơi ngọt ngào”. Từ “quen hơi” ấy rất gần với ca dao, thoát xác từ ca dao: “Chim quyên ăn trái nhãn lồng/ Thia lia quen chậu, vợ chồng quen hơi”. Do quen hơi nên nàng nọ mới thủ thỉ cùng chàng nọ: “Anh về để áo lại đây/ Để khuya em đắp gió tây lạnh lùng”. Nghĩ thế, mới thấy rằng lúc nằm trong áo quan xa lạ thì con người ta đơn độc, đơn chiếc biết dường nào. Làm quái gì có thể “quen hơi”. Đã thế, “Ta nằm trong ván trông ra/ Tủi thân vì thấy người hoa vẫn cười”. Vậy, tủi thân thì cũng phải.

Mà này, chiều đã chiều. Năm mới vừa năm mới. Sao lại bàn chuyện này? Thưa rằng, cơn cớ như sau: Hôm kia viết bài cho báo nọ, bàn về chữ “sủ quẻ”, nói nôm na là tiền đặt cọc cho thầy bói trước lúc xem bói. Lật từ điển phát hiện ra trong tiếng Việt còn có từ “sũ”. Hai dấu hỏi/ ngã khác nhau. Thế “sũ” là gì? Chịu chết. Tìm trên internet mới biết ở Hà Nội ngày xưa có phố Lò Sũ. Nhiều trang mạng giải thích chắc nịch: “Như phố Lò Sũ, ít người biết ý nghĩa của tên phố này là phố… bán quan tài. Chữ “sũ”, tiếng Việt cổ, nghĩa là áo quan”. Đọc thì đọc thế. Liệu có đáng tin cậy? Ở nhà không nhiều sách từ điển lắm nhưng y lúc nào cũng vênh mặt là đủ xài, không cần phải vác xác vào thư viện nhờ cậy. Vậy mà không thể tìm đâu ra từ “sũ”.

Bèn email hỏi Hoàng Tuấn Công - một người mà y rất tin cậy về việc giải thích tục ngữ, thành ngữ tiếng Việt. Anh trả lời đã tra tìm, nhưng chưa thấy có cuốn từ điển nào ghi nhận từ "sũ". Xưa nay, chỉ biết đến từ "săng" nghĩa là cỗ quan tài. Mà chữ "săng" đây vốn là chữ "khăng" trong tiếng Việt cổ (hiện vẫn còn lưu giữ trong tiếng Mường). Tiếng Mường, "khăng" là chỉ chung các loại gỗ: "gộp khăng" (hộp gỗ) nghĩa là cỗ quan tài: “Hàng săng chết bó chiếu”, “Bán hàng như bán hàng săng/ Ai mua thì bán chẳng rằng mời ai”; Con gái như thể hàng săng/ Muốn bán chẳng dám nói năng nửa lời’.

Bèn điện thoại hỏi nhà biên kịch Đoàn Tuấn về phố Lò Sũ, nơi ấy bán những gì? Tuấn quả quyết ngay từ thuở bé đã đến, đã mua, đã nhìn thấy nơi ấy bày bán những hàng gốm, sành, sứ như quan quách, lu, hủ, vịm... Vậy thì có thể suy luận "sũ" là từ gọi chung các vật dụng làm/nặn bằng đất sét rồi nung qua lửa để sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày. Tất nhiên kể cả vật dụng cho người chết (như quan quách lúc hốt cốt). Nếu, "Phố Lò Sũ xưa kia chuyên đóng và bán áo quan (còn được gọi là Hàng Sũ)" như trên mạng giải thích thì "đóng và bán áo quan" như ta biết (bằng gỗ) không thể nào đi chung với từ "lò" được.

Chỉ mới chừng trăm năm, nhưng có nhiều từ, khó có thể giải thích chính xác. Sáng nay, như mọi ngày, vẫn đọc báo. Và phát hiện ra vài nhiều từ ngộ nghĩnh. Chẳng hạn, theo Báo Thanh Niên, bà Trịnh Thị Thủy - Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở, Bộ VH-TT-DL cho biết đã xuất hiện trên nhiều văn bản cụm từ: “thi trâu đẹp, trâu khỏe”; “đụng trâu”, hiểu thế nào là đúng? Xin thưa, ấy là “chọi trâu”, là tổ chức cho hai con trâu đấu nhau. Rõ ràng, cách viết ấy tráo khái niệm ngữ nghĩa vốn có; cũng hài hước không kém như co chân đạp con người ta té chúi nhủi khiến “miệng ăn trầu, cái đầu xỉa thuốc” đầm đìa máu me lại sử dụng cụm từ “đưa chân hơi cao”.

Đã xuất hiện một loạt tiếng lóng thời gian gần đây. Dừng lại với bài báo Biến xe mù thành xe khủng in trên Báo Tuổi Trẻ. “Mù” là gì? “Khủng” là gì? Xe mù là không có giấy tờ hợp lệ, xe cũ nát, xe xi cà que, second hand,  cũ xì nói cách khác là “mèo hen”; xe khủng là xe phân khối lớn, tức “hổ dữ”. “Hóa kiếp” từ mèo qua hổ ắt giá “chát” hơn nhiều, bởi nó được hợp tức hóa giấy tờ, trở thành xe hợp lệ.

