NỮ GIỚI CHUNG: Tờ báo phụ nữ đầu tiên của báo chí Việt Nam

Mục lục
NỮ GIỚI CHUNG: Tờ báo phụ nữ đầu tiên của báo chí Việt Nam
CHƯƠNG I. SƠ LƯỢC VỀ TỜ BÁO NỮ GIỚI CHUNG
Những đặc trưng về hình thức và nội dung của Nữ Giới Chung:
Các thể tài trên Nữ Giới Chung:
Chương II. NỘI DUNG MỘT VÀI SỐ BÁO
NỮ GIỚI CHUNG Số 3 ngày 22 février năm 1918
Tất cả các trang

 

Hơn mười năm trước, lúc tòa soạn Báo PN còn ở 188 Lý Chính Thắng, có một nhóm bạn sinh viên Khoa Báo chí trường Khoa học Xã hội - Nhân văn đến gặp tôi. Các bạn có nhờ tôi xem qua công trình khảo sát một số báo, tạp chí trước 1945 do các bạn thực hiện. Qua trao đổi, hầu như tôi không góp ý gì nhiều, chỉ hướng dẫn một vài chi tiết trong đề cương để các bạn tiếp tục làm tốt nhất công việc khó khăn này. Không rõ sau đó, công trình về báo chí Việt Nam của các bạn đã đến đâu?


bc-ngchungRR


Chiều nay, sắp xếp lại tài liệu, tôi tình cờ tìm lại được. Đọc kỹ, thấy hữu ích nên công bố cho mọi người tham khảo. Xin cám ơn các bạn sinh viên đã tin cậy trao tôi tài liệu này. Và tôi sẽ post lần lượt dần, không biên tập gì thêm. Tất nhiên, người đọc có thể trao đổi thêm điều này điều kia, nhưng giá trị ở đây là các bạn đã tiếp xúc tư liệu gốc nên rất đáng tin cậy. Thiết nghĩ, việc làm đáng khâm phục của các bạn sinh viên có thể giúp ích cho nhiều người - nhất là những ai quan tâm đến sự hình thành và phát triển của nền báo chí nước nhà.

Cẩn chí,

L.M.Q


 

CHƯƠNG I.  SƠ LƯỢC VỀ TỜ BÁO NỮ GIỚI CHUNG

I.    Lịch sử ra đời và phát triển:

Thời kỳ 1908-1918, thời kỳ “báo chí theo chủ thuyết của Albert Sarraut” rầm rộ xuất hiện. A.Sarraut từ  lâu đã biết lợi dụng báo chí cho mục đích chính trị, lại là người thông minh, xảo quyệt và có lắm tài mị dân. Trong lúc mà xã hội Việt Nam còn chưa đề cao vai trò của người phụ nữ thì A.Sarraut đã biết cách bày tỏ sự quan tâm với thành phần này sao cho có lợi đối với nhà cầm quyền. “Ngay khi đến Sài Gòn và trong chương trình nhằm cải cách nâng cao mức sống xã hội dân Annam, ông A.Sarraut đã cho phép xuất bản một tờ tạp chí phụ nữ đầu tiên dùng để nâng cao mức sống của phụ nữ”. Nữ giới chiếm tới một nữa dân số trong cả nước, lại không tận dụng họ thì thật đáng tiếc.
Chính vì lẽ đó, mà ngày 1 –2 – 1918, Nữ Giới Chung tờ báo phụ nữ đầu tiên xuất hiện ở Sài Gòn.
Chủ nhân của tờ báo này là ông Henri Blaquìere, người Pháp, còn làm giám đốc của một tờ báo khác bằng tiếng Pháp, tờ Le Courrie Saigonnais. Tổng lý tờ báo là ông Trần Văn Chim
Bà Sương Nguyệt Anh được mời làm chủ bút. Trực ở toà soạn là Lê Đức, người đã tham gia phong trào Duy Tân ở miền Bắc hồi đầu thế kỷ. Oâng Lê Đức mượn tiếng của bà Sương Nguyệt Anh để làm Nữ Giới Chung. Tờ này bị đình bản ngay trong năm 1918, hoạt động được khoảng 6 tháng. Ít lâu sau, ông Lê Đức bị trục xuất về Bắc.
Ngày đình bản chính thức của Nữ Giới Chung là 19 – 7 - 1918
Sài Gòn là mảnh đất để thí nghiệm các phong trào mới và là nơi hoan nghênh những sự mới mẻ của người dân nên tờ báo dành cho người phụ nữ ra đời ở đây trước tiên là lẽ tất yếu.
Nữ Giới Chung là tờ báo nữ đầu tiên có thời gian tồn tại khá ngắn ngủi, song ảnh hưởng của nó trong xã hội đương thời cũng như trong tiến trình phát triển lịch sử báo chí trở về sau là tương đối lớn


II. MỤC ĐÍCH CHỦ TRƯƠNG CỦA TỜ BÁO :


Một tờ báo ra đời bao giờ cũng có tôn chỉ và chủ trương hoạt động của nó cả và Nữ Giới Chung cũng vậy. Ra đời trong thời kỳ dân trí còn thấp, lại là tờ báo dành cho người phụ nữ, nên một tôn chỉ cụ thể, rõ ràng thì mới tạo được niềm tin trong lòng độc giả.
Mục đích, tôn chỉ của Nữ Giới Chung muốn hướng đến là nâng cao dân trí cho người phụ nữ vốn từ trước nay không hề được coi trọng trong xã hội Việt Nam. Nữ Giới Chung đã gióng lên hồi chuông khơi dậy sức mạnh của một nửa dân số xã hội.
Tôn chỉ và mục đích của tờ báo còn được thể hiện rõ hơn qua lời mở đầu và lời kính tỏ được đăng ở các trang 1,2,3 số báo đầu tiên. Lời kính tỏ được in với co chữ lớn, và được bố trí hài hòa với độ rộng 100% trang báo, còn lời mở đầu được phân thành 3 cột.
Thông qua lời kính tỏ, Nữ  Giới Chung cung cấp cho độc giả những nguyên nhân chủ yếu cũng như điều kiện ra đời của tờ báo. Ngoài ra, còn cho biết một số thông tin về chủ bút Sương Nguyệt Anh và một vài dòng tâm sự  với giới “độc giả nữ”õ. Sau đây là nguyên văn của phần này:
XIN NHỚ
Vị nào chiếu cố mua báo, xin đề rỏ chỗ mĩnh ở thuộc về nhà giây thép nào, đặng sau gởi báo cho khỏi lầm lạc.
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
MẤY LỜI KÍNH TỎ
Bà Sương Nguyệt Anh, chủ bút bổn báo, vốn là người con gái ông Đồ Chiểu, bực đại văn hào trong Nam – châu ta hồi xưa, là hiền nội trợ ông Phó Tổng tín ở Rạch miễu, làng Tân Thạnh. Năm nay, người ngoài ngũ tuần, ở goá tự hồi 21 tuổi. Có một gái, vừa mới vui chữ vu qui, nửa chừng thoạt đã gãy nhành thiên hương. Người thửơ nhỏ đã nổi tiếng văn tài, khí tiết thường lộ ngoài câu thơ giọng phú. Những danh sĩ hồi đó, vẫn khen là bà Đoàn Thị Điểm đất Nam Trung. Tuy sanh là bậc nữ lưu mà lại có tánh hào hiệp: chén cơm Phiêu Mẫu, biết mấy hàn nho căn nhà Đỗ Lăng, dung bao danh sĩ. Bởi thế, nhà càng nghèo, danh vọng lại càng cao.
Bổn báo có quen dai tế người, là thầy Mai Bạch Ngọc ( Mỹ Tho) nên đặng dự ngoài môn tường nghe lời địch huấn, đã mấy dư.
Nay nhơn quan Toàn Quyền Sarraut đang sốt sắng về sự nữ học, cho phép bổn báo chủ nhân là ông Blaequière lập ra tờ nử báo này đặng giúp ích trong cuộc phổ thông một đôi chút.
Bổn báo lấy tình là tử chấp, nên xin người đứng làm chủ bút. Người củng sẳn có lòng nhiệt thành về sự báo, nhưng vì giá cả, và vì trở nhiều việc, chỉ ở nhà viết bài gởi lên mỗi tuần mà thôi.
Thật là vinh hạnh!. Tờ nử báo này lại thuộc tay nử sĩ, đám hùng đàm, thêm có khách anh thơ, việc ấy nước ta bây giờ mới có.
Vậy nên bổn báo rao trước mấy lời, đặng tiến dần với chị em đọc báo.
BỔN BÁO            
Nói đặng dài dòng như  vậy, có thể rút ra mục đích chính của tờ báo.
1.    Vun trồng gốc luân lý.
2.    Trau giồi lẽ biết thường.
3.    Gây dựng cuộc công thương.
4. Liên lạc mối cảm tình.
Mục đích tôn chỉ đó cũng là do xuất phát từ sự tỉnh ngộ về thân phận người phụ nữ trong xã hội của chính nữ sĩ Sương Nguyệt Anh. Bà tâm sự :
Chị em tôi vẫn biết thân phận rằng :
Khôn ngoan không thể đờn bà ; trận bút trường văn, đâu đến khách hồng quần, mà gà mái cục tác, muốn mượn tờ giấy cây viết, làm chuông hối thúc kêu đoàn chị em. Thế thì cũng trái cái bổn phận thiệt. Song trộm nghĩ: Con Tạo hóa đã nắn ra cái hình người, trai hay là gái, ai chẳng một đồng cân  lương tri, lương năng ấy? Và đương cuộc đời cạnh tranh, trách hưng vong còn đến thất phu. Huống chi đờn bà rất có quan hệ lớn ở xã hội. Há lại chẳng nên mượn ngòi bút sắt, tả tấm lòng son, đặng thỏ thẻ với bà con trong ba xứ.
Bởi thế, bổn báo xuất hiện ngày nay, cái chủ nghĩa cần thiết là đề xướng việc học, chớ chẳng
dám can thiệp đến cả chánh trị, cũng chẳng đua danh đến bực tài trai.
Không chỉ đề cập đến vấn đề phụ nữ, Sương Nguyệt Anh còn rất quan tâm đến vấn đề giá trị đạo đức xã hội. Bà gióng lên tiếng chuông cảnh báo sự suy đồi của luân lí, lẽ phải và hậu quả của nó:
“ ÔIi, Luân lí suy đồi, thì giống nòi hư hỏng, hong tục bại hoại, thì lòng người kiêu ngoa. Ta đương trong buổi giao kỳ, học củ đã suy, học mới chưa thạnh, chiếc thuyền còn linh đinh giữa biển, cảnh ngộ thiệt là nguy hiểm lắm thay!.Nếu các phương châm ngày nay, mà sai một ly, thì đi ngàn dặm, hậu vận Tổ quốc ta, tấn hóa cũng ở đó, mà thối hóa cũng ở đó!”
Có thể nói mục đích và tôn chỉ hoạt động của Nữ Giới Chung rất tiến bộ. Ra sức bảo tồn những giá trị truyền thống, giúp cho người phụ nữ khẳng định vị trí, vai trò của mình trong xã hội mới là tất cả những gì mà Nữ  Giới Chung hướng đến trong suốt quá trình tồn tại của mình. Và điều đó đã dành đựơc rất nhiều sự ủng hộ của những trí thức tiến bộ.



II.    Những đặc trưng về hình thức và nội dung của Nữ Giới Chung:
1.    Hình thức:

Qua những gì đọc được trên những số báo còn lại trên vi phim ( chỉ thiếu hai số) chúng tôi nhận thấy rằng: hình thức của Nữ Giới Chung từ khi xuất hiện đến khi đình bản hầu như rất ít thay đổi. Có thể vì lý do. thời gian tồn tại của báo quá ngắn (6 tháng) nên chưa kịp có gì cải tiến thì đã chấm dứt cuộc đời hoạt động.
Sau khi ra số 1 thì số 2 vì lý do “ Hôm nọ rấp tết nên các ấn công nghỉ, còn tôi lại lâm bệnh hết mấy ngày, bởi thế  cho nên bài vở của bổn – báo số 2 sắp đặt không đặng hoàn toàn, sót trước lộn sau, nên tôi kĩnh vài hàng tạ lỗi cùng chư quới vị và tôi dám hứa chắc rằng từ nầy về sau sẻ chỉng đốn lại cho vừa lòng quới vị”. Đó là lời “Kĩnh khải” của ông Tổng lý - Trần Văn Chim trong số báo thứ  3. Rất tiếc số 2 bị thiếu nên không thể biết được những sai sót đó là gì. Sự kiện này cũng có thể cho thấy một điều rằng Nữ Giới Chung rất chú trọng đến hình thức báo, đề cao sự quan tâm đến độc giả.


a.    Manchette:
Như đã nói ở trên, hình thức của tờ báo không có gì thay đổi, từ khi ra đời đến khi đình bản, do đó, Manchette – bộ mặt của tờ báo vẫn ổn định trong suốt 6 tháng tồn tại. Dưới đây là đặc điểm của Manchette tờ báo:
Phía trên cùng góc trái là số báo, chính giữa là ngày tháng năm ra báo, hai hàng kẻ ngang rồi đến tên Nữ Giới Chung in hoa bằng chữ quốc ngữ thật lớn, phía dưới là dòng tiếng Pháp “ Fémina Annamite” có nghĩa là “”Phụ nữ nước Nam” sau đó Nữ Giới Chung được viết bằng chữ Hán.
Tên của Tổng lý Trần Văn Chim, đến tên của Chủ nhơn Henri Blaquìere, tên của chủ bút Sương Nguyệt Anh.
Địa chỉ toà soạn, giá bán báo mỗi năm, giá rao hàng.
Phần mục lục được in rất cụ thể những bài đăng. Cuối cùng là dòng chữ “ Vị nào mua báo, xin gởi mandat cho M.Lê Đức, Nữ Giới Chung, số nhà 15, đường Taberd, Saigon.”

 

NGCso1


b.    Cột báo, tựa báo, đường kẻ ngang dọc:
-    Cột báo: trong 22 số báo của mình, bài viết trên các trang báo được chia làm 3 cột, với nhũng trang quảng cáo thì thường không chia cột theo một qui định nào.
-   Tựa báo: thường được in đậm, co chữ lớn, các tựa hầu như in một kiểu chữ giống nhau, ít thấy sự thay đổi. Ở số 1 đến số đến số 8 các tên mục như: Xã thuyết, Học nghệ… có thêm phần tiếng Pháp. Ở số 1 ta chỉ thấy tên mục : Xã thuyết… được ghi trước đến phần chữ Hán. Nhưng từ số 8 thì các tên mục: Xã thuyết bằng tiếng Việt, đến tiếng Pháp rồi mới tới chữ Hán

Xã Thuyết               Học Nghệ                  Gia Chánh                  Văn Uyển
Article de fond        Métíers                   Ménage                      Variété  Littéraire

Tạp Trở                   Thời Đàm                     Truyện ký
Faits divers               Chronique                          Contes

-   Đường kẻ ngang dọc: thường thì dưới mỗi tựa báo có một hàng kẻ, các bài báo chỉ chia cột không đóng khung. Với các bài quảng cáo thì có một cách trình bày khác. Tuỳ thuộc vào nội dung quảng cáo, các đường kẻ sử dụng cho thích hợp
Kết thúc một bài thì thường kẻ hai đường, một đậm một nhạt để chuyển sang một mục khác.


c.   Khổ giấy, số trang, giá tiền:

-    Khổ giấy: 41cm x 29 cm là khổ báo của Nữ Giới Chung. Khổ báo này giữ nguyên cho đến khi tờ báo bị đình bản.
-    Số trang:   
“ Bổn – báo theo lệ tuần báo, mổi tuần – lể xuất – bản  một kỳ, mổi tập là 24 trương”. 24 trang là Nữ Giới Chung đã tính cả số trang quảng cáo vào. Nữ Giới Chung dành cho 8 trang quảng cáo, vậy số trang còn lại thường là 18 trang. Riêng ởû số 1, báo ra tới 24 trang. Việc tăng trang này nhắm mục đích giành nhiều đất hơn để giới thiệu về mục đích, tôn chỉ và hoạt động của tờ báo. Như vậy thì tính luôn quảng cáo Nữ Giới Chung có tới 26 trang.
Số trang chẵn được đánh ở góc phải trên cùng, trang lẻ được đánh ở góc phải trên cùng.
-    Giá tiền: giá bán lẻ của Nữ Giới Chung là 0$10. Còn giá bán cả năm thì được bán như sau:           
Nội đông dương, một năm: ……………………………………………..   5 $ 00
Id         sáu tháng:    …………………………………………   3  $ 00
Học trò nam nữ và lính ( tính giá nhẹ): ……………………….   4 $ 00
Bán lẻ mỗi số ( góp 10 tháng): ………………………………………..   0 $ 50
Đổi chỗ ở: ………………………………………………………………………………..    0 $ 20
Pháp quốc: ……………………………………………………………………………….   25 f 00
c.    Ngày và nơi phát hành:
- Ngày ra báo: “mỗi tuần xuất bản ngày thứ sáu”
- Nơi phát hành: toà soạn báo ở tại đường Taberd, số nhà 15, Saigon


III.    Các thể tài trên Nữ Giới Chung:

Các thể tài trên Nữ Giới Chung khá phong phú. Ban đầu chủ bút Sương Nguyệt Anh chủ trương có 8 đề mục. Nhưng khi khảo sát các tờ báo còn lại, chúng tôi nhận thấy các đề mục không phải lúc nào cũng xuất hiện một cách đầy đủ trên một số báo. Ví dụ như ở số 1, số đầu tiên của Nữ Giới Chung thì chỉ có 6 thể tài, số 3 thì có tới 7 thể tài, số 5 thì có 8 thể tài.
Đặc biệt ởøsố 18 thì xuất hiện thêm thể tài Đồng Thoại nên trên số báo này có tới 9 thể tài, duy nhất về sau chỉ có số 21 mới có 9 thể tài như vậy.
Ơû đây, chúng tôi không nói đến múc Cẩn cáo thường xuất hiện đầu tờ báo khi toà soạn có điều gì cần nhắn gởi với bạn đọc.
Tóm lại, Nữ Giới Chung có các thể tài chính sau
1.    Xã Thuyết
2.    Học Nghệ
3.    Gia chánh
4.    Văn uyển
5.    Tạp trở
6.    Thời Đàm
7.     Truyện ký
8.     Tiểu  thuyết
Sương Nguyệt Anh đã khái quát nội dung của 8 mục chính của nó như sau:
Phàm những bài bàn về các vấn đề có lợi ích chung trong bạn gái, có quan hệ lớn đến việc đờn bà, lấy lẽ công bình tình mà luận. Một, chú ý về thuần phong hóa, hai, cổ động về việc công thương. Tóm lại là ngụ cái tinh thần của bổn báo thì thuộc về mục Xã Thuyết.
Phàm về những nghề chuyên môn, đã có thiệt nghiệm, mà rất giản dị hay làm tay, hoặc dùng máy, có thể ngồi nhà mà nghiên cứu, không thầy mà chế tạo được, rất giúp ích cho nhà làm nghe, thì thuộc về mục Học Nghề.
Phàm những việc cần dùng hàng ngày trong gia đạo như may vá, nấu nướng, tính toán, thuốc thang, cách nuôi con, dạy con chỉ bảo đứa ăn đứa ở, cho có kỷ cang, có nề níp thì thuộc về  mục Gia chánh.
Phàm những bài từ, phú, thơ ca của mấy bực danh viên, khuê tú, ngắm trăng, nhả ngọc, phúng châu, lấy câu văn mà di dưỡng tính tình, mượn bút hoa mà vẽ vời tư tưởng thì thuộc về mục Văn uyển.
Phàm những bài không vào môn loại nào, không có thể loại gì, như bài”lai kiểu”, lời “cách ngôn”, chuyện “khôi hài”, câu “thai đố”! Và các cuộc chơi tiêu khiển, mà có ích cho trí khôn thì thuộc về mục Tạp trở.
Phàm những việc hiện tại ngoài thế giới, trong nước nhà, mà có quan cảm với nữ giới, hoặc các phóng viên gởi lại, hoặc theo báo Tây dịch ra, cứ trong sự thiệt, hay khen chê, như thể lệ nhà làm sử vậy, thì thuộc về mục Thời đàm.
Phàm những liệt truyện các bà mẹ hiền, dâu thảo, đức hạnh, tài ba xưa nay, đem phấn son tô điểm non sông, mà mai một, không mấy ai nhớ được lịch sử. Nhứt là những bà có tài đức trong nước ta, đều sao lục lại làm tập kiểu thơm, làm bia kỉ niệm, làm gương cho khách hồng quần, thì thuộc về mục Truyện kí.
Phàm những truyện  có tính lí thú của mấy nhà Đại thuyết gia, kí thác làm người trong sách, mà tả các chơn tướng thói đời lòng người. Ngụ ý khuyên răng, nghĩa thưởng phạt, trong lúc mau vui, đặng ngăn ngừa các thói xấu trong xã hội thì thuộc về mục Tiểu thuyết.
Sau nữa bổn báo xin nhắc rằng: Phàm những bài nào, hoặc có câu nào chữ nho, thì dưới lại xin chú thích minh bạch, đặng bạn đọc báo, khỏi phiền về cũng một tiếng nói, mà thành như cái ranh hạn vô hình.

A. XÃ THUYẾT:

Phần Xã Thuyết chính là diễn đàn những người phụ nữ được nói lên tiếng nói của mình. Đây là tiếng nói đòi quyền bình đẳng, đòi được tôn trọng. Vì thế Xã thuyết là tiếng chuông vọng nhất, ngân nhất của tờ Nữ  Giới Chung. Phần này thường do Sương Nguyệt Anh phụ trách chính, những bài viết củabà ở mục này rất sắc, chúng tập trung vào, có tính kêu gọi, lý giải vấn đề rất thực, rất hiệu quả. Đề tài xoay quanh những chuyện như: “Cách ăn mặc của đờn bà nước ta”, “Bàn về sách dạy đờn – bà con gái”, “ Lòng yêu nước của đờn – bà Pháp”,   “Lòng nhiệt thành”…
Dưới đây là một đoạn trong bài “Lòng yêu nước của đờn bà Pháp” của Nguyễn thị Bỗng:
“ Người ta ai không có nước, nước cũng như nhà nếu biết yêu thân thì phải yêu nhà, muốn giữ vẹn nhà thì phải yêu nước
………………
yêu nước thì hoặc lấy của, hoặc lấy sức, hoặc lấy tài, hoặc lấy đức. Yêu nước thì phải dùng lưởi, hoặc dùng bút, hoặc đổ máu ra mà làm cho tổ – quốc được quang vinh.
Dẩu mình có thiệt mà nước mình được ích cũng làm, dẩu mình có hại mà nước được lợi cũng làm.
Hoặc ở số báo thứ 9, bài viết lại khuyên chị em phụ nữ không chỉ nên lủi thủi trong xó bếp, hoặc chỉ say mê trong việc ngâm vịnh thi phú mà còn phải biết tình hình thế sự. Mở rộng nhãn quan để tìm hiểu “tình trong thế ngoài”. Phải biết nâng cao trí thức để có được một cuộc sống tự lập chứ đừng nên núp mãi dưới bóng trượng phu:
“Thửơ xưa, tài nữ nước ta như bà Đoàn Thị Điểm, bà Hồ Xuân Hương, Bà phủ Thanh Quan, bà Diệu Liên công chúa là đương buổi thời khao cử nhất sĩ nhì nông. Ngày nay ngọn sóng Aâu trào qua Nam Hải, các khoa học mênh mông, công nghệ ấy, khoa học thế kia, trông người mà nghĩ đến ta,  tình buồn cảnh buồn mà không cảnh buồn mà không buồn lại buồn cảnh bông tàn trăng khuyết là sao vậy?
Kìa ta mở cặp mắt ngó ra hoàng hải, nguời âu Mỹ làm thầy giáo cũng là đàn bà, mà thầy kiện cũng là đàn bà, trong tay sẵn có một nghề, không phải nương nhờ người nam tử. Aáy cái học người ta như thể há chẳng như người mình không bệnh mà rên!
Chị em ơi! Cái nết đánh chết cái hay,dẫu vẫn như Ả Tạ nàng Ban, cũng chẳng qua một cái trò chơi. Muốn có cái địa vị ngang hàng với nam tử thì chẳng những việc tề gai nội trợ phải thuộc lòng mà tình thế trong ngoài cũng phải ráng lên mà ghé mắt, tuy chẳng được như người Aâu song cũng chẳng phụ tiếng con cháu Lạc Hồng…”
Ngoài Sương Nguyệt Anh thì cũng có một số tác giả khác tham gia phụ trách mục như Nguyễn Song Kim, Trần Thị Đào, Nguyễn Thị Bỗng...
Phần này được viết bằng văn phong chính luận nhưng không vì thế mà khô khan cứng nhắc. Hiểu được tâm lý của nữ giới chủ bút Sương Nguyệt Anh đã dùng hình thức trò truyện tạo không khí gần gũi thân mật. Từ đó sẽ gây nên sức hút hơn đối với độc giả.
Qua những gì khảo sát có thể nói phần Xã Thuyết là linh hồn của tờ báo. Thông qua mục này mục đích và tôn chỉ của bổn báo được thể hiện rõ nhất. Những tư tưởng cấp tiến của chủ bút Sương Nguyệt Anh đã góp phần vào công cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng nam nữ trong xã hội, cung cấp cho người phụ nữ những tri thức lý luận vô cùng sắc bén.

b.    HỌC NGHỆ :

“ Thế lực người đờn bà “ mà Sương Nguyệt Anh nói tới nếu chỉ coi là bẩm sinh của phụ nữ thì vẫn chưa đủ. Bởi lẽ nếu họ muốn được ngang bằng với nam giới, họ cần phải làm tốt vai trò của mình trên mọi lĩnh vực từ gia đình cho đến xã hội. Vậy câu hỏi đặt ra là họ cần phải làm gì?. Hiểu được điều đó, Nữ Giới Chung rất chú trọng đến các việc học nghề, nhằm giúp giới “ quần xoa “ có thêm tri thức và kỹ năng để thực hiện trọng trách của mình trong các công việc mà họ phải gánh vác.
Mục Học Nghệ này hướng dẫn bạn đọc cách làm nhiều thứ như: dầu thơm, trà tàu, làm đồ hộp, trồng đu – đũ… hết thảy những gì có thể dạy cho chị em phụ nữ. Nữ Giới Chung quan niệm, có người phụ nữ có trong tay một nghề nào đó sẽ giúp ích đỡ đần cho gia đình, chồng con họ. Cách hướng dẫn của Nữ Giới Chung khá chi tiết cặn kẽ ( có thể tham khảo bài hướng dẫn làm nước hoa ở số 1, phần nội dung để hiểu rõ hơn)
Không những chỉ vừa dạy nghề cho người phụ nữ, Nữ Giới Chung đồng thời còn cung cấp thêm những kiến thức về lịch sử văn hóa thông qua việc nói rõ nguồn gốc của nghề nghiệp. Và như thế nó đi sâu vào hai hướng: một là phổ thông, hai thiệt nghiệp. Tức là phải học để nâng cao hiểu biết và biết làm ăn.

