
1.Â
Đầu xuân, cùng hướng nhìn ra biển
Nghe sóng âm vang tự Trống đồng
“Kinh tế biển xanh” đang thôi thúc
Khơi dậy tình yêu với núi sông…
Không phải ở thế kỷ này mà hàng trăm năm trước, tư duy và tầm nhìn của dân tộc Việt đã hướng ra biển lớn. Không chỉ sở hữu dài đất hỉnh chữ S nằm dọc theo biển Đông, ông cha chúng ta đã đặt cột mốc chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các tên gọi qua thăng trầm lịch sử, ta có thể kể đến như Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn Lý Trường Sa, Đại Trường Sa… Và, đây chính là núm ruột của non sông nước Việt trong một khối thống nhất.Â
2.Â
Về “lai lịch” của Hoàng Sa - Trường Sa, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cho biết: “Người Bồ Đào Nha bắt đầu thám hiểm đường bờ biển Việt Nam năm 1523. Diogo Ribeiro thấy một khoảng dài rất nhiều đảo san hô và bải đá ngầm ngoài khơi bờ biển cực kỳ nguy hiểm cho thuyền bè đi lại, nếu không biết mà tránh. Ông thăm dò và vẽ quần đảo này với ba sơ đồ của ba năm: 1525, 1527, 1529. Ông đặt tên quần đảo này là Pracel (chỉ có nghĩa là đá ngầm) và là quần đảo của nước Giao Chỉ tức Việt Nam ta. Ông cũng đặt tên bờ biển quần đảo đá ngầm (Costa da Pracel) ở khoảng đất liền Quảng Ngãi. Hàng trăm, nếu không nói hàng nghìn bản đồ khác ở Tây phương đều vẽ theo Diogo Ribeiro, chỉ có khác là ghi âm Pracel thành Parcel hay Paracel. Cuối thế kỷ 19, người Đức và người Anh mới phát hiện, đây là hai phần đảo cách nhau khá xa. Quần đảo phía bắc (Hoàng Sa) vẫn giữ tên Paracel và quần đảo phía nam (Trường Sa) sẽ gọi là Spratly để ghi ơn thuyền trưởng Richard Spratly (1806-1866) người Anh có nhiều công phát hiện các quần đảo trong Biển Đông”.
Khảo sát địa hình nước Nam ta, khi căn cứ vào bản đồ An Nam quốc vẽ thời Hồng Đức (1490) và Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (thế kỷ 17), Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838)… ta thấy được các chi tiết xác định vai trò của nhà nước ta đã quản lý, khai thác và làm chủ hai quần đảo này.
Với nhà bác học Lê Quý Đôn, năm 1776 khi được cử làm chức Hiệp trấn Thuận Hóa, ông đã bắt tay vào việc nghiên cứu tìm hiểu phong tục, vật sản, di tích… của xứ Đàng Trong thể hiện chu đáo qua Phủ biên tạp lục. Bộ sách này, Tiến sĩ Ngô Thì Sĩ đã nhận xét: “Sách chép về hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, ghi rõ núi sông, thành ấp, ngạch lính, thuế má, nhân tài, sản vật cùng các đời chúa Nguyễn với việc đánh dẹp, đóng quân rõ ràng như những ngón tay trên bàn tay…”.
Trong đó, về quần đảo Hoàng Sa, Lê Quý Đôn ghi chép rành mạch với nhiều điều kỳ diệu, lạ lẫm: “Phủ Quảng Ngãi huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía đông bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng dài, ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Bên đảo có vô số yến sào; các thứ chim có hàng nghìn hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Bên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là trắng bông, giống đồi mồi mà nhỏ, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được. Có hải sâm, tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bên bãi, lấy về dùng vôi xát qua, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước cua đồng cao sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt.Â
Các thuyền ngoài phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về”.
