THÔNG TIN CÁ NHÂN Tiêu điểm Lê Minh Quốc ĐOÀN TUẤN: Tập sách MÙA CHINH CHIẾN ẤY (tái bản năm 2018)

ĐOÀN TUẤN: Tập sách MÙA CHINH CHIẾN ẤY (tái bản năm 2018)

Mục lục
ĐOÀN TUẤN: Tập sách MÙA CHINH CHIẾN ẤY (tái bản năm 2018)
DƯ LUẬN BÁO CHÍ về MÙA CHINH CHIẾN ÁY
LÊ MINH QUỐC: Đoàn Tuấn - người kể chuyện đời lính thế hệ mình
Tất cả các trang

 

MUA-CHINHN-CHIEN-Y-TAI-BAN-LAN-1

 

PHỤ LỤC TÁI BẢN

 

MÙA CHINH CHIẾN ẤY đã được nhiều đồng đội F307 truyền tay nhau đọc.  Đã có nhiều nhận xét, bình luận, chia sẻ và bổ sung những câu chuyện về cái ngày tháng “thanh xuân thơ dại, khốc liệt mà tuyệt đẹp” ấy mà với giới hạn một cuốn sách, dù dày dặn tới đâu, cũng chưa thể kể hết. Trong lần tái bản này, chúng tôi xin trích đăng một số chia sẻ của các cựu chiến binh, cảm xúc từ bạn đọc cũng như những lời hồi đáp từ dư luận.

NHỚ MỘT NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI

- Đoàn Tuấn -

Sau khi sách đã in, tôi thấy mình còn nợ một người đồng đội, một người em trong tiểu đội trinh sát. Vì tiểu đội trinh sát đi cùng lính thông tin nhiều năm, tụi nó cũng hy sinh nhiều. Cậu em tôi rất quý mến ấy là Tô Văn Phán. Nó là một Phật tử chính hiệu nên cách hy sinh cũng thật đặc biệt. Đêm nào cũng tụng kinh mà rồi vẫn chết. Một cái chết khiến tất thảy đồng đội đều kinh ngạc. Giờ nhắc lại,anh em vẫn thấy thương nó.

Một buổi chiều, mùa mưa năm 1981, ở Anlong Veng, tôi và Thuận đập mấy trái trứng gà để rán. Thuận khuấy trứng bằng đũa. Nó khuấy theo chiều kim đồng hồ rồi lại khuấy ngược lại. Thấy thế, anh Độ, trợ lý tác chiến mới về, giật ngay lấy đôi đũa, nghiêm giọng: “Ở nhà mà  khuấy thế này thì ông già mình đập chết!”. “Sao lại thế?” - tôi hỏi khi Thuận còn ngạc nhiên. Anh Độ đáp: “Không bao giờ được khuấy trứng hai chiều như vậy!”. Chà, phức tạp thiệt. Hai chiều với một chiều, có sao đâu? Trứng nào chả là trứng! Hai thằng lính trẻ cãi nhau với một ông lính già làm gì! Mà lại lính già Hải Phòng nữa chứ. Vua bảo thủ! Đúng lúc đó, bỗng từ đồi Con Cá vọng về một tiếng nổ. Chắc ai bị dính mìn rồi. Chúng tôi còn đang phỏng đoán đơn vị nào đi tuần hướng đó thì một lúc sau, Nguyễn Tuấn – “Chim Cu”, trinh sát D buồn bã sang báo:

- Thằng Phán chết rồi !

Trời, Tô Văn Phán. Anh chàng lính mới quê Phú Khánh. Vừa nhập ngũ năm 80. Mới được một tuổi quân.

- Mình có linh cảm, đợt này đi thằng Phán thể nào cũng chết! - “Chim Cu” trầm giọng - Lúc đi, nó đã chào mình!

Như một luật bất thành văn, lính thông tin hay trinh sát, ai được phân công đi chiến đấu cùng các đơn vị bộ binh thường lẳng lặng mà đi, không cần chào tạm biệt. Vì cả người đi lẫn người ở lại, đều có cảm giác, lời chào như một lời vĩnh biệt. Vừa kiêng, vừa sợ. Không ai nói ra. Không ai phân tích. Tất cả lặng im thực hiện.
- Không hiểu sao, hôm đó đi trinh sát trên 547, thằng Phán nó chào mỗi mình tôi! – “Chim Cu” chưa hết bồi hồi.

