LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 4.9.2013

 

truonghansieuR

Danh nhân văn hóa Trương Hán Siêu (nguồn: internet)

 

Tưởng chừng đã trở thành một con người khác. Những ngày nghỉ lễ Quốc khánh vừa qua, y đáng khen thật. Ngoan quá, dễ thương quá, yêu quá. Chỉ nằm nhà, đọc sách và viết. Không bước chân ra khỏi ngõ. Không phải nghe tiếng xe máy rú xuyên qua tai như đại bác ầm ầm nã đạn. Không phải nghe tiếng gắt gỏng, cáu kỉnh như dùi đục chấm mắm cáy lúc kẹt xe giữa chiều nắng nhạt.

Y chỉ nằm nhà. Đọc sách. Cái thú đọc sách còn là đi đứng thong dong, nhắm mắt vớ tay lên kệ lấy bừa một quyển, gặp bất kể quyển nào là đọc. Không thích, lại rút ra quyển khác. Đọc nhảy cóc, đọc lơ mơ, đọc làng nhàng, đọc để mà đọc và không bị câu thúc bởi lý do gì. Khổ nhất, không thích mà phải đọc. Giết chết cảm hứng từ cái nhìn vào dòng chữ đầu tiên.

Có mấy vấn đề cần ghi lại:

Nhà văn hóa Trương Hán Siêu, người Ninh Bình, tác giả Bạch Đằng Giang phú - bài phú nổi tiếng nhất trong 13 bài phú của đời Trần. Sử sách không ghi năm sinh của cụ, chỉ biết cụ mất năm 1354. Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, cụ là “môn khách” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Từ chi tiết đó, ta suy ra, trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông, Trương Hán Siêu có tham gia. Thế nhưng tham gia ở mức độ nào, phải xem xét chu đáo. Lướt qua các trang web và nhiều tập sách khác, có tác giả cho rằng cụ là người hiến cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn kế sách "vườn không nhà trống”, lấy nhu thắng cương, lấy ít thắng nhiều…

Liệu có đáng tin không?

Đời người, tuổi thọ là bao nhiêu? Thì cứ cho là 90 xuân xanh. Nếu cụ thọ 90 xuân, ắt sinh năm 1264. Nói thì nói vậy, chứ hiếm có người thọ ở lứa tuổi đó. Giặc Nguyên Mông tấn công xuống nước ta lần thứ nhất vào năm 1258, lúc ấy cụ chưa ra đời; khi chúng tấn công lần thứ hai vào năm 1285, lúc ấy cụ 21 tuổi; khi kết thúc cuộc chiến vào năm 1288, cụ 24 tuổi. Từ đó, ta có thể suy luận kế sách trên không thể của cụ Trương Hán Siêu. Hơn nữa, các chính sử cũng không hề ghi chi tiết đó. Lâu nay, có những điều, người này viết thế, người kia đọc thế, chép lại thế thành ra như thế, cứ tin là thế. Mà chẳng mấy ai chịu khó suy xét là có hợp lý hay không?

Lại thêm chi tiết cần bàn, tác phẩm nào của cụ Trương Hán Siêu được khắc trên núi Non Nước ở Ninh Bình? Núi Non nước được cụ đổi tên Dục Thúy - “núi có hình con chim trả đang tắm gội”. Đọc Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình do Trương Đình Tưởng chủ biên (NXB Thế Giới - 2004): “Đặc biệt, ở sườn núi phía tây, bên phải lối lên núi, có khắc bài Dục Thúy linh sơn Linh tế tháp ký của Thái phó triều Trần Trương Hán Siêu” (tr.106). Thử hỏi, bài ký này dài cả ngàn chữ Hán, làm sao có thể khắc hết trên đá? Cái sự vô lý này sao chẳng ai nhận ra? Phân vân quá bèn đọc kỹ lại tác phẩm của cụ. Thì ra, cụ có cho khắc tác phẩm của mình trên sườn núi Dục Thúy nhưng đó là bài Dục Thúy sơn. Thơ 5 chữ, dài 8 câu - nguyên văn như sau:

Sắc núi vẫn xanh tươi

Sao người chậm về chơi

Lòng sông bóng tháp đẹp

Hang đá cảnh chùa vui

Từ cách xa đời tục

Mới hay điều thị phi

Năm hồ trời đất rộng

Bến cũ khi nào về

(Băng Thanh dịch)

Về cụ Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, sử liệu cũng không thống nhất.  Cụ mất năm 1586, thọ 96 tuổi. Hơn một trăm năm sau, vào đời Lê, Tiến sĩ Vũ Khâm Lân khi soạn bài ký về thân thế, cuộc đời của cụ, có đoạn: “Tiên sinh là người tinh thông Thái cực, Lý số thấu triệt họa phúc, biết rõ dĩ vãng và tương lai, cả trăm đời sau chưa chắc đã có ai hơn được”. Đến nay, ta vẫn tin thế. Có điều chắc chắn Sấm Trạng Trình không phải của cụ. Chỉ do người đời sau bịa thêm vì mục đích chính trị của họ. Thói đời, người ta thường dựa vào uy tín của tiền nhân để bịa ra các chuyện có lợi cho mình, giai cấp mình rồi gán tất cho tiền nhân. Sấm Trạng Trình là trường hợp đó. Lâu nay có nhiều văn bản Sấm Trạng Trình nhưng mỗi bản mỗi phách. Giải thích, bàn luận cũng khác.

Sử có ghi, đại khái, sau khi Nguyễn Kim mất, lo sợ em vợ tranh giành quyền lực nên Trịnh Kiểm đã giết là Nguyễn Uông. Sợ mình rồi cũng bị anh rể ám hại nên năm 1558, Đoan quốc công Nguyễn Hoàng bèn sai người tìm hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm lối thoát thân. Cụ nhìn đàn kiến bò trên hòn non bộ và bảo: Hoành Sơn nhất đái, vại đại dung thân” (nghĩa: Một dãy Hoành Sơn kia có thể yên thân được muôn đời). Chuyện này chẳng thấy ai bàn cãi. Tin là thế. Sao không nghĩ rằng, một nhân vật lẫy lừng, uyên bác “thượng thông thiên văn, hạ tri địa lý, trung kiêm nhân sự” lại có thể nói một câu tưởng rằng chắc nịch nhưng thật ra rất sơ hở. Sơ hở bởi thấu hiếu Lý học, Kinh dịch chẳng lẽ nào cụ lại không thấy tính vận động của sự việc? Than ơi! Làm gì có sự “vạn đại” dưới gầm trời này? Vì thế, câu nói của cụ chỉ có thể “Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ  dung thân”. Người đời sau chỉnh sửa lại câu nói của tiền nhân đấy thôi.

Lạy trời cả cả gió nồm

Cho thuyền chúa Nguyễn giong buồm ra khơi

Câu ca dao này Từ điển wikipedia giải thích: “Ðược tin vua Quang Trung băng hà, Nguyễn Ánh rất vui mừng, ông đẩy mạnh việc chuẩn bị đánh Tây Sơn. Dưới trướng Nguyễn Vương lúc bấy giờ có nhiều quan chức người nước ngoài như Dayot (Ông Trí), Philippe Vannier (Ông Chấn), Guilloux, Laurent Barisy (Ông Mân), De Forcant (Ông Lăng), Jean Baptiste Chaigneau, Olivier de Puymanel (Ông Tín), Theodore Lebuen. Những quan chức nầy là những cố vấn kỹ thuật cho Nguyễn Vương trong lãnh vực quân sự, vũ khí, đấp thành, v.v... Năm Nhâm tý (1792) chúa Nguyễn tự thân đi đánh Qui Nhơn nhưng cũng không thành công.

Từ đấy hằng năm cứ đến mùa gió nồm Phúc Ánh cho quân tiến ra đánh các tỉnh miền Trung, khi gió bấc nổi lên ngài lại rút quân về Gia Định.

Người trong nước, mà chủ yếu là ở vùng Thuận - Quảng trông ngóng quân của chúa Nguyễn từ Gia Định ra đánh Tây Sơn nên thời bấy giờ có câu ca dao còn truyền tụng đến giờ:

Lạy trời cho cả gió nồm,

Để cho chúa Nguyễn kéo buồm thẳng ra.

Chiến dịch gió mùa đầu tiên, trong năm 1792, đưa đến một sự triệt hạ gần như hoàn toàn hải quân của Tây Sơn tại Thị Nại, hải cảng ở Qui Nhơn”.

Thử hỏi, có thật câu ca dao này thể hiện “Người trong nước mà chủ yếu là ở vùng Thuận - Quảng trông ngóng…”? Sao không đặt vấn đề có thể các nho sĩ phò chúa Nguyễn đã phao ra câu ấy? Chứ "người trong nước" nào ở đây? Nghĩ như thế, vì đã có hiện tượng là cũng câu ca dao, tục ngữ, đồng dao đó nhưng cách giải thích lại khác nhau về sự kiện lịch sử.  Hoặc cũng có thể câu đó đã có trước, hoặc có sau đã ám chỉ một sự việc khác nhưng có nhà viết sử vận dụng, cho nó ra đời trong thời điểm có thể phục vụ quan điểm chính trị của mình?

Cái thú đọc sách là chỗ đó. Cứ đọc lan man nhiều thông tin và tự mình tìm cho mình câu trả lời theo cách suy luận của mình. Đúng sai chưa rõ nhưng ít ra nói cũng buộc mình phải nghĩ ngợi đôi điều. Đọc sách mà nhất nhất tin vào sách, đừng đọc còn hơn. Đọc các sách viết về thú chơi đồ cổ, ta biết đầu thế kỷ XX khi đến kinh đô Huế, được tận mắt khảo sát, tìm hiểu đồ sứ men xanh trắng, học giả người Pháp Louis Chochod đã công bố bài khảo luận quan trọng. Trong đó, ông gọi các sản phẩm ấy là “Bleus de Hué”, về sau học giả Vương Hồng Sển là người đầu tiên chuyển ngữ thành “Đồ sứ men lam Huế”. Thuật ngữ này đã được giới chuyên môn công nhận và tồn tại đến nay.

Tuy nhiên, thực tế vẫn có người chưa thuận tình, đó là ông Trần Đình Sơn. Dù là “học trò” của cụ Sển, từng được sư phụ chỉ giáo nhiều về chuyên môn từ lúc chập chững bước vào thú chơi đồ cổ, nhưng ông Sơn cũng mạnh dạn bộc bạch suy nghĩ: “Tuy nhiên càng về sau, cụm từ “Bleus de Hué” - Đồ sứ men lam Huế càng gây ra nhiều ngộ nhận”. Tại sao? Ông Sơn cho biết: “Xét cho cùng nó không thể diễn tả đầy đủ các chủng loại đồ sứ do người Việt gửi kiểu mẫu đặt làm ở nước ngoài dưới hai triều Lê - Nguyễn. Nhiều cuộc tranh luận khoa học diễn ra, giới nghiên cứu mong tìm một thuật ngữ mới có thể thay thế Đồ sứ men lam Huế”. Là một người đã say mê đồ cổ từ thuở mới lên mười, được tiếp cận nhiều hiện vật - nhất là từ đồ cổ quý giá của ông cố là Thượng thư bộ Hình của Triều Nguyễn và qua trao đổi với các “danh gia vọng tộc” ở Huế - ông Sơn cho rằng nên gọi các sản phẩm trên bằng thuật ngữ “đồ sứ kí kiểu”.

Thuật ngữ này, đến nay chưa thấy ai phản bác. Theo ông Sơn “Bởi vì nó có nội hàm chuẩn xác, do chính tiền nhân chúng ta, chủ sở hữu dòng đồ sứ độc đáo này đã khai sinh: đồ kiểu, đồ mẫu”. Nói một cách nôm na, các hãng đồ gốm nước ngoài (Trung Hoa, Pháp...) đã sản xuất theo “đơn đặt hàng” từ mẫu mã đến thiết kế của người vua chúa, quan đại thần... người Việt. Chính vì thế dù thực hiện ở nước ngoài nhưng nó vẫn mang cốt cách hồn Việt.

Tất nhiên, lập luận của ông Sơn về một thuật ngữ mới nhằm thay thế “Đồ sứ men lam Huế” phải được trình bày bằng một luận chứng khoa học. Nhưng trước hết tinh thần phản biện này rất đáng hoan nghênh. Nghĩ cho cùng, đây là đức tính rất cần thiết  không chỉ cho người làm công tác khoa học mà còn cho người đọc sách. Có phản biện, chúng ta mới có thể tiếp cận được với cốt lõi của sự vật, của hiện tượng đã và đang tồn tại.

Vừa đọc xong Thưởng ngoạn đồ sứ kí kiểu thời Nguyễn 1802- 1945 của nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn (NXB Văn Nghệ - 2009) liền vớ tay đọc Đạo Cao Đài & Victor Huygo (NXB Thời Đại - 2011) của Trần Thu Dung. Càng đọc càng ngạc nhiên bởi nhiều thông tin hết sức lý thú: "Sức mạnh của hội Tam Điểm qua việc chọn thờ V. Hugo thay biểu tượng đạo Phật chứng minh Cao Đài chịu sự lãnh đạo ngầm của hội Tam Điểm" (tr.153); "Đạo Cao Đài là một chi nhánh Tam Điểm bản địa biến tấu. Các thành viên Tam Điểm chính là một phần các chức sắc lớn Cao Đài đã mất, sử sách không dám ghi lại sự thật. Sau năm 1945, hội Tam Điểm gần như biến mất ở Đông Dương nên hậu thuẩn đằng sau Cao Đài đã mất" (tr.159). Lạ lùng chưa? Đọc thấy ngạc nhiên bởi mới tiếp cận thông tin này lần đầu mà bản thân có biết ất giáp gì về các tôn giáo đâu.

Đọc lan man trong mấy ngày nghỉ lễ vậy là đủ rồi.

Ủa, đọc thì đọc nhưng sao chẳng thấy Nhật ký? Thì còn phải viết bài kiếm sống nữa chứ. May quá, “việc gì làm được hôm nay, chớ để ngày mai”, nghĩ được vậy nên tập trung thời gian viết dứt điểm mười danh nhân cho Đông A vẽ truyện tranh dành cho các em thiếu nhi rồi. Thở phào nhẹ nhỏm. Bèn ra nhà may Thắng may hai cái quần tây mới. Vẫn còn nhiều nhưng cũng may thêm bởi nó thuộc loại vải mà mỗi lần mặc phải ủi. Ghét quá. Lại ghét luôn loại giày mỗi lần mang phải cúi xuống đánh xira, cột dây giày. Ghét khi gọi điện thoại mà nhá máy. Ghét nhắn tin mà không thấy trả lời. Ghét đang ăn sáng lại có người đứng sát rạt mời mua vé số. Ghét vừa vừa thôi. Ghét nhiều thứ quá thì chơi với ai?

Sáng nay, họp ra mắt tập sách Điệp viên hoàn hảo X6 - cuộc đời hai mặt phi thường của Phạm Xuân Ẩn - phóng viên Reuters, Time, New York Herald Tribune… & tướng tình báo chiến lược Việt Nam của  sử gia Larry Berman. Ông ưu ái dành cho Việt Nam xuất bản ấn phẩm tiếng Việt trước cả sách gốc tiếng Anh được xuất bản ở Mỹ. Ngồi cà phê với bạn thơ L.T. Nhơn, T.H. Nhân và các anh em nhà báo. Chiều nay mưa.

Chiều nay mưa, nhưng có lai rai gì để tự thưởng chăng? Bởi trong mấy nghỉ ngày lễ vừa qua y đáng khen thật. Ngoan quá, dễ thương quá, yêu quá.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 30.8.2013

 

May mà xem lại thư mời. Nếu không, chiều qua đã quên béng ngày họp mặt kỷ niệm lần thứ 38 ngày thành lập báo TT. Khoảng tháng 6.1989, ngay lúc ra trường y về tờ báo này cùng đợt với Binh Nguyên, Phan Tùng. Sau đó, về PN cho đến nay. Điều nhớ nhất ở TT, thời còn ở Lý Chính Thắng vẫn là thư viện. Có khá đầy đủ sách, tạp chí trước 1975. Người quản thủ thư viện ngày ấy là chú Dậu. Do có mối quan hệ khá thân tình, hầu như ngày nào cũng vào đó mượn sách. Có lẽ đây là cơ quan báo chí duy nhất vẫn giữ được nề nếp vào dịp thành lập báo là mời anh em cũ quay về lai rai, hàn huyên, tâm sự, gặp gỡ. Trong không khí ồn ào, vui vẻ, nhộn nhịp mọi người thưởng thức thực đơn như sau: “1. Ba món khai vị: Nem cuốn bía, lưỡi heo tô ti, slad trộn kiểu Thái; 2. Cá sapa đút lò, khoai tây; 3. Tôm hấp nước dừa; 4.  Vịt hầm khoai môn, bánh mì; 5. Lẫu hải sản, miến; 6. Tráng miệng, trái cây”. Kết thúc diễn văn chào mừng, TBT nhấn mạnh đến tờ TT là “Trẻ, đỏ, Sài Gòn”.

Định viết lại vài kỷ niệm với tờ TT. Mà thôi.

