THỂ LOẠI KHÁC Biên Khảo LÊ MINH QUỐC: LỜI NÓI ĐẦU TẬP SÁCH “ĐẸP XƯA” CỦA NHÀ VĂN SƠN NAM

LÊ MINH QUỐC: LỜI NÓI ĐẦU TẬP SÁCH “ĐẸP XƯA” CỦA NHÀ VĂN SƠN NAM

LÊ MINH QUỐC: LỜI NÓI ĐẦU TẬP SÁCH “ĐẸP XƯA” CỦA NHÀ VĂN SƠN NAM

 

649648444_26955580154044575_2827845531151114715_n


1.  ĐẶT VẤN ĐỀ

Vì sao tập sách này đến tay bạn đọc?

Trước hết, mời quý bạn cùng chia sẻ với tâm tình, suy nghĩ của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Y. Năm 1973, tại Sài Gòn, ông Y đã công bố sưu tập Thơ vịnh Kiều; năm 1992, ông Y đã cho nhà thơ Chế Lan Viên mượn để chép tay lại tập thơ Gái quê in năm 1936 của nhà thơ Hàn Mặc Tử, nhờ đó Nhà xuất bản Hội Nhà văn mới có bản thảo in lại. Nhắc vài chi tiết này để thấy nỗi niềm của ông Y, với cái nhìn không chỉ của nhà nghiên cứu mà còn là người sưu tập sách - gia đình ông từng sở hữu tủ sách đồ sộ. Trên Đồng Nai văn tập số 6 (ra tháng 5 - 6 năm 1966), mở đầu cho loạt bài viết về những nhà thơ tiền bối ở miền Nam nổi tiếng một thời nhưng thời sau đã bị lãng quên, ông viết rằng:

“Giở bất cứ quyển văn học sử Việt Nam nào, từ quyển Morceaux choisis I d’auteurs Annamites của G. Cordier cho đến những quyển xuất bản gần đây nhất, chắc ai cũng đều nhận thấy phần văn học miền Nam chưa được khai thác đầy đủ.

Sự thiếu sót ấy không phải lỗi tại những nhà viết văn học sử có thành kiến kỳ thị địa phương cũng không phải vì văn học miền Nam chẳng có gì đáng nói.

Chúng tôi nghĩ mảnh đất miền Nam mới được khai khẩn hoàn thành trong mấy trăm năm nay, lại sớm là thuộc địa của Pháp, thì lẽ dĩ nhiên kho tàng văn chương ở đây không được phong phú như ở đất “nghìn năm văn vật”. Nhưng không phải vì “sanh sau đẻ muộn” mà văn học miền Nam quá ít ỏi, tầm thường đến đỗi không có một chỗ đứng xứng đáng trong quyển sách văn học sử Việt Nam. Chẳng qua vì ngót một thế kỷ thuộc Pháp, với chính sách “chia để trị”, bọn thực dân đã cố tình làm cho hai miền cách biệt, sự đi lại không được dễ dàng, khiến cho những nhà nghiên cứu văn học ở đất Bắc ít cơ hội tìm hiểu cặn kẽ văn học miền Nam. Chính vì lẽ đó, những kẻ sinh trưởng trên vùng đất phì nhiêu Đồng Nai - Bến Nghé như chúng tôi tự thấy có bổn phận phải khai quật những di sản tinh thần của tiền nhơn.

Chúng tôi thiển nghĩ ở một nước chưa được phát triển đúng mức như ở các đất nước tiên tiến, nếu muốn có một bộ văn học sử tương đối hoàn hảo, mỗi một người trong chúng ta nên bắt đầu nghiên cứu từng tác giả, từng tác phẩm cho thật chu đáo, rồi các học giả sau này sẽ tổng hợp tất cả những công trình nghiên cứu đó để xây dựng lại bộ văn học sử Việt Nam”.

Ý kiến này xác đáng.