C.  GIA CHÁNH:


Cho dù người phụ nữ trong Nữ Giới Chung có ý thức “vùng dậy”, song dĩ nhiên họ vẫn không thể quên đi trách nhiệm mang tính thiên định của họ, đó là tề gia nội trợ, làm tròn thiên chức người vợ, người mẹ. Vì thế, tờ báo rất chú trọng mục này.
Ở mục Gia Chánh ta có thể tìm thấy những mục nhỏ thường xuyên xuất hiện như: Cách ăn ở, Phép nuôi con, Việc vặt trong nhà, Nữ – tữ giáo dục, đối với người nhà, Đối với người ngoài, giản – dị liệu bệnh pháp…
Mục này thường do cô Lê –Ái – Kiều phụ trách, trong mỗi mục nhỏ lại thường giao từng người phụ trách như Nữ – tữ Giáo dục do Trần – thị – Đào…
Gia Chánh giúp cho bạn đọc nữ biết được nhiều điều vặt trong cuộc sống, đọc Nữ Giới Chung ngoài nâng cao kiến thức cho bản thân, họ còn trở thành một người vợ, người mẹ đảm đang trong gia đình
Dưới đây là hướng dẫn “Cách vệ sinh các món ăn”
Gạo – Gạo là món ăn nhứt cần của người phương Đông ta, trong có chất trứng gà, chất mở, chất nước, chất bột. Mà chất trứng gà có 7 phần 10, nên ăn rất bổ dưỡng cho người ta lắm
Gạo lúa có nhiều lân  - chất cho nên ăn nó thì bổ nảo, gạo giã thiệt kỹ, ă n thì hay sanh ra chứng nhức đầu, sưng chân vân vân.
Gạo nếp ăn nó lâu tiêu, phàm người yếu bao tữ thì không nên dùng
Hay những mẹo vặt dùng trong gia đình, với những mẹo vặt này không chỉ người phụ nữ thời đó cầnmà ngay cả phụ nữ ngày nay sử dụng vẫn tốt:
VIỆC NÊN CẦN BIẾT
Phép thử nước uống: Lấy một ly nước lạnh, hòa rượu chén chục chữ với sà bông, rồi nhỏ 2, 3 giọt vào ly nước ấy. Nếu không có chất tạp, thì nước vẫn trong, mà xấu, thì tự nhiên phải nổi bột trắng. Hoặc lấy một ly nước, bỏ chút Hàn-the, “Bằng-sa” vô, thì nước cho chất độc.

Cách làm nước ngọt ra mặn:  Những nơi gần biển, ít chỗ có nhiều nước ngọt. Nay có một cách, múc nước đổ vào một cái thạp, để lóng một vài giờ đồng hồ, cho nó chìm những chất dơ xuống dưới đáy, rồi gạn lấy nước trong, nấu xôi để một lát cho lóng hết, lại gạn lần nữa. Nếu đi gạn lại vài 3 lần như vậy, thì nước mặn cũng hóa ra nước ngọt.

Phần rửa ve chai: Lấy ít vôi đổ ve, cho nước lạnh súc một lần, thì ve sạch như mới.

Phép cặm nhành bông trong bình cho đặng tươi lâu: Lấy một chút muối bỏ vô trong bình, sẻ cặm nhành bông thì được tươi lâu.hay đốt gốc cho cháy, sẻ cặm vô nước cũng đặng.
Đối với người phụ nữ làm mẹ là thiên chức cao quý, vì thế Nữ Giới Chung đã dành phần nhiều đất của mình để hướng dẫn cho người phụ nữ cách nuôi con sao cho tốt, đây chính là mục rất có ý nghĩa của Nữ Giới Chung. Phép nuôi con của Nữ Giới Chung hướng dẫn rất nhiều việc, thu hút được sự quan tâm của các bà mẹ. Đây cũng chính là chuyên mục xuất hiện thường xuyên trên Nữ Giới Chung.

D.    VĂN UYỂN:

Trong giai đọan này bất cứ một tờ báo nào cũng đều khá chú trọng đến văn học. Văn học hiện đại tìm được chỗ đứng để tồn tại và phát triển chính là nhờ vào báo chí, nhưng nói đi thì cũng ngó lại văn học chính là phần làm cho tờ báo dễ đến với độc giả hơn, dễ thu hút người đọc tờ báo hơn. Văn học trên Nữ Giới Chung khá phong phú với nhiều thể loại khác nhau. Nhưng cuối cùng vẫn luôn thực hiện một mục đích là nâng cao dân trí cho người phụ nữ. Văn Uyển là chuyên mục thiên về văn học. Ngay từ tên gọi mục này, chúng ta đều đã  có thể hình dung ra được nội dung trong nó. Phần Văn Uyển thường là phần “ Uống trà vịnh thơ”, song với Nữ Giới Chung, nó còn mang tải nhiều vấn đề xã hội sâu sắc, không còn là chuyện nhàn tản thơ văn mà đã ý thức được vai trò của văn chương trong công cuộc đổi mới xã hội, đặc biệt là gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh phụ nữ. Hãy xem nữ sĩ Trần Thị Đào cảnh tỉnh phụ nữ như thế nào:

TIẾNG CHUÔNG NỮ GIỚI
Bạn Nữ giới ta, từ đã lâu rồi: Như mưa giội nhành hoa, mây giăng án nguyệt, giữa vườn xuân chẳng phất đặng mùi hương, ttrong đêm tinh không soi chung bóng rạng. Dường ấy huê há hay không tủi, nguyệt hà hay không buồn….! Dầu huê không tuổi, dẫu nguyệt không buồn, mà người trong cảnh vậy há khôn. Căm!… ?.
Vậy nên tiếng chuông này, dường than thở, dường khuyên lơn, dường khiêu khích. Than là than chị em ta, bấy lâu ẩn chốn khuê môn, nhọc nhằn thân sản dục, ghe phen khổ cực với nhân quần luống  công hưởng chút công tấm mẳn, khuyên là khuyên chị em ta, đam phấn son mà trang điểm tài nghề, đem đức hạnh mà trau dồi nhan sắc. Khích là khích chị em ta; tua biết gái lành thi duyên toại, chớ nói rằng chồng quý thì ắt vợ sang. Dầu cho giá đúc nhà vàng mà không( dung), hạnh, công, ngôn thò cũng hổ.
Khoan nhặt tiếng chuông nữ giới, ới ai ôi thức tỉnh giấc đêm, tuân?. Đã sinh giữa chốn dinh hoàn, cái thân há để phụ phàng mai sau.
Trần Thị Đào


-    Về phần đăng tải thơ văn, Nữ  Giới Chung chia làm hai thể loại thơ: đương  đại và thơ cũ. Thơ văn đăng tải trên Nữ Giới Chung thường chia ra làm “ Thơ văn Trung kỳ”, “Thơ văn Bắc kỳ”… bổ sung cho sự phong phú của tờ báo. Qua đó cũng chứng tỏ được sự lan rộng của tờ báo khắp trên cả nước. Bài vở đóng góp cho tờ báo không chỉ giới hạn ở vùng Gia Định, mà còn ở địa phận ngoài Trung – Bắc kỳ.
-    Tuỳ vào từng số báo mà Mục Văn Uyển khi thì xuất hiện rất nhiều mục nhỏ: như ở Nữ Giới Chung số 4 thì chỉ có hai mục nhỏ, nhưng ở số 5 thì có tới 11 mục… thật khó giải thích lý do vì sao, có thể là Nữ Giới Chung phụ thuộc vào số bài viết của cộng tác viên gởi về.
Ngoài những tác phẩm được viết theo bút pháp cũ, thì trên Nữ Giới Chung xuất hiện “ Từ khúc mới” dành để giới thiệu những tác phẩm được viết theo lối văn mới, mạnh mẽ hơn,  thoáng hơn như bài “ Nhớ bạn” của Nguyễn Thị Quỳnh:
Ai!
Ai ôi!
Nhớ bồi hồi !
Ra đứng trông trời.
Ngậm ngùi !
Bóng trăng soi.
Xa xa trông tưởng bóng người
Với !
Vội mời,
Chẳng thấy ai tới nơi.
Thẩn thơ ngoài
Vẩn vơ hoài
Ngồi !
Dùi mài,
Dựa gốc mai
Tấc dạ đầy vơi
Mong nhớ khôn nguôi
Bên lầu mờ ngẩn bóng lui
Ngọn nhành lác đác sương rơi, lạt mùi
Ngoài việc khơi dậy những tích xưa viết về những gương phụ nữ anh hùng thì Nữ Giới Chung còn đăng các bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương…Dưới đây là hai bài thơ của nữ sĩ Hà – thị - Hải
THƠ VỊNH BÀ TRIỆU ẨU
Anh hùng mụ Triệu chả chà cha,
Rõ mặt là vua Lệ – Hải ta.
Việc nước dân mình ba chú chệt,
Ngọn cờ trước gió một nhành hoa.
Vốn trong son phấn đành thân gái,
Sánh lại mày râu chân mặt già.
Sáng nghiệp đã đành câu “sự khứ”
Mà quân Ngô nó ghê bà.
……………………………………………….

THƠ VỊNH BÀ TRƯNG NHỊ.
Gởi đến canh thơ mới thấy tình,
Tiếng đồn cô Nhị báo thù anh,
Nổi nhà tuy thế lá duyên chị,
Việc nước vì chưng cũng phận mình.
Danh tiết có chung phần tữ sách,
Bá vương riêng để nghiệp Mê Linh,
Nào ai đồn xạo bà Trưng Chúa,
Em gái bà đây cũng đáng kinh.

Hà- Thị - Hải


Nữ Giới Chung đã rất tài tình khi đã biết tìm cách khơi giậy trong lòng người phụ nữ sự tự hào giới tính. Chắc chắn những tấm gương nữ anh hùng trong suốt hơn 4000 năm dụng nước và giữ nước của dân tộc sẽ khơi gợi được sức mạnh vươn lên tự khẳng định mình của người phụ nữ.
Hoặc ở một số báo khác của Nữ Giới Chung trong phần Văn Uyển có đăng tải một bài thơ: “ Bài ca khuyến nông”. Thông qua bài thơ nữ sĩ Sương Nguyệt Anh vừa chỉ dẫn cho độc giả biết địa thế Việt Nam vừa kêu gọi mọi người yêu quý đất đai:

Chị em ôi hỡi chị em
Có lòng   nghĩ đến nước Nam chăng là
Kìa kìa địa thế nước ta
Thiên – thơ – định – phận sinh ra cũng kỳ
Phân mao giẩy núi chạy đi
Cùng liền một giãy hình thì dài cong
Trung Kỳ hẹp thắt lưng ong
Hai đầu nam bắc càng vùng rộng ra
Có người nói ví nước ta
Một đòn hai thúng quả là không sai
Đời xưa chia giữ từng nơi
Bắc thời nước cũ nam thời Lạp Xiêu
Đinh, Lê đến với Nguyễn Kim
Mới mừng nhất thống không hiềm phân chia
Tốt thay cẩm tú ha sa
Khai hoang đã ngoại bốn ngàn năm lâu
Ba kỳ đất nước phong sưu
Biết bao điền thổ biết bao núi rừng
Trung châu các đất đồng bằng
Từ xưa khai khẩn phong đăng đã nhiều
Thượng du với các viễn châu
Rừng xưa xanh ngắt một màu chăn hoang
Người mình nếu biết mở mang
Cây trồng phải phép mới là lợi nguyên
Tiếc thay dân trí chưa khôn
Sự nông phải phép đua chen với người….

E.    TẠP TRỞ:

Có thể coi tạp trở là một phần lặt vặt với nhiều mục giải trí, thư giãn nhưng hàm chứa trong các mục này vẫn là vấn đề phụ nữ. Ngoài ra còn đảm nhiệm chức năng giáo dục giá trị nhân phẩm sâu sắc.
Trong Tạp Trở nó chứa đựng nhiều mục nhỏ thường xuyên xuất hiện như: Mẹ con nói chuyện cách trí, Cách ngôn, Thai, Chị em nói chuyện…và cả những bài thơ, bài văn của độc giả gởi đến báo. Có một điều cần quan tâm là mục Tạp trở là cho Nữ Giới Chung trở nên phong phú hơn rất nhiều, nó cũng thường là phần chiếm số lượng có lớn trong tờ báo. Có số  báo Nữ Giới Chung có đến 13 -15 mục như NGC – số 3, NGC – số 4
Chúng tôi xin được giới thiệu một vài nội dung của các mục
Thai
Đây là dạng câu ra câu đố, tạo nên mục giao lưu giữa độc giả với báo. Những ai đáp trúng sẽ có thưởng
“ Bổn báo ra mấy câu thai sau nầy ai bàng đặng bắt thăm sẻ thưởng nhựt – trình mổi câu một tháng coi chơi. Từ ngày đăng báo cho đến mười lăm ngày, thời thôi thâu đáp từ.”
Câu thứ nhứt
Hoại ( hoặc đọc quại);  bất đầu cơ bán cú đa
Xuất tuý Kiều một câu.
Câu thứ 2
Còn tiên tích việc ở tay khi đêm khép mở khi ngày riêng chung
Xuất vật dụng
Câu thứ 3
Đào đà sa ngọc trong vòng ấy, gở đặng thì xuân cũng phải già
Xuất vật dụng
(Nữ Giới Chung, số 3)

F.    THỜI ĐÀM:
Mục này quan trọng nhất chính là phần đăng những tin tức, mang tính thời sự trong và ngoài nước. Các tin tức xoay xung quanh cuộc sống của người dân các tỉnh Nam bộ, đó là mục “ Nam Kỳ thời sự”, “Việc nước ngoài”, “ Việc trong nước”… Những tin tức này làm cho tờ báo mang tính phong phú, không chỉ xoay quanh việc cổ vũ tinh thần, đòi quyền lợi, kêu gọi phụ nữ mà nó còn chú trọng vào việc đưa tin. Qua đó cũng thấy được rằngNữ Giới Chung tuy là tờ báo đầu tiên dành cho phụ nữ nhưng nó cũng rất chu đáo, hoàn chỉnh. Tuy vậy, những tin tức trên Nữ Giới Chung có khi đăng lại từ các báo khác như: Nam Phong tạp chí…
Dưới đây là một mẩu tin đăng trên Nữ Giới Chung:
“MỘT NGƯỜI THIẾU – NỮ NHỰT – BỔN LÀM QUAN TÀU
Vẩn tại Nhựt – bổn bấy lâu nay thì có đàn – bà coi mấy tàu, cầm bánh xe hơi cùng là xe – lữa, chớ thưở nay dầy trong các nước nào cũng thế chưa có đờn bà làm quan tàu. Nay tại Nhựt – bổn mới có  một nàng thiếu – nữ ra thi đỗ lấy bằng cấy làm quan tàu”
“MỘT BỊNH LẠ
Tại Thượng – Hải mới sanh ra một bịnh truyền – nhiễm rất lạ nhưng mà không hại bị nhứt đầu và nóng lạnh trong ba hay bốn bữa rồi hết. Theo lời Nhựt – báo “Sanghai Times” nói thì tại Thiên – Tân có 200 ngàn người bị bịnh ấy”


G.    TRUYỆN KÝ:
Thường một số thì Nữ Giới Chung đăng từ 1 – 2 bài ký, viết về các gương phụ nữ tiêu biểu có tính chất giáo dục cho người phụ nữ những đức tính tốt, để họ học tập noi theo. Những câu chuyện ký như: “ Truyện bà Mạnh – vỏ”, “ Truyện cô Ái – Chi”…


H.    TIỂU THUYẾT:


Toàn bộ số báo Nữ Giới Chung chỉ đăng hai tiểu thuyết đó là “Băng Thuyết Nhơn Duyên” – một tiểu thuyết của Tàu, và “ Chuyện Ngàn Ngày và một Ngày” – đây là chuyện “ Nghìn lẻ một đêm”. Đến khi đình bản hai truyện này vẩn còn đang dang giở, chưa đưa đến cho độc giả đựơc kết cuộc của cả hai câu chuyện.
Có thể theo dõi phần dịch hai câu chuyện này qua nội dung hai số báo được nhập vào.
Tóm lại, qua các thể tài của Nữ Giới Chung có thể nhận thấy rằng, dù là tờ báo đầu tiên dành cho phái nữ, đi những bước đi khai lối, thế nhưng Nữ Giới Chung đã biết làm sao cho tờ bao phong phú, mang tính phụ nữ nhưng lại rất sâu sắc, chu toàn.
Cũng phải nhìn nhận một điều rằng viết cho Nữ Giới Chung không chỉ là những người cộng tác, những người phụ nữ mà có cả những “bực tài trai”, họ tham gia gởi bài về nói lên quan điểm của mình, tạo sự phong phú cho tờ báo. Tuy nhiên, sức ảnh hưởng của tờ báo khá lớn, làm thay đổi quan niệm suy nghĩ của người phụ nữ đã bao đời quen với việc nội trợ, phục tùng, đã làm cho không ít người nam bảo thủ khó chịu, họ đã gởi thư về trách mắng, thậm chí chửi rủi Nữ chủ bút: “Bà Sương Nguyệt Anh tôi mong bà bỏ ý định ngông cuồng đòi nam nữ bình quyền, bỏ ý định hô hào giải phóng phụ nữ. Tui biết bà cũng có dăm ba chữ thánh hiền, chớ không như bọn người vô học, bọn người tiểu nhơn. Tại sao bà lại làm như vậy?Ngay bọn canh điền khố rách áo ôm chữ nghĩa không đầy lá me, cũng không có ý tưởng như bà, chúng vẫn giữ tròn đạo làm vợ, làm chồng. Cha bà ngày trước từng dạy bà đủ điều về nữ tắc nữ công kia mà ! Hay là bà quên hết trơn rồi. Hay tại chồng bà chết sớm nên bà không biết phận làm vợ của một người đàn bà…”cả những lời cảnh cáo “Bà nên nhớ bà là một người đờn – bà có chồng chết sớm con chết trẻ, bà nên sớm lui gót về quê nhà, không nên ở đất Sài thành này. Bà thủ tiết để nêu cao chữ tiết hạnh mà người cha bà từng rao giảng tốt hơn là làm chủ bút báo “hãy coi chừng””
Tất cả những nhiều lời cảnh báo đó không thể làm tác hại đến ảnh hưởng tốt đẹp mà Nữ Giới Chung, dưới sự lãnh đạo của Sương Nguyệt Anh đã tạo được nền móng tốt đẹp cho những tờ báo dành cho nữ giới sau này.




Chương II. NỘI DUNG MỘT VÀI SỐ BÁO
( số 1, số 3, số 22)

Chúng tôi chủ yếu sẽ chí nhập phần Nội dung, tức là những phần có đăng tải trong mục lục của báo. Còn quảng cáo thì với những quảng cáo có nhiều hình ảnh, chúng tôi sẽ minh họa bằng một vài bài, điều kiện không cho phép chúng tôi có thể nhập hết.

NỮ GIỚI CHUNG SỐ ĐẦU TIÊN – SỐ 1 ngày 1 février năm 1918

Mục lục:
1.    Mấy lời kính tỏ
2.    Lời tựa đầu.
I.     XÃ THUYẾT.
1.    Thế lực đờn bà.
II.     HỌC NGHỆ
1.    Nghề đặt dầu thơm
III.    GIA CHÁNH
1.    Nghề làm bánh
2.    Việc cần nên biết
3.    Cách nuôi con
IV.    VĂN UYỂN
1.    Tiếng chuông Nữ – giới
2.    Thơ
3.    Văn thơ cũ
V.    TẠP TRỞ
1.    Mấy lời ngỏ với chị em
2.    Cách ngôn
3.    Tướng nảo cốt
4.    Hài đàm
5.    Cuộc đố chơi
6.    Mẹ con nói chuyện
VI.    TIỂU THUYẾT.
1.    Truyện một ngàn và một ngày
2.    Băng thuyết nhơn duyên

NỘI DUNG:
MẤY LỜI KÍNH TỎ

Bà Sương Nguyệt Anh, chủ bút bổn báo, vốn là người con gái ông Đồ Chiểu, bực đại văn hào trong Nam – châu ta hồi xưa, là hiền nội trợ ông Phó Tổng t1in ở Rạch miễu, làng Tân Thạnh. Năm nay, người ngoài ngũ tuần, ở goá tự hồi 21 tuổi. Có một gái, vừa mới vui chữ vu qui, nửa chừng thoạt đã gãy nhành thiên hương. Người thửơ nhỏ đã nổi tiếng văn tài, khí tiết thường lộ ngoài câu thơ giọng phú. Những danh sĩ hồi đó, vẫn khen là bà Đoàn Thị Điểm đất Nam Trung. Tuy sanh là bậc nữ lưu mà lại có tánh hào hiệp: chén cơm Phiêu Mẫu, biết mấy hàn nho căn nhà Đỗ Lăng, dung bao danh sĩ. Bởi thế, nhà càng nghèo, danh vọng lại càng cao.
Bổn báo có quen dai tế người, là thầy Mai Bạch Ngọc ( Mỹ Tho) nên đặng dự ngoài môn tường nghe lời địch huấn, đã mấy dư.
Nay nhơn quan Toàn Quyền Sarraut đang sốt sắng về sự nữ học, cho phép bổn báo chủ nhân là ông Blaequière lập ra tờ nử báo này đặng giúp ích trong cuộc phổ thông một đôi chút.
Bổn báo lấy tình là tử chấp, nên xin người đứng làm chủ bút. Người củng sẳn có lòng nhiệt thành về sự báo, nhưng vì giá cả, và vì trở nhiều việc, chỉ ở nhà viết bài gởi lên mỗi tuần mà thôi.
Thật là vinh hạnh!. Tờ nử báo này lại thuộc tay nử sĩ, đám hùng đàm, thêm có khách anh thơ, việc ấy nước ta bây giờ mới có.
Vậy nên bổn báo rao trước mấy lời, đặng tiến dần với chị em đọc báo.
BỔN BÁO

LỜI TỰA ĐẦU

Chị em tôi vẩn biết thân phận rằng: Khôn ngoan cũng thể đờn bà; trận bút trường văn, đâu đến khách hồng – quần, mà gà mái cục tác muốn mượn tờ giấy cây viết, làm chuông báo thức kêu đoàn chị em. Thế thì củng trái cái bổn phận thiệt. Song trộm nghỉ: con tạo hoá đã nắm ra cái hình người, trai hay là gái, ai chẳng một đồng cân lương – tri lương – năng (1) ấy? Vả đương cuộc đời cạnh- tranh (2) trách hưng – vong còn đến thất phu (3). Huống chi đờn – bà rất có quan – hệ (4) tới xả hội (5). Há lại chẳng nên mượn ngòi bút sắt, tả tấm lòng son, đặng thỏ thẻ với bà con trong ba xứ !

Bởi thế, bổn – báo (6) xuất hiện ngày nay, cái chủ – nghĩa (7) cầm nhứt là đề – xướng (8) việc nữ – học (9) chớ chẳng dám can thiệp (10) đến cả chánh – trị (11) củng chẳng dám đua tranh với bực tài trai.

Bổn – báo sự nghiệp thiệt mỏng như tờ giấy, trách – nhậm (12) lại chuyên về đờn – bà, đâu dám khua môi múa mỏ, lăng – loàn rằng xướng nữ – quyền (13) đâu dám nhứt mẹ nhì con, khoe khoang rằng dân – trí; (14) đâu dám bắt chước nhà lập – pháp, (15) mà định cái phương – châm (16) giáo – dục (17) của chị em; đâu dám tự nhận (18) là cô giáo – sư (19) mà theo qui – củ (20) chương – trình (21) như trường học. Vậy thì bổn – báo có cái mục đích (22) gì riêng ?
Bổn – báo muốn đem cái tấm lòng ngây, giúp trong bạn  gái gây nền tứ – đức (23) một đôi chút.

Vẩn biết ngày nay ngồi nói đến chuyện nữ – học, những bà không lưu – tâm (24) tới, tưởng chẳng việc tư làm khinh trọng gì. Thế nhưng mà một nước quá nửa phần người, trừ làm cái máy đẻ con, ngoài ra không nghĩa – vụ tư –tưởng ( 25) gì khác. Vậy thì tương – lai (26) này, nữ – giới nước ta, kết – quả (27) rồi ra làm sao ?

Cái vấn – đề (28) ấy, là một cái vấn – đề rất quan – trọng (29) của bà con ta cần phải giải – quyết (30) ngày nay.

Đã đành rằng mẹ nuôi nước Lang sa ta thương ta như con gái út, lập trường nữ – học, dạy ta nữ – công (31) kể ra thì đờn bà ta bây giờ củng tấn – bộ ( 32) lắm thiệt. Nhưng ngoài một phương – diện (33) ấy thì chưa thấy có ảnh – hưởng (34) gì khác.

Oâi ! luân – lý suy – đồi, (35) thì giống – nòi hư – hỏng, phong – tục bại hoại, thì lòngb người kiêu ngoai (36). Ta đương buổi giao – kỳ, (37) học củ đã suy, học mới chưa thạnh, chiếc thuyền còn linh đinh giữa biển, cảnh ngộ (38) thiệt là nguy hiểm lắm ! Nếu cái phương châm ngày nay, mà sai một ly, thì đi ngàn dặm, hậu – vận (39) tổ – quốc (40) ta tấn –hoá (41) cũng ở đó, mà thối – hoá ( 42) cũng gở đó !

Vậy bà con ta, nên nghiên – cứu (43) cách gì, cho còn được quốc – tuý, (44) cho hiệp với thời – nghi (45) cho khỏi tiếng cười chê phụ – nhơn nan – hoá ? (46).

Mấy chị em gái chúng tôi: vẩn bân – khuân về nổi niềm ấy. Nên mượn tờ báo nầy, đặng cùng các bà đồng – chí (47) nghiên – cứu ra sao mà giải được vấn – đề ở trên.

Theo ý kiến riêng (48) chị em tôi tưởng: Cuộc đời trong buổi trăm khôn, nghìn khéo, mạnh được yếu thua nầy chỉ bằng trước hẩy nên gây lấy lại bực. Một “ Phổ thông” hai“ Thiệt nghiệp”. Phổ thông là cái bất cứ giàu, nghèo, sang, hèn, ai cũng có chút học – thức (49) trong não. Thiệt nghiệp là nhứt thiết (50) đờn – bà con gái ai cũng có nghề nghiệp trên tay. Có học – thức thì mới biết cái bổn – phận là vợ, làm mẹ. Có nghề nghiệp thì mới khỏi tiếng nhờ chồng nhờ con. Vậy không những phước riêng trong gia – đình, và củng là ích chung cho cả xả – hội nữa.
Biết bao giờ cho đạt được cái mục đích như thế ? tưởng củng còn lâu thay, mà cũng là khó thay !

Bổn – báo vì một tấm lòng si – tưởng (51) ấy, nên vượt cả  bổn – phận gái, mà xướng cái chủ – kiến (52) riêng, dẫu rằng sông cạn đá mòn, chị em tôi, thuỷ chung vẩn một tấm lòng son, không phai lạt.

Người xưa có câu thơ đề chuông rằng: : “ Một tiếng khua vang năm hồ bốn biển”. Bổn – báo tài nhỏ sức mọn, đâu dám tự – phụ( 53) như cổ – nhơn, nhưng củng chẳng đến nỗi quá  liều như lời nói : “ Vác chuông đi đánh một hồi lấy danh”. Nghĩa chỉ có ý muốn tỷ mình như chuông báo thức, kề tai mấy tiếng kêu nhau trong chị em nhà. Bởi thế nên lấy tên Nữ – Giới – Chung mà đặt hiệu báo.

Sau hết xin nói bổn – báo có mấy cái tính chất riêng nầy:

1 > - Vun trồng gốc Luân lý (54) – Từ cách ăn thói ở các bà hiền – triết (55) đời xưa và đời nay, Châu Aâu ( 56) chí Châu Á (57) học lấy cốt tinh – ba, trộn lộn vào một lò, đúc cái gương đạo đức, soi chung với bạn má – đào.

2 > - Trau giồi lẻ biết thường. – Lược đại – khái những học –thuật (58) xưa nay, các hiện – trạng (59) trong ngoài, cuộc đời biến đổi làm sao, thân ta quan – hệ thế nào, lấy lời giản – dị, tỏ nghĩa cao sâu đặng thích – hiệp (60) với trình – độ (61) đờn – bà nước ta, mà có cái kiến thức tương – đương (62) với người nam – tử.

3 > - Gây dựng cuộc sống công – thương. – Diển các khoa chuyên – môn  thiệt – dụng (63) tả những sự chiến tranh vô – hình (64) kêu nhau đem nghề tay đua bơi với đồ máy, trọng thổ – hoá (65) vừa giữ lấy lợi – quyền (66).

4 >. – Liên lạc mối cảm – tình (67). – Tổ cái nghĩa chủng – tộc (68) kết một giải đồng – tâm (69) hiệp cả Bắc, Trung, Nam làm một đoàn thể (70) lớn cho rộng đường phổ – thông mau chơn tấn – bộ.