 

DSCN0437RR

Từ phải: Nhà văn, nhà báo Nguyễn Đông Thức, Trần Hữu Lục, Lê Minh Quốc, Thu An

DSCN0453RR

"Đôi bạn cùng tiến" nhà báo Nguyễn Đông Thức, Lê Minh Đức toe toét với song ca "Trả nợ tình xa"

DSCN0442RR

Nhà văn, nhà báo Lê Văn Nghĩa

DSCN0440RR

Từ phải: Nhà báo Trần Nhật Vy, Trần Ngọc Châu, nhạc sĩ, nhà báo Nguyễn Phú Yên

 

Thật lạ, ý kiến nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 phát biểu nhận xét về giọng hát của vài ca sĩ hàng đầu hiện nay, lập tức tạo nên sự trao đổi, tranh cãi ồn ào trong dư luận. Phở mỗi ngày, lại nghe bàn luận đến. Chế Lan Viên có câu thơ:

Quanh hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê

Lòng ta đã thành rêu phong chuyện cũ

Có nhiều chuyện đáng bàn cãi, tranh luận vậy mà không mấy ai quan tâm đến. Chỉ tiếp nhận thông tin thờ ơ. Cứ như chuyện “trên trời dưới biển”. Biết thế nào được. Tùy mỗi người. Mỗi người đều có quyền quan tâm đến thông tin thiết thực của họ. Chẳng ai có thể ép ai. Y thích thông tin này:

Hiện nay, chúng ta đã có Dự án Danh tướng Việt Nam do Hội quán Di sản thực hiện, với sự giúp đỡ của Hội Sử học Việt Nam, Liên hiệp UNESCO Hà Nội - nhằm tôn vinh các vị anh hùng dân tộc, đồng thời để người dân hiểu rõ hơn về chiến công của các danh tướng Việt Nam. Qua đó, cũng là một cách tích cực giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu nước.

Vào sáng ngày 24.8, Dự án Danh tướng Việt Nam đã chính thức công bố tại hội trường Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (số 28A Điện Biên Phủ, Q.Ba Đình, Hà Nội): 4 nhân vật lịch sử gồm Việt quốc công Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ Đại tướng Võ Nguyên Giáp là danh tướng Việt Nam. Tạo hình của 4 nhân vật lịch sử này sẽ được thực hiện với nhiều kích thước khác nhau, có thể làm tượng trưng bày, quà tặng trang trọng với bạn bè quốc tế.

Có lẽ, danh sách Danh tướng Việt Nam chưa dừng ở đây. “Bốn ngàn năm ròng rã ngược xuôi / Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi…” (P.D) còn nhiều, rất nhiều anh hùng khác xứng đáng được tôn vinh nữa. Chiến tranh có thể ngủ yên trong viện bảo tàng không? Không bao giờ. Đọc văn của “ông già Bến Tre” Trang Thế Hy, nhớ hoài đến một chi tiết có liên quan đến suy nghĩ về chiến tranh. Rất độc đáo. Truyện ngắn Vết thương thứ 13, qua nhân vật chị Châu, nhà văn Trang Thế Hy trình bày những suy tư về chiến tranh thật lạ. Khi có người tặng tác phẩm Giã từ vũ khí cùa Hemingway, chị Châu cho rằng dịch không đạt.

Vậy dịch thế nào cho đúng với tinh thần của tác phẩm?

Nhân vật xưng “tôi” đã “nói bừa cho xuôi:

- Vĩnh biệt chốn ba quân

Chị Châu lắc đầu vì “Có khá hơn chút đỉnh. Nhưng chốn ba quân nghe Hồ Biều Chánh quá, hơi xưa. Vĩnh biệt thì không ổn. Vĩnh biệt thường được dùng trong tình yêu nghĩa là miệng nói vĩnh biệt mà lòng còn bịn rịn. Nói với chiến tanh phải dứt khoát hơn, cộc cằn hơn. Phải nói như tạt nước sôi vào mặt một số người bị xu thế hòa bình lôi cuốn đành phải giả bộ ghét chiến tranh cho hợp trào lưu nhưng trong bụng vẫn còn ham chiến tranh để đem mạng sống của người khác đổi lấy huy chương đeo đầy ngực chơi…

Vậy chị Châu dịch thế nào?

Nhà văn Trang Thế Hy viết tiếp: "Theo tôi, phải dịch: "Nghỉ chơi với súng ống". Nói nghỉ chơi không nghiêm túc. Nó là ngôn ngữ của trẻ con ở lứa tuổi còn dành ăn, còn cà nanh tình thương của cha mẹ. Thời hạn nghỉ chơi của trẻ con rất phù du, giận đó rồi thương đó, đếm bằng giờ bằng phút, không phải bằng năm tháng. Nhưng cái quý là ở chất dứt khoát và quyết liệt của hai tiếng nghỉ chơi lúc nó được xướng lên. Những nhà văn ham văn chương thích những ngôn từ gợi cảm nhưng mơ hồ, đầy tráo trở kiểu như vĩnh biệt, giã từ nên nghe trẻ con nói mà học viết... Đáng lẽ tôi mượn lời của một ông già để nói đạt hơn nhưng tôi thích chữ nghĩa của trẻ thơ..."

Nghe vậy, nhân vật xưng “tôi” hấp tấp hỏi:

- Ông già nào vậy?

Chị Châu chậm rãi:

- Một ông già có trái tim vàng và bộ râu củ ấu tên là Gorky. Ổng nói "Làm chiến tranh bằng máu của người khác thì dễ thôi ". Đó không phải là những chữ. Đó là những thanh củi khô mà nặng, cạnh rất bén, phang vào mặt những thằng cha ham chiến tranh”.

Một truyện ngắn, chỉ cần một chi tiết hay, độc đáo là có thể “đứng” được.

Chiều hôm qua, vật lộn với từ “đũi”. Câu văn như sau: “Trạng nguyên Lương Thế Vinh nặn những hòn bi bằng đất có lỗ ở giữa, phơi khô, xâu vào một cái đũi. Rồi ông làm nhiều xâu, buộc cạnh nhau thành một bàn tính. Bàn tính của ông đã thay thế cách tính quen thuộc mà dân gian lúc đó thường dùng là “bấm đốt ngón tay” hoặc dùng một sợi dây có những nút thắt làm công cụ tính toán. Đại loại như khi đi vay một đấu thóc, người ta thắt thêm một nút, khi trả được thì cởi nút ấy ra”.

Thử hỏi, “đũi” là gì? Tra lại từ điển gần đây không tìm thấy. Dễ hiểu thôi. Có những từ cổ đã mất. Lại có thêm những từ mới. Ngôn ngữ luôn vận động, từ đó, vốn từ tiếng Việt ngày càng đa dạng, phong phú hơn, có thể đáp ứng cho mọi sự diễn đạt. Cách nói của Sát thủ đầu mưng mủ là một ví dụ. Nếu phổ cập, sử dụng phổ biến trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, ta sẽ có những câu thành ngữ mới. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển của ngôn ngữ. Chẳng hạn, Đã xấu mà lại còn xa, đã si đa còn xông pha hiến máu, Chết vì tình là cái chết bất thình lình, Cố quá thành quá cố, Đẹp trai nhưng “hai phai”, Đời rất dở cũng phải niềm nở, Đú kiểu rừng rú, Hồn nhiên như cô tiên, Nghèo vẫn phải cho Tèo đi học, Nhan sắc có hạn thủ đoạn vô biên, Phi công trẻ lái máy bay bà già, Sống đơn giản cho đời thanh thản, Thất bại vì ngại thành công, Thú vui tao nhã, giặt tả cho con, Vạn sự khởi đầu nan, gian nan bắt đầu nản, Xấu như kết cấu nó đẹp… Các câu này có thể trở thành thành ngữ mới không? Qua sàng lọc của thời gian, ta hãy chờ xem. Nhưng trước mắt, hãy tiếp nhận một cách nói, cách diễn đạt khác trước.

Thử hỏi, “đũi” là gì?

“Đũi”, Từ điển Việt - Bồ - La (1651) của Alexandre de Rhodes: “Lụa dệt bằng tơ cặn con tằm”, Đại Nam quốc âm tự vị  (1896) của Huình Tịnh Paulus Của: “Hàng to chỉ dệt bằng tơ kén đỏ, thường dùng mà may quần, bền hơn vải”. Cách giải thích này, rõ ràng “đũi” là một loại vải, hàng sợi. Đũi trong ngữ cảnh của đoạn văn trên lại khác. Việt Nam từ điển (1936) của Hội Khai trí Tiến đức giải thích: “Giá đóng nhiều tầng: Đũi cỗ, đũi tằm”. Vẫn còn thấy khó hiểu. Vậy phải giải thích ra làm sao?

Sáng nay, đã gần 9 giờ vẫn còn nghe tiếng gà gáy vọng đến. Gợi  lên một không gian thanh bình, yên ả giữa Sài Gòn náo nhiệt.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 28.8.2013

 

Đêm qua, thấp thỏm âu lo, hơn một giờ sáng mới có thể chợp mắt. Trước đó, chập chờn, nửa mê nửa ngủ. Ai đời, đã bước qua 0 giờ rồi, vẫn chưa thấy về. Gọi điện thoại chỉ nghe chuông reng. Không bắt máy. Chuyện là hai đứa cháu du học nhân nghỉ hè về quê, từ quê vào Sài Gòn chơi và thăm bà nội. Tối qua, xin phép đi ăn sinh nhật. Đường sá không rành. Lạ nước lạ cái. Đã khuya, vẫn chưa thấy vác xác về nên không thể chợp mắt.

Ngẫm nghĩ, dòng đời bất an quá. Mỗi ngày, lật trang báo đập vào mắt biết bao là thông tin hãi hùng. Liên quan đến đâm chém. Chết chóc. Tai nạn. Cưỡng hiếp… Tội phạm ngày càng trẻ tuổi hơn. Sát thủ máu lạnh. Những đứa trẻ mặt búng ra sữa đã phạm tội. Chỉ cần đôi co, cãi cọ dăm câu là chém. Va chạm cỏn con trên đường phố là chém. Nhìn thấy ghét là chém. Cướp cạn sẵn sàng ăn tươi nuốt sống những chú thỏ, nai tơ ngơ ngác bước vào đời. Quán bia, quán rượu tràn lan trên phố bất kỳ độ tuổi nào cũng có thể hiên ngang bước vào, nghễnh chân, hất mặt nhìn đời và nếu khoái, cứ việc chửi tục dăm câu đỡ ngứa miệng nhạt mồm. Cám dỗ giăng bẫy. Mẹ mìn chung chạ.

Vậy mà, đoàn thể nào dạy cho đứa trẻ kỹ năng sống? Giúp các em có thể ứng phó, tự bảo vệ trong một xã hội bất an?

Mỗi ngày đi ra đường đã nhìn thấy những vụ thanh toán rợn người. Chỉ lẳng lặng phóng xe đi. Không ngoái lại nhìn. Một tiếng kêu "cướp" thất thanh. Một tiếng kêu "cướp" cầu cứu giữa phố. Không vọng lại một âm thanh nào. Vô vọng. Ánh mắt nhìn dửng dưng. Không việc gì phải day vào. Phiền toái. Thiên hạ quay mặt chỗ khác. Phóng xe đi vội. Lục Vân Tiên vội lánh xa đời. Đông-Ki-Sốt đã mệt mỏi với cối xay gió. Chỉ ánh mắt vô cảm. Dửng dưng. Đường phố mỗi ngày trôi qua. Đêm khuya trên đường phố trôi qua. Cảm giác bất an vẫn ám ảnh.

Cổ thi có câu: “Trú đoản khổ dạ trường, hà bất bỉnh chúc dạ du?” (Ngày ngắn khổ đêm dài, sao chẳng đốt đuốc chơi đêm?). Đốt đuốc chơi đêm, dù nhìn nhận từ góc độ nhân sinh quan nào, cũng phải xét theo nghĩa đen nữa, rằng, ít ra thời đại đó đi chơi đêm vẫn còn là sự an toàn. Bóng đêm không rình rập, ẩn giấu những tai họa, che giấu sự bất trắc có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, trên đoạn đường nào...

Bây giờ ư? Tự tìm lấy câu trả lời.

Vậy thì, làm sao có thể nhắm mắt ngủ yên khi con em mình về nhà sau mười giờ đêm? Có con phải giữ lấy con. Nhiều người đã tự nhủ vậy. Giữ lấy con mình. Phòng thủ đầu tiên và cuối cùng an toàn nhất vẫn là nếp nhà. Chỉ nếp nhà cũng không đủ, làm sao có thể bảo vệ đứa trẻ mọi lúc, mọi nơi trong môi trường chung đã ô nhiễm?

Có lúc nghĩ rằng, một xã hội lành mạnh, ổn định thì nó phải hoàn thiện cả ba hệ thống: Hệ thống giáo dục, hệ thống y tế và hệ thống tòa án. Ngày nọ, chừng hai năm trước cùng cơ quan sang Q.7 tham quan một trường học dành cho con em người nước ngoài, những gia đình người Việt giàu có. Thật bất ngờ, người quản lý chính là đồng nghiệp trước làm báo TT, sau đầu quân qua báo rồi bỏ nghề thực hiện mô hình giáo dục theo tiêu chuẩn quốc tế. Vào nơi đó, liên tưởng những ngôi trường con em mình đang học. Đừng nói đến vùng núi, vùng sâu, vùng xa. So sánh với các ngôi trường tại thành phố, đô thị lớn đã có sự cách xa. Một trời một vực. Tiền nào của đó.

Ở đây, mỗi phòng học chỉ chừng mươi học trò, có máy lạnh, có hệ thống vi tính, màn hình lớn. Học xong để sách vở tại lớp, không phải đem về. Trong trường có hồ bơi, sân đá bóng, sân bóng rổ. Cỏ mượt như nhung. Xanh biếc. Có phòng rộng dành cho các em học vẽ, tô màu. Có hội trường lớn, cấu trúc như rạp chiếu bóng dành cho các em thuyết trình, biểu diễn văn nghệ. Có cả máy móc làm phim, các em được hướng dẫn quay phim, tự quay lại các sinh hoạt tập thể, rồi dàn dựng thành phim chiếu trong hội trường này. Ngoài cầu thang đi bộ, còn có cả thang máy. Hằng ngày, có xe đến tận nhà đón đến trường và chiều đưa về nhà.Trưa ăn, ngủ tại trường. Uống nước tiệt trùng. Vào toalet thấy sạch sẽ, nền gạch bông mát mắt. Ngoài cổng có bảo vệ. Có bãi đậu xe hơi. Ai muốn vào phải trình giấy tờ. Xong, vào phòng đợi chứ đừng hòng xớn xác vào bên trong...

Hai thế giới học đường hoàn toàn khác nhau hẳn. Không khỏi ngậm ngùi. Cay đắng.

Đã nhiều lần, tự huyễn hoặc, tự nhủ mỗi ngày không nên đọc báo. Để ảo tưởng về thế giới chung quanh. Ảo tưởng lấy sự bình yên. Cuối cùng, cũng không thể. Sáng nay, thức dậy, báo mỗi ngày đã gởi đến nhà.

Cầm tờ báo, rúng động với cái tin vào lúc 16g 20 chiều 27/8 tại trước cổng Trường tiểu học Tân Tạo A (phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, TP.HCM): “Cùng thời điểm này, một người đàn ông (khoảng 40 tuổi) mặc quần dài, áo thun xám dài tay điều khiển chiếc xe tay ga hiệu Airblade màu đen đỏ đến dựng xe trước cổng trường rồi tiến vào bên trong ngôi trường. Tuy nhiên, không lâu sau, người đàn ông này vội vàng bước ra cổng. Lúc vừa ra tới cổng trường, bất ngờ người đàn ông lấy dao trong tay áo lao đến cắt cổ anh Phan Văn Phúc (28 tuổi, quê Vĩnh Long, tạm trú phường Tân Tạo, quận Bình Tân) đang ngồi trên xe máy chờ đón cháu học lớp 1 trong trường. Chưa dùng lại, tên hung thủ tiếp tục lao tới cắt cổ anh Hồ Đức Luận (31 tuổi, quê Vĩnh Long, tạm trú tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân) cũng chờ đón con em đi học về” (báo TN).

Khiếp đảm. Lạnh cả xương sống.

Ly cà phê của mỗi ngày, sáng nay hết ngon.

Sực nghĩ so với các em hiện nay, thời tuổi mới lớn của thế hệ y may mắn hơn. Trước hết, sự trang bị về nhận thức. Thị trường báo chí miền Nam thập niên 1970 thế kỷ XX đã có nhiều tờ báo dành cho lứa tuổi chíp hoi chanh cốm. Môi thơm yaout. Hơi thở ô mai. Nhìn cuộc đời lá mới. Thế hệ ấy, được đọc tờ Thằng Bờm của nhà thơ, nhà báo Nguyễn Vỹ; Thiếu Nhi của ông Nguyễn Hùng Trương (Nhà sách Khai Trí) và nhà văn Nhật Tiến; Tuổi Hoa của linh mục Chân Tín; Ngàn thông của nhà văn Quyên Di; đến lúc:

Vậy đó bỗng dưng mà họ lớn

Tuổi hai mươi đến, có ai ngờ!

