THỂ LOẠI KHÁC Biên Khảo LÊ MINH QUỐC: Nhớ học giả Vương Hồng Sển

LÊ MINH QUỐC: Nhớ học giả Vương Hồng Sển

 

nhohocgia-vuog-hong-sen

“Tôi từ nhỏ đã có tánh ham mê đọc sách. Tôi cho sách là bạn cố tri trung thành, nên khi đọc và lúc cao hứng, tôi thường ghi lại bên lề trang sách những cảm tưởng nhứt thời, không khác được tỉ tê tâm sự với một bạn cố giao bằng xương bằng thịt. Vì vậy cuốn sách hóa ra của riêng, y như vợ nhà, và nếu thuở nay không đời nào ai cho mượn vợ, thì xin các bạn hiểu giùm vì sao tôi ít cho mượn sách... Tánh tôi rất khó, nên tôi lập tâm không bao giờ mượn sách của ai, vì tôi cho rằng đọc sách phải thư thả, sách mượn đọc hối hả để mau trả thì mất vui mất thú. Khi tôi lựa được một cuốn sách hay, thì tôi chẳng nệ hà mắc giá, thế nào tôi cũng mua cho được, và tôi cưng cuốn sách còn hơn bà xã nội giaọ. Mê sách, quý sách, ham đọc sách như thế nhưng ông lại tự trào cho rằng đó là... hư! Và còn một tính hư khác nữa là ôcó bao nhiêu tiền kè kè bên túi, trong thì ép vợ ép con ăn kham mặc mótọ ngoài thì... mua đồ cổ ngoạn!”. Đây là những lời “tự bạch” của nhà khảo cổ, sưu tập đồ cổ ngoạn Vương Hồng Sển.

Có lẽ, ở thế kỷ này, hiếm có ai như thế. Cái gì đã lọt vào tay ông thì ông giữ cho đến chết. Nhờ vậy, chúng ta mới biết được bao điều thú vị khác của ngày xửa, ngày xưa. Chẳng hạn, nhờ ông chúng ta mới thấy được tờ chương trình của thầy Năm Tú trong hai đêm 11 và 12-11-1922 đã hát tuồng cải lương Kim Vân Kiều tại rạp Modern Cinema (212 đường d’Espagne - Sài Gòn). Chi tiết này, giúp ta biết được kiệt tác của Nguyễn Du được đưa lên sân khấu cải lương trước khi lên phim vì mãi đến năm 1924 phim Kim Vân Kiều mới chiếu ở Hà Nội do công ty Indochine Films et Cinemas thực hiện.

Rồi chuyện ngày 21.3.1926 tại Sài Gòn nhà cách mạng Nguyễn An Ninh cùng nhà báo E. Lejean de la Bâtic, luật sư Phan Văn Trường đã tổ chức cuộc biểu tình trên mảnh đất của bà đốc phủ Nguyễn Tấn Tài nằm trên đường Lanzarotte (Xóm Lách). Trước ngày biểu tình, những người yêu nước đã rải truyền đơn khắp nơi. Thử hỏi, nội dung tờ truyền đơn lịch sử đó như thế nào? May mắn thay, nhờ tính khoái sưu tập của ông Vương Hồng Sển mà ngày nay chúng ta mới thấy được ôtờ truyền đơn, thuộc loại quốc cấm, rộng khổ 14 x 25, nay còn giữ và còn như mới tuy xưa trên bốn mươi tám năm. Hoặc là chuyện sau khi xâm lăng nước Việt, một số văn minh và ngôn ngữ Pháp đã xâm nhập vào đời sống của dân ta. Sự giao lưu về mặt ngôn ngữ đã giúp tiếng Việt phong phú hơn, đa dạng hơn và cũng từ đó hình thành loại ngôn ngữ “Pháp - Việt giao duyên”. Đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm ra sự “giao duyên” này trong thơ, hát nói, ngâm khúc, hát ru con... Nhưng cũng nhờ tính khoái sưu tập mà Vương Hồng Sển đã trưng ra được sự “giao duyên” theo điệu hát tứ đại, chẳng hạn, bài Tây Nam du dài 43 câu:

Thương, ỷ thương không ngớt cơn sầu

Sông Ngân dạ muốn bắc cầu

Trách mấy người lòng chẳng em-mê (aimer: thương mến)

Năm canh sầu ủ ê

Cái niềm phu thê

Sao mà muốn kít-tê hỡi nàng (quitter: chia lìa)

Vì tại sao la- luy- nơ soi tỏ dạ (la lune: mặt trăng)

Mấy lời nguyền

Tôi hổ với nước non

Son hỡi môi son

Bố cu- ròng rơi lụy (beaucoup: nhiều)

Phát- sê người không nghĩ (fâcher: giận, hờn)

Hai đứa mình còn bớ- tí (petit: nhỏ bé)

Trách trời vội khiến rẽ phân đôi đàng

...

