LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 24.6.2013

 

Đang ngủ, giật mình tỉnh giấc, sực nhớ phải viết thông báo cho cuộc thi facebook, phải viết lời tựa cho tập thơ tuyển từ cuộc thi này. Bạn thơ Phạm Sỹ Sáu cho biết đã biên tập xong bản thảo. Bèn dậy luôn. Viết cho xong.Thức dậy sớm, nghe tiếng gà từ hàng xóm vọng sang. Yên ả và thanh bình lạ thường. Chiều nay, sẽ vẫn là cái mặt cũ khi ngồi bên bạn bè cũ. Có như thế mới yên tâm ngồi lai rai những sợi men lãng đãng rơi tuột qua cuống họng để thơm tho một chút men và sẽ hôn khuôn mặt của một người trước lúc đi xa. Câu thơ của Trần Dạ Từ:

 

tap-tho-dau-tay-in-nam-1989

 

Lần dầu ta ghé môi hôn

Bỗng con ve nhỏ hết hồn kêu vang

Vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng

Nghìn cây phượng Vỹ huy hoàng trổ bông

Thuở mới lớn, y thích. Lớn hơn một chút, thấy câu thơ Nguyễn Tất Nhiên mới là dữ dội:

Hôn rách mặt mà sao vẫn còn nghi ngại

Nhớ điên đầu sao cứ sợ chia tan

Có những câu thơ, ai viết cũng được. Câu thơ này mới là Nguyễn Tất Nhiên:

Bàn chân Nam Định rất chiêm bao

Trời cho đó chứ. Đời thơ mấy ai được trời cho những câu thơ ma mị, quỷ ám như thế? Tương tự có thể kể đến "Cọng buồn cỏ khô" của Trịnh Công Sơn; " áo dài đùa trong tiếng cười "của Phạm Duy...

Trưa đang ngủ, một cú điện thoại từ báo TN gọi đến phỏng vấn. Đã hơn hai giờ chiều. Thức giấc luôn. Nhìn qua cửa sổ thấy mưa. Mưa là mưa. Chợt bần thần nhìn thấy trên mặt bàn làm việc là những quyển sách mới của bạn bè vừa gửi tặng như Phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận qua Lửa Thiêng (TS Nguyễn Thị Kim Ửng), Cái đầu siêu định vị (Bích Ngân), Cà phê và quán vắng (Anh Thư)… Nhìn sách mới của bạn lại nhớ đến sách của mình. Nhớ ơi là nhớ cái năm 30 tuổi, mừng sinh nhật bằng tập thơ Trong cõi chiêm bao. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho chụp bức tranh làm bìa. Thời đó, ông mới bắt đầu vẽ tranh. Chẳng biết bức sơn dầu này, nay ai sở hữu? Bạn Điêu Quốc Việt làm giúp bìa. Anh Nguyễn Thái Dương cùng y chọn bài, lo giúp luôn cái vụ nhà in ở Khăn Quàng Đỏ. Từ sự lo lắng ấy nên y mới có bài thơ này in trong tập này:

TƯỞNG TƯỢNG

(Tặng Nguyễn Thái Dương)

Nếu trúng số độc đắc thì tôi sẽ in thơ

Một tập thơ mỏng manh như lá cỏ

Tặng những người đang yêu, tôi không hề mắc cỡ

Tập thơ hiền lành như chính bản thân tôi

 

Anh có thể đọc thơ khi ngồi ngóng mưa rơi

Sẽ thấy tôi lạnh run nhưng cũng cười ngỗ ngáo

Chị có thể đọc thơ khi ngoài kia giông bão

Sẽ thấy tôi nhen ngọn lửa nhỏ nhoi…

 

Tập thơ dịu dàng như chính bản thân tôi

Tôi sẽ cho in nếu rủi ro trúng số

Thời buổi này gạo châu củi quế

Ai dám đành lòng thách đố với thơ ca?

 

Nói đùa chơi ngẫu hứng với ba hoa

Em đừng trách tôi - cái thằng ngớ ngẩn

Ba mươi tuổi ở nhà thuê, áo cơm còn lận đận

Sao cứ đánh đu cùng vần điệu của thơ?

 

Có kẻ một đời chỉ dám ước mơ

Được một lần trúng vào lô độc đắc

Để mua lại những gì trôi tuột mất

Kể cả lương tâm đã bán ở chợ đời

 

Có người dậm chân thất vọng gọi trời ơi

Nếu trúng số một lần thôi tôi sẽ…

(Hứa hẹn làm chi sự đời đâu phải dễ

Chúng ta đang mơ những ảo-tưởng-ngoài-tầm)

 

Thơ thời buổi này rẻ rúng nếu đem cân

Một ký thơ có bằng nửa cân thịt sống?

Dù biết vậy nhưng tôi còn mơ mộng

Nếu trúng số thì…  tôi cũng sẽ in thơ

(1988)

Thời đó tập thơ in ra, báo chí quảng bá, giới thiệu nhiều. Nay chẳng ai buồn ngó ngàng đến. Xu thế chung là thế. Thể loại thơ đã chết trong lòng bạn đọc chăng? Đã từ lâu, dù có điều kiện nhưng y đã hết hào hứng in thơ nữa. Lật quyển sách của Kim Ửng, đọc loáng thoáng và dừng lâu ở câu này: “Nhà thơ đúng là kẻ trộm lửa thiêng” (ám chỉ vị thần Prométhée trong thần thoại Hy Lạp đã ăn trộm lửa thiêng của thần Zeus để tặng cho loài người). Rimbaud gắn sứ mệnh của nhà thơ với câu chuyện đi tìm lửa, tương tự như câu chuyện của thần Prométhée” (tr. 93).

Thơ hiện đại của chúng ta có còn lửa? Hay chỉ là những tro tàn bay tả tơi trên lớp sóng của thời gian? Tự nhiên lại nhớ đến tin nhắn của Đoàn Tuấn, hôm qua:

Qua thăm Chị Đẹp tình cờ

Hỏi xem MÙA TRỨNG bao giờ RỤNG xong?

Sài Gòn mùa trứng trụng là tập tùy bút thứ ba của Chị Đẹp. Đã viết xong. Có thể sẽ ra mắt vào cuối năm này. Vẫn bạn bè cũ xắn tay áo vào. Mỗi người một tay. Hy vọng mọi việc đúng kế hoạch. Từ Cà Mau, Huỳnh Thúy Kiều đã gửi mắm linh. Trần Hoàng Nhân cho biết đã có người đòi mua đúng 100 quyển Ve vãn sài Gòn của Chị Đẹp.

Ngoài trời đã thôi mưa. Thôi, tập trung làm việc đi.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 23.6.2013

Hồi họp lật từng trang. Thơm mùi giấy mới. Những con chữ nhảy múa như nắng như mưa như gió như tình yêu như ngày tháng của Quách Tĩnh yêu Tiểu Long Nữ đã chạy vào mắt. Tràn trề. Đắm đuối. Y là người trước nhất cầm quyển sách đầu tiên vừa chở từ nhà in về NXB Trẻ. Y vội vã đứng ngay giữa ngã tư đường tấp nập ngựa xe, ngay lúc ấy, đứng ngay chỗ ấy và đọc một hơi đến hết 184 trang sách. Thiên hạ đi ngang qua bấm còi inh ỏi. Mặc kệ. Y cứ đứng đọc. Hả hê. Sung sướng.

ve-van-sagon-1-R

Bạn đọc Ve vãn Sài Gòn

 

Cuộc ra mắt sách Ve vãn Sài Gòn đã thành công. 200 cuốn sách đã bán hết sạch. Người đến tham dự đông như trẫy hội. Nhiều người chậm chân không có chỗ ngồi, không mua được sách. Sau ngày ra mắt sách, y đã xóa bỏ khá nhiều số điện thoại. Bạn bè chơi, từng ăn nhậu với nhau, lúc cần có mặt lại "mất hút con mẹ hàng lươn" thì chơi với ai? Dịp đám cưới, tang ma, thôi nôi, tân gia, đầy tháng, ra mắt sách... đã có lời mời nhưng không đến. Liệu có phải là bạn? Nghĩ làm gì cho mệt. Xóa luôn số. Vậy cho khỏe. Đỡ nghĩ ngợi. Đang chờ hình do Nghĩa Phạm chụp để post lên trang web. Vãn cuộc bèn kéo nhau nhậu nhẹt lai rai. Cũng vài gương mặt bạn bè. Rượu vào lời ra. Anh Biền đọc câu đối:

Gái Quảng Nam quản nam Nam Định

Câu này, anh cho biết do vợ thách đối. Đúng y chang trường hợp gia cảnh của anh. Anh em đang nhậu hào hứng nhậu bỗng im lặng lắng nghe. Nghe xong, bèn ngưng ly và mỗi người tản ra một nơi. Ngồi trầm ngâm. Nhăn mày nhíu trán. Vò tai nghiến tóc. Lật từ điển tìm nghĩa. Moi óc tìm chữ. Ghi ghi chép chép. Gạch gạch xóa xóa. Cả một không gian bỗng im ắng lạ thường. Nghe cả tiếng mưa rơi ngoài cửa sổ.  Nghe tiếng máy lạnh chạy ò è. Thời gian lặng lờ trôi qua. Cuộc nhậu đìu hiu như câu thơ của Huy Cận:

Nắng xuống, chiều lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

Chừng hai tiếng đồng hồ sau, không ai bảo ai, tất cả đều đứng lên đồng thanh hô to. Như hô khẩu hiệu lúc ra quân tấn công chốt tiền tiêu trên đỉnh Danrek của thời y đi bộ đội. Tiếng hô rền vang cả quán nhậu:

- Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.

(Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin tiên sinh đối trước).

Tiên sinh Biền cũng bó tay.com. Thêm vài ly nữa và chia tay. Đấy! Ăn nhậu mà nói chuyện chữ nghĩa, hoạch họe nhau về từ, ngữ nghĩa chỉ có nước giải tán sớm. Tóm lại vế thách đối này quá khó. Ai có thể đối lại được? Nếu được, Chị Đẹp sẽ tặng luôn 100 quyển Ve vãn Sài Gòn!

Nhân vụ câu đối này, mọi người gặng hỏi về vụ câu đối mà y đã kể trong nhật ký 21.6.2013. Cụ thể ra làm sao? Thì đây: KTNN số 116 phát hành ngày 15.8.1993, chuyên mục Chuyện Đông chuyện Tây có câu hỏi: “Xin HT cho biết ai và báo nào đã đăng và thách đố câu sau đây:

Đến Củ chi, chỉ cu, hỏi củ chi

Nếu có thể xin chuyển hộ câu đối của tôi đến báo đó hoặc tác giả của câu đó. Câu của tôi như sau:

Vượt Cù Mông, cồng mu, phải cù mông

(Đèo Cù Mông nằm giữa Phú Yên và Bình Định)”

Trả lời: Về chuyện này, HT đã phải một phen tẽn tò. Chuyện xẩy ra đã lâu. Một hôm anh Phạm Vũ, cũng là cộng tác viên của KTNN cho chúng tôi biết bà Kim Hạnh, bấy giờ còn là tổng biên tập báo Tuổi Trẻ , đã ra một câu đối: “Chỉ cu anh, hỏi củ chi” và hứa hễ ai đối được bà sẽ thưởng cho một năm báo Tuổi Trẻ đọc chơi. Không biết vì nhớ thiếu hay vì vội vàng. Anh bạn chỉ đọc lên vẻn vẹn có 6 tiếng trên. Ngay hôm đó, HT đã có vế đối lại, chỉ xin bạn và bạn đọc đọc mà đừng có… chửi:

Mò đóc chị, mâng mồng đó”.