Không chỉ từ các công trình nghiên cứu, công văn nhà nước mà còn có ghi chép của các nhà thơ, nhà văn nữa, chẳng hạn năm 1832 danh sĩ Lý Văn Phức đi tàu sang Phi Luật Tân suýt bị mắc cạn tại Hoàng Sa. Ông ghi bài tựa trong bài thơ Vọng kiến Vạn Lý Trường Sa tác: “Vạn Lý Trường Sa là một dải cát trắng nhô lên từ giữa biển, phía tây giáp biển Quảng Ngãi, phía đông giáp biển Lã Tống (Philippines), Bắc giáp vùng biển hai tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến, kéo dài hàng vạn dặm, chiều ngang thì không biết bao nhiêu. Cho nên từ xưa đến nay nó được mệnh danh là xứ tuyệt hiểm. Thuyền bè qua lại, khi đến đây thường coi chỗ không nhìn thấy được làm mốc giới, có lẽ là chân bãi cát đó xa lắm, một khi đi lầm đường thì không sao quay lại chỗ cũ được. Ngày 14 tháng 5 thuyền đi từ Quảng Ngãi, đến góc phía Tây của trấn Bình Định, tính toán không sai phân kim theo hướng Mão Ất (đông, hơi xế nam) mà đi, nào ngờ gió thổi nguợc, nước nổi cuồn cuộn, thuyền đi theo đường không thể tiến lên phía trước được. Đến trưa ngày hôm sau, bỗng nhìn thấy một dải cát lờ mờ, sắc trắng tới tận chân trời, mọi người trên thuyền trong lòng xốn xang, mặt chớp liền hồi, voi chuyển buồm theo hướng Dậu (tây) trở về lại Quảng Ngãi, đậu thuyền ở Cần Tảo, may được vô sự”.
Ngoài ra còn có rất nhiều ghi chép, bản đồ của người nước ngoài về Hoàng Sa và Trường Sa, các công văn, giấy tờ của triều Nguyễn kể cả các bộ sử đương thời như Hoàng Việt địa dư chí (1833), Đại Nam thực lục tiền biên (1844), Đại Nam thực lục chính biên (1848), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (1851) v.v… với rất nhiều chi tiết cụ thể, trong đó có sự kiện là từ năm 1815, vua Gia Long sai người chỉ huy đội Hoàng Sa là Phạm Quang Ảnh ra Hoàng Sa do đạc thủy trình; năm 1836, vua Minh Mạng sai suất đội Phạm Hữu Nhật đi vẽ bản đồ Hoàng Sa…
Có một điều hết sức thú vị là những ghi chép của tiền nhân mà chúng ta vừa đọc qua, mãi đến cuối thế kỷ XX vẫn không mấy thay đổi. Bằng chứng là trong Kỷ yếu Hoàng Sa do Ủy ban Nhân dân huyện Hoàng Sa thuộc UBND thành phố Đà Nẵng in năm 2012, ta vẫn còn thấy những chi tiết trên. Một trong nhiều nhân chứng là ông Trần Văn Sơn sinh năm 1947 tại phường Mỹ Khê, quận Sơn Trả (Đà Nẵng) đã kể lại ngày tháng đã sống, chiến đấu tại Hoàng Sa vào năm 1973: “Ấn tượng khó quên khi tôi ở Hoàng Sa trong một đêm trăng sáng, tôi cùng một vài anh em đi rình bắt rùa biển. Tôi nhớ có một con rùa to, rất to, hai người đứng trên lưng nó, nó vẫn bò đi được. Khi nó bò đến mép nước thì hai người mới nhảy xuống. Phải nói là chưa bao giờ, tôi được thấy con rùa to như vậy”. Â
Thậm chí, lúc bấy giờ vẫn còn bia xác định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa dựng năm 1816, tượng Phật Bà Quán Thế Âm, cột hải đăng, cơ sở hành chính và kỹ thuật, giếng nước ngọt, kho lương thực, khu đồn trú v.v… của người Việt. Không những thế, chủ quyền của dân tộc Việt về Hoàng Sa - Trường Sa còn thể hiện rõ nét qua nghi lễ văn hóa ở đảo Lý Sơn từ hàng trăm năm nay. Đó là Â tục tế đình và làm lễ khao quân tế sống để tiễn Đội Hoàng Sa lên đường làm nhiệm vụ vào ngày 20 tháng 2 âm lịch hằng năm. Trong buổi lễ đó, họ làm hình nộm bằng khung tre và dán giấy ngũ sắc giả hình người và tế tại đình. Tế xong đốt đi hoặc dóng thuyền bằng thân cây chuối đặt hình nộm lên trên và thả trôi ra biển gọi là “khao lề thế lính Hoàng Sa”.