Lại có tít nhỏ về ca sĩ nọ: Sẵn sàng “cháy” cùng ngay hội, hiểu là anh chàng này hát hết mình, thể hiện nhiệt tình, "xả láng sáng về sớm". Lại có cái tựa: Doanh nghiệp kêu bị… rải đinh. Rải đinh là gì? Cần liên hệ đến “thành ngữ mới”: “Trên trải thảm dưới rải đinh”. Có thể giải thích, “rải đinh” là vòi vĩnh, nhũng nhiễu trắng trợn, đòi tiền lót tay, tiền bôi trơn, làm cho doanh nghiệp khốn đốn, doanh nhân nản lòng. Tuy nhiên, ầm ĩ gần đây nhất vẫn từ “vòng xuyến”. Chẳng hạn,  ở khu vực Tân Sơn Nhất, ngay đường Phan Đình Giót muốn đi đến đường Nguyễn Thái Sơn có hai hướng song song: hoặc đi từ đường Trường Sơn, Hồng Hà; hoặc đi  từ đường Phổ Quang, Hoàng Minh Giám. Ngay chỗ hai hướng đường này giáp nhau, gọi là “vòng xuyến Nguyễn Thái Sơn”. Cách gọi này nghe ra xao xuyến quá đi mất.

Trước đây, người miền Nam đã quen gọi “vòng xoay”, “bùng binh”.

Với vòng xuyến ắt nghĩ đến cái vật trang sức là vòng đeo ở cổ tay bằng vàng hay bạc, dành cho phụ nữ. “Ví dù chàng có lòng thương/ Khăn này sánh với xuyến vàng Nguyệt Nga/ Giữa đường gặp gỡ đôi ta/ Cùng nhau kết tóc xe tơ vẹn tròn”. Cho dù không nhắc đến nhưng ta vẫn hình dung ra có vòng xuyến:  “Cái cổ yếm em nó thỏng thòng thòng/ Tay em đeo vòng như bắp chuối non”. Nay cái từ vòng xuyến được sử dụng trong lãnh vực giao thông, lập tức gây tranh cãi dữ dội. Mỗi người một ý. Duy có ý kiến của đồng nghiệp Lam Điền chỉnh chu hơn cả. Nay, ghi lại như một tài liệu:

“Từ bùng binh đến bồn binh và vòng xoay - vòng xuyến. Bùng binh: từ này xuất hiện sớm trong ngôn ngữ Nam bộ. Theo ghi nhận của Huỳnh Tịnh Paulus Của trong bộ Đại Nam quấc âm tự vị xuất bản năm 1895 thì Bùng binh là “Khúc sông rộng lớn mà tròn”. Ở Sài Gòn từng có địa danh Rạch Bùng Binh, nay là đường Rạch Bùng Binh (P.10, Q.3).

Tuy nhiên, để chỉ vị trí điểm giao của nhiều con đường đòi hỏi xe cộ đến đó phải đi theo chiều quy định (thường là ngược chiều kim đồng hồ), tiếng Việt trước đây có từ “bồn binh”. Từ này được nhóm tác giả Lê Văn Đức - Lê Ngọc Trụ ghi nhận trong bộ Việt Nam tự điển (Khai Trí xuất bản tại Sài Gòn năm 1970): “Bồn binh: Công trường, mối đường rộng lớn trong thành phố có hoặc không có trồng kiểng hay trụ đèn ở giữa để tiện việc lưu thông một chiều”. Từ điển này cũng ghi nhận “bồn binh” có từ đồng nghĩa là “bùng binh”.

Tuy nhiên từ sau năm 1975 từ bồn binh ít thấy xuất hiện trong các văn bản, thay vào đó là từ “bùng binh” mang nghĩa tương đương với “bồn binh” trên đây. Điều này được ghi nhận tại Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học - Vietlex (NXB Đà Nẵng ấn hành năm 2009): “Bùng binh: Vòng tròn được vây cao [thường có hoa, cây cảnh bên trong] nằm ở giữa các ngả đường giao nhau để làm mốc cho xe cộ lưu thông”. Trong những năm gần đây, trên các phương tiện truyền thông xuất hiện từ “vòng xoay” với nghĩa tương đương từ “bùng binh” nói trên. Theo TS Nguyễn Thị Hậu, trước năm 1975 ở miền Bắc không có từ vòng xoay, mà cũng không có thực thể vị trí giao thông nào như là bùng binh trong Nam, chỉ có các ngã tư. Trong Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học - Vietlex cũng không ghi nhận mục từ “vòng xoay”.

Còn từ “vòng xuyến” thì có lẽ ra đời còn muộn hơn “vòng xoay”.

Hiện nay Từ điển tiếng Việt (2009) nói trên cũng chưa ghi nhận từ “vòng xuyến”, nhưng trong Luật giao thông đường bộ 2008 và Luật giao thông đường bộ 2015 đều sử dụng từ “vòng xuyến” (tại khoản 1 và 2 của điều 24). Dù vậy, trong hai văn bản Luật giao thông đường bộ này đều có phần “giải thích từ ngữ” với 32 đơn vị từ ngữ được giải thích, trong đó (nguồn: Tuoitre online ngày 3.1.2016).

Tuy nhiên, các giải thích trên không nhắc đến một đồng âm khác của “bùng binh”. Còn nhớ ngày tuổi thơ ở Đà Nẵng, những ngày đầu năm đi chợ về, mẹ thường mua cho anh em y cái bùng binh dùng để bỏ tiền tiết kiệm. Hình dáng của nó tròn, chỉ bằng cỡ trái bưỡi, dễ nhìn, trên chót có cái núm và ngay gần đó có khoét một đường ngang, làm bằng đất sét. Mỗi lần để dành tiền thi xếp tờ giấy bạc cho gọn rồi nhét vào, bỏ vào đồng bạc keng, đồng xu càng dễ. Cũng cái bùng binh này, nếu theo hình dáng con heo thì gọi con heo đất. Đại khái thế. Ít ai biết, nhà thơ xứ Huế là Mộng Phật Tôn Thất Diệm có bài thơ Bùng Binh rất hay. Cần chép lại như một dấu vết của một lối tiết kiệm ngày xưa:

Chỉ biết tiền thôi có biết gì?