Một hôm trận gió tình yêu lại:

Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ

(Huy Cận)

Có tờ Tuổi Ngọc của nhà văn Duyên Anh, tờ Mây Hồng nhà thơ Từ Kế Tường “phụ tá chủ nhiệm” Phạm Quang Nùng v.v… Đọc lại những tờ báo này, rất rõ một điều về tôn chỉ của nó là giáo dục, văn chương, giải trí, phổ biến kiến thức, gieo mầm thương yêu… Những cây bút sáng tác hàng đầu, những nhà giáo tâm huyết cùng cộng tác. Mỗi tuần, lật trang báo ra được học tập biết bao điều lý thú.

Vậy, đứa trẻ hôm nay được đọc gì? Có đấy chứ, ở phía Nam có tờ Áo trắng, Mực Tím, Khăn Quảng Đỏ, Nhi Đồng; ở phía Bắc có tờ Thiếu niên tiền phong… Có một điều cần nhận ra, quan hệ giữa người làm báo và độc giả chỉ đơn thuần là bán báo và mua báo.

 

gia-dinh-thieu-nhi

Giấy chứng nhận sinh hoạt Gia đình Thiếu Nhi của Lê Minh Quốc (1973)

 

Trong khi đó, không chỉ làm báo, trước năm 1975 người làm báo còn tạo ra một sân chơi nhằm hướng dẫn, giáo dục bạn đọc thông qua tổ chức đoàn thể của tờ báo đó. Chẳng hạn, tờ Thiếu NhiGia đình Thiếu Nhi, tờ Thằng BờmGia đình Thằng Bờm…Hầu hết mỗi địa phương, nơi đó đều thành lập “chi nhánh” của Gia đình đó. Lúc học lớp 7, y đã tham gia Gia đình Thiếu Nhi ở ĐN thuộc báo Thiếu Nhi. Hằng tuần, Gia đình Thiếu Nhi sinh hoạt tập thể tại Nghĩa trũng Nam Dương (nay đã giải tỏa). Các anh, các chị dạy cho từng tí. Chẳng hạn, từ cách nấu cơm đến ủi quần áo, từ cách ra ăn mặc khi ra phố đến cách xưng hô. Tập hát các ca khúc cộng đồng. Chơi các trò chơi mật mã v.v... Một tuần mong qua nhanh đến ngày chủ nhật để được đi sinh hoạt tập thể. Vui lắm.

Lúc đó, những anh trong ban điều hành như Phan Lê Sơn (Mừng Hoang Vu), Kim Vũ, Dấu Cô Liêu, Trần Trung Khai chỉ mới học lớp 9, 10. Vậy mà những lúc tổ chức sinh hoạt qua đêm, cắm trại, chơi trò chơi lớn, đốt lửa trại v.v… ở Huế, Lăng Cô, Nhượng Nghĩa, Sơn Chà… các anh đến nhà xin phép ba mẹ là nhận được sự đồng ý ngay. Các phụ huynh luôn yên tâm. Ngoài ra, các bạn khác nếu thích có thể gia nhập Gia đình Phật tử, Hướng đạo…

Những sinh hoạt đó giúp cho y rất nhiều thời gian mới chập chững vào bộ đội. Trong khi các tân binh khác còn ngẩn tò te với cách cột võng, xem hướng gió, kinh nghiệm đi rừng, xem la bàn, cách tìm ra suối, lội qua sông mùa lũ, nấu cơm giữa trời trong lúc mưa v.v…  thì y đã thao tác ngon ơ!

Ít ai biết, hiện nay, các cựu thành viên  trong Gia đình Thằng Bờm vẫn còn giữ mối liên hệ thân tình như ngày miệng còn thơm mùi sữa. Chừng mươi năm trước đây, đến họp mặt chung với anh em Gia đình Thằng Bờm tại nhà riêng của cựu Tổng Thư ký tòa soạn Phan Thị Thu Mai (trên đường Cao Thắng) mới thấy hết sự gắn bó, đoàn kết của họ. Tiếc cho các em mình thời buổi này không có thời gian được sinh hoạt cộng đồng tự nguyện như trước. Đừng trách các em. Hãy trách đoàn thể của mình. Các đoàn thể hiện nay có quá nhiều, có luôn cả nhà văn hóa to vật vã nhưng không thu hút được thanh thiếu niên.

Tại sao?

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 26.8.2013

 

Thoát ra khỏi công việc của một ngày. Thú vị. Hào hứng. Nhẹ tênh. Cảm giác đi đứng trên mây. Như ngày thơ ấu, được mẹ dẫn đi chợ. Đã lâu lắm mới được ra khỏi nhà vào ngày chủ nhật. Từng ngày, công việc cứ cuốn đi. Luôn tất bật. Việc gì tất bật? Chỉ có mỗi một việc ghi chép lại những gì đã nghĩ trong đầu. Để làm gì? Để kiếm sống. Đừng "tuyên ngôn" gì to tát. Chõi tai lắm.

Hôm qua về miệt Chợ Lách (Bến Tre). Về nhà của một dòng tộc, người cha mất trong chiến tranh lúc mới ngoài ba mươi, đặt tên các con như sau: Hồi Hôm Nay Chiều Mốt Bữa Kia Bữa Kìa. Cách đặt tên con rất nông dân. Rất Nam bộ. Rất Việt Nam. Người con trai cả là Hồi, hầu như không ai còn nhớ đến tên thật nữa, chỉ gọi Nguyễn Diệt Mỹ, bởi ông đã hai lần được tuyên dương Dũng sĩ diệt Mỹ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Lần trước, đi về, viết tùy bút Lại hiền như xưa.. Viết, bởi khó lý giải tại sao những người nông dân như ông Hồi rất gan góc, quả cảm, gan dạ, sau chiến tranh lại hiền lành như đất. Chỉ nói cười hề hề. Rất mực chân tình. Không thèm nhắc lại quá khứ. Không vỗ ngực xưng tên. Chỉ cái quần tà lỏn, phơi cái bụng phệ xuề xòa, vui tính với bà con chòm xóm.

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn làm quen;

Tập khiên, tập mác, tập giáo, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

Sau chiến tranh, họ lại trở về với công việc mưu sinh hằng ngày. Ông cụ thi sĩ mù Nguyễn Đình Chiểu viết thế, là đã nhìn thấy rõ hơn cả thẩy chúng ta. Nói cách khác, trong bất kỳ cuộc chiến nào, thời đại nào đi đầu gữ đất, giữ làng vẫn là những con người bình dị ấy. Vô Danh như cây như cỏ như đất đai như suối như sông như hải đảo mưa nguồn. Không gì ồn ào, lớn lối. Đời sống nhẹ nhàng trôi. Vì thế, mấy hôm nay náo nức đi về Bến Tre. Đi để cụng ly một cái. Có những con người lúc cụng ly, ta không phải cảnh giác, e dè nhìn trước ngó sau, uốn lưỡi bảy lần. Chỉ tình thân. Vậy là đủ.

 

DSCN0416R

Ông Hồi ngụ ở Chợ Lách (Bến Tre) - "Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa"


Trên đường đi, quan sát lão "cao bồi già" Nguyễn Đông Thức - người mà anh bạn Nguyễn Nhật Ánh gọi  "nhà văn thế sự”. Thấy lão đã thấy râu ria lún phún. Từng sợi đã bạc. Anh cho viết đã viết xong 15 tập kịch bản phim về Sài Gòn, chuyển thể từ tiểu thuyết Không có gì & không một ai của anh. Mỹ Hà đạo diễn. Sẽ phát sóng trên HTV. Chà, dựng lại khung cảnh Sài Gòn của trước 1975 khó khăn đây. Hôm trước, đạo diễn Đinh Anh Dũng cho biết sẽ hỗ trợ hết mình. Để xem phim sẽ thế nào. Còn 15 tập kịch bản nữa, anh đang viết. Bạn bè văn chương chữ nghĩa viết còn sung. Là mừng.

Trên đường đi, sực nhẩm trong đầu tùy bút của thầy Thích Nhất Hạnh viết về Bến Tre, đã in  tạp chí Giữ thơm quê mẹ năm 1965. Đến nay, chưa nhà sư nào có một năng lực viết dữ dội, khủng khiếp như tác giả Bông hồng cài áo. Ông trình bày uyên thâm, sâu sắc một cách dễ hiểu về đạo Phật. Thả một bè lau của ông là quyển sách đã giúp y hiểu Truyện Kiều sâu sắc hơn khi nhìn dưới nhãn quan của một người đạo Bụt. Viết hay lắm. Nên đọc. Đọc để xem ông phân tích về Nguyễn Du - “người cha tóc bạc” của nền thơ Việt Nam đã hiểu đạo Phật như thế nào...

Năm ấy, gần năm mươi năm trước, khi qua bắc Mỹ Tho, thầy Thích Nhất Hạnh ghi nhận: “Tôi ra đứng trước mũi thuyền, nhìn con thuyền rẽ sóng tiến tới và mê say ngắm dòng sông đang cuồn cuộn chảy một cách oai hùng. Sông cũng oai hùng như núi, mà hiếu động hơn núi. Nước sông đỏ quá, phù sa nhiều quá… Bến Tre! Bến Tre! Tôi chẳng thấy tre đâu cả. Chỉ thấy toàn dừa. Vâng, chỉ thấy dừa… Nhưng ấn tượng con sông cuồn cuộn trong mùa nước lên vẫn còn sâu đậm trong tâm hồn tôi”. Dĩ nhiên, đến Bến Tre của thời buổi xe hơi máy lạnh đã khác trước, chỉ thiên nhiên không khác, lòng người không khác. Phóng một tầm mắt, chỉ thấy dừa bát ngát. Bình Định hay Bến Tre nhiều dừa nhất? Ca dao Bình Định có câu:

Công đâu công uổng công thừa

Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

Dừa, ở đâu mà không có? Duy chỉ Bến Tre mới có ông Đạo Dừa. Năm kia, tình cờ mua được “tiểu luận cao học nhân chủng”:  Chùa Nam Quốc Phật Kiến Hòa - Định Tường, quay ronéo, do cử nhân văn chương Khoa học nhân văn Sài Gòn là Phan Nghi Luận bảo vệ tại Trường Đại học Văn Khoa (Viện Đại học Sài Gòn) ngày 11.12.1964. Tiểu luận này nghiên cứu về hành trạng, nơi phát tích Đạo Dừa, chùa chiền… và giá trị ở chỗ tác giả đã khảo sát thực địa, gặp ông Đạo Dừa và các nhân chứng từ năm tháng đó.

Chiều qua, ghé lại Cồn Phụng “đại bản doanh” của một “Tu sĩ thường mặc áo chữ Điền có khoét lỗ vuông trước ngực và sau lưng, mới đầu có 4 lỗ sau tăng dần lên 18 lỗ. Ngày đêm luôn tịnh khẩu”. Vì đã đọc tiểu luận trên nên tránh một nhậu hoàng tráng và ầm ĩ. Không cần thiết. Mất thời gian vô ích. Dành thời gian thăm quan nơi này. Mà tại sao phải nhậu, phải bù khú ồn ào, rồi khi bước ra khỏi bàn chẳng ai nhớ đến ai. Chẳng ai nhớ những gì đã nói. Quên. Quên tuốt. Thì có cần phải có mặt trong các cuộc ấy không? Quyết là không.

Chiều rũ nắng xuống cồn Phụng. Lang thang một mình, nhận ra rằng, cảnh đã khác xưa nhiều lắm. Khác ở đây là khác so với những gì đã đọc về địa danh trứ danh này, vì đây là lần đầu tiên y đến. Chỉ còn lại loáng thoáng vài dấu tích của ông Đạo Dừa. Chẳng hạn, nơi lò bát quái đặt trên lưng rùa ngậm gươm, trang trí bằng mảnh vụn của chén, bát kiểu, thấy các mặt có ghi (nguyên văn): “Thích Hòa Bình Nam Nguyễn Thành tự ông Đạo Vừa sanh ngày 15 tháng chạp Kỷ Dậu (1909-1910) tại làng Phước Thạnh, Mỹ Tho, Kiến Hòa, Việt Nam”.

Chà, sao lại gọi “Đạo Vừa”? Ghi sai chính tả? Vô lý? Hoặc là âm D ở đây phát âm thành V? Hỏi như thế vì lúc trưa, vừa đến Bến Tre, mẹ của bạn N.M.Nhựt đã đôn đả tiếp chuyện: “Nhiều người vào ăn tước rồi”. Ủa? Tước là con gì? Hỏi ra mới biết, âm r đã bị nuốt, phải hiểu là “trước. Lại nữa, đang lai rai ba sợi, bạn mình bảo: “Anh em mình gút đi”. Trời, chỉ ăn nhậu chứ nào phải bàn luận gì mà “gút”, “chốt” vấn đề lại? Thì ra, r đã biến hóa thành g!

Mà chuyện phát âm sai dẫn đến ghi sai là thường tình. Nhà văn Sơn Nam tên thật Phạm Minh Tài, nhưng tay thư ký ghi hộ tịch của làng lại ghi thành “Tày”! Huề cả làng. Gần đây thôi, ở Quảng Nam một bạn đọc cho biết rằng: “Có đứa bạn tên Quốc  Bảo nhưng người làm hộ tịch lại ghi thành Quốc Bão, nhưng nhờ thế cái tên lạ và độc hơn thì phải. Còn đứa bạn này tội hơn, tên mỹ miều là Hà Ngọc Đào, Phương Thảo hộ tịch ghi thành Hà Ngọc Đồ, Phương Thổ, tội ơi là tội”. Huề cả làng. Thì ra người Quảng Nam đọc vần “ao” thì “ô” hết trọi.

Thử hỏi, khu cồn Phụng này công trình của kiến trúc sư nào? Xem tiếp các tư liệu tên mặt khác của lò bát quái, thấy ghi: “Nhà kiến trúc sư kiêm cẩn khắc gia lỗi lạc Tư sĩ Huỳnh Văn Đại tự Hoàng Đại sinh năm 1900 tại Quảng Trị Việt Nam. Năm 1920 vào kinh thành Huế nhận lãnh công trình kiến trúc lâu đài lăng tẫm hoàng cung. Vào năm 1962 về phụng sự thiên định hòa bình thiên nhơn lành đạo tại Nam quốc Phật tự do Thích Hòa Bình Nam Nguyễn Thành ân tứ. Phật lịch 2510 - Nhâm Tý - 1972”.


DSCN0433R

Tiểu sử ông Đạo Dừa và kiến trúc sư xây dựng cồn Phụng cẩn trên lò bát quái

May mắn, nhờ nhân viên phục vụ tại đây mới biết hiện chỉ còn có một người đàn bà theo đạo của ông Đạo Dừa là bà Út. Ghé qua nhà thăm bà, gần đó. Bà gầy gò, mặc quần áo của người có đạo, đi chân không. Bà cho biết, đã mấy chục năm qua bà cũng sinh hoạt theo ông Đạo Dừa, bà gọi thân mật “Thầy tôi”, nghĩa là chỉ uống nước dừa. Bà xắn tay áo lên, chỉ nhìn thấy da bọc xương, hằn rõ từng sợi gân xanh. Có điều lạ, mắt bà rất sáng. Bà nói chuyện nhỏ nhẹ, minh mẫn, hiền lành. Trong nhà bà có bàn thờ Phật, có thờ ảnh ông Đạo Dừa. Qua cách nói chuyện, thấy rằng niềm tin của bà thì mọi sự chỉ “bất chiến tự nhiên thành” vì thế nên làm lành, tu tâm tích đức, giữ đạo. Câu chuyện của bà không hề có màu sắc mê tin dị đoan.

 

DSCN0424R

Bà Út, người duy nhất theo Đạo Dừa hiện nay ở cồn Phụng

 

Bà cho biết, sau 1975,  các “đạo” (chỉ người nam), các “diệu” (chỉ người nữ) đã tản mát hết, có thể họ về tu ở Châu Đốc, núi Sam, cũng có thể đã hoàn tục. Ngồi trò chuyện với bà, lòng nhẹ nhàng. Nước sông gió mát. Thấy đời sống nhẹ nhàng khi con người ta không sân si, ham hố điều gì. Lúc quay về mới chú ý bàn thờ gia tiên ở nhà bà Út, thấy phía sau có bức tranh kiếng thật lớn, trên cùng ghi ba chữ “Phước lộc thọ”, vẽ phong cảnh thiên nhiên, nhà cửa. Tranh được đặt trên một cái tủ, gọi “tủ thờ”.

Ngó lên nhang thắp đèn lờ

Mẫu thân đâu vắng gường thờ quạnh hiu

“Giường thờ” là nơi ông bà, cha mẹ lúc sinh thời đã từng ngồi, nằm, ngủ. Khi xưa, lúc tang lễ, chủ nhà khiêng cái giường này đặt sát quan tài nhằm tỏ ý kinh trọng như lúc mẹ cha, ông bà còn sống. Lần hồi, giường thờ cải tiến thành "bàn thờ", nhỏ, thấp, đặt sát vách, có các vật dụng mà người quá cố đã dùng như bình vôi ăn trầu, chén trà, khăn quàng vai, thêm lư hương đốt trầm, bộ lư… Dần dà, “giường thờ”, “bàn thờ” cải tiến thành “tủ thờ”.