Đại khái là thế. Không cần phải trích hết câu trả lời này.

Lập tức báo PNTP.HCM số ra ngày 18.8.1993 có bài Vụ án văn hóa trong chuyên mục Chuyện phiếm, ký tên Ngọc Huyền. Đây là bút danh của một đạo diễn đang nổi danh. Sau khi lập luận tràng giang đại hải, bài báo này kết luận: “Vụ án thành ra chưa ngã ngũ. Nhưng có tin đồn ghi “KTNN” số 116 là văn tự giả mạo, vì nền văn minh của năm 1993 dứt khoát không như thế”. Báo TN số ra ngày 2.9.1993, có in toàn văn bức thư của nhà báo Kim Hạnh: “Về một bài báo xúc phạm danh dự và nhân phẩm công dân” gửi các cơ quan chức năng. Ngay lập tức, chuyên mục này tạm ngưng vài số liền và từ số 122 (1.11.1993) mới xuất hiện lại, từ đó bút danh H.T đã thay đổi thành A.C.

Ôi chuyện chữ với nghĩa. Không cẩn trọng là không xong.

Cẩn trọng có lúc cũng không xong. Thông tin đó nếu ta nhìn nó ở góc độ này sẽ thấy bình thường nhưng nếu bắt bẻ, soi mói và “nâng quan điểm chính trị” lại thấy “trầm trọng” như “phản động đến nơi”. Có khi chỉ đọc chơi nhưng muốn “lập công”, lập tức điện thoại đầu này, réo đầu kia “báo động” ầm ĩ lên như sắp xẩy ra một vụ cháy nhà. Người tiếp nhận thông tin, nếu yếu bóng vía, lập tức gọi xe cứu hỏa ngay lập tức. Sự việc trở nên rắc rối. Lớn chuyện. Không khéo có người bị quy kết này nọ. Chết oan mạng. Rất phiền toái. Cũng bởi hăng hái quá đáng. Nhiệt tình quá đáng. Để làm gì. Để cho vui? Để cho thấy mình là người có trách nhiệm đầy mình? Mà đã là anh em, có những tiểu tiết hãy lờ nó đi vì cũng chẳng chết ai, chẳng ảnh hưởng gì đến cái chung, đến đại cục. Mà đã là anh em, cách tốt nhất hãy điện thoại cho tác giả. Giữa hai người ngồi với nhau, đừng bao giờ tin lời khen của người đối diện. Giữa hai người ngồi với nhau, hãy tin lời góp ý, chỉ trích, phê phán của người đối diện. Vì cả hai lời trên đều không lọt vào tai người thứ ba do đó, tin và không tin là vậy.

Thú thật, y thích tính cách này ở người Bắc. Rất rõ. Đã chơi với nhau là hết mình. Bảo vệ hết mình. Lăng xê hết mình. Họ cũng có những mối quan hệ hời hợt xã giao như người Nam. Nhưng đã chí cốt thì huynh đệ còn hơn ruột thịt. Cứ nhìn xem, đảng phái chính trị thời Pháp thuộc mọc lên như nấm, nhưng tồn tại lâu bền và khiến kẻ thù khiếp sợ nhất là đảng phái ấy hình thành từ vùng miền nào?

Lúc nhà văn Xuân Sách còn sống, thỉnh thoảng gặp và bù khú lai rai. Tập Chân dung nhà văn mà y đang giữ còn có cả bút tích Xuân Sách chú thích tên của từng nhà văn. Sau đây là một bài:

Chuyện kể cho người mẹ nghe

Biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang

Đứa con nuôi của trung đoàn

Phá vây xong lại chết mòn trong vây.

Bài này viết về nhà văn Phù Thăng, tác giả của các tác phẩm như Chuyện kể cho người mẹ, Con nuôi của trung đoàn, Phá vây…Hỏi, nguyên cớ nào lại viết như vậy, nhà văn Xuân Sách cho biết, đại khái: Ngày nọ, một cán bộ cao cấp khi bàn về tác phẩm văn học nước nhà có nhận xét đại loại rằng, nhân vật của Phù Thăng có “tư tưởng lái trâu”, không phù hợp với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chỉ một câu nói đó, cuộc đời của một nhà văn lên bờ xuống ruộng và biến mất khỏi “cuộc chơi”. Hư thực ra sao chưa kiểm chứng nhưng chắc chắn trên đời có những người chết oan mạng như vậy. Cũng chỉ một câu nói. Một câu bình luận. Lắm lúc câu nói ấy chẳng có gì nghiêm trọng, nhưng người chịu trách nhiệm xuất bản, biên tập sợ vãi đái là kệch mặt luôn tác giả đó. Như ghẻ né ruồi. Lần sau đừng mon men đem bản thảo lại nhá!

Thật quý khi cuộc đời vẫn còn những người cầm chịch một cơ quan ngôn luận không sợ bóng vía.

Thời N.Q.C in tập thơ Đêm mặt trời mọc bị thu hồi, NXB Trẻ bị kiểm điểm xói đầu. N.Q.C học chung lớp, ngủ cùng phòng y ở ký túc xá. Sau đó, chẳng còn tờ báo nào dám in thơ của tác giả này nữa. Chẳng biết do từ mệnh lệnh của ai? Cũng có thể chẳng có mệnh lệnh nào nhưng bởi sợ bóng sợ gió, sợ vạ lay nên chẳng ai dám “day vào”. Duy chỉ có người vẫn dám là nhà thơ Chim Trắng. Với cương vị Tổng biên tập báo Văn Nghệ TP.HCM, ông vẫn chọn in thơ N.Q.C. Ai có hỏi, ông chỉ cười rất đàn anh: “Bọn trẻ làm thơ thể nghiệm mà. Kệ nó”. Ông cứ in dù vài anh em trong bọn y có thời bị người ta đàm tiếu này nọ. Mà có ai “rày la” gì ông đâu! Ông có mất ghế gì đâu. Giới văn nghệ còn ca ngợi nhà thơ Chim Trắng qua vụ thẳng tay đấm vào mặt một nhà lý luận điện ảnh học từ Liên Xô về. Vụ cãi cọ đó vào thời báo Văn nghệ còn đóng ở Nguyễn Thị Minh Khai. Xẩy ra vào buổi trưa, ngay sát chỗ bàn cà phê y đang ngồi tán phét với bạn bè. Ông quát vào mặt của nhà lý luận: “Không tranh luận lôi thôi nữa. Anh còn chửi thề là tôi đấm ngay!”. “Đ.M! Đấm đi”. Kết quả là một vụ ôm mặt máu ầm ĩ một thời!

Nói trộm vía người đã khuất, nhà thơ Chim Trắng đúng là “dân chơi Nam bộ” thứ thiệt. Thứ thiệt theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Đời làm báo, nghĩ lại, y may mắn bởi được làm việc với nhiều người tử tế. Ngày nọ, y đưa cho Tổng biên tập Thế Thanh bài báo phê phán, chế giểu một đơn vị thêu ở Đà Lạt đã cố tình viết sai be bét chữ nghĩa, bày đủ trò nhố nhăng đặng gây chú ý dư luận. Y những tưởng sếp hào hứng sẽ cho in ngay. Bởi làm báo là phải kịp thời bám theo thời sự kia mà! Không ngờ sếp nhỏ nhẹ rằng, báo mình phát hành đúng vào ngày công ty người ta kỷ niệm sinh nhật, chẳng lẽ mình lại tát một cú đích đáng ngay trong ngày vui của họ? Thế là sếp gác lại, in vào số sau. Càng nghĩ, y mới thấy sự lịch lãm và phục phép ứng xử văn hóa của chị Thế Thanh.

Không gì trơ trẽn bằng khi con người ta lên xe hoa về nhà chồng, gã hàng xóm tốc váy réo đòi nợ. Chẳng lẽ hết dịp rồi chăng? Mươi năm trước đây,  quê y kỷ niệm ngày giải phóng có mời quan chức cả nước về dự. Một trong sự kiện quan trọng là khánh thành cây cầu thiên niên kỷ bắt qua sông Hàn. Cầu khánh thành vào buổi sáng, cờ xí rợp trời, diễn văn hoành tráng nhưng ngay trưa đó bắt luôn cán bộ phụ trách xây cầu vì tham ô, tham nhũng gì đó. Đành rằng, bắt không sai, nhưng sao không đợi lúc quan khách ra về rồi hãy thực thi nhiệm vụ?

Dư luận hỏi thế. Y cũng nghĩ thế.

Nếu chọn một nhà văn hiện thực phê phán của Việt Nam có tầm vóc nhất của giai đoạn 1932 - 1945, y chọn Vũ Trọng Phụng. Một nhà phê bình, nghiên cứu văn học người Mỹ đã dịch tiểu thuyết Số đỏ ra tiếng Anh, khẳng định đây là tác phẩm có thể sánh với các kiệt tác văn chương của nhân loại và làm vinh dự cho mọi nền văn học. Ai là người phê phán Vũ Trọng Phụng dữ dội nhất, đao to búa lớn “nện” ác nhất, quy kết chính trị hiểm ác nhất? Lật lại tư liệu, ta biết đó là Hoàng Văn Hoan. Sau cuộc chiến 1979 với Trung Quốc, ai tếch theo giặc? Hoàng Văn Hoan chứ ai!

Sài Gòn mấy hôm nay mưa lai rai. Những cơn mưa dịu mát. Lật tình cờ đúng trang 176 của Ve vãn Sài Gòn, có đoạn viết: “Nhưng đâu phải đàn ông Sài Gòn chỉ nổi tiếng về cách nhậu? Đàn ông Sài Gòn còn biết cách trăng hoa. Không bao giờ từ chối tình ái. Và không đểu, Không phải là cái kiểu cặp kè cho qua đường như người ta nghĩ về bản tính qua loa của người Sài Gòn. Yêu ai là yêu hết mình, hết người, hết nhà, hết tiền"

Hay quá ta?

Ve-van-sg-2R

Chị Đẹp ký tặng sách Ve vãn Sài Gòn

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 21.6.2013

 

Ngày Nhà báo Cách mạng Việt Nam. Tin nhắn từ khắp bốn phương trời nằm chen chúc trong điện thoại di động. Có những tin nhắn trung tính, không một cảm xúc gì. Chỉ là những lời sáo rỗng, rỗng tuếch, nhấn một nút send đến hàng loạt nhà báo. Đọc và xóa luôn. Không việc gì phải trả lời. Ngao ngán quá chừng với những tin nhắn, đại loại, lời chúc dao to búa lớn cỡ như “tiếp tục hăng say chiến đấu”, “luôn luôn sắc bén ngòi bút”, “mãi mãi đấu tranh kiên cường”, “xông pha không mệt mỏi”… Vớ vẩn. Chẳng lẽ mọi ngày các nhà báo không được như thế chăng?