Aáy bốn cái tính – chất, đó là rót hết tinh – thần của bổn – báo, mai sau dầu đạt hay không, còn trông về phần đông chị em trong một nước.
Bổn – báo theo lệ tuần báo, mổi tuần – lễ xuất – bản (70) một kỳ, mổi tập là 24 trương, nội dung (71) có tám mục như sau đây:
Phàm nhưng bài bàn về các vấn đề có ích lợi chung với trong bạn gái, có quan hệ lớn đến việc đờn – bà, lấy lẻ công bình – tình (72) mà luận. Một chú – ý về phần phong – hoá (73) hai cổ – động (74) về việc công – thương. Tóm lại là ngụ cái tinh – thần của bổn – báo thì thuộc về mục  “ Xả – thuyết”
Phàm những nghề chuyên – môn đã có thiệt – nghiệm (75) mà rất giản – dị, hoặc làm tay hoặc dùng máy, có thể ngồi nhà mà nghiên – cứu lấy, không thấy mà chế – tạo (76) được, rất giúp ích cho nhà làm nghề, thì thuộc về mục “ Học nghệ”.
Phàm những việc cần dùng hằng ngày trong gia – đạo, như may vá, nấu nướng, tính – toán, thuốc – thang, và cách nuôi con, dạy con, chỉ bảo đứa ăn đứa ở, cho có kỷ – cang, có nề – níp, thì thuộc về mục “ Gia – chánh”

Phàm những bài từ, phú, thi ca, của mấy bực danh – viên, khuê – tú (77) ngâm trăng, ngợi tuyết, nhả ngọc, phúng châu, lấy câu văn mà di – dưỡng (78) tánh – tình thì thuộc về mục “ Văn Uyển”

Phàm những bài không vào môn – loại nào, không có thể – lệ gì như bài “hại kiểu” lời “ Cách ngôn” chuyện “ Khôi hài” câu “ Thai – đố” ! và các cuộc chơi tiêu khiển, mà có ích trí khôn thì thuộc về mục “ Tạp trở”

Phàm những việc hiện – tại (79) ngoài thế – giới, trong nước nhà, mà có quan – cảm (80) với nữ – giới, hoặc các phóng – viên (81) gởi lại, hoặc theo báo tây dịch ra, cứ trong sự thiệt, hay khen hèn chê, như thể – lệ nhà làm sử vậy, thì thuộc về mục “ Thời đàm”
Phàm những bài liệt – truyện (82) các bà mẹ hiền, dâu thảo đức – hạnh tài – ba xưa nay, đem phấn – son tô điểm non – sông mà mai – một (83) không mấy ai nhớ được lịch – sữ (84). Nhứt là những bà có tài – đức trong nước ta; đều sao – lục (85) lại, tập làm kiểu thơm, làm, làm bia kỉ – niệm (86) làm gương cho khách hồng – quần thì thuộc về mục “ Truyện – ký”
Phàm những truyện có lí – thú của mấy nhà Đại – tiểu – thuyết gia (87) ký – thác làm người trong sách, mà tả cái chơn – tướng (88) thói đời lòng người. Ngụ ý khuyên răn, thưởng – phạt, trong lúc mua vui, đặng ngăn ngừa cái thói xấu trong xả – hội thì thuộc về mục “ Tiểu – thuyết”
Sau nữa, bổn – báo xin nhắc rằng: Phàm trong bài nào, hoặc có câu nào chữ nho, thì dưới lại xin chú – thích minh – bạch đặng bạn đọc báo khỏi phiền củng một tiếng nói, mà thành như cái ranh hạn vô hình (89).


BỔN – BÁO
1)    Sự biết sự hay của trời đã phú – bẩm sẳn cho từ hồi mới đẻ.
2)    Tranh giành
3)    Một người hèn mạt. Trong sách có câu: nước mà nên hư, một người hèn mạt củng có ăn chịu một phần
4)    Aên nhập, gính giấp
5)    Trong một nước
6)    Nhựt – trình chúng tôi
7)    Cái nghỉa của mình chăm chủ
8)    Đứng xướng lên
9)    Sự học của đờn – bà con gái
10)    Gính giấp, đả động
11)    Cai trị
12)    Việc của bổn – phận mình phải chịu, không đổ được cho ai
13)    Đờn – bà củng có quyền can dự các việc như đờn ơng
14)    Mở mang sự khôn ngoan cho dân
15)    Người đặt ra pháp luật
16)    Cây kim chỉ phương – hướng
17)    Người dạy biểu cách ăn thói ở
18)    Không ai biểu. Tự  nơi mình nhận lấy
19)    Thầy giáo
20)    Cái khuôn, cái thước. Chỉ nghỉa là trong khuôn phép
21)    Điều lệ của một việc gì
22)    Cái nêu của con mắt mình chăm chỉ ngó vào
23)    Một là nghề nghiệp, hai là ăn nói, ba là giáng điều, bốn là nết na
24)    Để lòng vụ tới
25)    Nghỉ tưởng đến việc bổn phận mình phải làm
26)    Mai sau, sẽ tới
27)    Kết trái, rốt cuộc
28)    Bài hỏi
29)    Việc có quan hệ lớn
30)    Cắt nghỉa, quyết đoán
31)    Nghề nghiệp của người đờn bà
32)    Bước lên, chỉ nghỉa là đã hơn xưa
33)    Một mặt, một phía
34)    Bóng truyền vang dội chỉ nghỉa cũng như tục kêu là “ thằng Cụi”
35)    Suy sụp
36)    Gian dối, xảo trá
37)    Hai đàng dồn một, còn đương lộn xộn
38)    Cái cảnh của mình gặp phải
39)    Cái vận hội ngày sau
40)    Nước của ông cha mình
41)    Hay lên
42)    Trở lại thành dở
43)    Tìm kiếm xem xét
44)    Nguyên khí, tinh ba của trong một nước
45)    Hiệp theo thời buổi bây giờ
46)    Đờn – bà khó dạy biểu
47)    Người cùng một lòng với mình
48)    Cái ý của mình tưởng, con mắt của mình thấy về một việc gì
49)     Có học có biết
50)    Hết thảy
51)     Ngây tưởng về một việc gì
52)     chăm chỉ làm về việc của mình thấy
53)     ỷ mình, tự đắc
54)     Đạo làm người ở với cha mẹ, anh em họ hàng và nước nhà
55)     người hiền đức có trí tuệ
56)     Phương tây
57)     Phương Đông
58)     Cách học
59)     Tình trạng hiện đang bây giờ
60)     Vừa đúng
61)     Độ đườn nghỉa là cái sức của mình mới có đến đâu
62)     Vừa ngang
63)      Một nghề gì, có thể làm ra được
64)     Sự tranh cướp nhau không thấy có gươm giáo mà chết là chỉ nghỉa dành cho nhau về nghề buôn
65)     Hàng của nước mình làm ra
66)     Sự lợi trong nước không để lột tay người ngoài
67)     Lòng biết thương xót nhau
68)     Giống nòi, cùng chung một tổ, một màu da
69)     Cùng một lòng
70)     Nhiều người hợp làm một
71)     Bề trong
72)     Công bình khôpng binh vực bên nào
73)     Phong – tục giáo hoá
74)     Đánh trống làm rúng động
75)     Đã làm thử qua mà chắc đựơc rồi
76)     Làm ra
77)     Đờn – bà danh tiếng tài năng
78)     Làm vui, giãi buồn
79)     Việc ngay bây giờ
80)     Coi thấy mà cảm động
81)     Ngừơi đi dọ việc cho bổn – báo
82)    Các truyện
83)     Bỏ mất, mất đi
84)     Sự tích
85)     Viết lại, chép lại
86)     Làm ghi tích để tưởng nhớ
87)     Người làm tiểu thuyết có danh tiếng
88)     Thiệt giống hình dạng
89)     Tiếng nói nghe không hiểu, củng như cái ranh hạn làm ngăn trở sự đi lại. Mà tiếng nói làm ngăn trở không thấy rỏ hình cái ranh hạn thiệt, nên kêu là vô hình.

I. XÃ THUYẾT
* * *
THẾ LỰC ĐỜN – BÀ
Có một nhà danh sĩ người Anh ( Ăng lé) nói rằng: “Cái tay đưa võng cho con,  ấy là tay cầm quyền cả thế giới” (1)
Lời đó, thiệt như vẻ được cái thế – lực của người đờn – bà.
Kìa tài trai như ông Cai – Tán (Jules César) (2) oai – danh lừng lẫy khắp cỏi châu Aâu. Oâng Á – lực Sơn – đạ, ( Alexandre le Grand) (3) vừng vẩy ngang tàng, phía Tây châu Á, rất đổi con nít nghe tên phải nín khóc, mà cũng còn chưa có thế – lực ấy thay. Huống chi đờn – bà ngoài đường kim đường chỉ, đã không tài ngang trời dọc, lại không sức đào núi xẻ sông ai mà dè là một tay hoà- công (4) nhỏ.
Thế – lực là gì ? Là biểu sống được sống, biểu chết phải chết, cũng như nhà – tôn – giáo (5) sanh đặng hết thảy, duyệt đặng hết thảy vậy. Thế thì ngoài quyền – lực quân – chủ (6) lại có cái thế – lực lớn hơn nữa là gì ? Chánh là cái tay đưa võng cho con đó.
Gẫm từ thưở địa – cầu mới có nhơn – loại nhẩn nay, trắng, vàng, đen, đỏ biết hằng – hà sa số (7) nào là người, mà chưa thấy có ai trên trời sa xuống, dưới đất chung lên bao giờ.
Thế mới biết, không có đờn – bà thì loài người ắt tiêu – duyệt, thế – giới hui quạnh, như cù – lao hoang, đâu là nhà “ Triết – học” (8) nhà “ Văn – học” (9) nhà “Chánh- trị” (10) đâu là nhà “ Kinh – tế”, (11) nhà “ Cách – trị” (12) nhà “ Giáo – dục” (13) và hết thảy các hạng người ở trên trái đất này ?
Vậy đờn – bà ta cũng có thể nói được rằng : Phàm – nhứt – thiết (14), những văn – minh hiện – tượng (15) trong thế giới ngày nay,  đều là con cháu nhà cả là vì sao ? Nghỉa có đờn – bà, mới sanh ra thánh – hiền, hào – kiệt mới có người tô điểm vẻ non sông. Dẫu khéo tạc tượng như ông Lễ – Ban (16), tài họa hình như ông Vinh – sĩ, (Léonard de Vinci) (17) cũng chẳng có thế gì mà tạo được ra như người ta thiệt. Rất đổi muốn đoạt quyền tạo – hoá như người Aâu – châu, đến cái thế – lực như rứa, chắc cũng phải chịu thua tay đờn – bà. Vậy thì thế – lực đờn – bà ta, lớn lao biết dường nào ?
Song cái thế – lực ấy, không phải sang mới có, cũng không phải giàu mới có, vốn ông Tạo – vật đã để phần chung cho hết thảy bạn quần – xoa.
Cái thế – lực bà Mạnh – mẩu, thì ông Mạnh – tữ mới nên danh Mạnh – tữ; (18) có cái thế – lực bà mẹ ông Nả – Phá – Luân (Na- pô – léon) thì ông Nả – phá _ Luân mới thành được ông Nả – phá – Luân; (19) Xét trong sử sách xưa nay, còn nhan nhản biết bao nhiêu mà kễ.
Thương ôi ! Đời xưa như thế đời nay có ai ? Thế – lực tay phần chung của mọi người, mà biết dùng ra, lại chẳng qua chỉ riêng về cho những  nhà có học ! Chị em ta phải tính làm sao ? Để cho thiên – hạ coi vào mới gan !. Chớ đừng nên bắt chước như ai, đem thế – lực, mà làm cho nghiêng thành nghiêng nước, cho đổ quán xiêu đình, tan nhà nát cửa. Aáy mới là khôn ! ấy mới là tài, ấy mới là cái tay cầm quyền cả thế giới.
S. Nguyệt – Anh
1)    Là cả và thế – gian
2)    Là danh – tướng nước La –Mã (Rome) trước Chúa giáng – sanh 44 năm
3)    Là ông vua nước Hy Lạp (Grèce) trước Chúa giáng – sanh 356 năm
4)    Là ông trời, thợ trời
5)    Là các gốc đạo, như dạo Thiên – chúa, đạo phật, vân vân.
6)    Là ông vua
7)    Là số các sông Hằng – hà bên Aán – Độ
8)    Học về lẻ tưởng cao xa, những việc chưa ai thấy
9)    Là người học về lối văn – chương
10)    Người lo việc cai trị
11)    Là người sanh lợi cho nước nhà
12)     Là người dạy dổ cho việc phong – hoá trong nước
13)     Là hết thảy
14)     Những cảnh – tượng đồ- sộ, rực rỡ đương buổi bây giờ.
15)     Là người nước Lổ, khi nước Tống đánh vây nước Lổ, trong thành nước Lổ ít quân, ông Lổ – ban chế ra người bằng cây đi quanh trên mặt thành. Nước Tống thấy người đông sợ rút quân về. Làm tổ nghề thợ mộc bây giờ.
16)     Là người họa hình có danh ở nước Ý – đại – lợi (Italie) có vẻ bức tượng là Joconde vẩn đề chân – tàng tại nhà bác cổ thành Paris bên Đại Pháp bây giờ.
17)     Bà Mạnh – mẩu, chọn xóm, dời nhà, đặng dạy nhà ông Mạnh – tữ, sau nên bực đại – hiền.
18)     Oâng Nả – phá – Luân nói : Cái tâm chỉ cao cường của ta, lòng siêng năng chịu khó của ta, đều là nhờ nơi mẹ ta dạy ta cả.
19)     Truyện nầy trong “ Kim Vân kiều” chẳng nói thì ai cũng hiểu.
II. HỌC NGHỆ
* * *
NGHỀ ĐẶT DẦU THƠM

Sự tích. – Kinh Thiên – Trúc có câu nói rằng : Phật bởi huê – sen mà sanh ra. Nhà bàn rằng: “Đứng Tự – hữu ngày kia ở giữa thiên – trung quăng xuống dưới mặt nước một hột sanh – nha ấy nứt nở mọc lên một cây sen có bông tươi tốt, bởi bông sen ấy mà thảo mộc hoá sanh, rồi thảo mộc lần lần sanh sản các động vật. Cho nên bông sen mới được chữ tặng là mẹ các thánh – thần và mẹ loài người ta “

Vẩn dân Ê – giếp – tô khi xưa lấy bông sen mà dâng cho thần Isis , rồi dân Cà – rê – cô lại nói rằng : “ Đông sơ bởi nhuỵ sen mà sanh ra. Thiệt bông sen mùi rất thơm tho ngọt ngào lổ mủi, màu ngũ – sắc giống Đế – đấng (là mống của trời). Vẩn bông sen là hoa rất tôn quí trong các Ngoại – tôn – giáo Đông – phương, là biểu hiện tự nhiên cũa nhà theo đạo Phật, là huê yêu dấu cũa Phật – bà, bởi đó mà các thánh – thần đời thượng – cổ sanh ra.

Có thế nào hơn cho bằng cái thế lấy mùi thơm tho ngọt ngào cũa bông sen mà làm mê hoặc trí con người, làm cho con người bát ngát, không còn tự – do tự – chũ, mà nghỉ suy gì được. Có cái đều chi hay hơn là dùng mùi thơm ấy đặng dụ Cung – phi Mỷ – nữ vào hậu cung. Mà quả vậy, mùi thơm cũng như câu thơ Thần, câu hát Quĩ, rứa các Thần – minh – chánh tri – gia hay dùng mà thắng phụ phàm phu tục tữ.

Thế nào cũng thế, mà tự cổ cập kim ta hằng thấy thiện – nam tín – nữ hay dùng hương – vị màtôn trọng bụt thần, từ Đứng Chí – tôn chí – đại muôn vàn lần tái sanh mà sau rồi hành chánh quả, cho đến các bụt gổ, thần sách đều hưởng hương – vị của thiện – nam tín – nữ dâng luôn. Thậm chí cho đến trong đạo Thiên – chúa kẻ giáo hữu cùng các cố, các cha cũng dùng nhũ – hương mộc – dược mà xông bàn thờ, tỏ lòng tôn – trọng đứng tạo – hoá.

Bởi đó mà thiên – hạ mới lần lần dùng hương – vị đặng xông xác kẻ chết, xông vong linh bài – vị kẻ đã tạ thế và tẩm cốt hài cũa kẻ mà mình yêu thương.

Sự tẩm xác kẻ chết là một việc phải,song le ta nên lo tẩm kẻ sống trước đã. Nhưng mà vừa thì còn dể coi chớ như bắt  chước các mẹ La – mã khi xưa, đi đâu dường như là đem cả tiệm dầu thơm theo bên mình. Có nhiều bà chúa xa xí thới quá, trong sổ công – nho đám dự định mổi năm tới 50 muôn quan tiền để mua dầu thơm mà ướp xác cho các bã.

Trong đời Hoàng – đế Néron có nhiều dinh quan dám phí cho đến 800 muôn quan mà mua một kí – lô nước thơm đặng rưới nhà, việc xa xí như vậy khá chừa mà cũng không nên noi gương ông Britannicus dám tốn 50 muôn quan để mua hoa hướng mà đãi khách. Vẩn  Y- học và Vệ – sanh có dạy phải dùng dầu thơm mà tẩm mình mà chẳng nên thái quá. Ta nên khuyến khích cho thiên – hạ biết nghề đặt dầu thơm.

Nghề làm dầu thơm. – Hèn lâu nghề buôn dầu thơm chẳng phải là ngôi hàng chuyên môn, vạn buôn dầu khi xưa thì chung lộn với vạn buôn đông tây điều lệ vạn buôn ấy hồi đời vua Philippe Auguste (1190) lập ra kêu là vạn buôn bao tay và dầu thơm. Y theo điều lệ lập ra trong năm 1582, rồi qua năm 1656 sữa lại, thì các nhà buôn bao tay ở Paris có phép lám dầu thơm mà bán, còn nghề buôn ấy dùng dầu thơm mà tẩm bao tay cắt may và chế ra.

Qua thập bát thế kỷ dầu thơm tại Paris đà có nhiều rồi, qua năm 1750 thì tiệm bán bao tay nào cũng có bán dầu thơm, thảy đều dọn son phấn mùi Lạc – dương – hoa, mùi Tữ – kim – hương mà bán. Nhứt là son nghề khéo của họ. Trong đời Louis XV lại bày ra thói diện nút ruồi kèm theo son phấn cả mặt mày đều phấn như tô vách tường, cho đến đổi khác hình khác dạng. Cái kẻ làm dầu thơm lại chế ra dầu hạnh – nhơn và dọn dầu sết sết để thoa mặt v.v.

Qua khỏi 1793, nghề làm dầu thơm ở Paris càng ngày càng nhiều hơn nữa. Song le chừng đến năm 1850, thì nghề làm dầu thơm mới thành ra một cuộc thiệt – nghiệm, ấy cũng bởi nhờ có dùng máy mà đặt dầu thơm mau lẹ, bán được giá rẽ, khỏi sự hoả – hoạn và khỏi dùng mở dầu làm cho cháy cho khét, hoặc phai mùi, phai màu.

Khi ấy dầu thơm Paris với dầu thơm Dijon và Marseille là dầu có tiếng; nhưng mà có nhiều lò dầu thơm ở Paris kèm theo một nghề làm savon thơm nữa.

Nhờ càng ngày càng lành nghề, càng khôn khéo cho nên mới bày sai người ta đi cùng thế – gian kiếm bông lạ đem về nhà mà đặt dầu thơm, đã tốt mà lại rẻ tiền.

Bởi đó mà không sợ các nước trang mối lợi, vì dầu Aêng- lê và dầu Ai –lơ – măn dầu Lang – sa bội phần.

Những nghề làm dầu là một nhánh thiệt nghiệp của người Lang – sa rất thạnh vượng, vì chẳng những là dể làm mà còn dể mua đồ thổ – sản, đồ đã tốt hơn thiên – hạ mà còn nhờ cách là ve làm hộp đặng đựng dầu rất khéo léo.

Cũng như các nghề khác hay bị nhiều tay gian giảo nó báo hại nhiều đều, báo hại trong cách chế tạo, báo hại trong cách mua đồ thổ – sản. Những tay đặt dầu lần lần rồi dùng tới cuộc thiệt – nghiệm,  đặng mà thử mà tìm kiếm.

NGHỀ ĐẶT DẦU THƠM BÊN ĐẤT PHÁP ĐƯƠNG KIM
Tại thành Grasse, Cannes và Nice có nhiều sở trồng huê rất to để đặt dầu thơm. Và vườn và lò cả thảy phía đáng nhiều tiền, lại nuôi thợ thầy cả ngàn cả muôn. Các thợ thầy dùng trong vườn và trong lò đếm được 12 cho đến 15 ngàn tên, phần đông là đờn – bà và con nít, vì cuộc hái hoa và lặt lá thì không dùng sức mạnh, chỉ dùng cái gọn gàng nhậm lẹ mà thôi. Các đất ở chung quanh vườn và lò đều có trồng huê, chủ đất ấy đã hạ tờ mà bán trước cho chủ lò những bông rồng trong đất ấy. Song le bông cam thì lại hái bỏ và bao đem ra chợ mà bán tuỳ giá chợ. Từ ngày thành Nice thuộc về nước Lang sa thì việc trồng huê thắng số hơn hai thành kia, vì các thứ huê nhứt là Tữ – kim – huê thì ưa đất Nice hơn hết; khi trước trồng bông ở Nice đem vào đất Pháp thì phỉa đóng thuế nhập quan – ải, mà nay thành Nice thuộc nước Pháp thì khỏi đóng thuế nữa.

Có 6 thứ huê thiên hạ hay dùng mà đặt dầu thơm, mổi năm dùng bao nhiêu, giá cả làm sao, xin kể ra đây cho các cô nhàn lãm:

muôn kilos                                muôn quan
bông cam                     200, giá là                                     200
bông thường                   50, giá là                                      50
bông lài                            8, giá là                                      20
bông tữ kim huê               8, giá là                                      40
bông keo                           4, giá là                                     16
dạ hương ( can huệ )        2, giá là                                       8
Dùng bao nhiêu huê đó mà làm 50 muôn kilos dầu sốt và dầu thơm, 100 kilo nước thơm ( hương thủy ) bông cam, 10 muôn kilo nước thơm bông hường và 120 kilo nước thơm bông cam hay tán mùi mau lẹ.
Vật dùng làm dầu thơm
Gốc tích hương vật – Hương vật dùng mà đặt dầu thơm có gốc tích khác nhau :
1. Bởi cầm thú mà ra.
2. Bởi thảo mộc mà ra.
3. Bởi hóa vật mà ra.

Hương vật bởi cầm thú. – Vật thơm bởi cầm thú mà ra thì ít có nên thiên hạ ít hay dùng. Mà có dùng thì đễ cầm mùi, vì mùi thảo mộc hay phi tán, chớ ít dùng vật thơm cầm thú mà làm dầu thơm nguyên chất.

Vật thơm cầm thú dùng mà cầm mùi, dầu có 5 thứ: Long – diên – hương, Xạ – hương, Hải – lại – hương (xạ rái biễn), Linh – miêu – hương (xạ chồn mướp hương) và nước đái con mang ( đạm huỳnh lộc).

1.    Hổ – Phách – Xám. – Hổ – phách – Xám (long diên hương) chớ khá lộn với hổ – phách – vàng là vật đặt ở tại xứ nóng có như Madagascar, Sumatra, Brésil, Trung –Quốc… trôi linh đinh trên mặt biễn màu vàng dợt, xám xám, mổi cục cân nổi 500 grammes; Hèn lâu thiên hạ cải cọ vật ấy, kẻ thì nói nước miếng cá kình (cá voi), người lại cho là khí cákình giao thông với rồng mà xịt ra, chớ kỳ thật là ké đơn khối ở trong ruột cá kình, khi cá kình ỉa ra trôi trên mặt biễn thì nhờ hơi âm dương ná bèn có meo có mốc, nhờ cái meo mốc đó mà sanh ra hương vị, mà chánh nữa đờm, nữa cứt cá kình đóng cụt lại thành long – diên – hương.

Long – diên – hương vẩn cứng đặc, dạng nó có mở, màu xám xám ngà ngà hay là đen đen, nhẹ hơn nước hễ có hơi nóng thì mềm như sáp, đốt nó cháy như ngọn khói có mở, bỏ vào ethér ( tinh khí) thì dễ tiêu tán. Bỏ vào rượu sôi thì tiêu tán chậm mà không trọn, phần nào tiêu tán trong rượu thì khi rượu nguội nó bằng đóng băng lại.

Long – diên – hương bỏ vào rượu thành ra một teinture, các nhà làm dầu dùng mà cầm mùi dầu thảo mộc, mùi long – diên – hương thơm tho dai lắm, mình thoa vào vải đem đi giặt savon rồi mà hơicòn thơm lâu.

2.    Xạ – hương. – Vẩn xạ – hương là vật thơm ở trong háng con xạ – hương, là một loại sơn – dương ( dê núi) không sừng, hàm trên có hai nanh nhỏ, hay ở xứ Tây – tạng, Trung  Quốc,  Mông – cổ, Thiên – trúc, Thát – đát mà ở trên núi cao 1000, 2000 thươc, cái túi xạ thường ở gần háng và sừng, tại chổ ấy có một cái lổ chung quanh có lông mộc dụm đầu như ngòi bút, túi xạ thì tròn tròn hình hột xoài bề dài 6,7 tất có hai lớp gân bao phủ. Mổi túi đựng được 60 grammes xạ là khi con xạ – hương đúng lứa, còn xạ –hương nhỏ thì mổi túi đựng chừng 6, 7 grammes xạ.

Xạ mới móc ra thì lợn cợn như sirop, màu đỏ sậm, mùi thơm mạnh  lắm, lâu ngày thì màu trở nên đen mà có hột, nếm nó đắng, hơ lữa thì cháy, bỏ vào nước sôi tiêu tán, mà không trọn, vào rượu ít tiêu tán, bỏ vào mê – dược và tinh – khí thì không tiêu. Dùng diêm – tiêu mà không làm ra hồ thì nó có mùi cang sap ; xạ hương thiệt là tạp chất có đủ thứ hỗn hiệp vào, nào là chai, vôi, diêm –tiêu, nước, mở v.v ..

Có hai thứ xạ rất phân biệt

1.    Xạ Bắc – kỳ đựng trong túi dài như hột đậu ngự, lông túi vằn, màu  ngà ngà mở trở đầu vào trong, phía dính vào bụng thì lông nó sậm, da túi mỏng như khô, họ đựng trong hộp giấy vuôn mà gởi sang có bao chì, Trung – kỳ, Nam – kỳ, tại Quảng – Đông cũng ngay qua Aêng – lê.

III. GIA CHÁNH
* * *
1.     NGHỀ LÀM BÁNH
( Patisserie)

CRÊMES
(Cà- rem)

Càng dùng tròng trắng trứng gà thì cà – rem càng mau thành, mà ít ngon không dùng tròng trắng trứng gà cũng xong, mà phải cần đễ trên lữa cho lâu chút.

Cà –rem trộn đậu thơm (hoa –ninh)

Lấy một ít sữa tốt, bỏ vào đó một miếng đậu hoa – ninh và 200 grammes đường miếng đập nát mà quất một chập thì nhắt xuống. Lấy 2 trứng gà đập lấy – tròng đỏ và hai trứng để nguyên mà đánh rồi trộn với sữa mà lọc bằng rây, đoạn đổ vào dỉa sâu đập nấp, đem chưng cách thuỷ, trên nấp phải bỏ lữa thay. ( Miếng đậu hoa – ninh đó dùng 2,3 lần được mà lần thứ nhì phải chẻ hai nó ra ),

Cà – rem trộn chanh hoặc trộn cam

Cũng làm một cách như trên, mà chanh hay là cam cắt miếng dùng đồ nạo mà chà dệu trên đường.
Cà – rem trộn café. – Dùng 1 lít sữa tốt mà nấu, rộn vào đó nước café đậu, đường 200 grammes, 2 trứng gà nguyên, 4 trứng lấy tròng đỏ đánh với sữa, lược rồi chưng cách thuỷ như trên.