Bụng to mà miệng thỉ thì thi.

Chành bành ra thế đeo ăn mãi,

Đút nhét vô thời chẳng nói chi.

Mấy thuở đua tài, người gọi tướng,

Cả đời giữ của, mọi là mi.

Lâu nay lúc lắc nghe chừng đã,

Lúc lắc nghe nhiều phải đập đi.

Bài thơ đa nghĩa. Nói về cái bùng binh hay ám chỉ về người?

Tóm lại, sau vụ tranh luận về “vòng xuyến”, cơ quan chức năng có ý kiến “chốt hạ” ra làm sao?

Báo Tuổi Trẻ sáng nay cho biết: “Vòng xuyến có thể trở thành nút giao thông: Ông Ngô Hải Đường, trưởng phòng quản lý khai thác hạ tầng Sở Giao thông vận tải TP.HCM, cho biết các đơn vị làm biển báo mới đã thay đổi “vòng xoay” thành “vòng xuyến” (trích từ Luật giao thông đường bộ, quy 
chuẩn Việt Nam). Tuy nhiên, ông Đường cho rằng từ “vòng xuyến” hay “vòng xoay” chưa thể hiện hết ý nghĩa của một khu vực giao thông là nơi giao nhau của nhiều tuyến đường, nên cách gọi bao quát hết phải là nút giao thông. Hiện Sở Giao thông vận tải TP đã yêu cầu các đơn vị liên quan tổng rà soát các biển báo giao thông. Sau khi rà soát, sở sẽ điều chỉnh biển báo cho thống nhất theo hướng có thể dùng cụm từ “nút giao thông” cộng với địa danh thay cho từ “vòng xuyến”, vòng xoay. Ví dụ như nút giao thông Hàng Xanh, nút giao thông Lăng Cha Cả...”.

Chà, nghe ra cũng rắc rối, nhiêu khê. Không bàn chuyện này nữa, đọc thơ có phải hay hơn không? Vâng ạ. “Con người tôi gọi bằng em/ Nhớ tôi nhưng cũng thành duyên lâu rồi/ Mộng tàn, nươc chảy, mây trôi/ Tôi lui hồn lại nhưng đời đã xa”. Câu thơ này của Hồ Dzếnh. Xao xuyến. Ngậm ngùi.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 1.1.2017

 

nhat-ky-7.2017-le-minh-quoc

 

Đã bước qua năm 2017. Sáng nay, thức dậy sớm. Như mọi ngày. Bước ra đầu ngõ, mua một vài tờ báo. Số báo đầu năm lúc nào cũng vui tươi. Hoa khoe sắc thắm. Thiên hạ thái bình. Mọi âu lo, lo toan gì gì đó tạm gác lại cho số báo sau. Đọc tờ báo nọ, nói thẳng ra là tờ Tuổi Trẻ,  thích thú với bài báo “Câu” du khách bằng slogan. Đồng nghiệp D.Kim Thoa cho biết:

“Trang web du lịch của Vương quốc Anh Family Break Finder thu thập, cập nhật và sơ đồ hóa các khẩu hiệu (slogan) quảng bá du lịch của các quốc gia trên toàn thế giới bằng tiếng Anh. Từ dữ liệu này, người ta có thể nhận ra những xu hướng đặt slogan quảng bá du lịch tương đối phổ biến tại các quốc gia. Từ được dùng nhiều hơn cả: “beautiful” (đẹp, vẻ đẹp); ngoài ra, những từ khác cũng được ưa chuộng là experience (trải nghiệm), life (cuộc sống), discover (khám phá), heart (trái tim), simply (đơn giản)... Khẩu hiệu quảng bá du lịch của Việt Nam “Việt Nam - timeless charm” (Việt Nam - vẻ đẹp bất tận) cũng được liệt kê trong danh sách này”.

Sực nhớ đến cách đây chừng hơn mười năm, lúc ấy, slogan của báo nọ, “Bạn đường của hạnh phúc”; báo kia, “Đồng hành cùng việc làm của bạn” v.v… Tờ báo của y cũng tổ chức nội bộ thi viết câu slogan để in trên  tờ rơi quảng cáo. Câu được chọn là “Hãy khám phá Phụ Nữ”. Ai cũng khen hay, nào ngờ, ít lâu sau bị “thổi còi” cái rẹt. Ngẫm lại mới thấy cái khó của việc viết câu (slogan), theo báo trên là phải: “đủ sức hấp dẫn chỉ trong vài từ là thách thức lớn. Nước nào cũng cố gắng gây ấn tượng với du khách trước sức ép của sự hữu hạn ngôn từ”.

Chuyện chữ nghĩa năm châu bốn biển rất lý thú, nhưng rồi sự quan tâm thường trực, mỗi ngày chỉ gói gọn trong mỗi từ “Cái bếp”. Từ ngày mẹ về quê, chẳng mấy khi cái bếp đỏ lửa. Bếp tắt ngúm. Những lúc ấy lại nhớ về thời nhỏ dại, còn ở chung với ba mẹ và anh em tại Đà Nẵng, có lúc đang gắp miếng ngon gì đó, bỗng rớt xuống bàn, tiếc rẻ, bèn nhặt lên “thổi phù” rồi cho luôn vào miệng. Nhai ngon lành. Ngấu nghiến. Ai lại không nhớ về năm tháng thân thương ấy? Lớn lên một chút, mới biết rằng, hóa ra, sở dĩ người Việt có thói quen này, có thể do bắt nguồn từ một quan niệm cổ lỗ sĩ.