Cũng có thể, vì “Chim Cu” thương yêu thằng Phán như đứa em. Thằng Phán nói giọng xứ “nẫu”. Quê ở Ninh Đa - Ninh Hòa mà cứ phát âm là “Ninh Đe Ninh Hòe”, cười đau cả ruột. Mới về làm trinh sát D, nhưng nó đã tạo nên sự khác biệt với cả tiểu đội. Đó là trong ba lô của nó, ngoài các thứ đồ thiết yếu, còn có hai bộ  Kinh Phật: Kinh Pháp Hoa và Kinh Thủ Lăng Nghiêm. Đêm nào cũng vậy, trước khi đi ngủ, thằng Phán lại lầm rầm tụng kinh. Anh em lúc đầu cũng thấy ngạc nhiên. Có người định phản đối. Nhưng hồi lâu thấy tiếng tụng kinh của thằng Phán có phần nào làm căn hầm ấm áp hơn, nên cảm thấy nguôi ngoai. Dạo ở nhà, chắc Phán là một Phật tử chính hiệu. Mấy quyển Kinh dày cộp mà nó mang nhẹ như không. Mấy lần tôi mượn nó, ngó qua, nhưng đọc chẳng hiểu gì. Có lẽ tâm thế mình còn bận lang thang nơi khác.

Trong đơn vị, cũng có nhiều đứa theo đạo Thiên  Chúa. Đêm Giáng sinh, dù bận thế nào, súng nổ ra sao, mấy đứa này cũng tìm cách tụ tập, đánh chén thứ gì đó. Tụi nó cũng mời mấy đứa bạn thân, không theo tôn giáo nào rõ ràng, uống rượu cùng cho vui. Tụi nó làm bí mật. Lính tráng biết với nhau. Không để lộ cho cán bộ biết. Mà hiểu biết của cán bộ về tôn giáo cũng hết sức mù mờ, chụp ngay mũ “phản động” thì ra bã cả lút.

Thằng Phán thích đi gác cùng “Chim Cu”. Nó giảng cho “Chim Cu” nghe nhiều đoạn Kinh rất hấp dẫn. “Chắc không đi lính thì mày thành sư rồi!” – “Chim Cu” đùa. Thằng Phán lại thích nghe “Chim Cu” kể chuyện. Toàn chuyện phim và chuyện chưởng. Đặc biệt, “Chim Cu” lại có tài điêu khắc. Chỗ vọng gác có ụ mối. “Chim Cu” cầm dao găm, tạc hình một vũ nữ khỏa thân uốn lượn với cặp đùi óng mượt và hai bầu vú căng tròn. Lính tráng đi gác, thằng nào cũng thò tay bóp. Khoảng giữa hai chân của nàng, lúc nào cũng cắm bông hoa tươi. Nhiều đêm mưa lâm thâm, bỗng thấy thân hình vũ nữ rực sáng. Một màu vàng rực, lấp lánh như kim cương giữa rừng đêm. Như vũ trường, như quán bar tưng bừng chốn biên cương heo hút. Mưa rả rích làm nên tiếng nhạc rừng. Chắc lũ côn trùng cũng đang rì rầm đồng ca. Mùi lá mục, mùi nhựa cây rừng già gợi lên cảm giác phồn thực. Lính đứng gác như trôi trong mộng. Nhưng sáng ra, quanh người nàng bạc trắng những hàng xác mối chết.

- Về đúng đến đồi Con Cá thì thằng Phán vấp mìn – “Chim Cu” kể - Ầm một cái! Nó ngồi bệt xuống. Nhìn hai chân của mình nát bươm. Máu tuôn lênh láng. Nhưng thằng Phán, không kêu một tiếng. Mắt nó mở to, nhìn trân trân vào hai ống chân  đỏ lòm, gần như vỡ toác, đứt đôi. Nó cứ nhìn như vậy. Không kêu la. Mặt nó vẫn bình thường, không lộ vẻ đau đớn. Nó cảm nhận cái chết hết sức điềm nhiên. Hình như nó đã linh cảm thấy cái chết này. Nó đón nhận. Và chấp nhận. Khi nghe tiếng mìn, anh em vội nằm xuống, chuẩn bị nổ súng. Nhưng không thấy động tĩnh gì. Khi anh em bò lên, thấy thằng Phán vẫn còn ngồi nhìn đôi chân mình. Tay trái chống đất. Tay phải giữ khẩu AK. Anh em bò lại, đỡ nó. Lúc ấy nó mới từ từ ngả xuống. Và mắt, dần khép lại…

Đồng đội khiêng Phán về. Chúng tôi tắm rửa cho Phán. Liệm lại. Mai chôn. Mấy quyển Kinh Phật, tôi định bỏ vào quan tài cho em, nhưng sợ mục. Đành giữ lại, cho vào ba lô Phán, làm kỷ vật gửi về gia đình.