Trên đây là một trong rất nhiều thú vị khi nhắc đến ích lợi của tính khoái sưu tập, sưu tầm của học giả Vương Hồng Sển.

Ông sinh ngày 27.9 âm lịch năm Nhâm Dần 1902 - nhưng trong giấy tờ lại ghi ngày 4.1.1904 năm Giáp Thìn. Tổ tiên nhiều đời của ông vốn là người gốc Trung Hoa, có thể tóm gọn trong 15 chữ: “Phước Kiến tỉnh, Tuyền Châu phủ, Đồng Ân huyện, Lâm Mễ thôn, Quan Khảo lý” nhưng do chống lại triều đình Mãn Thanh nên di cư sang Việt Nam. Ông sinh tại làng Xoài Cả Nả - Sóc Trăng. Theo ông, về địa danh này, đúng ra phải nói là Sốc Trăng ôvốn là do tiếng Miên, hai chữ “Srock-Khléang” nói trại. Srock là xứ, cõi. Khléang là kho vua Thổ, chỗ chứa bạc vàng. Srock Khléang là xứ có kho chứa bạc nhà vua. Về sau âm ra tiếng Việt, trước kia viết Sốc Kha-lăng, sau nữa viết Sốc Trăng. Lúc làm khai sinh, ông có tên là Vương Hồng Thạnh, nhưng người giữ sổ lục bộ ghi nhầm là Sển. Thuở nhỏ, còn được gọi tên là Fóc-Lóc-Chảy (tức phiên âm Phước Lộc Nhi theo tiếng Quảng Đông).

Thuở nhỏ, ông học ở trường Chasseloup-Laubat (nay là trường Lê Quý Đôn) từ năm 1919 đến 1923. Sau khi thi đậu Brevet Élémentaire ngày 18.6.1923, ông tiếp tục dự thi và trúng tuyển khoa thi chọn người làm thư ký cho chánh phủ. Cuộc đời công chức của ông kéo dài đến năm 1943. Sau đó, từ năm 1947-1964 ông làm Quyền quản thủ thư viện Bảo tàng quốc gia Sài Gòn.

Ông xuất hiện trên trường văn trận bút khá chậm, từ năm 1947, lúc bấy giờ đã ngoài 40 xuân. Dù chậm, nhưng gừng càng già càng cay, với sự từng trải và kiến thức tích lũy, ông đã viết nhiều tác phẩm có tiếng vang tốt trong dư luận. Càng về sau, những trang viết của ông càng khẳng định giá trị vốn có của nó. Để hiểu miền Nam mến yêu của nước Việt thì một trong những cuốn sách chắc chắn phải đọc là của Vương Hồng Sển. Một trong những đóng góp lớn nhất của ông trong văn hóa nước nhà - đó là ông đã giữ được bản sắc ngôn ngữ miền Nam. Lối hành văn, sử dụng ngôn từ của ông tươi rói như sức sống bền bỉ của người miền Nam, chúng ta khó có thể tìm thấy ở đó tì vết của sự “pha tạp”. Nếu có ai đó nhẫn nại, đọc lại toàn bộ tác phẩm của ông (kể cả những bài báo chưa in thành sách) để chọn lọc lại từ ngữ, tiếng nói miền Nam, thì có lẽ đó sẽ là một công trình có giá trị lâu dài. Có thể khẳng định, hiện nay, ít có nhà văn nào có được vốn từ phong phú, đa dạng và bề bộn như ông.