Tủ thờ đóng bằng gỗ tốt, có cẩn, khắc các tranh như tùng, bách, ngôi đình, cầu kiều, tích truyện xưa, hình ngũ quả… Đến khi tranh kiếng ra đời, trên tủ thờ có thêm tranh kiếng. Tranh kiếng thường vẽ mai, lan, cúc, trúc, hoặc thêm vài câu đối thể hiện đạo lý uống nước có nguồn, cây có gốc mới sinh ra ngọn v.v… Tủ thờ vừa là nơi thờ ông bà, cha mẹ vừa trang trí cho đẹp nhà cửa. Tủ thờ kiểu này, bây giờ ít thấy ở thành thị.

Sáng hôm qua, trên đường đi ăn giỗ ở Bến Tre vẫn còn thấy bạt ngàn dừa. Một màu xanh thẫm tận chân trời. Khi đến một vùng đất mới, trong trí nhớ của ta luôn nghĩ đến sản vật, con người nơi ấy. Lâu nay, lịch sử đã nói đến vai trò của các nhà truyền giáo phương Tây khi gieo hạt giống mới về Tin Mừng. Gieo Đức Tin mới trong lòng người Việt Nam từ những thế kỷ trước. Chợt nghĩ rằng, chính họ còn là những người đầu tiên đã thử nghiệm những giống cây mới ở đây.

Đơn giản, Cái Mơn là một trong những xứ đạo đầu tiên ở Nam bộ, vẫn còn di tích nhà thờ, tượng nhà bác học Trương Vĩnh Ký. Thuở ấy, họ đã thử trồng các loại trái cây xa lạ như chôm chôm, sầu riêng, măng cụt… và thành công. Bởi các giống cây ấy thích hợp với thổ nhưỡng, khí hậu, đất đai của một vùng đất thịt, chằng chịt kênh rạch. Lâu nay, tôi vẫn nghĩ, trái loòng boong là “đặc sản độc quyền” của miền núi Quảng Nam. Đại Nam thực lục chính biên của triều Nguyễn còn ghi rõ, “Đầu đời Minh Mạng, nhà vua ban cho tên là Nam trân”, hằng năm, loòng boong phải “tiến vua”. Phương ngữ địa phương có câu: “Nhất trường thi, nhì trường trái”. Ý nói lúc sĩ tử vào trường thi cũng nhộn nhịp như ngày vào mùa hái trái loòng boong.

Trái loòng boong trong tròn, ngoài méo

Trái thầu đâu trong héo, ngoài tươi

Thương em ít nói, ít cười

Ôm duyên mà đợi chín mười con trăng

Khi đến Bến Tre, tôi hoàn toàn bất ngờ khi biết Bến Tre cũng có loòng boong. Lâu nay, từng biết đến, truyền thuyết lưu truyền trong dân gian: Trong một lần giao tranh với quân Tây Sơn, chúa Nguyễn phải trốn chạy lên vùng đất phía tây Quảng Nam. Trong lúc ngặt nghèo, nguy khốn nhất, bốn phía bị bao vây, lương thực không còn, đang đói rã họng thì chúa tôi gặp một loại trái cây chín mọng. Chưa dám ăn ngay, chúa lấy tay bấm thử, thấy trái mềm, nếm vị ngon ngọt lạ thường. Nhờ trái cây này mà họ thoát khỏi cảnh đói khát. Truyền thuyết này góp phần lý giải (dẫu mơ hồ) vì sao khi cầm loại trái cây này, lột vỏ mỏng, ta đều thấy có dấu móng tay.

Ở Bến Tre, người ta cũng kể vậy, chỉ có khác ở địa danh ở Nam bộ. Biết thêm điều này, tôi nghĩ lan man, phải có cách giải thích khác về tên gọi loòng boong. Liệu có phải đó là phát âm của người Cà Tu thuộc vùng Hiên, Giằng ở Quảng Nam như cách giải thích lâu nay?

Ăn giỗ ở Nam bộ có khác gì ở miền Trung, miền Bắc? Khoan trả lời vội. Ăn giỗ là gì? Gọi nôm na, có thể ban đầu ông cha mình gọi “giỗ lạp” dần dà biến hóa thành giỗ chạp. Bằng chứng Đại Nam Quấc âm tự vị của Huình Tịnh Paulus Của giải thích: “Kỵ lạp là giỗ quải, dùng đồ săn bắn mà quải giỗ”. Lạp có nghĩa “săn bắn”. Từ đó, có thể suy luận giỗ, cúng cơm, kỵ cơm đã đã phong tục có từ thời xa xưa lắm, thời con người còn săn bắn và truyền đến ngày nay. Mục đích cuối cùng của giỗ chạp, đầu tiên là thể hiện chữ Hiếu với người đã khuất; kế đến là dịp anh em, họ hàng, bà con, đồng nghiệp có dịp gặp gỡ, trò chuyện, gắn kết tình thân trong gia tộc, đoàn kết với bà con chòm xóm…

Ăn giỗ ở Nam bộ không có khác gì với miền Trung, miền Bắc. Đúng vậy. Xét về góc độ truyền thống gia đình, sẽ thấy hoàn toàn giống hệt nhau.

Từ đời này qua đời nọ đã trở thành một nề nếp bất di bất dịch. Đó là chỗ mâm trên, nơi cánh đàn ông đang ồn ào “làm chủ tình hình” dạt dào nâng ly, đố ai có thể tìm được bóng dáng của người phụ nữ. Họ chỉ thấp thoáng đôi chút là quay ngược vào bếp. Cái bếp vẫn là nơi chốn của họ, dù tiệc tùng khách khứa ồn nào nhưng họ vẫn lặng lẽ phía sau. Nhìn hình ảnh ấy, bỗng dưng lại nhớ đến mẹ, đến chị mình ngoài quê xa tít. Vẫn bóng dáng lặng lẽ chịu thương, chịu khó ấy. Vẫn lúc khách ra về, gia đình có đám giỗ lại gửi cho khách một ít trái cây đem về, gọi “ăn lấy thảo”.

Lại tần ngần nghĩ “ăn lấy thảo” là ăn ra làm sao? Cách nói của người Việt ở Nam bộ cũng giống hệt ở quê mình. Chẳng khác gì. Vì thế, đến xứ lạ, đất lạ đã thấy lòng ấm áp, thân mật.

Lúc về đến Bến Tre, thầy Thích Nhất Hạnh còn cảm nhận: “Dòng sông cuồn cuộn kia đã nói rất nhiều với tôi rất nhiều về khu vực Bến Tre. Tôi nghĩ đến cuộc đời trên sóng của dân chài bốn mặt sông và một mặt biển. Hình ảnh con sông Cửu Long cuồn cuộc chảy là hình ảnh của những cuộc đời lăn xả vào hành động. Hành động, phải hành động dũng cảm. Phải sẵn sàng đối. Phải trào lên, phải dâng cao. Phải xắn cao tay áo, đi vào cuộc sống một cách tích cực. Từ những cánh đồng nước mặn bằng ngư nghiệp, từ những quận lỵ Bình Đại, Giồng Trôm, Ba Tri, Thạnh Phú, Chợ Cái Quao, Mõ Cày, sức sống trào lên theo những con đường xuôi về tỉnh lỵ như những gân máu chạy về tim. Sức sống của bàn tay nông dân thực thà, hăng hái, gan dạ, quả cảm đã biểu lộ rõ ràng trong sinh hoạt lịch sử Bến Tre”.

Nhận xét này vừa hiện thực vừa thơ mộng. Nghĩ thêm rằng, ở vùng đất nào trên toàn cõi Việt Nam thống nhất lại không sống bằng tâm thế ấy? Tâm thế của những con người bình dị nhất đã tạo nên một dải non sông gấm vóc từ Nam Quan vào tận Cà Mau trường tồn đến ngàn đời sau nữa. Thì trong công cuộc cần lao vĩ đại xương máu đó, không thể không nghĩ đến các mẹ, các chị lặng lẽ, lẳng lặng phía sau bếp.

Về quê bạn ăn giỗ, lại thoáng thoáng nhớ về một vùng quê Quảng Nam. Ngày thơ ấu, ngày xưa đó, mẹ mình, chị mình, các cô, các dì trong giỗ chạp vẫn chọn góc bếp cho riêng mình. Những gương mặt quê mùa ruột thịt ấy dần dần hiện lên khi nhìn thấy các mẹ, các chị trong ngày giỗ chạp ở nhà bạn mình. Lại dần dần hiện lên loáng thoáng trong cốc rượu trắng đang cầm trên tay nên hào hứng ngửa cổ rót ực qua cổ họng. Một dòng men nóng ran. Như lửa. Tê rần rần đầu lưỡi. Thật chậm. Men của lửa trôi dần. Trôi dần. Rất chậm. Lòng rưng rưng và cảm động quá đỗi.

Nắng chiều đã lên.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 24.8.2013

 

Sáng hôm qua, trời đẹp. Vừa phóng xe vừa nghĩ lan man. Nghĩ về đồng đội của môt thời cùng đi vào cuộc chiến. Đã lãng quên. Không cờ xí. Không hoan hô. Không mấy ai quan tâm đến nữa. Máu đã khô. Cuộc sống cứ thế trôi đi. Không chờ đợi một ai. Quay về dĩ vãng là dấu hiệu của tuổi già. Do đã già nên y thường khoái đọc những thông tin ngớ ngẩn. Để cười. Có thể xếp mẫu chuyện này vào chuyện cười trong ngày. Chuyện rằng:

Vào một ngày đẹp trời giữa tháng 3.2012, lúc nắng lên cao hơn ngọn tre và trăng thanh gió mát, ông bà Trần Thị Sắc ở xã xã H’bông, huyện Chư Sê (Gia Lai) bèn cao hứng thuê người đào ao lấy nước tưới trong vườn trồng tiêu. Hì hục đào, cuốc họ phát hiện dưới đất có khối đá lạ khối lượng hơn 3,2 m3; nặng khoảng 7,8 tấn. Khoái quá, liền thuê máy cẩu cục đá lên làm cảnh. Hay tin, đoàn kiểm tra của huyện tới lập biên bản, tịch thu khối đá và phạt luôn 2 triệu đồng với lý do “vận chuyển khoáng sản không có nguồn gốc hợp pháp”.

Từ “vận chuyển” nên hiểu thế nào? Từ điển tiếng Việt giải thích: “Mang chuyển đồ vật nhiều, nặng từ nơi này đến nơi khác tương đối xa, bằng phương tiện hoặc bằng sức loài vật”. Cục đá này, khi phát hiện được cẩu lên đặt ngay tại nhà chứ đâu phải từ nơi khác vận chuyển về. Nó chỉ được vận chuyển khi đưa từ nhà bà Sắc về trụ sở UBND huyện. Đem hòn đá về, chính quyền huyện có sáng kiến tối ưu là làm chiếc lồng sắt kiên cố để... “nhốt” hòn đá nặng hàng tấn. Ông Ksor Hiền ở huyện này bình luận: “Mình thấy lạ hung! Tưởng đâu chính quyền đóng cũi nhốt con cọp bắt được từ trên núi chạy xuống chớ. Hóa ra là hòn đá! Hòn đá nó có chân đâu mà sợ nó chạy mất? Buồn cười thiệt đó!”.

Sự việc trái khoáy vô tiền khoáng hậu này đã khiến đôi bên lôi nhau ra tòa vào ngày 22.8.2013.

Cũng theo nguồn tin báo TN : “Tham gia tố tụng với tư cách bên bị kiện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND H.Chư Sê, ông Nguyễn Đình Viên, Trưởng phòng TN - MT, cho rằng: “Việc bà Sắc cẩu hòn đá đem về khi chưa được cơ quan chức năng cho phép là hành vi trái pháp luật, bởi cho dù là đá gì cũng là khoáng sản, mà như thế thì đây là tài sản của nhà nước”. Ông Viên cũng khiến những người có mặt tại phiên tòa bật cười khi khẳng định: “Mọi tác động vào đất làm biến dạng đất đều phải xin phép, nếu không thì trái quy định”. Trong phần tranh luận, luật sư Võ Thị Tiết (Văn phòng LS Võ Luật - Bình Định), đại diện cho bên khởi kiện, đã nói thẳng: “Không có quy định nào của pháp luật nêu rằng người dân muốn đào giếng tưới tiêu trong phần đất của mình phải đưa đơn lên xin phép chính quyền”. LS Tiết tiếp tục hỏi thêm một số vấn đề liên quan đến việc tịch thu hòn đá, thay vì giải thích theo đúng các quy định của pháp luật thì vị cán bộ đại diện cho chính quyền cấp huyện này vẫn kiên trì: “Tôi nghĩ thế là đúng” (TN ngày 23.8.2013).

 Cười được chưa? Chưa à?

Vậy thử đố chơi. Đố rằng, toàn cõi nước ta hiện nay có cả thay bao nhiêu họ? Trước đây ông Lê Trung Hoa có viết quyển Họ và tên người Việt Nam (NXB KHXH - 1992), ta có thể tìm đọc để có câu trả lời chính xác chăng? Không thể. Cách đặt họ của người Việt đã có những "ngoại lệ" mà không ai có thể biết hết được. Chỉ nêu một ví dụ, dó là họ NGUYỂN (xin nhấn mạnh là dấu hỏi, chứ không phải NGUYỄN dấu ngã). Lạ chưa? Ắt ông trời bà trời cũng thấy lạ bởi ngày nọ tại xã Phú Thịnh, huyện Tam Bình (Vĩnh Long) có ông Nguyễn Hòa Khởi làm cán bộ Tư pháp, Hộ tịch của xã từ năm 1994 đến năm 2005 có thói quen viết sai chính tả.

Dù họ Nguyễn nhưng ông luôn viết cho thiên hạ là Nguyển! Từ đó, giấy khai sinh họ ghi Nguyển, còn các giấy tờ khác như hộ khẩu, chứng minh nhân dân... đều Nguyễn. Rắc rối là chỗ đó! Báo Xa lộ pháp luật (ngày 24.8.2013) cho biết, nhân chứng "dòng họ" này phát biểu: "Trong lúc đó, chỉ còn vài ngày nữa là đến kì thi đại học, để tránh mọi phiền toái có thể xẩy ra, cả nhà quyết định đi sửa giấy tờ lại cho đúng. Nhưng để xác minh lại chính xác họ của anh Cường thì rất phức tạp, trong khi đó giấy khai sinh của anh lại bị viết sai, nếu muốn chứng minh đúng thì phải tìm giấy khai sinh của cha anh đã mất từ lâu. Đắn đo mất mất mấy ngày, cuối cùng anh quyết định đổi hết họ của mình và hai con trong hộ khẩu và chứng minh nhân dân thành Nguyển để theo đúng với giấy khai sinh của con gái".

Cái lạ nhất ở đây là gì? Là đã đến năm 1994 mà hệ thống chính quyền của ta vẫn còn sử dụng cán bộ xã có trình độ i tờ đến thế. Thời mới giải phóng, do cần người làm việc nhà nước phải thu nhận, miễn là họ có trách nhiệm với công việc, trình độ yếu kém một chút chẳng sao, có gì tổ chức cho học bồi dưỡng thêm. Rất tiếc là cách sử dụng nhân sự không chuẩn hóa kéo dài, quá dài khiến cuối cùng, gánh lấy hậu quả  là người dân phải gánh chịu biết bao phiền toái.

Chuyện Việt Nam ta  đã có thêm họ Nguyển, cười được chưa? Chưa hả? Vậy bó tay luôn.

Dòng văn học hiện thực phê phán trước 1945, sở dĩ tồn tại, hấp dẫn bởi ngoài yếu tố phê phán còn có cả tiếng cười. Đọc Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Trọng Lang… lúc nào ta cũng có thể bật ra tiếng cười. Khi hóm hỉnh. Lúc chua chát. Phụ trương văn chương số 10, thứ bảy 4.7.1931 của báo Trung Lập xuất bản tại Sài Gòn, ông Phan Khôi có bàn về chuyện viết văn trào phúng, hài hước: “Làm một bài văn trang hoàng điển nhã, trong mười tay văn học, tay nào cũng làm được hết; chớ làm một bài văn khôi hài cho hay, đọc lên cho ai cũng mở miệng cười và lấy làm thích ý, thì trong mười tay ấy chưa chắc đã có một tay làm được đâu. Văn khôi hài nó thường làm cho cảm động người ta một cách rất mạnh mà người ta không tự biết. Giả như tôi có một cái tật xấu gì, có kẻ làm bài hài văn để ám chỉ vào cái tật xấu ấy của tôi; trong khi tôi đọc đến, tôi phải tức cười nôn ruột mà tôi không giận được; rồi dần dần tự nhiên tôi bỏ cái tật xấu ấy đi bao giờ mà chính tôi cũng không hay. Đó mới thật là một bài hài văn hay đó; và cái công dụng của nó là như thế".

Ông còn nhấn mạnh: "Trong nghề khôi hài, kỵ thứ nhứt là sự quá thô tục. Những tay hoạt kê giỏi đời xưa, không khi nào văng câu tục tĩu từ mồm mình ra bao giờ... Tôi lại từng đọc sách, thấy người ta nói dân tộc nào phổ thông có tánh hay khôi hài, ấy là biểu lộ ra dân tộc ấy có tư chất thông minh. Mà giọng khôi hài càng sâu sắc chừng nào thì lại càng tỏ ra cái trình độ thông minh cao chừng nấy.... Phải lắm! Có thông minh mới nói ra câu bông lơn có thú vị mà cũng duy thông minh lắm mới biết ngửi thấy cái thú vị của câu bông lơn hay... Theo tư trào văn học của thế giới ngày nay, tôi muốn nhắc cái địa vị khôi hài lên cao một chút trên văn đàn nước ta. Từ nay ta hãy coi trọng nhân tài khôi hài và hài văn, rồi thì nhân tài và văn ấy mới sản sanh ra được”.

