LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 13.8.2013

 

Đêm qua, dai dẳng, dùng dằng, dằng dai, dằng dặc, dầm dề, dúng dẳng, da diết kéo lê thê qua trước cửa nhà là mưa. Bèn đi ngủ sớm.

Thức dậy, một tin nhắn của đồng nghiệp Ngô Kinh Luân: “Lâu quá không gặp anh, sáng nay phở nghe anh”. Cứ như lời tỏ tình trai gái. Sực nhớ về thời mười sáu xuân xanh, có người con gái bước qua ngõ hỏi vọng vào: “Đi học chưa?”. Âm thanh ấy lướt thướt theo gió. Thuở ấy, vườn cây nhà ông ngoại run rẩy gió, sau mưa. Từng hạt mưa rụng dưới chân đi. Hoa ngâu thơm lạ lùng. Rụng vàng trên vai. Từng chấm li ti ấy mang theo hơi mưa. Nhẹ tênh. Buổi sáng sau mưa, tâm hồn nhẹ nhàng hơn. Ngủ đẫy giấc. Không mộng mị.

 

phovanhoc

 

Đêm qua, dai dẳng, dùng dằng, dằng dai, dằng dặc, dầm dề, dúng dẳng, da diết kéo lê thê qua trước cửa nhà là mưa. Bèn đi ngủ sớm.

Thức dậy, một tin nhắn của đồng nghiệp Ngô Kinh Luân: “Lâu quá không gặp anh, sáng nay phở nghe anh”. Cứ như lời tỏ tình trai gái. Sực nhớ về thời mười sáu xuân xanh, có người con gái bước qua ngõ hỏi vọng vào: “Đi học chưa?”. Âm thanh ấy lướt thướt theo gió. Thuở ấy, vườn cây nhà ông ngoại run rẩy gió, sau mưa. Từng hạt mưa rụng dưới chân đi. Hoa ngâu thơm lạ lùng. Rụng vàng trên vai. Từng chấm li ti ấy mang theo hơi mưa. Nhẹ tênh. Buổi sáng sau mưa, tâm hồn nhẹ nhàng hơn. Ngủ đẫy giấc. Không mộng mị.

Sáng nay, bên tô phở nhớ lại hôm nọ Luân có gửi email. Nội dung như sau: “Ở tiệm phở ngon nhất phía Đông nước Mỹ, có treo 2 câu đối tài tình, nói về câu trả lời của một bà góa phụ chủ quán phở với một ông khách ỡm ờ (dùng toàn tiếng liên quan tới phở):

Nạc mỡ nữa làm gì, em nghĩ chín rồi, đừng nói với em câu tái giá!

Muối tiêu không đáng ngại, lão còn gân chán, thử vui cùng lão miếng gầu dai!

Có người không chịu, bảo rằng "cua" người đẹp mà lại xưng lão? Già, đã già khú đế. Ai thèm yêu? Bèn đề nghị đối như sau:

Cay chua chi lắm thế, tớ còn gân chán, xin đừng lỡm tớ chuyện Tiêu, Tương".

Chà, cũng vui. Từng nghe câu đối này lâu rồi, theo anh Phan Kim Thịnh - chủ bút tạp Văn Học thì đã lan truyền tại Sài Gòn từ thập niên 1950. Tuy nhiên, hai vế của hai đấng mày râu đối lại chưa "ép phê" lắm. Loạt từ “muối tiêu”, “cay chua”, "Tiêu, Tương" không gợi lên cái thèm về phở. Quái cho món phở. Chưa cần ăn, chỉ mới nghĩ trong đầu những từ “tái”, “nạm”, “gầu”, “chín”, “gân”, “sụn”, “thịt bắp”, "vè"… đã thấy thèm. Nếu thay các từ "gợi cảm" đó bằng tên gọi khác, chắc chắn sẽ hết ngon dù trước mặt vẫn tô phở của mỗi ngày.

Chữ Quốc ngữ, tự nó đã trở thành máu thịt thiêng liêng trong tâm trí, đời sống tình cảm của mỗi con dân nước Việt. Từng con chữ không chỉ có xác, mà còn có hồn - hồn của một dân tộc ẩn hiện trong đó. Mỗi con chữ không là cái vỏ của ngôn ngữ. Sực nhớ, mấy hôm kia đi ngang qua khu Miếu Nổi thấy có quán ăn, bảng hiệu ghi to đùng: "Quán bánh canh Bà Dạng". Đã "bà" còn "dạng"! Nghe phản cảm lắm. Ăn làm sao ngon? Lại quán ăn ở khu Đa Kao có tên: "Ba Mũi Tên". Thoáng đọc đã lạnh tóc gáy. Chẳng lẽ mình phải hứng lấy sự tàn khốc đó sao. Chẳng dại. Bèn đi luôn không  ngoảnh đầu lại, chứ đừng nói bước vào quán.

Nghĩ thêm một chút chăng? Ta thấy rằng, dù chữ Quốc ngữ, tiếng Việt còn có những nhược điểm, khiếm khuyết này nọ nhưng đố ai có thể cải cách thành công. Đố đấy. Cải cách có hoàn thiện bằng trời đi nữa, chắ gì thiên hạ chấp nhận? Có lẽ, người đầu tiên đặt vấn đề này là học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882- 1936). Ông đã từng phát biểu một câu nổi tiếng: "Nước Nam ta mai sau hay dở là ở chữ Quốc ngữ" và từ năm 1927, ông khởi xướng cải cách chữ Quốc ngữ gây xôn xao dư luận một thời. Câu chuyện chưa dừng lại đó, về sau, đã có nhiều người có tham vọng này. Mà cũng chẳng đâu vào đâu. Với y, chỉ cần đọc văn bản viết "phở". Đã thèm. Đã nhớ. Đã mê tơi. Nếu viết theo kiểu cải cách "fở", khi nhìn thấy, chắc chắn cảm xúc trong lòng nguội lạnh, vắng tanh như chùa bà Đanh trong chiều ba mươi Tết.

Lúc đang ngồi ăn phở, rồi câu chuyện lan man đầu xuôi đuôi ngược rồi quay về với vài vụ việc gần đây. Vụ cha con “người rừng” Hồ Văn Thanh (82 tuổi) và Hồ Văn Loan (41 tuổi) ở thôn Trà Kem, xã Trà Xinh (Quảng Ngãi) vừa được đưa về với cộng đồng. Do chiến tranh năm 1972, sau khi ngôi nhà bị trúng bom làm ba người thân chết, ông Thanh hoảng loạn, lo sợ nên bỏ làng, ôm con trốn biệt vào rừng sâu, sống hoàn toàn cách biệt với cộng đồng.

Lúc vào rừng, sống biệt lập, họ tìm lửa như thế nào? Cũng theo nguồn tin báo chí, “cha con “người rừng” bóc lớp bột bám dính vào thân cây đủng đỉnh rồi phơi khô, sau đó lấy ra từng chút đặt lên hòn đá dùng búa đập mạnh, khói từ từ ngún lên thành lửa”. Kỳ diệu chưa? Khoái quá bèn tự hỏi, cây đủng đỉnh là cây gì? Tra trong Những cây thuốc và  vị thuốc Việt Nam của GS Đỗ Tất Lợi không tìm thấy. Có thể còn có tên gọi khác chăng? Tìm trên mạng, một blog nọ cho biết cây đủng đỉnh: "Tên gọi khác: Móc, đùng đình. Tên khoa học: Caryota mitis. Thuộc họ Cau". Chẳng rõ có đúng không?

Đang ăn, Luân phát biểu: “Em thấy việc đưa "người rừng" về là bất nhẫn, chắc gì họ đã sung sướng, đã vui sống? Đôi khi, ta cứ nghĩ phải làm thế này, phải thế kia làm thì người kia sẽ phơi phới yêu đời, sẽ vui khỏe trẻ trung, sẽ hồ hởi phấn khởi. Do nghĩ thế nên cứ làm thế. Dù lòng tốt nhưng chắc gì lòng tốt này lại giúp người kia hài lòng? Xa môi trường sống đã gắn bó hơn bốn mươi năm, làm sao họ có thể ngày một ngày hai “hội nhập” cùng con người của thế kỷ này? Như thế không bất nhẫn là gì?”.

Nghe có lý. Phở đang ngon bởi chín, tái, ngầu, nạm… nên gật gù tán thành. Trong đầu đang tâm toàn ý với phở nên lúc ấy, chỉ nghĩ về phở. Không nghĩ gì khác, ngoài phở. Đang nhớ đến câu thơ của Tú Mỡ và ngâm nga:

Trong các món ăn “quân tử vị”

Phở là quà đáng quí trên đời

Một vài xu, nào đắt đỏ mấy mươi

Mà đủ vị: ngọt, bùi, thơm, béo, bổ.

Nếu phở không có một “ma lực” hấp dẫn thuộc hạng thượng thừa cao thủ võ lâm trong nghệ thuật ẩm thực, sức mấy nó có sức sống trường tồn đến vậy? Nếu phở không ngon, làm sao ông Tú Mỡ có thể hạ bút viết những câu tuyệt cú mèo. Rồi khẳng định như đinh đóng cột:

Phở là đại bổ, tốt bằng mười thang thuốc Bắc

Quế, phụ sâm, nhung chưa chắc đã hơn gì

Phở bổ âm, dương, phế, thận, can, tì,

Bổ cả ngũ tạng, tứ chi, bát mạch.

Anh em lao động đồng tiền không rúc rích,

Coi phở là môn thuốc ích vô song.

Các bậc vương tôn thường chả phượng, nem công,

Chưa chén phở, vẫn còn chưa đủ món

Nghe y ư hử ngâm nga, chắc chắn Luân sẽ hào hứng đọc nối theo. Biết quá mà, đồng nghiệp y có trí nhớ cực tốt. Nhớ nhiều thơ. Đọc nhiều sách. Thỉnh thoảng, trà tam tửu tứ hai anh em vẫn luân phiên đọc thơ. Đọc cho nhau cùng nghe. Thế mới khoái. Khoái quá nên bèn hỏi: “Ông Tú Mỡ viết đúng quá, phải không Luân?”. Nào ngờ, hắn trả lời luôn một mạch: “Đúng quá đi chớ anh. Tội nghiệp cha con "người rừng". Thì cứ xem con chim bị nhốt vào trong lồng, có thóc gạo ngon, có nước sạch, có lồng sơn son thếp vàng nhưng chắc gì nó khoái bằng tự do ngoài trời?”. Quái! Đôi khi cuộc trò chuyện cũng có lúc tréo ngoe. "Ông hỏi gà, bà nói vịt". Bởi mỗi người đang đeo đuổi vấn đề khác nhau. Có những đôi tình nhân, dù hôn nhau say đắm, mắt nhìn vào mắt, nức nở gọi tên nhau nhưng ai dám chắc trong đầu họ đang nghĩ về nhau? Thế đấy.

Nghe câu trả lời tréo cẳng ngỗng, y bèn hỏi: “Vậy Luân có viết bài về cha con ông Hồ Văn Thanh không?”. Đáp: “Em ước gì có thể thu xếp công việc ra đó chừng vài tháng, lân la, trò chuyện nghe “người rừng” kể lại cuộc sống của họ. Chỉ cần ghi chép trung thực là có thể góp phần lý giải về sự thích nghi bí ẩn lạ lùng của con người. Cuốn sách này ra đời, chắc chắn ngành giải trí và điện ảnh của Hoa Kỳ Hollywood  sẽ mua bản quyền dựng thành phim ngay. Doanh thu sẽ vượt xa bộ phim Tarzan của nhà văn Edgar Rice Burroughs. Lúc đó, giàu to”.

Đừng tưởng là đùa. Viễn vông.

Mà rất thật.

Thật bởi tư duy của nhà báo, bao giờ cũng nghĩ đến đề tài hấp dẫn phục vụ bạn đọc. Nhà báo Tam Lang viết Tôi kéo xe năm 1932, in thành sách năm 1935 đã trở thành một sự kiện của nền báo chí nước nhà: “Là tập phóng sự ra đời sớm nhất được viết bằng ngòi bút tả chân sắc sảo linh hoạt, Tôi kéo xe có ý nghĩa mở đầu cho thể loại phóng sự trong văn xuôi Việt Nam hiện đại” (xem Tổng tập văn học Việt Nam tập 29A). Tam Lang kể:  “Ông Bùi Xuân Học, chủ nhiệm Ngọ báo một hôm vỗ vai tôi mà bảo: “Anh có ngòi bút viết văn tả chân khéo, bây giờ đang là mùa các bạn đồng nghiệp của anh đi khắp bốn phương điều tra, phỏng vấn: Albert Londres sang Thượng Hải, Maurice Dekobra đi Hoa Kỳ, Geo London tới miền cương giới Tô Nga, Louis Charles Royer đến Leningrad Xô Viết... mà anh thì chỉ lúi húi ở xó nhà với ba bài văn sầu cảm, sao không ném bút đi xem người ta cho sáng thêm con mắt, có hơn không?”. Ấy là ông chủ báo muốn có những bài hấp dẫn phục vụ bạn đọc đó thôi. “Sáng thêm con mắt” của Tam Lang là ông mượn bộ quần áo nâu, thuê xe kéo và bước vào những ngày "ngựa người người ngựa”.

Nếu nhà báo nào cũng ý thức tích cực về nghề, chúng ta sẽ có tập sách hay về "người rừng". Cứ tin là thế. Đã chơi với nhau, phải động viên, khuyến khích nhau và nhất là tin tài năng của bạn để cùng nhau hào hứng làm tốt công việc của mỗi người. Chơi với người bạn đàng hoàng, làm việc tốt, có uy tín vẫn “làm sang” thêm cho mình.
Nghề báo có "làm sang" không? Cái này còn tùy thuộc vào quan niệm của  từng người. Không tranh luận lôi thôi. Nghề viết báo có đào tạo được không? Cái này còn tùy thuộc vào quan niệm của từng người. Không tranh luận lôi thôi. Chỉ biết rằng, đọc đâu đó còn nhớ tác giả Tôi kéo xe kể lại, ông được “đào tạo” như thế này: Hồi mới chân ướt chân ráo vào nghề, khi nộp cái tin “xe cán chó, chó cán xe”, ông chủ báo đọc qua, bảo: “Kéo cái tin này kéo thêm vài trăm chữ nữa thành cái bài”. Cũng có lúc, ông chủ báo ném trả, bảo: “Cắt cái bài này còn chừng trăm chữ, cái tin thôi”. Tam Lang học nghề theo cách đó.