TẠ NHÂN: Thời kỳ chốt biên giới, tổ 3 người tụi mình đi tuần. Bỗng gặp một tên địch nằm bên bờ ruộng. Hắn nằm im. Tụi mình bò đến.Thì ra hắn sắp chết. Nhưng khẩu AK đã mở khóa an toàn. Trong  đó còn 2 viên đạn. Anh em muốn  khử luôn. Nhưng mình đề nghị khiêng hắn về. Sau khi cấp cứu và chăm sóc, hắn khỏe lại. Và hắn khai rất nhiều vị trí đóng quân của địch.Trung đoàn 94 tụi mình thắng trận liên tiếp. Từ đó, các vị chỉ huy nói, mình có khả năng làm cán bộ chính trị.
 

CHIÊU LÊ HUY: Mùa khô vùng Đông Bắc CPC đã khắc nghiệt nhưng mùa mưa lại càng khổ hơn. Khổ nhất là đi truy quét. Mình đi truy quét nó nhưng lại sợ nó bí mật tập kích lại. Cả tháng trời đi lùng địch trong rừng, quần áo lúc nào cũng ướt rượt, ẩm xì. Nạn hắc lào cứ đeo bám quanh người lính. Có thằng hắc lào ăn lên tận bụng, xuống tận đùi. Háng thằng nào thằng nấy cứ như xăm trổ đỏ choét, ngứa ngáy khó chịu. Cứ mỗi lần về đơn vị, sau khi tắm xong là cả nửa đơn vị xếp hàng ngang chờ y tá xoa cồn i-ốt. Thằng nào thằng nấy cứ nhẩy dựng cả lên như lên đồng. Khi trời tối muốn dừng lại đóng quân lại phải đi cho tới khi nào tối hẳn mới được dừng, vì sợ Pol Pot theo chân tập kích. Trời lại mưa rả rích, thằng nào thằng nấy mò mẫm sờ soạng tìm cây mắc võng. Thằng nào gác trước thì mắc võng sau, thằng nào gác sau thì mắc võng trước. Có thằng tối quá không mắc được võng đành trùm tăng ngồi thâu đêm. Quần áo giày dép ướt nhẹp nhưng không dám cởi, còn để nguyên mà đi ngủ.

LÊ MINH THƯ: Mùa mưa nước ngập mênh mang. Suối phum Giềng lớn như con sông. Biết bao nhiêu lần cõng hàng vượt qua suối này.Có lần còn phải đưa một ca sốt rét qua suối.Cậu ta không đi được, phải cáng. Phải lấy 4 ba lô, bọc nilon cho nó nằm lên rồi mấy người hộ tống xung quanh đẩy được sang. Chắc do nó ốm nên càng nặng hơn.

Giữa năm 1982, C1 đi truy quét ở Sankđa. Tối, cả đơn vị mắc võng ngủ gần con suối. Phải lội mấy bước mới lấy được nước.Tối hôm ấy trời mưa to. Mọi người đều căng tăng mắc võng ngủ ngon lành. Tôi chặt mấy cây buộc chéo đặt ba lô, hai cây có chạc, đóng xuống, đặt súng lên. Yên trí lắm, kệ trời mưa. Hút xong điếu thuốc rê rồi ngủ lúc nào không biết. Bỗng thấy lạnh ở lưng, choàng dậy. Trời, nước ngập.Cả cánh rừng trắng luôn. Vội cuốn võng, mò súng và ba lô. Rồi lội bì bõm tìm chỗ cao.Mãi mới tìm dược một ụ mối.Mắc lại võng, trùm nilon, rồi ngồi đợi sáng. Chỉ sợ mọi người trong đơn vị, lạc nhau lung tung, rồi tìm ốm. Trời sáng, mọi người gọi nhau í ới, rồi cũng đủ quân. Nhưng anh nuôi bị trôi mất mấy xoong 5.Thế là không đủ xoong nấu cơm, đành “được” về.

TRẦN VĂN: Cũng tại suối phum Giềng, mùa mưa năm 1981, trong một đợt đi công tác từ E lên phum Giềng với chính ủy Nguyễn Văn Thảng, đồng hương  Phạm Chính, vệ binh, bơi qua suối, làm thế nào mà rớt khẩu AK theo dòng nước lũ. Hành hạ anh em một phen ngụp lặn chết luôn. May mắn cây súng dính vô bụi tre và tìm được.

BÌNH QUY KIỆT: Mình từng nhận được lá thư gia đình loang lổ máu trên trang thư Tuấn à.