Thưa cụ Phan Khôi, hiện nay làng văn của nước ta đã coi trọng nhân tài khôi hài và hài văn nhiều lắm rồi cụ ạ, bằng chứng là cả nước có đến 2 tờ chuyên về cười là Tuổi Trẻ Cười, Làng Cười. Hơn nữa, thời buổi này đã, đang và sẽ có quá nhiều chuyện khôi hài, nhìn vào đâu cũng thấy có chuyện để cười, đều có thể là chất liệu của văn học trào phúng nhưng tại sao vẫn chưa có tác phẩm nào tương xứng? Vẫn chưa có nhiều truyện ngắn, tiểu phẩm humour, hí lộng. Do cái gì? Do nhà văn ngày càng ít biết cười chăng? Hay đã quên cách làm sao cười? Đã có câu trả lời hợp lý từ lâu rồi. Trong Chúng ta, qua cách viết, NXB Giao Điểm in năm 1972 tại Sài Gòn, nhà văn Võ Phiến đã phân tích. Đọc lại, vẫn thấy nhiều gợi mở lý thú. Nhắc lại chỉ ngại rày rà. Ai có quan tâm thì nên tìm đọc để có câu trả lời vậy.

Chà, hết muốn cười nữa rồi. Bèn lánh qua chuyện khác. Sực nhớ, sáng mai về Bến Tre ăn giỗ ở nhà bạn N.M. Nhựt. Cũng là dịp thư giản cuối tuần cùng anh em. Mấy hôm nay đã bắt đầu vẽ lại. Cố gắng tìm lại sự hào hứng như lúc tập vẽ của năm 2007. Vẽ lại, cũng là lúc nhà thơ Trương Trọng Nghĩa từ Tiền Giang báo tin tập thơ của bạn Trần Đỗ Liêm đã in xong. Bìa là tranh của y.  Nhìn kỹ lại, tự khen rằng: “Tranh vẽ đẹp”. Ô hay! Không khiêm tốn chút nào. Ai đời, tự mình đi khen mình. Lạ nhỉ?

Chẳng có gì lạ. Bởi chưa ai khen, y đành tự khen vậy.

Thì có làm sao?

 

tranh-cua-Q-tho-Liem-ti-n-giag

Tranh Sơn dầu Lê Minh Quốc

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 22.8.2013

 

nhacsen-2

Nhạc sen - tranh Đỗ Trung Quân

 

Để rồi xem. Đến một lúc nào đó, có những người cầm bút sau khi rửa tay gác kiếm, rời khỏi trường văn trận bút sẽ có lúc ngồi thừ ra, mặt dài như cán thuổng và nhìn lên kệ sách. Nhìn lại sách mình đã viết. Những cuốn sách cả một đời lao lực. Quét một tầm mắt. Có thể liếc thoáng qua. Có thể nhìn soi mói. Và  có cuốn sách, một hoặc vài cuốn sách họ dừng lại thật lâu. Thở dài. Lại thở dài. Tặc lưỡi. Nuối tiếc. Trầm ngâm. Lại thở dài. Ô hay, tại sao lúc ấy lại viết cuốn sách đó? Vì lẽ gì? Dẫu bám vào lý lẽ nếu không viết thì trời sụp? Cũng không được. Không thể biện minh được điều gì. Giấy trắng mực đen sờ sờ ra thế kia. Chối bỏ mà đươc à?

Vừa rồi, tay bán sách cũ ở HN đã nhượng lại bộ Văn nghệ thập niên 1960 thế kỷ XX, lại đọc thêm bộ Văn Học ấn hành thời điểm ấy. Thấy gì?

Thấy rằng, sự sàng lọc của thời gian thật ghê gớm. Thời kỳ đó, có những tác phẩm in vài chục ngàn cuốn, gần trăm ngàn cuốn, nhiều số báo tập trung khen ngợi hết lời nhưng nay còn ai nhớ đến không? Tạp chí Văn Học của Viện Văn học (Hà Nội) số tháng 7.1966 cho biết tác phẩm Sống như anh của Trần Đình Vân: ở Trung Quốc, đã in và tái bản lần thứ 8 với số lượng 3.672.000 quyển; Nhật Bản in lần thứ 2 với số lượng 40.000 bản; đã dịch sang tiếng Ý, Kampuchia… Sau đó, số tháng 10.1966 lại đăng bài Quá trình viết Sống như anh - bài nói chuyện của Trần Đình Vân tại Viện Văn học ngày 20.8.1966. Tác phẩm làm nên tên tuổi nhà văn. Sau khi vượt Trường Sơn vào Nam, Bùi Đức Ái ký Anh Đức, Nguyễn Sáng ký Nguyễn Quang Sáng, Ca Lê Hiến ký Lê Anh Xuân… và họ sử dụng bút danh đó cho đến cuối đời. Riêng Trần Đình Vân lại khác, sau này, ông chỉ ký Thái Duy và hầu như không nhắc lại cái tên Trần Đình Vân nữa. Tại sao? Thậm chí tên tác giả cũng “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”. Trong số này, có những người y quen, chỉ quen với bút danh sau này. Chứ thật ra, trước đó, họ đã in cuốn này, cuốn kia với bút danh khác. Mà nay, họ không muốn ai nhắc lại nữa. Họ muốn quên lãng những gì đã viết. Có thể liệt kê một vài ví dụ. Mà thôi. Để làm gì? Có người bảo, với tư liệu này, tư liệu kia mà nhà văn gì gì đó đã viết trong thời điểm đó, cứ công bố hoạch toẹt ra lại hay. Hay cái nỗi gì? Hay chứ! Bạn đọc thời nay sẽ thấu hiểu, biết rõ nhà văn, nhà thơ ấy cũng có một thời viết thế này, viết thế kia.

Y trả lời thế nào?

Ấy là suy nghĩ của kẻ ác.

Nghĩ đến một người hãy nghĩ đến phần tốt của họ đã đóng góp cho xã hội. Có những lúc họ phải viết thế này, viết thế kia là cũng do đẩy đưa của thời cuộc đấy thôi. Mà những cái thế này, thế kia ấy cũng không làm giảm đi giá trị văn chương đích thực của họ. Bất quá chỉ ý kiến, lý luận ấu trĩ chung của một thời. Cái thời ai ai cũng thế. Đi chệch hướng bị chụp mũ ngay. Vì vậy họ phải viết thế này, viết thế kia cũng không ngoài mục đích tồn tại. Đau lắm chứ. Nhục lắm chứ. Vậy hà cớ gì phải lôi những cái đó của thời đó biếm nhẽ họ? Chỉ những chuyện lổn nhổn vớ vẩn ấy, có người thích bươi móc ra. Lạ cho cái thói ganh tỵ, ganh ghét của người đời. Đáng ghét những ai chỉ thấy cái xấu của người khác. Sao không nhìn ra, ghi  nhận phần tốt của họ để thấy quanh mình là những con người đáng yêu?

Sau khi thắng giặc Nguyên Mông, trở về Thăng Long, vua Trần Nhân Tôn đã làm một việc mà Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi. Nếu chúng ta cũng thực hiện, học tập theo có lẽ sự hòa hợp dân tộc sau năm tháng chiến tranh đã khác chăng? Sử ghi, tháng 5.1289: "Trước kia quân Nguyên sang lấn, các vương hầu quan liêu nhiều người đến hàng ở dinh giặc; đến khi giặc thua, bắt được một hòm tờ biểu của những người hàng giặc, thượng hoàng sai đốt đi để yên lòng kẻ phản trắc". Cứ ngồi ngẫm nghĩ sẽ thấy lòng nhân của ông cha ta vĩ đại biết dường nào.

Anh L.Hoàng - từng làm giám đốc NXB Trẻ, có lần anh tâm sự, đại khái, làm sách phải lưu ý khi chọn in lại những bài báo viết những số phận tội phạm. Một vài bài báo viết trong thời điểm đó, không sao, đọc sẽ quên bởi nó là thời sự nhưng khi in thành sách lại khác. Nó là “tang chứng vật chứng” số phận cuộc đời một người, thậm chí ảnh hưởng đến cả con cháu họ.

Nghiệm lại thấy đúng quá.

Vừa rồi lang thang vào nhà sách cũ, thấy tập phóng sự của một đồng nghiệp. Mà thôi không nhắc tên, vì anh ta còn đang kiếm sống bằng nghề viết báo. Tập sách của bạn đấy à? Bèn mua. Đọc chơi. Ấy là thói quen, thấy sách bạn là mua. Mua như một kỷ niệm nhỏ, tự mình biết. Vậy thôi. Sau khi mua tập phóng sự này. Về nhà nằm đọc. Đọc những bài báo gom lại và in thành sách. Tự nhiên buồn ghê gớm. Buồn vì những tội phạm kinh tế ầm ĩ một thời có người đã dựa cột. Có người đã ra tù. Có người chìm vào dĩ vãng. Có người lại làm ăn lương thiện. Muôn hình vạn trạng của đời sống luôn vận động. Họ đã khép lại dĩ vãng để lật qua một trang mới.

Vậy mà, các trang sách ấy vẫn hùng hồn mắng nhiếc, phê phán, nguyền rủa họ đến tận hôm nay. Vẫn gã này, lão nọ như sự việc đang diễn ra ngày hôm nay. Lúc ấy, sự kiện ấy xẩy ra, với tư cách người đưa thông tin đến công chúng, nhà báo nhanh nhậy phản ánh trên mặt báo là đúng rồi. Đáng khen về nghiệp vụ. Không đáng khen chút nào khi NXB tiếp tay cho tác giả gom những cái thời sự kia in thành sách. Bài báo chỉ có giá trị của thời sự. Khi in thành sách lại khác vì sách còn được lưu trữ lâu dài.  Ô hô! Tội của họ, cứ cho có tội thì họ đã trả giá bằng năm tháng tù tội rồi, vậy hà cớ gì còn in thành tập để tiếp tục lưu hành sỉ nhục tội lỗi của họ?

Loại sách này hiện nay nhan nhãn trên thị trường sách. Đơn giản vì thiên hạ tò mò muốn đọc. Sau vụ án Nam Cam, nhà báo H.L sau khi ra tù đã có công ăn việc làm. Thỉnh thoảng vẫn gặp. Lúc H.L đang trên “đỉnh cao” nghiệp vụ đã có nhiều người đề nghị cho gom các bài báo ấy in thành sách. Anh ta từ chối, bảo rằng, khi tôi viết in báo là đã giết họ rồi. In thành thành sách là giết thêm lần thứ hai, tôi không thể.

Sáng nay họp. Anh em trong phòng cúng cô hồn. Ăn bánh trung thu. Vẫn vậy. Y vẫn liếc qua các trang báo mỗi ngày. Khép trang báo lại, nghệch ngoạc Đôi dòng:

đời bằng phẳng hay ho hay dòng đời trúc trắc

lại thầm hỏi mỗi sớm mai mở mắt

anh mỉm cười nhìn xuống bàn tay

xoa dịu vết chai

từng cầm súng cầm cuốc cầm bút cầm cày

từng chạy matrathon trên sa mạc dặm dài

ném lên trời vài nhúm hạt

vùi bùn sâu mớ chữ

chậm rãi vội vàng

ảo tưởng ngày sau mùa vàng

hoa sẽ trái

gái sẽ ngon

tiếng cười giòn sẽ ấm

ảo tưởng nào không đồng hành lú lẩn?

chẳng hề gì anh bắt buộc anh tin

tin đời hay ho như những câu thơ

những câu thơ tắt thở ngay lúc chào đời rối bời rơi xuống đất

chẳng hề gì dẫu sớm mai hoa hồng héo hắt

mùi hương thơm nũng nịu vẫn dậy thì

chẳng hề gì cõi ngợm người náo động

vẫn còn đây hình nộm

vẫn "ma nơ canh" ám khí tử thi

vẫn nói vẫn cười vẫn đứng vẫn  đi

vẫn rao giảng bằng huê từ mỹ ngữ

anh ngộ độc nửa đời anh ngắc ngứ

rồi từng ngày guồng máy nghiến trôi theo

này em yêu, hãy tin vẫn còn những tiếng khóc trong veo

không diễn kịch không lu loa kịch cọt

mở mắt dậy, dẫu héo hoa hồng

dẫu vành khuyên quên hót

chẳng hề gì

mỗi sớm mai lên đời sống lại dậy thì

Bài thơ khép lại. Nhận được điện thoại của người bạn thơ. Nghe từ điện thoại lời thúc giục: “Q à, mình đã xem hết tranh rồi. Sao không vẽ nữa đi? Đang chờ đây”. Cảm động quá. Mỗi ngày bạn mình vẫn post lên facebook những bức tranh thật đẹp. Sắc màu ngon. Thèm quá anh Đỗ à.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 21.8.2013

lich-trieuR

 

Có một sự việc vừa xẩy ra tại tòa soạn báo Duyên dáng Việt Nam. Có nên kể không? Hèn. Có gì mà không dám kể chứ? Ừ, thì kể. Sau khi ngốn nghiến bài Thế giới riêng của nàng, lập tức tại Sài Gòn và các tỉnh đã nổ ra  nhiều cuộc biểu tình từ nữ sinh đến Oshin, từ hoa hậu quý bà đến chân dài siêu mẫu. Họ đi rầm rầm rộ rộ. Theo nguồn tin riêng có chừng vài triệu người đã tham gia. Biểu ngữ giăng khắp phố phường. Họ biểu tình vụ gì? À, họ khiếu nại rằng,   tại sao không có Thế giới riêng của đàn ông? Họ tha thiết muốn biết, rất cần biết các đấng mày râu muốn gì, nghĩ gì, thích gì để họ chiều theo đặng giữ gìn hạnh phúc gia đình.

Do đó, sáng nay y đã ngồi cặm cụi viết bài theo chủ đề đó. Viết say sưa. Hào hứng. Vừa viết, vừa ăn dưa bở.Tongue out

Chiều qua, nhận được tin nhắn viết bằng thơ. Mùi mẫn. Ướt át. Trữ tình. Thơ mộng. Cảm động. Thơ như sau:

Email cuối ngày trong ibox

Làm sao để bay đến nhau

Yahoo chực khóc

Và em

Và anh

Hôn vào lòng bàn tay cho đỡ nhớ

Đọc xong, vui hẳn lên. Lời tỏ tình dành cho y. Nếu không sức mấy lọt vào cái điện thoại cùi bắp này? Bất ngờ quá. Thì ra, y cũng có người thương trộm nhớ thầm. Sướng nhá! Sẽ nhắn lại đôi câu cho đúng phép của người đàn ông đàng hoàng, không lăng nhăng, và luôn lễ phép với phụ nữ. Vừa ngẫm nghĩ đôi câu, chưa kịp send, một tin nhắn khác: “Anh thấy thế nào? Thơ em tặng người em yêu nay là chồng của em có hay không anh?”. Ngật ngừ một chút, chỉ nhắn: Wink bởi thừa biết tin nhắn này của bạn thơ, em gái Huỳnh Thúy Kiều ở tận Cà Mau.

Mèn ơi! Vừa khà khà, vừa ăn dưa bở.Tongue out

Đấy! Đố ai dám kể tất tần tật chuyện riêng tư trong Nhật ký?

Thế mà có đấy. Người duy nhất ấy chính là y. Chỉ y mới dám kể lại chuyện "động trời" như trên. Còn nữa, chuyện rằng, ngày nọ y đi công tác xa với nữ thư ký riêng. Màn đêm buông xuống dần, vầng trăng non đang dần lên cao trên bầu trời đen thẫm. Trong phòng khách sạn êm ái xuân tình. Quạt trần quay rù rì. Âm nhạc du dương. “Buồn vào hồn không tên/ Thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời/ Đường phố vắng đêm nao quen một người/ Mà yêu thương trót trao nhau trọn lời...”. Nói cười tình tứ. Mắt liếc có đuôi. Y bèn đắn đo, lựa lời hỏi nữ thư ký. Hỏi bằng tâm thế tựa lúc danh thủ Maradona thực hiện cú sút bóng phạt đền chỉ 11 mét ngay trước khung thành đối phương:

- Này em, tối nay mình ngủ như thế nào em nhỉ?

Nghe lời ấy âu yếm quá, ngọt ngào quá, cô nàng bẽn lẽn:

- Ngủ như vợ chồng nghen anh.

Nghe xong câu ấy, y quay phắt vào tường, ngáy khò khò như kéo bễ!

Chuyện bí mật ấy, bây giờ mới kể. Vừa kể, vừa ăn dưa bở.Tongue out

Đêm qua, đọc xong Nhật ký hôm qua, nhìn tấm ảnh y với N.M. Nhựt đi chân không, chụp ảnh lưu niệm trước Lăng mộ Anh hùng Trương Định tại Gò Công, qua online, nàng nhận xét: “Anh ơi, nhìn tấm hình đó, em liên tưởng đến anh là người đàn ông lý tưởng của mọi thời đại. Anh đẹp trai như Lý Tiểu Long. Anh vạm vỡ như Hercule. Anh tươi trẻ như Đàm Vĩnh Hưng. Anh khỏe mạnh như Lam Trường”.