Sau này, ròng rã gần 30 năm theo nghề mới biết, cách dạy này độc đáo. Đề tài hay, phải kéo dài ra mới thỏa mãn người đọc, bằng không cắt phéng đi các chi tiết rườm rà.
Thời đó, trước năm 1945 nước ta chưa có trường dạy nghề, nhưng có nhiều nhà báo cực giỏi. Kể danh sách các nhà báo này đến sáng mai vẫn chưa hết. Hiện nay, có quá nhiều trường lớp đào tạo nghề báo nhưng số lượng theo nghề lại quá ít. Lại có quá nhiều tòa báo to vật vã nhưng cái tên của nhà báo lại bé tẹo tèo teo. Những cái tên đó không đủ sức bảo chứng cho chất lượng của bài báo do họ viết ra. Nó khác với thời có những bài báo được ký dưới những cái tên cỡ Trần Tấn Quốc, Nam Đình, Thiếu Sơn, Thép Mới, Lưu Quý Kỳ… là bạn đọc tin cậy.

Sáng nay, vẫn mỗi sáng. Vẫn mỗi ngày. Vẫn thế.

L.M.Q

 

Ghi chú:

Nhân đây chép luôn bài thơ dí dỏm, "cực hay" về phở, không thua gì bài Phở đức tng của nhà thơ Tú Mỡ. Nếu dọc xong mà muốn ăn phở thì đọc bài này:  Ngẩu hứng... phở.

Xin mời.

 

Lịch sử phở


Báo Ngày Nay mấy chục năm về trước

Ở trang "Giòng nước ngược" mục thơ vui,

Đã có phen chàng Tú Mỡ rung đùi

Làm thơ tếu, hết lời ca tụng Phở:

 

Phở đức tụng, món quà ai cũng nhớ,

Phở thơm, ngon, béo, bổ, lại bình dân

Phở rẻ tiền, ăn sẽ chóng lên cân,

Phở, Phở, Phở, xa gần ai cũng thích!

 

Phở buổi sáng của Hà thành thanh lịch,

Theo Nguyễn Tuân, là vô địch món ăn ngon...

Hơn hẳn cao lương, chín, nạm, vè giòn,

Là quốc túy, là quốc hồn dân tộc

 

Dù đi xa, khắp biển, trời ngang, dọc

Vẫn nhớ hòai về món Phở quê hương.

Một chín năm tư, Phở lại lên đường

Vào miền Nam, vượt Trường sơn, Bến Hải

 

Theo gót di cư, hóa thành Phở tái

Chín, nạm, gầu, gân, sách, sụn, thêm rau

Húng quế, ngò gai, giá sống, tương tàu,

Đã đánh bạt thật mau môn hủ tiếu.

 

Riêng ở Sài Gòn, có rất nhiều bảng hiệu

Nào "Phở Hòa", "Công Lý", "Phở Tương-Lai"

"Trần Cao Vân", cùng "Bảy Chín", "Tàu Bay"

Rồi "Mụ Béo" đến "La-Cay", "Tầu Thủy".


Tô Xe lửa đầy, ăn no bí tỉ,

Khiến Vũ Bằng cũng tuý lúy, say sưa,

Viết Miếng ngon Hà Nội thật nên thơ,

Và Phở gà được tôn thờ số một...

 

Tháng Tư, Bảy lăm, người người hoảng hốt,

Rời bỏ Sài Gòn, mong dzọt thật xa,

Sống kiếp lưu vong, bốn biển không nhà,

Hương vị cũ, sao mà tìm lại được?


Cho tới khi định cư vào các nước

Thong dong rồi lại ao ước Phở xưa,

Vì muốn ăn nên ai cũng nấu bừa

Cũng bánh, thịt mà sao chưa đạt lắm?

 

Ít lâu sau, kéo về miền nắng ấm

Tại quận Cam, người Việt mấy trăm ngàn

Theo nhu cầu, việc buôn bán mở mang,

Nên lại có biết bao hàng Phở mới

 

Nhưng hầu hết dùng tên xưa để gọi

Lại "Phở Hòa", "Công Lý", "Phở Tương Lai",

"Trần Cao Vân" cùng "Bảy Chín", "Tầu Bay"

Thêm "Nguyễn Huệ" với "Hiền Vương", "Tầu Thủy"


Khác Sài Gòn, vì giờ trên đất Mỹ

Phở đã thành một kỹ nghệ hẳn hoi,

"Bảy Chín", "Phở Hòa", chi nhánh khắp nơi

Cùng bảng hiệu, nhưng nhiều người khai thác


Khách hàng Việt, Nhật, Anh, Tàu, Mỹ, Pháp,

Ăn một lần rồi nhớ mãi, ăn luôn,

Phở Việt Nam ngon, bổ, sẽ trường tồn

Giành địa vị độc tôn vùng tỵ nạn...

 

Ở Tàu trước, Phở là ngưu nhục phấn,

Sang Việt-nam vẫn nấu với bò, gà

Nhưng nhờ tài chế biến của dân ta

Phở sẽ hóa thành "Tinh hoa" đất Việt!


Nhà giáo Bùi Văn Bảo

(1917 - 1998),

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 12.8.2013

 

hqdefault

Lê Minh Quốc (ảnh từ phim tài liệu của Đài Truyền hình HTV)

 

Đời, thế mà vui.

Nếu không có cú điện thoại của Đ, y vẫn còn lơ mơ làng màng rộn ràng mộng đẹp trong chăn êm nệm ấm. Khác trước, lần này không cáu có, gắt gỏng mà cười toe toét bởi gã khen: “Ông viết Nhật ký hay quá. Cho tôi trích in lại trên tờ L.C nghen?”. Y phổng mũi đồng ý. Lâu nay Nhật ký là viết cho mình, cho bạn đọc của trang web cá nhân. Được in lại là có nhuận bútTongue out. Mà lại in trên tờ báo cười là chứng tỏ y viết cũng hài hước ra phết. Còn nhớ, lúc tờ L.C phát hành số đầu tiên, anh em rủ nhau về quán Nail trên đường Mạc Đĩnh Chi, gần Trung tâm Văn hóa Q.1 lai rai chút đỉnh. Lúc ấy, có cả Đông Ki Rét nữa, anh ứng khẩu:

Mừng ngày ra báo Làng Cười

Từ nay, báo Tuổi Trẻ cười hết kiêu

Y cộng tác từ lúc đó, bút danh Tiểu Nhị. Viết ròng rã mấy năm liền cho mục Quán đầu làng mà y phụ trách. Sáng nay, Đ còn nhắn tin: "Ông đọc truyện ngắn Tôi đi áp vong phần 2 chưa? Thấy thế nào?". Trả lời thẳng thắn, bạn bè thân tình nói lấy được, nói vuốt đuôi, nói rồng nói rắn, nói bóng nói bẩy chăng? Nói như thế để làm gì? Bèn chọn cách nói toạc móng heo, nói thẳng ruột ngựa: "Không hay bằng phần 1, không hấp dẫn như lúc ông đã kể". Mà thật, lúc nghe kể, y nổi da gà vì chuyện người cõi âm nhập vào người đang sống. Hư hư thật thật. Mơ hồ. Huyễn hoặc. Tin hay không còn tùy nhưng rõ rằng cách kể buộc phải chăm chú nghe. Ấy vậy, khi đọc lại những gì đã phơi bày trên giấy trắng mực đen lại thấy nhạt phèo.

Tại sao?

Viết trên báo thì phải né! “Biết, biết rồi, khổ quá nói mãi”. Đành mượn câu nói nhân vật của Vũ Trọng Phụng. Khi người ta chưa kiểm duyệt, mình đã tự kiểm duyệt trước, cuối cùng bạn đọc còn được cái gì? Nỗi sợ mơ hồ nào đó đã khiến không ít người viết phải chùn tay, tự mình rào trước đón sau kỹ quá. Kỹ đến nổi bạn đọc ngơ ngác chẳng hiểu ất giáp đầu cua tai nheo thế nào cả. Chúng ta chưa có những nhà văn hì hục viết tác phẩm cho mai sau. Đời sau. Người sau. Cứ viết, nay không in, được dăm năm sau, mươi năm sau nữa in. Miễn bản thảo không bị biên tập cắt xén thành ái nam ái nữ. Chúng ta nôn nóng. Chúng ta vội vã. Không ta không bền chí. Viết để in. In được, phải uốn éo. Phải lách. Phải lạng. Phải né. Không dám phóng ngòi bút đi sâu vào tận cùng tử cung của đời sống. Chỉ lép nhép mép rìa cỏ dại, chỉ nhấp nghé ngoài lề hang sâu. Đã thế thái độ, động tác lại thận trọng quá. Chỉnh chu quá. Bạn đọc thời nào cũng vậy. Khó có thể đánh lừa được họ. Dẫu là đánh lừa qua các chiêu trò thời thượng. Nếu được, chỉ một lần. Do không dám nói thật, đọc thấy giả. Cái giả đang tràn lan trên các dòng chữ. Ô hay! Y có hay hướm đi phê người khác? Chính y cũng đang giả đấy thôi. Từng tự thú:

Lên xe. Nổ máy. Rồ ga

Sao vượt qua được ta bà âm dương

Bánh xe dằn vặt mặt đường

Linh hồn thấp thỏm thất thường lo âu

 

Rú ga. Xe chạy. Về đâu?

Mặt đường toang hoác nát nhầu mặt tôi

Vật vờ như cá đang trôi

Ồ trên đại lộ mày bơi hướng nào?

 

Hướng A cây đã ngã nhào

Hướng Ă dị nghị bị rào bốn bên

Hướng  bầm dập gập ghềnh

Hướng nào vọng lại vang rền tiếng thơ?

 

Hướng tôi ngầy ngật ngất ngơ

Rú ga nghễnh ngãng vu vơ chạy hoài

Trái tim lạnh cóng sóng soài

Bật ra khỏi ngực rớt vào hư không


Một ngày lơ láo lông nhông

Xác thân làm biếng viển vông thời giờ

Tôi đi tìm kiếm nàng thơ

Bây giờ biết đến bao giờ gặp em?

(11.IX.1996)

Chính y cũng đang giả đấy thôi. Hay ho gì mà phê người này, bình người nọ? Đấy, ngay cả viết Nhật ký, viết cho riêng mình nhưng nào có dám nói sự thật đâu. Mà thôi, sự thật của y không đáng cho bạn đọc quan tâm, viết lại làm gì? Y quan niệm, trang nhật ký của một người phải gắn với cái chung của đời sống, sự quan tâm chung của mọi người, nếu không cũng chỉ là những ghi chép vụn vặt, tầm thường. Bạn đọc không cần những kể lể tầm thường đó, huênh hoang đó. Vậy y viết để làm gì? Thưa, chỉ là cách ghi lại những suy nghĩ trong một ngày. Suy nghĩ ấy có thể giúp ích người đọc một điều gì đó. Bằng không, cũng là lúc giúp họ giết thời gian vậy. Giết thời gian dễ à? Không đâu. Y đã giết bằng cách nào?

bây giờ thơ đã về chưa

thời gian tôi giết đã vừa một đêm

ngoài sân bướm trắng bay lên

trong tôi náo động thác ghềnh bủa vây


giết thời gian buổi sớm mai

nghe vu vơ nắng rơi đầy mái hiên

giết thời gian của tình duyên

tôi nghe sám hối mọc trên hình hài

 

giết thời gian giết mây bay

cõi nhân sinh vỗ cánh quay về trời

bàn chân còn bước rong chơi

hôn thơ một chút giữa trời đổ mưa

(14.XI.1998 - IX.2001)

Thương nhớ online mỗi ngày là cách giết thời gian đấy thôi. Phải không nàng? Viết Nhật ký cũng là cách giết thời gian. Những trang Nhật ký vừa xong, y đều post lên facebook. Dần dà y phát hiện ra được thói quen của không ít người. Rất máy móc. Vô hồn. Sợ nhất trên đời vẫn là thói quen từ cảm xúc. Vừa past đường link, chưa kịp ráo mực, chỉ nháy mắt chưa đầy một giây đã xuất hiện “like”. Bố khỉ. Bèn cười khẩy. Đã đọc chưa mà nhấn cái nút ấy? Chỉ là thói quen.

Cái thói quen từ cảm xúc dẫn đến cái giả.

Cái giả đang tràn lan từ cách viết đến trò chuyện. Đã trở thành công thức. Công thức trong sáng tác là điều tệ hại, tồi tệ nhất. Mấy hôm nay, bò ra giường đọc và chấm thơ dự thi về chủ đề viết về nông thôn mới. Bèn cười một mình. Cười lấy chính mình. Bởi cái công thức ấy đã thâm nhập vào trong từng bài thơ. Từng câu thơ. Không phải cuộc thi này. Cuộc thi khác cũng thế. Đọc xong cứ như đang sống dưới thời vua Lý Thái Tổ, vua Lê Thánh Tôn… Ngảnh mặt qua thấy từ này, ngó mắt lại cũng chữ ấy. Sáo rỗng. Khẩu hiệu. Có những bài diễn văn, những bản báo cáo người ta chỉ cần thay đổi mốc thời gian, địa điểm là có thể sử dụng dài dài. không hề lỗi mốt, vẫn model như thường. Chẳng giúp gì cho nhận thức mới, cũng chẳng hại gì cho xu thế đổi mới của thời đại! Cứ thế, năm nào sử dụng cũng ổn tất.