Thiên – Hương.


2. VIỆC CẦN NÊN BIẾT

PHÉP THỬ UỐNG NƯỚC

Lấy một ly nước lạnh, hoà rượu chín chục chữ với sà – bông, rồi nhỏ 2,3 giọt vào ly nước ấy. Nếu không có chất tạp, thì nước vẩn trong, mà xấu thì tự nhiên phải nổi bột trắng.

Hoặc lấy một ly nước, bỏ một chút hàn – the, “Bằng – sa” vô, nếu đục thì nứơc có chất độc.

CÁCH LÀM NƯỚC MẶN RA NƯỚC NGỌT

Những nơi gần biễn, ít chổ có được nứơc ngọt. Nay có một cách, múc nước đổ vào cái thạp, để lóng một vài giờ đồng hồ, cho nó chìm những chất dơ hết, lại gạn lần nữa. Nếu đi gạn lại vài ba lần như vậy, thì nước mặn cũng phải hoá ra ngọt.

THUỐC DẢ RƯỢU

Lấy 2, 3 giọt nước – đái quỉ (Amoniaque) nhỏ vào chén nước uống, thì dả say liền.

Hay là nấu nước đậu đen cho uống cũng mau dả.

PHÉP TRỪ HƠI SẮT RONG NỒI CHẢO MỚI

Lấy rơm bỏ vào trong nồi hay là chảo mới mua về, rồi đốt rơm ra tro, để nguội rồi  đổ tro đi, thoa mỡ vô. Đoạn bắc lên bếp, đốt lửa liu riu, cho khô mỡ, bắc ra, thì sẻ hết hơi sắt.

PHÉP RỬA VE CHAI

Lấy ít vôi đổ vô ve, cho nướvc lạnh súc một hồi, thì ve sạch như mới

PHÉP CẶM NHÀNH BÔNG TRONG BÌNH CHO ĐẠNG TƯƠI LÂU

Lấy chút muối bỏ vô trong bình nước, sẻ cặm nhành bông thì đạng tươi lâu. Hay là đốt gốc cho cháy, sẻ cắm vô nước cũng đặng.

PHÉP TRỪ MUỖI

Lấy một cục “ Chương – não” đốt trên ngọn đèn, muỗi ngửi thấy hơi, sẻ bai ra hết.

3. CÁCH NUÔI CON

Sữa người là một vật bổ dưỡng con nít, hơn và cả các món ăn khác nhưng có lúc người mẹ đau, hay vú nuôi bịnh, thì nên dùng đến sữa bò. Vậy trước hết xin kể cách dùng sữa bò ra thể nào ?

1.    Sữa bò hòa nước:

Trong 3 tháng: 1 phần sửa và 3 phần nước.
Trong 6 tháng: 1  >>               2
Trong 8 tháng: 2  >>               1
Từ 9 tháng trở lên: 3  >>

2.     Cách thử sửa tươi:

1. Lấy cái ly thủy tinh, đổ đầy nước rồi nhỏ sửa 2, 3 giọt vào, nếu sửa chìm xuống dưới ly là sửa tốt mà nếu nổi lên là sửa xấu.
2. Lấy tấm kiến, nhỏ một giọt sửa lên trên, nếu kết hình tròn là sửa tốt, mà không thì sửa xấu.
3. Phàm sửa bò nếu có chất hơi béo, mới là sửa tốt không là sửa xấu.
4. Khi sửa nấu sôi bắc ra trên mặt sửa có nổi màng màng là sửa tốt, không thì sửa xấu.
5. Thiệt sửa bò, sắc nó trắng tươi, nếu mà màng lột dột, là đã pha thêm nước.

3.    Cách thử sửa tươi:

Sửa bò là một vật rất mau thiu, lại hay sanh giống vi trùng. Lúc nặn sửa sợ hoặc có trùng độc lộn vô, nên phải đem nấu sôi, rồi chế vô trong ve chai, nhét nút thiệt kỷ. Trước khi cho uống, nấu cách thủy lại, sau sẽ cho uống.
Ve đựng sửa. Cũng phải nặng lấy, nước nóng rửa luôn, uống còn giư thì nên đổ đi, không nên tiếc.
Phép cho con nít uống sửa cũng phải có thì giờ nhất định, thí dụ như mới sanh trong một tháng, mỗi ngày cho uống 7 lần, trong 2,3 tháng, mỗi ngày cho uống 6 lần, sau mỗi tháng một giảm bớt, ngày cho uống 2,3 lần cũng đủ.

4.    Cách dùng sửa hộp:


Trong nửa tháng: 1 phần sửa và 25 phần nước.
Trong một tháng: 1  >>               22
Trong 2 tháng    :  1 >>                18
Trong 7,8 tháng:   1 >>                 12
Từ 9 tháng trở về sau: 1  >>           6


DI.    VĂN UYỂN
* * *
a.    TIẾNG CHUÔNG NỮ GIỚI
Tiếng đổ lai – rai dục – dả người tấn – hoá thôi thúc cuộc phong – trào, ấy là chuông đồng hồ chánh phủ ; tiếng kêu thỉnh – thoản kỉnh – tỉnh giất mông – lung, mở – mang đường thiện ác, ấy là chuông đồng – hồ Thánh – đường. Vì sao cũng một tiếng chuông mà chia hai lý – tưởng?
Trong Kim – Tuý có câu rằng:
“ Cũng trong một tiếng tơ đồng, người ngoài cười mỉm cười trong khóc thầm”.
Mà hãy còn giọng thanh – tao, hơi êm – ả, rảng – rảng tiếng chuông Nữ – giới, giữa rời nước Nam thứt tỉnh bạn quần – xoa. “ Trong như tiếng hạc bay qua, đục như nước suối mới sa giửa vời”. Thật êm tai, thật nhả – hoá, tiếng chuông này có tướng – phu giáo – tữ, tiếng chuông nầy có ngôn, hạnh, công dung

Bạn Nữ -giới ta, từ đã lâu rồi: Như mưa giội nhành hoa, mây giăng án nguyệt, giữa vườn xuân chẳng phất đặng mùi hương, trong đêm tinh không soi chung bóng rạng. Dường ấy, huê há hay không tủi, nguyệt hà hay không buồn….! Dầu huê không tuổi, dẫu nguyệt không buồn, mà người trong cảnh vậy há khôn. Căm!?.

Vậy nên tiếng chuông nầy, dường than - thở, dường khuyên - lơn, dường khiêu - khích. Than là than chị em ta, bấy lâu ẩn chốn khuê môn, nhọc nhằn thân sản - dục, ghe phen khổ cực với nhân quần luống  công hưởng chút công tấm mẳn, khuyên là khuyên chị em ta, đam phấn son mà trang điểm tài - nghề, đem đức - hạnh mà trau - dồi nhan - sắc. Khích là khích chị em ta; tua biết gái lành thi duyên toại, chớ nói rằng chồng quý thì ắt vợ sang. Dầu cho giá đúc nhà vàng mà không( dung), hạnh, công, ngôn thò cũng hổ.

Khoan nhặt tiếng chuông nữ giới, ới ai ôi thức tỉnh giấc đêm, tuân?. Đã sinh giữa chốn dinh - hoàn, cái thân há để phụ - phàng mai sau.
Trần – thị - Đào

THƠ

THƠ VỊNH BÀ TRIỆU – ẨU

Anh hùng mụ Triệu chả chà cha,
Rõ mặt là vua Lệ – Hải ta.
Việc nước dân mình ba chú chệt,
Ngọn cờ trước gió một nhành hoa.
Vốn trong son phấn đành thân gái,
Sánh lại mày râu chân mặt già.
Sáng nghiệp đã đành câu “sự khứ”
Mà quân Ngô nó ghê bà.
……………………………………………….

THƠ VỊNH BÀ TRƯNG NHỊ.

Gởi đến canh thơ mới thấy tình,
Tiếng đồn cô Nhị báo thù anh,
Nổi nhà tuy thế lá duyên chị,
Việc nước vì chưng cũng phận mình.
Danh tiết có chung phần tữ sách,
Bá vương riêng để nghiệp Mê Linh,
Nào ai đồn xạo bà Trưng Chúa,

………………

VẦN THƠ CŨ

CẢNH CHIỀU
( CŨA BÀ PHỦ THANH QUAN)

Mặt trời xế xế buổi huỳnh – hôn,
Tiếng ốc xa đưa tiếng trống dồn,
Gác mái ngư ông về viễn – phố
Gỏ sừng mục –tữ lại cô – thôn
Ngàn thông xao – xác chim bay mỏi
Dặm liểu cheo – leo khách bước dồn,
Kẻ đường giài người lữ – thứ,
Với ai mà giải nổi hàn ôn ?

* *
*
QUA CHỖ CHỒNG LÀM QUAN CŨ

Tạo – hoá xây chi cuộc hý – trường
Nhắm nay đã trải mấy tinh – sương,
Lối xưa xe ngựa hồn thu – thảo,
Nền củ lâu – đài bóng tịch – dương
Đá vẩn trơ gan cùng tuế – nguyệt
Nước còn châu mặt với tay –t hương
Danh là gương để soi thiên –c ổ,
Cảnh ấy người đây luồng đoạn – trường

* *
*

QUA ĐÈO NGANG

Qua đỉnh đèo ngang bóng xề tà
Cỏ cây chen lá  đá chen hoa
Dưới núi lom khom tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Luyến chúa đau lòng con quốc – quốc
Thương nhà mỏi miệng cái đa - đa
Dừng chơn đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta


TẠP TRỞ
……………………….

MẤY LỜI NGỎ VỚI CHỊ EM
* *
*
Người sanh giữa thế – gian, thảy thảy là một món đồ chơi của ông Tạo – vật (1) lớn hay bé ?sanh hay là hèn, hơn hay là thua ? Râu – mày hay là son – phấn ? Ví dụ thì mổi người riêng mổi vai tuồng trong một đám con hát, của ông Tạo – vật kia, nhưng mà hỏi về phần thứ nhứt quan – hệ cho ổng buồn, ổng vui, ỗng yêu, ỗng ghét, ỗng thương, ổng phạt, ỗng đem ơn vỏ lệ, ỗng nỗi giận lôi đình, trong lúc ổng nghiêng lỗ tai, ghé con mắt vào trong cuộc thế – gian, thì trước hết coi loài người thể nào ?
Chúng ta cũng một người giữa thế – gian, lại là một cái thân bồ – liễu, thường lúc một mình tôi lại hỏi với tôi về những câu hỏi ấy ?thì tôi lại nói với tôi rằng: Ừ hồng – quần với khách hồng – quần, ai lại gọi thân con gái là một phần thứ nhứt quan – hệ cũa ông Tạo – vật kia.

Nói về sự hay thì xưa nay biết bao nhiêu thánh – hiền hào – kiệt, trung –thần hiếu – tữ, nhơn – nhơn chí – sĩ, đâu là người dục – tú chung – anh (2) điêu kim trát ngọc (3) chẳng bởi tay nữ – lưu chúng ta. Nói về sự dở thì xưa nay cũng biết bao nhiêu hôn – quân, loạn – thần, dung – phu, tục – tữ, ty ô hủ – lậu khiến cho người trung –thành, khuynh – quốc tàng thân bại gia cũng bởi tay nữ – lưu chúng ta.

Lúc tôi nói với tôi, như thế thì tôi lại hỏi tôi rằng: thế thì có hay có dở mới ra tuồng chơi của ỗng, sao ỗng lại có vui, có buồn, có yêu, có ghét, có thương, có phạt, có đem ơn võ lộ, có nổi giận lôi đình là thế nào ? Tức khắc tôi lại ngẫm nghĩ tôi nói với tôi. Aø không ! ví như người làm ruộng trồng trăm thứ lúa không trồng trăm thứ cỏ, mà cỏ vẩn thường nhiều, ai thấy cỏ không gây mắt như người mẹ sanh năm bảy đứa con, ai củng trông cho con có tánh hiền lành chớ không ai trồng cho tánh hung ác.

Mà tánh hung – ác vẩn thường thấy, vậy thì cái hung ác ai lại vừa lòng.

Khi tôi đương nói với tôi như thế, bổng tôi lại giựt mình, tôi lại sợ cho mình tôi, tôi lại lo cho mình tôi, lại ngẩm nghĩ sụt sùi buồn bực ấm ứt do thảy bọn nữ – lưu chúng ta đương lúc này.

Kìa những kẻ mày – ngài da – tuyết, phấn đánh gương soi, bên mình đôi ba cuống truyện ngôn – tình, lúc vào khuê, khi ra các, trong màng ngoài trướng đó là ai ?

Kìa xe cao – su, dù lục soạn giữa chốn triều – ba trên đường dưới chợ trông ra ngoài,vào đấy là ai.

Em chê thuyền ván chẳng đi em đi thuyền thúng (4) có khi gập ghình rồi ra ba chìm bảy nổi làm cho bạc hồng – nhan rồi lại mượn câu trời xanh quen thói mà hồng đánh ghen làm câu trách oán

Than ôi ! trời xanh có đánh ghen chi mà hồng trách, cũng mà hồng ghét lấy má hồng mà thôi, cho nên những câu trăm năm tài mạng, thiệt là lời không xét mình, mà làm cho trăm năm, ngìn năm đời sau, bao nhiêu những khách má hồng, như đã đem những câu ấy, ghi vào làm luật chung của ông Tạo –vật, có phải đâu !

Người sao lại quá vô tình, có mình mà chẳng yêu mình trách ai, chúng tôi xin đốt hương kính chúc thiên – hạ. Ước chi chị em có yêu,yêu mình, có quí, quí mình, có trau chuốt, trau chuốt mình, có tai mắt, có tâm can tuỳ phế thận chớ nói mình ở giữa thế gian, là mây dạt trôi bèo, là mười hai bến nước, phải đặt mình giữa thế gian như trăng trong như gió sạch, như ba mươi sáu động tiên.

Hà – thị – Hiếu
1)    Tạo – vật là ông trời
2)    Dục –tú chung – anh là khí thanh trời đất hiệp đúc ra thánh hiền, tuấn kiệt
3)    Điêu kim trác ngọc, nghỉa nhả ngọc phúng châu là nhà hay văn chương
4)    Thuyền thúng là ghe nan


CÁCH NGÔN
* *
*
-    Phụ – nhơn chủ ý kỳ diệu tắc vong gia
Đờn – bà chỉ chăm trao dồi thì việc nhà sao lảng
-    Phụ mẩu chi ân, thuỷ bất năng nịch hoả bất năng duyệt
Ơn cha mẹ, nước cũng không thể làm chìm, lữa cũng không thể đốt cháy
-    Tiểu nhi chi vận mạng, vi mẩu sở tại
Vận mạng của dứa con, đều ở nơi tay người mẹ
-    Dỉ giáo dục di tử nử, tối thượng chi sản nghiệp
Lấy sự dạy bảo để cho con cái,ấy là cho một sản nghiệp lớn hơn hết
-    Bất giáo tử dỉ nghệ, dư dưởng đạo tặc dả
Không dạy con cho biết nghề, cũng như chứa tộm cướp vậy
-    Gia đình giáo dục, phi mẩu bất năng vi
Việc dạy bảo trong nhà trừ người mẹ không ai đương nổi

HÀI ĐÀM
* *
*
NÓI LÁO GẶP THỜI

Có một anh nhà nghèo xác, ở gần nhà ông Trưởng – giả, ông ấy không có con trai, chỉ có ba người con gái mà thôi. Hai con gái lớn đả gả lấy chồng nhà giàu có, người con út chưa lấy ai cả còn kén.
Anh nghèo ta gấm ghé, nhưng mà nhà rách vách nát, ai thèm gả cho? Mới lập mưu ngày ngày ra vườn đốn tre, chẻ lạt tiếp chuỗi, đem phơi đầy sân. Tối lấy vào chụm, ngày mai cũng vậy,
Lúc đó mùa màng vừa xong, ông Trưởng – giả rảnh việc, thường hay sang chơi nhà nó. Lần nào củng thấy nó ngồi chẻ lạt lại tiếp chuỗi; trong lòng nghỉ thầm rằng: “ Hẳn thằng nầy có nhiều tiền” bèn về nói chuyện lại với bà:
-    Nầy bà ôi ! Cái thằng ở gần nhà ta ai dè mànó lại có nhiều của
-    Sao ông biết?
-    Lần nào tôi sang cũng thấy nó chẻ lạt tiếp chuỗi, chắc là thằng ấy nó có của chôn.
-    Nếu vậy thì nó dấu ở đâu ?
-    Thữ để cho coi sao. Nếu thiệt nó giầu ngầm, ta còn con bé út, nên gả phứt cho nó.
-    Được vậy thì còn gì hơn !
Hai ông bà bàn  nhau đâu đấy. Từ đó ông trưởng – giả ngày ngày sang chơi và nói chuyện với anh nhà nghèo, đặng dọ ý tứ.
Một bữa anh ta nói rằng: Thưa bác ! Bên nhà có cái thuyền nan, độ rày cũng để không. Bác cho tôi mượn một đêm, sáng mai tôi xin trả.
-    Ừ ! lúc nào chú cần đến, cứ qua mà lấy
Tối hôm ấy, anh ta qua mượn thuyền chèo đi bơ vơ, mải đến tảng sáng mới về. Trước ki đem trả anh ta lấy mấy cái chuỗi và mười đồng tiền, bỏ rải rác ở trong lòng thuyền, người nhà ông Trưởng – giả thấy vậy, nói chuyện lại, ông Trưởng – giả nghe tiếng, bèn nói với bà rằng: - Bà ôi! Thôi thiệt chắc rồi!
Lập tức kêu ngay anh ta sang mà gả con cho
Gả cưới đâu xong sả rồi, anh nhà nghèo từ đó thôi không chẻ lạt nữa. Còn chị vợ vẩn  chắc là hcồng mình có của, cho nên cũng không hỏi gì tới.
Aên ở với nhau được ít lâu thì ông Trưởng – giả chết tống táng rộn rực. Hai chằng rể lớn, tranh nhau mà độ tế.
Vợ anh nhà nghèo mãi không thấy chồng mình nói gì đến, mới hỏi rằng:
Các anh ấy phúng tế sang trọng như vậy, không lẻ mình chẳng có gì cả hay sao?
Anh chồng túng thế, lấy cái xuổng liệng ra bụi tre mà nói rằng: Của đấy ra mà đào lấy mà tế cha.
Nói xong cút thẳng
Vợ mừng lắm, vội vàng ra đào hè hụi, ai dè đào được vô số của!
Nhưng mà rấp ngày, không kịp mua trâu bò, chỉ chồng một cỗ tiền tế mà thôi. Tiếng đồn vang khấp cả làng, ai ai cũng nói rằng, cỗ người rễ út lớn hơn hết.
Đến tai anh ta, lấy làm lạ, bèn lén về dọ coi, thấy quả – nhiên như vậy, mới về thẳng nhà, vợ chạy ra hỏi: Sao nhà công việc vậy, mà bỏ đi đâu mấy bữa rày?
Anh ta mới làm bộ nói rằng:
Tao định đi mua voi về để tế cha chớ đi đâu!
Nữ –Phương – Sóc
CUỘC – ĐỐ – CHƠI

MẸ CON NÓI CHUYỆN CÁCH TRÍ
Mẹ. – Bớ Ba!
Con ba. – Dạ!
Mẹ. – Con dọn dẹp đàng sau đà xong rồi chưa?
Con. – Dạ con dọn rồi
Mẹ. – Vậy thì con hảy ra đây hỏi nào!
Con. – Dạ, để tôi đi kêu em tôi lại nghe luôn thể
Mẹ. – Được
Con. – Thưa mẹ tôi nghe thầy tôi ở trường hay nói cái gì vật – lý cái gì hóa- học, mà tôi không dám hỏi, vậy mẹ có biết thì cắt nghĩa cho con nghe.
Mẹ. – Thưở bé mẹ có học, để mẹ giải nghĩa cho con nghe. Hai chữ vật – lý tiếng Tây kêu là Physique. Mà Physique là khoa học cho biết tính chất vạn vật ở dưới thế nầy cùng cả bầu trời và cho biết các luật thiên – nhiên nó làm cho đổi cải địa – vị, cải cữ – động mà không đổi tánh chất.
Còn hóa học chữ Tây là Chimie. Chimie là khoa – học cho biết tánh – chất đơn cũa vận vật, sự tác động của ngươn- chất ưa nhau hay là kị nhau, ngươn – chất là hột buội thưở ban sơ mà nhờ nhiều hột buội ấy hiệp lại mới  thành ra vật.
Con. – mẹ nói vậy, con có hiểu đâu, xin mẹ lấy ví dụ mà giải thì con và em con mới hiểu được.
Mẹ. – Phải! Như mẹ lấy một thanh cũi nhúm xuống nước rồi lấy lên thì củi ấy không có đổi hình dạng tánh – chất phải không?
Con. – Dạ phải, ấy là mẹ thí nghiệm vật lý
Mẹ. – Còn như mẹ lấy thanh cũi ấy đốt cháy ra tro thì nó mất hình dạng, đổi địa vị, đổi tánh – chất rồi phải không?
Con. – Dạ phải
Mẹ. – Như mẹ tom góp khói, thang, tro lại mà cân thì đúng cân thanh cũi, song le nó đã đổi tánh – chất ráo rồi. Đây là mẹ thí nghiệm hoá – học đó.  Như mẹ lấy muối mà bỏ vào một ly nước thì sao?
Con. – Dạ muối tan
Mẹ. – Như vậy mẹ thí nghiệm cái chi?
Con. – Dạ, mẹ thí nghiệm hóa – học, bởi vì muối đã biến mất.
Mẹ. – Nó không biến đi đâu. Aáy là nó đổi dạng thôi, vì nước có mùi muối, mà như mình đổ ly nước vào dĩa mà bắt lên lò lữa một hồi, nước bay mất thì tồn muối lại như cũ.
Mà nếu mẹ lấy một ly Lục – phàn – dầu (huile de vitriol) hay là một ly hoàng – cường – toan (acide sulfurique) mà nhúm sợi dây sắt vào đó, thì một phần sắt tan mất theo nước. Khi chưa nhúm giây sắt vào ly thì nước Hoàng – cường – toan hay là lục – phàn – dầu không có màu, đến khi nhúm sắt rồi thì nó có màu lục, nếu mình đổ vào dĩa mà phơi cho khô thì trong dĩa có một khối muối màu lục kêu là sulfate de fer (thanh – phàn) hay là vitriol vert (lục – phàn). Đó, thí nghiệm vật – lý thì vật không đổi hình dạng, tánh – chất mà thí nghiệm hoá – học thì vật đổi hình – dạng, tánh – chất thành ra một vật mới. Thôi đồng hồ đáng chín giờ, con đem em đi tấm đặng đi ngủ.
Con. – Dạ
(Còn nữa)
Thiên – Hương


BĂNG THUYẾT NHƠN DUYÊN
(Tiểu thuyết Tàu)
Hồi thứ Nhứt
Thành Tĩnh – Phụng khách anh – hùng thương tình khổ bạn oan – ương.
Phê bình.
Đầy trời đất non cao bễ cả
Hết muôn năm rồi cũng muôn năm
Kiếp người qua lại như dầm,
Mấy bậc nam – nhi hiền ngỏ?
Đối đoạn bữa ăn giấc ngủ,
Hữu tình ai chẳng đấm thuyền – quyên
Gió trăng chẳng mống lòng tư mị,
Thì chốn nhân – gian vẹn mối giền.