Mà, cần gì với lời chúc ấm ớ, công thức, khuôn mẫu đến sáo mòn và không hề có một chút sắc thái tình cảm dành cho cá nhân người nhận? May quá, do vừa bị hư sim điện thoại nên hoàn toàn không rõ tin nhắn ấy của ai. Đỡ phải nghĩ gì thêm.

Thoáng đó mà đã tròm trèm gần 30 năm theo nghề.

 

dac-san-1968

Đặc san của người làm báo miền Nam, chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Ngọc Linh. Bộ biên tập: Nam Đình, Trần Tấn Quốc, Vũ Bằng, Hoàng Phố, Nguyễn Doản Vượng v.v... Viện Đại học Đà Lạt "bảo trợ tinh thần". Tòa soạn: 116 Hồng Thập Tự, Saigon. (Tư liệu L.M.Q)

 

Lúc đang sinh viên, từ năm 1985, y đã có tin “xe cán chó” đăng trên báo TT. Nhuận bút lai rai. Sau, nhờ nhà văn Nguyễn Đông Thức, y đầu quân cho báo này. Thời gian làm việc không dài. Còn nhớ, lúc họp giao ban hằng tuần vào mỗi sáng thứ hai, nhà báo Kim Hạnh lúc đó là TBT có kể câu chuyện, đại khái, một nhà báo Pháp hỏi chị: “Ở Việt Nam có chế độ kiểm duyệt báo chí không?”. Một câu hỏi dễ hay khó? Câu trả lời của chị khôn ngoan: “Ở Việt Nam không có chế độ kiểm duyệt bởi chúng tôi đã đặt “kiểm duyệt” trong đầu”. Ăn cơm bằng đồng tiền nhuận bút của nghề báo đến mòn răng, nghiệm ra thấy đúng quá.

Nhắc đến chị, vẫn còn nhớ đến vụ câu đối của KTNN: “Gái Củ Chi chỉ cu hỏi củ chi” mà anh A.C khi trả lời có liên quan đến chị. Thế là ầm ĩ cả lên. Bấy giờ, y đã về PN. Chị TBT Thế Thanh bảo, Q quen thân với KTNN nên để chị nhờ người khác viết bài phê phán sai trái đó. Người viết là một đạo diễn tiếng tăm hiện nay. Sau KTNN phải xin lỗi chị Kim Hạnh vì lỗi sơ suất câu chữ. Sơ suất thôi, y biết, anh A.C - “tự điển sống” mà y ngưỡng mộ chẳng có ý “đá giò lái" gì đâu. Lúc nào rảnh, tìm lại tài liệu cũ sẽ viết kỹ hơn.

Kỷ niệm làm báo nào của y đáng nhớ nhất? Có nhiều. Lần đầu tiên của ngày đi "tác nghiệp" viết về phong trào văn nghệ quần chúng của cơ sở thuốc lá nọ. Làm việc xong, giám đốc có nhã ý tặng nguyên một cây thuốc lá nhưng y không dám nhận, dù ngày đó phải mua lẻ từng điếu thuốc lá. Chẳng phải “trong sạch” gì, chỉ sợ báo TT biết là kỷ luật ngay. Chẳng dại. Rồi sau này, hỡi ôi, khi đi cơ sở không thấy quà cáp là mặt mày buồn xo. Thế đấy! Giấu giếm làm gì. Ai là người nghĩ ra độc chiêu tặng “bao thư” cho nhà báo? Sáng kiến này có thể xem là một “thành tựu” to lớn nhất của việc làm tha hóa nhà báo. Đến nay đã trở thành luật bất thành văn: Họp báo phải có bao thư. Thiếu cái gì cũng được nhưng cái này thì dứt khoát phải có.

“Tự kiểm” về ngày nhà báo của y đã đăng trên Tạp chí Tài Hoa Trẻ  số 529 (18.6.2008) nay có gì khác hay vẫn thế? Y viết:

"Ngày 21.6, không phải là dịp chúng ta ngồi lại “kể công” - mà ý nghĩa đích thực nhất, theo tôi vẫn là lúc “tự kiểm” một cách nghiêm túc để tiếp tục hoàn thành sứ mệnh mà nhân dân đã tin cậy, gửi gắm niềm tin cho mình. Tôi tự kiểm về một số nhà báo (NB) hạn chế trong bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp như sau:

Không biết nói: Ai đời giữa “bá quan  văn võ” của một cuộc họp báo, không ít nhà báo (NB) hiên ngang đứa lên, cầm “micro” sau khi tằng hắng lấy giọng thì bắt đầu: “Thưa Ban tổ chức, em là PV báo X, em xin…”. Trời đất! Khi tác nghiệp, anh là người phát ngôn đại diện cho một cơ quan ngôn luận, chứ nào phải do quan hệ cá nhân đâu mà lại tự “hạ mình” xưng em một cách lãng xẹt như vậy? Lại có những NB trong lúc tác nghiệp gặp nghệ sĩ, ca sĩ nào đó tuổi nhỏ hơn mình bèn gọi bằng… em theo cảm tính một cách ngọt sớt! Xin đừng quên, trong bối cảnh “quan trên trông xuống, người ta trông vào” chứ không phải tâm sự riêng tư, thì không thể suồng sã gọi người được phỏng vấn như vậy.

Không biết hỏi: Còn nhớ khi Công ty Phương Nam tổ chức ký kết mua bản quyền với nhà văn lão thành Tô Hoài tại Hội Nhà báo TP.HCM, có NB đứng lên hỏi BTC một cách dõng dạc: “Ông cho biết tình hình… sách lậu bày bán ngoài lề đường hiện nay như thế nào” (!?). Câu hỏi không ăn nhập gì với nội dung cuộc họp báo đang diễn ra, hơn nữa BTC không đủ thẩm quyền trả lời nên đã từ chối. Quyết không thua, anh NB này hỏi lần nữa và lần này là… tiếng cười ồ của các đồng nghiệp! Lại có NB, sau khi nhận tài liệu báo chí, nhưng không chịu đọc kỹ nên cứ hỏi những điều mà trong đó đã giải thích khiến mọi người nghĩ đến… sự ngớ ngẩn!

Không biết ngồi: Cuộc họp báo của ca sĩ, diễn viên Bi Rain - ngôi sao làng công nghệ giải trí Hàn Quốc - là một ví dụ. Có lẽ do quá nôn nóng tác nghiệp nên có nhiều NB đã đồng loạt nhốn nháo đứng lên một cách hào hứng! Thôi thì cũng dễ thông cảm. Nhưng phía sau lưng họ là ai? Là các… quan chức và đồng nghiệp của họ! Lại có trường hợp, tan cuộc họp báo, các NB quyết “chen vai sát cánh”, giành nhau để được… chụp ảnh chung với ngôi sao. Cũng được thôi, nhưng đừng quên lúc này anh là NB, đại diện cho một cơ quan báo chí chứ không phải lúc làm khán giả hay là fan bày tỏ sự ái mộ “thần tượng”! Lại có nhiều chương trình ca nhạc, vị trí đầu tiên là vé mời dành cho quan chức đã sắp xếp trước nhưng có NB quyết tâm “bám trụ” vì chỉ ở vị trí đó thì gương mặt mình có cơ may… xuất hiện trên sóng truyền hình!

Không biết ăn: Có NB đã khiến nhiều đơn vị cơ sở “lúng ta lúng túng” đến tội nghiệp trong dịp lễ lạt, hội hè. NB “kiên cường” đòi cho bằng được rượu hoặc bia lọai A,B nào đó chứ nhất quyết không “cụng ly” thức uống đang được chiêu đãi! Đã thế, đến lúc tàn cuộc, nhiều NB vì quá “tình thương mến thương” nên… không chịu ra về, cứ ngồi ì ra đó, tiếp tục gọi bia, rượu và tiếp tục…”trăm phần trăm” với nhau”!

Y giễu ai đó? Không, "bản tự kiểm" của y đó thôi. Nói trước đỡ phiền lòng đồng nghiệp vậy.

Đêm qua, lai rai một chút. Ngất ngư. Say một chút. Nhìn xuống dòng kênh Nhiêu Lộc. Thấy đời vui. Mọi việc chuẩn bị cho ngày ra mắt sách của Chị Đẹp đã xong. Báo chí cũng đã giới thiệu, đưa tin lai rai. Chung tay vỗ nên kêu. Anh Triều đã gửi tặng một chai rượu cho cuộc nhậu sau khi kết thúc ra mắt sách. Chỗ ăn đã đặt rồi. Cũng là vài anh em bạn bè và nhà báo thân tình.

Sáng nay mở Inbox  - Outlook Express. Ngáp dài. Chơi Facebook cũng phải chấp nhận có lúc hộp thư cá nhân của mình phải chứa tin rác.Hàng trăm comment lung tung của ai đó cứ đổ vào. Đơn giản chỉ là cuộc “chém gió” của bạn bè họ mà mà mình phải nhận. Xóa đến mỏi tay. Thời giờ đâu mà đọc?

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.6.2012

 

Sách Ve vãn Sài Gòn của Chị Đẹp đã có.  Khép lại tập sách y nghĩ đến tình bạn.

 

Ve-van-SaigonRR

Trước hết là văn Nguyễn Đông Thức. Anh đã biên tập chu đáo và thỉnh thoảng lúc cao hứng lại comment thêm đôi dòng. Có khi đồng tình và có lúc lại không với tác giả như một cách bổ sung thêm về chuyện này, chuyện kia ở Sài Gòn. Nhờ vậy, cũng một nơi chốn, một vấn đề nào đó đã có thêm một góc nhìn nữa. Cách làm sách như thế này mới mẻ. Sáng tạo. Mà phải quý, phải trân trọng và hết lòng ưu ái với người viết trẻ, một nhà văn nổi tiếng như anh mới nhọc công làm công việc này. Cảm động. Tình bạn dài theo năm tháng quý như rượu ngon. Cũng có thể do tính cách của người Sài Gòn nữa chứ. Anh Thức đã có hơn “60 năm cuộc đời” ở Sài Gòn nên anh ưu ái tác phẩm viết về Sài Gòn cũng là điều dễ hiểu.

Và cũng thật dễ hiểu khi cà phê Trung Nguyên đã “biếu không” mặt bằng trong vòng vài tiếng đồng hồ mà lẽ ra theo nguyên tắc phải thuê 2 triệu 600 ngàn / giờ.

Đơn giản chỉ vì sách viết về Sài Gòn.

Và cũng thật dễ hiểu khi nhận mời đến chung vui với anh em trog ngày ra mắt sách, lập tức nhà thơ Lâm Xuân Thi hào phóng tặng ngay vài triệu bao chầu cà phê đủ mời cả trăm bạn đọc ngày hôm đó.

Đơn giản chỉ vì sách viết về Sài Gòn.