NGUYỄN LUẬN: Vội vàng chưa đủ ba tháng ở D2 F860 An Sơn – Nghĩa Bình, lên xe Zin 130 đi mãi, đến Stung Treng, đi phà, qua Thala ngủ nhà sàn, một đêm mưa tầm tã, khoảng giữa tháng 5.1983, tiếp tục đi ngang Chchep…Tà ben, Preah Vihear. Điểm dừng chân E95, F307. Là một chiến binh F307, cuốn Hồi ức này là một món quà quá tuyệt vời cho tui mau quên chóng nhớ. Giờ hễ mỗi lần đọc tới đâu là những ngày tháng lính cứ ùa về… Nhiều cảm giác hỉ nộ ái ố lẫn lộn… Cảm ơn anh Đoàn Tuấn rất nhiều.

NGUYỄN LỘC: Ở đất bạn hồi đó chỉ có mùi chiến tranh, biết bao cạm bẫy rình rập đồng đội chúng ta. Sự sống đời người chỉ có một lần, phải giữ gìn thật cẩn trọng từng bước đi. Đôi mắt là trợ thủ đắc lực cho bản thân chờ đợi ngày trở về… Và ngày chúng tôi trở về, không ai chào đón nhưng tâm trạng rất vui vì đã được bình an.

HẠNH NGUYỄN: Tôi cũng lính 80 cùng đợt với Lũy nhưng tôi biên chế về D7. Bạn tôi ở trinh sát D7, cũng chưa kịp ăn hết cục cơm vắt đã vội hy sinh ngay tại Anlong Veng, cách C7 D8 khoảng 500m! Xót xa quá!

“CHIM CU”: Một lần, Tuấn “cận” đang cùng đại trưởng Hà Huy Lan lập bãi mìn ở  Kam Praj thì Tú “nghêu” (Lão Đại) đi trinh sát về, băng băng bước tới vì vui mừng gặp bạn. Tuấn “cận” hoảng hốt thét to: “Dừng lại! Mìn đấy!”. Tú “nghêu” kinh hoàng, nhìn xuống. Dưới chân và trước mặt, toàn mìn là mìn!

MINH TRÍ TRẦN: Mình ở biên giới có mấy tháng, đánh nhau vài trận, bị thương, cũng được đồng đội cáng về tuyến sau, và chưa từng trải qua đoạn trường kinh khủng như vậy, thế mà Đoàn Tuấn kể chuyện cứ nhẹ như không. Phục các đồng đội của mình quá!
 

NGUYỄN ANH SƠN: Nghĩa trang của D8 này mình có thỉnh thoảng ngang qua khi vận tải hàng cho E29. Điều mình ám ảnh mãi những năm sau này là số các ngôi mộ tăng lên rất nhanh. Đặc biệt lúc nào đi qua nhìn từ ngoài vào cũng thấy một vòng hoa. Cho đến nay mình vẫn thắc mắc không biết là hoa gì. Không dám xuống viếng thăm vì không có thời gian. Bốc gạo bốc đạn xong là vọt nhanh về Saem. Nếu có thương có tử thì ở lại, còn không thì bố bảo cũng không dám... Phải nói ở Preah Vihear có hai nơi hiểm nguy nhất. Đó là nơi đóng quân của D8, D9 E29 và D210 gần Choam.

ANH TUẤN NGUYỄN: Tôi biết ở D6-E94-F307 cũng có một anh nuôi không biết chữ. Sau gần 30 năm phục viên, Nguyễn Văn Khả tổ chức cho anh em Nha Trang một chuyến về  thăm đơn vị ở Quảng Ngãi, có ghé gành Đá Đĩa, Tuy An thăm anh nuôi. Vợ anh ấy mừng ra mặt, cảm ơn anh Khả đã dạy cho chồng mình biết chữ để viết thư về thăm vợ con. Chị ấy thú thật là lần đầu tiên xem lá thư của chồng gửi về từ biên giới K, chị đã thật sự ngạc nhiên.

LÊ MINH THƯ: Khiêng thương binh, tử sỹ là nỗi kinh hoàng. Năm 1978, vừa chân ướt chân ráo vào chiến trường, đã phải khiêng thương binh từ chốt về tiểu đoàn. Máu me sợ kinh, lại chưa quen gánh nặng bao giờ. Lúc đó tôi vừa thôi học có 4 tháng, nguyên chất học trò. Thế mà cũng khiêng được về D. Còn hãi hùng nhất là năm 1979, khiêng tử sỹ mười mấy ngày xuyên rừng. Vừa mỏi vừa đau vai ghê gớm, vừa căng thẳng sợ địch phục. Tối gác địch, gác cả thú rừng ăn thịt. Tử sỹ bốc mùi nồng nặc sau mười mấy ngày dầm mưa dầm nắng.