Sướng rêm cả người. Đêm qua,  vừa ngủ ngáy khò, vừa ăn dưa bở.Tongue out

Bịa chuyện đùa, cũng là một cách ăn dưa bở. Ăn dưa bở lợi cho sức khỏe.

Do có sức khỏe nên mới đủ sức tiếp nhận thông tin này. Thầy Trần Hữu Tá viết bài “Quá tệ hại” in TT ngày 20.8.2013, mở đầu như sau: “Tôi giở chồng báo cũ để tìm lại một tin rất quan trọng: “Thủ tướng đã phê duyệt đề án kiên cố hóa trường học từ nay đến năm 2012 với tổng vốn đầu tư 25.200 tỉ đồng, trong đó khoảng 22.400 tỉ đồng để xây 141.300 phòng, xóa phòng học tạm thời và khắc phục tình trạng học ba ca. Và khoảng 2.800 tỉ đồng để xây nhà công vụ cho giáo viên” (Sài Gòn Giải Phóng 13-3-2008). Quả là tin vui lớn, thể hiện nhận thức đúng và quyết tâm cao của Chính phủ, trong hoàn cảnh nước ta còn nghèo, năm nào ngân sách cũng lâm vào tình trạng bội chi. Từ thông tin trên có thể suy ra: từ năm học 2013 này trở đi, về cơ bản cả nước không phải lo về vấn đề cơ sở trường lớp. Thế nhưng tình hình thực tế lại hoàn toàn trái ngược. Sắp khai giảng năm học mới, nhưng nếu theo dõi các phương tiện truyền thông, bất cứ ai quan tâm đến giáo dục đều bị sốc, rất sốc!”.

Thầy Tá sốc như thế nào? Sốc bởi thông tin này: “Chỉ điểm qua một bài viết của nhà báo Thúy Hằng (Tuổi Trẻ 19-8-2013) người đọc đã được chứng kiến một bức tranh không mấy sáng sủa về cơ sở trường lớp không phải ở một mà ở nhiều vùng thuộc đồng bằng sông Cửu Long: Long An, riêng bậc học mầm non, còn tới 933 phòng học cấp 4, 127 phòng học nhờ trường tiểu học. Tiền Giang còn 223 phòng học tạm thời, 42 phòng học mượn. Ở điểm trường ấp Thạnh Thới phải dồn 35 học sinh vào phòng học chỉ rộng khoảng 30m2. Tại điểm trường ở ấp Thạnh An, giáo viên phải phủ một lớp bạt lên nền gạch ẩm thấp để gần 40 học sinh ngồi học. Trường tiểu học Nhà Dài (thị trấn Thủ Thừa), nhiều phòng cửa đã mục, mái đã thủng... Nghĩa là những phòng ấy trong mùa bão lũ ghê gớm năm nay có nguy cơ sập đổ bất cứ lúc nào”.

Thầy Tá còn sốc gì nữa? Mà thôi, không kể nữa. Lòng buồn xo. Chẳng biết phải bình luận gì thêm. Cái tựa bài báo đã khái quát rồi. Chừng mươi năm trước, chính thầy Trần Hữu Tá là người đầu tiên đặt hàng y viết tiểu thuyết sử cho NXB Văn Học. Lúc ấy, năm 1994, tiểu thuyết Nguyễn Thái Học in lần thứ nhất. Gặp gỡ một người, dù tình cờ, dù cố ý đôi khi lại định hướng đường đi của một đời. Đã có nhiều người nhận xét về khả năng viết, duy chỉ ý kiến của thầy Trần Hữu Tá, y thích nhất: “Lê Minh Quốc có thể chặt tre, vừa vót tăm”. Có phải thầy nói y có thể vừa viết biên khảo tay ngang, nghiên cứu lụn vụn lại vừa làm thơ chuyên nghiệp đó chăng?

Chiều nay, đang tắm, anh N.N.Ánh điện thoại góp ý Nhật ký hôm qua. Tất nhiên, có khen. Anh bảo rằng, câu: “Theo N.M.Nhựt thêm chữ “công” do từ tước hiệu ngày trước phân theo “Công, hầu, bá, tước tử, nam” là thừa chữ “tước”. Giật thót cả người. Bèn sửa ngay. Anh Ánh nói đúng. Nguyễn Công Trứ có câu thơ:

Tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt

Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên

Câu thứ nhì dễ hiểu rồi, có thể giải thích “dân hữu tứ”: Chỉ bốn nghề phổ biến ngày xưa, kẻ sĩ đứng đầu: sĩ, nông, công, thương.

Hiểu “tước” như thế nào? Trên mạng Bách khoa toàn thư mở WikipediaThảo luận: Vương (tước hiệu). Cuối phần tranh luận có dòng chữ: “Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 17:42, ngày 29 tháng 5 năm 2010”. Như vậy đã khá lâu nhưng nay vẫn chưa có thêm thông tin gì mới. Nhân góp ý của anh Ánh, bèn tra cứu xem chữ “tước” là như thế nào?

Tài liệu tra khảo, căn cứ Lịch triều hiến chương loại chí của nhà bách khoa toàn thư Phan Huy Chú. Trong phần Quan chức chí, Phan Huy Chú cho biết, từ thời nhà Lý, nhà vua phong các quan “tước”: vương, công, hầu. Thời Trần, phong “tước”: vương” (hoặc “quận vương”). Thời Lê sơ (lúc Lê Lợi khởi nghĩa) phong “tước”: Á hầu, Thông hầu, Quan phục hầu; khi nghĩa quan Lam Sơn đã tiến về Đông Đô, phong “tước”: Thượng phẩm, Hạ phẩm. Thượng trí tự, hạ trí tự, Minh tự, Trí tự, Đại liêu ban, Á liêu ban. Sau khi bình Ngô, phong các quan “tước”: vương, công, hầu (hầu có 9 bậc). Đời vua Lê Thánh Tông, năm 1471 lại có thay đổi, nhà vua phong “tước”: công, hầu, bá, tử, nam.

Không đi sâu vào nghiên cứu do không có thời gian, lẽ ra còn phải chỉ rõ những “tước” trên phong cho các bậc công thần, con cháu nhà vua theo thứ tự ra sao, tại sao nhà vua phong “tước” v.v…Chỉ kết luận quả quyết: “Tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt”, đúng là “công, hầu, bá, tử, nam”. Từ câu thơ của Nguyễn Công Trứ cho phép ta xác định quy định “tước” từ thời vua Lê Thánh Tôn vẫn còn duy trì sang nhà Nguyễn.

Anh em chơi với nhau, đọc kỹ và chỉ ra các khiếm khuyết cho nhau là thân tình. Nhật ký tạm dừng ở đây, bởi sắp “online thương nhớ” rồi. Chắc anh Ánh đọc nhật ký hôm nay sẽ gật gù:

- Q tiếp thu ý kiến được quá ta!

Câu này y sẽ nghe và lúc ấy, không ăn dưa bở.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 20.8.2013

 

DSCN0380

Tranh khắc gỗ chân dung Anh hùng Trương Định tại Đền thờ của ngài ở Gò Công

 

Sao hôm nay chưa có nhật ký? Biết trả lời thế nào? Sáng: phở; trưa: cơm; tối: phở. Sáng: đọc sách; trưa: đọc sách; tối: đọc sách. Cả ngày không bước chân ra khỏi nhà. Chỉ đọc sách. Nhật ký cái nỗi gì?

Thì kể chuyện đọc sách vậy.

Vâng, có những quyển sách, người ta tiếc bởi đọc quá sớm hoặc quá chậm. Mấy hôm nay đang đọc hai quyển sách dịch cực hay:  Khuyến học của Fukuzawa Yukichi; Người Trung Quốc xấu xí của Bá Dương. Cả hai tập sách này, nhìn ở một góc độ nào đó cùng là sự dũng cảm nhìn nhận, phê phán khiếm khuyết, nhược điểm của một dân tộc. Lòng tự hào dân tộc, thời nào, dưới gầm trời nào, dân tộc nào cũng cần phát huy. Như thế vẫn chưa đủ. Bởi cần phải thấy sự hạn chế của dân tộc mình, phải trả lời cho bằng được câu hỏi vì sao dân tộc mình mãi lẹt đẹt sau lưng thiên hạ. Từ năm 1872, Fukuzawa Yukichi đã nhìn ra hạn chế của dân tộc Nhật: “Cả ngàn năm qua, chính phủ nắm trong tay mọi quyền hành trên khắp đất nước… Nhân dân chỉ còn biết nhắm mắt tuân theo các chỉ thị của chính phủ. Đất nước ta giống như tài sản riêng của chính phủ, còn nhân dân chẳng khác nào người ăn nhờ ở đậu vậy… Và thế thì các quốc gia ấy cũng chỉ như cái nhà trọ, để người dân tạm dừng chân trong cuộc đời họ mà thôi”. Nên nhớ, khi Fukuzawa Yukichi viết những dòng này cảnh tỉnh dân tộc xứ Phù Tang, trước đó ở Việt Nam đã có những bậc tiên phong gieo mầm khai sáng như Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện… Bi kịch dân tộc Việt Nam nửa cuối đầu thế kỷ XIX là nhà cầm quyền lúc ấy không theo kịp tư duy Đổi mới của Kẻ sĩ.

Nếu thuở ấy, có được một minh quân như Minh Trị Thiên Hoàng, đất nước ta đã khác. Kẻ sĩ sẽ không ôm mối hận ngàn thu: “Khêu đèn lên đọc, vỗ sách than dài: Than ôi! Ta sao nhọc nhiều lời, không được dùng đến. Mắt thấy buổi khó, kế chẳng ai làm, mà sự đời lại đổi thay như ta tiên đoán. Thế thì đời ta không mảy may bổ ích, có tội với đời, chẳng nhiều lắm sao?”. Ấy là tâm sự cuối đời của Nguyễn Lộ Trạch viết trong tập Qùy ưu lục (1884). Đặt tựa ấy là ông dẫn theo tích: Trong truyện Liệt Nữ có chép rằng ở ấp Tất Thất nước Lỗ, có người con gái chưa chồng, dựa cột nhà than thở, lo cho vua nước Lỗ đã già mà thái tử còn nhỏ. Người đàn bà hàng xóm bảo: “Đó là việc của vua quan, can gì đến mình mà lo?”. Người con gái trả lời: “Không phải vậy đâu! Năm trước có con ngựa của người khách chạy vào vườn nhà ta,  giày xéo cả rau quỳ, khiến ta trọn năm không có rau quỳ mà ăn. Vậy nếu như vua tôi nước Lỗ bị nhục thì bọn phụ nữ ta tránh đâu khỏi điều nhục ấy”. Lan man nhớ đến câu thơ của Nguyễn Thượng Hiền: “Mối hận ngàn năm ngọn gió thu”. Buồn hiu hắt.

Cả hai tập sách Khuyến học, Người Trung Quốc xấu xí ,  nên đọc. Nói tóm lại một lời, quan điểm của Fukuzawa Yukichi: “Trời không tạo ra người đứng trên người và cũng không tạo ra người đứng dưới người”; “Mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có khác biệt là do học vấn”, ông cảnh báo: “Đa phần các trí thức đều thiếu con mắt nhận biết thời cuộc. Họ quý và lo giữ chỗ cho bản thân hơn là lo lắng, ưu tư cho đất nước. Đối với họ, gió chiều nào che chiều ấy. Đa số các trí thức kiểu này luôn rình rập tìm kiếm lợi ích trước mắt, săn đón cơ hội leo vào hàng “quan chức”, sa vào sự vụ quản lý vặt vãnh, tiêu phí thời gian bằng những việc vô bổ, xa rời công việc nghiên cứu, học thuật… Tôi buộc phải nói rằng những người trí thức như vậy là nỗi bất hạnh cho công cuộc văn minh đất nước”.

Từ hàng ngàn nay, Nho giáo bao trùm cả châu Á. Người người hít thở, tồn tại, duy trì trật tự xã hội theo Nho giáo khuôn vàng thước ngọc. Thế nhưng với tinh thần phản biện, Fukuzawa Yukichi chứng minh “Đừng tin những điều nói bậy của Chu Tử”; “Không phải những điều trong Luận Ngữ điều đúng”… Chỉ đưa ra một ví dụ, chẳng hạn, “Từ xa xưa, trong dân gian có vô vàn truyền thuyết giảng giải về chữ Hiếu, nhất là truyện Nhị thập tứ hiếu. Tuy nhiên có thể nói chín phần mười là các ví dụ nhằm rao giảng “thế nào là hiếu thảo”, trong đó đều có kể các hành vi hết sức phi lý, ngớ ngẩn, những việc làm vượt quá khả năng của con người.

Nào là chỉ vì thấy cha mẹ muốn được ăn món cá chép, người con không quản giá buốt ngày đông giá rét, cởi trần nằm đợi trên lớp băng tuyết chờ cho đến khi tan băng để bắt cá. Thử hỏi loại “người trần” bình thường như chúng ta, ai có thể làm được như vậy.

Nào là trong đêm hè oi bức, thương cha mẹ nghèo, lúc ngủ không có lấy tấm màn giăng muỗi, người con bèn cởi bỏ quần áo, ở trần truồng rồi lấy rượu đổ khắp lên người để muỗi nghe bâu tới đốt mình, tránh cho cha mẹ bị đốt. Thật vô lý, nếu có tiền để mua hàng lít rượu sao không lấy tiền đó mua màn?

Chưa hết, lại còn chuyện này nữa. Nhà nọ có nhiều miệng ăn, lại phải nuôi dưỡng cha mẹ già. Không lo đủ gạo, nên người con chạy vạy khắp nơi để vay thóc, vay lúa. Không vay được, cùng đường nên người con quyết định chôn sống đứa con thơ dại để bớt đi một miệng ăn, chứ nhất quyết không để ông bà chết đói. Phải là quỷ dữ hay là rắn độc mới có thể đi rao giảng chữ hiếu như vậy. Thật trái với đạo Trời, trái với tình người đến cực độ.

Trong “thất khứ” ở trên, họ rao giảng rằng sự bất hiếu lớn nhất là vợ chồng không có con cái. Thế mà ở đây họ lại thuyết giảng để có hiếu với cha mẹ, thì có phải chôn sống con mình đứt ruột đẻ ra cũng phải làm. Rặt những chuyện mâu thuẫn”.

Trong văn học Việt Nam, Lý Văn Phức (1785-1849) có dịch Nhị thập tứ hiếu ra quốc âm. Chưa thấy ai bàn  rốt ráo vì sao Nho giáo đề cao chữ Hiếu, thậm chí chữ Hiếu đã nâng thành đạo Hiếu, Hiếu kinh của người Trung Quốc. Có phải vì lòng nhân? Xem chữ Hiếu viết theo Hán tự, ta thấy chữ Hiếu do hai chữ “tử” và “lão” hợp thành. Đọc bài viết ngắn của học giả người Mỹ Donald Holzman, Giám đốc Viện Cao đẳng Hán học Paris in tạp chí Thông tin Unesco (11.1986) , ông cho rằng, chưa chắc lời dạy “về đạo hiếu quá cứng ngắt và độc đoán” trong Luận ngữ là của Khổng Tử “tưởng như thốt ra từ miệng một người khác, một môn đệ nào đó cố bám lấy lời văn của đạo Khổng mà bỏ quên mất tinh thần của nó”. Nhận xét này đáng suy nghĩ khi tiếp cận một văn bản đã phổ biến, tưởng chừng như không còn gì phải bàn thêm.

Điều quan trọng nhất, theo Donald Holzman khi đề cao chữ Hiếu là người Trung Quốc nhấn mạnh đến chữ Trung. Có hiếu với cha mẹ, thì tôi phải trung với vua. Cha mẹ đã được thần thành hóa thành Trời. Thì tôn kính cha mẹ không có cách nào cao hơn là tôn kính người làm trung gian của Trời. Ai làm trung gian nếu không là thiên tử (con trời) là vua? Rõ ràng, sự đề cao đạo Hiếu sâu xa vẫn là ở chỗ duy trì quyền lợi của giai cấp cầm quyền. Nó như một công cụ bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị. Nghĩa là khi giữ được giềng mối cha - con, cũng là một cách gián tiếp duy trì mối quan hệ tôi - vua? Nghĩ như vậy có lý không? Chắc là có, bởi tư duy của nhà người làm chính trị phải cao siêu đến mức ấy, phải thấu nhìn đến hàng vạn đời sau. Cứ tha hồ bàn cãi, nhưng ít ra khi tiếp cận một vấn đề cũ chúng ta cần có nhiều cách nghĩ trái chiều, bao giờ cũng lý thú. Tinh thần phản biện ấy không bao giờ thừa.

Thật ra nhân vật lẫy lừng Fukuzawa Yukichi không xa lạ với dân tộc Việt.