Và cũng thật dễ hiểu khi họa sĩ Bùi Nam và NXB Trẻ nhiệt tình đồng ý thiết kế banner và standee cho buổi ra mắt.

Đơn giản chỉ vì sách viết về Sài Gòn.

Và cũng thật dễ hiểu, từ Mỹ, họa sĩ Khải Cơ đã nồng nhiệt vẽ một hình bìa thật đẹp theo gợi ý của Chị Đẹp. Sửa đi sửa lại nhiều lần mà không một than van và cũng không nhận thù lao nào (trừ tập sách có chữ ký tác giả).

Đơn giản chỉ vì sách viết về Sài Gòn.

Và cũng thật dễ hiểu khi facebook của Chị Đẹp đã có hàng trăm bạn bè chúc mừng và cho biết sẽ đến tham dự.

Đơn giản chỉ vì sách viết về Sài Gòn.

Cho đến thời điểm này, so với các địa danh như Hà Nội, Huế, Đà Lạt… thì tạp bút, tùy bút, phóng bút, túy bút ngẫu hứng viết về Sài Gòn, cảm nhận về Sài Gòn vẫn chưa nhiều lắm. Chắc chắn rằng, bất kỳ ai chôn nhau cắt rốn tại non sông nước Việt mến yêu cũng đều ước ao được một lần đến Sài Gòn. Và họ đã đến. Để rồi, dù chỉ chạm chân đến vùng đất này dù một giây hoặc một đời cũng đều dành cho nó nhiều tình cảm.

Vậy Sài Gòn là gì mà quyến rũ đến thế?

Tập sách Ve vãn Sài Gòn là một, chỉ là một trong hằng triệu triệu con chữ, hàng ngàn trang sách nhằm lý giải điều đó. Sự lý giải nào cũng mang tính chủ quan. Không hề gì. Mà chính nhờ vậy, ta càng có thêm nhiều góc nhìn khác nhau. Ngay cả nhà văn Sơn Nam khi viết chuyên luận Người Sài Gòn vào năm 1988, ông khiêm tốn thú nhận: “Dòng đời cuồn cuộn, gặp tảng đá to, trở ngược, nhưng không tù đọng. Làm sao mô tả dòng sông đang chảy ra biển rộng? Làm sao ghi vài nét góp ý về phong cách người Sài Gòn - con người bình thường  - mà có thể làm hài lòng người Sài Gòn nhất là giới trẻ”.

Vậy Sài Gòn là gì khó lý giải đến thế?

Trong nghề viết báo đã nhiều lần tiếp xúc, trò chuyện với nhà báo Trần Bạch Đằng, y không thể ngờ vì sao tác giả Ván bài lật ngửa, khuôn mặt nghiêm nghị, ít cười lại có thể viết được một câu: “Sài Gòn nhìn lâu càng đẹp”. Câu thơ thô mộc. Giản dị. Không uốn éo, khoa ngôn nhưng lại rất thật và cũng rất đúng với tâm trạng của những ai đã từng đặt chân đến Sài Gòn.

“Sài Gòn nhìn lâu càng đẹp”.

Y vỗ đùi cái đét. Trời! Đúng quá! Đừng nhìn đâu xa, y nhìn vào chính y. Thời sinh viên mỗi lần về quê nghĩ hè, ăn Tết mà nghĩ đến lúc phải khăn gói vào lại Sài Gòn là y thở dài sườn sượt cứ như sắp bị đày lên cung trăng. Ngao ngán thở dài bởi y phải mất thời gian làm quen lại với nhịp sống, sinh hoạt của Sài Gòn. Tưởng rằng khó có thể sống được nơi này, vậy mà bây giờ, lúc này, hiện nay đi xa Sài Gòn chỉ dăm ngày là y đã thấy nhớ.

Cái nhớ ấy mơ hồ chẳng rõ rệt gì. Khó có thể nắm bắt. Theo nhà văn Nguyễn Đông Thức là "Một nỗi nhớ mặn môi". Cuối cùng “để đêm đêm nhớ về Sài Gòn/ Thấy mình vừa trở lại quê hương / Đã gặp người một trời yêu thương/ cho lòng thêm chút ấm / Thấy bạn bè thèm ngồi bên nhau / Nhắc chuyện người chuyện đời thương đau / Tình chia trong đêm sầu”. Trầm Tử Thiêng đó ư? Nghe một lần trong một quán nhậu, đèn vàng mờ, chỉ bạn bè cũ, không ai nói giọng Sài Gòn. Ở đó, những khuôn mặt đã hằn vết nhăn bởi ngọn gió thời gian cày qua hơn nửa đời người. Bởi linh hồn từng đớn đau tình lạnh. Bởi ngăn tim từng chất ngất hạnh phúc tràn trề như suối nguồn hoan lạc của mộng mị ái tình không tính toán. Bởi từng quá yêu những con đường rong ruổi kiếm sống từng ngày lương thiện. Bởi bàn tay từng cầm những tờ giấy bạc đầm đìa mồ hôi của lao động chữ nghĩa, nhét vội vào túi, không thèm phải đếm. Bởi và bởi của muôn vàn lý do giống nhau lẫn dị biệt. Lúc ấy, y đã nghe một giọng ca khàn đục, chìm sâu, chìm sâu như từng viên sỏi nhỏ lăn chậm rãi xuống mộ phần và vọng lên từng chuỗi, từng giọt âm thanh khắc khoải. Phiền muộn. Rưng rức trong lòng. Bạn y hát đó. Một nhà thơ. Vậy thôi, chẳng cần phải nói gì thêm.

Thế là đủ cho một tình cảm sâu nặng dành cho Sài Gòn. Để rồi, sáng mai lên, trên các nẻo phố phường lại nhộn nhịp một sức sống mới. Sài Gòn là vậy. Buồn đó vui đó. Mưa trong nắng. Không bi lụy thở than. Không kèn đồng cho niềm vui và cũng không giọt buồn cho ly biệt...

Vẫn biết thế nhưng tại sao lại quá ít người viết về Sài Gòn?

Vì thế khi Chị Đẹp viết Ve vãn Sài Gòn lập tức đã dành được nhiều thiện cảm.

Bói Kiều là một thú vui tao nhã của người Việt. Chỉ người Việt mới có thú vui lạ lùng này mà bất kỳ người dân tứ xứ bốn biển năm châu nào khi quan sát cũng đều gật gù thèm thuồng: “Ước gì dân tộc mình cũng có thú vui này”. Đã từ lâu, y hay bói Kiều: “Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều cho con xem một quẻ về chuyện X, xin ứng vào những câu từ dưới lên (hoặc từ trên xuống), trang tay phải (hoặc tay trái)…”. Đêm nay, y không bói Kiều, y lật ngẫu hứng một trang Ve vãn Sài Gòn đọc lại một lần nữa. Tình cờ là trang 92, nguyên văn như sau:

“theo mùa năm tháng theo chủ trương theo ví tiền. Không có gì tồn tại mãi mãi như trước đây.

Có lẽ cô bạn Mỹ của tôi nói đúng, Sài Gòn không còn là nơi  để người ta trụ lại. Sài Gòn bây giờ chỉ là một nơi để người ta tụ lại mà thôi”.

Ngay dòng kế tiếp, nhà văn Nguyễn Đông Thức "comment":

“Từ ký ức, tôi có vài điều tiếc nhớ. Đường Lê Lợi ngày xưa có một chợ trời sách cũ góc đường Công Lý (Nam Kỳ Khởi Nghĩa) bên phía Sài Gòn Center bây giờ. Thì thôi đủ thứ sách xưa nay thượng vàng hạ cám, kể cả sách báo ngoại văn, giá rẻ bất ngờ - gom từ các trại lính Mỹ, ngày nào cũng tấp nập người lui tới (sau có dời ra đường Đặng Thị Nhu một thời gian). “Đường sách” mỗi năm làm một lần vào trước Tết như hiện nay ở đường Mạc Thị Bưởi luôn đông khách, rồi các hội chợ sách hai năm một lần vô cùng nhộn nhịp, có vẻ tiếp tục “truyền thống” và cho thấy nhu cầu rất lớn của người Sài Gòn trong thú vui lang thang tìm sách. Phải chi thành phố có quy hoạch hẳn một khu chợ sách cũ nhỉ?

Nguyễn Huệ thì có những kiosque bán hoa (ngày xưa tôi hay ra đây mua hoa tặng bạn gái), đồ lưu niệm, tiền xu, bưu thiếp… trên hai dãy tiểu đảo ngăn cách con đường chính và hai con đường phụ hai bên… Đều là những nét văn hóa đẹp.

Sài Gòn còn nổi tiếng với những hàng me hàng dầu trồng dọc hai bên đường từ thời Pháp. Những trái dầu quay tít bay trên đường Lê Quý Đôn, những trái me lúc lỉu trong nắng trên đường Nguyễn Du, Duy Tân…”.

Đã trích hết trang 92.

Chắc chắn những ai yêu Sài Gòn khi đọc Ve vãn Sài Gòn sẽ có hai cảm giác song hành về một Sài Gòn Hôm nay và Sài Gòn của thập niên 1960 thế kỷ trước. Sài Gòn của Hiện tại và Sài Gòn của Ký ức. Và thêm một cảm giác nữa là người đọc muốn gặp tác giả đặng tranh cãi chuyện này, chuyện nọ cho đỡ ấm ức hoặc muốn kể thêm vài chi tiết nữa như gửi gắm nỗi lòng đặng bổ sung của lần tái bản... Dù cảm giác gì đi nữa, có lẽ người đọc đều hài lòng bởi có một tác giả đã viết về Sài Gòn thay cho mình - "tác giả cũng thuộc loại… bà Tám có hạng!" như trong Lời nói đầu đã cho biết.

Chính vì thế, trang viết nhẹ nhàng trôi qua và đọng lại nhiều cảm xúc khác nhau. Cảm xúc ấy được chia qua nhiều chương khác nhau: Sài Sòn, Nhớ Sài Gòn. Vẽ Sài Gòn, Sài Gòn ở, Tiếng Sài Gòn, Xuống phố, Sài Gòn ăn, Giọt Sài Gòn, Đêm Sài Gòn. Noel Sài Gòn, Đàn ông Sài Gòn, Ve vãn Sài Gòn. Vỏn vẹn trong 182 trang sách và kết thúc bằng câu viết thăng hoa thâm trầm và kín đáo:

“Có nhũng thứ không để tìm hiểu, chỉ để chấp nhận và hòa vào. Sài Gòn là như thế. Mãi mãi là một người tình để mình ve vãn, không bao giờ thuộc về mình.

Vì Sài Gòn có ký độc quyền cho một ai đâu”.