Hoàng Sa trời bể mênh mông
Người đi thì có mà không thấy về
Hoàng Sa mây nước bốn bề
Tháng Hai khao lề thế lính Hoàng Sa
Đến nay, các sử liệu từ bản đồ đến thư tịch, văn bản pháp quy trong và ngoài nước đã khẳng định rõ ràng với các chứng cứ hùng hồn, không thể phản bác lại khi khẳng định quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa thuộc chủ quyền của nước Nam ta.
3.Â
Mùa xuân mới lại đến, một lần nữa, chúng ta lại thao thức, trăn trở, không bao giờ quên Hoàng Sa - Trường Sa núm ruột của non sông nước Việt. Núm ruột không thể chia cắt ấy đã có từ cội nguồn mở nước và giữ nước vẫn còn đây, vẫn còn có ngày đoàn tụ trong lòng Đất Mẹ. Niềm tin này có thật. Rằng, đã có một sự tiếp nối thiêng liêng từ ngày xa xưa ấy, là khi ra với Trường Sa hầu như con dân đất Việt bao giờ cũng nhớ đến Hoàng Sa. Và trong điệp trùng sóng vỗ trùng khơi, ta lại nghe vọng về bài Thơ thần của danh tướng Lý Thường Kiệt, chẳng hạn nhà văn Bích Ngân đã viết:
Giữa trùng trùng bão cuốn
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
câu thơ được kết
bằng máu
bằng xương
bằng hồn thiêng
câu thơ cắm mốc chủ quyền lãnh thổ
Giữa biển trời bình yên
câu thơ sơn hà
ngấm vào từng tế bào thịt da Tổ quốc
và lắng sâu
trong tim
người người
Khi nghĩ về, nhớ đến núm ruột của non sông mình thì sự cảm nhận không giống như các địa danh khác, bởi lẽ hàng trăm năm qua người Việt đã cắm cột mốc chủ quyền trên biển đảo bằng xương máu mà các nhà thơ đã khái quát:
Nơi các anh ngã xuống
Máu đã hóa san hô
Anh linh hòa sóng biếc
Cứ tỏa hương từng giờ
(Trần Mai Hường)
Những người lính hóa thân vào biển cả
Thân xác các anh làm lũy sóng ngăn thù
Có phải biển khóc thương anh nên hóa mặn
Có phải mẹ nhớ anh nên nhờ sóng vỗ về
(Lê Tú Lệ)
Không chỉ bộ đội hải quân ta, mà thiết nghĩ ngay cả bông hoa tươi thắm. luống rau xanh, cây bàng vuông, ngôi chùa, trường học của cư dân sinh sống, lập nghiệp ở quần đảo Trường Sa cũng đã khẳng định vai trò chủ quyền của người Việt. Giữa cảnh vật thiên nhiên và con người đều thể hiện sự nhất quán:
Đêm ngày đều nhớ
Nhiệm vụ của mình
Những bông hoa xinh
Làm cột mốc nhí
(Hồ Huy Sơn)
Ngay cả vỏ ốc biển ở nơi này cũng là sự kết nối chung của đất liền và biển đảo, nhạc sĩ Thế Hiển có tứ nhạc thật độc đáo khi anh viết ca khúc Vỏ ốc biển trên tàu Hải quân 936: “Anh gửi về em những vỏ ốc biền từ Trường Sa, đảo xa. Trường Sa, đảo xa xôi lắm nhưng em yêu ơi! Em vẫn thấy thật gần, Khi em nhận, em hãy áp tai vào lòng ốc biển. Em hãy lắng nghe tiếng sóng gió dạt dào…”. Ý thức gắn bó biển đào, không chỉ thể hiện qua những công việc cụ thể, chẳng hạn các chương trình toàn dân chung tay vì dân quân Trường Sa v.v… mà tinh thần tích cực này còn được thể hiện trong sáng tạo văn học nghệ thuật nữa, tức là tình yêu quê hương đất nước lại được lan tỏa sâu rộng hơn nữa.