Tĩnh Bắc – trực – lệ, phủ Đại – danh, có gã tú – tài ho Thiết tên Trung – Ngọc, tên chữ là Đĩnh – Sanh, phong tư dung hào – kiệt, đẹp – đẻ dạng thuyền – quyên, bởi trong xóm ấy đều gọi tên người là Thiết – mỹ – nhơn. Luận đều nhơn cách cũa người; vẻ vang ôn – hoà, hình dung phong nhã lại thêm ruột gan như sắc đá một đường, chẳng giống thường tình thế tục. Người lại thêm có sức mạnh, thảon gặp việc bất bình, bèn ra tay dụng vỏ. Đến việc giao tiếp cùng người, thì lại đường đường chánh chánh, giàu chẳng phải màng, mà khó chẳng phải phụ; ngoài ra nếu ai có việc chi hưởn cấp, chẳng luận hiền ngu, sang hèn thảng đều vui lòng giúp đở, cho nên thảy đều nghe danh kính mến.
Cha tên là Thiết – Anh noi đường Tấn – sĩ xuất thân, tánh tình trung – trực, làm quan đến chức Ngự – sữ, rất có danh làm tôi rực dáng. Mẹ là Thạch – th5i cũng theo cha nơi nhậm sở. Còn chàng bởi tánh cao trọng, chẳng ạhn thường tình, phàm gập việc bất bình, dám ra tay chẳng hề kiên sợ chi cả, cha mẹ sợ đam theo gây họa, nên để lại nhà. Bởi tánh tình dường ấy, lại thêm tài năng xuất chúng, cho nên xem ai cũng chẳng vào con mắt.
Thường ngày đóng cữa hoặc ngâm – nga hiền – truyện thánh kinh, hoặc tiêu – khuển rựơu Lưu rượu Lý, đến khi cao hứng chẳng vịnh phú ngâm thi, củng du sang ngoạm thuỷ.
Khi 16 tuổi, cha mẹ sấp ý cầu hôn, mà chàng nằng nằng chẳng chịu rằng: chẳng ưa thường tục, kia như tình bằng hữu, nếu hiệp thì giao, bằng chẳng hiệp thì lìa. Chứ như đạo vợ chồng là ngũ – luân, trong giền cả thoản vầy cang – lệ, phải trọn giữ 100 năm, bằng lật đật thành hôn chẳng phải trang thục – nữ, e hại mai sau cho tánh tình, cho đạo nghĩa; muôn trông cha mẹ hưởn hưởn mà chọn lữa, hoạ may phước nhà vẹn vẻ.
Cha mẹ thấy con nói hữu lý, mới đình việc cầu hôn, bởi ấy Trung – Ngọc tuổi đến 20 mà chưa cưới vợ.
Buổi nọ Trung – Ngọc đang uống rượu xem thơ, đọc đến câu: Tỳ – cang trung gián nhi tữ (Tỷ cang đem lòng trung, cang vua mà bị chết), bèn nghĩ rằng: Làm tôi trung mà chết tuy nên chánh đạo, song phải có chước có quyền, trên khá mở lòng vua chổ tối tâm, giúp nên việc nước, dưới bảo toàn công cáng, giữ vẹn thân gia, ấy mới gọi là tài tề gia  trị quốc.
Bằng đam một tấm lòng mệt rung, chẳng cận thận dòm trước xem sau, chẳng những không nên việc nước mà thôi bày lổi vua, chọc giận vua, làm cho đến gia táng thân vong, thì cái trung ấy nào có ích cho việc cả. Tưởng vậy rượu vài chung rồi, càng nói càng nghĩ, càng nghĩ càng buồn! Nhớ đến cha mình, làm quan ở vào đường can gián, tánh lại thêm cứng cỏi, ngạnh – nghề e khi cơ biến chẳng chìu, mà mang phải cái luỵ ấy chăng?
Sợ rồi tưởng, tưởng rồi lại lo, chớ chi ta có cánh, bay đến thăm cha, đặng tỏ những điều ái ngại của ta, hoạ giải – quyết tấm lòng lo sợ. Dường ấy mà bàn – hoàn trót đêm, lo – lường tất dạ. Rạng ngày kêu một lão quản gia phó – thác việc môn – đình, bèn sữa – san hành –lý, cùng một  gã Tiểu – đơn nhắm kinh – kỳ mà trực tấn.
Trung – Ngọc lòng vội vã đi đặng vài ngày, bởi lòng nóng nảy cứ việc bôn – ba, chẳng klể đâu là thị thành, đâu là non rậm. Bởi vậy trời tối rồi, không nơi mà an nghĩ quanh – quất hồi lâu, đến chốn làng quê, trời đã tối rồi, cũng chẳng kén chọn chi là nhà cao vách rộng. Xuống ngựa bước vào kêu người nhà hơi đổ.
Trong nhà một bà bước ra, thấy Trung – Ngọc y phục trang – hoàn, bèn hỏi Ngài có phải là người ở kinh, đi thăm Vĩ – tướng – công chẳng biết nhà đến đàng mà hỏi tôi chăng?
-    Tôi chẳng phải thâm Vĩ – tướng – công nghe tôi là người đi kinh, vì tham đi quá bước, nên kiếm nơi an ngụ mà thôi.
-    Nếu ngài muốn nghĩ chơn, cũng chẳng ngại chi, bởi nhà tôi là chốn cùng cư lậu – hạng, e chẳng đáng chỗ cho Ngài nghĩ an, xin ngài miễn chấp?
Trung – Ngọc bèn nói rằng: Không sao đâu bà, nghĩ đỡ một đêm, rồi tôi cũng đền ơn cho bà vậy. Bà bèn vỗi vã kêu Tiễu – đơn đam đỗ hành – lý vào và dắc ngựa ra vườn cho ăn, mới mời Thiết – công – tữ đến chốn lều tranh an nghĩ; trà nước xong rồi, Thiết công –t ữ bèn hỏi: chẳng hay khi nãy bà tưởng tôi là người ở kinh đi thăm Vĩ – tướng – công, vậy chớ Vĩ – tướng – công là ai, có việc chi mà người đến thăm vậy bà? – Nếu vậy ngài chưa rỏ, vố xứ này chẳng phải gọi là Vĩ – thôn (lấy họ Vĩ) bởi ngày trước có phát đặng một ông làm quan đến chức Thượng – thơ, thân – thuộc lại thêm đông – đảo, trong làng mười ấp, mà người họ Vĩ đã hết 6,7 ấp rồi; bởi ấy thiên hạ đều gọi chốn này là Vĩ Thôn.
Nào hay kẻ dinh, hư, tiêu, trưỡng không chừng, chẳng những gia thế si – vi mà thôi, thậm chí thân tôi ngày nay ũng xiệm – lưu hết cả, chĩng còn tại một vài họ Vĩ thương ôi! Chẳng phải phường cày ruộng, cũng bọn khiêm phân, nào còn ai một người gọi là con nhà trâm – anh đọc sách, không dè mới đây, phước sanh đặng một gã Vĩ – tướng – công, tuỗi vừa mười bảy, thi đậu tú – tài. Thời may nơi kinh sư lại gặp một nhà dồng đạo tú – tài, thương chàng niên – thiếu tài cao, bèn đam con mình mà hứa duyên can lệ, song mắc nỗi gia thế cơ – hàng nghèo thấm cốt chuỷ. Bởi vậy, trót ba năm rồi, mà không thành lễ cưới.
Thương thay! Sự nghèo khổ đuỗi – đeo, phần vô –duyên trắc trở. Một vài ngày đây có một ông quan to giàu cả, quyền – thế gớm ghê, do thấy vợ chàng tư dung huê hường nguyệt thẹn bèn muốn cưới về làm thiếp, song cha mẹ nàng chẳng tham phú phụ bần quyết chí con mình trăm năm cùng người cũ.
Làm cho ông quyền – thế; nỗi phừng phừng lửa – giục sôi sục – sục gan ta, lung quan thế, cậy cường quyền đuổi ưng – khuyển cướp nàng trong giây phút.
Mới đây  có người đến thông – tin cho Vĩ – tướng –công, Vvĩ – tướng – công hoản – hốt vội – vàng đến kinh mà dọ hỏi, không dè tìm khấp đông tây cã ngày rồi. Chẳng những bặt tin – tức vợ mà thôi, mà cha mẹ vợ cũng là là biệt tích chàng muốn đến quan đầu cáo trạng, còn e nỗi lấy chi mà làm chứng, khó cho mà biện bác, chàng luống những buồn – bực mà trở về tỏ cùng mẹ, lụy thảm dầm –dề, khóc than in – õi, chàng bèn tự quyết mà chạy thẳng tới sông mà tự vận. Mẹ chàng trung hô lên, thảy đều chạy theo mà ngăn cảng, làm cho ở nhà tôi hồi giờ cũng mắc xúm – xít cùng trong đám ấy. Bởi vậy khi tướng – công mới đến mà tôi tưởng là cùng bạn hữu chi chi với Vĩ – tướng – công hay việc biến mà đến thăm người.
Hai đàng đang trò chuyện, xảy nghe ngoài ngõ la ó vang dầy, bước ra xem thấy bộn – bàng người ta vây theo một tên thiếu niên hoà đi hoà khóc. Bà già gióm thấy chồng mình cũng đi trong đám ấy, bèn kêu mà nói rằng: trong nhà có khách, ông phải trở về. Oâng già bước vào, thấy Trung – công – tữ, chào hỏi xong mới biết là người lỡ bước rồi nói với mụ rằng sao bà chẳng lo cơm nước mà ra ngoài đứng xem chi vậy.
-    Không phải tôi muốn xem, Bởi khi Trung – tướng – công mới lại có hỏi thăm đến việc của chàng Vĩ, cho nên khi nghe là khóc ngoài đây, mới cùngnhau bước ra xe thử.
-    T – T – N bằng tiếphỏi chẳng hay vợ V – T – C bị cướp lúc ban ngày, vậy khiến chẳng ai xem thấysao,màV – T – C kiếm chẳng ra tông tích.
-    Lão bèn nói rằng: sao lại không xem thấy, sao lại không tông tích.song mắc trúng chổ lợi – hại quá thế ai dám đúc miện vào mà mang tai. Mụ nghe mớihỏi: vậy thì chuyện này ta thật chẳng nên nói đến sao? – lão chẳng luận là chẳng nói, dần cho nó rõ ra, cũng không thế nào mà cứu đặng.
-    Mụ dường ấy chắc Vĩ – T – C tánh mạng nguy rồi, thương thay! Nói rồi bèn đi dọn cơm.
( sau sẽ tiếp theo)


Truyện
Một ngàn và một ngày
Nước cách – sơ – mia(1) thưở xưa có 1 vua cai trị tên là Tờ – gờ – ri – bây. Vị quốc vương này trổ sanh một hoàng – nam và một công – nữ đều tài mạo phi thường. Oâng hoàng bảo tự Pha – ru – cờ – ru; ấy là một vị thiếu niên anh hùng, tài dức gồm đủ cả. Còn công – chúa nữ danh Pha – ru – cờ – nả; thiệt là một tài sắc giai nhơn; hình dung nguyệt thẹn huê nhường, tư chất ngư trầm nhạc lạc.
Aáy là:
Mỉa mai Đắc Kỷ tới dinh Thương
Mường tượng Chiêu – Quân ra ải Nhạn.
Công – nương xinh đẹp cho đến đỗi hễ nam nào dòm thấy thì thấm thía phải lòng đáo để. Cho nên nhiều kẻ thương quá mà ra khúng ngộ; hiễm người mang bịnh thất tình nan tồn tính mạng.
Công – nương tuy là yếm mang quần vận mà ưa nghề cỡi ngựa cầm cung và mỗi khi đi săng bắng điền điệp chơi, thì không chịu đội lốp phủ mặt (tục xứ ấy hể đờn bà đi ra phải che mặt cho kín).
Thiên hạ rần rần theo coi, ré là khen ngợi chẳng ngớt. Công nương cỡi ngựa bạch hồng – mã đi giữa; đôi bên thể nữ theo hầu đều cỡi ngựa ô. Bọn thể nữ ấy cũng không bao mặt mà nhan sắc cũng lạ dường. Song có một mình công – chúa mĩ miều hơn hết và bá tánh bấu xem không mảng nhản. Mọi người đều chen lấn lại gần, quân lính đũi xua cũng không được. Túng thét phải hươi gươm hâm doạ mà cũng không nao. Nhiều kẻ nói chẳng sợ gươm trường, thà rủi trúng đặng thác trước mặt công – nương thì ngậm cười nơi chín suối.  Cho nên xông vào cận quá, bị gươm đâm trúng phất rồi ô hô !
Đức vua hay tình hình như thế, e nhơn đản phải bị chết oan; bèn cấm công – chúa không cho ra khỏi cung điện nữa.
Từ đó, tiếng quốc sắc khuynh – thành nỗi dậy cả phương Đông vua các nước gấm ghé cầu thân, sai sứ đến triều Cách – sơ – mia luôn luôn chẳng dứt. Mà rủi !  có việc nầy xẩy đến, làm cho công – nương nghi quyết rằng cả và đờn ông đều ở bạc với đờn bà. Đêm kia đang cơn giấc điệp Công – chúa chiêm bao thấy một con nai đực mắc bẫy đương hết sức vẩy vùng. Khi ấy một con nai cái chạy lại cứu khỏi. Kế một lác nai cái bị vương bẫy khác, kêu la thảm thiết, nai đực đứng dòm chẳng chút động tình, không thèm cứu và bỏ chạy đi mất. Tỉnh giấc mộng công – nương nghĩ càng bát ngát. Thế khi thần minh mách bảo cho mình rằng; cả nam nhi đều hết thảy bạc tình, dẩu vợ có thương cho mấy đi nữa thì chồng cũng là phụ rẩy. Quyết trong dạ càng thêm ấy náy, sợ e vì tay vua nứơc nào phải chịu nồng não đắng cay. Buồn riêng thân, trâm lược biếng cày, lật đật vào tâu phụ vương mà tỏ niềm tâm sự. Không nói rằng mình sợ đờn ông, duy hai hàng nước mắt dầm dề, lạy và xin cha đừng mựa gả ép. Vua phán rằng:  phận gái mười hai bến nước, bé theo cha lớn phải theo chồng, ấy là lẻ – thường. Nhưng vậy mà, con chưa khứng thành hôn, cha nỡ nào ép giá. Khuyên ái nữ mựa đừng buồn bả, dẫu cho Đông – cung – thái – tữ Aán – Độ đến cầu hôn, cha bao nở y lời. Vậy thời chốn tịnh phòng Aùi – nữ nghỉ ngơi, chớ chác thảm tịnh thần hao tổn. Công – chúa đặng lời như cởi tấm sầu, lất đật trở lại hớn hở. Quyết chẳng chịu gây duyên kết nở dầu cho chủ – vương tới cầu thân tở mở cũng mặc ai..
Cách ít lâu Sứ – thần chư – quyết lần lần đến tính vịêc cầu – hôn. Kẻ thì khoe khoan rằng vua mình rât bực chí tôn, người lại nói ông Hoàng nước mình tài nghề đức hạnh đều gồm đủ. Vua Cách – sơ – mia tiếp nghinh rất hậu, đãi đằng các sứ rất phỉ tình. Song phán rằng: Công – chúa đã nguyện trọn đời giữ vẹn đồng – trinh, chả khứng xe tơ kết tóc, xin chư – sứ phản hồi quí  quốc, lể vật đem sang xin gởi lại cho quí bang. Các sứ bèn tạ từ bệ vàng mà trở về bộ không vui, vì đi chăûng thành sự.
Vua Tờ – gô – ri – bây thấy vậy trong dạ không an và nghĩ rằng: Các nước sòng sòng một nói cho được con ta. Lại chẳng mang đường thiên sơn vạn lý tương hữu vật các nước kết hờn, mà gây nên chuyện qua mà cầu hôn, nhưng con ta không khứng, không chừng biết lương duyên oan tác đại cừu duyên. Còn như con ta, nó chẳng chịu cả đời thành hôn. Sợ khi giai phẫu Phiên thành cứ ác ngẫu chớ chẳng chơi! Sự làm sao nầy đây cũng gây oán thù, đặng giải phiền các nước”
Nghĩ như vậy, vua cho dời bà vú của công – nương đến phán rằng: “Nhủ nương, thấy công – nương muốn ở vậy trọn đời trẩm lấy làm lạ lắm. Trẩm lấy làm lạ lắm, không hiểu ý gì ái – nữ ta không chịu xuất giá tòng phu; có khi tại nhủ – nương xúi giựt đó chăng?” Nhủ – nương rằng: “Muôn tâu bệ – hạ, công – nương mà chả khứng lấy chồng đây cũng tại một điềm chiêm bao. – nhủ – nương hà lộng ngữ, hà lộng ngữ, cảm cường ngôn cảm cường! Chiêm bao gì mà làm cho ái – nữ quyết từ hôn thiệt ta chẳng tin người được. – Muôn tâu bệ – hạ, xin giảm cơn nghi hoặc, đải thần thuyết lai. Đó rồi nhủ – nương bèn thuật các đầu đuôi tự sự trong chiêm bao và sự công – chúa sánh việc nai mà so việc người và quyết tin như vậy cho nên thề trọn đời chẳng chịu cùng ai.
Đức vua nghe mấy lời bà vú nói thêm lấy làm kỳ nghĩ chiêm bao là đều mộng mị mà sao công – chúa lại tin đến thế. Đạon phán rằng: “ Chừ con ta đã quyết vậy rồi, Nhủ – nương hãy lo một phang, trẫm lo một phang coi có thế chi mà giải lòng con trẻ cho đặng. Quả nhơn sợ các nước nói không xong mà gây oán gây thù. Chừng họ hiệp binh đại cữ hùng sư thì dẩu mạnh hổ cũng nan địch quần hồ, e nỗi quốc – gia khuynh bại.”
Nhủ – nương suy nghĩ hồi lâu rồi tâu rằng: “Tâu lịnh Bệ – hạ kẻ hạ thần có chước hay mà là cho công chúa hết tin mộng ấy nữa”. Vua nghe nói rất hân hoan lật đật hỏi: “Nhủ – nương có chước chi hay, tâu riết cho trẫm nghe, kẻo tấm lòng bứt rức. – Muôn tâu kẻ hạ thần sẻ thuật biết bao nhiêu chuyện rất mầu cho công – chúa nghe. Và trong mỗi chuyện đều có gương chồng thương vợ hết lòng hết sức, vì đàn bà lặng biển trèo non, thề nhau cùng sông cạng núi mòn, dẩu cho trong cơn ly tiếc chồng cũng không hề quên một phút. Thần sẻ lựa đều trong đụt, rànglàm sao cho công – chúa phải hồi tâm. Xin thành – hoàng an nghỉ mình rồng, để mặc tôi giác đác”.
Vua rất hoan hỉ phán rằng: “Được như vậy bình an xã tắc, dường ấy thì trường cữu miếu đường, hãy tâm tâm giác đác công – nương, việc ấy trẩm phú cho nhủ – mẫu.
Còn bà vú vâng chịu lời vua chỉ phán, thì bảy liệu ba lo, kiếm ngàn điều hay, trăm chuyện ngộ, chờ gặp diệp mà nói cùng công –chúa.
Thường thường mổi bữa xế quá; Đức vua, Hoàng hậu, công – chúa với cung phi mỉ nữ đều tựu lại nghe đờn ca xướng hát nhạc trỗi tiêu thiều. Bởi vậy, bà vú lừa dịp buổi sớm mai mà thuật chuyện đời xưa cùng công –chúa cho dể.
Ngày thứ, mới tảo thìn công – nương mới đi tấm, có dẫn theo thế nữ cùng nhử – nương theo. Khi công – chúa vừa vô bồn tấm, bà vú nói rằng: “tôi biết một chuyện rất nhỏ và rất lạ thường, phải chi công – chúa cho phép tôi nói thì tôi chắc công – chúa vui dạ biết chừng nào mà kể?”
Công – chúa tuy không muốn nghe cho mấy, song mắt các thế nữ theo hầu một hai cũng xin cho thuật nghe chơi,  nên nhủ – nương được phép rồi nói như sau nầy
CHUYỆN A – BU – CÀ – SAN BẮC – RY
Cổ – sữ chép rằng vua Ha – run-án – si là phú cường hơn các vua. Mà phải chi người đừng có tánh hay nộ khí và tự phụ tự kiêu thì người là một vị đế – vương rất trọn lành trong đời đó. Vẩn người thường cao rao khoe khoan rằng cả và thế gian không có vua nào lòng dạ rộng rãi hơn người nữa. Oâng Gia – pha là quan cực phẩm thấy vậy bất bình, ngày kia liều mạng tâu rằng: “ Muôn tâu bệ hạ, là chúa – tể cả hoàn – cầu, xin tha tội hạ thần phạm thượng, vì hạ thần cúi xin bệ hạ chớ hoạ phù thân đái. Hảy để cho triều thần văn ban cơ bá và các kẻ xứ lạ đến trú ngụ khen tặng Bệ – hạ mà thôi. Bệ – hạ hảy mừng vì trời trổ sanh lương tể, đất roi dấu hiền thần, ngoài lê dân nhuần gội Hoàng – ân, và người di quyết ưa tới đây mà hưỡng đước lành của Bệ – hạ”
( Sau sẻ tiếp theo)
Madame Bữu – Tượng (Trà Vinh)


NỮ GIỚI CHUNG Số 3   ngày  22  février  năm  1918

MỤC LỤC:

1.    Kính khải
I.    XẢ THUYẾT
1.    Nghĩa nam nữ bình quyền là gì
II.    HỌC NGHỆ
1.    Nghề đặt dầu thơm
III.    GIA CHÁNH
1.            Cách nuôi con
b.    Cách làm Sọt – bê (Sorbet)
c.    Việc nấu nướng
d.    Cách trám đồ bằng sành
IV.VĂN UYỂN
e.    Khai bút
f.    Thơ mừng báo
DII.    TẠP TRỞ
a.    Cách ngôn
b.    Một cách khéo chia gia tài
c.    Trách nhậm người đờn – bà
d.    Lời bình phẩm tờ Nữ – Giới – Chung
e.    Mừng báo Nữ – Giới – Chung
f.    Gái hiền cứu bịnh cha
g.    Mấy vị đáp trúng cuộc đố chơi
h.    Mẹ con nói chuyện cách trí
i.    Tướng nảo cốt
j.     Cuộc  đố chơi (thơ, thai)
k.     Hĩ tín
l.     Hội Hồng thập – tự
m.     Chợ thường – xuyên
DIII.    TRUYỆN KÝ
a.    Truyện bà Tiết – phụ Từ – Nhị – Khanh
DIV.    TIỂU THUYẾT
a.    Băng thuyết nhơn – duyên

NỮ GIỚI CHUNG Số 4    ngày   1          mars     năm  1918

MỤC LỤC:

I.    XẢ THUYẾT
1.    Nghỉa tiện tặng
II.    HỌC NGHỆ
1.    Nghề làm trà tàu
III.    GIA CHÁNH
1.    Cách làm bánh men
2.    Cách nuôi con
3.    Trứng gà
4.    Giản – dị liệu bệnh – pháp
5.    Thuốc ngừa bệnh thiên – thời
IV.    VĂN UYỂN
1.    Biển thảm
2.    Câu đối chị mừng em cưới vợ
V.    TẠP TRỞ
1.    Cách ngôn
2.    Cách trí
3.    Ba cô học trò gái nói chuyện
4.    Du – hý khoa học
5.    Nhàn – đàm
6.    Tướng nảo cốt
7.    Cách khoan lổ kiểu chai
8.    Cách khắc nhãn vô kiến
9.    Cách phơi giày ướt
10.     Cách dùng cho đèn không lên khói
11.     Thương nhau xin nhớ lời nhau
12.     Ai đi cúng chùa
13.     Lời giới thiệu tiệm buôn
14.     Nữ – quyền bình đẳng luận
15.    Nhắn hơi bạn quần – xoa
VI.    TRUYỆN KÝ
1.    Truyện bà Tiết – phụ họ Đoàn
VII.    TIỂU THUYẾT
1.    Băng – thuyết nhơn – duyên
2.    Chuyện ngàn ngày và một ngày

NỮ GIỚI CHUNG Số  5    ngày   8          mars     năm 1918

MỤC LỤC:

1. Lời rao cần kíp
I.    XẢ THUYẾT
1. Nghĩa tiện tặng
II.    HỌC NGHỆ
1.Nghề làm muối
2.    Nghề làm nước mắm
3.    Nghề làm ngà giả

II.    GIA CHÁNH
1.    Cách nuôi con
2.    Cách vệ sanh về các món đồ ăn
3.    Bánh bông lan
4.    Trứng gà
5.    Biệt chuối
6.    Giản – dị liệu bệnh – pháp
7.    Tật cà lăm
8.    Chị dạy em luân lý
9.    Đồ nữa trang
III.    TẠP TRỞ
1.    Thơ mầng báo Nữ – Giới – Chung
2.    Lời cách ngôn
3.    Lời tục ngữ
4.    Du – hý khoa học
5.    Thai
6.    Mấy vị đáp trúng thai
7.    Mẹ con nói chuyện cách trí
8.    Sống có cái nhà thác có cái mồ
9.    Lời khuyên chị em
10.    Gió dữ mới hay săn cõ cứng, gái khôn lắm phải hiểm nguy thường
11.     Bon ! Bon bon !! Bon bon !!!
VII.    THỜI ĐÀM
1.    Bài vụ dịch báo quốc – ngữ ra chữ Langsa
2.    Lể mừng báo Đại – việt tân – chí
3.    Nam – kỳ thời – sự
VIII.    TRUYỆN KÝ
1.Lưởng phụ trinh tiết
IX.    TIỂU THUYẾT
1.Chuyện ngàn ngày và một ngày
2.Băng thuyết nhơn duyên

NỮ GIỚI CHUNG Số  6    ngày   15        mars    năm  1918

MỤC LỤC:

Lời rao cần kíp.

I.    XẢ THUYẾT
1.    Bàn thêm về chữ Nữ – quyền.
II.    HỌC NGHỆ
1.    Nghề làm rượu bột
2.    Nghề làm giấm
3.    Nghề làm  xà- bong
4.    Cách làm cho vải không thấm nước
III.    GIA CHÁNH
1.    Cách nuôi con
2.    Việc vặt trong nhà
3.    Giản – dị liệu bệnh pháp
4.    Cách chữa rắn cắn
IV.    VĂN UYỂN
1.    Thơ
V.    TẠP TRỞ
1.    Lời cách ngôn
2.    Lời tục ngữ
3.    Một người vợ lính
4.    Cách trí (mẹ con nói chuyện)
5.    Du –hý khoa học
6.    Thai
7.    Nữ – quyền tự do luận
8.    Nhớ bạn
9.    Vài lời cảm tạ
10.     Giới thiệu lương – y
11.     Cần kiệm
VI.    THỜI ĐÀM
1.    Lời ra đấu giá
2.    Lể phước thiện tại Vinhlong
3.    Điều lệ chợ bán thú vật
4.    Nam – kỳ thời sự
VII.    TRUYỆN KÝ
1.    Lưởng phụ trinh tiết
VIII.    TIỂU THUYẾT
1.    Chuyện ngàn ngày và một ngày
2.    Băng thuyết nhơn duyên


NỮ GIỚI CHUNG Số  7     ngày  22         mars     năm 1918

MỤC LỤC:

1.       Kĩnh khải
I.    XẢ THUYẾT
1.     Cách ăn mặc của đờn – bà nước ta
II.    HỌC NGHỆ
1.    Cách lấy hơi thơm trong các thứ bông
III.    GIA CHÁNH
1.           Bài tựa
2.    Chị dạy em luân lý
3.    Mức – Bánh bích - qui
4.    Giản – dị liệu bệnh pháp
5.    Việc vặt trong nhà
6.     Vẹt – ni làm cho đồng bóng
IV.    VĂN UYỂN
1.    Bài ca khuyến nông
2.    Thơ thời - sự
3.    Ca trù
V.    TẠP TRỞ
1.    Lời tục ngữ
2.    Nữ – tữ giáo dục
3.    Mẹ con nói chuyện cách trí
4.    Nữ – quyền bình đẵng nhau
5.    Một người vợ lính
6.    Nữ – lưu khuyến luận
7.    Tiếu đàm – thời hài
8.    Con nhện
9.    Trà
10.    Đáp thai
VI.    THỜI ĐÀM
1.    Nam – kỳ thời – sự
2.    Tin buồn
3.    Điều lệ về chợ bán thú vật
VII.    TRUYỆN KÝ
1.    Lưởng phụ trinh tiết
VIII.                      TIỂU THUYẾT
1.    Băng thuyết nhơn duyên     
2.    Chuyện ngàn ngày và một ngày

NỮ GIỚI CHUNG Số  8     ngày  29         mars     năm 1918

MỤC LỤC:

1.    Kĩnh khải
I.    XẢ THUYẾT
1.    Đờn – bà không nên chuyên về văn thơ
II.    HỌC NGHỆ
1.    Nghề làm đường
III.    GIA CHÁNH
1.    Chị dạy em luân – lý
2.    Giản – dị liệu bệnh pháp
IV.    VĂN UYỂN
1.    Bài tập Kiều
2.    Thơ – Ca trù
V.    TẠP TRỞ
1.    Bệnh nhi chẩm
2.    Lai kiểu – MỘt lời phụ ích
3.    Bon ! Bon!! Bon!!!
4.    Hài đàm
5.    Ký – minh thi
6.    Chuyện đời nay
7.    Thầy thuốc trị bịnh con mắt
8.    Thai – đáp trúng
9.    Muốn mua xe hơi
VI.    THỜI ĐÀM
1.    Lời rao – Tĩnh Bentre
2.    Tin mầng
3.    Tin buồn
4.    Thời sự
VII.    TRUYỆN KÝ
1.    Bà Tiết – phụ họ Vỏ
2.    Giới thiệu lương – y
3.    Vài lời cảm tạ
VIII.    TIỂU THUYẾT
1.    Băng thuyết nhơn duyên
2.    Chuyện ngàn ngày và một ngày

NỮ GIỚI CHUNG Số  9     ngày  5         avril     năm 1918

MỤC LỤC:

1.    Kĩnh khải
I.    XẢ THUYẾT
1.    Bàn về sách dạy đờn – bà con gái
II.    HỌC NGHỆ
1.    Nghề nuôi ca
2.    Nghề chụp hình
III.    GIA CHÁNH
1.    Cách ăn ở
2.    Phép nuôi con
3.    Đối với người nhà
4.    Đối với người ngoài
5.    Việc vặt trong nhà
6.    Giản – dị liệu bệnh pháp
7.    Nữ – tữ giáo dục
IV.    VĂN UYỂN
1.    Thơ
2.    Bài tập Kiều
V.    TẠP TRỞ
1.    Mẹ con nói chuyện cách trí
2.    Nghĩa – địa hội
3.    Chuyện đời nay

VI.    THỜI ĐÀM
1.    Lời rao đấu giá
2.    Du- hý khoa học
3.    Thời sự
VII.                       TRUYỆN KÝ
1.    Bà Tiết – phụ họ Vỏ
2.    Hiếu - nữ
VII.    TIỂU THUYẾT
2.    Băng thuyết nhơn duyên
3.    Chuyện ngàn ngày và một ngày

NỮ GIỚI CHUNG Số  10   ngày  12       avril     năm  1918

MỤC LỤC:

I.    XẢ THUYẾT
1. Lòng yêu nước của đờn – bà Pháp
II.    HỌC NGHỆ
1.    Cách ăn ở
2.    Nghề chụp hình
III.    GIA CHÁNH
1.       Cách ăn ở
2.            Phép nuôi con
3.    Đối với người nhà
4.    Đối với người ngoài
5.    Việc vặt trong nhà
6.    Giản – dị liệu bệnh pháp

5.    Tin mầng
6.    Tin buồn
7.    Thời sự
IX.    TRUYỆN KÝ
4.    Bà Tiết – phụ họ Vỏ
5.    Giới thiệu lương – y
6.    Vài lời cảm tạ
X.    TIỂU THUYẾT
3.    Băng thuyết nhơn duyên
2.Chuyện ngàn ngày và một ngày