Muốn viết thêm đôi dòng nữa nhưng đêm đã khuya. Nên thôi. Dừng bút. Chợt hình dung ra khuôn mặt gày gò của người bạn thơ đêm khuya nọ đã hát: "Thấy bạn bè thèm ngồi bên nhau / Nhắc chuyện người chuyện đời thương đau / Tình chia trong đêm sầu”. Đọc sách của một người là đã ngồi bên tác giả quyền sách đó. Vậy hóa ra trong nhà y có hàng ngàn người bạn thân quý vậy sao? Đặt cẩn thận quyển Ve vãn Sài Gòn lên kệ sách, y mỉm cười và thấp thoáng ngoài xa đã nghe tiếng mèo ăn đêm, tiếng chó sủa trong hẻm sâu vắng mà gờn gợn tê tái khi sực nhớ một người sắp đi xa. Lòng buồn rười rượi. Y bảo với y như thế và tự trả lời:

Vâng, đêm đã khuya...

"Tình chia trong đêm sầu”.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 18.6.2013

 

 

Đã có thể thở phào nhẹ nhỏm. Bởi đã xong các động tác cần thiết để có thể công bố kết quả Cuộc thi thơ Lời tỏ tình đầu tiên trên Facebook. Đọc khoảng gần 10 ngàn bài thơ để chọn lấy vỏn vẹn 115 bài. Cứ như sắc thuốc bắc. Mà đã xong đâu. Còn phải viết một bài nhận xét từ cuộc thi này để in vào tập thơ tuyển sẽ phát hành trong buổi trao giải. Các khâu chuẩn bị khác đã xong. Từ giấy mời, địa điểm trao giải đến kế hoạch in ấn…

 

ngay-nha-bo-21.6.2013

 

Khép lại công việc để đi ăn trưa với Benthanh Group. Họ mời nhân dịp 21.6. Đi trên đường loáng thoáng nghĩ vu vơ. Đã từ lâu y có thói quen là ngẫm nghĩ về một cái gì đó lúc đi đường. Chẳng để làm gì. Chỉ để thấy đoạn đường ngắn hơn. Có thể là một tứ thơ chợt đến. Lẩm nhẩm từng câu. Thuộc câu này rồi tiếp tục đến câu kia. “Viết” từng câu trong óc. Lúc ấy, chọn cách "làm thơ" theo thể truyền thống. Vần, nhịp điệu của các câu sẽ níu nhau. Câu này níu câu kia. Bền chặt. Không rơi tuột. Khó quên. Và lúc đến nơi chỉ cần lật trang giấy ra ghi lại là xong. Biết như thế để thấy rằng, dù có cách tân bao nhiêu đi nữa, người yêu thơ vẫn nhớ thơ có nhịp điệu nhiều hơn. Trưa nay,  y nghĩ vu vơ: Trên đời này, điều khiến con người ta luôn áy náy là khi một ai đó đối xử với mình tốt quá mà mình lại cứ ầu ơ ví dầu. Lại nghĩ, cách trả thù hay nhất trên đời này là hãy tha thứ. Chính sự khoan dung ấy sẽ giết dần giết mòn kẻ thù trong nỗi ăn năn, ân hận từ ngày, từng giờ. Tha thứ kẻ thù cũng là tha thứ chính mình. Lòng nhẹ nhàng và thanh thản bởi đã trút gánh nặng luôn phải mang theo trên đường đời.

Y không có kẻ thù và cũng không thù ai. Chỉ có tình bạn. Và tình yêu.

Sực nhớ, vừa đọc câu trả lời thật hay của anh Bồ Câu trong mục Vườn Hồng của báo TN chủ nhật vừa rồi. Hỏi: “Tình yêu và tình bạn khác nhau ở chỗ nào hở anh Bồ Câu”. Trả lời: “Có vô số điểm khác nhau giữa tình yêu và tình bạn. Nhưng điểm khác nhau đáng nói nhất là: Với một một người bạn tráo trở ta sẳn sàng nghỉ chơi, nhưng với một người yêu tráo trở có khi ta vẫn chết mê chết mệt, không cách gì chia tay được”.  Chuyện này, y thấy đúng như vậy. Y đã từng. Thuở ấy, "trẻ con" thật. Mà đứa trẻ nào lại không say đắm đến mức mê muội về một chuyện gì đó? "On n'est pas sérieux, quand on a dix-sept ans". (Người ta không thể nghiêm túc khi mười bảy tuổi). Câu thơ này của thi sĩ Athur Rimbaud.

Trên đường đi, y nghĩ về địa điểm ra mắt sách của Chị Đẹp.

Quái lạ, cả Sài Gòn rộng lớn thế này lại không có một chỗ nào “cho ra hồn” có thể tổ chức những buỗi ra mắt sách mới. Thông thường là các quán cà phê hoặc các nơi bán sách, nhưng nơi ấy đều chật chội quá; hoặc không thích hợp cho một cuộc giao lưu văn hóa, từ sách. Đố ai có thể tìm ra được địa điểm nào, nhất là ở khu vực trung tâm Sài Gòn; hoặc chỉ quanh quẩn ở Quận 3? Quá khó. Cuối cùng, y chọn được quán cà phê Trung Nguyên ở 6 A Đồng Khởi.

Họp mặt ngày nhà báo, lúc y đến nơi vẫn gặp những gương mặt cũ. Nay có thêm nhiều người mới. Cuộc sống cứ thế trôi đi. Ông bà ta hay thật, nói cái gì cũng đúng. “Được ăn, được nói, được gói đem về”. Có thế, người được mời mới hả hê, hài lòng. Đọc lại phóng sự của nhà văn bậc thầy Ngô Tất Tố, y cảm nhận điều này một cách sâu sắc. Khi các “đàn anh” chè chén ngoài làng, dứt khoát phải có cái gì đó đem về chia phần cho con cháu ở nhà. Có khi chỉ một miếng xôi chỉ đủ chọi chim, không hơn không kém nhưng vẫn phải có. Muốn hiểu giai tầng ăn trên ngồi trốc ở nông thôn Việt Nam lúc bệ rạc, đổ đốn nhất dứt khoát phải đọc lại Ngô Tất Tố. Có lẽ nỗi ám ảnh khủng khiếp nhất của dân tộc Việt ngàn năm thủy, hỏa, đạo tặc vẫn là miếng ăn chăng? Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan hoàn toàn có lý khi ông viết trong Nhà văn hiện đại: “Miếng ăn đối với dân Việt Nam to vô cùng, to về đường tinh thần, vì về đường vật chất, nó cũng không lấy gì làm to lắm, nó chỉ bằng đầu ngón tay thôi”.

Ủa, tại sao lại nói chuyện này. Bởi tính y nó thế, hay nghĩ linh tinh. Trưa nay ngồi ăn món xôi gà ngon quá. Tự nhiên lại nhớ đến nhà văn Ngô Tất Tố. Vậy thôi. Đã vậy, thôi thì, cứ hãy xem cách chặt thịt miếng gà giữa làng qua ngòi bút Ngô Tất Tố:

“- Băm thịt gà cần phải dao sắc, thớt phẳng. Nếu mà dao cùn thớt trũng thì thịt sẽ bong hết da!

Vừa nói, hắn vừa với sang thúng đĩa lấy đủ chục chiếc, bầy la liệt trên mặt thềm. Thằng nhỏ đã xách lên đó chiếc thớt mới nguyên, sắc gỗ nghiến còn đỏ đòng đọc. Nhanh nhảu, hắn sờ ngón tay vào lưỡi con dao, xem có bén không. Và hắn lật cái trôn bát liếc luôn ba lượt thật mạnh. Bấy giờ mới giở đến bộ lòng gà. Mề, gan, tim, phổi, các thứ đều được thái riêng và được bày riêng vào một góc đĩa. Tuy nó mới chỉ một dúm cỏn con, nhưng trong mười đĩa không đĩa nào thiếu một thứ nào. Rồi hắn nhấc cả con gà ra thớt. Bắt đầu chặt lấy cái sỏ, sau mới chặt đến miếng phao câu. Thình lình thấy hắn đứng lên ngoảnh mặt vào phía mấy ông đàn anh:

- Thưa trình các cụ, hôm nay sỏ gà pha mấy? Phao gà pha mấy?

Một ông trong bọn nhìn qua vào đám nhiều tuổi, hình như để đếm đầu người, rồi đáp:

- Ở đây chỉ có năm cụ và bốn ông đàn anh. Vậy thì sỏ gà pha năm, phao gà pha bốn.

Hắn lại ngồi xuống chỗ cũ. Trước hết ghè dao vào giữa hai miếng mỏ gà để cắt cái sỏ ra làm hai mảnh.

Rồi hắn úp cả đôi mảnh xuống thớt, chặt mảnh mỏ dưới làm đôi và mảnh mỏ trên làm ba. Tôi không biết những miếng thịt gà này có đều nhau không, chỉ thấy tất cả năm miếng, miếng nào cũng có dính một tí mỏ. Tiếp đến cuộc pha phao câu. Công việc tuy không lấy gì làm khó, nhưng hắn làm cũng vẫn có vẻ khác người. Bốn miếng phao gà, miếng nào cũng có đầu bàu, đầu nhọn, chẳng khác nào một cái chũm cau chẻ tư. Sỏ gà bày vào một đĩa, phao gà bày vào một đĩa. Hắn lại cắt lấy hai chiếc cánh gà, chặt luôn làm hơn mười miếng và bày với đôi chân gà làm thêm một đĩa nữa. Bây giờ thì đến mình gà. Hắn lách lưỡi dao vào sườn con gà, cắt riêng hai cái tỏi gà bỏ góc mâm.

Rồi lật ngửa con gà lên thớt, hắn ướm dao vào giữa xương sống và giơ dao chém luôn hai nhát theo chiều dài cái xương ấy. Con gà bị tách ra làm hai mảnh. Mỗi mảnh đều có một nửa xương sống. Một tay giữ thỏi thịt gà, một tay cầm con dao phay, hắn băm lia lịa như không chú ý gì hết. Nhưng mà hình như tay hắn đã có cỡ sẵn, cho nên con dao của hắn giơ lên, không nhát nào cao, không nhát nào thấp. Mười nhát như một, có khi chỉ lên khỏi mặt thớt độ khoảng một gang, và cách cái ngón tay hắn độ vài ba phân. Tiếng dao công cốc đụng vào mặt thớt, nhịp nhàng như tiếng mõ của phường chèo, không lúc nào mau, cũng không có lúc nào thưa. Mỗi tiếng cốc là một miếng thịt gà băng ra. Miếng nào cũng như miếng ấy, đứt suốt từ xương đến da, không còn dính nhau mảy may. Trông những miếng thịt gà của hắn bốc ra góc mâm, mới đẹp làm sao! Không giập, không nát, không bong da, nó giống như tập cánh con bươm bướm. Nếu để trước môi mà thổi, có thể bay được mười thước.

Băm xong con gà, hắn móc túi lấy một nắm tăm. Mỗi miếng thịt gà, hắn xâu cho một cái tăm vào giữa. Rồi hắn cắm vào mâm xôi. Cứ mỗi tảng xôi là bốn xâu thịt. Thịt vừa hết, xôi cũng vừa kháp. Té ra cái mình con gà, hắn đã băm được 92 miếng. Lăng Vân cười và hỏi tôi:

- Anh đã chịu nghề băm thịt gà của ông Mới làng tôi chưa? Nhà hắn ba đời làm cái nghề ấy, thì mới thạo được như thế. Người khác dễ ai làm nổi!