Sáng nay tình cờ đọc vào mạng shtyle.fm, đọc một “chuyện ngắn” trên trang của Art Minh. Đọc xong cười tủm tỉm. Cười vì nó không giả. Nó thật. Thật bởi cảm xúc thật. Suy nghĩ thật. Đố các bài văn mẫu đang in bán tràn lan đầu độc cả mấy thế hệ học trò có thể làm viết được chân thật như thế này. Còn lâu. Nguyên văn như sau: “Một hôm, tôi đến thăm bạn đang dạy học tại vùng núi. Cuộc sống ở đây tuy khó và khổ vì đường xa thiếu thốn, song nhờ trò sáng dạ và chăm học nên không đến nỗi làm người dạy nản lòng.

Tối đến, khi ngồi cạnh bạn đang chấm bài. Rảnh tiện tay tôi lôi thử một số bài ra xem. Bài kiểm tra tập làm văn. Đầu đề ghi “Nguyện vọng của em”. Hầu như cũng giống thời của bọn tôi là ai nấy đều muốn làm thầy, cô giáo, và nhà khoa học cả… Riêng tình cờ thấy có một bài với dòng chữ ghi: “Nguyện  vọng của em là làm một con chó”. Ngạc nhiên và hiếu kỳ, tôi đọc thấy ghi tiếp: “Bố đi xa rồi, nhà chỉ còn mẹ và em. Ở đây đêm rất tối, nghe nói đêm về, thường có ma. Ma không dám vào nhà nào có chó. Nhà em lại không nuôi chó. Nên em mong làm chó để có thể ngày đêm trông giữ nhà, và mẹ sẽ không phải sợ hãi nữa...”.

Đọc thấy thương quá. Trong trẻo quá. Hồn nhiên quá. Chân thật quá. Nếu là giáo viên, chấm bài luận cỏn con học trò này, y sẽ  điểm 10. Nhờ bài luận văn này, sáng nay, y đã sung sướng lặp lại câu slogan của y vừa đăng ký ở Trung tâm bảo hộ quyền tác giả Việt Nam chi nhánh TP.HCM có hẳn hòi đóng dấu mộc đỏ tươi roi rói:

Đời, thế mà vui.Tongue out

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 11.8.2013

 

Có buồn cười không?

Lẽ ra mỗi sáng chủ nhật, được quyền lững thững phố, lơn tơn phở, tào lao cà phê để giết thời gian như một gã tỷ phú cao hứng ném tiền qua cửa sổ máy bay. Ấy vậy mà, sáng nay cũng như mọi sáng chủ nhật khác, y chỉ có một lựa chọn: ngồi nhà. Sáng nay, ngồi nhà ngẫm nghĩ tìm câu trả lời, tại sao đàn ông khóc, lúc họ khóc thì sao? Bạn đọc cần thì viết. Đang viết ngon trớn, tin nhắn thúc giục một bài thể loại khác. Gấp à? Cho số ngày mai. Vậy dừng lại cái này. Qua viết cái kia. Đang vừa bắt nhịp ngon trớn, chuẩn bị viết lại điện thoại. Không nhớ gì ngày hôm nay à? Ngày gì? Ngày giỗ của nhà yêu nước Nguyễn An Ninh. Thế là xếp lại mọi thứ. Chưa nên trò trống gì. Đã buổi sáng. Đã nửa ngày. Hăng hái, xăng xái cũng chẳng đâu vào đâu. Biết thế, từ sáng sớm phóng xe xuống phố luôn thì có khoái hơn không?

 

ong-ba-NAN

Bàn thờ ông bà "nhà yêu nước vĩ đại" NGUYỄN AN NINH

 

Trưa nay, gặp lại vài người bạn quen trong tiệc giỗ. Cách đây đã mấy năm rồi? Ngày ấy, bắt tay vào viết tiểu thuyết lịch sử Nguyển An Ninh - Dấu ấn để lại. Mỗi chiều, trời cũng mưa thất thường như chiều này, y phóng xe lên nhà ông T, con trai cụ Nguyễn An Ninh tranh thủ đọc các tài liệu và ghi chép. Trời, cái thời đó sao lại cần mẫn đến thế? Đến một lúc nào đó, khi nhìn lại những gì đã viết, có lẽ câu đầu tiên bật ra trong óc các nhà văn vẫn là: "Ủa? Sao cày khỏe thế?". Như trâu cày chứ chẳng đùa. Tháng trước, ngồi ăn sáng với anh Văn Lê, đạo diễn Lê Hoàng. Cầm tập sách mới Mỹ nhân, anh Văn Lê vừa tặng, Lê Hoàng hỏi về nhuận bút. Nghe xong, anh ta bảo: "Có cho tôi gấp mấy tiền đó, chỉ để ngồi chép lại thì tôi cũng xin chào thua". Nghe xót nhưng đúng. Tập tiểu thuyết, viết ròng rã mấy năm trời, chẳng bõ bèn gì khoảng tiền nhuận bút. Ấy vậy, vẫn cứ viết. Không phải nghề. Cái nghiệp đó.

Lúc ăn giỗ, gặp anh Nguyễn Nghị - người làm chủ bút báo Đối Diện lừng danh, năm đó anh chỉ mới 30 xuân xanh. Anh hứa sẽ cho mượn lại bộ tạp chí này. Tạp chí Xưa & nay và y sẽ đem photy. Cả thẩy chừng 120 số. Để hiểu rõ một giai đoạn chính trị xã hội, văn hóa của miền Nam từ thập niên 1960 đến 1975, có thể không đọc cái này, cái kia nhưng không thể không đọc 3 bộ tạp chí này: Đối Diện, Trình bày, Đất Nước. Đã qua rồi cái thời làm báo oanh liệt thuở ấy. Cái thời người làm báo, viết báo đã tạo dựng nên một phong cách làm báo, viết báo kiểu Sài Gòn, chỉ Sài Gòn mới có mà trước đó cả nước không có, sau này chưa có.

Chỉ đưa vài ví dụ nhỏ: Tờ Đối Diện khi ấn hành công khai có giấy phép số 567 BTT - BC - HC, thường xuyên bị thu hồi, Linh mục Chân Tín - chủ nhiệm báo phải "vác chiếu hầu tòa" vì đã cho in nhiều bài không có lợi cho chế độ đương thời. Khi bị cấm xuất bản, họ vẫn tiếp tục ấn hành bằng cách quay ronéo, ngang nhiên ghi: "Tòa soạn CP Box 334 Sillery. P.Q/ Canada. Giấy phép số: Đ.11 HĐBL ngày 27.1.1974. Bổ túc bởi Đ.9 TCC ngày 13.9.1973". Ta hiểu, HĐBL là họ căn cứ vào Điều 11 của Hiệp định Paris, tự do ra báo. Tò mò hỏi thêm, anh Nguyễn Nghị cho biết, lúc ấy các số báo in chui này thực hiện ở Bến Gỗ (Đồng Nai), sau đó bí mật chuyển về Sài Gòn phát hành! Hoặc tạp chí Đất nước dám làm nguyên số báo thông tin về Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc Người từ trần (số báo 14, phát hành tháng 10.1969) v.v... Nghĩ sâu xa hơn, đây là sự tiếp nối phong cách và tinh thần nhà yêu nước Nguyễn An Ninh khi ông làm tờ Tiếng chuông rè thập niên 20 của thế kỷ XX tại Sài Gòn.

 

DSCN0337R

Từ phải: Bà Minh - con gái cụ Nguyễn An Ninh, nhà thơ Lê Minh Quốc, nhà văn Trầm Hương, nhà báo Nguyễn Hạnh- phó TBT tạp chí Xưa & Nay, nhà báo Nguyễn Nghị

 

Chiều qua mưa dữ dội. Như mọi lúc đã đi ăn. Mưa nên ngại. Ngồi nhà lướt web. Đọc tin, xem Cận cảnh đền thờ Hai Bà Trưng bị đốt phá trên TNO buồn ghê gớm. Muốn khóc. Ai đã xem mà không buồn? Hãy tin là thế. Nguyên văn như sau:

“Đền thờ Hai Bà Trưng tọa lạc trên một đồi thông đẹp ở thôn 3 xã Mê Linh, H.Lâm Hà (Lâm Đồng) bị kẻ xấu đốt phá nhưng chưa tìm ra thủ phạm.

Ông Đào Xuân Dũng, Chủ tịch UBND xã Mê Linh (Lâm Hà), cho biết đền thờ Hai Bà Trưng và cổng tam quan được người dân đóng góp xây dựng từ năm 2002. Năm 2010, được nhân dân H.Mê Linh (Hà Nội) tài trợ 1,1 tỉ đồng, xã xây thêm nhà trung tế, nhà khách và hệ thống bậc cấp từ chân núi lên tới đền. Theo ông Nguyễn Đình Trọng,Trưởng ban Văn hóa xã Mê Linh, sáng 31.7 đại diện Hội người cao tuổi của xã vẫn lên đền dâng hương tôn kính Hai Bà Trưng. Nhưng đến sáng 2.8, người dân phát hiện đền bị đốt phá tan hoang.

Có mặt tại hiện trường, PV Thanh Niên Online chứng kiến có 8 trong số 12 cánh cửa vào nhà trung tế bị đốt cháy, một tủ đựng trang phục và một hòm đựng dụng cụ tế lễ; một đôi lục bình, trống khẩu, chiêng, cờ cũng cháy rụi. Một mảng tường lớn và nền nhà của ngôi đền bị bong tróc hoặc cháy đen, rất may lửa chưa bén vào hậu cung nơi có tượng và bàn thờ Hai Bà Trưng.

Cũng theo ông Dũng, do không có người trông coi nên ngôi nhà khách, ghế đá, cặp voi trước đền bị đập phá nhiều tháng trước, cổng tam quan bị vẽ bậy viết bậy... Nay, kẻ xấu lại dám đốt cả đền. Ông Nguyễn Đình Trọng cho biết thêm: “Đền thờ Hai Bà Trưng mang giá trị tâm linh, văn hóa rất lớn đối với những người con Mê Linh (Hà Nội) xa xứ, đang lập nghiệp tại vùng đất Lâm Hà, đã khiến người dân bất bình và bức xúc”.

Viết thêm lời bình gì đây?

Trên đời có những việc cứ chần chừ rồi tắc lưỡi cho qua. Im lặng. Mũ ni che tai. Riết rồi cũng thành kẻ vô cảm. Lạc loài trên chính xứ sở mình. Bàng quan. Vô trách nhiệm. Không quan tâm. Cứ như chuyện của ai đó. Chẳng là của mình. Buồn bởi sự vô vọng ấy đang hình thành dần trong ý thức. Của nhiều người à? Nói nghe phát ghét. Không, của chính y. Một vết dầu loang. Đang loang dần. Loang dần. Lúc ấy, ngoài trời vẫn mưa như trút. Sấm sét ầm ầm.

Chiều nay trời vẫn mưa tầm tã. Sài Gòn thật lạ. Dù mưa bão bùng nhưng lúc vào giường ngủ cũng phải máy lạnh. Phải mở cửa sổ. Đón gió lùa vào. Nửa đêm, sực tỉnh bởi tiếng gà gáy ó o. Xem đồng hồ, 2 giờ sáng. Tiếng gà trong thành phố lúc ấy nghe bình yên dân rơm rạ lạ thường. Có nhiều câu thơ hay về tiếng gà. Nằm trong bóng đêm nghĩ lan man với Huy Cận:

Tuổi thơ gà gáy ran đầu bếp

Trâu dậy trong ràn, em cựa nôi.

Vẫn nhớ Hàn Mặc Tử:

Tiếng gà gáy rụng trăng đầu hạ

Tôi hoảng hồn lên giật sững sờ

Vẫn thích. Thích nhất với Trịnh Công Sơn:

Về trên phố cao nguyên ngồi

Tiếng gà trưa gáy khan bên đồi

Ca khúc sống dai dẳng trong tâm trí, thức dậy trong nỗi nhớ nhiều lần nếu nó có gắn với một kỷ niệm. Khó quên vì tình tự. Nỗi nhớ bởi hoang mang. Kỷ niệm của ngày tháng rong chơi mở đầu phù du thân xác mê hoặc đúng vào thứ Sáu ngày 13 Đức Mẹ về trời. Trưa ấy, nắng xanh biêng biếc như tình tự của một cuộc tình vô nhiễm nên đã nghe vọng lên tiếng gà trưa từ bên kia chập chùng đồi và lô xô mái nhà cổ kính trong một khu biệt thự cũ. Đà Lạt. Gió phất phơ ngoài khung cửa gỗ những tờ lụa trắng mỏng khiến chăn gối kia la đà và loãng một mùi hương lững thững phiêu du khi khởi đầu một sự dâng hiến đến tận cùng địa ngục.

Đêm qua, tiếng gà vẫn gáy. Chỉ dăm ba lần rồi im bặt. Rạng sáng lại nghe. Lần này lại khác. Nghe tiếng gà đuổi theo nhau tạo nên một vùng âm thanh rạo rực lạ thường. Hồi nhỏ đi học thích nhất nhìn cái hình minh họa trong sách giáo khoa ngộ nghĩnh, thân mật. Vẽ một chú gà trống đứng trên chuồng, ngửa cổ gáy từng chuỗi âm thanh tròn loang dần lên cao và phía sau mặt trời tròn nhú dần lên. Tự nhiên nhìn cái hình ấy, cứ nghĩ mỗi ngày chú gà trống đều có nhiệm vụ thổi mặt trời lên… Cũng như y mỗi ngày có nhiệm vụ phải ngồi vào bàn viết.

Để làm gì?

Để thỉnh thoảng tự cười vào mũi mình: “Có buồn cười không?”.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.8.2013


Y có thông minh không?