NỮ GIỚI CHUNG Số 11    ngày  19        avril    năm 1918
I.    XÃ THUYẾT.
1.        Bàn về lòng bác ái
II.    HỌC NGHỆ
1.    Nghề chụp hình
2.    Làm phỗ – mách
III.    GIA CHÁNH
1.    Cách ăn ở
2.    Phép nuôi con
3.    Đối với người nhà
4.    Đối với người ngoài
5.    Việc vặt trong nhà
6.    Giản – dị liệu bệnh pháp
7.    Nữ – tữ giáo dục
IV.    VĂN UYỂN.
1.    Chuông mừng báo
2.    Hoạ bài thi của Trần – Xuân – Lan
3.    Thơ văn Trung – Kỳ
4.    Thơ văn Bắc – kỳ
5.    Văn xưa
V.    TẠP TRỞ
1.    Kiến nghĩa bất vi vô dỏng dã
2.    Lời đờn – bà Bắc
3.    Con gái nước Lổ
4.    Một việc đáng khen
5.    Hài đàm
VI.    THỜI ĐÀM
1.    Lời rao đấu giá
2.    Tin mừng
VII.    TRUYỆN KÝ.
1.    Chuyện nàng Lể Phi
VIII.    TIỂU THUYẾT
2.      Băng thuyết nhơn duyên
1.      Chuyện ngàn ngày và một ngày

NỮ GIỚI CHUNG Số  12   ngày   26      avril     năm  1918
I.    XÃ THUYẾT
1.    Nhiệt – thành
II.    HỌC NGHỆ
1.    Nghề làm pháo
2.    Nghề nhuộm
III.    GIA CHÁNH
1.    Cách ăn ở
2.    Phép nuôi con
3.    Đối với người nhà
4.    Đối với người ngoài
5.    Việc vặt trong nhà
6.    Giản – dị liệu bệnh pháp
IV.    VĂN UYỂN
1.    Thiếu – uy, qui – y
2.    Thơ văn Trung – kỳ
3.    Thơ văn Bắc – kỳ
4.    Văn xưa
V.    TẠP TRỞ
1.    Lời đờn – bà Bắc
2.    Đoản thiên tiểu – thuyết
3.    Nghĩa – phụ khả – phong
4.    Thai
5.    Hài đàm
6.    Bon! Bon!! Bon!!!
VI.    THƠÌ ĐÀM.
1.    Thế tữ hồ ly
2.    Hội Hồng – thập – tự
3.    Tin mừng
4.    Tin buồn
5.    Lữa cháy
VII.    TRUYỆN KÝ
1.    Chuyện bà Hoàng – cô
VIII.    TIỂU THUYẾT
1.    Băng thuyết nhơn duyên


NỮ GIỚI CHUNG Số  13   ngày    3       mai      năm 1918
Cẩn khãi
I.    XÃ THUYẾT
1.    Nữ – quyền
II.    HỌC NGHỆ
1.    Trồng đu – đũ ngô
III.    GIA CHÁNH
1.    Cách ăn ở
2.    Phép nuôi con
3.    Đối với người nhà
4.    đối với người ngoà
5.    Việc vặt trong nhà
6.    Làm nước đá
7.    Giản – dị liệu bệnh pháp
8.    Nữ – tử giáo dục
IV.    VĂN UYỂN.
1.    Thơ vịnh
2.    Thơ khuyến học
3.    Thơ văn Trung – kỳ
4.    Thơ văn Bắc – kỳ
5.    Văn xưa
6.    Thơ văn mơí
7.    Đáp bài văn sách trong báo Nam Phong
V.    TẠP TRỞ
1.    Xuất tư u cốc, thiên – du kiều mộc luận
2.    Nhận đàm
3.    Hài đàm
4.    Thai
VI.    THỜI ĐÀM
1.    Cuộc xổ số của hội Aùi – quốc
2.    Tạo tác cuộc – Lời rao đấu giá
3.    Đông – Dương du lịch hội
4.    Xe lữa đụng xe ban – bù
5.    Tạp vụ
6.    Tin buồn
7.    Nghĩa địa
VII.    TIỂU THUYẾT
1.    Băng thuyết nhơn duyên
2.    Chuyện ngàn ngày và một ngày
NỮ GIỚI CHUNG Số  14   ngày   17     mai       năm  1918

Cẩn khãi
I.    XÃ THUYẾT
2.    Cái trách – nhiệm to – tác của đờn – bà nước ta
II.    HỌC NGHỆ
1.    Chỉ chuối
2.    San – hô, hỗ – phách
III.    GIA CHÁNH
1.    Cách ăn ở
2.    Phép nuôi con
3.    Đối với người nhà
4.    Đối với người ngoài
5.    Việc vặt trong nhà
6.    Giản – dị liệu bệnh pháp
IV.    VĂN UYỂN
1.    Đáp bài văn sách Nam – Phong số Tết
2.    Bà chúa thiên – y
3.    Vua Nghiêu nhường thiên hạ
4.    Văn xưa
V.    TẠP TRỞ
1.    Lai kiểu
2.    Bon! Bon!! Bon!!!
3.    Rằng gan hỏi thữ ông Trời
4.    Quảng cáo đồng – nhơn
5.    Trời đánh
6.    Thai
7.    Mấy vị trúng thai
VI.    THỜI ĐÀM
1.    Cuộc số xố Hồng – thập – tự tại Bắc – kỳ
2.    Đám xác Madame Thuần
VII.    TRUYỆN KÝ
1.     Trần – Lương – Ngọc
VIII.    TIỂU THUYẾT
1.    Băng thuyết nhơn duyên
2.    Chuyện ngàn ngày và một ngày


NỮ GIỚI CHUNG Số  15  ngày   24     mai        năm  1918
Cẩn cáo
I.    XÃ THUYẾT
1.    Nhiệt thành
II.          HỌC NGHỆ
2.            Cách bào chế thuốc trị nọc rắn
III.GIA CHÁNH
1.    Cách ăn ở
2.    Phép nuôi con
3.    Đối với người nhà
4.    Đối với người ngoài
5.    Việc vặt trong nhà
6.    Giản –dị liệu bệnh pháp
IV.VĂN UYỂN
1.    Mộng thạch văn tập
2.    Gởi tặng ông Mân – Châu
3.    Huấn nữ ca
4.    Văn tế thợ rèn
V. TẠP TRỞ
1.    Truyện ngụ ngôn nước Nga
2.    Cuộc thể tháo
3.    Dạy làm giàu cách mới
4.    Thói tệ đáng sữa
5.    Rằng gan hỏi thữ ông Trời
6.    Thời đàm mát bóng
7.    Cung tuỵ lương – y
8.    Giới thiệu lương – y
VI. THỜI ĐÀM
1.    Lời rao đấu giá
2.    Tu my nhi cân quác
3.    Trường nữ học Cần – đước
VII.TIỂU THUYẾT
1.    Băng thuyết nhơn duyên
2.    Chuyện ngày  và một ngày

NỮ GIỚI CHUNG Số  16  ngày    31     mai       năm 1918

Cẩn cáo
I.    XÃ THUYẾT
1.    Bàn về việc gả cưới
II.    HỌC NGHỆ
1.    Nghề làm trà tàu
III.    GIA CHÁNH
1.    cách ăn ở
2.    Phép nuôi con
3.    Đối với người nhà
4.    Đối với người ngoài
5.    Việc vặt trong nhà
6.    Bánh trứng gà ( Si –rê ka – ya)
IV.    TẠP TRỞ
1.    Lai kiểu
2.    Cuộc thể thao hôm chúa nhựt tuần rồi
3.    Truyện ngụ ngôn nước Nga
4.    Quân kiếp lược
5.    Rằng gan thữ hỏi ông Trời
6.    Cung tuỵ lương – y
V.    TIỂU THUYẾT.
7.    Băng thuyết nhơn duyên
8.    Chuyện ngàn ngày và một ngày
NỮ GIỚI CHUNG Số  17   ngày   7         juin       năm 1918
Cẩn cáo
I.    XÃ THUYẾT.
1.    Đạo đàn – bà
II.    HỌC NGHỆ
1.    Nghề làm trà tàu
III.    GIA CHÁNH.
2.    Cách ăn ở
3.    Phép nuôi con
4.    Đối với người nhà
5.    Đối với người ngoài
6.    Việc vặt trong nhà
IV.     VĂN UYỂN
1.    Mộng – thạch văn tập
2.    Huấn – nữ ca,
3.    Liển mừng chuông báo
4.    Đường giài vô hạn
V.    TẠP TRỞ.
1.    Truyện ngụ ngôn nước Nga
2    .Lòng bác ái của người Pháp
3    .Gái hiếu bên Aâu, Mỹ
5.    Mẹ con nói chuyện cách trí
6.    Thời hài
7.    Một việc nên nói
8.    Minh tạ lương – y.
VI.    THỜI ĐÀM
1.    Saigon
2.    Rạp hát cô Ba – Ngoạn
3.    Mytho (đáng kiếp)
4.    Tội bán con nít
VII.    TRUYỆN KÝ.
1.    Truyện nàng Tiết phụ Nguyển – thị – Thanh
VIII.    TIỂU THUYẾT.
1.    Băng thuyết nhơn duyên


NỮ GIỚI CHUNG Số  18   ngày   14       juin       năm  1918

Cẩn cáo
I.    XÃ THUYẾT
1.    Đạo đàn – bà
II.    HỌC NGHỆ
1.    Nghề làm trà tàu
III.    GIA CHÁNH.
1.    Cách ăn ở
2.    Phép nuôi con
3.    Đối với người nhà
4.    Đối với người ngoài
5.    Thuốc đau kiết
IV.    VĂN UYỂN.
2.    Mộng – thạch văn tập
3.    Thơ
4.    Từ khúc mới
V.    TẠP TRỞ
1.    Truyện ngụ ngôn nước Nga
2.    Mấy lời nhắn bạn
3.    Lai cão
4.    Khôi hài
5.    Trúng thai
6.    Minh tạ lương – y
7.    Hoài lời nói với kẻ say sưa
VI.    THỜI ĐÀM
1.    Lời rao đấu giá
2.    Giúp kẻ bị lục
3.    Sữa bò mới chế
4.    Hội khuyến học Vĩnh – Long
5.    Công đức của quan Tổng – đốc và lịnh phu nhân Phạm – Văn – Tươi
6.    Tin nước ngoài
7.    Văn minh bên Tàu
VII.    TRUYỆN KÝ
1.    Chuyện nàng Mạnh – Quân
VIII.    ĐỒNG THOẠI
1.    Chuyện cô cát chi – ái
IX.    TIỂU THUYẾT
1.    Băng thuyết nhơn duyên
2.    Chuyện ngàn ngày và một ngày

NỮ GIỚI CHUNG Số  20  ngày    28      juin        năm 1918

Cẩn cáo
I.    XÃ THUYẾT.
1.    Cần gì bây giờ
II.    HỌC NGHỆ
1.    Nghề làm trà tàu
III.    GIA CHÁNH
1.    Cách ăn ở
2.    Phép nuôi con
3.    Đối với người nhà
4.    Việc vặt trong nhà
IV.    VĂN UYỂN
1.    Mừng báo Nữ -  Giới – Chung
2.    Đọc thơ cô Nguyễn – thị – Huỳnh
3.    Tặng cô Bổng
4.    Từ khúc mới
V.    TẠP TRỞ.
1.    Bàn về giáo dục
2.    Chữ trinh đáng giá ngàn vàng
3.    Lai kiểu ( bất đắc dĩ)
4.    Huê náo
5.    Thai
6.    Minh tạ lương – y
VI.    THỜI ĐÀM
1.    Việc Nam – kỳ
2.    Việc thế giới
VII.    TRUYỆN KÝ.
1.    Lý – phụ – nhơn
VIII.    TIỂU THUYẾT
1.    Băng thuyết nhơn duyên
2.    Chuyện ngàn ngày và một ngày


NỮ GIỚI CHUNG Số  21   ngày  12      juille      năm  1918

Cẩn cáo
I.    XÃ THUYẾT.
1.    Bàn về lập trường công thương tại Nam – kỳ
2.    Cái nhân của đờn bà
II.    HỌC NGHỆ
1.    Nghề làm đồ hộp
III.    GIA CHÁNH
1.    Cách ăn ở
2.    Phép nuôi con
3.    Đối với người ngoài
4.    Việc vặt trong nhà
IV.        VĂN UYỂN
1.    Thất nữ oán
2.    Bài ca các tên cá
V.    TẠP TRỞ
1.    Đàn – bà xưa đàn – bà nay
2.    Chuyện đời nay
3.    Vườn bông Nhà – nước
4.    Minh tạ Lương – y
VI.    THỜI ĐÀM
1.    Hội khuyến học Nam – kỳ
2.    Travinh
3.    Việc nước ngoài
VII.    TRUYỆN KÝ
1.    La – thị
VIII.    ĐỒNG THOẠI
1.    Chuyện cậu – lai – môn – Đức
IX.    TIỂU THUYẾT.
1.    Băng thuyết nhơn duyên
2.    Chuyện ngàn ngày và một ngày


NỮ GIỚI CHUNG Số  22  ngày   19      juillet     năm 1918

Cẩn cáo
i.    XÃ THUYẾT
1.    Bàn về sự hà – lạm
2.    Việc nữ học
3.    Đạo vợ chồng
ii.    HỌC NGHỆ
1.    Nghề làm đồ hộp.
iii.    GIA CHÁNH
1.    Cách ăn ở
2.    Phép nuôi con
3.    Đối với người ngoài
4.    Việc vặt trong nhà
iv.    VĂN UYỂN
1.    Thơ văn mới
2.    Hơi tự nhiên
3.    Văn xưa
v.    TẠP TRỞ
1.    Truyện ngụ ngôn nước Nga
2.    Lai cảo
3.    Minh tạ lương – y
4.    Khôi hài
vi.    THỜI ĐÀM
1.    Ngày kỷ – niệm nước Nga
2.    Vụ quế lậu
3.    Việc nước ngoài
VIII.    TIỂU THUYẾT.
1.    Băng thuyết nhơn duyên
2.    Chuyện ngàn ngày và một ngày

NỘI DUNG
I. XÃ THUYẾT:
Bàn về sự hà lạm
(A. S de la consussion)
Cách một ít lâu đây, thiên hạ hay xầm – xì xầm – xịch về việc hà lạm, cho đến đổi mấy, thiếm thông thiếm – ký hể xúm lại cũng luận luận bàn bàn việc ấy.  Nên tôi lấy ý kiến tôi mà chĩ ra đây, vì sao sanh ra việc hà – lạm cho lục châu khán – quan xét đoán.
Vẩn việc hà – lạm xứ ta có hai thứ, một thứ hà – lạm tự nhiên, thứ nầy nếu cạn xét thì cũng như chàm, làm quan như anh thợ – nhuộm, chừng nào thợ nhuộm khỏi chàm dính tay thì làm quan mới không hà – lạm, nên tôi gọi thứ hà – lạm nầy là hà – lạm tự – nhiên còn thiên hạ họ coi cũng như một thứ tiền của dân đoàn phụ thêm lương bỗng cho mấy ông giúp việc nhà nước; một thứ hà – lạm nữa là hà – lạm ép uổng người.
Nếu hỏi vì sao mà xứ ta lại sanh ra việc hà – lạm?
Việc hà – lạm xứ ta sanh ra: một là tại dân đoàn còn dốt nát chưa biết nhơn quyền là gì (droits de l’hommes) phép luật là gì (loi) nên hể ai có việc gì đến quan, phần thì bấy lâu chưa thấy mặt quan, phần thì chưa biết phép luật, nên đâu biết việc ấy phạm pháp cùng không mà phòng bếit phải quấy thế nào, chỉ lấy bạc tiền làm thầy dạy việc, và làm lể lộc mà đền ơn. Ai ai, cũng làm như thế, nên việc hà – lạm ấy thành ra thói tục của dân đoàn, thành ra như thể việc buộc mình của con dân (obligatoire). Bởi vậy cho nên làm quan dầu muốn thanh liêm thế mấy cũng không đặng, là vì mọi việc họ đều đam tiền cho. Thế thì làm quan ai lại không thọ cái tiền ấy là bởi họ vui lòng cho mình chớ phải chi mình ép uổng họ sao? Nên nói là hà – lạm thì ai cũng đều hà – lạm. Hai là tại lương bỗng không đũ dùng, thấy con dân ngu xuẩn hay đam bạc tiền lo – lót nên khi túng rối sanh ra đều ép uổng.
Vẩn trong xã hội ngoài dân đoàn, ai ai cũng cho các quan các thầy là bực thượng lưu, không lẻ ra đi đứng với đời làm theo, bọn hạ – lưu đặng. Thí dụ như thầy thông chẳng lẻ ăn mặc như cu I xe – kéo, ăn thì không lẻ ngồi ăn ngoài chợ ngoài búa, mặc thì không lẻ mặc quần dơ áo dáy. Phải ăn mặc thế nào cho có thể thống, thiên hạ trông vào mới đặng. Nên tính theo lương bỗng của mấy ông mấy thầy không thể nào đũ, vì không đũ nên phải kiếm chát thêm tiền ngoại, chớ trôi – troi đồng lương, thì phải làm nợ làm nần, phải sanh ra điều tội lội nữa.
Muốn biết việc ấy cần dùng trong nhà, và việc ăn ở hằng ngày của mấy ông mấy thầy, thì ít nữa phải là người Annam và có làm thầy mới hiểu đặng, chớ như lúc nọ ông Pâris khi còn làm thân – sĩ có nói tại hạ – nghị – viện rằng người Annam ăn xài trong mổi tháng có vài đồng bạc mà thôi, lời nói ấy lầm lắm. Kìa mới đây quan Trạng –sư  Mat… trong vụ quế lậu, ngài nói lương bỗng một ông Tây 250 $00 ấy là lương của một tên cu –li, nghĩ lấy đó so sánh rồi hiểu, lương bỗng một thầy thông bao nhiêu mới đũ.
Có nhiều thiếm thông thiếm ký hay than vãn về việc lương bỗng của chồng không đũ xài, lúc bình thời kia còn không đũ hay huốn chi là lúc nầy giặc giã, đồ – đặc mổi món đều cao giá, đều mắc  - mỏ, nên hết sức cần kiệm cũng không đũ, thét phải hà tiện cũng thiếu.
Một thầy thông có vợ lương 30$00 mổi tháng, tính ranhững việc cần dùng, dòm thấy 30$00 mổi tháng không thể nào đũ.
1 0  Mướn phố ít nữa ……………………………………… 8$00
2 0 Tiền chợ, gạo, mấm muối, 0 $ 50 mổi ngày
0 50 x 30 ……………………..15.00
3 0 Tiền giặc uổi (đồ 6 xu một cái ) …………..1.20
4 0 Tiền nước hai đôi mổi ngày 2x30 …………0.60
5 0 Tiền thuốc giấy và trà ……………………………….1.50
6 0 Tiền dầu đèn, xà bông, cũi lữa ……………….4.00
7 0 Tiền bánh trái………………………………………………….3.00
8 0 Tiền xài lặt vặt ……………………………………………… 3.00
------------------
36.30
May là chưa tính hoặc trời mưa đi xe kéo, rách áo may áo khác, rách quần may quần khác, giầy nón hư phải mua, còn tiền để dành khi có khách đặng đải, khi đau uống thuốc v.v… mà còn chưa đủ thay, huốn chi lương bổng của nhiều thầy, quan trên định có 20 $00, lại có kẻ mười mấy đồng, thì lại còn thế nào nữa.



Phải chi các ông Hội – đồng  quản – hạt, xin dùm quan trên định thêm lương bỗng cho mấy thầy cho đủ dùng, vậy mới xứng đáng là người thay mặt cho nhơn dân chớ.
Trần – thị - Đào


Nay tôi kĩnh dưng mấy hàng quê kịch nầy cho M.M Bảo, Ngàn, Trạch, Diêu, Minh, Hội – đồng quản – hạt.

N.B Trong báo số 21 trong bài “ Bàn về việc lập trường công thương” ấn công quên sữa mấy chữ “ công – thương – kỹ – nghệ” . Vậy xin độc lại “thương – mãi và công – nghệ” và câu “ mieux vaut quatartd jamais” xin độc “ mieux vaut tard que jamais”

VIỆC NỮ HỌC
Nước ta xưa nay quí con trai mà rẻ con gái, trọng đàn – ông mà khi đàn – bà, nước Tàu cũng vậy. Có phải là vì sanh ra đàn – bà vốn là một giống hèn mà đáng khinh đáng rẻ đâu. Chỉ bởi tục hên Á – châu ta, lấy tông đường làm trọng, nhà nào cũng cầu phải có con trai, thì dầu con gái mình khôn ngoan hiền – thảo đến đâu mặc lòng, cũng chưa lấy làm mãn – nguyện, mà ước ao cho được một chút con trai, dầu nó ngu si, cũng còn hơn là không, thế là một lẽ. Vả lại con gái nước ta xưa kia lại phần nhiều không có học – vấn, không đủ tài – trí, đặng gánh vác việc giáo – dục trong gia đình; không đủ tư cách đặng đảm – đang việc công ích cho xã hội như các đứng nam nhi, cho nên cái giá trị lại càng rẻ, thế là hai lẽ.
Than ôi! Cũng một loài người cũng trên trái đất, cũng chung đúc một khí thiêng trong bầu trời.
Trần ai , ai kém ai đâu
Bọn quần –xoa, khách mầy râu khác gì
Tiếng chuông đã tỉnh hồn mê,
Giấc ngàn năm cũ kể chi bây giờ
Chị em ơi, bây giờ là buổi gì ! hà buổi phong – trào văn – minh bên Aâu Mỹ tràn tới đất nước ta, lại nhờ ơn nhà nước Đại – Pháp mở mang học thuật cho quốc – dân ta, các xứ, các tỉnh đều lập trường Nữ – học, chánh là lúc giống nòi tiên rồng chúng ta phát – đạt đến cả ngàn gái vậy.
Vậy thời bọn nữ – lưu ta nên gia công nên ráng sức, trong cách cư – xử, sự học – hành, dưỡng lấy cái tánh hạnh – hiền, luyện lấy cái tài –trí tốt, cho đặng sánh vai với các bực anh thư bên Aâu Mỷ và giáp mặt với các đấng trượng – phu trên cỏi đời, cho tôn cái phẩm giá bọn mình lên, thế chẳng hay lắm sao ? Cái óc thông minh của bọn đàn bà nước Nam ta cũng chẳng kém gì đàn – ông vậy. Vả lại phong – tục tổ quốc lưu – truyền bốn ngàn năm nay vẩn lấy cương – thường, tiết nghĩa làm quý, cái đó đã in vào trí khôn khắp mọi người, mà nay lại có cái văn minh  Aâu Mỷ tô – điểm thêm vào nữa, như vậy thời cái trình – độ tần – hoácủa nữ – giới nước ta sau nầy chưa biết cao đến bực nào.
Bổn báo bởi lòng nhiệt thành xin tỏ ra mấy lời đặng đính – chính cho bọn thiếu – niên – ta.
Đi học đặng làm gì ?
I
Nầy chị em ơi, ta tới nhà trường đặng làm gì? Ta đến học, đọc sách cho biết những điều trong sách, là những lý – tưởng ấy đến lúc người ta mím môi lại, mắt mờ đi, là lúc hồn xiêu phách – tán, thời ngỡ là phải lưu lạc vào nơi mịt mù vô – lộ kia, mà linh hồn đến thời không sao về được. Nhưng không, cái tư – tưởng người ta hẩy còn hiển –hiện ở trong những tờ giấy bất động nầy, hẩy còn ẩn – khuất ở dưới những chữ trong nhỏ thì kia; cái tư – tưởng ấy ví như  một cái tàn – lữa vô duyệt, mà hơi thổi động thì rừng – rực sáng bậc lên ngay. Khi ta giở những tờ giấy có chữ ấy thời hảy lóng tai nghe. Ta lại không nghe thấy, văng vẳng lào xào những tiếng tự đâu đến, là chổ vực sâu thâm – thẩm, những thời – đại đã qua rồi, sao ? đó là những đời đã qui ẩn đi rồi mà lại phát – hiện ra được. Đó là những ngưỡi đã về rồi lại lên tiếng nói được mà tiếng nói ấy mãi mãi về sau, đó có cái thế lực nào làm nín im được
Oâi ! cái thường vật như thế màtinh – thần, người ta rực – rỡ xuất – lộ ra.
II
Nầy chị em ơi, ta tới nhà trường đặng làm gì?
Ta đều đặng ra học viết, là giở quyển vở ra mà viết những cái nét xiêu – run, hình kỳ – dị. Song những cái nét xiêu – run, hình kỳ – dị ấy, có một phép rất mầu. Những điều nghĩ tưởng chung – phú của ta, thời nó đem thuật lại cho những người thân ái ta mà ở xa ta. Hoặc mai sau có khi nào ta qua chổ đất lạ, xa biển cách sông, thời những nét ấy nó sẻ thuật cho cha mẹ ta rằng: “ Con không bao giờ dời lòng tưởng nhớ mến yêu”
III
Nầy chị em ơi, ta tới nhà trường đặng làm gì? Ta đến đặng tập toán, học số những số ấy thời giải ra các vị hành tinh đi quanh mặt trời hết bao nhiêu năm, tháng, ngày, giờ, giây phút, thời được một vòng, những số ấy vừa dùng đo đường châu – vi trái đất, vừa dùng đo các vị tinh – tú  xa cách nhau bao nhiêu, lại còn dùng vào nhiều việc tầm – thường nữa. Bực thông – thái thời dùng vào các khuôn – phép thể – lệ, kẻ dốt – nát thời dùng vào những sổ sách trong nhà. Cứ đến cuối năm, thời nó diển công lao hằng ngày của người làm ruộng, của người làm thợ, đáng mấy trăm ngàn. Nói nôm na, thời nó như bảo những người ấy cách châm chỉ, cách phòng – bị và cách dành dụm như một với một là hai, hai với hai là bốn, ba với ba là sáu…
IV
Nầy chị em ơi, ta tới nhà trường đặng làm gì?
Chẳng phải dời gót ra khỏi làng, một bức địa đồ trong tay một cuốn địa dư trước mắt, ta cũng đủ đi du lịch hoàn – cầu, trải chơi Á, Aâu, Phi, Mỷ, Aùo, Ngũ – Đại – châu, chẳng có xú­ nào làm cho ta hâm mộ và quyến luyến được bằng xứ đất nước Đại – Nam  nhà, là đất đồng áng núi non, mà ở chốn hương – thôn cùng nơi thành thị, gần chổ dân – cư thời có phúc trong nghĩa – địa, để chôn người tổ – quốc nhà ta
V
Nầy chị em ơi, ta tới nhà trường đặng làm gì?
Cái khi chưa có ta, mà cũng chưa có ông bà, cha mẹ ta, bấy giờ có nhiều người mà ta không được biết.
“Hỡi ôi, những đứng tiền bối qui – ẩn đi rồi mà lập nên Cố – quốc vua Hồng – Bàng, bà Trưng – Trắc bà Triệu – Aåu, vua Đinh – Tiên – Hoàng, vua Lý – Nam – Đế, vua Lê – Thái – Tổ, vua Nguyễn – Quang – Trung, chúng con không những là muốn biết đến tên các ngài mà thôi đâu, chúng con còn muốn biết đến công – nghiệp các ngài nữa.
Thế thời ta đến để ta học sử – ký
VI
Nầy chị em ơi, ta tới nhà trường đặng làm gì?
Ta muốn biết làm sao chỗ khuôn trời mông – minh mà ánh sáng ở thế giới nầy chiếu sáng thế giới khác được; mà những đám mây gặp đụng nhau mà sanh ra chớp nhoáng. Ta muốn biết những thế lực trần trân của tạo – hoá, mà người ta đã suy nghĩ tìm cách đem chúng hết cả được. Ta muốn xem biết nhựa cây da nó ở tự rễ cứng lên đến tia là mềm, rườm rà trên ngọn. Ta muốn biết mạch máu đỏ theo chảy ngàn tia trong mình mà lên đến tận chót đầu qua các khớp óc.
VII
Nầy chị em ơi, ta tới nhà trường đặng làm gì?
Ta cứ tìm trong bụng ta những lẻ phản – đối nhau lẻ hay, lẻ dở, lẻ xứng loài vật, lẻ đáng bực người. Ta không phải sanh ra ở đời nầychỉ để ăn uống, ngủ rồi thời chết, cho kẻ khác ăn uống ngủ như ta đâu ! Ta sanh ra để làm việc hệ trọng hơn, vẻ – vang hơn, và đáng sống ở trên đời hơn. Ta sanh ra để được ích lợi, để ăn ở công – bằng, đễ khu – sữ quảng – đại những đường công – chánh, những cách hảo – tâm, những điều dung thứ thời là nhất tâm học cho kỳ biết hết, vả ta chạy tới nhà trường đặng đánh những vần vàng ngọc ở trong cuốn sách thiên – niên hữu vật là quyển sách dạy luân – thường.
VIII
Nầy chị em ơi, ta tới nhà trường đặng làm gì?
Dầu ta còn nhỏ thiệt, nhưng ta muốn ra người lớn, cái lớn đó không phải là mình giài vóc nặng mới ra lớn đâu, lớn là lớn nghĩa – lý, lớn tâm – tư. Nhà trường ở xứ ta kia ơi, phó thác cái linh – hồn ta đấy, xẽm cái thần – tánh non nớt mà yếu – ớt hơn cái xáx bọc ngoài ấy, hãy rèn thành ra cái hồn có nhân –cách, cái duyên phận ta mai sau, dầu may dầu rủi thế nào mặc lòng, nếu làm bạn với người nông, thời ta cũng đào đất khai mương, thời cũng chồng xếp gạch đá dựng nên cái nhà thô – kịch. Nếu làm bạn với nhà bác vật, thời cũng cai – quản các xưởng máy lớn lao; nếu làm bạn với người kỷ – xảo, thời cũng giúp làm nẩy – nở sự xinh đẹp; nếu làm bạn với nhà thông – thái, thời cũng giúp sự suy – nghĩ kiếm đường làm cho bớt cách nhọc – nhằn, bớt đường đau – đớn cho nhân – loại; nếu làm bạn với bực triết lý, thời cũng giúp tìm sao cho ra cái hiểm – bí của tạo – hoá; thế thời nhà trường ở xứ ta kia ơi, cứ làm cho ta theo lời dạy bảo mà nên một tay luật – phép công minh và thành – thiệt. Nước Pháp em mới phụng ýmà làm ra tám đoạn văn trên, để chị em biết rỏ sự đi học đễ làm gì.
Còn như việc nữ – học của chị em ta, em mới nói đại cương sẻ có kỳ em bàn rỏ ràng để hỏi
Hội – xá, Nguyển – Song – Kim
Nhân làm việc Nữ – học, em nhớ đến bài diển – thuyết nói về sự học của Léon Deries tiên sinh, là một nhà văn - học