Tôi chịu lắm. Và tôi muốn dâng cho ông Mới ấy cái chức nghệ sĩ”.

Cụ Ngô Tất Tố quan sát quá giỏi và viết quá giỏi. Lại sực nhớ chừng mươi năm trước ăn thịt gà ở làng Định Công. Làng này sát làng gốm Bát Tràng, cách một đường lộ. Nhờ đi lang thang trong buổi chiều tà. Nắng nhạt. Mỏng như tơ. Khói đồng nghi ngút xanh. Mỏng như gió. Mùi rơm rạ thơm lên bóng nắng. Nhờ vậy mới viết được câu thơ: "Gạch Bát Tràng mát lạnh / Mang giày đi sao đành". Miếng thịt gà chặt to. Nhìn no nê con mắt. Và gợi lên một cảm giác thèm thuồng. Muốn nhai ngấu nghiến. Rất bản năng. Tuấn bảo: "Tên làng Định Công là Hai Bà Trưng đặt, do đã có công trong cuộc kháng chiến chống giặc Hán". Có lẽ nhờ chi tiết hư thật này mà bữa ăn hôm ấy ngon miệng hơn. "Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời". Đã lâu lắm rồi, không ngồi ăn chung với Tuấn. Hôm ra Phan Thiết, anh em cũng muốn gọi con gà xé phay ăn chơi nhưng khu resort chỉ bán thức ăn đông lạnh đã qua kiểm dịch nên đành chịu. Đành ăn con dông. Ăn và nhớ đến truyện ngắn Mùa dông lại về của nhà văn Đoàn Thạch Biền. Trong đó không có câu phương ngữ mới nghe lần đầu và ghi lại trong sổ tay: "Nhất đầu thỏ, nhì mỏ dông". Câu này không thể có ở vùng miền khác, ngoài Phan Thiết, Bình Thuận... chăng?

Trưa hôm nay, y ăn uống no say, cũng hát hò và chơi sổ số. Vui vẻ. Thân tình. Ấm áp. Vẫn là điệu nhạc boléro. Mà trong nhiều cuộc nhậu hiện nay, hát gì thì hát, hò gì thì hò, cuối cùng cũng phải boléro. Tiếng vỗ tay tán thưởng không ngớt. Có người nhắc đến nhà báo Võ Như Lanh, dù anh vắng mặt. Nhắc vì câu nói của anh: “Đừng chê nhạc boléro. Những người ăn mày, ăn xin họ kiếm sống là từ loại nhạc này đó”.  Ngẫm nghĩ anh Lanh nói như thế là sòng phẳng. Vậy mà nói đến boléro, không ít  “trí thức” bĩu môi, phồng mang trợn mắt miệt thị phũ phàng rằng thì là “sến’, “mari sến”…

Về đến nhà đã trưa trật rồi. Cũng ngủ. Dậy, check mail và từ chối tham gia talkshow Tôi bình luận phim vào chiều mai. Chia sẻ cảm về phim Ván bài lật ngửa chung với diễn viên Thương Tín. Bận nên không thể. Làm sao thể được bởi chiều mai sách của Chị Đẹp chính thức đưa từ nhà in về NXB Trẻ. Y nôn nóng quá. Cứ như sách của y vậy. Đoàn Tuấn gọi điện thoại cho biết đang viết, được chừng 1 phần 3 tập sách Trung đoàn viễn chinh. Nhận lời viết Tựa cho tập sách này. Trung đoàn viễn chinh là tên của Tuấn gọi E 29 mà y và Tuấn đã gắn bó cả một thời trai trẻ. Thời ấy, nhìn cuộc đời qua nòng súng thép vẫn thấy trời xanh vời vợi. Yêu đời và thèm được sống. Thèm được trở về nguyên vẹn. Từ chân tay đến linh hồn. “Trả súng đạn này khi sạch nợ sông núi rồi, anh trở về quê, trở về quê tìm tuổi thơ mất bao năm…”. Tuấn hát thầm qua điện thoại. Mấy chục năm trước trong khu rừng khộp ở Anlungveng, y và đồng đội đã hát. Nghe rưng rưng. Và vọng lên một niềm hy vọng mãnh liệt của ngày ra quân, sẽ đến...

Có phải nhạc boléro đó không?

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký bis 17.6.2013


Sáng nay đi dự kỷ niệm 10 năm ngày mất nhà thơ Thu Bồn. Cũng là dịp phát hành tập sách Thu Bồn - Tráng sĩ hề… dâu bể (NXB Hội Nhà văn) của nhiều tác giả. Địa điểm là tòa nhà Bitexco Financial Tower  (số 2 Hải Triều, Q.1). Chỗ gửi xe lòng vòng lèo vèo dưới tòa nhà. Cam đoan đi một lần là lần sau hết dám đến, bởi nơi gửi xe nhiêu khê quá.

 

thu-bon

 

Buổi họp thân mật, ấm cúng do nhà phê bình Ngô Thảo chủ trì. Có người vợ đầu tiên, vắng mặt người vợ cuối cùng. Có Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Duy, Trần Hữu Tá, Nguyễn Văn Hạnh, Bùi Chí Vinh, Phạm Sỹ Sáu, Ngô Thị Kim Cúc, Phan Hoàng, Trần Hoàng Nhân… và nhiều gương mặt quen thuộc khác của làng văn nghệ, báo chí Sài Gòn. Có mấy ý kiến đáng lưu ý: Tại sao chưa có sinh viên nào làm luận văn nghiên cứu về trường ca của Thu Bồn? Đến nay, các nhà thơ hiện đại, chưa có ai vượt qua Thu Bồn về thể loại này. Thu Bồn là người đứng đầu bảng (GS Nguyễn Văn Hạnh). So với nhiều người khác, Thu Bồn hoàn toàn xứng đáng được Giải thưởng Hồ Chí Minh (Ngô Thảo). Nhiều ý kiến phát biểu về tính cách tráng sĩ, chân thành chí cốt với bạn bè của Thu Bồn (Nguyễn Duy, Bùi Chí Vinh, Trần Hữu Tá, Nguyễn Tiến Toàn, Thu Nguyệt…).

Y nghĩ rằng, những năm cuối thế kỷ XX dân Quảng Nam có hai người chịu chơi là Bùi Giáng và Thu Bồn. Đáng nể nhất là họ dám sống trọn vẹn với những gì họ đã nghĩ. Viết đúng cảm xúc. Không nói một đàng viết một nẻo. Đa phần, chúng ta uốn éo quá, khôn lỏi quá mà cũng láu cá quá. Cứ sợ mất lòng người khác. Luôn e dè rào trước đón sau. Phải diễn nhiều hơn. Chẳng dám đưa cái mặt thật ra dưới nắng mặt trời. Nếu có cũng ít hoặc chừng mực...

Trong cuộc họp mặt này, y đã phát biểu như những gì y đã viết về Thu Bồn trong tập Người Quảng Nam. Đại khái y nhắc lại vài kỷ niệm khi uống bia ở 81 Trần Quốc Thảo, có lần Thu Bồn nói rằng, trong thơ ca Việt Nam hiện đại vẫn còn quá ít những câu thơ mang tầm vóc nhân loại, nghĩa là khi dịch ra bất cứ thứ tiếng nào trên thế giới thì dân tộc nào cũng đều cảm nhận, chia sẻ được tính tư tưởng trong câu thơ ấy. Trong giây phút ngẫu hứng của cơn say ngất ngưỡng, Thu Bồn đã đứng dậy và đọc câu thơ của Xuân Diệu minh họa cho cái ý vừa phát biểu một cách hào sảng:

Trái đất - ba  phần tư nước mắt

Đi như giọt lệ giữa không trung

Khi tham gia bài viết Nhớ “người vắt sữa bầu trời” in trong tập sách Thu Bồn - Tráng sĩ hề… dâu bể, y muốn nhấn mạnh về giai thoại câu lục bát  nhảm nhí: “Thật lạ, không rõ do duyên cớ gì, trong những lần trò chuyện, tôi thường nghe anh bình luận về thơ trung niên thi sĩ Bùi Giáng với mọi sự trân trọng. Và ngược lai, ở Bùi Giáng cũng thế, ông thường bảo đó là người “biết chơi”. “Chơi” hiểu theo ngôn ngữ trầm phù của Bùi Giáng chắc đa nghĩa lắm chăng? Với hai thi sĩ nổi tiếng cũng là niềm tự hào của Quảng Nam, tôi không rõ từ đâu, lâu nay trong lúc trà dư tửu hậu thiên hạ thường bảo rằng mấy câu lục bát nhảm nhí, lảm nhảm rẻ tiền này là của Bùi Giáng “trêu” Thu Bồn, đại loại: “Thu Vân ngồi cạnh Thu Bồn”. Nói như thế, tin như thế là ngốc nghếch và cũng chỉ là suy nghĩ của những kẻ tầm thường khi léng phéng đến với thơ, mon men bước gần đến những thi sĩ chân tài như Bùi Giáng, Thu Bồn…” (tr. 262).

Một con người như Thu Bồn chắc có nhiều giai thoại văn nghệ. Nếu ai đó chịu khó ghi chép lại ắt là tập sách hay. Có những mẩu chuyện mà y còn nhớ,đại loại lần nọ Thu Bồn tình cờ gặp Bùi Giáng trong cơn mưa tầm tã ở ngã tư đường Nguyễn Tri Phương - Lý Thường Kiệt (TP.HCM). Thấy ông rét run, Thu Bồn đưa bộ quần áo bộ đội cho ông thay và đùa: “Bùi tiên sinh cứ tự nhiên cởi truồng ra thay quần áo cũng được”. Không ngờ Bùi Giáng bảo: “Cái đó không phải... thơ để lúc nào cũng bày ra được”!

Lại nghe kể, sinh thời Thu Bồn có dáng cao to như con gấu, tiếng nói nói âm vang như hổ. Lần nọ, vào mùa đông rét thấu xương, ở cơ quan anh (tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, số 4 Lý Nam Đế - Hà Nội) ai nấy đang chìm vào giấc ngủ, bỗng có tiếng động. Nhanh như sóc, Thu Bồn vùng dậy lao ra. Trước mặt mình là tên ăn trộm gầy còm, ăn mặc rách rưới, trên mặt còn nhiều vết xước do vướng dây kẽm gai lúc “nhập nha”, đang đứng run như cày sấy. Thu Bồn mềm lòng, anh lặng lẽ bước vào nhà, lấy đưa cho bộ quần áo cũ.

Lại nghe kể, măm 1973, nhà thơ Thu Bồn được giải thưởng Lotus của Hội Nhà văn Á - Phi. Với số tiền thưởng tương đương 2.000 USD, anh trích ra một ít chiêu đãi bạn bè. Ngày ấy, bạn bè quốc tế đến dự và chúc mừng anh đông lắm, có nhà thơ Ximônốp, tiến sĩ Nicolin, Eptusenkô v.v... Sau vài chén rượu thân mật, nhà thơ  “bốc” hẳn. Và khi bước lên diễn đàn nhận giải, anh cao hứng bỏ bài diễn văn viết sẵn, ứng khẩu luôn mấy câu thơ:

Có người bảo Mạc Tư Khoa vô cùng to lớn

Nhưng tôi bảo Mạc Tư Khoa vô cùng bé nhỏ

Có những mối tình con người ôm không xuể

Thì làm sao có thể bảo tôi yêu Mạc Tư Khoa vô cùng thân thiết vừa đủ gọn một vòng tay?