Tập sách Morceaux choisis d’auteurs Annamites của G. Cordier do Nhà xuất bản Lê Văn Tân (Hà Nội) in năm 1932, ý

kiến của ông Nguyễn Văn Y nêu ra từ năm 1966, liệu chừng đến nay (2025) đã có gì thay đổi? Chúng tôi nghĩ đã có nhiều dấu hiệu khả quan, tuy nhiên trong thế giới phẳng hiện nay, với việc dễ dàng tiếp cận nhiều tài liệu sách báo, ta nhận thấy về văn học miền Nam vẫn còn nhiều “khoảng trống” về tác giả - tác phẩm. Chỉ riêng thư viện điện tử Galica của quốc gia Pháp khi tham khảo, tìm kiếm tài liệu, ta càng thấy rõ điều này.

Vì lẽ đó, tập sách này ra đời không ngoài mục đích thu nhặt thêm tài liệu về một nhà văn tiêu biểu của miền Nam: Sơn Nam.

Sơn Nam là ai?

Ở đây, chúng tôi chỉ nêu một nhận xét tiêu biểu của người viết cùng thời với ông là nhà văn Bình Nguyên Lộc: “Sơn Nam là một tâm hồn lạc lõng trong thế giới buyn-đinh, trong thế giới triết hiện sinh, tranh trừu tượng và nhạc tuýt. Nhưng đó là một tâm hồn đẹp không biết bao nhiêu, đẹp cái vẻ đẹp của lọ sứ Cảnh Đức Trấn Tây Giang, có khác lọ hoa Ý Đại Lợi ngày nay, và ít được người đời thưởng thức hơn là họ đã thưởng thức một tiểu thuyết gia chuyên viết truyện tình chẳng hạn, nhưng phải nhìn nhận rằng cái đẹp Sơn Nam ‘bất hủ’”.

Khi đánh giá về bất kỳ tác giả nào, thao tác trước nhất vẫn là từ tác phẩm của họ, những gì họ đã viết, qua đó, ta tìm hiểu họ trình bày về quan niệm, khuynh hướng sáng tác, kể cả nhân sinh quan lẫn triết lý sống như thế nào.

Với nhà văn Sơn Nam, từ lâu nay Nhà xuất bản Trẻ là đơn

vị đầu tiên và duy nhất ký hợp đồng tác quyền trọn đời toàn bộ tác phẩm của Sơn Nam. Tuy nhiên có một điều khiến chúng ta cần suy nghĩ là hiện nay vẫn còn nhiều bài viết của ông in rải rác trên báo chí trước năm 1975 tại miền Nam vẫn chưa tập hợp đầy đủ. Đó là điều đáng tiếc, bởi với một nội lực, kiến thức sâu rộng về vùng đất và con người miền Nam đã thể hiện ròng rã qua một đời cầm bút, tận tụy với nghề, thiết tưởng những trang viết ấy còn hữu ích cho thế hệ sau. Từ suy nghĩ này, chúng tôi đã tìm kiếm lại những gì ông viết, đã in báo nhưng chưa in thành sách, không ngoài mục đích cung cấp thêm cho bạn đọc dễ dàng tìm đọc nhiều hơn nữa những đóng góp về văn hóa miền Nam của Sơn Nan

từ văn bản.

Thử hỏi, công việc này có lẩn thẩn lắm không?

Dám thưa rằng không. Vì rằng hiện nay, chúng ta đã có nhiều toàn tập quý báu, có thể kể đến toàn tập của các nhà văn khác như Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng v.v. thì nhà văn Sơn Nam cũng cần được như vậy, bởi những gì ông đã viết lâu nay đã thuyết phục được bạn đọc lẫn những ai làm văn học sử. Mà cần phải nhấn mạnh, với nhiều tác giả trong Nam cũng cần tôn vinh xứng đáng như thế, còn có thể kể đến trường hợp nhà văn Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng, Đoàn Giỏi...