ĐẠO VỢ CHỒNG


(Một duyên hai nợ )
Có vợ chồng đã sẵn có duyên nợ; nệm loan gối phụng chồng thuận vợ hoà, cho là duyên; lòng cá dạ chim, chồng eo vợ ẩm, cho là nợ. Trong một đạo vợ chồng, hai chữ duyên nợ khác nhau xa. Hai chữ duyên nợ khác nhau xa, thành ra gì cũng cậy là duyên, gì cũng cho là nợ. Cậy là duyên chỉ tưởng là may, có lẻ quên cái tình chân – ái, cho là nợ muốn rũ cho sạch, có khi mất cái bụng hồi đầu.
Não người thay! Lầm người thay ! Câu “ một duyên hai nợ !” xét cho kỹ duyên hay nợ tuy hai chữ, ý nghĩa một mà thôi. Vợ chồng nợ là duyên, vợ chồng duyên là nợ, cả hai chữ duyên nợ mới nên đôi vợ chồng. Đã mang lấy kiếp đèo bồng, phần duyên phần nợ cam lòng với ai.
Kìa con vua lấy anh đi cày, gái goá theo chàng đóng khố, Liên – Toả chết mười nămmới thành duyên tác hiệp, Liên – Thành từng chín suối mới vẹn chữ xướng – tuỳ, duyên thật mà là nợ cả. Bữa hôm lấy óc chữa trai, giết vợ là đường cầu tướng, nợ thất, song chắc gì không là duyên.
Duyên đẹp tức là nợ ân nợ nghĩa, nợ nặng tức là duyên ẩm duyên ôi.
Lại còn như vợ chân lấm tay bùn, gặp phải chồng chỉ nằm giài, chồng cho là duyên mà vợ ấy lấy làm nợ, chồng hết công cùng sức mà vớ phải vợ chỉ ngồi rỗi, chồng cho là nợ, mà vợ ấy lấy làm duyên. Mới biết duyên không nợ chửa chắc hẳn là duyên, nợ không duyên có lấy gì làm nơ. Duyên nợ thường liên tiếp với nhau.
Thôi, nhưng mà vợ chồng là đạo chân thành. Miễn sao cho chồng hết nghĩa chồng, vợ hết nghĩa vợ, không cầu là nợ hay duyên.
Nợ nợ, duyên duyên, trăm năm một kiếp, nghĩ ra cho xiết, kẻo lỗi đạo trời. Ai ôi! duyên ra ta cũng ơn trời, nợ ra ta cũng đều bồi cho xong.
M me Phạm – Xuân – Nùng

I. HỌC NGHỆ
NGHỀ LÀM ĐỒ HỘP
( tiếp theo)
Như thịt các giống thú, muốn đóng vô hộp, trước hết phải cắt thịt làm mấy miếng, rữa cho sạch huyết, lấy hoả – tiêu (kalium tartaricum) hoà với muối chín, xát thịt cho thiệt đều, (thí dụ 50 lượng thịt, thì cho một lượng diêm tiêu ) rồi lấy vật gì nặng ép độ mười giờ đồng hồ cho hết nước, đem ra rữa sạch diêm tiêu rồi bỏ vô hộp. Vậy sau bỏ cả hộp vô nồi nước muối nấu đặng trục hết cái không khí hộp trong ra ngoài, hễ được rồi bắc ra, chì hàn kín lại lúc nào dùng mở hộp đen và nó vẩn như thịt còn tươi vậy, thì ra đâu cũng đặng.
Còn các loài cá, và cua, hà, măng, nấm lấy ở nơi có thỗ – sản nhiều, chế theo cách ấy chở đi các xứ xa không có mà dùng, hoặc bán, thì thành ra vật quý, lời biết bao nhiêu.
Cách tẩm giấm thì lại thơm ngon nữa. Nghĩa lấy một ly nước lớn, 6 lượng đường cát, 6 lượng lá nho, ba vị hiệp lẩn với nhau, cho vô một cái om, đậy nấp kín, chôn xuống đất ngoài ba tuần lể, lấy lên lọc bỏ cái bả nó đi, lại đổ hai ly lớn nước nữa, thì nó thành ra giấm tốt hảo hạng, đem giấm ấy mà tẩm vô các món làm đồ hộp, thì đã kho6ng mất tiền mua, mà lại vừa thơm vừa ngon hơn các giấm khác.
Còn các trái cây, muốn đem xứ này qua xứ khác, nếu phơi thì nó biến hết cã hương – vị, chẳng bằng tẩm đường mà đóng vào hộp. Cách hái trái cây chưa thiệt chín, lấy kim trích xung quanh, thả vào nước luộc chín, được rồi vớt ra để cho ráo nước, rồi bỏ vào hộp.
Sau lấy một cân đường cát trắng thiệt tinh – khiết hoà với nước sôi cho tan  hết đường, đoạn lấy tròng trắng trứng gà bỏ lần vô nước đường bắc lên bếp nấu, khi sôi nó nổi bọt lên, còn những chất nhơ trong đường, cũng đều theo bọt nổi lên hết thì hớt bỏ các bọt ấy đi, cho nước đường thiệt trong không còn vật gì nữa, nấu lần lần cho nó hơi keo lại, rồi thì múc đổ qua hộp đựng trái cây, ( để chừa một phần tám hộp ) , đoạn hàn kín lại, đễ trưng cách – thuỷ, đốt lữa cho thiệt hung, nấu chừng một giờ đồng hồ, vớt ra đễ nơi có hơi gió thì không hề bao giờ còn thúi đặng nữa.
( còn nữa)
L. Aùi - Kiều
II. GIA CHÁNH
TIẾT THỨ NHỨT
Cách Aên Ơû
II
Aên Uống
( tiếp theo)
Món ăn sao cho ngon miệng mọi người. – Các món ăn, vật gì có bổ dưỡng, vật gì mau tiêu hoá, tôi đã nói trong mấy kỳ báo trước, còn làm sao cho được ngon miệng mọi người, việc ấy chị em ta cũng cần nên kêu – cứu thì mới xứng cái chức chủ trung quỉ ( giữ việc ăn uống trong nhà) cho chớ ! tuy con người ta, mổi người có một sở thích riêng những món ăn ngon cùng không, tưởng ai ai cũng chung một tấm lòng ấy cã.  Vậy ta chớ nên để cho có món ăn gì mà còn có người không giám nhúng đũa đến.
Phải thay đổi món ăn thường.
Phàm muốn cho mọi người ăn đều ngon miệng, thì nay ăn món nầy, mai đổi món khác, chớ không thì dẩu cho vật ngon cách mấy, ăn lâu cũng phải nhàm. Cho nên thường thường phải đổi món ăn, hay hoặc đổi cách nấu.
TIẾT THỨ HAI
Phép Nuôi Con

Thể Dục

( Tiếp theo)
Phàm sữa bò pha đậm thì ssanh bón, mà lợt thì lại hay đường tiết, cho nên phải theo hạn tuổo mà điều hoà cho vừa độ, ngang như sữa người, thì trẻ nó ít hay sanh bịnh.
Như dùng sữa hộp, còn trong một tuần, thì cho một phần sữa 23 phần nước, mộat tháng chế 22 phần nước, hai tháng thì giảm 21 phần nước. Cứ mổi tháng giảm một phần, vừa đúng một năm thì một phần sữa chế 10 phần nước là vừa. Vã lại sữa hộp thì mau hư, cho nên đã mở ra, thì mua nóng không nên để quá hai ngày, mùa lạnh không nên để quá bốn ngày.
Luôn đây xin phụ cách giữ sữa hộp cho khỏi mau hư như sau vầy.
Lấy sữa đã chế nước vừa độ rồi, đổ vô trongmột cái chai thiệt sạch, cách miệng chừng 2,3 phần lấy bông gòn mới, nút cho thiệt kín, rồi để chưng cách thuỷ chừng bốn mươi phút đồng hồ, sôi lâu rồi lấy ra để một nơi cho nguội, lúc nào dùng, mở nút ra cho uống rồi đậy lại, như vậy dẩu đương mùa nóng, trong một ngày trời cũng không sao.
TIẾT THỨ TƯ
ĐỐI VỚI NGƯỜI NGOÀI
Đồ đưa cho và đồ đáp lại
( tiếp theo)
Cái đồ tiễn người đi đường nên lựa những món gì cho thiết dụng, chớ khá đưa những vật chi nặng nề, chớ có mang xách. Mình có đi đâu xa, có quà cáp cho chỗ quen thuộc, thì lựa vật gì là thỗ sản của mình, mà nơi khác không có, thì vừa quý lại vừa không tốn mấy đồng.
Đi thăm người đau, thì ta nên biết cái tánh của người đau ấy ham muốn vật chi, ho8ạ vật gì coi chơi cho giải chí, hay hoặc đồ ăn có chất bổ dưỡng cũng đặng. Còn thăm kẻ nhà cháy, hoặc tai nạn gì khác; thì nên coi họ thiếu món gì, ta được món ấy, cho đỡ những cơn túng bấn chưa thể lo được.  Mừng nhà mới thì nên đưa vật gì để làm kỷ niệm được lâu giài là quý.
TIẾT THỨ NĂM
VIỆC VẶT TRONG NHÀ
Gà mái không đẻ trứng
Gà mái không đẻ, là trong mình nó thiếu chất vôi nên lấy vỏ trứng gà tán nhỏ hoà với nước gạo, viên nhỏ cho nó ăn, thì tự nhiên phải đẻ. Vì trong vỏ trứng gà có nhiều chất vôi vậy.
Chuột mới đẻ
Chuột mới đẻ chưa mở mắt, bặt bỏ vô ve rồi đổ dầu ăn (olive) ngâm cho nó tan hết, để dành lúc nào có phõng lữa lấy thoa, rất là thần hiệu lắm. Hoặc ngâm lẫn chút vôi lâu năm, thì trị đặng cả đứt tay nữa.
L. Aùi - Kiều
VĂN UYỂN
(Variété Littéraire)
THƠ VĂN MỚI

Cờ bạc
Những nghề cờ bạc có ra gì
Lắm kẻ say mê nghĩ cũng kỳ
Đào quất quay thua còn lẩn – quẩn,
Bài chia bát mở lại mân – my (1)
Ngọn tre đơm đó nghe không khác,
Ruộng cả đời đi khéo có khi,
Con nhà gia – giáo chớ chơi chi.
Ngủ ngày
I
(Hỏi)
Nghĩ ra tôi cũng chán cho ông,
Chẳng gượng ngồi lên mở mắt trông,
Ngủ suốt cảa đêm còn tiếc rẻ,
Nằm bèo đến tối khéo vô –công
Nếu ai cũng cứ ngủ như ông cả,
Cứ gáy o o (2) được mãi không ?
Chẳng trách văn – chương ngày một kém,
Quay về giữ lấy việc canh – nông.
II
(Đáp)
Nghĩ ra ông cũng bực cho ông.
Cảnh thế trêu ngươi chẳng muốn trông.
Nên mượn thói quen thầy Tể – ngã
Những mong mơ thấy cụ Chu – công
Chu – công đã chẳng ngồi chi dậy,
Tể – ngã theo đòi có thích không ?
Còn gì hơn được sự canh – nông.
Lưu – Khê, Chu – Đình – Thụ
Thơ vịnh đến chùa “ Hương – tích”
Lần thứ hai
I
Mười mấy năm trời lại tới đây,
Mầu thuyền càng nếm lại càng cay,
Sườn non người tục khoan khoan bước,
Hang núi khuôn trời khéo khéo xây
Cảnh lạ Phật tiên chùa với động
Thú riêng hoa cỏ đá xen cây
Gọi đò sực nhớ chàng Ngư – phủ,
Có lẽ “ Đào – nguyên” cũng thế nầy.
II
Có lẽ “Đào – nguyên” cũng thế nầy.
“Nam – thiên – đệ – nhất” chính là đây.
Chinh vinh đường đá người qua lại,
Bát ngát mầu thuyềndạ tỉnh say
Cửa động sao xa đèn chớp gió,
Sườn non chùa đứng núi liền mây.
Chàng Lưu gần đó ra xin hỏi.
Đào lý trồng thêm được mấy cây.
Trần –Văn - Ích
Hỏi tự nhiên
Một mình thử hỏi bao đồng,
Hỏi non có thẳm hỏi sông có giài.
Hỏi đường trong đục là ai
Hỏi trường nhiệt – náo ai tài ai không
Hỏi sao cá chậu chim lồng,
Hỏi sao mãi đất trời dông chưa hừng
Hỏi sao thương, ghét, giận, mầng
Hỏi sao dông tố lẩy lừng bể khơi
Hỏi xuân hoa cỏ thảnh thơi,
Hỏi thu ê ư đầy trời gió mưa.
Hỏi ngày năm ngoái năm xưa đã rồi.
Hỏi người người có rốn ngồi,
Hỏi lòng tri – thức biết tôi là gì
Hỏi kia ngọc trắng có tỳ,
Hỏi kia nhẹ bấc nặng chì là sao
Hỏi tình là giống thế nào,
Hỏi trăng ghen ghét má đào làm chi
Hỏi duyên ngư thuỷ dai kỳ,
Hỏi đâu non nước có gì riêng chung
Hỏi ra lắm cũng ngại ngùng
Lòng ta ta nhuộm tấm lòng như son
Ngàn năm sắc thắm vẩn còn.
Mademoiselle Liên – Hồ
Aø Huế
VĂN XƯA
( Của quan lớn nguyên Hanoi Bố Chánh
Nguyễn – Đằng – Phượng soạn ra)
BÀI CA MỤ MỐC ĐIÊN
So thanh – tiết dễ ai bằng mụ Mốc, ngoài hình hài dẫu gấm vóc cũng hàm ra, cái hồng nha đem thoa lấm soá loà, làm bệ – dạc để che qua con mắt tục, ngoại mạo bất cầu vi mỹ ngọc, trung tâm tằng tự thiên kim, tự chồng xa khôn dặm muôn tìm, phận tùng – nhứt giữ đành êm cho vẹn tiết, sạch như nước, mà trong như tuyết, dẩu quân tù quân mộ chút không nhơ, bưng tai ngoảnh mặt làm ngơ, rằng khôn, cũng mặc rằng khờ cũng thây, khôn kia dẻ bám dại nầy.
Kỳ nhị
( Người ta cho quyền áo mặc nó không thêm)
Mốc ơi là Mốc, mình chịu đen mà chắc cóc vẹn tuyền đâu,, tiếc công gìn giữ bấy lâu, điều bất khiết bổng đâu đêm gán lại,thanh tiết hữu tiền nan tự mãi, đan tâm vô hoả dị thành hôi e hoài công bùn chát than bôi toan suế – soá qua đời mà chưa trót, chẳng thà vẩn đầm sâu đít mọt, danh tuy xấu mà thân tốt lại là hơn, biết ai mà giãi nguồn cơn.
Nguyễn – thị – Quỳnh phụng lục
TẠP TRỞ
Faits divers
TRUYỆN NGỤ NGÔN NƯỚC NGA.
(Nguyễn Mạnh Bổng dịch Nôm)
Ngựa xuống núi
9
Có một anh dắt cái xe người chở những đồ kiểu đi qua một ngọn núi cao, khi lên núi lòng rất cẩn thận. Đến đảnh núi được yên vẹn rồi, anh ta cởi ngựa cho nghĩ một lúc rồi mới xuống núi. Lúc đó cũng có một anh nữa; cũng dắt một cái xe ngựa chở những đồ kiểu đi với anh ta. Song ngựa anh này thì già theo ý chủ nhân thì đi chầm – chậm xuống. Còn con ngựa anh ta thì còn trẻ, muốn cho đi mau mà đường lại bị con ngựa già kia tranh trước rồi, trong bụng nghĩ tức lắm, bèn nói với con ngựa già rằng: Bọn ta không phải là ngựa què mà cứ lết không được một bước như thế này thì năm nào tháng nào mới về đến nhà ? Lâu lại thêm bận rộn mình thôi.
Nói xong ngựa trẻ ta vươn mình cất cẳng, quyết chạy trước con ngựa già, bụng nghĩ càng hớn hở ! Ngờ đâu té lăn cù từ núi xuống gành, xe đè lên lưng như đá đè trứng, bao nhiêu đồ kiểu trong xe bể hết cả. Lại bị anh chủ dắt xe đánh đập !
Người ta thường tưởng lên núi khó mà xuống núi dể cho nên thường xảy ra trong lúc xuống núi. Thầy Mạnh – tữ có câu rằng: “Sống ở lúc lo lắng, chết ở lúc yên vui”, ta há chẳng nên nghĩ hay sao?
10
Chó sói tránh nạn
Có một con chó sói chạy thật lanh như bay, đến một cái xóm, là vì đàn chó săn giỏi đuổi lung, nên đi tìm bạn để giữ thân tránh nạn. Song tìm khắp trong xóm chẳng có ai mà nương cậy, chỉ có một con mèo đi nghinh ngang ở trên mặt tường hoa, mặt trời chiếu bóng. Sói ta kíp hỏi mèo rằng: - Bạn quí ta ơi, xin bác cho tôi hỏi một lời, trong làng nầy có chốn nào hiền hậu cho tôi gởi mình trong lúc nguy nan nầy chăng ?
Mèo đáp rằng:
-    Bác đến đằng nhà anh dê già, anh ta hiền lành có tiếng đó.
Sói than thở rằng:
-    Ngày trứơc tôi ăn con của nó, chắc nó chẳng dung !
Mèo nghĩ một lúc lại nói:
-    Thế thì đến bà thỏ già, thiệt là người trung hậu chắc bác cũng biết ?
Sói lại châu mày nhăn mặt nói rằng:
-    Lại không xong ! Năm ngoái tôi ăn bạn nó, chắc nó còn căm, thì nó cứu gì tôi !!!
Mèo lại nói:
-    Hay đến đằng ông trâu già, ông ấy cũng tử tế …
Sói lắc đầu kêu rằng:
-    Trâu già sao ? Tôi vừa ăn mất con nghé chưa đầy năm của nó, nó sụt sùi khóc thương con quí báu của nó.
Mèo rằng:
-    Thôi, thế ra trong xóm nầy không còn chỗ cho bác có thế nương thân được, thì tôi cũng chịu bác thôi ! Bác đi đi, không có đàn chó săn nó đến nó làm rầy rà tôi.
Lúc bình thời không nên ăn ở với người ta rác riết, mà đến lúc hoạn nạn không nương vào đâu được
LAI KIỄU

NHÀN SỰ

Xin ai nên ghé mắt
Có một người nọ, nhắm mắt chẳng phải nghu mà cũng ngu như người ngu, nghĩ chẳng phải khôn, mà cũng thể người khôn, ngày kia có luận mấy đều sau nầy, nghe ra cũng có lý thú, nên tôi xin thật lại cho lục châu khán – quan xem chơi trong khi nhàn sự
………………………………………………………………
Trước khi cha mẹ chưa sanh ta ra vậy ta ở đâu, nay có ta rồi đến sau ta phải chết, vậy lúc đấy ta lại ở đâu.
Nay không cần nghĩ đến việc khi ta chưa có và đến khi ta có rồi ta lại ở đâu. Chĩ yếu nên nghĩ một dều là khi ta còn hiện tại đây.
Ta là gì ? Ta là nắm xát – thịt nầy đây. Miệng cũa nắm xát – thịt nầy, gọi nắm xát – thịt nầy là người, là ta. Thế thì xát – thịt nầy cũng vậy, mà người, mà ta cũng vậy; người là nắm xát – thịt đây, ta là nắm xát – thịt đây, mà nắm xát – thịt đây cũng là người, cũng là ta. Ngày nay nắm xát – thịt nầy còn cữ động, còn uống ăn, còn thỡ ra vô thì gọi là người còn sống đây, ta còn sống đây, thì hởi còn lo nào danh, nào lợi, nào thị, nào phi, nào cang tam thường ngũ, một mai xát – thịt nầy tiêu –tán đi rồi, thì người đâu còn, vậy thì danh đó, lợi đó, thị đó, phi đó, tam cang ngũ thường đó lại đi đâu ?
Ờ ! Nếu nói cọp chết đễ da, người ta chết đễ tiếng. Thế thì từ ngày nắm xát – thịt mới tượng ra cho đến lớn, gọi là người, gọi là ta, thì tính lại nếm biết bao nhiêu cay đắng, đạp biết bao nhiêu gai chông, chịu biết bao nhiêu khỗ cực, mang biết bao nhiêu thảm sầu; lo biết bao nhiêu, làm biết bao nhiêu, mới nắn nhồi thành ra một cái tiếng. Thế phải chăng ? Phải. Vậy tôi xin hỏi: Sao lại có cái nắm xát –thịt nầy làm chi mà chĩ để lo có một cái tiếng đễ lại đời sau mà thôi !!!
Nếu cho rằng tôi khéo hỏi bao – lao thế – giái, ai hơi đâu mà trả lời, hay là nếu nói: Ta sanh ra đây chẳng phải một mình ta, ta sanh ra đây có nhơn – quần xã- hội bao giăng tứ phía, nên thiên – hạ sao, ta vậy, bằng ta làm khác hơn thiên – hạ, thì thiên – hạ nhắm vào ta cho ta là … Thí dụ như: thiên – hạ đều cho việc ấy là phải, nếu ta làm khác, thì thiên hạ cho ta là quấy; thiên – hạ đều gọi món đồ đó là tốt, nếu ta nói xấu thì thiên – hạ cho ta là sái; thiên – hạ đều gọi ông nầy bà nọ là sang, nếu ta nói hèn, thì thiên – hạ cho ta là nói bậy, vân vân. Thế thì kia ta còn đây, nghĩa là ta còn ở chính giữa nhơn – quần xã – hội đây, thì ta vì thiên – hạ mới đặng.
Bỡi thế cho nên ta sống không đặng trăm năm mà phãi tính làm những việc lâu dài cho đến muôn năm, ngàn năm; ăn không đầy mười chén cơm một bữa mà phải tính cho có ruộng vườn cò bay thẳng cánh; ta mặc một lần không đầy mười cái y – phục mà phải tính sấm cái áo cho đầy tủ, cho đủ màu cho đủ sắc, ta ngủ không đầy nữa bộ ván mà phải tính cất cữa nhà cho cao lớn, đồ đạc cho đầy dẫy; vân vân. Thế mà chi !!!
Aáy là vì thiên – hạ đó, đặng cho thiên – hạ gọi mình là giàu có. Sướng ! ( chớ tưởng tiếng nầy là tục, sướng nghĩa việc gì khoái mình thì mình kêu là sướng). Đã đặng giàu có, túc y túc thực, đi tới đâu thiên – hạ cũng nói mình giàu có, nhưng mà chưa đũ, lại còn phải lo ra làm quan đặng có kẻ thưa người bẩm, kẻ kính người vì. Thế mà chi ? Aáy cũng vì thiên – hạ đó nữa, đặng cho thiên – hạ gọi là sang trọng. Sướng ! Nhưng nếu cạn nghĩ cái sướng ấy là cái xướng của thiên hạ chớ phải nào cái xướng của ta đâu.
(Còn nữa)
Trần – thị – Đào
HIẾP CHỒNG
Đã rằng hàm Sữ – tữ thì chắc rằng không phải là hiền, mà người không phải là hiền thì chẳng còn phải ngôn luận; sonh tiếc bấy còn lắm người; công nội – trợ, đạo tề – gia, đã ghe phen cay đắng, cũng lắm lúc gian truân, buôn tảo bán tần, đối đãi cùng chồng con cũng trăn bề cực nhọc, ấy cũng đáng khen cũng đáng kính. Ngặt nỗi trong bốn đức mà khuyết đi thì sao cho nhơn cách hoàn toàn, bởi rứa em thuyết lược đôi đầu, hoặc lời thô tục nầy có lọt tới Hà – đông chăng.
-    Oâng Thái –công nói rằng: Hiền nữ kính – phu; lại thầm nghĩ: đời còn ngán thay cho chồng hiếp vợ, anh hiếp em, chủ hiếp tớ, mà lại còn gớm thay cho hai chữ Hiếp chồng, tưởng ai nghe đến cũng phải châu mày chắt lưởi; người ta nói gái ngoan làm sang cho chồng thì phải lẻ mà người đời lằm kẻ không vì làm cho thoả lòng thục nữ nát gan anh hùng.
Hiếp chồng lại cũng nhiều cớ: Hoặc tự đắt mà hiếp chồng, hoặc tánh dữ mà hiếp chồng, hoặc cậy tài mà hiếp chồng, hoặc cậy khôn mà hiếp chồng, hoặc ỷ tiền mà hiếp chồng, hoặc chồng nhu mà hiếp chồng, hoặc chồng yêu mà hiếp chồng; các cớ dầu bởi cớ nào thì cũng ra người mất cả đức tánh.
Là người đờn – bà không kể đức tánh, miểng thắng được lời qua tiếng lại ông chồng, nhưng mà không xét rằng thắng lấy được một chớ không thắng nổi trăm người bàn nhơn, nếu chẳng phường ăn xổi ở thì, đâu có làm chi cái thói.
Oâng Văn – sỉ nước Hy – Lạp nói rằng: đàn bà mà lại cột chồng kéo lôi, mà lại muốn cho ông chồng hèn yếu, mà lại cai quản ông chồng, thì chẳng khác nào người thích giải giắc kẻ đuôi hơn theo người sáng suốt.
Đời nay các nước còn đang ra sức vì công lý nhân quyền, giải phá cường quyền, cho khỏi vòng áp chế, được giữ lấy cuộc hoà bình tự – do; thậm chí đờn – bà muốn bình quyền cùng nam tử cũng còn chưa được thay, huống hồ phận các đấng yếu đuối, thân bồ liễu mảnh mai, linh đinh bến nước mười hai, mà mong vược khỏi tòng phu, mích nghĩa đồng tịch đồng sàng, đồng quang đồng quách, mà đi cướp thế – lực trong gia – đình, giành lấy quyền phu tướng, khiến cho sanh ra: chẳng trường tranh đấu nhau, xâu xé nhau thì cũng mang lấy tiếng dể đâu bụm miệng bụm mồm thế gian.
Oâi thôi ! còn kể chi phu xướng phụ tùng, kể chi là phú quí phụ  vinh, thật là đều rất trái cã nhân cách rất nghịch thay thế tục.
Phàm người không, chồng giận thì vợ làm vui dầu cho chín giận cùng nguôi lòng vàng, có câu: chồng giận thì vợ làm lành, miệng cười hớn hở rằng anh giận gì; ấy mới ngoan, ấy mới tài, mới nhà gia giáo, mới người trâm anh.
Ai ôi ! duyên túc đề, nợ thành, lời thề biễn cạn non mòn, keo sơn gắn chặt tào khang trọn đời; nhưng gió có xuôi thì bườm mới thuận, vợ chồng có hoà thì đạo nhà mới nên; tục trai đua mạnh giá đua mềm. Quyền chồng quyền vợ mà tranh nổi gì.
Nam – vang Lý – Thị – Nguyệt
MINH TẠ LƯƠNG Y

