LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 15.1.2017

PDF.InEmail

 

ngay-me-benh1R

 

Người đời thử ngẫm mà hay

Trăm năm thì ngắn, một ngày dài ghê

Còn ai, ai tỉnh ai mê

Những ai thiên cổ đi về những đâu?

Thơ Tản Đà. Một chữ đã viết ra, làng trên xóm dưới đều đọc, sau này, nếu muốn xóa đi, dễ hay khó? Muốn trả lời câu hỏi đó, phải tự trả lời câu hỏi này: Chữ ấy, mình đã viết trong tâm thế, tâm thức nào? Để từ đó, khi đối diện lại, dù nó đã bị xóa đi hay vẫn còn sờ sờ ra đó, dù nhận thức đã thay đổi nhưng người viết cũng không mắc cỡ, xấu hổ với chính mình. Một chữ đã viết ra, dù bạn đọc đã xóa, đã quên nhưng làm sao xóa khỏi lòng mình? Cái nghề cầm bút nhọc nhằn là ở chỗ đó, chứ không phải vì tất bật mưu sinh, bận rộn gõ phím mỗi ngày. Đã ăn hạt ngọc trời đến mòn răng bằng nghề cày chữ, nếu nhìn lại những gì đã viết, y nghĩ gì?

Chỉ xin bàn về một chuyện nhỏ, ấy là những lúc viết Chuyện tình các danh nhân Việt Nam, Kể chuyện danh nhân và tiểu thuyết lịch sử, qua đó, y đã có những mối thân tình anh em từ con cháu của người đã khuất. Ngày gần đây, cuối năm y lại nhận từ bưu điện nhiều, khá nhiều tài liệu về họa sĩ Mạnh Quỳnh. Đã khá lâu, chừng hơn mười trước, y có viết bài báo Họa sĩ Mạnh Quỳnh và thi sĩ La Fontaine, không còn nhớ đến nữa. Đột nhiên, ngày nọ y nhận được điện thoại của con trai họa sĩ Mạnh Quỳnh nhắc lại. Từ một bài báo mở ra một cái tình. Quý thay. Với khá nhiều tài liệu vừa nhận được, qua Tết, đọc kỹ, có thể viết được cái gì đó.

Sáng hôm qua, đến Trường Đại học Sư phạm mừng sinh nhật 80 của PGS-TS Trần Hữu Tá. Với những gì y đã viết, đã có nhiều người nhận xét, đánh giá, thú thật, vẫn thích nhất lời nhận xét, đại khái theo ông, y là mẫu người vừa có khả năng chặt tre vừa có khả năng vót tăm. Ngắn mà đầy đủ. Dịp này, tập sách Trần Hữu Tá - Từ bục giảng đến văn đàn (NXB Thanh Niên) được ấn hành. Ngồi trong hội trường, cầm tập sách tranh thủ đọc loáng thoáng, biết thêm chi tiết: Trước đây, công trình nghiên cứu Nhìn lại một chặng đường văn học, dày 1.400 in, khổ 19x24 cm do ông chủ biên, đề cập đến dòng văn học yêu nước tại đô thị miền Nam suýt bị ách lại, cấm phát hành.

Hãy nghe nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ kể lại: “Nhân, trong phần trích dẫn các bài viết trước 1975, có một bài của Cao Tùng, với cái tít “Thiên tài Phạm Duy”, vốn được đăng trên tạp chí Trình bày. Ngay khi đọc và sửa bản in, tôi đã thấy ngại, vì lúc đó nhạc sĩ Phạm Duy chưa được cho về nước, và người ta còn “úy kỵ” ông lắm, tôi có đề nghị anh Tá nên thêm vào hai dấu ngoặc kép để trước và sau hai chữ thiên tài. Nhưng anh Trần Hữu Tá cương quyết không chịu. Đó là thái độ làm việc nghiêm túc và trung thực của một nhà nghiên cứu văn học chân chính. Vậy mà sự chân chính ấy suýt phải trả giá không nhỏ” (SĐD, tr.210-211).