Tập sách này đến tay bạn đọc, tâm nguyện của chúng tôi không khác nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Y: “Chúng tôi tự thấy có bổn phận phải khai quật những di sản tinh thần

của tiền nhơn”. Rất cảm ơn Nhà xuất bản Trẻ đã tán thành suy nghĩ này.

2.  THỂ LOẠI SƯU TẬP

Ta có gì hơn bác thợ cày,

Dọc ngang đồng đất chẳng ngơi tay.

Hai câu thơ tự bạch của nhà văn hóa Nguyễn Đổng Chi, theo chúng tôi cũng có thể dành cho nhà văn Sơn Nam. Cả cuộc đời của ông chỉ sống bằng nghề viết, ngoài ra không có bất kỳ một thu nhập nào khác, từ nhuận bút. “Nhưng con người nào phải là cái máy, đau ốm mà viết đều đều là một cực hình” - trả lời phỏng vấn trên tạp chí Văn (1969), ông cho biết.

Do “đơn thân độc mã” tại Sài Gòn, lại là người của cuộc kháng chiến 9 năm miền cực Nam Tổ quốc, nhà văn Sơn Nam phải “tự thân vận động”, không thể trông cậy vào ai khác. Viết đối với ông là một cách để “tồn tại” nhưng còn có thể hiểu theo nghĩa đen là vì sinh kế. Chính vì sự thôi thúc này nên hầu như ông “chẳng ngơi tay” trên cánh đồng chữ nghĩa.

Tựa như bác nông dân lực lưỡng, giỏi nghề và yêu nghề, Sơn Nam đã thể hiện tài năng lẫn kiến thức chuyên sâu ở nhiều thể loại. Khi sử dụng từ “chuyên sâu” là chúng tôi ngụ ý dù thể loại nào, ông cũng chỉ bám sát chủ đề duy nhất: Vùng đất và Con người miền Nam trong dòng chảy thống nhất của lịch sử - văn hóa Việt Nam. Chính sự kiên tâm, bền

lòng, không đi chệch mục tiêu ngay từ lúc mới bước chân vào làng văn cho đến tận cuối đời, Sơn Nam đã để lại một “di sản văn hóa” có tầm vóc về chất và lượng.

Có những tác giả, thời gian càng lùi về sau, người ta càng nhận ra sự hữu ích, cần thiết từ tác phẩm của họ để lại, Sơn Nam là một trong số con người tài hoa ấy. Tức là những người đủ sức tự “bảo kê” cho chất lượng tác phẩm từ chính nó, chứ không phải cậy đến sự quảng bá nào khác.

Với Sơn Nam, thể loại viết của ông đa dạng, ngòi bút ấy có thể “tác chiến” trên nhiều lĩnh vực, vì thế, để bạn đọc dễ theo dõi bản sưu tập này, chúng tôi mạo muội chia thành ba phần riêng biệt, dù nhìn chung vẫn là sự liên quan với nhau, khó có sự tách biệt rõ ràng.

•    Biên khảo

Có thể nhắc đến những tạp chí đã in:

Giữ thơm quê mẹ - số 1 phát hành ngày 1-7-1965, cuối cùng là số 12 (tháng 6-1966), các cây bút cộng tác thường xuyên là Thích Nhất Hạnh, Vương Hồng Sển, Hồ Hữu Tường, Phạm Duy, Sơn Nam, Nguyễn Hiến Lê, Võ Hồng, Tam Ích... Nhà văn Sơn Nam đã có chín bài viết như Cấm bắt rùa, Sắc màu Hậu Giang, Ngày hội tháng Giêng ở Sài Gòn...