Còn tếu nhất là một lần đang khiêng thương binh thì bị địch phục. Chưa kịp trở tay đã không thấy ông thương binh đâu. Thì ra, nghe tiếng súng địch phục kích, ông bạn đã nhảy tót vào gốc cây từ lúc nào không biết… May không ai việc gì.

CÚC PHƯƠNG:  Anh có ở phía sau của E và F, nhiều lần chứng kiến và cả tham gia hội chẩn những ca đặc biệt mới thấu hiểu anh em ở phẫu, cảnh anh em bị thương đưa về, nói những lời cuối cùng gửi người thân và đồng đội trước lúc vĩnh biệt cõi trần và lúc vuốt mắt với lời cầu nguyện cho anh em mình để đưa về nghĩa trang sư đoàn, chờ mùa khô mới đưa về Đất Mẹ Việt Nam. Cuộc chiến thật tàn khốc; mình tin anh em mình ở đó và sau này về nước luôn thương yêu nhau, vui vẻ đoàn kết, có điều kiện là giúp đỡ nhau.

NGUYỄN TUẤN: Trinh sát tay nghề non thường hay bị bộ binh chửi. Càng chửi càng cuống, mất tự tin càng hay bị lạc. Đi đúng hướng nhưng phải qua rừng ô rô, lính mang vác cồng kềnh, vướng dây, cũng bị chửi. Qua bãi, nhiều hố, lính ngã, cũng ngoạc mồm lên chửi. Đi chưa đến nơi mà ông nào cũng nhao nhao hỏi, sắp về chưa? Còn mấy cây? Tui thấy hình như ông đi chệch hướng…

SAUBE DAKTO: Thuốc rê giấy báo, mắm cô nấu đậu phộng, cơm sấy và gạo mục, thịt hộp một đại đội nấu canh một lon. Gác đêm buồn thúi ruột. Nhìn sao Tua Rua và sao Mỏ Cày nhớ quê hương và cha mẹ vô cùng…

NGUYỄN THANH THỦY: Có bài viết thật cảm động. Đọc xong em thấy nghẹn lòng… Thế hệ bọn em không thấy nhiều anh hùng nữa… Các anh không chỉ nhớ về đồng đội qua hồi ức mà còn quan tâm, đến thăm gia đình của đồng đội cũ đã hy sinh. Tình đồng đội của các anh đáng để chúng em học tập.

HÀ VÕ: Những người lính trẻ tình nguyện rất anh dũng. Mặc dù đầy gian khổ, hiểm nguy, nhưng các chú không ngần ngại. Tình cảm của các chú dành cho nhau như anh em ruột thịt, xứng đáng là những tấm gương cho thế hệ chúng cháu noi theo.


 

DƯ LUẬN BÁO CHÍ

 

Với lối viết mộc mạc, tự nhiên, giọng điệu chân thành, da diết, cuốn hồi ức chiến binh MÙA CHINH CHIẾN ẤY của Đoàn Tuấn đã tái hiện một giai đoạn lịch sử khốc liệt và hào hùng, cay đắng và vinh quang, ẩn sâu là số phận những người lính bình dị mà phi thường, đau thương và bi tráng…

Với MÙA CHINH CHIẾN ẤY, Đoàn Tuấn trở thành người thư ký trung thành của thời đại anh, nói về thế hệ mình - tiếng nói được cất lên từ lương tâm người lính, từ ý thức trách nhiệm của một con người. Tác phẩm vang lên như một khúc tráng ca để thế hệ của anh tự hào, kiêu hãnh về những năm tháng đã sống, chiến đấu và hy sinh một phần tuổi thanh xuân. Nó còn là một khúc nguyện cầu an ủi, xoa dịu, hóa giải cho những thiệt thòi, mất mát, đau thương của các linh hồn đã khuất. Lắng nghe và nghiệm suy tiếng nói ấy, người đọc hôm nay sẽ nhận diện được gương mặt lịch sử, thấu hiểu, đồng cảm với những đau thương và vinh quang, nhọc nhằn và kiêu hãnh của một thế hệ, để nhắc nhở trách nhiệm với Tổ Quốc và gia đình.