Tác phẩm đầu tiên của ông là Sài gòn năm xưa in năm 1960 đến nay đã tái bản nhiều lần. Đây là cuốn sách biên khảo công phu với tài liệu dồi dào nhắc lại công lao của tổ tiên những người đi mở đất một cách cảm động. Về địa danh Sài Gòn, ông kết luận rằng: Sài Gòn theo tiếng Miên là Prei Nokor (nghĩa là xứ ở rừng), Trung Hoa tới lập khu buôn bán gọi là Đề Ngạn (Chợ Lớn ngày nay) và người Việt tới lập một khu khác gọi là Bến Thành (Sài Gòn ngày nay). Đề Ngạn mà phát âm theo giọng Quảng Đông thì nghe ra Thầy ngônn hay Thì ngồnn, Tài ngòn. Sài Gòn có lẽ do đó mà ra, chứ không phải do Prei Nokor. Cũng trong năm này, ông cho in Thú chơi sách với lối viết lịch lãm của một người chơi sách chuyên nghiệp. Nay đọc lại vẫn còn thấy thú vị, chỉ tiếc rằng, bây giờ, ít còn ai ham thích chơi sách cỡ như ông “chẳng những đọc mà thôi, còn mân mê cuốn sách, rờ rẫm cái bìa, êm ái vuốt ve trang giấy mịn màng, gởi hết tâm tư vào đó, một lòng gắn bó thiết tha tưởng còn hơn các phong lưu công tử đời xưa tiếp kiến nhân tình bằng xương bằng thịt” (NXB Mỹ Thuật tái bản 1994, tr. 24,).

Năm 1968, lúc bấy giờ đã ngoài 60 xuân, ông cho in Hồi ký 50 năm mê hát. Cho đến nay, chưa có công trình khảo cứu nào đầy đủ, công phu và thuyết phục hơn công việc của ông đã làm - nhất là ở phần phụ lục. Về “lai lịch” của nghệ thuật cải lương, theo ông:

“a. Cho đến năm 1915 tại miền Nam, và chính tại Sài Gòn, các tài tử còn ca các bài cũ kiểu “độc thoại” và không bao giờ khi ca ra có bộ; có thể ví đó là thời kỳ thai nghén hay tượng hình tượng trưng của ca hát.

b. Bắt đầu từ 1916, có ca đối thoại, nhiều người và gọi đó là “ca ra bộ”. Điển hình nhứt là bài Tứ đại oán, Bùi Kiệm thi rớt phát khởi từ Vũng Liêm (Vĩnh Long) nhà thầy Phó Mười Hai. Đây là thời kỳ trứng nở biến ra nhộng nhưng chưa biết se tơ.

c. Đêm 16.11.1918 tại rạp hát Tây Sài Gòn, có diễn tuồng Pháp - Việt nhứt gia cũng gọi Gia Long tẩu quốc. Thời kỳ này, con tằm đã biết kéo chỉ, nhưng chưa khéo như sợi tơ tằm “cải lương” sau này; tuy vậy nên kể là thời kỳ phôi thai của cải lương được.

d. Sau đêm 16.11.1918 André Thân trước, rồi Năm Tú sau, đưa cải lương lên sân khấu thiệt thọ. Năm 1922 chính là năm điển hình, diễn tuồng Trang Tử thử vợ và tuồng Kim Vân Kiều mấy phen tại rạp Mỹ Tho rồi lên diễn tại rạp Chợ Lớn và rạp Modern Sài Gòn. Lúc này cải lương đã ra đời và thành hình thật sự. Con tằm đã lanh lẹn và sợi chỉ đã săn, thâu súc lại chắc chắn. Một sợi tơ kéo ra Bắc do sinh viên trường Cao đẳng. Tính đến năm 1968, sợi tơ đã được 50 năm và biến biến hóa hóa thiên hình vạn trạng không biết sẽ đi đến đâu mà đoán trước được” (tr. 176).

Sau đó, năm 1971 ông cho in cuốn Chuyện cười cổ nhân (NXB Văn Nghệ TP. HCM tái bản 1992). Đây là một cuốn sưu tập có giá trị, vì ông đã tuyển chọn lại chuyện cười của Trương Vĩnh Ký, Thọ An, Đinh Thái Sơn, Đặng Lễ Nghi... xuất bản từ đầu thế kỷ XX. Đóng góp cho văn hóa nước nhà của ông không chỉ có vậy, ông còn viết cả Phong lưu cũ mới in năm 1970 (NXB TP. Hồ Chí Minh tái bản 1990) trình bày về thú chơi cá, chim, chọi gà... rồi Thú xem truyện Tàu với cách viết lịch lãm, uyên thâm, đưa ra nhiều tài liệu, nhận xét xác đáng.