Tôi vừa ôm vừa siết

Mơ trong lòng và yêu ở trong tim...

Sở dĩ  thế vì lúc ấy, ngồi cạnh anh có cả cô Jania phiên dịch nữa. Khổ nỗi cô ấy rất xinh đẹp nên Thu Bồn hào hứng  là phải “đạo”. Đúng tính cách của anh.

Còn đây là giai thoại mà sáng nay, y mới biết: Nhà văn Đoàn Minh Tuấn kể rằng khi phái đoàn nhà văn Việt Nam làm hồ sơ sang Mỹ tham quan, sứ quán Mỹ thẳng thừng từ chối Thu Bồn. Đơn giản vì anh không có một tờ giấy lận lưng từ hộ khẩu đến chứng minh nhân dân! Sau Hội Nhà văn Việt Nam phải có công văn can thiệp nên mọi việc mới ổn thỏa. Nếu đúng thế, Thu Bồn quả là tay chơi bạt mạng giang hồ!

Sáng nay, nhà thơ Bùi Minh Quốc cũng đến dự. Qua phát biểu, giọng nói ấy vẫn da diết, tha thiết và chân tình khi trình bày vài cảm nghĩ về một người mà ông gọi là “bậc đàn anh” và rất tâm đắc với câu thơ Thu Bồn viết từ thời kháng chiến: “Hỡi những người nô lệ đừng quên / Tôi là bộc phá viên!”. Sực nhớ lúc dự Đại hội Nhà văn Việt Nam lần VIII từ ngày 4 đến ngày 6.8.2010 tại Hà Nội, giọng nói của Bùi Minh Quốc còn âm vang và khỏe khoắn hơn nhiều. Ấy vậy mà đến lúc “cao trào” nhất, đột nhiên Chủ tịch đoàn rung chuông thông báo… nghỉ giải lao! Mọi người ùa ra khỏi trường như ong vỡ tổ. Tiếng nói của anh trở nên lạc lõng. Rơi trong vô vọng. Tương tự trước đó, nhà thơ Trần Mạnh Hảo cũng phát biểu hăng hái, xăng xái và đang oang oang, bỗng dưng... micờrô câm tịt! Vậy cũng xong.

Trưa, sau hội thảo, anh Ngô Thảo mời mọi người ngồi lại nhậu lai rai nhưng y về nhà.

Về cũng vì một lời hứa với P.T.N của DDVN. Phải có bài gấp cho số tới mà mấy hôm nay du hí Phan Thiết, y chưa viết kịp. Không riêng gì nghề báo, nghề nào cũng vậy thôi, nếu lười biếng, trễ hẹn thì lần sau chẳng có ma nào đặt bài nữa. Nghĩ thế, y lại cày tiếp đến 15 g rồi bước xuống nhà ăn trưa. Con cá bống kho tiêu. Ngon ơi là ngon. Chiều, ngoài trời có mưa lai rai. Đi đến một quán cà phê sẽ tổ chức ra mắt tập Ve vãn Sài Gòn của Chị Đẹp nhưng y không hài lòng nơi ấy. Để mai tính.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 17.6.2013

 

Nếu có một điều ước, y sẽ ước điều gì? Chỉ có thể là làm sao trong một ngày thời gian sẽ dài gấp đôi. Xem kìa, mỗi sáng, lúc 7 giờ, y đã ngồi vào bàn làm việc. Trước hết là check email, đọc, reypy. Rồi lướt web đọc linh tinh lang tang thông tin mới. Loay hoay một chút đã hơn 8 giờ. Giật mình. Nhanh chóng thoát khỏi xa lộ thông tin. Bắt đầu chăm chú vào công việc của một ngày. Đang gõ phím ngon lành, bỗng tin nhắn rủ ăn sáng. Mười lần như một. Vẫn phở bà Dậu. Ngồi tán ngẫu một lúc, nhìn đồng hồ, đã hơn 9 giờ. Vào cơ quan mới đứng lên, ngồi xuống đã đến giờ cơm trưa. Trưa y về nhà cơm nước, ngủ nghĩ, thức giấc đã hơn 14 giờ. Chưa kịp làm gì đã xế chiều.

Những ngày này, bao nhiêu công việc buộc y phải làm cho xong. Không chần chừ nữa, Trễ hạn rồi. Tự ý thức phải lao động mẫn cán như Chí Phèo lúc rạch mặt ăn vạ ở nhà Bá Kiến, phải nôn nóng tranh thủ diễn nốt vai tuồng hài với tâm trạng bi đát như Kép Tư Bền, y lao đầu chúi mũi “cày” như điên. Bất chấp thời gian. Bỏ ngoài tai lời mời những cuộc nhậu có chân dài váy ngắn.  Tâm thế của y đang tựa mũi tên đã thoát khỏi cung và vun vút lao về phía trước. Đã sắp đến đích rồi. Ủa? Y làm gì mà ghê gớm thế? Ừ, cũng là chuyện viết lách xì xằng gì đó.

Đột ngột, có một bàn tay nhỏ nhắn thơm tho, quyến rũ vỗ vai y và thỏ thẻ nhỏ nhẹ như hơi thở: “Em muốn đi nghỉ mát”. Trời! Có mà điên! Đang vắt giò lên cổ với công việc đây! Y cáu quá muốn mắng một câu cho hả, cho nhẹ người. Rồi ra sao cũng mặc. Phiền toái quá đi mất. Định há mồm ra vặt lại một câu thật hiên ngang, thật dũng cảm cho đáng mặt đàn ông, ấy vậy mà chỉ trong nháy mắt y đổi giọng ngay. Y nhũn như con chi chi. Mềm như cọng bún. Rất hiền lành, tử tế, xum xoe y như Thúc Sinh lúc từ giả nàng Kiều quay về nhà gặp Hoạn Thư: “Vâng ạ! Anh lúc nào cũng chiều em”.

Thốt xong câu nịnh nọt ấy, y hả hê quá, sung sướng quá nhưng vẫn lại lao đầu làm nốt những gì đang dang dở. Được thêm gì hay nấy. Khuya, y thức đến 1 giờ sáng bởi sáng mai sớm lên tàu lửa, y sẽ tranh thủ ngủ bù. Chẳng sao cả. Y thầm động viên y “Dân chơi sợ gì mưa rơi”.

 

SaigonRailroadStationRRR

 

Sáng sớm. Tiếng còi tàu rền rã vang lên. Người đi kẻ ở mới nhộn nhịp làm sao. Y phơi phới như tuổi mười bảy của lần hẹn hò thứ nhất. Lần thứ nhất thoát khỏi công việc để phiêu du đến một nơi có mây trời, sóng biển, núi non và không gian yên tĩnh.

Y hăng hái dẫn nàng tìm toa số 1. Lúc ấy, y  vui vẻ, hào hứng trong tâm thế của câu thơ mà giao thừa năm nọ, bạn y, nhà thơ Nguyễn Thái Dương đã nhắn tin:

Trăm nghìn mồng một, mồng hai

Cũng không sánh nổi một giây giao thừa

Làm sao có khoảng thời gian nào thăng hoa tình ái, thú vị thơ mộng hơn lúc này, bởi nàng sắp đi xa đến những vài tháng. Vậy thì tha hồ lênh đênh trong cõi mộng và thực như Đường Minh Hoàng du nguyệt điện…

Thế nhưng, vừa bước lên toa, ném bịch cái va ly xuống ghế, nàng đã nước mắt vắn dài, nức nở như đứa trẻ đang cầm miếng bánh vừa định đưa vào miệng đã bị ai đó giật mất trên tay. Y hoàn toàn không hiểu mô tê ất giáp bính đinh mậu kỷ canh tân nhâm quý gì sất. Y chỉ biết nàng khóc ngon lành. “Anh không nhớ mấy hôm nay em đau lưng à? Anh nghĩ em thế nào mà mua vé hạng này?”.

Hạng này là hạng nào?

Là hạng “ghế cứng” rẻ tiền nhất, không máy lạnh, chỉ có quạt máy kêu rò rò như lão già ho lao thở khò khè lúc nửa đêm thanh vắng. Thì đã sao?

Y sực nhớ thời sinh viên, cái vé hạng sang nhất của y là vé “tàu chợ”. Người và súc vật chung một toa, không có băng ghế. Tất cả đều đứng, nằm, ngồi chung một sàn. Vậy có chết ai đâu? Nàng càu nhàu: “Sao anh không mua toa có “ghế mềm”, hay là…”. Vừa tức tưởi đến đó, nàng ngập ngừng giây lát, hít sâu hơi thở vào ngực cho khỏe khoắn rồi tiếp tục cẳn nhẳn: “Hay là anh tiếc tiền?”.

Y biết trả lời ra làm sao?

Đã lâu lắm rồi, y không đi xe lửa. Khi xếp hàng, người ta đưa vé gì y nhận lấy chứ không hỏi cụ thể gì thêm. Mà cái tính của y nó thế. Có để ý gì đâu. Lúc lãnh lương cũng vậy, y hoàn toàn không thể nhớ là mỗi tháng nhận tiền lương cụ thể bao nhiêu. Trong đầu y không có chữ “cụ thể”. Lần nọ bạn thơ Phan Hoàng mời y sáng sớm đến dự ra mắt Hội quán Pysa của đồng hương Phú Yên và cho biết nó ở đường Cộng Hòa Tân Bình “gần maximark”. Lúc ấy, trong đầu y chợt liên tưởng maximark ở gần Lăng Ông Bà Chiểu. Vậy là đến ngày hẹn, y phóng xe về phía chợ Bà Chiểu và đỏ mắt đi tìm...

Tính y lơ tơ mơ đến thế. Nàng lại không hiểu thế.

Vậy là bao nhiêu chuyện trước đây của y được nàng kể ra vanh vách, không sót một chi tiếc nhằm chứng minh cho câu nói chắc như đinh đóng cột: “Hay là anh tiếc tiền?”. Nàng đòi quay về. Phải dỗ dành mãi. Mất luôn cái buổi sáng không thể chợp mắt mà y đang thèm ngủ. Y bèn giết thời gian bằng cách quan sát lại cái vé tàu hỏa. Bấy giờ,  y mới nhận thấy người ta ghi trên vé kỳ cục thật: “Ghế cứng” sao không ghi “Ghế gỗ, máy quạt”; “Ghế mềm điều hòa” sao không ghi “Ghế nệm, máy lạnh”? Có dễ hiểu hơn không? Nghe đến "Ghế mềm điều hòa" y cam đoan trong 1 triệu người thì đã có đến 999, 9 người nghĩ ngay đến... bệnh viện Từ Dũ. Loay hoay một lúc, y mở máy đọc tin nhắn vừa đến: "Anh đi về đi. Em không hủy phòng được. Em phải đi. Nhưng em không muốn thấy mặt anh". Đọc tin nhắn này, y biết tỏng tâm lý của nàng và bật cười khoái trá...

