
Ở đầu thế kỷ XIX, có một nhân vật của Đà Nẵng rất đáng để hậu thế học tập về tinh thần cầu tiến là Tiến sĩ Phạm Phú Thứ. Cho đến nay chúng ta vẫn còn ngạc nhiên về những gì “mắt thấy tai nghe” mà cụ đã thể hiện trong tập Tây hành nhật ký - bắt đầu từ ngày 21.6.1863 và kết thúc vào ngày 28.3.1864 - nhân chuyến đi sứ của các quan chức cao cấp triều Nguyễn sang Pháp và Y Pha Nho nhằm thương lượng, chuộc lại đất đai của Nam Kỳ đã mất vào tay giặc Pháp. Cùng trong chuyến đi này, nếu cụ Phan Thanh Giản cho rằng, “bá ban xảo nghệ” phương Tây có thể sánh bằng trời đất “trên cả tuyệt vời”, chỉ có sự sống chết họ chưa can thiệp được mà thôi, thì cụ Phạm Phú Thứ có phần bình tĩnh hơn. Theo cụ:
Giá như phương Đông sớm giỏi công nghệ,
Ba- lê, Luân-đôn chắc gì đã hơn ta.
Chính nhờ sự quan sát, ghi nhận và học hỏi lúc trở về nước, cụ mới có thể giúp cho nông dân nhiều địa phương cải tiến cách tát nước vào đồng ruộng. Nếu trước đây dùng sức người với gàu sòng, thì nay cụ sáng tạo bánh xe tát nước với sức trâu. Ở xứ Quảng, sáng kiến này được người ta gọi bằng cái tên thân mật, trìu mến “xe trâu”. Trong bài thơ “Đứng trên bờ Nông Giang xem xe nước nhớ em cô là Tư vụ Lương Văn Tấn”, cụ viết:
Mạch Tây chuyện lạ ai còn nhớ?
Ta nhớ đến người biển Việt xa.
(Quang Uyển dịch)
Câu thơ này cho biết, cụ đã thấy xe trâu này ở Ai Cập. Mạch Tây là tên nước Ai Cập xưa phiên âm tiếng Hán. Ai dám chắc là ngoài việc ghi chép, cụ không vẽ lại hình ảnh “xe trâu” ở xứ người để sau này đem về áp dụng tại cố hương? Có thể nói, cụ Phạm Phú Thứ là người xứ Quảng có tư tưởng canh tân một cách triệt để”.
Phạm Phú Thứ sinh ngày 27.1.1821 trong một gia đình có truyền thống hiếu học, đậu Tiến sĩ năm 22 tuổi. Cụ ra làm quan trong tình thế đất nước đang có nhiều biến động. Sự kiện quan trọng nhất là năm 1862, triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước Nhâm Tuất, cả thẩy có 12 điều khoản, nhưng đau đớn nhất đối chúng ta vẫn là điều khoản thứ 3: “Ba tỉnh miền Đông là Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn được nhượng cho nước Pháp. Nước Nam không được ngăn trở tàu buôn Pháp mượn đường sang buôn bán với Căm-bốt và cũng phải để chiến thuyền Pháp tự do vào thám hiểm trên các sông ngòi của nước này”.
Than ôi! Đất Gia Định là đất khai nghiệp của nhà Nguyễn, là đất quê ngoại của vua Tự Đức chính vì thế nhà vua càng đau đớn, càng dằn vặt... Bằng mọi cách phải chuộc lại ba tỉnh đã mất. Tháng 6.1863, vua Tự Đức cử quan Hiệp biện Đại học sĩ Phan Thanh Giản làm chánh sứ, quan Tham tri Lại bộ Phạm Phú Thứ làm phó sứ dẫn đầu phái đoàn sang Pháp.
Nhân đây xin nhắc lại, lâu nay trên các sách sử đều “lưu truyền” giai thoại chính Phạm Phú Thứ là người có “sáng kiến” đã lấy khăn gói màu đỏ tươi để làm cờ khi tàu sắp vào Kênh Suez, vì “theo thủ tục quốc tế, khi tàu của một vị sứ thần ngoại quốc đến một hải cảng nào, thì hải cảng ấy phải bắn 19 phát súng lệnh để chào mừng, và tàu phải thượng quốc kỳ của mình lên để đáp lễ. Vậy xin đại sứ thượng quốc kỳ của nước Đại Nam lên cột tàu để đáp lễ cùng chính phủ Ai Cập khi họ bắn súng chào”. Do phái đoàn không lường trước tình thế này nên trong “cái khó ló cái khôn” như trên. Để cho “hợp lý” nguời ta còn cho biết các đại quan nhà ta đã thêu vào cái khăn ấy bốn chữ “Đại Nam Khâm Sứ” thượng trên đỉnh cột tàu Européen phấp phới vẫy chào đáp lễ. Thật ra thông tin này không đáng tin cậy, trước một sự kiện quan trọng như trên tại sao các chính sử không ghi lại; hơn nữa, Phạm Phú Thứ là “người trong cuộc” sao ông không ghi lại trong nhật ký của mình?
Sau chuyến đi này, Phạm Phú Thứ đã làm được một việc rất đáng quý. Cụ đã dâng vua Tự Đức tập Tây hành nhật ký, Tây phù thi thảo cùng nhiều bản ghi chép những điều mắt tai nghe lúc đi công cán. Không những thế, cụ còn tìm kiếm, sưu tập những cuốn sách liên quan đến nhiều lãnh vực khác. Chẳng hạn, Bác vật tân biên (sách về khoa học kỹ thuật), Khai môi yếu pháp (sách về cách khai mỏ), Hàng hải kim châm (sách về cách cách đi biển), Vạn quốc công pháp (sách về cách giao thiệp quốc tế)... Tiếc rằng, vua Tự Đức đã không đánh giá hết những tư tưởng canh tân của cụ.