Rằng, thời xưa, người ta quan niệm khi trong nhà có người ốm đau hoặc vợ chồng gây gổ bất hòa... tất có nhiều lý do, trong đó còn có thể do “động bếp” tức ông Táo giận! Giận bởi nơi ấy ô uế, nếu do chó, mèo phóng uế thì tắm rửa con vật sạch sẽ rồi lôi nó đến ông đầu rau khấn vái tạ lỗi. Kế tiếp, làm một bữa cơm có thịt, người ta cầm miếng thịt hướng về nơi ô uế cố tình làm rơi, rồi nhặt lên thổi phù thật mạnh về phía cái bếp lò. Nhà nghiên cứu Nguyễn Dư còn lý giải thêm: “Ngoài mục đích gây mùi thơm, phương thuật “nhặt thịt thổi phù” còn hàm chứa một ý nghĩa khác. “Thổi phù” là thổi mạnh để làm cho miếng thịt sạch bụi. Nhưng “phù” còn có nghĩa là lá bùa. Thổi phù nghĩa là thổi lá bùa, tung bùa ra để trừ ma quỷ đang ám hại người đau ốm”. Tất nhiên, nay chẳng ai còn tin và làm theo cách mê tín dị đoan này, nhưng ít ra từ “động bếp” cũng cho ta thấy nết ăn ở của người Việt xưa.

Ngày đầu năm, bước xuống bếp, tự dưng lại nhớ đến lúc mới quen nhau, nói như nhạc sĩ Phạm Duy: “Ngày đó, có em đi nhẹ vào đời”. Ngày đó, nàng hay bảo: “Ðàn ông cái nhà, đàn bà cái bếp”. Lại thường nhắc đến những câu tục ngữ: “Ðàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, “Vắng đàn bà quạnh bếp”. Rồi có khi nàng thủ thỉ: “Xem trong bếp, biết nết đàn bà”, có những người chọn vợ bằng cách trông vào phong cách người đàn bà trong bếp. Đàn bà có khi nấu nướng một cách thong dong nhẹ nhàng như tham dự một cuộc vui chơi mà vẫn xong mâm cơm đúng bữa, cạnh đấy có những người cứ tất bật vất vả dao thớt liên hồi mà vẫn trễ nãi cực công”.

Vậy mà nay, bếp lửa lạnh tanh. Đứng thẩn thờ nhìn cái bếp đang giăng màn nhện, tự dưng lại nhớ đến câu thơ của Huy Cận: “Bóng đêm tỏa không lấp niềm thương nhớ/ Tình đi mau, sầu ở lại lâu dài/ Ta đã để hồn tan trong tiếng thở/ Kêu gọi người đưa tiễn nỗi tàn phai”. Bùi ngùi quá đỗi. Mà thật ra, cảm giác ấy cũng thoáng qua nhanh. Đã ngày đầu năm. Tết Tây. Và chỉ còn một nháy mắt là chạm vào Tết Ta. Vui đi cưng. Ừ, thì vui. Vui nhất là gì?

Là lúc này anh em bầu bạn đã dành thời gian cho gia đình, y chỉ đứng ngoài rìa. Một hình, một bóng. Vậy nên, cách tốt nhất để có niềm vui vẫn là đóng cửa, giam mình bốn bức tường, ngước nhìn lên chỉ thấy sách. Sách chất từ chân tường chạm lên trần nhà. Chỉ thấy tranh. Tranh sơn dầu đã vẽ trong khoảng thời gian tĩnh lặng nhất, buồn tẻ nhất. Những dòng chữ từ sách - người bạn của quá khứ; những sắc màu từ tranh - cảm hứng của tâm trạng, chẳng thể sẻ chia, an ủi. Lúc ấy, nghĩ về điều gì? Với y, khoảnh khắc đó như một cuốn phim quay chậm, lần lượt người tình cũ như lớp sóng vỗ mơn man vào ghềnh đá, loan dần ra từng bóng hình “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”.

Người tình đầu tiên trong đời là ai?

Câu hỏi ấy, đã hỏi. Nay, lại hỏi, hóa ra không phải là sự ngớ ngẩn đó sao? Dù năm tháng có trôi qua đi, có một điều chắc chắn cảm xúc ấy không bao giờ lãng quên trong trí nhớ. Nhớ như in cái thuở “Em tan trường về / Mưa bay mờ mờ”. Nhớ như in cái lúc: “Anh trao vội vàng / Chùm hoa mới nở”. Nếu không có âm nhạc, không có giọng ca mượt mà gấm lụa một nỗi buồn rầu rầu, có lẽ, cảm xúc của thơ không đủ sức lay động một nỗi muộn phiền lên ngây ngất đến thế. Hát lại lần nữa đi. Để cảm thấy từng sợi tơ óng mượt, từng sợi tơ chùng giăng mắc dọc ngang trong tâm tưởng.  Kỷ niệm đã xa. Đã hằn vết. Vì thế, dù không buồn nhưng lại nhói buốt như có, như không.