Nguyễn Văn Hùng
Mùa chinh chiến ấy và khúc tráng ca người lính
(Báo Nhân Dân ngày 16.9.2017)


Đọc những hồi ức này mới biết tuổi trẻ bi tráng của những người lính tình nguyện Việt Nam trên đất bạn. Những người lính ngã xuống không chỉ vì súng đạn lúc giao tranh, có rất nhiều cái chết vì mìn, vì sốt rét, vì khát, vì lạc rừng, vì hổ vồ, rắn cắn…Những cánh rừng đất Miên hơn 30 năm trước, đọc trong hồi ức cựu binh chiến trường K vẫn hoang dã ma quái không thua gì những cánh rừng già ở Amazon.

Chúng ta vẫn đọc hồi ức của nhiều tướng lĩnh, ở  đó không có câu chuyện như hồi ức của các binh nhì, nhưng lịch sử luôn chân thật nhất từ những trang viết như thế này! Hàng vạn đồng đội của họ đã chết để họ được sống và kể lại câu chuyện của thế hệ mình.
Và chúng ta, trong chừng mực nào đó, nếu không biết đến những năm bi tráng của một thế hệ tình nguyện quân trên chiến trường K như thế, chúng ta sẽ vô cùng có lỗi!

Lê Đức Dục
(Báo Tuổi Trẻ ngày 3.8.017)


Có thể xem MÙA CHINH CHIẾN ẤY như những thước phim về một giai đoạn của lịch sử đất nước được nhìn dưới con mắt của một người lính ở tầng thấp nhất. Dĩ nhiên, cái nhìn đó không thể bao quát toàn bộ thời đại nhưng lại gần gũi với những chi tiết cụ thể, chân thực nhất…Giọng văn của tác giả Đoàn Tuấn rất đặc biệt, anh truyền tải cái khốc liệt, cái mất mát đau thương rất nhẹ nhàng, không ủy mị, không tiêu cực.
Dù vẫn còn đó những ám ảnh về mất mát, hy sinh nhưng những người lính cũng đã thanh thản và nhẹ nhàng hơn, đã có thể nhìn được đằng sau những năm tháng khốc liệt ấy là tình người, là những giá trị cuộc sống mà chỉ khi trải qua những gian nan của cận kề cái chết họ mới hiểu hết được.

Xuân Thân
(Báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 1.8.2017)


Đoàn Tuấn, trong cuốn hồi ký của mình đã tái hiện rất đậm nét cái sự thật khốn khó, chết chóc, những đày ải mà bất cứ cuộc chiến nào cũng gây ra cho con người nhưng không để cho những người lính bị chìm đi trong những chi tiết bề bộn, ngổn ngang ấy mà ở bất cứ đâu, hai mặt của cuộc chiến ấy vẫn hiện lên với tất cả sự khốc liệt của nó nhưng trên tất cả những chi tiết ngồn ngộn bùn và máu ấy vẫn là những con người ý thức rất rõ những việc mình phải làm, vẫn tỉnh táo soi xét mọi chuyện đúng sai, phải trái, lý trí và bản năng.

Phạm Quang Long
(Tạp chí Lý luận phê bình văn học nghệ thuật - tháng 9.2017)


LÊ MINH QUỐC: Đoàn Tuấn - người kể chuyện đời lính thế hệ mình

 


NGUOI-KLOJHKE-CHUEN-DOPI-MINH

“Chiến trường ngày cũ rưng rưng/ Một thời trai trẻ đã từng dọc ngang/ Mùa chinh chiến ấy - hóa vàng/ Quê chung thắp một nén nhang quê người”. Đó là những câu thơ mà những người lính Sư đoàn 307 chúng tôi đã đọc tại đền thờ Angkor Wat vào năm ngoái - nhằm tưởng nhớ đồng đội đã hy sinh vì nghĩa lớn.

Một tập sách Mùa chinh chiến ấy (NXB Trẻ) của nhà biên kịch, nhà văn Đoàn Tuấn đã “hóa vàng” tại chiến trường xưa, năm nay, lại vừa tái bản. Điều này, thú thật khiến tôi ngạc nhiên, vì nghĩ rằng, sách viết về năm tháng ấy, đã hơn 30 năm rồi còn gì, liệu chừng còn mấy ai quan tâm? Không ngờ, vẫn còn đó người tìm đọc và cũng có thể họ tò mò tìm về ngày tháng đất nước vừa hòa bình, vừa chiến tranh đã có một thế hệ nhập ngũ đổ máu ở chiến trường Tây nam của Tổ quốc.