Sau đó, trên báo Tuổi trẻ chủ nhật số ra ngày 1.6.2000 có đăng bài của Tần Hoài Dạ Vũ “viết giải thích tác giả bài báo gọi “thiên tài” Phạm Duy chỉ là một cách nói mỉa”, chứ nào phải ca ngợi gì, nhờ vậy mọi việc được thu xếp ổn thỏa, suôn sẻ. Lật lại quyển sách Nhìn lại một chặng đường văn học kiểm chứng, mới biết Tần Hoài Dạ Vũ nhớ sai, tác giả là Cao Thanh Tùng, chứ không phải Cao Tùng; tựa bài báo là “Phạm Duy… bất tử” từng in trên tạp chí Trình bày số 23 ra ngày 3.7.1971, chứ không phải “Thiên tài Phạm Duy”. Dù sai một, hai chi tiết vừa nêu nhưng câu chuyện trên có thật, nhắc lại đến thấy lại não trạng của một thời. Những người đứng ngoài, không theo nghiệp nghiên cứu khó có thể hình dung ra nổi.

Trong bài viết PGS-TS Trần Hữu Tá - một người hiền chọn in trong tập sách  Trần Hữu Tá - Từ bục giảng đến văn đàn, y có nhắc lại một  kỷ niệm về công trình Từ điển văn học (bộ mới) do ông đồng chủ biên với các ông Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu. Cười cho cái thói ngựa non háu đá của y. Rằng, đã từng đọc bộ sách này từ thời sinh viên, đến lúc ra trường, đọc kỹ hơn, phát hiện ra trong đó còn  thiếu nhiều tác giả. Thế là y viết bài góp ý. Rồi mươi năm sau, còn nhớ hôm ra mắt Từ điển Văn học (bộ mới) tại Công ty Fahasa, ông còn chủ động nhắc lại chuyện đó một cách vui vẻ. Thì ra cái tâm độ lượng, cái tính học thuật của ông là vậy.

Có lẽ, y góp ý đúng nhưng lúc đó, ông không tiện trả lời vì ở thời điểm thập niên 1980 còn có những “rào cản” nhất định khi chọn người này, không chọn người kia! Sau này, lăn lộn trường văn trận bút, đã kiếm sống bằng nghề viết ròng rã gần hết đời người, ăn cơm mòn răng từ nhuận bút, y mới nhận ra sự đời đâu đơn giản như đã nghĩ. “Thức lâu mới biết đêm dài”. Còn nhiêu khê chán. Khổ nỗi, thời trẻ, y nào có hiểu.

Thế đấy, nhận thức mỗi thời mỗi khác. Đôi khi nhớ lại những câu chuyện đã qua, y biết, có nhiều người tự hỏi, một chữ đã viết ra có xóa đi được không là vậy. Thôi thì cái tâm, cái lòng thế nào thì hãy viết thế, nhờ đó, vừa nhận được những tài liệu rất quý về họa sĩ Mạnh Quỳnh? Thời đó viết gì? Viết rằng:

Quái lạ, một họa sĩ tiên phong trong lãnh vực sáng tác truyện tranh nổi tiếng cùa Việt Nam như Mạnh Quỳnh, lại không có mấy tài liệu đề cập đến.

Thế nhưng, trong ký ức của những người cùng thế hệ thì vóc dáng của ông vẫn còn sừng sững. Mọi người thường nhắc đến ông với tất cả sự khâm phục. Nhà thơ Thy Ngọc ở tuổi “cổ lai hy”, nay ngoài 80 xuân nhớ lại: “Năm tôi học lớp 3, lớp 4 tiểu học thì họa sĩ Mạnh Quỳnh đã nổi tiếng. Bấy giờ, ông vẽ truyện tranh phiêu lưu, vui nhộn nhưng lại có tựa bí hiểm là Kao co và vẽ nhân vật Vá, Vếu cho tờ báo Cậu Ấm - Cô Chiêu của ông Thái Phỉ Nguyễn Đức Phong”.

Cậu Ấm - Cô Chiêu là tờ báo nhi đồng đầu tiên trong tiến trình lịch sử báo chí Việt Nam. Từ số 1 đến số 12 (ra ngày 8.5.1935) có tên Cậu Ấm báo con trai. Bắt đầu từ số 13 (ra ngày 15.5.1935) được đổi tên thành báo Cậu Ấm - Cô Chiêu. Tòa soạn đặt tại số 82 Rue du Coton (Phố Hàng Bông - Hà Nội). Báo in theo khổ 19x 29 cm, dày 20 trang. Họa sĩ Mạnh Quỳnh là cây cọ chủ lực của tờ báo này.