Khi viết những dòng chữ này, y lại nhớ đến lúc còn mới học lớp 10 đã biết nhung nhớ, trằn trọc cô bạn học cùng lớp. Suốt năm tháng ấy chưa hề dám ngỏ lời, chỉ có những bài thơ học trò vụng về trải dài theo năm tháng. Rồi thời thế nhiều biến động. Vừa học xong lớp 11 đã có lệnh nhập ngũ. Đất nước vừa hòa bình, vừa chiến tranh. Biên giới Tây Nam đã đón nhận những bước chân thư sinh, những lồng ngực còn run lên những câu thơ tình chợt đến lúc hành quân. "Vẫn trong như ngọc trắng ngần/ Tình em thắp sáng trăng rằm AngKor/ Trăm năm đất khách hẹn hò/ Làm sao tri ngộ giày vò lẫn nhau?”. Ước mơ thăm thẳm ấy không bao giờ đến. Có người vướng mìn K63, KP2, Claymore chằng chịt trên nẻo về hư không. Thoát xác về trời. Ngã vào lòng đất vẫn con trai. Rồi ở hậu phương, người con gái mà y từng thầm thương trộm nhớ bằng tất cả sự non nớt, ngây thơ học trò, năm tháng ấy đã vượt biên. Và đã bỏ xác giữa trùng dương  sóng vỗ. Vĩnh viễn không còn đọng lại một chút gì trên dương thế, ngoài một, hai tấm ảnh nữ sinh của cái thời “Em tan trường về / Mưa bay mờ mờ”.

Kỷ niệm ngày tháng đó cũng mờ mờ như sương mờ dằng dặc ở Đà Nẵng vào những sớm mùa đông có tiếng chim cất tiếng ca lạnh lẽo trên ngọn sầu đông hoa tím. Vệt sương ấy đã lưu dấu trong thơ của ngày còn đi học: “Dấu cỏ hiền ngoan mờ trong sương/ Đi giữa mùa trăng ngập mây vương/ Bé - nàng công chúa nghe cổ tích/ Nhớ kỷ niệm hồng đầy yêu thương”. Đọc lại những câu thơ ngây ngô viết lúc mười ba, mười bốn tuổi, tự dưng thấy thương và nhớ về một thời thơ dại.

Dù tự nhận “mối tình đầu” nhưng đã thốt lên lời nào đâu? Nào đã có ai hứa hẹn với ai một câu gì. Ông Phạm Thiên Thư nói đúng tâm cảnh: “Ôi mối tình đầu/ Như đi trên cát / Bước nhẹ mà sâu/ Mà cũng nhòa mau”. Nhưng rồi tại sao suốt đời người ta lại không quên? Cảm xúc như lửa vùi trong than, gặp gió, sẽ bùng lên. Tại sao như thế? Có lẽ đó là cảm xúc chân thành như hương lúa đầu mùa gặt, là tình cảm trong veo như nắng thủy tinh. Không hề gợn lên một chút dục vọng, toan tính nào. Trạng thái tâm lý đó, về sau, đã nhiều lần yêu, đã nhiều chung chạ hoan lạc, đã thất vọng ê chề, đã chạm đến sự khoái lạc của Lửa, đã rơi tuột xuống thẳm sâu địa ngục của tuyệt vọng của Nước, vẫn không thể tìm thấy.

Nhiều người thích đọc Mái Tây của Vương Thực Phủ - nó được xếp vào “lục tài tử thư” của văn học cổ điển Trug Quốc, có lẽ cũng do tình yêu của Thôi Oanh Oanh, Trương Quân Thụy trong trẻo quá. Chân tình quá. Nống nhiệt quá. Yêu là yêu. Chỉ là nhịp đập của trái tim đang réo rắt tiếng nói của lứa đôi: “Tương tư vừa mới qua cầu/ Biệt ly lại chuốc mối sầu mênh mang/ Chợt nghe một tiếng “lên đàng”/ Rụng rời tay ngọc xuyến vàng rộng thênh!”. Nỗi buồn ly biệt sao lại đau đớn, nhọc nhằn đến thế? Xuyến ngọc đeo trên tay ngọc, bỗng dưng rộng thênh là cớ vì sao? Có thể xếp câu thơ đó vào hạng tinh tế bậc nhất khi diễn tả cảm xúc của người yêu chia tay người yêu.

Khó quên tình đầu bởi cảm xúc thật, không ma mị, phủ lên bất kỳ một lý do, một “nhân danh” nào khác, chứ chẳng phải do lần đầu tiên biết yêu. “Định nghĩa” như thế là đúng? Là sai? Không biết nữa. Nhưng, không riêng gì y, nhiều người lại có suy nghĩ này: Tình cuối cùng, chính là tình đầu. Bởi từ đó, họ không còn tìm đến bất kỳ một chọn lựa nào khác. Cuối cùng là kết thúc. Chính vì kết thúc nên chính nó mới có ý nghĩa trọn vẹn của “mối tình đầu” chăng? Đọc lại một đoạn văn xuôi trong truyện của Đoàn Thạch Biền: “Ngọc Lan không có thật. Cái chết không có thật. Và ngay cả tình yêu tôi nói với Ngọc Lan cũng không có thật. Tất cả đều không có thật. Nhưng điều làm tôi đớn đau là mùa hè đã có thật. Mùa hè chắc chắn đã có thật một cách quái ác ở trong tôi”. Thời gian có thật. Vì lẽ đó, mối tình đầu tiên trong đời làm sao có thể quên?

Bùi ngùi quá đỗi. Mà thật ra, cảm giác ấy cũng thoáng qua nhanh. Đã ngày đầu năm. Tết Tây. Và chỉ còn một nháy mắt là chạm vào Tết Ta. Vui đi cưng. Ừ, thì vui. Vui nhất là gì? Là hãy tưởng tượng bếp lửa nhà mình đang đỏ lửa, ở dưới nhà mẹ vẫn đang nấu những món ăn ngon mừng ngày đầu năm mới. Một năm mới yên vui. Và cũng như mọi lần, những lúc ấy, y lại tẩn mẩn lật từ điển tra cứu vài từ tiếng Việt. Vậy, thử tìm hiểu từ bếp xem sao. Bởi lẽ, dẫu có đến với tình đầu, tình sau, tình cuối đi chăng nữa thì bất kỳ mối tình nào cũng có lúc hẹn hò nơi cái bếp.

Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền có viết truyện dài “Bếp lửa”. Không ngờ, ngày xưa với người Việt hai từ ấy còn dành để chỉ việc lập gia đình. “Một lần nhúm bếp một lần khó”, câu này hiểu như thế nào? Ông Huình Tịnh Paulus Của (1895) giải thích: “Bếp lửa ấy hiểu là sự nghiệp, gia thất; lập cho nên cái sự nghiệp, gia thất là việc khó”. Đúng là khó thật, bằng chứng y đã nhiều lần “bếp lửa” nhưng nào đã nên cơm cháo gì. Có buồn không? Tất nhiên. Vậy muốn bật lên tiếng cười, phải làm sao? Dễ ợt. Cứ đọc thông tin này:

“Google vừa công bố danh sách những nội dung được tìm kiếm nhiều nhất trên công cụ tìm kiếm phổ biến nhất hành tinh này trong năm 2016. Vẫn như những năm trước đây, các sự kiện “hot” diễn ra trong năm qua vẫn là những chủ đề được quan tâm và tìm kiếm nhiều nhất. Các chủ đề được tìm kiếm nhiều nhất trên Google tại Việt Nam trong năm 2016: 1. Trò chơi Slither; 2. Euro 2016; 3. Chúng ta không thuộc về nhau; 4. Phía sau một cô gái; 5. Pokemon Go; 6. Vietlott; 7. Minh Béo; 8. Hậu duệ mặt trời; 9. Vợ người ta; 10. Thách thức danh hài”.

Thấy thế nào? Đúng là “thách thức danh hài”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 31.12.2016

 

nhungcap-doi-hoan-hao

 

Ngày cuối cùng của năm 2016. Nghĩ ngợi vẩn vơ về nghề đã đeo đuổi từ lúc và đời. Nghề báo. Cái nghề này đã qua rồi thời vàng son. Trước kia, viết để kiếm sống, nay đã khác. Nhuận bút các báo, nhìn chung đã tụt dốc ghê gớm. Mà cũng phải thôi. Còn sót lại bao nhiêu người mỗi sáng phải cầm tờ báo đọc? Ngày càng ít đi. Báo không bán được, số lượng ngày càng ít dần, nhuận bút ảnh hưởng theo, tất nhiên. Đến một lúc không cầm cự nổi, tờ báo phải đình bản. Không còn một lựa chọn nào khác. Ngày hôm qua, tờ Thể thao & văn hóa cuối tuần, số 53 (488) đã chính thức gửi lời chào từ biệt đến bạn đọc. Nó kết thúc. Nó chấm dứt. Nó “xong phim”. Y vội mua lấy sộ báo này, như giữ lấy một kỷ niệm đã từng có bài cộng tác. Lật vào trong, ngay trang đầu là Thư Biên Tập.

Thư có đoạn: “Chúng tôi hạnh phúc nhận ra rằng, nhiều người có một thói quen là lấy chiếc điện thoại thông minh của mình vào mỗi buổi sáng sớm lướt nhanh những dòng thông tin, những kết quả cập nhật rồi một lúc sau đó, thảnh thơi hơn sẽ lại trở lại để tìm những chia sẻ sâu sắc, đa chiều hơn. Thói quen đó đã và đang dần dần thay đổi thói quen buổi sáng ghé sạp báo mua vài tờ báo thân quen.

Năm 2002, Việt Nam chỉ mới có 2 triệu thuê bao di động. Năm 2007, Việt Nam đã có 24 triệu thuê bao di động. Năm 2016, dự báo là Việt Nam sẽ có 7 - 80 triệu thuê bao di động, và phần nhiều trong số đó là những chiếc di động thông minh, tích hợp rất nhiều chức năng làm một. Bản thân những chiếc di động cũng đã phát triển ngoài sức tưởng tượng. Từ chỗ chiếc điện thoại đẳng cấp là nhỏ gọn thì nay nó phải đủ lớn để đáp ứng cả những tính năng nghe, xem, đọc một cách hoàn hảo nhất. Đến  gã khổng lồ như Apple cách nay hơn 2 năm cũng đã chấp nhận thực tế đó sau khi Samsung đã đi trước họ vài bước”.

Thật ra những vấn đề này, người làm báo trên toàn cầu đã nhìn ra, cuối cùng, họ phải chấp nhận đầu hàng. Nhiều tờ báo in ấn theo cách truyền thống xưa nay đã đóng cửa. Phải chuyển qua làm báo theo công nghệ mới. Nhưng rồi cũng chưa chắc đã ổn. Hôm nọ, trò chuyện cùng đồng nghiệp làm báo điện tử, các bạn cho rằng, câu hỏi đau đầu nhất đối với họ, đến nay vẫn chưa thể tìm ra giải pháp: “Làm sao kéo bạn đọc từ các trang mạng xã hội về với báo điện tử?”. Y không dám bàn đến vấn đề này, thôi kệ, vẫn chán nhất là nhuận bút báo chí nói chung chẳng bỏ bèn gì, ngày một ít dần.

Nghĩ là nghĩ thế, nói thì nói thế, nhưng rồi vẫn ngày viết mỗi ngày.

Và vẫn đọc mỗi ngày.