Hoả – lựu, le 22 Juin 1918
Phan – Ngọc – Bích
Instituteur en congé, village de Hỏa – lựu
Canton d’An- ninh à Longxuyen
Aø monsieur Nhị – thiên – đường
Pharmacie Asiateque.
N 38, Rue de Canton – Cholon
Kính thăm ông chủ nhơn tiệm Nhị – thiên – đường được phú thọ khương ninh và tôi kính thăm nội tiệm anh em đựơc bình an. Chúc cho tiệm ông việc thương – mãi cho miễng viễn tấn phát nhứt bổn sanh vạn lợi luôn luôn.
Hôm ngày 5 Avril 1918, tôi có gởi thơ mua thuốc của tiệm ông Hai ve Sưu – Độc Linh – dược, 500 cái báng Can – tích một ve thần hiệu Nhãn – dược, một ve Thanh – tang – hườn ( thuốc xổ) 10 gói hoà đàm chỉ khoái ( thuốc ho) bốn miếng Phong thấp cao – dược  (thuốc dán) cọng số bạc là 14820 thật các món thuốc ông bào chế thiệt là hiệu nghiệm. Tôi rất cám ơn vô cùng.
Nay kính
Phan – Ngọc – Bích
(Rạch gia, le 19 avril 1918)
Cher M. Thới
Kính thăm vợ chồng thầy đựơc bình an khương thới, bữa thứ tư 17 avril 1918 tôi có thuốc đặng thuốc cũa thầy gởi xuống cho tôi, và tôi lãnh về làm y như lời cũa thầy dạy dường ấy bịnh mười phần giảm được ba phần nên tôi lật đật gởi thơ cho thầy hay, bây giờ đây con mắt ngóđêm nó loà và ngó ra nắng nó chói lắm còn vật chi hơi trắng trắng thì ngó thấy dạng trắng chớ chưa thấy rỏ món chi, hoặc đưa bàn tay lấy món chi đó, thì thấy dạng bàn tay đưa đó,  còn thuốc của thầy dặn tôi đó thì cũng làm y, mà mới có hai ngày thì tôi gởi thơ đây trong thơ thì thầy dặn ba ngày, trả lời thuốc của thầy gởi đó hết phân nữa rồi, còn như thầy gởi thuốc tễ cho tôi, thì gởi đôi ba dồng cũng đặng song bịnh con mắt của vợ tôi mười người đều nói con mắt máu chớ không phải con mắt mây xin thầy ráng dùm cho tôi được lấy dang tiếng trong Rạchgia, và sau nữa làm phước.
Còn việc mây tôi xin tỏ sau đây cho thầy rỏ, theo thế thường mây thì nó trắng còn mây nầy sao không trắng nó đục đục cũng tỷ như miếng dừa non vậy, mỏng chớ không phải dày, bây giờ nó đám trong tròng đen cũng tỷ như mình dán miếng bánh tráng nhúng nước vậy, còn điểm thuốc của thầy được bảy, tám lần nếu thấy được ba phần, và ngoài tròng trắng còn gân máu đỏ đỏ; cúi xin thầy thương bụng tôi mà hết lòng cùng tôi, vì tôi ở xa, trong mấy ngày trước nhờ trời cho chứng bịnh củ của vợ lành mạnh thì ơn thầy tái sanh  chi đức.
Monsieur Trương – vỉnh – Quới
Dit Tươi, chef facteur à l’Inspection de Rachgia.
KHÔI HÀI
(Conte pour rire)
Tôi rất cám ơn ông, mà ông phải biết rằng ơn làm cho thiên hạ không hề mất.
-    Bởi đó mà ít kiếm đặng
-    Tánh tôi ưa tiêu tứ vì vụ tiền bạc
-    Muốn vậy thì ông nên gởi cho tôi, chững ông hết nghe nói tới nữa.
Tại làng kia có bày cuộc Tombola mà làm phước, cá nhà buôn, nhà nghề, kẻ dâng đồ nầy, người dâng vật nọ. Có anh kia là chủ đồ âm –công viết hai cái bons chôn không tiền. Hễ ai bốc thăm được hai cái bons ấy đến khi chết chủ đồ âm –công thấy vợ con đem bon tới lo chôn cất thi hài. Làng nhóm lại bàn luận thì có ông hương kia luận rằng việc làm phước đẻ cho thiên – hạ tự do, chớ nên ép ai chết hầu được chôn thì làng bèn kiếu không lảnh hai cái bons đó.
Thằng cha cu – li kia đến làm công nhà chị em, chị thì điếc, em tốt tai. Người cu – li bị sai khắc quá quạu bèn tưởng người điếc mà nói thầm rằng:
-    Con mẹ điếc này nhiều chuyện quá
-    Chú lầm rồi đa, chị tôi điếc chớ không phải tôi đâu !
Chú cu – li bản mặt sượn trân.
THỜI ĐÀM
(Chronique locale)
Ngày lễ kỷ – niệm nước Nam
Bổn báo mới nhậm được tờ lục tống Thánh – dụ ngày 22 tháng 3 năm Khải Định thứ 3 nầy, định đặt hội kỷ – niệm nước Nam vào ngày mồng 2 tháng 5 ta, là ngày Đức – thế – tổ Cao – hoàng – đế ( Đức Gia Long) Đăng – Quang. Nguyên trước các quan đình thần xin đặt vào ngày 17 tháng 4, là ngày kim – thượng lên ngôi. Nay Hoàng – thượng định đổi vào ngày mồng 2 tháng 5, tức là vì một cái ý nghĩa rất cao – thượng nầy quốc – dân ta nên nhớlấy ngầy ấy, từ nay là ngày hội chung trong nước. Xin phụng dịch lời Thánh – dụ như sau nầy:
“Có ngày sáng nghiệp gian nan, sau mới có ngày hư thành sung sướng, hưởng cái ngày sung sướng ấy, thì phải nhớ đến ngày gian nan kia. Vì thứ các nước văn – minh bên Aâu – châu đều lấy lể kỷ – niệm” làm trọng; tức như nhà nước Đại – Pháp, lấy ngày dân – quốc thành – lập làm lể “ chánh – trung”, yến ẩm đờn – ca, để vui mừng mà tỏ ra rằng không quên nghiệp trứơc vậy.
“ Nước ta ngày năm ngoái, các quan đình – thần hội nghị, lấy Trẩm đăng – cực ( 17 tháng 4) làm ngày kỷ – niệm trong nước. Trong khi ấy tưởng các quan cũng nghĩ rằng Trẩm dưỡng – hối đã lâu, trải hết gian khổ, đến ngày ấy mới đăng quang, thì thần dân cũng nên vui mừng mà lấy làm kỷ – niệm. Nhưng nay Trẩm nghĩ lại, tình thì vẩn phải, mà lý thì e chưa được hoàn toàn. Vì sao ? Xét như nhà Châu đời xưa, cương thường nhứt thống, ở trong kinh lâu thì chép rằng: “ Xưng vương chình nguyệt” còn như nước ta cơ nghiệp muôn năm thuộc về bản triều thì bắt đầu từ năm Gia –Long nguyên niên. Cái công phu gầy dựng khó nhọc thành công ở đây, chúng ta có lẻ nào dám quên hay sao ?
“ Vì thế, cho nên thuộc về ngày tết “ kỷ – niệm” thì đổi lại là ngày mồng 2 tháng 5, tức là ngày Đức – thế – tổ Cao – Hoàng – đế trải hai mươi năm gian khổ định được rỏ công, mới bắt đầu lên ngôi Thiên – tữ vậy. Từ nay đến sau, định là đến ngày ấy, thì đem Tôn – nhơn phủ, cùng văn –vỏ đình – thần đến. Thế – miểu làm lễ, lễ xong, về cung thiết thường triều ở Điện Cần chánh, thọ triều hạ. Quan hữu – tư phải soạn nghi tiết để làm lệ thường. Còn quan – lại, binh – dân, trong nước đến ngày ấy đều cho nghĩ trọn ngày, để được ưu – du thoả lòng đồng lạc. Khâm Thử !”
Chép trong báo Nam Phong
Vỉnhlong
Nguyển – Tri – Đạt nghiệp chũ và lại làm thông ngôn Trạng – sư có vào đơn kiện tên Đoàn – Văn – Thu nghiệp chũ ở làng Đình – yên hạt Long – Xuyên về tội thực mất 1000 đồng bạc bởi các cớ sau nầy.
Hôm ngãy juillet, 8 giờ tối Đoàn –Văn – Thu đi với một người khác và nói là bà con đến nhà Nguyển – Tri – Đạt mà biểu mua một miếng đất, tại làng An – tích, hạt Sađéc cận với miếng ruộng của Đạt, bán 2000 đồng. Trã lên trã xuống một hồi tên Đạt chịu mua 1900 nhưng mà trã bây giờ 1000 còn chịu 900 nọ làm giấy ký một tháng sẽ trã. Chũ bán hối làm giấy tờ cho mau vì anh ta có cần dùng bạc gấp đặng đi Saigon. Hai đàng giao chín giờ lại.
Tên Đạt lại làm nảo tờ bán đất cho nên Thu đặng chép lại. Còn trong lúc ấy thì tên Đạt đang lo làm giấy thiếu 900. Một chập tên Đạt lại mở tũ lấy một xấp 10 tấm giấy cent nghĩa là 1000 đồng và lấy cái tờ thiếu 900 để trên bàn. Lúc ấy tên Thu hởi còn làm tờ bán đất. Chẳng biết là vô ý hay là không dè, tên Đạt lại đi ra quên lững 1000 đồng để trên bàn và cái giấy thiếu 900, chừng trở lại thì bạc đó và giấy thiếu nợ tiêu mất mà tên Thu cũng cút mất.
Tên Đạt tuốt chạy đi kiếm thì thấy tên Thu đang ngồi ăn mì ngoài tiệm, Đạt chờ Thu ăn rồi biểu phải làm cho tờ bán đất bằng không phải trã bạc lại cho.
Khi ra ngoài đường tên Thu dông tuốt Đạt chạy rượt theo và la mã –tà, nên chạy tới đường Salicetty thì Thu bị lính thộp óc. Dẫn đến bắt xét trong mình tên Thu thì thấy có cái giấy thiếu 900 đồng bạc mà thôi, cón mười tấm giấy 100 tiêu mất.
Việc ấyhởi còn tra xét, vì một đàng làm thông – ngôn Trạng – sư còn đàng nghiệp chũ mà cũng mưu thần kế quỷ nhiều.
Quan Toàn – quyền sẻ trở lại Saigon
Theo lời vì thông – tin riêng cũa báo “ Opinion” thì quan Toàn – quyền Sarraut ăn lể chánh chung tại Hanoi rồi, ngài sẻ đi xe lữa mà về Saigon
Cả thảy dân Nam – kỳ đặng tin ấy, ai ai cũng đều ngóng trông
Việc rủi ro trong cuộc đi săn
Hôm nọ ông H. R … với người em ông đi xe hơi vô rừng cách Saigon chẳng bao xa đặng săn bắn chơi. Đến nơi hai người để xe – hơi đó, mướn xe bò vô rừng.
Bổng đâu đi đến một chổ nọ ông H. R … mắc xông, nên biểu ngừng xe bò lại đặng xông. Trong lúc, ông ngồi chồm hổm mà xông, mấy con bò sút ra chạy đi, nên làm cho cây súng đễ trên xe rớt xuống nổ, trúng con chó nhào và lại nhằm cẳng người H.R … Liền chở về Saigon săn sóc
Chạy đâu cho thoát
Tên Ngô – văn – Thông kêu là Ngọc, 20 tuổi bị toà kêu  án 2 năm từ ngày 30 âout, đến ngay 2 âout vượt ngục trốn mất. Đến nay thời ruổi bị tên lính Phước thộp  óc dẩn về khóm lớn.
Lời rao cần kíp
Có M.X … hôm đi lể cách – tót – dết đi chơi với vợ bởi đông người nên lạt mất. Ai có xí được xin trã lợi,  làm ơn.
Hình vạng người vợ cũa M. ấy như vầy.
Tóc quăn như chà – và, mặt tròn  như trăng rằm nhưng mà chẳng phải trắng như trắng rằm, da nhưng đậu, con mắt tay mặt lớn hơn cón mắt tay trái, môi đỏ như chì, miệng rộng, cằm giài, bàn tay dùi đục, giọng nói thanh như tiếng hũ bễ, hình diệu dàng như khúc gổ, mặc áo vá quàn bằng vải tám, quần đen lên nước v.v. …
Nếu ai có xí được làm ơn đem trã lại cho M.X… ở đường “ không biết”, số nhà “ chưa có”
Vụ quế lậu
Hổm rầy Toà bắt giam thêm nhiều ông hang sa giúp việc tại Thương – chánh về tội đồng loả với bọn chở quế lậu và lại mới nghe ông cò cũng mới bắt thầy Báo là người giúp việc ông L ( là ông Louvet)
Quan Trạng – sư Foray có xin đễ ngoại hầu toà tra ông B ( là ông Bourguignat) nhưng mà quan Thẩm – án là ông Arrin không nhận đơn, nên ông Bourguignat xin phúc qua phòng Thẩm cáo ( Chambre des missen accusation)
Xét sổ sách
Đang lúc nầy quan Thẩm – án Arrin hết lòng lo lắm thế nào kiểm sổ  sách, vì sổ sách đều viết bằng chữ Tàu xét trong sổ sách ấy mới lòi ra đặng các người đồng loả. Ngoặc vì quan Thẩm – án không biết rỏ chữ tàu, nên hết lòng chọn đặng người tin cậy mà phú – thát việc ấy là M. V…
TOÀ CÒN TRA XÉT
Hỏi chỗ làm
Quận Quản – Châu – Văn ( Kouang Tchéou – Wan) muốn cần dùng nhiều thầy lương bổng mổi năm 240 $ 00 và lại có 15$00 tiên phụ thêm, nghĩa là lương mỗi tháng 35$00.
Ai muốn xin chổ ấy thì tuổi ít nữa 18, còn lớn hơn hết thì là 30. đơn xin thì phải gởi lên quan Thống đốc Nam – ký (Section du personnel). Phải ghiêm theo đơn những giấy tờ kễ ra sau nầy:
1.    – Tờ khai sanh
2.    – Giấy tấnh hạnh
3.    – Tờ sau lục án toà,
4.    – Giấy quan thầy chứng rằng mình đủ sức chịu đựng phong – thổ Quản – Châu – Văn
5.    – Câp bằng tốt nghiệp
Bà hỏi thăm lò gốm
Hôm nọ mười hai giờ trưa tại đường An –bình, lữa phát cháy tiêu hơn 10 mấy cái nhà lá, gió thổi ngã qua đường quai Belgique nên cháy luôn lò gốm Đào – xương – long. Tàng lữa bay qua khỏi sông cháy thêm một cái nhà lá tại làng Chánh hưng. Sự thiệt hải phỏng định chừng 50000$00
TRÀ –VINH
Thầy Pháp dị đoan
Hồn khôn nhập xác. Vía dại đi lạc.
Vậy hôm nay tôi thấy sự lạ đáng cười, nên mới cho quí bà quí cô cười chơi cho tiêu khiển.
Tại làng Ngưu – Sơn ( Trà – Vinh) có nhà thợ bạc T.H. L vợ là thị B đau nóng lạnh sơ sài, trong nhà có ăn, mới rước đặng một ông thầy pháp có danh đến mà cúng cho vợ, lúc ấy 8 giờ tối đêm 12 juin 1918. thầy Pháp mới biểu chủ nhà kêu người cầm vía lấy hồn cho nhập xác.
Lúc ấy trong nhà có một người cậu tên S mới nói tôi biết cầm vía. Oâng thầy ngở là thiệt, mới hô lịnh khiển tường, hồn khôn mới về, cậu ta quày quả lên lia lên lịa, lúc ấy bịnh nằm trong phòng chật chội nên đòi ra giường ngoài mà nằm. Hồn khôn đi kiếm xác mà nhập lần thứ nhứt, mới xã hồn khôn, ông thầy biểu cầm vía lần thứ nhì cho đủ lẻ. Tên S liền cầm vía dại dục lên  rà rà làm tuồn lờ khờ kiếm đường đi mà kiếm xác đăng nhập, lúc đó chừng mười giờ khuya, bịnh nằm ngoài lạnh mới dời vô chỗ cũ mà nằm. Tên S. cầm vía dại đi, đi vô tưởng xác còn nằm ngoài, không dè xchổ ấy thị E lại choán chổ ấy nằm, vía vô lật – đật nhập trên váng thị E, thị E lúc ấy sợ sệt la ôm sòm nói rằng không phải, không phải tôi mới đến nằm đây,
Lúc ấy vía dại mắc cỡ vục chạy mất, anh chủ nhà lòng buồn muốn làm gà mà hạ tổ đưa thầy. Sự nầy đáng nói cho quí bà và quí cô cười chơi, thưở nay hồn vía của người sao mà không biết hơi người lại nhập cho kẻ khác.
Aáy vậy bịnh thấy sự lạ vậy cũng thuyên lần lần.
Làng Ngưu – Sơn ( Trà – Vinh)
Mademoiselle Điền, Ecolìerè

VIỆC NƯỚC NGOÀI
Việc tốn hao của người Aêng – lơ – măn
Trong đám giặc nầy
Quan Hạ – bộ thượng – thơ của Aêng – lơ – măn nói rằng, trong kỳ sáu tháng sau năm 1915, 16 thì hao tốn mổi tháng 20.000.000 Marks, còn năm tháng sau thì tốn mổi tháng 3.000.000.000 marks
Xin nói lại rằng các nước theo phe Aêng – lo – măn từ ngày khởi giặc cho đến giờ thì tốn có 180.000.000.000.000 marks.
Người c4ng có tin các nước  chinh – chiến cả thảy tốn hao chừng 500.000.000 marks thế thì Aêng – lơ – măn mổi người tốn 1600 marks, còn Aêng – lê 2400 marks, và Langsa 2500 marks.
Chuyện con nai chà bỏ vào túi được
Con thú nhỏ quái dị nầy, bề cao nó từ cẳng tới vai, không đầy một tấc rưởi. Bộ cất vó, mới tiềm được ít lâu đây. Thưở xưa nó sanh bên nước New – york, trước hơn khi có người ta tại đó, lâu lắm. Có lẻ nó cũng chạy chơi trong mấy đám rừng chổ mấy con thú lớn sầm sầm khi đi gặp gì thì đạp nhẹp nấy.
Không biết chắc phải con nai chà nầy là loại chăn chắc thưở xưa chăng, hay tại nó có đẹt như vậy. Chớ theo xương cốt mà họ tiềm được đó, thì là xương con thú lớn tuổi, đủ hình đủ vóc.
Sấp bộ xương đó lại, thì ra hình con nai nhỏ, dễ bỏ vào tuối áo rộng được, thế khi thưở loại nai ấy còn, thì nó gặp nhiều thứ thú nghịch làm cho loại nó mau tuyệt, và chắc một con chuột cống to, thình lình đón chụp nó, thì nó cũng đu chết.
Bởi đó cho nên con nai chà nhỏ nầy, trước khi rốt đời hồng – thuỷ thì nó đã nhập theo mấy loại tuyệt giống rồi.
( Rút trong Famille Annamite)
PHNOM – PENH BAZAR
Trường xuân
Bán sỉ                                                                                                             Bán lẻ
Tại xứ ta, người Tàu và Aán – Độ chẳng phải là bán ròng hàng hoá, nước họ đem qua, phần nhiều mua của các hảng tại Saigòn.
Đây bổn hiệu đã tầm đến gốc cội ( chánh các nhà công nghệ) hàng ngoại quốc mà sĩ lại  cho họ, kễ đã mười năm trời. Vậy ai muốn sĩ vật chi, hảy mua một ít món hàng kiễu bán thữ coi, rồi sau sẻ mua nhiều thì bổn hiệu cũng tính giá sĩ gởi contre rempoursement cho.
Xe hơi, xe ngựa nhiều thứ, đồng hồ, tàu lặng, kiến để hình, hình có khuôn, chưng đèn , mổi hộp mười hai thứ khác nhau, ( đồ trẻ chơi) …………………………………. 0$90
Cartes postales giặc Aâu – châu
Một trăm……………………………………………………………………………………2.50
Khăn bàn lông dệt bông hoa hoè,
1m 45 x 0m67     12 cái      10$00
Giấy viết thơ, mổi hộp 50 tờ, 50 bao đôi có màu.
“ Toile Superfine”  12 hộp …………9$85
“Costte”                   12 hộp…………9 $ 80
“ Ydylle”                 12 hộp………….8 $55
Bao thơ vàng thứ thường
Một ngàn cái……………………………………3.00
Bàn chải răng, 12 cái ………………….1.30
Le Directeur – Gérant
Lý – Hữu – Dư
25 – 26 Quai Pique Phnom - Penh

TIỂU THUYẾT
(Feuilleton)
BĂNG THUYẾT NHƠN DUYÊN
( Tiểu thuyết Tàu)
(tiếp theo)
Chúng gia – nhơn làm thinh hết, quan Huyện truyền đam đồ giáp côn và roi vọt ra tra, chúng đều thất kinh, liền bẩm rằng: Tờ đó là tay Quá – công – tữ viết ra, biểu anh em đam đó mà dán, quan Huyện hỏi: Có thiệt vậy là không ? Chúng đều nói: quả thiệt như vậy. Quan Huyện nói: bữa nay mắc có quí khách, nên ta tha tội cho chúng bay, hảy đi về cho mau mau, nếu chậm trể thì bổn quan đánh chết, lại biễu nha – dịch rằng; phải kiếm một cái kiệu cho tử tế mà đưa Băng – tiểu – thư về nhà, chúng đều vâng lịnh thi – hành hết. Các việc đâu đó xông rồi, quan Huyện truyền gia – nhơn dọn tiệc rượu bưng ra, mời Thiết – công – tữ uống rượu, khi đó Thiết – công – tữ thấy Băng – tiểu – thư được bình an, trở về nhà rồi, trong lòng vui mầng, cũng không từ chối, ngồi lại mà uống rượu cùng quan Huyện. Khi rượu được nữa tuần,, hơi men đỏ mặt, quan Huyện nói: Tờ cáo thị đó, tuy thiệt là Quá – công – tữ làm ra, mà Hạ – quan tưởng khi Quá – công – tữ cũng không hề biết tới. Nay truởng huynh muốn đem tới thưa với Phủ – đài, thì chẳng những Quá – công –tữ bị tội mà thôi. Quá – học – sĩ cũng phạm tội thất giáo, còn Hạ – quan cũng mang tội bất minh, xin Huynh – trưởng thứ tình chân chế cho Hạ – quan một ít, Thiết – công – tữ nói: trong bụng học – sanh không chấp nhứt chuyện gì hết, chỉ vì tình cờ, gặp việc oan khúc cũa Băng – tiểu – thơ đó mà thôi,  nếu như Quá – công – tữ đừng kiếm chuyện, mà khuấy rối Băng – tiễu – thơ, thì học – sanh cũng không có kiếm chuyện Quá – công –t ữ làm chi cho vô ích. Quan Huyện nghe nói cã mầng, mà rằng: “ Trưởng huynh là một nghĩa hiệp, ít có ai bằng. Tiệc rồi, Thiết –công – tữ tạ từ lui chưng, Quan Huyện mới hỏi trú ngụ ở đâu ? Thiết – công – tữ nói: Học – sanh là một người du – học, không định ở chổ nào. Quan Huyện sai người đưa qua nơi chùa Trường – thọ an nghỉ, để ngày mai rồi sẻ chuyện trò, cho phỉ tình ao ước.
Nói về Quá – công –tữ khi thấy gia nhơn trở về, đi không về rồi, mới hỏi ra cớ sự, bèn tới bẩm lại các duyên do quan Phủ hay, quan Phủ lại sai người đi mời quan Huyện tới hỏi việc.
Khi quan Huyện tới nơi, thuật lại các sự tích cũa Thiết – công – tữ khi còn ở kinh, cho tới khi đi đường, gặp gia nhơn Quá – công – tữ giã –t ruyền thánh – chỉ mà bắt hiếp Băng – tiểu – thơ, như việc nầy làm ra, chẳng những là Quá –công – tữ với Quá – học – sĩ mang tội mà thôi, dầu cho Thựơng – ty ( là quan phủ) với Hạ – quan cũng không khỏi tội, nên phải xữ huề cho xuôi chuyện, rồi sẻ tính việc về sau, quan Phủ nghe nói cũng lắc đầu, rằng : Bởi Quá – huynh làm nhiều điều rắc rối lắm. Quá – công –tữ nghe nói nổi giận phừng phừng mà nói rằng: nó anh hùng thì tôi đây cũng anh hùng, chớ tôi lại thua nó hay sao ? Nó chẳng qua là con một ông quan Đô – sát – viện, còn tôi tuy bất tài, ông già tôi cũng làm chức Học – sỉ, can mắc gì tới nó, mà nó đi gánh vác việc giữa đường, quan phụ – mẫu ( là quan Huyện) cũng không thương, mà làm cho nên việc. Quan Huyện nói: chẳng phải là Hạ – quan không có vị tình, ngặt vì Thiết – công – tữ đã lấy được tờ Hiền – khế mạo tả chiếu thơ, tội lớn bằng trời, vị tình sao cho đặng, Quá – công –t ữ nói: y như lời cũa quan – phụ – mẫu thì việc nhơn – duyên cũa vãn – sanh, bỏ trôi theo giòng nước chảy đó mà thôi. Quan Huyện nói:  sự nhơn duuyên tại trời, Hiền – khế phải nói chi tiếng nói đó, còn như muốn mưu sự, thì Hiền – khế muốn làm sao thì làm. Quá – công –t ữ nói: mưu sự gì nữa. Quan Huyện nói: Thiết – công – tữ tới đây, cô thân độc mả, nay Hạ – quan đã gởi qua nơi Trường – thọ – tự nghĩ an, Hiền – khế hãy về mời mưu – sỉ luận bàn, có kế gì hay sẻ tính. Quá – công – tữ nghe nói, lật đật lui chưng, còn quan Huyện cũng từ giã quan Phủ ra về một lượt.
( Sau sẻ tiếp theo)
Mỗi tuần xuất bản một số, trong vòng 6 tháng Nữ Giới Chung cho ra 22 số cả thảy. Vậy ở đây thiếu số 2, 19

Chia sẻ liên kết này...

Add comment


trinhduyson