Nhưng công lớn nhất của học giả Vương Hồng Sển vẫn là những bộ sách khảo cứu đồ cổ ngoạn. Hơn ai hết, ông là người có đủ kiến thức về lãnh vực này và bản thân ông cũng là nhà sưu tập đồ cổ ngoạn với số lượng nhiều nhất, có giá trị nhất. Niềm say mê của ông đối với đồ cổ ngoạn thật lạ lùng. Ông từng tâm sự: “Bình sinh tôi mê thích đồ cổ còn hơn khách hào hoa mê gái, hơn xa người đánh bạc mê bài. Mua được một món lạ, tôi đắc ý gặp ai đến nhà cũng lấy ra khoe, quên rằng ép người ta nghe mình nói chuyện Tam hoàng quốc chí, người ta mau chán ngán. Chỉ riêng tôi, với món đồ mới sắm, tôi có thể mân mê suốt ngày, không ăn cũng đủ no. Nói ra không sợ ai cười, tôi có thể trở nên một thằng điên khúc khích mình cười nói chuyện một mìnhọ rồi tôi sung sướng khoan khoái trong lòng, khi ấy tự mình thấy trẻ trung, nhỏ xuống mấy tuổi, vì lẽ ấy không trách vì sao tôi cứ mua đồ cổ. Tiền mua đồ cổ, dẫu tốn bao nhiêu, tôi không sợ” (Hơn nửa đời hư - tr. 501).

Với ông, đồ cổ ngoạn không phải là vật vô tri vô giác mà là mỹ nhân, giai nhân tuyệt sắc có thể trò chuyện, sờ ngắm được. Nói như ngôn ngữ nhà Phật thì do cơ duyên, nên ông đã sưu tập được những đồ cổ ngoạn loại quý hiếm nhất. Xin kể lại một chuyện mua đồ cổ của ông.

“Ấy là những năm 1965-1967, mỗi năm tôi có dịp ra Huế để dạy chuyên đề Văn chương quốc âm miền Nam tại Đại học Văn khoa. Tại nhà ông Khóa Ổi trong Thành Nội, tôi đã thấy cái tô xưa - chế tạo năm 1868, còn gọi là tô Đặng Huy Trứ. Người bán ra giá 6000 đồng, tôi chê mắc không mua. Về đến Sài Gòn, nhớ cái tô quá viết thư nhờ ông bạn dò xét giùm. Qua năm 1966 ra Huế lần nữa thì biết cái tô này đã bán cho một người Pháp ở Đà Nẵng. Tuy biết mua hụt thì tức và uổng, nhưng đã trễ rồi. Khác nào bị giựt vợ. Thế là tôi vội vàng viết thư cho ông người Pháp, nhưng không có kết quả. Qua năm 1967, có người bạn từ Huế báo tin vui là đã tìm ra manh mối. Tôi mừng lắm, cố nài mua cho bằng được - miễn đừng lên tới giá gấp đôi là 12.000 đồng. Qua năm 1968, cái tô bấy giờ mới thật sự về tay tôi với giá 10.000 đồng. Được cái tô tôi mừng hết chỗ nói, ngâm nho nhỏ đủ nghe: “Rõ ràng trước mắt còn ngờ chiêm bao”. Cầm cái tô trên tay, vì trong trí đã từng gặp nạn như vầy khiến nhiều phen tuy chưa làm thân chủ dưỡng trí viện Biên Hòa, nhưng trong trí phân vân tự ví cái tô kia không khác con người là mấy. Nếu con người này là trai trẻ, là đứa con dại, đứa con hoang bỏ nhà đi biệt tích biệt tăm suốt mấy năm nay, nay trở về đó, lòng tôi bỗng quên hết chuyện cũ, để vui câu đoàn tụ, huynh đệ cha con sum họp; hơn nữa, hoặc giả người ấy là phận gái một đứa gái hư, một con vợ hỏng, đi biệt mấy năm mất tích mất dạng, nay tần ngần chường mặt ra đó, mình đã không ngầy ngà lại còn chứa chấp, không dám nặng nhẹ nửa lời… Cả đêm mừng không ngủ” (Hơn nửa đời hư, tr. 508-509). Đọc đoạn văn này ai mà không cảm động trước tấm lòng của ông đối với đồ cổ ngoạn?