Nhà thơ Thy Ngọc nói tiếp: “Họa sĩ Mạnh Quỳnh họ Ngô, ấn tượng đối với tôi là vóc dáng của ông cao lớn, nói năng không hoạt bát nhưng lúc nào cũng trẻ trung, hay cười - tạo cho người gặp đầu tiên những tình cảm đáng tin cậy. Ngoài việc vẽ truyện tranh, ông còn là người đầu tiên vẽ phim không cử động ở hiệu ảnh Hạ Long. Thời đó, chưa có băng vidéo hoạt hình, do đó, tuổi nhỏ của chúng tôi rất mê loại “phim” của ông. Không rõ từ bao giờ, ông đã mở lớp vẽ tư ở nhà riêng tại Hàng Trống - trước đó ở phố Nhà Thương Khách. Nhiều họa sĩ nổi tiếng hiện nay từng là học trò của ông”.

Nhà thơ Thy Ngọc cho biết thêm, Mạnh Quỳnh còn là người vẽ tranh minh họa cho bộ truyện ngụ ngôn của thi sĩ Pháp La Fontaine (1612-1695).

Lần đầu tiên đến Việt Nam, tên thi sĩ lừng danh này được phiên âm qua Hán - Việt là Lã Phụng Tiên, được dịch in bằng chữ Quốc ngữ trong quyển Hải lục cách ngôn do Đỗ Thận chủ trương, in tại nhà in H. Schneider và bán tại hiệu Ích Ký (58 Hàng Giấy - Hà Nội) cùng thời với hoạt động của trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Còn bài thơ ngụ ngôn đầu tiên được công bố trên báo chí Quốc ngữ là Truyện con sói và con chiên con  đăng trên tờ Đại Nam đăng cổ tùng báo (số 821 ngày thứ Năm 10.10.1907) và người dịch là nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936). Sau đó, tập hợp lại những bài đã in, Nguyễn Văn Vĩnh cho xuất bản tập La Fontaine - Thơ ngụ ngôn (Trung Bắc Tân Văn XB năm 1928), gồm 44 bài mà người minh họa là họa sĩ Mạnh Quỳnh. Nét vẽ của ông đậm đặc cảnh vật và người Việt Nam. NXB Cảo Thơm ở miền Nam tái bản vào năm 1969.

Xem La Fontaine - Thơ ngụ ngôn ta thấy hết sức thú vị. Chẳng hạn, với bài Anh chàng đứng tuổi với hai chị nhân ngãi - họa sĩ Mạnh Quỳnh vẽ người đàn ông khăn đóng, tay cầm ô; còn phụ nữ thì chít khăn mỏ quạ, tay cầm quạt. Truyện cô hàng sữa, ông vẽ nhân vật chính là cô Perrette giống hệt hình ảnh cô gái quê đầu thế kỷ XX v.v...

Biết được điều này, hẳn La Fontaine rất hài lòng, bởi lẽ, ngụ ngôn của ông đã đạt đến tính phổ biến của nhân loại, thì mỗi nơi có một cách tiếp cận riêng với từng nhân vật ấy là lẽ tất nhiên. Thông điệp trong ngụ ngôn này là “Không bao giờ bán da con gấu khi chưa hạ được nó”; hoặc “Chạy chẳng lợi ích gì, mà phải biết khởi hành đúng lúc”, “Nghi ngờ là mẹ của an toàn”, “Bụng đói thì không có tai” v.v…đâu chỉ dân tộc Pháp mới cảm nhận như vậy, ở Việt Nam cũng thế thôi. Đặc biệt, loài vật của La Fontaine hiện ra dưới nét vẽ của Mạnh Quỳnh thật ngộ nghĩnh. Ngay cả con vật dữ tợn như sư tử, sói… cũng đều biết cười. Và trông nét mặt chúng đáng yêu làm sao!