Hỏi như thế bằng thừa. Khen phò mã tốt áo làm gì. Để khách quan, công bằng, không thiên vị và rất khiêm tốn, y bèn vắt tay lên trán mà rằng: “Rất thông minh”. Nói có sách, mách có chứng. Ngày thứ Sáu tuần rồi, thức dậy đọc tin nhắn: “Sáng mai, 8g anh rảnh không mời anh cà phê”. Ngay lúc đó đã 8g, trong đầu chợt nghĩ, ngày nào, sáng nào cũng cà phê. Vậy lời mời này, chỉ có thể diễn ra lúc này. Bèn trả lời: “Trễ hơn được không em? Bây giờ, anh mới đọc tin nhắn”. Câu trả lời: “Sáng mai mà!” À! Đọc kỹ lại. Thì ra thế. Vậy mà con số 8g30 đã nằm trong đầu.

Sáng nay, thứ Bảy vẫn nhớ đến cuộc hẹn lúc 8g30. Trước lúc đi, nhìn đồng hồ đã gần 8g30 bèn vội vã nhắn: “Anh đang đi”. Câu trả lời: “Em đã đến, ngồi bên trong. Anh cứ thong thả đến vì em có việc phải đi lúc 9g30 rồi ạ”. Lập tức nghĩ, người bạn đã rời khỏi quán và hẹn gặp lại lúc 9g30. Vậy quay xe, thong dong với phở.

Đúng 9g30 bước vào quán cà phê, không thấy ai, y hiên ngang nhắn một cái tin đầy kiêu hãnh của người luôn đúng hẹn. Rất đúng hẹn: “Anh đã có mặt, 9g 30 nè”. Câu trả lời ra sao? Bạn tự đoán vậy.

Rõ ràng, y rất thông minh. Đúng không? Quá đúng!

Vì thế, sáng nay vui.

 

bien-hpoc-bong-1

 

Thêm một tin vui nữa. Báo PNCN số 30 sáng nay đưa tin: “Nhà văn Đoàn Thạch Biền tìm… 100 triệu đồng: Không phải chuyện mất của mà tác giả nổi tiếng của những cuốn sách về lứa tuổi chớm yêu này đang vận động các nhà hảo tâm, bạn bè, đồng nghiệp, gom góp tiền để chuẩn bị chuyến đi trao học bổng cho học sinh nghèo các tỉnh Tây nguyên. Đoàn Thạch Biền cho biết, kiếm được tài trợ chừng nào hay chừng đó, nếu đủ cho cỡ hai ba - tỉnh thì kết hợp đi một lượt. Ông cùng “ông bạn già” Nguyễn Đông Thức dự kiến sẽ đi trao ở mỗi tỉnh khoảng 20 triệu đồng, vị chi năm tỉnh sẽ là 100 triệu đồng, nhưng nếu không kiếm được nhiều thì đành phải chia phần học bổng thành các suất nhỏ hơn. Trước ngày leo lên xe đò lên đường trực chỉ Tây nguyên, hai ông bạn văn đang mong chờ nhiều nhà hảo tâm xuất hiện, để không chỉ giúp học trò nghèo mà còn cả thầy cô giáo khó khăn ở vùng sâu”.

À, vậy chuyến đi này hai lão “cao bồi già” đã không còn cưỡi gió bụi đường xa bằng ngựa già mô tô ngốn xăng như uống nước lã. Chuyến đi trước, hai anh đã chuyển đến tận tay các học sinh nghèo hiếu học ở vùng sâu, vùng xa miền tây Nam bộ gần 300 triệu đồng. Thế mới biết tinh thần “bầu ơi thương lấy bí cùng” luôn trường tồn trong tâm thức người Việt.

Chơi với nhau nên biết chi tiết này, do đã hai lần phải mổ khớp háng nên ông Ngọc trong đá mỗi khi muốn vệ sinh cá nhân không thể “ngồi xổm”. Nói ra, nghe thô nhưng là vậy. Vì vậy, đi về những vùng xa phát học bổng, có lúc cả hai anh phải quay ngược lại vài chục cây số để tìm phòng trọ tiện nghi hơn. Bất kể lúc ấy mưa to hay gió lớn; nắng sớm hay chiều tà... Lại có chi tiết hay, khi hai anh phát học bổng, có nhiều em cầm tờ năm trăm ngàn đồng mới toanh đã lễ phép cám ơn và… trả lui! Ủa? Sao kỳ dzậy? Vì tưởng... tiền giả! Các em cả đời, từ thuở cha sinh mẹ đẻ chưa hề thấy tờ giấy bạc này. Lại có chi tiết hay, ngày nọ trên facebook, ông Vĩnh biệt mùa hè báo tin, đã đặt chân đến rạch… Xẻo Bướm! Chà, cái tên nghe ngồ ngộ mà cũng đáng yêu quá chừng chừng. Thế nào là Xẻo bướm? Phải hỏi anh bạn Ths.BS Mai Bá Tiến Dũng - trưởng khoa Nam học của Bệnh viện Bình Dân chăng? Phải hỏi ông bạn bác sĩ Thắc mắc biết hỏi ai Trần Bồng Sơn đang nhập hộ khẩu tại Chín Suối chăng? Không, cứ hỏi ông Thức đi. Nếu có ai chịu khó ghi lại (giải thích được càng hay) các địa danh quê mình, ắt sẽ là tập sách cực lý thú, sẽ góp phần cho thấy sự phong phú, linh hoạt, biến hóa, sáng tạo, trong sáng của tiếng Việt. Chẳng hạn, vài địa danh ở miền Nam: rạch Tắc Cậu, Củ Tron, Bãi Háp, bàu Ót Giang, quận Phong Nẫm, Cầu Kè,  cửa biển Cái Cát, Cần Vọt, kinh Bò Ót, kinh Bà Bèo, kinh Lắp Vò, rạch Lá Buôn, vàm Trâu Trắng, Xoài Hột, Xoài Mút, vàm rạch Trà Lọt, Xẻo Gừa, rạch Cái Thia, rạch Chợ Đệm, Chắc Cà Đao, cù lao Tân Cù, kinh Bảy Ngàn, Cái Răng, bãi Háp, giồng Chùa Chim, hòn Cổ Cót,  v.v... Chưa hiểu nghĩa, chỉ mới đọc lên đã nghe âm vang quê kiểng, thân thương lắm lắm... Nghe mát cả lỗ tai. Đọc sướng cả miệng.

Vui là biết hai lão “cao bồi già” đã ghi chép khá nhiều lời ăn tiếng nói của bà con Nam bộ mình. Chắc chắn sau này, hai anh sẽ viết những trang du ký hấp dẫn.

Với nhà văn, dù đi với bất kỳ mục đích gì nhưng lúc nào cũng không quên "tác nghiệp". Đi là ghi chép. Đi là quan sát. Đi là chiêm nghiệm. Đi là liên tưởng. Đi là thu thập lời ăn tiếng nói của bà con vùng miền khác. Làm giàu thêm vốn từ. Nhà văn Tô Hoài vốn rất ý thức “tu luyện” chữ nghĩa. Không tin, cứ lật sổ tay ghi chép của ông: “Trong Truyện Kiều có chữ “áy” (Một vùng cỏ áy bóng tà, không  biết nghĩa chữ áy thế nào, mới đọc đã cảm thấy man mác, thấy buồn). Phải đến dịp cuối năm vừa rồi, tôi về Thái Bình, nghe người trong làng nói: “cỏ áy, mạ áy” mới biết tiếng “áy” là của bà con đồng ruộng Quỳnh Côi, quê vợ Thái Bình - khi thất thế, Nguyễn Du đã nhiều năm ở quê vợ”. Lại dịp khác, thay vì nói "mạ nhú" ông học được  của bà con nông dân Bắc bộ một từ khác, ấn tượng hơn, tình cảm hơn: " mạ ngồi". Có thể tìm thấy vô số các ví dụ thú vị nữa. Vừa rồi có đọc thông tin này, liên quan đến ông Dế mèn phiêu lưu ký: “Tính ra nhà văn có đến cả trăm cuốn sổ hồi ký được viết theo từng ngày, từng giờ, có chồng giấy bản thảo cao đến cả sải tay. Một nửa số đó ông giữ trong nhà, còn một nửa ông gửi Cục Lưu trữ quốc gia. “Vậy mà, phải đến 20 cuốn sổ bị nhòe mực. Ðành giữ để làm kỷ niệm. Số sổ ấy nhà thơ Hữu Thỉnh đã đăng ký: Khi nào bán chúng thì gọi cho ông ấy để ông ấy cho vào bảo tàng văn học” - khẽ chép miệng, Tô Hoài tiếc”.

Trở lại chuyến đi của hai cao bồi già. Nói rộng ra là chuyến đi khác cũng tương tự: Đi vì sự chia sẻ “lá lành đùm lá rách”. Tinh thần nhân ái này bao giờ cũng cần ươm mầm trong cộng đồng. Nhất là thời buổi này. Rất cần khi mà sự vô cảm đang dần dà tha hóa con người. Rất cần bởi lúc này, nếu "Lục Vân Tiên thọ nạn giữa rừng", chuyện gì sẽ xẩy ra? Người bạn thơ quá cố La Quốc Tiến trả lời:

Có một lão già mù ăn xin ngân nga các đoạn Lục Vân Tiên

trên những chuyến phà ngang Rạch Miễu

Có một gã thanh niên say rượu ghếch chân lên thành lan can đứng tiểu

Có cô con gái móc bóp lấy chiếc gương soi và tô lại mặt mình

cùng lúc lão già mù bắt đầu ngân nga:

"Trước đèn xem truyện Tây Minh..."

Có đứa bé gái mải mê với chiếc chong chóng giấy màu sặc sỡ

Có một bà già thọt chân gánh bó củi dừa ngồi than thở chuyện củi nặng... đường lầy... gạo đắt

Có gã trung niên vận jean ngồi nhóp nhép kẹo cao su

Có những chị bạn hàng thản nhiên bóc vỏ những trái chuối

nhét vào cổ chú gà tơ đến nỗi trợn trừng

Không có ai

cam đoan là không ai hay tin:

"Lục Vân Tiên đang thọ nạn giữa rừng"

để tỏ chút âu lo cho con người trung nghĩa

Tôi móc gói thuốc ra

tôi hút

điếu thuốc đen tắt ngóm nửa chừng

mẹ nó! Thuốc dỏm

Phà vẫn chạy

máy vẫn nổ

sóng vẫn vỗ

tôi dựa vào ghế ngủ gà ngủ gật

khi giật mình mở mắt

lại nghe:

“Lục Vân Tiên đang thọ nạn giữa rừng”

Rừng ở đâu mà dày thế nhỉ?

trên chuyến phà tôi đi

dường như cũng có một khóm rừng

mà những cái cây sao mà trơ trọi

những cái cây đã phai mất hơi rừng

Phà vẫn chạy khàn giọng

lão già mù vẫn ngân nga

gã thanh niên say rượu vẫn càm ràm điều gì như là oan ức

cô gái vẫn tiếp tục soi gương

như cố khám phá một điều gì đang lẩn trốn trên khuôn mặt

đứa bé gái đã ngủ

chiếc chong chóng vẫn xoay

bà già thọt chân vẫn ngồi than thở

gã trung niên vẫn làu bàu với kẹo cao su

những con gà tơ vẫn ngủ gà ngủ gật

sau khi nuốt xong bữa tiệc chiêu đãi cuối cùng...

Không có ai

cam đoan là không ai hay tin:

"Lục Vân Tiên đang thọ nạn giữa rừng"

Ngày nọ, Hội nhà văn TP.HCM làm tập thơ giấy dó kỷ lục, bán đấu giá thu về tròm trèm 300 triệu đồng, y, bạn thơ Trương Nam Hương cùng anh em trong Hội đồng Thơ sang nộp cho Mặt trận Tổ quốc ở đường Mạc Đĩnh Chi, nhờ chuyển cho các em bị chất độc da cam. Họ hờ hững bảo, cái này, đối tượng này phải đem qua Hội Chữ thập đỏ. Hỏi, vậy chúng tôi nhờ các anh chuyển giúp? Câu trả lời: “Không”. Không là không. Anh em lủi thủi ra về. Nói như nhân vật của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh trong tác phẩm Cho tôi một vé đi tuổi thơ :“Buồn ơi là sầu”.

Thế thì, cái tin trên báo PNCN sáng nay, đọc xong, lòng thấy vui. Vui, bởi y luôn xác tin trên đời, chắc chắn vẫn còn nhiều, rất nhiều người có lòng, có tâm. Lòng ấy, tâm ấy không vì lý do tích thiện. Không vì động cơ tích đức. Chẳng để làm gì. “Để gió cuốn đi”. Nhẹ nhàng. Thanh thản. Vui, vì xác tin ngày sẽ có  thêm nhiều quán cơm Nụ cười, giá chỉ 2 ngàn đồng một suất; sẽ có thêm nhiều nồi cháo loãng mỗi ngày phục vụ miễn phí bệnh nhân ung thư v.v…

Vui và xin chúc hai lão nhà văn “cao bồi già” thuận buồm xuôi gió. Thẳng bước lên đường. Lên đường trao học bổng với số tiền của các nhà hảo tâm gửi đến các em học sinh nghèo hiếu học ở Tây nguyên luôn suôn sẻ. Lên đường bằng tinh thần nghĩa hiệp, khí khái như gã anh hùng Từ Hải lụy tình, mê gái số một trong văn chương nhân loại:

Trông vời trời bể mênh mang

Thanh gươm yên ngựa lên đàng thẳng dong

Còn gì vui nữa không?

 

thoa-vevantai-ban

 

Có chứ. Sáng nay, trên báo Thể thao & văn hóa, đồng nghiệp Trần Hoàng Nhân đưa tin:Tác giả Chị Đẹp: Sách tái bản mà mình không có:Cuốn sách Ve vãn Sài Gòn của tác giả Chị Đẹp - bút danh của blogger Lê Phương Thảo - vừa được NXB Trẻ và Tủ sách Tuổi trẻ tái bản lần thứ nhất. Cuốn sách này viết về Sài Gòn loanh quanh trong các con đường ở trung tâm Q.1, TP.HCM.