Đối với ông, đã chơi đồ cổ thì không bao giờ bán vì “đồ cổ là vợ bé của qua. Thà chết khô, hổng khi nào bán vợ, chứ gọi mất thê, mất thiếp nhục lắm”. Cũng không ham rẻ mà mua đồ ăn cắp vì “người bất nghĩa bất giao, của bất nghĩa bất thủ”. Với những kiến thức am hiểu tường tận về đồ cổ, ông đã viết thành những bộ sách quý như Thú chơi cổ ngoạn, Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa, Cảnh Đức Trần đào lục, Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn rồi Khảo về đồ sứ men lam Huế (tập thượng và tập hạ)... vài ngàn trang giải thích cặn kẽ từ chân tơ kẽ tóc của từng món cổ ngoạn.

Trong những năm cuối đời, Vương Hồng Sển vẫn tiếp tục viết khảo cứu. Năm 1992, ông cho in Sài Gòn tạp pín lù. “Tạp pín lù” có nghĩa là gì? Xin hãy nghe chính ông giải thích: “Nếu dịch ra đúng Hán Việt, là “Sài Gòn đả biên lô”, vẫn chưa ai hiểu là gì? Tả, tạp là “đả” đánh. Pín có hai nghĩa: “pín” là cái đuôi sam thằng Chệt đời Mãn Thanh, nhưng ở đây pín có nghĩa là “biên” (Hán tự) và “bên, gần bên” (Nôm); lù là lò, lò lửa”. Tạp pín lù là “đả biên lô”, tức là món ăn nấu chín gần bên lò lửa; cũng như “ ăn sán lẩu” là ăn thịt sống nhúng vào nước sôi bắt trên lò lửa nóng”. Chưa hết, ông còn tiếp tục giải thích tường tận hơn nữa, mà càng đọc chúng ta càng vỡ ra nhiều điều thú vị.

Năm 1993 ông cho in Tự vị tiếng nói miền Nam (nhưng khi in người ta lại tự ý đổi thành Tự vị tiếng Việt miền Nam - NXB Văn Hóa). Cuốn sách này dày gần 800 trang in, là tác phẩm quan trọng và cần thiết cho bất cứ ai muốn tìm hiểu tiếng nói, địa chí, nhân vật... ở miền Nam. Chẳng hạn, từ vàm ở ngoài Bắc không thấy có; hoặc “Thèo lèo trong Nam hiểu là đậu phộng chiên mỡ, bao ngoài một lớp đường pha bột, màu trắng, thơm ngon, dùng khi uống trà Tàu, lại gọi giễu là “cứt chuột” (tr. 685) v.v...

“Đọc sách là nói chuyện với những người thành thật nhất của thế kỷ đã qua”. Câu nói của Descarte khiến chúng ta nhớ đến những bộ sách quý của các nhà văn hóa Việt Nam trong đó có Vương Hồng Sển. Đọc sách của ông, bao giờ chúng ta cũng tìm được ở đó những điều rất thú vị mà ta không biết hỏi ai hoặc tra cứu ở sách vở nào. Sống gần trọn thế kỷ XX này, Vương Hồng Sển còn để lại tập hồi ký Hơn nửa đời hư (NXB Trẻ tái bản 1999) mà những học giả đương thời như Sơn Nam không ngớt lời ca ngợi, vì tính chân thật, giá trị lịch sử ở trong đó “là sự đóng góp quý báu về tư liệu xã hội học, dân tộc học ở vùng đất mới”. Ngoài ra, ông còn có nhiều di cảo khác.

Học giả Vương Hồng Sển mất lúc 8 giờ 30 sáng ngày 9-12-1996 tại bệnh viện Nguyễn Trãi TP. Hồ Chí Minh. Cảm động thay, ước nguyện cuối cùng của ông: “Khi tôi chết, xin đừng kèn trống đưa đám rùm beng. Xác chở về Sốc Trăng, chôn dưới chân cha sanh mẹ đẻ”. Trong sổ tang, nhà sử học, GS Trần Văn Giàu và nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng đã viết: “Vô cùng thương tiếc bạn già, người có công lớn đối với văn hóa dân tộc. Mong cụ vui ở thế giới bên kia”. Dòng chữ này có lẽ cũng đã nói thay cho tấm lòng nhiều người khi tưởng nhớ đến học giả Vương Hồng Sển.

L.M.Q

(nguồn: Tạp chí Kiến Thức Ngày Nay số 1076 ngày 1.7.2020)

Chia sẻ liên kết này...

Add comment


Việt Tuấn Trinh | www.viettuantrinh.com

trinhduyson