Khi đọc bản thảo này, từ những dòng đầu tiên cho đến cả ngót 500 trang in, tôi bàng hoàng nhận ra rằng, đây là một trong những tập bút ký xuất sắc nhất và có vị trí quan trọng trong các tác phẩm viết về quân tình nguyện Việt Nam. Để có được những trang viết ngồn ngộn chất liệu của máu, nước mắt lẫn niềm vui, nỗi buồn trải dài trong quá khứ, không chỉ lật lại nhật ký thuở dôi mươi, Đoàn Tuấn còn lặn lội từ Nam chí Bắc gặp gỡ đồng đội cũ. Sau khi đã thu thập tương đối đầy đủ tài liệu, anh bắt đầu viết. Viết chừng nửa tập sách, đọc lại cảm thấy nhẹ hều, so với những gì đã trải qua, anh nghiến răng xóa sạch. Và lại viết. Anh tâm tình: “Khó nhất vẫn là tìm cách thể hiện, phải thật khách quan, dù rằng anh em mình là người trong cuộc”.

Tôi rất hiểu tính cẩn trọng của bạn. Thời còn ở chiến trường, trong túi áo của anh bao giờ cũng có quyển sổ tay và cây bút bis. Hễ gặp một điều gì cần thiết, anh lại hí hoáy ghi chép, sợ quên. Nhờ vậy, khi bắt tay vào viết những tập sách về năm tháng của thế hệ mình, anh đã có được lợi thế về chất liệu so với người cùng thời.

Sau khi rời quân ngũ từ thập niên 1980, anh đã đau đáu suy tư: “Trong lòng tôi luôn suy nghĩ một điều, là những người lính đồng đội tôi hình như đã linh cảm thấy mình sẽ chết. Nhưng họ hoàn toàn không ý thức được điều này. Định mệnh, số phận và cái chết cuốn họ đi. Chỉ khi họ chết rồi, xâu chuỗi lại những lời nói và hành động của họ, tôi mới nhận ra được những điều họ linh cảm”. Vì vậy, Tuấn đã viết lại điều đó.

Quyển sách đó, năm 2002, khi chuyển bản thảo hoàn chỉnh cho nhau cùng đọc, tôi và Tuấn quyết định không đặt tựa và thể loại. Đến nay, thú thật chúng tôi rất cảm phục sự tinh tế, cảm nhận của nhà văn Phan Thị Vàng Anh - với tư cách lúc ấy đang là biên tập của NXB Trẻ, chị đã đặt tựa Những người không gặp nữa. Cuốn sách chỉ dày chừng 150 trang in, nhưng phải có độ lùi gần 20 năm, Đoàn Tuấn mới viết xong.

Và nay, với Mùa chinh chiến ấy, như sự “phân công” vô hình nào đó, Đoàn Tuấn lại là người chịu trách nhiệm phải ghi lại năm tháng đồng đội đã trải qua. Hoàn toàn không phải “đồng bóng” duy tâm gì cả, phải sau khi viết xong, anh thành tâm thắp một nén nhang lên bàn thờ; và lúc ấy, anh mới thấy lòng mình thật sự nhẹ nhàng, thanh thản. Và khi phát hành, ngay lập tức, quyển sách đã tạo nên mới cơn sóng dữ dội trong lòng cựu chiến binh sư đoàn 307 lẫn bạn đọc hôm nay.

Không ai, không một điều gì có thể lãng quên. Làm sao có thể quên, Tuấn nhớ lại lúc anh Lâm dẫm mìn tại vùng Đông Bắc Campuchia: “Đêm xuống, ngoài trời An Lung-viêng tối đen như mực. Mưa rả rích. Càng lúc anh càng kêu to. Đến lúc kiệt sức, Lâm không thể kêu được nữa. Khoảng 4 giờ sáng, anh trút hơi thở cuối cùng. Tôi làm công việc kiểm nghiệm quân tư trang tử sỹ. Tấm ảnh người vợ, anh vẫn để trong ví. Tôi lấy ra. Ngắm nhìn lại gương mặt người thiếu phụ xinh đẹp. Tôi lật đằng sau, thấy dòng chữ con gái: “Những lúc buồn anh hãy nhớ đến em”. Ký tên: Liên”. Nét chữ thật phóng khoáng. Tôi vẫn bị ám ảnh gương mặt dịu hiền của người con gái ấy. Tóc thề xõa ngang vai. Đêm nay, ở quê nhà, chị có mơ thấy anh Lâm về không?”. Những chi tiết dung dị như vốn có trong đời thường, Mùa chinh chiến ấy, đã ghi nhận qua sực chắt lọc của một cây bút đã từng trải.