Ve vãn Sài Gòn ra mắt vào ngày 22/6 vừa qua và chỉ mới hơn một tháng đã tái bản chứng minh rằng: sách viết về Sài Gòn xưa và nay thu hút người đọc không kém gì sách viết về những địa danh nổi tiếng khác.

Ve vãn Sài Gòn tái bản nhưng tác giả Chị Đẹp “không có cuốn sách nào trong tay”. Lý do blogger Lê Phương Thảo đang ở Mỹ vì chị là Việt kiều định cư ở đây. Tuy sống ở Mỹ, nhưng mỗi năm Lê Phương Thảo về Sài Gòn làm việc trong ngành thiết kế thời trang nhiều tháng ròng. Được biết, do nôn nóng muốn cầm trên tay cuốn sách của mình vừa được tái bản, đầu tháng 9 này Chị Đẹp sẽ bay về Sài Gòn trước dự định”.

Đọc xong tin này, bèn lật Truyện Kiều ra bói. Ứng vào hai câu 545+546:

Gìn vàng giữ ngọc cho hay

Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời

Vậy là vui. Với ba lý do đáng để vui, y khiêm tốn, vâng, xin nói nhỏ rằng, lúc nào y cũng khiêm tốn, rất khiêm tốn nên tự cho phép mình sáng nay được quyền hất cái mặt lên trời, tự nhủ:

Đời, thế mà vui.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 9.8.2013

 

Quyển sách đó nằm chỗ nào? Có trời mà biết. Trước sách ít, còn ngăn nắp, phân loại dễ tìm. Nay vô phương. Bốn bề là sách. Biết tìm đâu? Quyển sách này có in nhiều bài diễn văn nổi tiếng của các nhân vật lừng danh. Trong đó, có Adolf Hitler. Chỉ đọc qua bản dịch nhưng rõ ràng Hitler có lối trình bày vấn đề rất lôi cuốn, thoạt đầu có những điều ta không tin, còn nghi ngờ nhưng dần dà lại bị thuyết phục. Với Hitler, chủ nghĩa phát xít Hitler là một tội ác, bởi đã xiển dương một quan niệm man rợ về chủng tộc: Có chủng tộc “thượng đẳng” và ngược lại. Vớ vẩn. Trên trái đất này mọi dân tộc đều bình đẳng. Các màu da đều bình đẳng. Các sắc tộc nào cũng có Thiện và Ác. “Cái Đẹp và cái Thiện liên kết mọi người. Cái Ác và cái Xấu chia rẻ họ” (L. Tolstoi). Mẫu số chung ấy, giá trị ấy bất biến, hiểu thế, để thấy rằng địa cầu vốn không phân chia biên giới. Từng chủng tộc người phân chia ranh giới địa lý vùng miền và sẵn sàng bảo vệ từng “tấc đất, ngọn rau, ơn chúa” đến hơi thở cuối cùng.

Sáng dậy sớm, ngồi nghĩ vẩn vơ một chút về chuyện đó, bởi trời đang đẹp và cũng do đọc mẩu tin về bộ ảnh đồ họa "The Difference Between Hanoi and Saigon" (Sự khác biệt giữa Hà Nội và Sài Gòn) của Lê Duy Nhất -27 tuổi, sinh viên thiết kế đồ họa. Chắc chắn địa lý vùng miền, văn hóa, sắc tộc… ảnh hưởng rõ rệt đến tính cách con người. Đành rằng, bất kỳ sự so sánh nào cũng khập khiểng nhưng nếu nhìn ở góc độ trào lộng, tếu táo vẫn có thể chấp nhận được. Chấp nhận bởi so sánh để làm rõ hơn nữa khái niệm của sự vật, chấp nhận nó chứ không phải miệt thị, đối kháng, phê phán, dè bĩu.

Thử hỏi, Đông - Tây có khác nhau không?

Ông Yuan Zuzhi (1827-1898) người Trung Quốc, sang châu Âu năm 1883 rút ra vài điều như:

“Ở Trung Quốc, hôn hít là một trò dâm uế; ở phương Tây ôm nhau, hôn vào miệng là một cử chỉ lịch thiệp và tôn trọng nhau.

Ở Trung Quốc, phụ nữ mặc quần áo để bảo vệ thân thể, họ sẽ cảm thấy hết sức hổ thẹn nếu để lộ một phần nào đó của thân thể; ở Viễn tây, phụ nữ để hở vai, hở ngực nhưng không để ai thấy được đồ lót của mình.

Ở Trung Quốc, vai trò của người đàn bà là phục vụ, săn sóc chồng; ở phương Tây, chính người vợ lại ra lệnh, điều khiển, người chồng phải vâng theo. Phụ nữ Trung Quốc cảm thấy bất bình, tủi nhục khi bị ngắm nghía, bình phẩm về nhan sắc. Ở phương Tây, phụ nữ lấy làm thích thú khi được bất cứ ai ngắm nghía, quan sát tỉ mỉ cho đó là một vinh dự.

Ở Trung Quốc, món chính được ăn trước, sau đó mới đến các món canh; ở Viễn Tây, món súp lại được đưa ra trước.

Gọt vỏ trái cây, rau củ, người Trung Quốc đưa lưỡi dao ra phía ngoài; người phương Tây đưa lưỡi dao về phía mình.

Ở Trung Quốc, màu trắng là màu tang tóc, màu đỏ là màu của cưới xin, của việc vui mừng; ở phương Tây màu trắng là màu của cưới xin vui mừng, còn màu đen là màu tang tóc.

Ở Trung Quốc, các gia đình khá giả trích trữ thóc lúa, hàng hóa đầy nhà kho; còn ở phương Tây thì các nhà giàu đua nhau gửi tiền ở ngoài.

Ở Trung Quốc, người ta rửa mặt và tay sau khi ăn; ở Viễn Tây thì rửa rồi mới ăn”.

Cái sự liệt kê này có thể còn dài ngoằng nữa, nhưng thôi. Bàn chuyện "nhà mình" vẫn hay hơn. Gần đây, người ta thường so sánh giữa Sài Gòn và Hà Nội. Đã đọc đâu đó. Nhớ nhớ quên quên. Sau đây, ý kiến của nhiều người, từ nhiều nguồn. Chắc gì đã đúng nhưng không phải là không thú vị. Còn tranh cãi chán. Ngẫm lại có đúng không?

Hà Nội: Đạp xe chở hoa đi bán dạo; Sài Gòn: Hoa bán trong nhà.

Hà Nội: Món ăn đường phố là gánh hàng rong; Sài Gòn: Dùng xe đẩy.

Hà Nội: Ngày Tết hoa đào; Sài Gòn: Hoa mai.

Hà Nội: Mưa kéo dài dầm dề giống tính tình cô gái Hà Nội âm ỉ, dai dẳng; Sài Gòn: Chỉ trong chốc lát, giống tính tình cô gái Sài Gòn đỏng đảnh nhưng mau quên (?)Tongue out.

Hà Nội: Khi ra ngoài phố ăn mặc chỉnh tề; Sài Gòn: Ưa sự thoải mái, tiện lợi.

Hà Nội: Nhiều hồ rộng; Sài Gòn: Nhiều kênh rạch, chỉ có mỗi… hồ Con Rùa (!)Foot in mouth

Hà Nội: Chiếc mũ cối bộ đội thời chiến tranh vẫn còn sử dụng; Sài Gòn: Không hề.

Hà Nội: Sử dụng cách nói nhiều ẩn ý, bóng gió, khéo léo sâu sắc, đằm thắm. Sài Gòn: Nghĩ gì nói nấy, thoáng, thoải mái, nói rồi là rồi.

Hà Nội: Món ăn nào của người Sài Gòn đã "nhập cư"?

Sài Gòn: Ngoài lẫu dê, cơm sườn, bánh mì lề đường, hủ tiếu, bánh mì bò kho… còn có các món ăn của Huế (bún bò, bánh căn, bánh bèo, bánh nậm), Nha Trang (bún cá), Tây Ninh (bánh canh Trảng Bàng), Vũng Tàu (bánh khọt), mì (Quảng Nam)... và tất nhiên cũng không thể thiếu các món đặc trưng của Hà Nội mà người Sài Gòn “kết model” như phở, canh bún, bún đậu mắm tôm, miến gà…

Hà Nội: Đi thong thả nhưng thỉnh thoảng vượt đèn đỏ. Sài Gòn: Đi hối hả tất bật nhưng luôn giảm tốc độ khi tới ngã tư.

Sài Gòn ít có phở quát, cháo chửi hơn Hà Nội. Tongue out

Người ta thích vào Sài Gòn sinh sống nhiều hơn ra Hà Nội

Hà Nội: Nhiều đánh giày; Sài Gòn: Nhiều bán vé số.

Hà Nội: Chuộng hình thức; Sài Gòn: Chú trọng nội dung, hiệu quả.

Hà Nội: Đi hai bước gặp một quán trà đá vỉa hè; Sài Gòn: Đi hai bước có một quán café.

Hà Nội: Buổi sáng, một cốc trà nóng vỉa hè; Sài Gòn: Một ly cafe đen nóng.

Hà Nội: "Tiệc tùng" ở hàng quán hạn chế, buổi chiều thường chỉ "lai rai" ở nhà. Sài Gòn: Bất kể lúc nào có thể, “chơi xả láng sáng về sớm”.Undecided

Hà nội: Có… cháo lòng tiết canh Laughing;  Sài Gòn: Có… KFC Laughing!

Hà Nội: Cơm bụi có bát nước rau dầm sấu không lấy tiền; Sài Gòn: Tô canh khổ qua hai ngàn rưởi.

Sài Gòn: Bạn dửng dưng khi thấy cô receptionist cúi gập người chào bạn; Hà Nội: Bạn xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó nói lời cảm ơn.

Hà Nội: Các bác xe ôm có thể mặc đồ vest đứng chờ khách bên Bờ Hồ; Sài Gòn: Có thể mặc quần short, dép lê đàng hoàng bước vào Rex.

Hà Nội: Cốc trà đá của mấy bà hàng nước giá năm trăm đồng; Sài Gòn: Cốc trà đá đó có thể pha làm bốn ly nhưng miễn phí

Hai con đường đôi vắng vẻ với tán lá xà cừ rậm rạp đầy tiếng ve trong những trưa hè - giống nhau đến lạ: Đường Hoàng Diệu (Hà Nội) - Tôn Đức Thắng (Sài Gòn).

Khi hai cô gái cùng thích một món đồ giống hệt nhau, con gái Hà Nội: "Tớ với ấy cùng mua nó nhé?"; con gái Sài Gòn: "Ấy mua rồi à? Vậy tớ sẽ chọn thứ khác".

Khi nói với một cô gái: "Thế em có yêu anh không?", con gái Hà Nội: "Nếu nói không thì sao?"; con gái Sài Gòn: "Tại sao lại không nhỉ!"

Khi vừa thanh toán xong tiền cho cave, cave Hà Nội: "Cho em xin thêm 10 nghìn để còn đi xe ôm về?; cave Sài Gòn: "Em bớt cho anh 10 ngàn, lần sau nhớ kêu em nha..."

Hà Nội: "Dạ vâng!"; Sài Gòn: Đã "Dạ" thì khỏi cần "Vâng".

Hà Nội: Sở hữu rất nhiều tiền là giàu có; Sài Gòn: Giàu có là tiêu pha rất nhiều tiền.

Hà Nội : Cắt ngang trái chanh; Sài Gòn : Cắt dọc hai bên, bỏ phần giữa.

Sài Gòn: Tô hủ tíu mì được bưng ra với tô được đặt trên chiếc đĩa; Hà Nội: Bát phở gà được khuyến mại với ngón tay cái của con bé bưng bê vừa nhúng vào đó.

Cái sự liệt kê này có thể còn dài ngoằng nữa, nhưng thôi. Chiều nay mưa. Lại mưa. Trời đất thoáng mát. Ngắm mưa không? Hỏi chỉ để mà hỏi. Đã từ chối đi Đà Lạt với Fahasa nhân khai trương nhà sách ở đó. Xa quá. Nghĩ ngồi xe mất hút một ngày mà ngại. Ngó lại trên bàn, tập bản thảo thơ Dự thi chủ đề về nông thôn mới đang nằm chình ình. Tranh thủ đọc thôi. Sắp đến hẹn lại lên rồi. Chưa biết thù lao ban giám khảo bao nhiêu nhưng nhìn bản thảo đã ớn. Dày cộm. Chữ chi chít. Không có ai để rủ ngắm mưa thì đọc thơ vậy. Đã cuối tuần.

Sáng mai làm gì?

 

L.M.Q


Tái bút: Tình cờ vào facebook của Trần Hoàng Nhân thấy chữ viết của ai bay bướm quá, xinh tươi quá, thơ mộng quá nên bèn "tịch thu" luôn cái hình này .Cool


tran-hoang-nhan

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 8.8.2013

 

tap-chi-unesco

Tranh khắc gỗ Nga thế kỷ XVIII minh họa cho một bộ truyện tranh dân gian. UNESCO chọn làm bìa tạp chí Thông tin Unesco số tháng 4.1987, chủ đề Những trang du ký

 

Lại nói về những chuyến đi. “Nhưng chỉ những du khách thực sự mới là những người ra đi / để ra đi”. Câu thơ của Baudelaire. Ám ảnh. Đã đọc. Khó quên. Tiếc cho nhiều người đã đi đến chân trời góc biển, lúc về, không ghi lại gì. Bởi cớ sự làm sao? Bởi không ý thức rằng, đi để mà đi. Vậy thôi. Đi không là hành hương, khám phá, ngoại giao, buôn bán, công tác, thám hiểm… Đi để mà đi. Chơi cũng thế. Chơi để mà chơi. Yêu cũng thế. Yêu để mà yêu. Ngoài ra, không một động cơ gì khác. Chơi vậy, mới tận hưởng tột cùng của chơi. Đi vậy, mới chìm đắm vô hạn của đi. Yêu vậy, mới chạm đến điệp điệp trùng trùng lúc cảm giác bủa vây vội vã len qua và chậm rãi ngấm sâu, lặn sâu vào làn da thớ thịt...