Từ năm 1907, các nhà Nho cấp tiến, các nhà Duy tân thượng thừa, tâm sáng sao Khuê như các cụ Lương Văn Can, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lê Đại, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Quyền… khi mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục là học tập theo mô hình trường Keio Gijuku (Keio Nghĩa Thục) do Fukuzawa Yukichi thành lập năm 1868 tại Tokyo. Chỉ tiếc, Đông Kinh Nghĩa Thục của ta chỉ tồn tại vài tháng bởi đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp. Nếu tinh thần khai phóng, mục đích học tập của Đông Kinh Nghĩa Thục vẫn tồn tại và phát huy đến ngày nay, dân trí của quốc dân đã khác. Ít ra, ý thức về học tập mà các nhà Duy tân của ta đã khởi xướng, rằng, học để làm người, để phụng sự xã hội chứ không phải học để ra làm quan; học phải thực học chứ không nhai lại sách thánh hiền như học vẹt; học phải ứng dụng cải tạo xã hội;... được phổ biến sâu rộng thì chúng ta đa có phương pháp giáo dục kiểu khác. Thật ghê gớm, thật cách mạng, thật dũng cảm khi hàng triệu nho sĩ chỉ cắm đầu học nhằm ra làm quan, làm công chức là mãn nguyện thì các cụ đã dạy rằng, họ là để làm người!

Đọc một quyển sách hay bao giờ cũng gợi cho ta nhiều suy nghĩ.

Đọc Người Trung Quốc xấu xí với giọng văn cà rỡn, tiếu táo, lúc cay nghiệt khi hài hước của ông Bá Dương khiến ta phải trầm ngâm. Bá Dương quan niệm: “Một quốc dân hạng ba không thể sinh ra một chính phủ hạng nhất, cũng như một chính phủ hạng ba không thể nào có được một quốc dân hạng nhất”. Tập sách của ông Bá Dương tất nhiên đã tạo ra nhiều cuộc tranh cãi khác nhau. Tuy nhiên, có hai điều đáng chú ý, khi sang Mỹ, từ Mỹ tác giả đã có cái nhìn so sánh giữa người Mỹ và người Trung Quốc; giữa văn hóa Mỹ và văn hóa Trung Quốc. Do văn hóa Trung Quốc và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng, đôi lúc ta phải bật cười bởi tự mình đã thấy nhột và cay đắng. Tưởng chừng như họ đang nói về dân tộc mình.

Nếu người Nhật, tôn vinh Fukizawa Yukichi là “Voltaire của Nhật Bản”, có lẽ chúng ta phải tôn vinh Đặng Huy Trứ là “Voltaire của Việt Nam”. Tiếc rằng, quyển Khuyến học của người ta là sách gối đầu giường của quốc dân Nhật thời kỳ Duy Tân thì hầu hết các sớ điều trần, trước tác của Đặng Huy Trứ đến nay vẫn chưa mấy ai để tâm nghiên cứu thấu đáo. Chỉ riêng bộ sách Từ thụ yếu quy (1865), ông hệ thống lại nạn tham nhũng của quan lại Việt nam và bàn cách hạn chế tham nhũng đã là một tư duy đi trước thời đại. Than ôi! Ít ai biết đến một nhân vật tầm cỡ “Dân tộc ta tự hào có người con Trung Hiếu vẹn toàn như Đặng Huy Trứ; Lịch sử Việt Nam tự hào về nhân vật lỗi lạc như Đặng Huy Trứ; Văn học Việt Nam tự hào về nhà thơ lớn Đặng Huy Trứ” (GS. Vũ Khiêu). Mà riêng gì một Đặng Huy Trứ, còn biết bao nhân vật lỗi lạc khác, hậu thế mấy ai biết đến. Nếu biết, chẳng qua biết cái tên, còn sự nghiệp thế nào chỉ biết loáng thoáng.

Há chẳng phải đáng buồn sao?

Nên chăng trên tờ giấy bạc của ta, ngoài hình Chủ tịch Hồ Chí Minh nên có thêm hình chân dung các danh nhân khác? Nghệ thuật trình bày trên mỗi tờ giấy bạc là văn hóa. Vậy thì, tại sao chúng ta không phổ biến, tuyên truyền văn hóa ngay trên tờ giấy bạc? Chuyện này không mới, Nhật ký 16.8.2013 đã liệt kê một loạt “mỹ hiệu” trên đồng tiền thời vua Minh Mạng. Nghĩ sâu xa, ấy là một cách thường xuyên giáo dục quốc dân về đạo lý cương thường, đạo vui tôi, đạo làm con, đạo thầy trò… Sự nhắc nhở ấy được nhắc nhở mỗi ngày. Mỗi ngày, có ai không một lần cầm lấy đồng tiền? Nói như thế bởi nước Nhật đã chọn hình Fukizawa Yukichi in trên tờ giấy bạc có mệnh giá 10 ngàn yên? Có phải là tờ giấy bạc cao nhất ở Nhật không?

Ngày hôm qua, lang thang về Tiền Giang, Mỹ Tho dự giỗ lần thứ 5 của nhà văn Sơn Nam. Đi cùng N.M. Nhựt, H.Đ. Nguyên và T.H. Nhân. Gặp  nhiều văn nghệ sĩ. Đông vui. Gặp ba lão làng Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng, Kiên Giang Hà Huy Hà. Trông đã yếu. Tuy vậy, vẫn hào hứng chén cao chén thấp. Hào sảng. Cái tình dành cho nhau vẫn mặn nồng. Nhà văn Sơn Nam về hậu vận được thế này là vượng. Có nơi chốn để người ái mộ, đồng nghiệp lui tới. Ngồi trên xe hơi vi vút, nghe lại “nhạc vàng”. Ảo não. Bi thảm. Tiếng thở dài lê thê của những kiếp người trong cuộc chiến. Anh em nói đùa rằng, lẽ ra Bộ Văn hóa Thông tin phải... cấp bằng khen cho các nhạc sĩ này? Nghe điếc con ráy chưa? Bởi loại âm nhạc này đã đóng vai trò không khác tiếng sáo Trương Lương. Nghe loại nhạc thở than ấy, rầu rĩ ấy mấy ai còn hăng hái dũng khí ra trận?. “Nếu con không về về chắc mẹ buồn lắm/ mái tranh nghèo không người sửa sang/ Khu vườn thiếu hoa đào mừng xuân/ Đàn trẻ thơ ngây chờ mong/ anh trai sẽ đem về cho tà áo mới/ ba ngày xuân đi khoe phố phường”. Chỉ muốn đào ngũ cho xong! “Đàn theo ta đi qua con suối con khe/ Qua nương rẫy qua bao nhiêu rừng/ Đàn theo ta đi đánh Mỹ đêm ngày/ Giữa rừng xanh xây muôn câu ca./ Ai say sưa diệt Mỹ, ai ra đi diệt Nguỵ ở đất quê này/ Khi đi qua có nhớ, đây quê hương Vân Kiều rộn vang tiếng đàn/ Tình tính tình em dồn chân bước/ Ra chiến trường xuôi ngược khắp rừng/ Đạn súng trên vai vượt ngàn em đi..” Có phải hào hứng hơn không? Nói thì nói đùa vậy thôi. Một thời đã qua. Đã xa. Tâm thế của người nghe thế hệ này đã khác trước...

 

DSCN0375anh-nya

Từ phải: Nhà báo Lê Minh Quốc (báo Phụ Nữ TP.HCM), Nguyễn Minh Nhựt - Giám đốc NXB Trẻ, nhà báo Hà Đình Nguyên (báo Thanh Niên), nhà báo Trần Hoàng Nhân (Báo Thể thao & Văn hóa)

 

Trên đường về, Nhựt  "tiết lộ" ở Tiền Giang vẫn còn có tên đường Phan Thanh Giản. Thú vị ở chỗ, con đường này đặt tên đã lâu nhưng sau thăng trầm lịch sử, tên đường vẫn không thay đổi. Độc đáo là chỗ đó. Anh em có chụp tấm hình lưu niệm. Trên đường đi không thể không ghé ngang Gò Công viếng Đền thờ anh hùng Trương Công Định. Phải thắp nén nhang ngưỡng mộ tiền nhân. Chuyến đi này đúng dịp giỗ của cụ, từ ngày 19.8 đến ngày 20.8.2013. Phía ngoài cổng Đền thờ Trương Công Định có câu đối:

Gò Công Trương chánh khí

Gia Thuận Định trung can

Ai cũng biết, Bình Tây Đại Nguyên Soái quê quán Quảng Ngãi, tên gọi Trương Định. Tại sao lót thêm chữ “Công”? Theo N.M.Nhựt thêm chữ “công” do từ tước hiệu ngày trước phân theo “Công, hầu, bá, tử, nam”. Liệu có đúng không? Chỉ nghĩ đơn giản rằng, gọi Trương Công Định là do nhân dân sùng bái, thêm chữ “Công” nhằm tỏ lòng tôn kính. Tình cảm ấy xuất phát từ tấm lòng của người dân. Bước vào trong khu nhà thờ đã thấy nhiều người dân từ nơi xa đến, họ ăn mặc sạch sẽ, nữ áo dài, nam quần áo sơ mi ngồi rải rải trong khuôn viên có lăng mộ cụ để chờ đến lúc làm lễ. Không náo nhiệt. Không ồn ào. Có cảm giác là người dân đến giỗ cụ là một lẽ tự nhiên. Không phải do ai hô hào, kêu gọi cả. Thắp nén nhang trước bàn thờ Trương Công Định, nghĩ rằng, người anh hùng chết vì Nước, hy sinh vì Dân thì danh thơm ấy còn truyền mãi đến muôn đời sau. Chỉ nghĩ vậy đã thấy lòng ấm áp. Chuyến đi càng có ý nghĩa, không đến nổi vô tích sự.

Trên đường về, ghé lại một bến bến sông của Cần Guộc hay Cần Giờ? Chẳng nhớ rõ, bởi y vốn dốt địa lý. Nhớ rằng chỗ ngồi ấy, nguyên là một thuyền đi biển, được cải tạo thành quán lai rai. Bốn bề rợp mát cây bần, cây đước... Cỡi trần cho mát. Như đang ngồi trong nhà mình. Lai rai như vậy mới khoái. Bốn thằng cha đực rựa khoe bốn bộ ngực cà tong cà teo nhưng ăn nói sảng khoái lắm, vô tư lắm. N.M.Nhựt hào hứng đọc ca dao Nam bộ:

Nước chảy cặc bần run lẫy bẫy;

Gió đưa dái mít giẫy tê tê

H.Đ.Nguyên cao hứng nhắc lại hai câu đối, xác định bản quyền của anh: Đến Cần Giuộc ăn chuột Cần Giờ”. Hay ở chỗ có đến hai chữ “Cần”, rồi vần “uộc” "uột" sóng đôi quá chừng bảnh, ăn nhịp ngọt xớt. Anh lại khoe thêm câu đối khác cũng độc chiêu không kém: “Qua cầu Đen hỏi kèn đâu?”. Cái hay ở chỗ nói lái "cầu Đen: kèn đâu?" và đắc địa ở chữ “kèn”.

Gió lộng từ khơi xa. Yêu đời quá chừng chừng... Nào, nâng ly cho đời thêm tươi.

Nghĩ đến chữ "kèn", bèn tủm tỉm cười.

 

L.M.Q


Vài hình ảnh tại Khu Đền thờ

Anh hùng dân tộc Trương Định

DSCN037RR7

Từ phải: Nguyễn Minh Nhựt, Hà Đình Nguyên, Lê Minh Quốc trước cổng Đền thờ Anh hùng Trương Công Định

 

DSCN0387R

Toàn cảnh bàn thờ Anh hùng Trương Công Định

 

DSCN0381

Tiểu sử Anh hùng Trương Công Định viết trên sách gỗ tại Đền thờ Trương Công Định

 

DSCN0388

Lăng mộ Anh hùng dân tộc Trương Công Định

 

DSCN0389

Từ phải: Nguyễn Minh Nhựt, Lê Minh Quốc

 

DSCN0382

Phía sau lăng mộ Anh hùng Trương Công Định (ảnh chụp từ Đền thờ Trương Công Định chụp ra)

 

DSCN0392

Bia thờ Anh hùng Trương Công Định tại lăng mộ của ngài.

 

Ảnh: Lê Minh Quốc & Trần Hoàng Nhân

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 16.8.2013

 


Đã cuối tuần. Một tuần qua vèo. Nhanh đến chóng mặt. Một cái ngáp vừa há miệng ra chưa kịp khép lại đã một tuần.

Ngày xanh như ngựa, đầu xanh bạc

Chán cả giang hồ, hết cả ngông

(Tản Đà)

Y không ngông. Y hiền lành. Chân chỉ hạt bột. Thật thà như đếm. Chỉ thoảng đếm sai thôi. Lần này, quyết đếm không sai. Thử đếm, tuần qua có mấy sự việc đáng chú ý?

 

20130726-TSGTGD-Thu-moi-hop-bao-20x8.5-cm

 

Thứ nhất, phải kể đến Chương trình 1.000 đại sứ góp sách cho trẻ em nông thôn Việt. Nhóm cựu học sinh trường Quốc học Huế niên khóa 1961-1969 đã có sáng kiến này. Ngày nọ, họ sinh hoạt dã ngoại,  tình cờ bắt gặp nhóm trẻ em chụm đầu xem chung một quyển sách. Từ đó, ý tưởng xây dựng tủ sách cho trẻ em ra đời. Lâu nay, đã có nhiều chương trình từ thiện cái ăn, đây là từ thiện về cái đọc. Trong buổi họp báo sáng hôm kia tại quán một cà phê nho nhỏ, bác sĩ Hồ Đắc Duy - người cố vấn chương trình cho biết: “Ở hai huyện Đông Giang và Tây Giang (Quảng Nam) chúng tôi đi thực tế vào tháng 4 vừa rồi nhận thấy, giữa dãy núi trùng điệp gần như tách biệt với bên ngoài, 100% bản làng hầu như trong tình trạng “trắng về sách”, không có bất cứ một thư viện hay tủ sách công cộng nào cho người dân, trường học tạm bợ, cơ sở vật chất thiếu thốn, các em đói và khát sách vô cùng”.

Chúng ta đang sống trong thời buổi nào vậy? Nghe nhói lòng. Thiệt hết biết. Nhà thơ Xuân Diệu có bài thơ “Gánh”,  trong đó có câu:

“Trăm dâu đổ đầu tằm,

Trăm trách nhiệm đổ vào người trách nhiệm.

Bàn ghế ở đâu xộc xệch: người ấy phải lo

Đường sá ở đâu bụi bặm: người ấy phải lo

Trẻ con bụng còn giun lãi: người ấy phải lo

Hàng xóm bực mình chửi đổng: người ấy phải lo…”

“Người ấy” lo kiểu gì vậy? Thật ra có lo đấy chứ, bằng cái vốn hiểu biết bé tẹo, y biết Nhà nước có ngân sách hỗ trợ sách cho trẻ em vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Nhưng mà hiệu quả rất kém. Cơ chế hay con người? Quái đản, có những việc do tư nhân thực hiện đâu ra đó. Minh bạch. Rõ ràng. Hiệu quả. Mà hễ thuộc guồng máy vận hành của cán bộ nhà nước thì cứ ì à ì ạch. Chẳng biết bao giờ có thể thay đổi? Một hệ thống não trạng ấy phải thay đổi. Đến các trại phong, đến những nơi con người phải gánh lấy bệnh tật cùng cực, bất hạnh nhất trần gian mới thấy hết sự vĩ đại của các soeur, các ni cô... Họ chính là hiện thân của Đức Mẹ, Đức Phật Bà Quán Thế Âm. Họ không phấn đấu. Không thi đua. Không kế hoạch. Không chỉ tiêu. Không báo cáo thành tích. Không thống kê dằng dặc những con số. Không mi cờ rô hếnh hoáng. Các Mẹ, các Chị  có gì? Chỉ có tấm lòng.

Biết bao giờ quan chức khi làm việc cho Dân, vì Dân chỉ từ tấm lòng?

Vừa rồi, ngày 13.8 giỗ lần thứ 5 ngày mất nhà văn Sơn Nam được tổ chức tại Nghĩa trang hoa viên Chánh Phú Hòa (Bình Dương). Sắp đến, thứ hai tuần tới gia đình nhà văn sẽ  tổ chức ở Khu nhà lưu niệm Sơn Nam ở Mỹ Tho. Bạn N.M.Nhựt - Giám đốc NXB Trẻ cho biết: “Sau một thời gian tích lũy, nhuận bút các tác phẩm của nhà văn Sơn Nam đã gần đủ để tổ chức một giải thưởng văn chương mang tên ông già Nam bộ. Dự kiến, cuối năm 2013 chúng tôi sẽ triển khai giải thưởng này dành cho tất cả các tác phẩm viết về vùng đất Nam bộ mà Sơn Nam đã từng sống và viết”. Thông tin này đáng lưu ý. “Giải thưởng Sơn Nam” cần quá đi chứ. Ừ, con người có số mệnh không? Tại sao có những con người dù khuất núi nhưng ta vẫn thấy họ đồng hành? Tư tưởng họ, tác phẩm họ vẫn đồng hành. Thậm chí, vài thước đất chỗ họ nằm ấy cũng có thể sinh lợi cho người đang sống.