Càng đọc, ta lại càng cuốn hút theo lịch trình năm tháng mà người lính đã trải qua. Những chi tiết ấy, phải là người trong cuộc mới có thể cảm nhận. Chẳng hạn, một cô gái Khmer bị con đĩa chui vào “chỗ kín”, làm thế nào để kéo nó ra? Ông phum trưởng đã nhờ cậy đồng đội chúng tôi là y tá Võ Đình Chiến. Hãy nghe Đoàn Tuấn kể lại: “Cởi đôi giày cao cổ, bước lên nhà sàn, đặt túi y tá xuống, Chiến bắt đầu hành nghề. Vạch váy lên. Soi đèn pin vào. Dân phum trăm cặp mắt theo dõi… Thấy con đỉa rồi. Nhưng làm cách nào lấy ra để cô gái vẫn còn nguyên trinh. Vì cô chưa lấy chồng. Mẹ cô gái nói thế.

Gương mặt bà lo lắng. Chiến gật gật đầu. Làm cách nào bây giờ?  Dùng panh kéo ra thì không được. Con đỉa có năng lực tự co giãn, tự đàn hồi cực tốt. Kéo không khéo, còn dính lại vòi thì cũng bằng không. Mà cái vòi con đỉa bám sâu ngần nào, bố ai biết? Rất thông minh và nhanh trí, Chiến bèn lấy nước muối, làm vệ sinh cho cô. Sau đó, anh lấy bông, thấm cồn. Một tay dùng panh kéo đỉa. Tay kia dùng bông cồn dí vô.  Bị bỏng đột ngột, con đỉa vội co vòi lại, cuộn tròn. Chiến chỉ việc dùng panh gắp ra. Cả phum vỗ tay ầm ầm”.

Do sống tại chiến trường hơn 5 năm, liên tục tác chiến và công tác dân vân lẫn truyền tin, Đoàn Tuấn có nhiều cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc với người dân, nhờ vậy, Mùa chinh chiến ấy còn là những trang bút ký về sinh hoạt của người dân bản xứ với nhiều chi tiết chân thật và độc đáo. Có thể nói, từ góc nhìn của người lính, lần đầu tiên Đoàn Tuấn đã phản ánh tương đối đầy đủ nhất về năm tháng nghĩa vụ quốc tế với sự tự nhủ đã khắc sâu tâm khảm: “Giúp bạn là tự mình giúp mình”. Chắc chắn Mùa chinh chiến ấy có vị trí đặc biệt trong số các tác phẩm viết về chiến trường Tây Nam mà nay chỉ mới đếm trên đầu ngón tay với Văn Lê, Sương Nguyệt Minh, Phạm Sỹ Sáu, Nguyễn Quốc Trung, Nguyễn Thành Nhân, Bùi Thanh Minh, Huỳnh Kim, Lê Minh Quốc…

Và xin kể thêm, lúc “hóa vàng” Mùa chinh chiến ấy tại chiến trường xưa, chúng tôi đã nói với nhau về ngày tháng ở quân trường - ngày chỉ mới, đôi mươi đã làm quen với vũ khí, điều lệnh quân ngũ để bổ sung vào mặt trận. Vậy, thế hệ ấy có gì khác thế hệ ngày nay? Âu cũng là một gợi ý cần thiết để Đoàn Tuấn lại viết. Đã viết xong. Bản thảo Một trăm ngày trước tuổi hai mươi đã nằm trên bàn biên tập của một nhà xuất bản.

Nhà văn Huỳnh Trọng Khang - trẻ hơn so với chúng tôi khi đọc trước bản thảo đã nhận xét: “Mỏng hơn nhiều so với Mùa chinh chiến ấy, nhưng không vì thế mà Một trăm ngày trước tuổi hai mươi thiếu đi sức nặng thiếu vắng sự ngồn ngộn của hiện thực. Tập sách này được viết ra, trình bày như thể nó là những ghi chép, rất gần với nhật ký, quyển nhật ký điếm ngược tới “ngày D” - trước ngày hai mươi tuổi. Cái tuổi hai mươi đầy hoa mộng mở ra, cái hành trình một trăm ngày sát cánh cùng đồng đội trong những giờ phút bắt đầu một cuộc chiến. Nhân vật bước đi, tuổi xuân mở lối, nhưng đồng thời chiến tranh tàn khốc”.

Nhắc chi tiết này, tôi muốn xác tín rằng, không ai khác, chính Đoàn Tuấn - nhà biên kịch, nhà văn, cựu binh Sư đoàn 307 đã đảm nhận nhiều nhất về vai trò kể chuyện đời lính của thế hệ mình cho mai sau. Việc làm này, há chẳng phải vai trò của nhà văn là ghi chép lại năm tháng đã sống và đang sống đó sao?

L.M.Q

(nguồn: Báo Người lao động ngày 3.7.2018)

Chia sẻ liên kết này...

Add comment


Việt Tuấn Trinh | www.viettuantrinh.com

trinhduyson