Đi để mà đi. Có như thế, may ra lúc về, có thể viết được điều gì.

Bọn văn nghệ sĩ ầm ĩ thật, chuyến đi của họ, dẫu chỉ giang hồ vặt, “nghe tiếng cơm sôi đã nhớ nhà” (Phạm Hữu Quang), vậy mà, sau rất nhiều thời gian sau, thiên hạ vẫn nhớ đến. Bởi cớ sự làm sao? Bởi họ viết lại những gì họ đã cảm từ chuyến đi đó. Nguyễn Tuân viết thật hay trong bút ký Một chuyến đi, lúc sang Hong Kong đóng phim Cánh đồng ma, đọc đã lâu mà vẫn còn nhớ một chi tiết, vào thập niên 1940 tại xứ sở đó, khi vào toilet đã phải đóng tiền. Đọc thấy ngạc nhiên quá, nhiều người ngạc nhiên bởi lúc ấy ở ta chưa có lệ ấy. Chi tiết trong ghi chép một chuyến đi, quan trọng lắm.

Ngày trước, họa sĩ Hoàng Lập Ngôn (1910 - 2006)  đọc cho y chép vài bài thơ. Thời tiền chiến, ông Ngôn tự thiết kế chiếc xe ngựa, đặt tên “Nhà lăn Mê Ly” để làm chuyến viễn du vào Nam. Từ Hà Nội, “Nhà lăn Mê Ly” chỉ vào đến Huế, rồi bỏ cuộc vì tình hình chiến sự đang xẩy ra vào năm 1944. Chuyến đi này nổi tiếng vì có nhiều thơ của thi sĩ thời danh viết tặng. Nếu không có các vần thơ này, nay hậu thế đã quên chuyến đi của họa sĩ Hoàng Lập Ngôn. Những bài thơ này, nay công bố cho ai quan tâm. Một chút tư liệu văn học.

Nguyễn Bính viết:

Đây chiếc xe lăn của bốn trời

Trăng vàng chan chứa gió mê tơi

Hôm nay xe lại lên đường nhỉ?

Hồn nhớ mơ về nhé bạn ơi.

Nhà thơ Vũ Đình Liên:

Lững thững đường quê vó ngựa lành

Say màu cỏ lục ánh trời xanh

Bút hoa màu nhiệm chờ linh ứng

Mỗi nét đan thanh một nét tình.

Nhà thơ Đỗ Huy Nhiệm:

Anh thắng song cương ngựa

Ngày hôm nay ra đi

Đi trên đường ngàn dặm

Sống cuộc đời mê ly

Bây giờ mới đi học

Tuy muộn mà sướng thay

Khá to là cuốn sách

Của sông núi cỏ cây

Lòng tôi vương vó ngựa

Theo anh muôn dặm dài

Gió giang hồ đã vậy

Hỏi ai không u hoài?

Nhà thơ Đồ Phồn:

Cơ đồ gửi lỏng đôi cương ngựa

Tạo hóa thu tròn một góc xe

Một người vô danh:

Một ngựa ba người dăm bức họa

Muôn rừng ngàn núi chút tình mơ

Trước đây, gần hai mươi năm trước nhà văn Hòa vang, Nguyễn Lương Ngọc cũng làm chuyến đi bộ từ Nam chí Bắc, chỉ đi đến Huế. Rồi bỏ cuộc. Nay không ai nhớ, bởi chuyến đi ấy không để lại những tác phẩm có thể giúp công chúng nhớ lại việc làm của họ. Trên đời nhiều người đi du lịch. Rồi cuối cùng cũng chẳng viết được gì. Kể ra cũng tiếc. Chuyến đi của nhóm bạn thơ Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính, Tô Hoài chỉ từ Hà Nội xuống Bắc Giang thăm đồng nghiệp Bàng Bá Lân, có là gì so vói chuyến đi của nhiều người? Vậy mà ta vẫn nhớ. Nhớ bởi có thơ. Thơ lại hay, có chết không chứ?

Tô Hoài, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương

Còi thét vào ga Phủ Lạng Thương.

Sở tại bàng quan chầu xuống xóm,

Thi nhân bá ngọ chuyến lên đường.

Dòng trong dòng đục thêm ngao ngán,

Chùm chín chùm xanh uổng vấn vương.

Nằm muỗi qua đêm chờ sáng dậy:

Còi xe Phong hỏa xé màn sương!

Một thi sĩ Việt Nam đã "ra đi" như lời kêu gọi từ câu thơ của Baudelaire chỉ có thể Tản Đà. Một ông thần ngông, một trích tiên, một “dân chơi” thứ thiệt, còn lâu lũ hậu thế mới có thể xách dép chạy theo kịp:

Chơi cho biết mặt sơn hà

Cho sơn hà biết ai là mặt chơi

Ghê gớm chưa? Y cúi đầu bái phục tiên sinh. Tản Đà tiên sinh đã “làm sang” cho Phú Yên bởi câu thơ tài tình: “Đa tình con mắt Phú Yên”. Đừng phân tích đúng, sai theo lý trí. Thơ không cần lý trí chen vào ngang xương. Rách việc. Nếu thế, làm sao có thể cảm được câu thơ trừu tượng đầy sắc màu hội họa của Xuân Thu Nhã Tập Nguyễn Xuân Sanh: “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”? Câu thơ “Đa tình con mắt Phú Yên” thế nào? Cứ cảm nhận sẽ thấy trong cơn say bất tận “trời say mặt cũng đỏ gay ai cười?” của Tản Đà đã có cái nhìn phóng khoáng, ngẫu hứng mà cũng... chính xác đến từng milimet. Thì cứ cho là thế, bởi người dân Phú Yên chấp nhận. Vậy là đủ.

Viết đi. Đi về là viết.

Ngày nọ, thời thỉnh thoảng còn gặp ông nghị Dương Trung Quốc ở nhà hàng Lotus với anh em tạp chí Xưa & Nay, hỏi: “Anh đi nhiều, nghe nhiều, biết nhiều mà các chuyến đi của anh thường chung với nguyên thủ quốc gia. Sao anh không viết?”. Câu trả lời thế nào? Im lặng giây lát. Một tiếng thở dài. Dài tưởng chừng dài bằng từ sân ga Hàng Cỏ đến sân ga Sài Gòn: “Mình vẫn biết, nhưng rồi lúc về công việc này kéo theo công việc nọ. Ngốn hết thời gian. Lúc có thời gian, cảm hứng đã nhạt. Khó viết”.

Khổ thế. Nhiều người cũng vậy.

Nhà văn Thụy Điển Jan Myrdal, sinh năm 1927 từng thực hiện chuyến đi lạ lùng là dẫm lại vết chân của nhà du hành thời Trung cổ Marco Polo đã đi qua, năm 1977 trên giường bệnh, ông viết: “Du hành không chỉ là đi xem những cái mới, mà còn là từ biệt. Không chỉ có mở cửa mà còn là khép cửa lại sau ta: không bao giờ trở lại nữa. Tuy nhiên nơi ta giã từ để không bao giờ trở lại nữa vẫn hiện ra mỗi khi ta nhắm mắt. Ban đêm không có thành phố nào thấy rõ bằng thành phố mà ta đã từ giã để không bao giờ trở lại” (bản dịch của tạp chí Unesco số tháng 4. 1987).

Đọc có xao xuyến không? Có à? Tại sao không viết đi?

Nhật ký hôm nay dành cho một người vừa du hí ở Mỹ về. Và nàng nữa, cũng vậy. Sắp về. Viết vài dòng này như một sự thúc giục, chờ đợi những trang viết mới. À, cái tựa “Ăn đậu bằng đũa” nghe gợi và cảm lắm đấy nàng ạ. Viết đi. Cố lên cưng.

Sáng nay vẫn thế. Vẫn phở mỗi ngày. Ngày từng ngày như thế. Công việc như thế. Có chán không? Không bao giờ.

Chiều có cuộc hẹn với tờ Làng Cười vừa thay da đổi thịt. Làm mới lại. Thời này, cần nhiều tờ báo cười hơn nữa. Để thấy đời vui.

Đời, thế mà vui.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 7.8.2013

 

Trong hồi ký, nữ sĩ Mộng Tuyết có kể lại những ngày Nguyễn Bính lang thang giang hồ đến Hà Tiên vào mùa hạ năm 1944. Ngày đó, gia đình Đông Hồ có thú vui tao nhã là sau khi cơm nước xong, cả nhà quây quần quần nghe cô cháu đọc truyện Tam Quốc Chí bản dịch Phan Kế Bính. “Nguyễn Bính cũng vào ngồi nghe. Có khi Bính vào trễ, cửa đã cài then thì Bính ngồi ngoài hiên cho tới khuya mới về mà không dám gọi cửa. Bính nói: “Ngồi trong đêm sương khuya, nghe trộm tiếng người ngọc đọc sách cách một lần cửa đóng kín cũng có một thú vị riêng”.

Trên đời này, có nhiều thú vị riêng như thế. Chỉ có điều, ta có thiện duyên để gặp hay không?

 

huyhh-thuy-kieuR

 

Đêm qua, y có thiện duyên. Rằng, ngoài trời mưa tầm tả, đang thèm ăn một chút gì, nhưng lười và ngại. Gió rú hiên ngoài. Mưa rơi nặng hạt. Bao nhiêu hào hứng của chàng tráng sĩ những muốn phóng lên lưng ngựa xông pha nơi tửu quán bỗng lịm dần rồi tắt ngúm. Bèn xuống nhà, lục cơm nguội. Sực nhớ đã đọc ở đâu đó, ăn cơm nguội với ba khía là ngon nhất trần đời. Thú thật, đã ngoài ngũ thập nhưng y chưa hề ăn ba khía bao giờ. Hôm trước em gái H.T.Kiều nhắn tin: “Anh, anh Thức, anh Biền thích mắm cá linh hay ba khía? Em gửi lên”. Còn có câu hỏi nào đáng yêu, cảm động đến thế không? Bèn trả lời chắc nịch: “Ba khía”.

Hôm nhận ba khía, mẹ y không biết món gì. Hầu như người miền Trung không biết nhiều đến ba khía. Hôm lai rai với anh em, y quả quyết trên toàn cõi nước Việt Nam thống nhất thì ở đèo Lăng Cô có nhiều loại mắm hơn cả, bởi nơi ấy vừa có biển, sông, vùng nước lợ. Ấy vậy, đạo diễn Mỹ Hà vẫn quả quyết rằng phải là xứ Châu Đốc. Chẳng rõ thế nào? Người miền Trung thường khoái khẩu với mắm cái. Mắm nguyên cả con cá cơm nhỏ bằng lóng tay, khi ăn có thể quên nhiều thứ nhưng phải nhớ xắt, bằm nhỏ thêm khóm thơm, trộn đều thêm ớt khô, chanh ớt, tỏi... kèm thêm rau sống; nếu "chơi sang" có thêm ít thịt heo ba rọi nữa là ngon.

Quả quyết ngon là trật lất.

Tại sao?

Phải nói rất ngon.

Ngon đến độ y dám quả quyết rằng đã có nhiều nam thanh nữ tú kể cả các bà cụ Việt kiều đang sống xa xứ vào một buổi chiều thu hiu hiu gió, nhìn mây trời man mác lòng chợt nhớ đến hương vị quê nhà, nhớ cồn cào ruột gan bèn thuê taxi ra sân bay, bỏ tiền mua vé quy cố hương ngay tắp lự. Về đến quê nhà, chỉ cần ăn món mắm là hả hê, sung sướng, mãn nguyện rồi ra sân bay quay lại xứ người. Nghĩa là chuyến đi ấy, chỉ nhằm thỏa mãn cơn thèm vị mắm.

Ngày còn nhỏ, y thấy trong nhà có nhiều hủ mắm cá cơm, để dành ăn dần. Tục ngữ miền Trung có câu: “Ăn mắm  mút dòi”. Cần kiệm là thế. Khi làm mắm, do “hở gió”, từ mắm có sinh ra dòi. Những con dòi nhỏ trắng, quậy líu nhíu, bơi lúc nhúc. Cái gì mà trợn mắt lên vậy? Chẳng sao, khi múc ra chén, ta lấy muỗng vớt ra là xong. Nếu thế tiếc quá, phải mút trước, mút cho bằng hết cái chất mắm đang đẫm ướt rồi mới bỏ dòi đi. Ai chê hà tiện ư? Bèn cười mà rằng: “Dòi mẹ thì ngon, dòi con thì béo”. Mà riêng gì mắm. Thời buổi chiến tranh loạn lạc thuở ấy, ngoài mắm còn có cả nước mắm và gạo chất đầy nhà. Chưa hết, dù sống trong đô thị nhưng người dân miền Trung còn làm thêm căn hầm lộ thiên. Hầm mọc lên ngay trong nhà nhằm tránh pháo kích, đạn lạc bom rơi... Hầm làm bằng gỗ kiên cố. Ngoài vách hầm,  trên hầm chất đầy các bao cát. Loại bao cát màu xanh rêu của Mỹ, bằng vải, chứa được chừng khoảng 5 ký. Bao bền chắc lắm. Hầm làm rộng, có đèn sáng, khi nghe tiếng pháo kích là cả nhà kéo nhau vào hầm. "Đại bác đêm đêm, ru da thịt vàng. Đại bác nghe quen, như câu dạo buồn. Trẻ con chưa lớn, để thấy quê hương" (T.C.S). Lúc ấy, y luôn nghe bà ngoại thì thầm đọc kinh “Nam mô a di đà Phật”. Nhớ lại, thấy thương bà quá. Thương những người phụ nữ Việt Nam  sống có tín ngưỡng, luôn làm điều thiện, rằm lên chùa dâng hương cúng Phật, gặp khổ nạn luôn nguyện cầu Phật.

Hình ảnh ấy đậm nhạt trong ký ức suốt đời.