Chính vì có cách thể hiện độc đáo của riêng mình, nên mãi đến bây giờ, ở Việt Nam, chưa có họa sĩ nào minh họa thơ ngụ ngôn La Fontaine tuyệt hơn Mạnh Quỳnh. Theo nhà thơ Thy Ngọc thì ông sinh khoảng trước năm 1920 và mới mất độ dăm năm trở lại đây tại Hà Nội”.

Nhân đây cũng xin nói luôn, cách đây chừng mươi năm, chính từ bộ Cậu Ấm - Cô Chiêu, y đã sưu tập đầy đủ tập truyện dài nhiều kỳ Đảng Rỗ Bẩy của nhà văn Nguyễn Công Hoan và NXB Trẻ đã in lại thành sách. Bài báo trên y cho rằng từ năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh là người đầu tiên dịch thơ ngụ ngôn của thi sĩ Pháp La Fontaine. Nay nhận thức lại, trước đó rất nhiều năm, từ năm 1881 chính nhà văn Trương Minh Ký với Truyện Lang Sa diễn ra Quốc ngữ, in từng kỳ trên Gia Định Báo mới là người đầu tiên dịch thơ La Fontaine, tuy nhiên ông lại sang văn xuôi.

Thoáng đó, có nhiều người, y viết về thân sinh, người thân của họ, qua đó đã có mối thân tình nhưng nay họ cũng mất, chẳng hạn trường hợp chị Vũ Mỵ Hằng - con gái nhà văn Vũ Trọng Phụng, bà cụ Nguyễn Thị Thịnh - vợ của bác sĩ Đỗ Xuân Hợp... Hôm kia điện thoại hỏi thăm mới biết chị Vân - con gái nhà văn Lê Văn Trương ọp ẹp lắm rồi, phải chạy thận thường xuyên. Nhắc lại để thấy phần số đời người ngắn lắm. Ngắn như một chớp mắt. Rồi tan biến mất hút.

Sáng nay, dậy sớm như mọi ngày và vẫn cần mẫn gõ phím. Trong lòng không hề gợn lên một chút gì về xuân vói Tết. Mua Sài Gòn giải phóng, tờ báo này đã in bài thơ Ngày mẹ bệnh, y viết tặng bạn Nguyễn Minh Nhựt. Viết tặng do ngày nọ tình cờ đọc trên trang Facebook thấy anh cạo trọc đầu vì cầu mong, khấn nguyện cho mẹ mau lành bệnh:

“Trong con, mẹ - đóa hoa sen

Một đời chân chất dấu phèn chân quê

 

Châu Thành yêu dấu Bến Tre

Trăng đêm sáng. Nắng trưa hè. Vẫn xanh

 

Tuổi thơ hoa bưởi, hương chanh

Thơm bàn tay mẹ dỗ dành giấc mơ

 

Lời mẹ ru. Nhịp ầu ơ

Vẫn lắng đọng giọt phù sa quê mình

 

Từng ngày vạt nắng lung linh

Vẫn cầu cho mẹ ấm tình xưa sau

 

Bóng dừa biêng biếc nhịp cầu

Mẹ lại khỏe - lẽ nhiệm mầu trong con”.

Bài thơ mở đầu và khép lại bằng 2 từ “trong con” cho thấy sự nhận thức về mẹ mỗi thời mỗi khác. Ngày còn thơ ấu, ai cũng nghĩ mẹ mình là đóa sen, là Phật Bà, là sự màu nhiệm tuyệt vời nhất, đúng như câu danh ngôn rất hay: “Thượng đế không có mặt ở khắp mọi nơi nên ngài đã sinh ra các bà mẹ”; lúc mình lớn lên, mẹ mình lại già yếu, mình chỉ cầu mong một điều thiêng liêng: “Mẹ lại khỏe - lẽ nhiệm mầu trong con”. Nguyện cầu về lẽ màu nhiệm ấy, mỗi người có một cách, có người “Đêm đêm thắp ngọn sao trời/ Cầu cho cha mẹ sống đời với con”, còn bạn mình lại xuống tóc. Vì thế rất cảm động. Cảm động về sự hiếu thảo của bạn mà viết.


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

Add comment


298
trinhduyson