Đồng Nai văn tập - theo Thư tịch báo chí Việt Nam (NXB Chính trị Quốc gia - 1998): “Sài Gòn. Năm 1966. In typo, 275x200cm”. Tuy nhiên với tài liệu đang có, ta xác định số 1 phát hành tháng 11-1965, thì đến ngày 15-10-1968, ra được cả thảy 22 số (?), không rõ sau đó thế nào - không có

thông tin. Trong 22 số báo này, ngoài bài viết Góp ý về địa phương chí, đáng chú ý là Sơn Nam có loạt bài khảo cứu Về quê tìm cổ tích, in từng kỳ nhưng không liền lạc, có số “tạm gác” và cuối cùng là dừng lại, dù cuối bài vẫn ghi “còn nữa”, không rõ do lý do gì?

Nhân loại - theo Thư tịch báo chí Việt Nam (NXB Chính trị Quốc gia – 1998) tạp chí này “Số 1 (bộ mới) phát hành ngày 5-3-1955”. Chi tiết này cho thấy, sau Hiệp định Genève, từ U Minh Rạch Giá lên Sài Gòn, Sơn Nam đã chính thức bước chân vào làng báo. Tạp chí này, nhà văn Ngọc Linh làm Thư ký Tòa soạn, quy tụ những cây bút có cảm tình với kháng chiến như Bình Nguyên Lộc, Lưu Nghi, Trang Thế Hy, Nguiễn Ngu Í... Do không đầy đủ tài liệu, chúng tôi chỉ biết ông đã cho đăng dăm bài, đáng chú ý là khảo cứu về “Nông cụ chiến lược: Cây phảng và phát thế”. Qua đó, ông đã giải quyết xong vấn đề mà hiện nay vẫn còn tranh luận: Cây phảng là của người Khmer hay sáng tạo của người Việt thời khẩn hoang?

Thanh Minh - Thanh Nga, đây là giai phẩm kỷ niệm những năm thành lập đoàn hát này, từ năm 1950, trong đó Sơn Nam có bài “Hoài niệm ông Tổ cải lương (tập 14), “Nói về miền Nam” (tập 15), “Bàn về thành kiến ‘xướng ca vô loại’” (tập 16).

Thật thú vị, với tạp chí Thời văn, số 1 phát hành ngày 14- 2-1975, có thể xem: như một trong số ít ỏi ấn phẩm cuối cùng của làng báo Sài Gòn được phát hành trước ngày thống nhất, Sơn Nam đã có bài “Văn chương yêu nước miền Nam”.

Do tạp chí này chỉ vừa ra một số, và, ngay sau đó thời cuộc thay đổi nên hầu như không mấy ai biết đến, kể cả Thư tịch báo chí Việt Nam.

•    Tùy bút

Gồm những bài viết của Sơn Nam đã in như trên tạp chí Văn: “Kỷ niệm về nhà thơ Nguyễn Bính trong thời kháng chiến ở miền Nam”; Thời tập: “Đọc tác phẩm đầu tay của Bình Nguyên Lộc”; Đồng Nai văn tập: “Đi dạo với GS Nguyễn Thiệu Lâu”, ngoài ra còn là những bài trình bày về nghề viết... Loạt bài này, góp tài liệu, thêm chi tiết cho Hồi ký Sơn Nam mà NXB Trẻ đã ấn hành (2015).

•    Truyện ngắn

Theo Thư tịch báo chí Việt Nam, tại Sài Gòn, Tiểu thuyết thứ năm số 1 phát hành ngày 16-1-1964. Nhà văn Sơn Nam có bao nhiêu truyện ngắn đã in trên báo này? Do không đầy đủ các số báo nên rất khó xác định. Ở đây chúng tôi sử dụng bản thảo sưu tập của nhà văn Trần Hoài Thư, gom góp cả thảy 13 truyện ngắn nhưng sau khi đối chiếu, chúng tôi loại bỏ 5 truyện bởi đã có trong tuyển tập truyện Sơn Nam do NXB Trẻ đã in. Có thể nói, các truyện ngắn này vẫn là phong cách, văn phong nhất quán nhằm bổ sung cho Hương rừng Cà Mau đã tạo dựng nên tên tuổi Sơn Nam.