Với tình yêu dành cho biển đảo, nhà báo Lưu Đình Triều hoàn toàn có lý khi khẳng định “Tổ quốc không có nơi xa”, mà rất gần, ngay trong trái tìm mình đó thôi. Anh kể hơn 20 năm trước, lúc đến quần đảo Trường Sa: “Đang sóng lớn, tàu không thể vào sát đảo được mà cũng chẳng thể thả canô đưa hàng tiếp tế vào. Đành neo tàu chờ bên ngoài. Vào giữa đêm, một cơn gió khủng khiếp tràn đến. Con tàu như một đứa bé đỏng đảnh, lúc nhảy dựng lên, lúc lăn kềnh ra giãy nảy, buộc chúng tôi mắt vẫn nhắm, tay lo bám chặt thành giường để giảm bớt độ tung hứng. Có lúc hốt hoảng mở choàng mắt vì sóng ụp vào tận buồng. Từ chỗ nằm, nhìn ra ô cửa kính tròn, đến đầu ngọn sóng đang chồm lên thành một đường thẳng gần như dựng đứng mà chỗ thấp thuộc về phía con tàu. Thú thật đường thẳng ấy có làm tôi rợn người, với ý nghĩ tàu sắp chìm. May sau đó chỉ là cơn hốt hoảng, lo sợ của người chưa hiểu hết cơn giận dữ của biển cả”.
Biển cả từ xưa đến nay, bao giờ cũng dữ dội, sóng trào dâng tưởng như chạm đến trời xanh, nhưng khác với trước, rất khác là phương tiện tàu bè ra đến đó ngày càng hiện đại gấp bội phần. Nhà văn Bích Ngân tâm tình: “Khi hòn đảo đầu tiên hiện ra, Hương reo to lên trước tiên. Mọi người tràn ra boong. Tim Hạ đập mạnh. Trong chị lâng lâng bồi hồi như gặp lại bóng dáng người thân. Có lẽ không chỉ riêng Hạ. Ai cũng nôn nả. Ai cũng muốn mình là người đầu tiên được chạm vào cái núm ruột xa cách đất liền bởi trùng trùng sóng gió. Ai cũng muốn được ôm chặt, siết chặt những người giữ đảo… Hòn đảo chìm nhô lên mặt biển. Xa xa trông giông giống con rùa cõng chiếc ba lô kềnh càng trên lưng. Đến gần, con rùa đá và chiếc ba lô trĩu nặng lại là một pháo đài vững chãi. Trời xanh, biển xanh, nắng chói. Các chiến sĩ tràn ra đầu cầu thang đón đoàn. Trong bộ quân phục hải quân, trông ai cũng trẻ, khỏe, rạng ngời”.
Hẳn chúng ta luôn nghĩ rằng, hồn nước luôn hiện hữu từ chân tơ đến kẽ tóc trong tâm hồn mỗi người. Và Đất của Tổ quốc, nơi nào lại không thấm đẫm máu và mồ hôi nhọc nhằn của nhiều thế hệ đi giữ Nước? Vâng, khái niệm xa và gần không là một khoảng cách cả địa lý. Vượt qua mọi khoảng cách, Tổ quốc luôn gần lắm, gần lắm trong ý thức công dân.
4.Â
Mùa xuân mới lại đến, một lần nữa, chúng ta lại thao thức, trăn trở lời dạy của ông cha mình: “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác” - lời vua Trần Nhân Tông (1258-1308); “Ta phải giữ gìn cho cẩn thận, đừng để ai lấy mất một phân núi, một tấc sông do vua Thái Tổ để lại” - lời vua Lê Thánh Tông (1442-1497). Và chúng ta lại nghe từ sâu thẳm lòng mình cất lên tiếng lòng da diết:
Bàn tay nắm chặt
Vọng tiếng Tổ Tiên
Giọt máu thiêng liêng
Không bao giờ mất
Hoàng Sa - Trường Sa núm ruột của non sông nước Việt đã có từ cội nguồn mở nước và giữ nước vẫn còn đây, vẫn còn có ngày đoàn tụ trong lòng Đất Mẹ. Niềm tin này có thật. “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”.
L.M.Q
(nguồn: Giai phẩm Phụ Nữ TP.HCM XUÂN 2026)
Ghi chú: Bản của tác giả, chưa cắt xén cho phù hợp trang báo xuân.
| < Lùi | Tiếp theo > |
|---|