Mấy hôm nay đọc một quyển sách của học giả Trần Trọng Kim, ít ai biết đến: Kiến văn lục, tức hồi ký Một cơn gió bụi, ông ghi lại khoảng thời gian từ năm 1944, lúc người Nhật vào Đông Dương Nhật tước khí giới của Pháp. Giai đoạn này, Trần Trọng Kim như thế nào? Một câu hỏi không dễ dàng trả lời, nếu thiếu các chứng cứ xác thực, có giá trị của lịch sử. Sau hàng loạt tranh luận, nghiên cứu có lẽ công trình Nội các Trần Trọng Kim - Bản chất, vai trò và vị trí lịch sử (NXB Chính trị Quốc gia - 2009) của PGS-TS Phạm Hồng Tung là có cái nhìn khách quan và xác đáng hơn cả hơn cả. Ngoài danh mục tham khảo gần 100 tài liệu từ sách, báo chí thì hồi ký Một cơn gió bụi của Trần Trọng Kim vẫn là tài liệu quan trọng không thể thiếu sót.

Tập sách Một cơn gió bụi, lâu nay, ít người biết đến bởi lẽ NXB Vĩnh Sơn in tại miền Nam năm 1969, lúc đất nước còn chia cắt nên giới nghiên cứu ngoài Bắc không có điều kiện tiếp cận. Mở đầu là nỗi lòng lúc Trần Trọng Kim đang sống tại Nam Vang (Phmom Pênh - Campuchia) năm 1949. Ông thể hiện qua thủ bút ghi 2 câu thơ đời Đường: “Liêu lạc bi tiền sự/ Chi ly tiếu thử thân”. Và tự dịch: “Quạnh hiu buồn nỗi trước kia/ Vẩn vơ chuyện vặt, cười khì tấm thân”. Đọc kỹ tập hồi ký, hậu thế sẽ nhận ra một Trần Trọng Kim khác. Nếu trong học thuật, nghiên cứu, ông là người uyên bác, thông tuệ nhưng do thời cuộc đẩy đưa sang lãnh vực chính trị thì ông ngây thơ, cả tin. Vì lẽ đó, ông đã bị người Nhật, kể cả người Pháp dễ dàng lừa bịp, lợi dụng uy tín cá nhân, kể cả Nội các Trần Trọng Kim do chúng dựng lên để phục vụ theo ý đồ riêng.

Là nhân chứng của lịch sử, Trần Trọng Kim đã kể lại rất nhiều chi tiết quan trọng khi đứng ra thành lập Nội các. Chẳng hạn, về lá cờ quẻ Ly. Ông giải thích: “Trong sách “Quốc Sử Diễn Ca” nói khi bà Triệu Ẩu nổi lên đánh quân Tàu, đã dùng lá cờ ấy khởi nghĩa, nên có câu rằng: “Đầu voi phất ngọn cờ vàng”. Vậy lấy sắc cờ vàng là hợp với cái ý cách mệnh của tổ quốc, lấy dấu hiệu quẻ ly là vì trong lối chữ tối cổ của ta có tám chữ viết bằng vạch liền (dương) và những vạch đứt (âm) để chỉ tám quẻ, chỉ bốn phương chính và bốn phương bàng, nói ở trong Kinh dịch, mà quẻ LY chủ phương Nam. Chữ LY còn có nghĩa là lửa là văn minh là ánh sáng phóng ra bốn phương. Lấy sắc vàng là hợp với lịch sử lấy quẻ ly là hợp với vị trí nước nhà lại có nghĩa chỉ một nước văn hiến như ta thường tự xưng. Như thế là lá cờ vàng vẽ ly có đủ các ý nghĩa. Song có người nói: cờ quẻ LY là một điềm xấu cho nên thất bại, vì ly là lìa. LY là lìa là một nghĩa khác chứ không phải nghĩa chữ ly là quẻ. Và việc làm của một chính phủ là cốt ở cái nghĩa lý, chứ không phải sự tin nhảm vô ý thức”.

Một câu hỏi nữa cùng lý thú không kém: Tại sao Nội các Trần Trọng Kim không có Bộ Quốc phòng? Hãy nghe Trần Trọng Kim giải thích do quân lính, súng ống không có và: “Một là trong khi quân Nhật đang đóng ở trong nước, nếu mình đặt Bộ Quốc phòng thì chỉ có danh không có thực, và người Nhật có thể lợi dụng bắt người mình đi đánh giặc với họ. Hai là trước khi mình có đủ binh lính và binh khí, ta hãy nên gây cái tinh thần binh bị, thì rồi quân đội mình mới có khí thế”.

Nay đọc lại, không thể không tủm tỉm cười.

Qua Một cơn gió bụi, biết thêm rằng, bó Kiều thuở ấy rất hay dược các nhà nho sử dụng khi họ đối mặt trước vấn đề nan giải nào đó. Ngày 1.1.1944 bị người Nhật lừa đưa qua Nam Đảo (Singapour), sang đó các ông Trần Trọng Kim, Dương Bá Trạc, Trần Văn Ân… mới bẽ bàng nhưng tìm đường về không dễ. Lại chẳng may, ông Trạc bị ốm nặng, Trần Trọng Kim kể: “Một hôm ngồi nói chuyện, ông Dương nói: “Tôi thường không tin sự bói toán, nhưng tôi nghiệm thấy bói Kiều lắm lúc hay lắm. Khi xưa tôi có đi thi Hương, bói một quẻ, biết là đỗ, mà rồi đỗ thiệt. Sau phải đày ra Côn Lôn, lại một hôm bói một quẻ, đoán là sắp được về, cách mấy ngày quả được về thiệt”. Chúng tôi nói: “Bây giờ ông thử bói một quẻ xem”. Ông nói:

- Để sáng mai.