Một dịp may khác có ý nghĩa tác động đến tư tưởng canh tân của cụ là năm 1856, lúc đang làm Án-sát Thanh-Hóa, ông được nhà vua giao nhiệm vụ hướng dẫn việc chế tạo một chiếc tầu thủy vận tải “kiểu mới” và một chiếc tầu bọc đồng. Một quan văn lại giỏi việc thao tác khoa học kỹ thuật đến mức được “khen thưởng bốn lần” cũng là điều lạ. Cũng chính trong thời điểm này, cụ đã dâng lên vua Tự Đức tờ tấu “Niết ty Thanh Hóa mạnh xuân thỉnh an, giáp trần thời chính”.
Năm 1858, cụ được chuyển về Nội các, thăng Thị lang (1861) rồi Tả Tham tri bộ Lại (1863), rồi được cử đi công tác trong phái đoàn của Phan Thanh Giản như ta đã biết. Từ những năm tháng này trở về sau, Phạm Phú Thứ lại tiếp tục dâng lên nhà vua nhiều cải cách quan trọng khác. Chẳng hạn, trong tờ tấu Về việc đẩy mạnh hoặc sửa đổi trong chính sự ngày nay, ông đề nghị: “Thứ nhất, bỏ qua lỗi nhỏ để dùng được người, bớt văn án phiền hà để trừ mối tệ. Bởi việc phiền hà thì kẻ lại sinh gian, dùng người không đúng việc thì người không hết lòng với công việc... Thứ hai, cấp lộc nhiều để khuyến khích kẻ sĩ, dùng đúng tướng để quân đội mạnh lên. Bởi lộc không đủ là hại dân, tướng không quyền thì quân đội rời rạc. Có người hiền tài thì nhà vua chia chức với họ, cùng họ lo công việc để mà trị nước.Chứ như sớm tối cặm cụi với công việc mà lộc không bằng đi cày thì khó mà trách họ không giữ được nền nếp kẻ sĩ quân tử...”.
Cũng trong tờ tấu này, cụ viết: “Ngoài ra, mọi người còn chung ý kiến: vệ binh trong ngoài kinh thành quá nhiều. Người xưa nói: ba nghĩa quân có thể phá vây, hạ thành chứ chưa nghe dùng mấy vạn để dọa người. Nay ở kinh đô có tới hơn vạn, quân ở các tỉnh lớn tới bốn năm nghìn, còn thì hàng nghìn, hàng mấy trăm Song hàng nghìn hàng trăm quân ấy chắc gì đã thắng vì ngày thường binh không được huấn luyện, khí giới không được sắc bén vậy. Nay xin một phen chấn chỉnh việc tồ chức quân đội, lựa chọn kỹ càng các cấp chỉ huy, cấp cho vũ khí mới và lợi hại, giao trách nhiệm và quyền hành huấn luyện, ắt là họ coi thường cái chết, hóa ra tinh nhuệ, có thể tin cậy được, thật hơn xa việc phô trương số lượng binh nhiều nhiều. Vả lại, nuôi quân, luyện tập là việc cấp bách hiện thời...”
Ổ con người Phạm Phú Thứ, lhông chỉ giỏi lý luận, có nhiều kiến nghị, lập luận sắc bén mà còn là con người của thực tiễn. Chẳng hạn, năm 1867, cụ đề nghị mở cảng ngoại thương ở Hải Yên (Hải Dương, Quảng Yên); tháng 4.1878 cụ mở trường dạy chữ Tây cho nha Thương chính Hải Dương, mỗi tháng cấp một quan tiền và một phương gạo cho những người đi học; mở lại nhà xuất bản Hải Học đường (có từ đời Gia-Long nhưng đã đóng cửa), cho in lại một số sách dịch sang chữ Hán về khoa học và kỹ thuật v.v...
Phạm Phú Thứ còn là vị đại quan luôn quna tâm đến đời sống của người dân nghèo. Trong Đại Nam liệt truyện cho biết: “Như khi ở Hải Đông, hạt Quảng Nam luôn năm đói kém, mà việc tuần phòng ở ngoài biển thì gạo cấm khá nghiêm, bèn thương lượng tạm bỏ điều cấm, hoặc quyền nghi cho thuyền chốn người Thanh, người Kinh đáp chở gạo bắc về Quảng Nam phân tán phát mại. Ông còn bỏ liêm bổng ra mua 1.000 phương gạo gửi về chia ra phát chẩn cho dân đói ở hạt huyện, nhân đó cứu sống được nhiều người, đến nay người vẫn còn nhớ”.
Điều đáng tiếc là những tư tưởng canh tân của Phạm Phú Thứ (cũng như của nhiều người cùng thời) đã không được triều đình nhà Nguyễn đánh giá đúng mức. Cụ cay đắng: “Thần đột nhiên nửa đêm một mình đứng dậy, nổi giận đùng đùng, có khi ngồi một mình, lặng lẽ rơi nước mắt, không biết nói gì”. Phạm Phú Thứ mất năm 1882. Có thể nói, cùng với chương trình cải cách của Nguyễn Trường Tộ, kế hoạch cải cách hiện đại hóa của Nguyễn Lộ Trạch và của những nhân vật cùng thời có đầu óc tiến bộ, cụ Phạm Phú Thứ đã góp phần quan trọng hình thành dòng tư tưởng canh tân ở nước ta vào sau nửa thế kỷ XIX, mở ra tiền đề cho phong trào Duy tân đầu thế kỷ XX.
L.M.Q
(nguồn: Giai phẩm Công an Đà Nẵng Xuân 2026)
| < Lùi | Tiếp theo > |
|---|