•    Phụ lục

Muốn tìm hiểu rõ hơn nữa về quan niệm sáng tác, phép ứng xử với thời cuộc của cá nhân nhà văn, một trong những

cách tiếp cận vẫn là từ những gì họ đã trả lời phỏng vấn. Ở đây, chúng tôi chọn bài in trong chuyên mục “Nhà văn phút nói thật” (tạp chí Văn, năm 1969), “Sống và viết với...” (tạp chí Bách Khoa, số xuân Ất Tỵ, 15-1-1965).

3.  LỜI KẾT

Mở đầu cho công việc tìm kiếm lại các bài viết của nhà văn Sơn Nam, chúng tôi lấy tên chung là Đẹp xưa (Tuyển các biên khảo, tùy bút, truyện ngắn trước 1975 chưa in thành sách). Sở dĩ chọn “đẹp xưa” bởi toàn bộ tác phẩm của nhà văn Sơn Nam luôn hướng đến sự cốt lõi trong văn hóa, phong tục của người miền Nam nước Việt, mà đây cũng là nét đẹp nói chung của người Việt. Các bài viết này hoàn toàn phù hợp với mạch cảm hứng và ý thức “về nguồn” của Sơn Nam - là đi tìm cái đẹp đã tạo nên bản lĩnh, cá tính, tập quán, lề thói của người miền Nam.

Với tập sách này, chúng ta hào hứng tìm thấy “đẹp xưa” qua hò chữ, hò mép hò môi, là Về làng quê tìm cổ tích, Viếng Mũi Cà Mau, là Ngày hội tháng Giêng ở Sài Gòn, là nông cụ đặc trưng trên đồng ruộng dưới đồng sâu ở vùng đất mới, là tất cả những gì yêu dấu nhất của con người miền Nam. Dấu vết văn hóa ấy nhìn từ góc độ của cái nhìn biện chứng chính là tấm gương phản ánh thăng trầm của lịch sử. Là lịch sử của con dân nước Việt tại vùng cực Nam của Tổ quốc, ngay từ thuở khai cơ lập nghiệp, khai khẩn đất hoang, dựng nên làng mạc ngày càng sung túc nhưng không lai căng, không đánh mất giá trị văn hóa khởi nguồn từ văn minh sông Hồng.

Từ sưu tập này, chúng ta có thể rút ra được bài học then chốt nhất của nhà văn Sơn Nam đã tâm niệm và đã thành công trong sự nghiệp cầm bút: “Là con dân của một đất nước bị xáo trộn, tôi muốn bám vào lịch sử để mà sống, đề phòng trường hợp bị bứng gốc”. Thiết nghĩ, neo giữ lại, không bị bứng gốc chính là nét “đẹp xưa” đã có, ta nói “xưa” bởi nét “đẹp” đã hình thành từ xưa nhưng không cũ, vẫn mới, vẫn đồng hành cùng hiện tại góp phần giúp chúng ta không chệch hướng.

Nhân đây trân trọng cám ơn nhà báo Minh Lương đã cung cấp truyện ngắn Sơn Nam do nhà văn Trần Hoài Thư sưu tập; nhà báo, nhà sưu tập sách báo Nguyễn Quốc Hương đã cung cấp bài viết của Sơn Nam in trong Thời văn và nhà văn Phạm Công Luận đã cung cấp các bài viết của Sơn Nam đăng trên giai phẩm Thanh Minh - Thanh Nga.

Rất mong mỏi công việc nhọc nhằn tìm về nét “đẹp xưa” dành cho các nhà văn nói chung, trong đó có Sơn Nam vẫn còn được nhiều người lưu ý đến và cùng góp công góp sức.

LÊ MINH QUỐC

7-7-2025

Chia sẻ liên kết này...

Add comment


Việt Tuấn Trinh | www.viettuantrinh.com