Nói như thế vì những người làm nghĩa trang Bình Dương có cái nhìn xa lắm. Lúc nhà văn Sơn Nam mất, Hội Nhà văn TP.HCM còn đang chần chừ “xin ý kiến”, họ đã hào phóng “mời” đưa về an táng. Miễn phí. Với người nổi tiếng khác, họ cũng vậy, họ có “chính sách” rõ ràng nhằm đưa về chôn ở nghĩa trang của họ. Dần dà, “người của công chúng” quy tụ về đây ngày một đông. Có thể kể đến  đạo diễn Huỳnh Phúc Điền, soạn giả Nhị Kiều, các nhạc sĩ: Phạm Duy, Hoàng Trang, Thanh Sơn, NSƯT Tư Còn (đờn kìm), NSƯT Hồ Kiểng… Người vô danh được chôn gần, nằm gần người nổi tiếng cũng vinh dự. Nói nghe lạ tai, không, không phải họ vinh dự mà con cháu họ. Chết là hết. Nằm đâu cũng được. Còn biết gì nữa đâu mà ý kiến ý cò. Mọi việc con cháu lo, vậy nó lo thế nào? Lo gì thì lo, ít ra chỗ nằm của người đã khuất phải giúp nó “làm sang”, nở mày với thiên hạ. Hiểu tâm lý này, ta có thể lý giải vì sao giá đất nghĩa trang Bình Dương đang nhích dần từng ngày.

Nhà thơ Diệp Minh Tuyền có bài thơ, đại ý, nghĩa trang là một thư viện, cuộc đời người đã khuất là một quyển sách:“Gắng làm sao cho khi ta chấm dứt/ Mỗi cuộc đời thành một quyển sách hay”.  Tứ thơ này hay. Sao không nghĩ, nghĩa trang cũng là một khu văn hóa? Nếu nghĩa trang nào cũng dành đất xây dựng một nhà lưu niệm, trưng bày kỷ vật, hiện vật, tác phẩm v.v… của người nổi tiếng đã chôn ở đó, lại càng có ý nghĩa về văn hóa.

Sáng nay, dự kỷ niệm 35 năm thành lập Bảo tàng TP.HCM. Vào một căn nhà, biết lý lịch của nó càng hay. Chơi một người, biết lai lịch họ càng yên tâm. Vì thế, lướt qua vài thông tin về Bảo tàng TP.HCM: Trụ sở 65 Lý Tự Trọng, Q.1 xây dựng năm 1885, hoàn thành năm 1890, tên gọi đầu tiên: Dinh Thống đốc Nam kỳ; thời Bảo Đại (7.1945): Dinh Khâm sai; sau Cách mạng tháng Tám, ngày 25.8.1945: trụ sở của Ủy ban Hành chánh lâm thời Nam bộ; năm 1947: trụ sở Chính phủ Nam kỳ tự trị; từ ngày 2.6.1948: Dinh Thủ hiến Nam kỳ; sau năm 1954: Dinh Quốc khánh; từ năm 1966 đến 1975: Trụ sở Tối cao Pháp viện. Ngày 12.8.1978: Bảo tàng Cách mạng TP.HCM; ngày 13.12.1999 đổi tên thành Bảo tàng TP.HCM.

Có một điều hiển nhiên, lâu nay khi nhắc đến bảo tàng, nhà truyền thống, nhà lưu niệm hầu như những người trẻ ít quan tâm. Một phần do công tác tuyên truyền quá kém. Khi Đàm Vĩnh Hưng “khóa môi” nhà sư, lập tức các hệ thống truyền thông nháo nhào bu lấy. Như ruồi bấu ghẻ. Không sót một chi tiết nào. Tương tự, một chân dài “khoe hàng” lập tức các nhà báo hăm hở lao tới. Khai thác triệt để. Không xấu hổ. Miễn là “ăn khách”. Gõ goolge sẽ nhận hàng triệu thông tin nhảm nhí ấy. Với não trạng ấy, đừng mong có những sự kiện xứng đáng nằm trang nhất, nhưng rồi cũng chỉ vài dòng cho “phải đạo”. Lại có những loại tin cỡ “xe cán chó” lại trở thành quan trọng, rất quan trọng!

Ấy là đánh lừa công chúng.

Đừng quên, công chúng thời nào, lúc nào cũng thông minh. Các nhà báo đừng tưởng bở, đừng tưởng có thể xỏ mũi họ bằng các ngón nghề về ma mãnh nghiệp vụ. Trưa, nay trên đường về nhà,  y nhẩm mấy câu:

Vô số thông tin anh chọn lấy tin nào?

Tin trang nhất lắm lúc cũng tào lao

Tin rao vặt lại nhiều khi cần thiết

Chọn làm sao mọi giá trị nháo nhào?

Sáng nay, lang thang trong Bảo tàng TP.HCM, nhận thấy có nhiều điều hay. Ghi lại, kẻo quên. Bạ đâu xâu đó, không theo lớp lang, thứ tự gì. Ghi ngẫu hứng theo hiện vật lẫn thuyết minh. Rằng, đồng tiền thời xưa làm bằng vàng, đồng, kẽm nhưng lại giới khảo cổ còn tìm thấy...  tiền đúc chì! Chuyện này trong thư tịch không thấy ghi chép, nhưng vẫn có. Lý giải thế nào? Đó là sản phẩm được chế đúc lậu bên ngoài (các nhà nghiên cứu đặt tên là “vô khảo phẩm”) mà qua tư liệu cho thấy triều đình nước ta đã từng khuyến cáo đối với hiện tượng đúc tiền lậu và thương buôn Trung Quốc đem tiền giả vào lưu dụng tại  Việt Nam.

Ngày nọ, tháng nọ nhờ đọc gia phả của nhiều dòng họ mới biết mỗi dòng tộc đều có “mỹ hiệu” của dòng tộc đó. Đại khái đó là cụm từ mà dòng tộc đó đã chọn từ đời này qua đời nọ nhằm nhắc nhở con cháu phải ghi nhớ, phấn đấu làm theo đặng giữ gìn, phát huy thanh danh của dòng tộc mình. Vậy, thử hỏi đồng tiền có “mỹ hiệu” không? Trước kia nếu có ai hỏi, không dám trả lời. Nay đã dám trả lời rằng thưa là “có”. Tại sao dám quả quyết vậy? Thưa, vì sáng nay đã tham quan ở Bảo tàng TP. HCM. Từ năm 1802, Gia Long lên ngôi lập nhà Nguyễn, chỉ thời Minh Mạng là thịnh trị nhất. Tiền đúc thời vua nào ghi niên hiệu vua đó, chẳng hạn, Minh Mệnh thông bảo, Thiệu Trị thông bảo, Tự Đức thông bảo… Trên các đồng tiền đúc đời vua Minh Mạng, mặt này ghi Minh Mạng thông bảo, mặt kia là các “mỹ hiệu” như sau:

Đế đức quảng vận (Đức của nhà vua rộng lớn)

Tứ phương vi tắc (Bốn phương lấy làm khuôn phép)

Nhất nhân hữu khánh, triệu dân lại chi (Một người có phúc, triệu dân được nhờ)

Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử (Vua giữ đạo vua, tôi giữ đạo tôi, cha giữ đạo cha, con giữ đạo con)

Thân thân, trưởng trưởng, lão lão, ấu ấu (Thân kính người thân, kính người trưởng. trọng người già, yêu trẻ con.

Liễm phúc ích dân ( Thu phúc đem cho dân)

Dụ quốc lợi dân (Giàu nước lợi dân)

Phú thọ đa nam (Giàu có, sống lâu, nhiều con trai)

Phúc như Đông hải, thọ tỉ Nam sơn (Phúc lớn như biển Đông, sống lâu như núi Nam)

Cương kiện trung chính (Cứng rắn, trung thành, ngay thẳng)

Quốc thái dân an, phong điều vũ thuận (Nước thái bình, dân yên vui, mưa thuận gió hòa)

Còn nhiều nữa. Tự hỏi, có phải đó là văn hóa của đồng tiền? Sẽ trở lại lý giải sau. Nhưng thử hỏi rằng, vì sao sáng nay vào Bảo tàng mà chỉ chăm bẳm quan sát các hiện vật về tiền? Bộ mê tiền lắm à? Tưởng gì chỉ là tay mê tiền. Nghe thế, bèn trả lời rằng: Ai thiếu cái gì thì mê cái ấy. Y mê tiền. Thì đã sao?

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 15.8.2013



Làm báo còn có cái may, mỗi sáng thong dong trong nhà. Không việc gì phải lật đà lật đật, tất ta tất tưởi, hấp ta hấp tấp. Chỉ kịp khoác cái áo, quên mang giày là đã phóng xe chạy trối chết. Ra khỏi nhà. Không kịp ăn sáng. Có lúc sốt ruột bởi kẹt xe. Đờ đẫn giữa ngã tư đường. Mù mịt khói xe. Thở ngắn than dài. Lòng như lửa đốt. Phải đi. Bằng mọi cách phải đi. Thời gian tính từng giây. Phóng xe chạy trối chết. Phải có mặt tại công ty đúng giờ.

Sáng nào cũng vậy.

Một áp lực ghê gớm.

Chỉ cần nghĩ đến đã hoảng. Công ty đã quy định. Phải chấp hành. Nhờ vậy, công việc mỗi ngày hiệu quả hơn chăng? Chắc gì. Có những lúc đến nơi, vào công ty, chẳng việc gì làm. Đủng đa dủng đỉnh. Buôn dưa lê. Tán ngẫu. Làm báo sướng hơn. Chủ động thời gian và công việc. Thường mỗi ngày, khoảng 9 g mới vác xác ra khỏi nhà. Sáng nay, mới 8 g đã vội vội vàng vàng. Một cuộc họp không thể vắng mặt. Gút lại kết quả cuộc thơ của Trung tâm văn hóa Thành phố. Đã có kết quả. Yên tâm. Đã có thể nhẹ nhõm rồi.

Chiều nhận email của Đông A. Vậy đã viết xong kịch bản truyện tranh các danh nhân Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An. Công việc vẫn tiếp tục. Hào hứng. Ít ra cũng gieo vào đầu các em một chút gì đó về lòng tự hào dân tộc. Dù ít, rất ít nhưng cũng thấy việc làm không đến nỗi vô ích. Bây giờ, có câu nói quen thuộc:

Dân ta phải biết sử ta

Cái gì không biết thì tra “gu gồ”

Cũng là một cách để học. Thế nhưng, cầm quyển sách, đọc vẫn lý thú hơn. Trong thư viện của y có tập sách Biên niên lịch sử Thăng Long - Hà Nội, công trình ra mắt nhân kỷ niệm 1010 - 2010. Ghi nhận lại các sự kiện từng ngày tại Hà Nội. Sài Gòn - TP.HCM chưa có tập sách tương tự.

Muốn biết chuyện từng ngày của Sài Gòn trước 1975, phải đọc bộ sách Việc từng ngày của Đoàn Thêm. Ghi chép công phu, tỉ mỉ. So với các tập Những sự kiện lịch sử Việt Nam, các tập của Đoàn Thêm dễ đọc hơn, lý thú hơn. Tại sao? Những bộ sách Những sự kiện lịch sử Việt Nam biên soạn quá khô khan, hầu hết chỉ là các sự kiện hoạt động của Đảng và Nhà nước. Lấy đó làm mục tiêu chính để ghi nhận,dù đúng nhưng chưa đủ bởi đó chỉ là một phần của đời sống đang vận động. Nhóm biên soạn quên rằng, điều mà bạn đọc còn cần nữa là khi đọc có thể hình dung ra đời sống, xã hội, dân tình v.v… của một thời. Tiếc là họ không quan tâm đến. Trong khi đó, Đoàn Thêm không bỏ qua sự phản ánh từ sinh họat đến sự việc có có liên quan đến người dân, ví dụ giá gạo ngày hôm đó bao nhiêu một ký, giá vàng tăng ra sao? v.v...

Sáng nay, trên báo TN, anh H.Đ.N đã đưa tin: “Cuốn Ve vãn Sài Gòn của tác giả Chị Đẹp được NXB Trẻ phát hành cuối tháng 6.2013 với số lượng 2.000 cuốn đã bán hết vèo nên NXB quyết định tái bản thêm 1.000 cuốn. Cuốn sách đề cập đến khá nhiều góc cạnh của một Sài Gòn bằng cái nhìn rất lạ. Nhà thơ Lê Minh Quốc cho biết đợt tái bản này là do nhu cầu của độc giả phía bắc”. Đọc tin này, lòng đang vui nên lật lại vài trang Việc từng ngày. Đọc cũng là một cách học: “Ngày 17.7.1962: tượng đồng Hai Bà Trưng hôm nay được lên bệ ba chân, thay cho tượng xi măng tạm thời theo nhiều người thì giống hệt bà Nhu và con gái là Lệ Thủy (phí tốn 6 triệu $ VN) “Ngày 2.11.1963: Tượng Hai Bà Trưng, vì giống bà Nhu và con gái, bị kéo đổ và chặt đầu lôi qua nhiều đường”; Ngày 29.6.1963: Sữa ở Sài Gòn, từ 14 $, 15 $ đã lên đến 21$, 25 $; và rất khó tìm”. Gạo thời điểm giá gạo 585 đồng/ tạ v.v… Thôi thì kể luôn, nhân sự việc này, trên Bách Khoa số tháng 3.1964, nhà thơ Đông Hồ có công bố hai bài thơ “nghe được của một người từ mấy năm trước”. Cách nói khéo chăng? Thơ cỡ này phải là bút lực Đông Hồ chăng?

Tượng ai đâu phải tượng Bà Trưng,

Tóc éo lưng eo kiểu nhố nhăng.

Đón gió lại qua người ưỡn ẹo,

Chờ chim nam bắc gió tung tăng.

Khuynh thành mặt đó y con ả,

Điêu khắc tay ai khéo cái thằng.

Chót vót đứng cao càng ngã nặng,

Có ngày gẫy cổ đứt ngang lưng.

Chắc nhiều người dừng lại với câu: “Điêu khắc tay ai khéo cái thằng”.  Ta hiểu, "khéo cái thằng" là cách nói mỉa. Đọc kỹ ghi chép của Đoàn Thêm ta biết, tượng Hai Bà Trưng đó là tác phẩm của nhà điêu khắc Nguyễn Văn Thể - giải Đệ nhị La Mã. Đọc lại Những bức thư đầm ấm, ta có thêm thông tin từ thư của Nguyễn Hiến Lê gửi Quách Tấn: “Thời Pháp thuộc đầu đường Paul Blanchy (nay Hai Bà Trưng) chỗ trông ra sông Sài Gòn, có dựng tượng Rigault de Genouilly, một trung tướng hải quân Pháp đã đánh phá Đà Nẵng, dân Sài Gòn gọi tượng đó là tượng Một hình (một người). Sau Cách mạng 1945, tượng đó bị hạ. Gần cuối đời, Ngô Đình Diệm cho dựng tượng Hai Bà Trưng thay vào”. Vài chi tiết này giúp ta hiểu bài thơ thứ 2 thấu đáo hơn, cũng của Đông Hồ:

Đây một hình xưa nhục nước non,

Thay hai hình mới đứng thon von.

Mình ni lông sát lưng eo thắt,

Ngực xú chiêng nâng vú nở tròn.

Tưởng đúc hiên ngang em với chị,

Hóa ra dìu dắt mẹ cùng con.

Dòng sông Bến Nghé - dòng sông Hát,

Lưu xú lưu hương tiếng để còn.

Những bài thơ này, ghi vào Nhật ký vì đây cũng là thông tin liên quan đến Sài Gòn.

Chiều nay mưa. Chiều qua tầm này, đã nhậu lai rai. Phải thừa nhận rằng, N.M.Nhựt có cách nói chuyện, trình bày vấn đề hết sức lưu loát. Cách nói chỉnh chu, mạch lạc, đâu ra đó gọi "khẩu văn" chăng? Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng vậy, ông phát biểu khiến ta có cảm giác như ngữ điệu trầm bổng ấy nhịp nhàng với từng dấu phẩy, chấm... trong một câu văn. Các chính khách, quan chức nếu có cách nói năng, trình bày vấn đề như thế ắt các nhà báo trẻ khỏe re. Chỉ ghi lại là xong một bài báo. Mấy mươi năm theo nghề báo, y nhận ra có quá nhiều quan chức sử dụng cách nói kỳ lạ và khá phổ biến: Nói dông dài, chuyện nọ xọ chuyện kia, lan man đủ mọi chuyện từ Đông sang Tây, lý lẽ không mới không trật, nói vài giờ đồng hồ nhưng cuối cùng chẳng có một nội dung, một thông tin nào. Dưới vẫn vỗ tay rào rào. Độc chưa? Lại có những người bất kỳ sự việc nào khi chỉ đạo cũng chỉ phát biểu như thế, dặn dò như thế, mở đầu như thế, thân bài như thế, kết luận như thế mà chẳng hề có một nôi dung, một thông tin nào. Nghe cũng được, không nghe cũng được. Dưới vẫn vỗ tay rào rào. Độc chưa?

Chiều nay mưa. Ở nhà. Không phải ra phố. Ngồi ở nhà mà hái ra tiền, vậy cần gì phải nháo nhào mỗi ngày xuống phố.

Phải không?

 

L.M.Q

 

Vài hình ảnh liên quan đến sự kiện ngày 2.11.1963 tại Sài Gòn:


anh-nay-2R

Tượng "Hai Bà Trưng" khi chưa bị kéo dổ

anh-nay-1-R


tuong02

Tượng sau khi bị kéo đổ


(Nguồn: Internet)

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 45 trong tổng số 54

trinhduyson