Ngày mới ra trường, y ở khu nhà bình dân trong hẻm Nhà thờ Ba Chuông. Phòng trọ chật. Chỉ đủ kê giường chiếc. Mùa nắng nằm ngửa nhìn thấy trăng sao. Mùa mưa khi ngủ phải trùm thêm mảnh ni lon! Nhà có bà cụ đã gần 90 mươi xuân, phúc hậu, hiền lành. Cụ bán hàng vặt trước nhà vừa trông giữ cháu. Lúc vắng khách, thỉnh thoảng bà cụ đọc kinh thầm thầm trong miệng. Ngày ấy, y còn trẻ ham chơi, có những lúc về khuya, không dám gọi cửa. Dần dà y biết, sáng nào cũng như sáng nào, đúng 4g30 phút sáng bà cụ đều thức dậy đi nhà thờ. Cứ canh giờ đó, quay về nhà là chắc ăn. Nhìn các cụ già xúng xính áo dài, í ới gọi nhau đi lễ lúc rạng sáng, trong lòng cảm thấy bình yên lạ thường.

Hình ảnh ấy đậm nhạt trong ký ức suốt đời.

Trở lại với ba khía. Đêm qua là bữa cơm đầu tiên ăn với ba khía. Sực nhớ câu ca dao Nam bộ:

Đừng lo cưới vợ miệt đồng

Ba khía cơm nguội ăn ròng cả năm

Thấy ăn ba khía ngon lành quá, mẹ y ngạc nhiên hỏi: “Ba khía là con gì?”. Làm sao có thể trả lời? May quá trong nhà có quyển Từ điển từ ngữ Nam bộ do Huỳnh Công Tín biên soạn, thế là y vừa nhai ba khía vừa lật từ điển đến trang 98 vừa nhíu mắt vừa đọc vừa nhìn gương mặt của mẹ đang chăm chú lắng nghe: “Ba khía: Một loại còng (họ cua) có hai càng to màu đỏ, sống ở vùng nước mặn, được người dân ngâm trong nước muối để làm thức ăn như một loại mắm”.

Cám ơn em H.T. Kiều. Mắm cá linh và ba khía muôn năm. Đã thế, có người anh lại hẹn rằng, ngày X giờ Y tuần này sẽ đãi...  buffet mắm!

Cám ơn người gửi cá linh

Ăn mắm Nam bộ chút tình còn theo

Thời gian gió cuốn cái vèo

Mùi hương của mắm còn theo suốt đời

Cám ơn thơ, cám ơn người

Tình bạn còn mãi dưới trời mây bay...

Vui ơi là Đời!

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 6.8.2013

 

Tập tùy bút ngẫu hứng phiêu bồng lan man bay bổng VE VÃN SÀI GÒN  của Chị Đẹp đã tái bản và sáng nay chính thức phát hành. Ngay trang đầu tiên, có thêm dòng chữ "Tái bản lần thứ nhất". Vẫn mẫu bìa in lần đầu tiên. Sách ra mắt ngày thứ Bảy 22.6.2013, nay đã tái bản. Chứng tỏ bạn đọc quan tâm đến Ve vãn Sài Gòn.

Đó là một tin vui.

Ve-van-SaigonRR

Bản in Ve vãn Sài Gòn tái bản lần thứ nhất


Vui bởi tìm niềm vui ngày càng khó. Thuở nhỏ, niềm vui đến dễ dàng. Cứ nhìn các đứa trẻ đang nô đùa, ta thấy chúng rất dễ cười. Tiếng cười trong vắt. Tâm hồn trong veo. Càng có tuổi, niềm vui càng hiếm hoi. Những cuộc nhậu đã khác trước. Không còn hào phóng nâng ly. Uống cạn sông dài. Uống mòn bóng đêm. Cao hứng ném ly tan tành xuống chín tầng địa ngục. Hào sảng ném ảo tưởng lên tận mây xanh.  Tiếng cười rổn rảng. Nay đã khác. Đã không thể bù khú từ ngày dài đến mút đêm sâu. Đã chán thì về. Phải về. Online. Đọc. Viết. Vui nhiều hơn chứ?

Những câu chuyện bên bàn nhậu giết thời gian đã chán. Đã ngán. “Bạn bè ngồi quanh tuốt sáng giáo gươm” (T.C.S). Có dịp là sẵn sàng. Không ghê tay. Dù trước đó vẫn cười nói hân hoan. Cụng ly hoan hỉ. Cuộc vui diễn ra e dè, cảnh giác khiến khó có thể vui. Cảm xúc bị ám sát từng giây phút. Chỉ mong thời gian qua vội. Phải về. Trên đường về có thói quen tạt vào quán nào đó. Lót dạ. Đi nhậu cũng mệt. Mệt nhất chẳng biết ăn món gì. Riết đâm ra sợ cách chế biến của các nhà hàng. Ai dám quả quyết không có chất này chất nọ? Thỉnh thoảng nghe người thốt lên não nùng: “Thời buổi này ra quán chẳng biết ăn gì”. Đúng thật, có những trưa, trong túi có tiền nhưng chẳng thể tìm ra quán ăn nào ưng ý. Cuối cùng, về nhà nấu tô mì cho qua bữa. Chẳng biết ăn gì. Vì thế, có người bạn của y đã tự trồng rau sạch, tự tăng gia sản xuất. Vậy an toàn quá còn gì? Quá an toàn nhưng lại thăng thiên bởi tai nạn giao thông. Thế đấy. Chẳng thể biết trước điều gì. “Từng ngày đảo điên, giết chết linh hồn” (T.C.S). Đừng ngạc nhiên điều gì. Cứ thế,"đời sống trôi hoài không nghỉ ngơi, đời sống kéo dài cõi trần ai..." (P.D). Hết một đời.

Trước đây, một hãng bia nọ có câu slogan cực nhảm nhí: “Xong việc rồi, bia thôi”. Giờ vào quán nhậu, đã thấy có khá nhiều loại bia mới được tiếp thị. Các em đẹp như mơ, xinh như mộng. Ngon như kén, béo như nhộng. Cầm lòng không đặng. Uống thử ủng hộ. Bẵng một thời gian sau, vào quán, không thấy loại bia đó nữa. Đã mất hút con mẹ hàng lươn. Lần nọ ăn lẫu dê ở quán nhậu bình dân ở L.V.S. Thấy la liệt các hủ rượu khác nhau. Rượu thuốc. Ngâm đủ thứ hằm bà lằn. Tạp pín lù. Giá tiền cũng khác nhau. Tưởng tiền nào của nấy. Nhầm. Lúc khuya lắc khuya lơ, một chiếc xe ba gác đậu cái xịch trước quán, gã trung niên xách vào mấy can rượu hai mươi lít, trông bẩn thỉu, lần lượt đổ đầy các hủ rượu. Hủ nào cũng như hủ nào.

Thì ra thế.

Đi nhậu mệt, đi đám cưới cũng mệt. Mệt giờ cao su. Mệt ngồi cạnh người không quen. Phải nói, phải nghe những câu xã giao lằng nhằng. Lằng nhằng như những cú điện thoại mở đầu bằng câu “dạo này anh/ em khỏe không?”. Khỏe thì đã sao? Không khỏe thì có giúp được gì? Mệt ngồi cạnh người lịch sự quá đáng, thọc đũa gắp cho người này người kia. Tởm thật. Mệt không biết phải ăn món gì. Cũng chừng đó món. Tiệc cưới nào cũng những món đó. Mệt nhất ngồi trong phòng kín mà âm thanh lại quá cỡ thợ mộc. Điếc cả tai. Ù cả óc. Chẳng thể chuyện trò gì nổi. Cứ như tra tấn. Thế mà phải đi. Bạn bè với nhau cũng vậy. Phải đi. Bạn từ thời cởi truồng tắm mưa đã xa lâu lắm rồi, không còn nhớ tên quên cả mặt nhưng lẽ nào từ chối bởi đã gắn bó một thời trai trẻ. Ngồi với nhau, chẳng biết nói gì. Mỗi người đã một đời sống khác. Mối quan tâm khác. Câu chuyện quanh bàn nhậu đông người, nói cười rôm rả mà chẳng một nội dung gì. Cái sự vui vẻ tình cảm trong đám đông của cuộc nhậu chẳng nói lên một điều gì. Chẳng đáng tin cậy.

Chiều nay lại mưa. Rồi nắng. Đang vui nên lục tập thơ cũ, đọc lại một bài thơ của Bùi Giáng. Đọc bởi trung niên thi sĩ dân Quảng Nam nhưng tính cách lại rất Sài Gòn.

Nắng Sàigòn nắng Sàigòn

Nắng tuôn Chợ Lớn mắt tròn chị em

Mưa tuôn chợ nhỏ môi mềm

Giọt gieo đủng đỉnh đầu thềm cuối sân

Nắng mưa phố chợ về gần

Tóc mây nón úp mộng tần ngần xoay

Nắng vàng rộng ngực gầy vai

Nở nang vóc liễu sương cài hình dong

Chân mây réo rắt đèo bòng

O bồng gió giục ngược dòng nắng tuôn

Tập tùy bút ngẫu hứng phiêu bồng lan man bay bổng VE VÃN SÀI GÒN của Chị Đẹp đã tái bản và sáng nay chính thức phát hành. Lại nhận comment Nhật ký ngày 5.8.3013 của em Quynhphuong: "Học sinh cấp 3 - tụi cháu đọc cuốn sách này được chưa chú? Sáng cháu tìm nhà sách nhỏ ở đây không thấy, chiều nay cháu mới nhờ người thân Sài Gòn mua gửi về giúp 5 cuốn - luôn tiện tặng cho mấy bạn của cháu".

Đó là tin vui.

 

tai-ban-lan-1

 

L.M.Q


Đọc thêm:

Cảm nhận của Lê Minh Quốc về VE VÃN SÀI GÒN:

LÊ MINH QUỐC: NHẬT KÝ 19.6.2013

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 5.8.2013

 

Một ngày.

Lại một ngày đầu tuần. Không có gì mới. Đến một lúc nào đó, cảm giác về thời gian sẽ mất đi. Chẳng náo nức đã cuối tuần hay đang thứ bảy. Thời  gian đó, việc làm đó. Bất kể ngày thứ mấy trong tuần. Đường phố đó. Cửa hàng đó. Chỗ ngồi đó. Gương mặt đó. Tất cả lướt qua. Rõ nét. Mờ nhạt. Công việc đó. Cảm hứng đó. Kim đồng hồ nhích dần. Từng giờ. Nắng xuống. Chiều lên. Đêm đang tới. Quyển sách trên tay. Thả qua một bên gối. Mắt nhắm. Giấc mơ không hình tượng rõ rệt, lúc có lúc không, nhớ nhớ quên quên. Bừng con mắt dậy. Công việc đó. Ly cà phê đó. Bàn phím đó. Những con chữ ùa trên màn mình như vãi thóc ngoài cánh đồng. Hạt lép. Hạt mẩy. Kiếm sống bằng nghề viết. Chẳng thể có đồng tiền nào khác công việc đổi chữ. Nghề lương thiện. Đủ sống. Vậy đã may. Còn khối người phải bán sức lao động bằng cơ bắp, mồ hôi, cả máu để kiếm miếng ăn mỗi ngày. Còn khối người phải bán cả tư cách để kiếm chút danh bèo bọt mỗi ngày...

Trước kia cứ nghĩ, một ngày không đọc báo chắc chắn sẽ không thể sống nổi. Sẽ lạc hậu thời cuộc. Sẽ như người rừng xuống phố. Ngây thơ thật. Gần đây, hầu như đã bỏ hẳn thói quen đó. Nếu có cũng chỉ lướt vài thông tin trên mạng. Là đủ. Đã ngấy. Không phải bận tâm gì nhiều. Đã có thể tập trung làm việc. Lúc ấy, việc đầu tiên là cắt internet. Trở về riêng mình. Một mình một cõi. Nếu không có quyết liệt ấy, sẽ đọc lan man, cái này rủ rê cái kia đến bất tận thời gian với vô số thông tin thượng vàn hạ cám. Chẳng ích gì. Những thông tin u ám quá dù muốn dù không, lâu ngày, dần dà cũng khiến nhìn cuộc đời bằng con mắt  khác. Cái nhìn chỉ muốn buông xuôi. Những tị hiềm tham ô. Những đấu đá tham nhũng. Tanh những máu. Những đảo chính cung đình tanh những máu. Nghe phát mệt. Ngồi nghe bàn luận, tranh luận. Muốn ói. Giữ sự yên lành trong tâm hồn  không dễ. Nhất là thời buổi này. Những giá trị đã xáo trộn. Ma ma phật phật. Người người ngợm ngợm.

Cái quay búng sẵn trên trời

Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm

(Cung oán ngâm khúc)

Sáng vào cơ quan. Nhận được quà từ một vùng quê Quảng Nam, chưa biết mặt, gửi tặng tập sách Người ăn chay (NXB Trẻ) của nhà văn Hàn Quốc Han Kang, Hoàng Hải Vân dịch. Trang đầu tiên là nét chữ học trò, “Chúc chú Q sinh nhật thật vui. Lúc nào cũng tìm được niềm vui và tiếng cười trong cuộc sống:

Khi vui chẳng để vui lâu

Khi buồn cũng đủ nỗi buồn qua mau”


nguoi-an-chay


Thói quen “biên tập” trỗi dậy, đọc ra rằng:

Khi vui, chẳng đủ vui lâu

Khi buồn, buồn lại qua mau nỗi buồn

Câu kế tiếp: “Tặng sách cho một người am hiểu về văn học và sách như chú quả là không dễ. Nhưng cháu hy vọng chú sẽ thích cuốn sách này”. Cảm động câu này nên ở cơ quan tranh thủ đọc luôn. Ai đã đọc tập truyện này chưa? Kể tóm tắt: Có một người đàn bà tên là Yeong-hye sau một giấc mơ, thấy máu nên không thể ăn thịt được nữa. Dù chồng và cả gia đình cô cố ép nhưng không thế. Ông bố bực lắm, tát hai cái vào mặt cô. Anh chồng kể tiếp: “Ông gạt cả tay con gái, ấn miếng thịt vào mồm vợ tôi. Cô ấy mím chặt môi, miệng phát ra tiếng rên. Có vẻ như cô ấy muốn nói gì đó nhưng sợ mở mồm ra thì bị miếng thịt tống vào nên không thể nói được… Ông bố vợ cố ấn miếng thịt vào mồm con gái đang vật vã khổ sở. Ông  bành miệng bằng ngón tay nhưng không thể làm gì với hàm răng nghiến chặt”.