Sáng ngày hôm sau, ông vui mừng bảo chúng tôi:

- Về, chúng ta sắp được về.

- Sao ông biết?

- Tôi vừa bói một quẻ Kiều được hai câu này:

Việc nhà đã tạm thong dong

Tinh kỳ dục dã đã mong độ về

Theo cái nghĩa cái câu ấy là chúng ta sắp được về. Thấy ông nói thế, ai nấy đều vui vẻ mừng rỡ lắm. Kể ra đối với ông Dương thì không đúng, mà đối với cả bọn chúng tôi, thì chỉ cách có mấy tháng là được về cả. Việc tin hay không tin ở quẻ bói là chuyện khác, đây tôi cốt lấy một chuyện cỏn con đó mà chứng thực cái lòng mong mỏi của chúng tôi lúc ấy là ai cũng muốn chóng được về”. Không những thế, các nhà nho lớp trước còn tin rằng, thơ văn do mình viết ra nó “vận” vào người như chơi. Phải cẩn trọng. Một ngày đầu xuân, nhà thơ trào phúng Ngyễn Quý Tân (Nghè Tân) viết câu đối khai bút. Ông viết (dịch nghĩa):

Bốn mươi lăm tuổi, một thoáng thành cổ nhân, nửa kiếp qua rồi đâu phải mộng;

Hai mươi chín tuổi, một phen trúng Tiến sĩ, ngàn thu mai nữa mãi còn danh”.

Quả nhiên, trong năm đó, ngày 29.2 năm 1858, Nghè Tân về với Tổ tiên. Kể ra cũng lạ quá đi mất. Còn nhớ về trường hợp Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh, ông bị khối u sau gáy nên năm 1905, ông phải mổ bằng phương pháp y học hiện đại tại bệnh viện Yersin. Trước lúc lên bàn mổ, ông buột miệng nói:

- Trong bài Vịnh Kiều hồi thứ tám, ta có viết “Phong trần liều với mũi dao con”, âu cũng thử xem nó “vận” vào người ra sao?

Cuộc phẫu thuật này không thành công, Chu Mạnh Trinh trút hơi thở cuối cùng. Đọc lại quyển Văn minh Việt Nam (Nam chi tùng thư XB năm 1964), Lê Văn Siêu có kể một vài mẩu chuyện tương tự: “Chẳng hạn, trường hợp Vũ Đình Dy năm 1945 sang vận động chính trị ở Nhật, xong việc thì lên máy bay về Sài Gòn và gửi một bưu thiếp về Hà Nội cho ông thân để báo tin. Bưu thiếp viết:

Công tư hai lẽ đều xong

Gót tiên chốc đã thoát vòng trần ai

Khi về nước đi xe lửa từ Sài Gòn ra Hà Nội, lúc đến Quảng Ngãi, Vũ Đình Dy gặp sự cố và chết tại đó. Người ta bảo gở tại lời viết trong bưu thiếp ấy. Một bạn văn nữa là Lãng Nhân, mồng Một tết làm quyển  Lưu bút, viết lên trang đầu tiên một câu tập Kiều:

Trăm năm trong cõi người ta

Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh?

Thôi thôi đã mắc vào vành

Biết duyên mình biết phận mình thế thôi

Câu văn có ý triết lý đời sống là cõi mộng, và tự nhủ thầm biết duyên biết phận. Nhưng đến ngày 29 tháng Giêng năm ấy thì vô cớ bị lính Nhật đến nhà bắt. Lãng Nhân bảo: Có lẽ gở tại câu viết ấy”. Lãng Nhân là nhà văn cùng trang lứa thế hệ với Vũ Bằng, Tam Lang… thế tiên phong của làng báo Việt Nam. Câu thơ ghi trên bưu thiếp là ông Di lấy từ Truyện Kiều, lúc Thúc Sinh đã chuộc Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh để từ đây: “Một nhà sum họp trúc mai/ Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông”.  Tưởng là thế, nào ngờ sau đó cả hai “tan da nát thịt” với đòn ghen kinh quái của Hoạn Thư! À, vậy ra bói Kiều, khi đã chọn ra câu nào đó ắt phải xem thêm những câu dưới nữa chăng? Không phải đâu, đã chọn câu nào thì cứ lấy đó mà luận.

Vậy, chiều nay, y có dám bói Kiều không? Thưa, không. Biết đâu vớ phải câu nào đó lại “vận” luôn vò người thì khốn. Chi bằng ngồi chép lại những “cặp đôi hoàn hảo” đang “hot” nhất hiện nay, có phải hay hơn không? Hay quá đi chứ. Nghe đến “cặp đôi” là biết mùi mẫn, cụp lạc, tình tứ lắm đây. Nhằm tránh lôi thôi về bản quyền, xin nói rõ, sự lựa chọn này là của bạn đọc trên Tuổi Trẻ Cười - tờ báo trào phúng duy nhất hiện nay trong làng báo nước nhà. Đó là, “Giáo dục - Cải cách; Y tế - Quá tải; Điện lực - Độc quyền; Xăng dầu - Tăng giá; Xây dựng - Rút ruột; Giao thông - Thu phí; Môi trường - Ô nhiễm; Internet - Đứt cáp; Cấp phép - Vòi vĩnh; Nông thôn mới - Lạm thu”. 

Này, những "cặp đôi hoàn hảo", lúc nào chúng mày sẽ ly dị, chia uyên rẽ thúy, tan đàn xẻ nghé, đường ai nấy đi?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 4 trong tổng số 48

trinhduyson