Mọi người chạy đến can ngăn, cô ta thoát được sự hung tợn của ông bố. Định quay ra cửa bỏ chạy, nhưng cô tiện tay cầm con dao gọt hoa quả, cứa vào động mạch. “Máu từ tay Yeong-hye phun ra như vòi nước”. Lập tức, cô được đưa vào bệnh viện. Tất nhiên, anh chồng phải là người trực chăm sóc vợ. Một lần, do quá mệt anh ngủ thiếp đi, lúc dậy không thấy vợ đâu bèn hoảng hốt đi tìm. Cô ngồi ở sân bệnh viện. Anh chồng nhìn thấy “Vợ che nắng chói chang trên trán mình bằng tay trái còn vết dao”. Tay phải thì sao? Một chi tiết lạ lùng. Lạ đến độ khi đọc, y hoàn toàn không nghĩ ra: “Tôi tõe bàn tay phải đang nắm chặt của vợ. Một con chim đang bị ấn chặt cổ từ lòng bàn tay cô rơi tuột xuống ghế băng. Một chú chim, màu trắng, lông rụng xuống lả tả. Vệt máu loang lổ dưới vết răng thô bạo như bị loài thú ăn thịt nào đó mổ”.

  Lạnh cả xương sống.

Nếu ai đã đọc, nắm bắt đầy đủ các tình tiết cụ thể sẽ đặt câu hỏi: “Tại sao lại có chi tiết này?”. Đại khái câu chuyện là thế, chỉ kể loáng qua của 58 trang in. Chỉ mới là phần 1, còn hai phần nữa. Sẽ đọc tiếp. Sách dày 200 trang in. “Tại sao lại có chi tiết này?” Câu hỏi còn bám theo đến lúc về nhà. Trên đường đi, y nghĩ lan man chuyện nọ xọ chuyện kia. Đầu Ngô mình Sở. Nghĩ rằng, đầu bếp và nhà văn có giống nhau không? Quả quyết rằng giống.

Chỉ với một miếng 1 gram thịt bò tươi roi rói, tay đầu bếp thiện nghệ có thể chế biến thành miếng bít tết thật ngon. Không chỉ ngon vì miếng thịt, còn vì xà lách, khoai tây, bánh mì, nước chấm, các trình bày món ăn…, thậm chí còn vì không khí trong quán nữa. Ăn xong, dù no nê, vẫn còn thèm. Cũng với miếng thịt bò chất lượng như thế, dù có là 1 kg đi nữa nhưng rơi vào tay đầu bếp vụng về, chỉ nhai một miếng đã chán. Buông đũa. Đứng dậy. Tay nghề của nhà văn cũng vậy. Miếng thịt bò là chi tiết. Có những truyện ngắn chỉ một, hai chi tiết nhưng viết giỏi, có nghề, người đọc còn ám ảnh mãi. Chi tiết keo dán sắt trong Cánh đồng bất tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Đọc rợn người là một trong muôn vàn ví dụ. Có những truyện ngắn nhiều chi tiết nhưng đọc xong chẳng đọng lại gì. Sự chuyên nghiệp và nghiệp dư ở đó chăng?

Chiều nay. Mây xám.

Vớ tay lấy cuốn giai phẩm Giữ thơm quê mẹ, đọc loáng thoáng. Tập san này do NXB Lá Bối chủ trương, nhà thơ Hoài Khanh phụ trách, số 1 phát  hành vào tháng 7.1965. Số 2 có truyện ngắn Một bức chân dung (hồi ức văn nghệ thì đúng hơn) của nhà văn Sơn Nam. Trong đó, có chi tiết hay: “Lúc bấy giờ, tôi ở miền Hậu Giang, vùng đất thênh thang, trên bờ có lúa, dưới sông có cá. Giặc Pháp  ít ruồng bố. Tôi được thong dong, nghiên cứu văn nghệ, và tập làm văn nghệ, đi theo cơ quan “văn hóa kháng chiến”. Đó là một tổ chức. Nhưng làm sao tổ chức được những người mang nặng máu… giang hồ! Người lãnh đạo thường nhắc nhở vấn đề nội quy, kỷ luật, phòng gian bảo mật, kế hoạch sáng tác 3 tháng, 6 tháng… Vài bạn của tôi thích bàn cãi. Thời gian chứng minh rằng những kẻ ưa cãi vả, khen chê ấy là những “ông quan văn nghệ”, sáng tác quá ít và quá dở. Nguồn cảm hứng như mây bay gió thổi, con người làm văn nghệ giống như dòng sông linh động phản chiếu. Tổ chức người làm văn nghệ thành một khối chặt chẽ, thiệt chẳng khác nào múc nước bằng hai tay hoặc bằng cái rỗ. Thế nào nước cũng chảy tuôn ra ngoài khuôn khổ”.


sonnam-1


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 4.8.2013

nghien-cuu-lich-su

 

Mạng facebook dạo này như chập chờn như điện thời bao cấp. Chập chờn. Lúc có lúc không. Lúc vào ngon ơ. Lúc chỉ thấy hiện lên dòng chữ: “Server not found: Firefox can't find the server at www.facebook.com”. Sáng nay, vào được. Đọc trang facebook của nhà văn Nguyễn Đông Thức. Anh viết:

“Tui đi Mỹ đã được 3 lần, rút ra mấy điều về người Mỹ:

1. Người Mỹ không có văn hóa. Bằng chứng là đi từ bờ Tây qua bờ Đông, tui không hề thấy có một tấm bảng "Khu phố văn hóa" nào!

2. Người Mỹ rất yếu về khoa học kỹ thuật. Bằng cớ: đa số tài xế không hề biết nút bấm còi xe ở đâu. Hầu như tui không hề được nghe tiếng còi xe trên đường.

3. Đàn ông Mỹ rất hèn. Bằng chứng: luôn luôn kéo ghế cho gái ngồi, mở đóng cửa xe cho gái, khuân vác đồ đạc cho gái...

4. Người Mỹ còn rất sợ người Việt Nam. Bằng chứng: Hễ thấy tui bước vào thang máy là những người Mỹ đang đứng bên trong đều gật đầu chào...”.

Đọc xong cười ngất ngư Laughing. Bèn “tịch thu” đưa luôn vào nhật ký. Có bổ sung gì thêm không? Ắt có:

5. Nước Mỹ vẫn còn chế độ mẫu hệ. Bằng chứng: Khi phụ nữ lên xe hơi và lúc bước xuống, người đàn ông phải luôn chủ động, tự giác mở cửa xe cho họ. Rồi ngoan ngoãn khép cửa xe.

6. Người Mỹ không có tự do. Bằng chứng: Ở nhà, khi hút thuốc lá phải bước ra ngoài vườn, ngoài sân; nơi công cộng không phải chỗ nào cũng có thể phì phèo khói thuốc. Thậm chí ngay trong phòng khách sạn cũng bị cấm tiệt!

7. Người Mỹ ở bẩn nhất thế giới. Bằng chứng: Đi dạo công viên, đi trên phố nếu không tìm ra thùng rác, họ sẳn sàng bỏ rác vào trong túi áo, giỏ xách…

8. Người Mỹ luôn tranh giành sức lao động của người khác. Bằng chứng: Trong nhiều khu vui chơi, vào nhà hàng, lúc ăn xong, đứng lên rời khỏi bàn, họ cũng giành dọn dẹp sạch sẽ bàn ăn của mình.

9. Người Mỹ không biết quý thời gian. Bằng chứng: Bất kỳ ở nơi công cộng nào, họ cũng đều có thể kiên nhẫn đứng xếp hàng, không chen lấn, cứ nhẩn nha chờ đến lượt mình.

10. Người Mỹ không tôn trọng người khác. Bằng chứng có những nơi khi vào quán gọi rượu, họ đòi phải đưa giấy tờ chứng minh trên 18 tuổi.

11. Người Mỹ không tạo công ăn việc làm cho người khác. Bằng chứng: Có nhiều trạm thu phí không có người thu tiền vé, tài xế chỉ việc ném vài xu vào chỗ cần thiết là barie tự động cất lên cho xe qua.

12. Người Mỹ rất mất cảnh giác. Bằng chứng: Trong tòa thị chính, cô dâu chú rể vẫn được phép hiên ngang, ngang nhiên bước vào chụp hình đám cưới!

13. Người Mỹ phân biệt, xem thường người tàn tật. Bằng chứng: Nhiều nơi công cộng, cơ quan công quyền họ vẫn làm lối đi riêng cho người ngồi xe lăn, không đi chung với người lành lặn bình thường.

14. Người Mỹ luôn nịnh nọt người khác, nhất là trong sân bay. Bằng chứng: Khi hỏi thăm điều gì, họ đều hướng dẫn rất tận tình, chu đáo, thậm chí còn vẽ cả sơ đồ, hoặc dẫn đến tận nơi.

15. Người Mỹ thích khoe tiền. Bằng chứng: Khi ăn xong bao giờ họ cũng để lại tiền típ cho người phục vụ.

16. Người Mỹ hầu hết bị câm. Bằng chứng: Trong nhà hàng ít nghe tiếng nói ồn ào của họ.

17. Người Mỹ sử dụng đất đai lãng phí nhất thế giới. Bằng chứng họ xây dựng quá nhiều viện bảo tàng, nhà lưu niệm, thư viện…

18. Người Mỹ là người máy. Bằng chứng: Các cuộc hẹn làm việc của họ luôn đúng giờ.

19. Người Mỹ chỉ khoái nước ngọt. Bằng chứng: Khi vào xem các chương trình "nghệ thuật" như múa sexy, múa cột mà họ cũng không bán bia, rượu chỉ phục vụ mỗi nước ngọt! Chán thế!

20. Người Mỹ rất lạc hậu. Bằng chứng: Trên các đường cao tốc, vẫn còn những trụ điện thoại hữu tuyến.

21. Người Mỹ rất nhát gan. Bằng chứng khi đã có bia rượu, họ tuyệt đối không dám lái xe; khi cảnh sát ra hiệu, lập tức dừng xe, đứng một khoảng cách nhất định, không dám đến gần dúi tiền “trà nước” nếu bị lỗi giao thông v.v…

Còn thêm gì nữa không?

Tối qua đã post bài đọc tập sách của Trần Thị Nhung lên PNO. Thích tập sách Cỏn con và bé xíu (NXB Kim Đồng), nhờ thế y viết được câu này: “Nếu các bà mẹ nào cũng đều dành thời gian ghi lại những sinh hoạt, tình huống xảy ra với con mỗi ngày, có lẽ, chúng ta sẽ có nhiều tập sách hay. Và cũng là một cách giúp cho nhiều người hiểu thêm về tâm lý của lứa tuổi này và chia sẻ cách giáo dục,dạy dỗ phù hợp”. À, ngày trước nếu ba mẹ ghi nhật ký giúp mình mỗi ngày nhỉ. Sẽ rất thú vị. Cũng may, đã có những tấm hình chụp thuở ấu thơ. Mỗi lần nhìn ảnh cũ, trong lòng luôn dạt dào một cảm xúc. Nếu có bửu bối quay ngược về quá khứ của chú mèo Đô Rê Mon, cảm xúc cũng chỉ đến thế.

Như mọi ngày, vẫn phở. Lúc ăn sáng, cám ơn T.H.Nhân đã tiếp tục giới thiệu tập sách VE VẪN SÀI GÒN của Chị Đẹp trên báo TT&VH sáng nay. Thích câu kết: “Có lẽ, đây là một trong những cuốn sách “giấy trắng mực đen” có sự tương tác giữa người viết (Chị Đẹp) và bạn đọc (Nguyễn Đông Thức). Lâu nay, hình thức “comment” này chỉ dành cho những tác phẩm được “xuất bản online”, ví như in trên mạng xã hội facebook chẳng hạn”. Đó là phát hiện thú vị của nhà báo. Khen N câu này, gã mập cười phơ phớ rất đáng yêu. Yêu quá đi chứ. Chơi với nhau cần có sự quan tâm, yếu tố này cần cho một tình bạn.

Đêm qua thức khuya. Đọc lại bộ Nghiên cứu lịch sử in từ năm 1962, in ngoài Bắc. Có nhiều chuyện sẽ kể sau. Lúc ấy, những tưởng sẽ được ngủ nướng bởi ngày mai chủ nhật. Nào ngờ, chỉ mới 5 giờ sáng, đang mơ màng bỗng nghe rèng réng reng vang rền phòng ngủ. Gã Đức béo hào hứng: “Dậy gấp! Vừa mail rồi. Đọc gấp hai truyện ma của mình, Q ơi. Đọc gấp, có ý kiến gấp nha!”. Trời đất! Điên vừa vừa thôi chứ? Đành cười. Lẽ nào bạn vì sự hào hứng của bạn vừa viết xong cái truyện ngắn mà cằn nhằn? Đành nói một câu rất giả dối: "Vậy à? Mình chờ mấy hôm nay đây. Mừng quá. Đọc ngay. Chúc mừng bạn". Nói xong, bèn tắt máy. Ngủ tiếp.Tongue out

À quên, còn mấy cái lặt vặt, cà rỡn về người Mỹ của nhà văn Nguyễn Đông Thức nữa chứ? Định viết nữa, nhưng trưa rồi. Cơm thôi. Vậy bạn nào biết gì thêm, xin mời biết bổ sung vào comment. Sẵn sàng đưa luôn vào Nhật ký. Laughing

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 45 trong tổng số 52

trinhduyson