Đường sắt Việt Nam bây giờ đã sạch sẽ hơn trước, đỡ nhốn nháo hơn. Thế nhưng nó vẫn chạy cà rịch cà tang đến sốt ruột. Sài Gòn - Phan Thiết: 4 tiếng đồng hồ!

Cuối cùng, cũng đến resort Poshanu. Chuyện gì sẽ xẩy ra? Xem hồi sau sẽ rõ.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.6.2013


Đáng tiếc. Thật đáng tiếc.

Y không thể thỏa mãn lời mời khẩn thiết của người bạn, người em trong dòng tộc mời cà phê sáng, ăn trưa và lai rai tâm tình cho bõ những ngày không gặp mặt. Thật tình y cũng muốn, nhưng rồi không thể. Ngày thứ Bảy và Chủ nhật là ngày của riêng y. Ngày thiêng liêng của bất kỳ ai làm công việc nhà nước. Suốt một tuần chạy như ngựa ngoài phố, tiếp nhận hầm bà lằng mọi thứ thông tin thì cuối tuần họ cần yên tĩnh. Hướng nội. Tìm về bản ngã của chính mình. Tĩnh tâm soi gương nhìn lại gương mặt mình. Nằm yên lắng nghe hơi thở mình. Lâu nay mình đâu có thở, chỉ là những sự vận động theo thói quen. Lúc ấy,  y ngại đọc tin nhắn và nghe điện thoại. Dẫu là thông tin cho biết trúng số độc đắc.

 

me-le-minh-quoc-va-DT-quan

Mẹ Lê Minh Quốc và nhà thơ Đỗ Trung Quân (chụp tại nhà Quốc khoảng năm 2004)

 

Ngày ấy, được vật lộn với một mớ sách trong nhà, quét cái này dọn cái kia, chăm cái cây, lau cái nhà, gõ bàn phím… Hoàn toàn tự do. Không vướng bận thời gian. Ngày chủ nhật, bao giờ mẹ y cũng rụt rè bước lên gác, chỉ đứng phía sau lưng y, hỏi khẽ: “Trưa, ăn cơm không để mẹ nấu ?”. Hỏi xong, nhón chân bước xuống. Cứ như thể là con trai mình đang làm công việc cực kỳ quan trọng. Cực kỳ trọng đại. Mà thật ra y có làm gì ra hồn đâu, cũng chỉ là viết dăm mớ chữ kiếm cơm mỗi ngày. Vậy mà mẹ y không dám quấy rày, dẫu là một tiếng động nhỏ. Lặng lẽ bước xuống bếp.

“Trưa, ăn cơm không để mẹ nấu ?”. Y biết rằng, câu hỏi này sẽ không còn dài. Một ngày nào đó y sẽ không còn nghe nữa. Sẽ không còn vọng bên tai y những lời trìu mến, ân cần, tha thiết vậy nữa. Mẹ y đã già rồi. Y cũng chẳng còn trẻ gì nữa. Y sợ thời gian. Thời gian không đủ cho y lao vào những cuộc vui thâu đêm suốt sáng với men say khật khưỡng trong âm nhạc và phấn son và những ảo tưởng vô bờ bến. Ấy vậy mà y cũng phải về. Chừng mươi năm trước, trong quán Dòng Thời Gian, y vụt chạy trước sự ngỡ ngàng của mọi người cũng bởi:

Chẳng có gì níu kéo anh rời khỏi cơn mê

Ngoài một điều duy nhất

Mẹ

Vâng, mẹ tựa cửa mẹ hiền lành mẹ nhẫn nại như đất

Chờ anh về từ lúc chiều đã khuất...

Lạ thật, với người đàn bà, thuở bé mỗi ngày mở cửa cho ba đi làm thì lúc về già thói quen ấy vẫn y nguyên. Chỉ có khác là mở cửa cho con. Rồi cẩn thận khép cửa và mong con bình yên trở về. Lúc nhỏ, mở cửa cho ba đi làm, nói: "Trưa/ chiều ba đi làm về nhớ mua quà nghe ba". Nay mở cửa cho con, không nói gì nhưng sâu thẳm trong ánh mắt ấy là sự lo toan, nhắn nhủ: "Trưa/ chiều nhớ về sớm nghe con". Có những lúc, đã khuya, y về nhà trong cơn say rũ người, mềm oặt như tàu lá chuối chỉ chực ngã vật ngã nhào xuống đất nhưng chợt tỉnh như sáo khi nghe câu hỏi đang ngáy ngủ: “Q về đó hả?”. Chỉ vậy thôi. Chỉ một câu hỏi của mẹ.  Y cảm thấy  có lỗi quá. Y thầm hứa ngày mai sẽ không còn nữa. Ngày mai y sẽ ngoan hơn. Ngày mai sẽ... Ngày mai ấy chẳng đến bao giờ.

Từng ngày, mẹ y nấu cho y ăn và luôn biết tâm sự buồn vui trong thâm tâm y khi chỉ cần nhìn qua mâm cơm. Dù không hỏi, mẹ y không dám hỏi y nhưng chắc chắn thắc mắc trong đầu: "Vì sao lại bỏ cơm?". Nếu hỏi, y sẽ trả lời ra làm sao? Chẳng thể. Giữa mẹ và con ít có lúc chuyện trò tâm sự. Do đó, có những lúc khốc liệt đớn đau: “sầu tình cơm chẳng muốn ăn / đã bưng lấy bát lại dằn xuống mâm”, y cũng phải cố nuốt. Cho trôi qua cuống họng. Dẫu mệt mõi. Dẫu rã rời. Cũng phải cố nuốt. Đã có những cuộc liên hoan tràng giang đại hải những sơn hào mỹ vị chỉ thiếu mỗi gan trời nhưng y cũng phải lặng lẽ tìm cách thoái lui để về nhà. Về nhà ăn cơm mẹ nấu. Niềm vui của người đàn bà lúc về già, tưởng rằng, chỉ có thế. Khi chưa có chồng, thương cha mẹ, lo cho chị cho em; lúc có chồng lại lo toan cho chồng, cho con. Tấm lòng người mẹ vĩ đại quá. Đừng quên, với người mẹ, con là số một, chồng chỉ đứng vị trí thứ hai.

Tình cờ hôm nọ đọc được câu tục ngữ, thấy lạ: “Mười mặt con không hẳn là chồng”. Ăn đời ở kiếp với nhau không hẳn do hai người đã có con. Nếu cần, họ chỉ giữ lại con mà quên phứt đi cái lão chồng cà chớn, lang chạ kia… Với con thì không bao giờ, dẫu nó hư hèn nhất. Thật lạ, nếu chồng léng phéng có con rơi, con rớt thì người đàn bà sẽ đem con về nuôi chăng? Vì ít ra đó là cũng giọt máu của chồng mình? Đừng hòng, những lúc ấy chỉ có thể cuốn gói sang nhà khác. Vậy mà nếu con mình "lỡ dại" làm chuyện "ngoài luồng" ấy, lập tức người mẹ sẽ dang rộng tay ngay bởi đó là cháu nội của mình, giọt máu của con trai mình. Và y, câu hỏi: “Có đi đâu không? Mẹ nấu cơm”. Chắc hẳn sẽ không còn kéo dài nữa. Mẹ y đã già rồi. Bạn y, nhà thơ Đỗ Trung Quân viết:

Khi gai đời đâm ứa máu bàn chân

mấy kẻ đi qua

mấy người dừng lại?

Sao mẹ già ở cách xa đến vậy

trái tim âu lo đã giục giã đi tìm

Y nhận ra rằng, lũ chúng ta ai ai cũng nhìn thấy được điều giản dị và vĩ đại ấy, từ mẹ. Dăm năm trước, y đã viết trong sổ tang của người bạn mất mẹ. Cũng là viết cho chính y đấy thôi: "Vẫn còn có mẹ":

 Không gì bất hạnh hơn khi ta cài trên ngực đóa hồng

để suốt đời nhớ mẹ

dù thế nào ta cũng là đứa trẻ

một đứa trẻ cô đơn

suốt đời cô đơn

khi đã xa vòng tay của mẹ

lời kinh Phật là lời chia sẻ

nén nhang thơm đến tận cõi niết bàn

hương huệ thơm mênh mang

khiến ta buồn muốn khóc

mẹ tảo tần suốt một đời cực nhọc

để nuôi ta hoàn thiện trở thành người

trên đường đi, ta đã gặp hoa tươi

gặp tiếng cười, gặp niềm vui hạnh phúc

là lúc ấy mỗi ngày mẹ bạc tóc

âu lo nhìn theo mỗi bước ta đi

ta lớn lên xa vòng tay của mẹ nhu mì

ta xa những ngày mẹ một mình tựa cửa

ta đâu biết trong từng hơi mẹ thở

vẫn trái tim độ lượng gọi ta về

vẫn ân cần giọng nói

gọi tên ta ngay cả lúc ngủ mê

vẫn từng đêm chờ đợi

đợi ta về...

lúc ta quay về, mẹ đã đi xa

mẹ về hư không, mẹ về mây trắng

ta đã khóc bởi trong lòng trĩu nặng

muốn gọi mẹ ơi nhưng gọi đến bao giờ?

mẹ vẫn về trong mỗi lúc ta mơ

chở che cho ta trong đời thường mệt nhọc

đêm nay uống từng lời kinh Phật

ta ngước lên trời thấy từng giọt mưa rơi

giọt mưa rơi trên môi

mặn như nước mắt

ta đã nhủ lòng ta đừng khóc

sao vẫn còn đau nhói phía trái tim?

xin mẹ ngủ bình yên

trong cuộc đời ta vẫn còn có mẹ

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 8.6.2013

 

Đêm qua ngủ sớm. Y tự nhủ phải ngủ thật sâu. Đẫy giấc. Sáng mai, ngày thứ bảy, có thể yên tâm ngồi lì trong nhà để làm việc. Sớm thật sớm. Gà gáy ò ó o. Y thức dậy. Tâm trạng y chuẩn bị leo dốc lúc gõ bàn phím. Một ly cà phê theo thói quen. Từng giọt đen đang mơn trớn đáy ly. Màn hình máy vi tính đã sẵn sàng. Bàn tay vừa gõ xuống phím, bỗng nghe cái “phựt”. Một âm thanh lạnh lùng. Màn hình tối đen như cái tiền đồ của chị Dậu.

Cúp điện.

 

lmq-truong-nmahuong

Từ trái: Nhà thơ Trương Nam Hương - Lê Minh Quốc

 

Tếch ra đường. Lại cà phê, đấu láo. Một buổi sáng không đến nỗi vô vị, nhạt nhẽo là nhờ gặp bạn học cũ: nhà thơ Trương Nam Hương; nhờ đọc một bài báo hay: “Kẻ đi săn” đa quốc gia và số phận thương hiệu Việt. Đã in trên báo Doanh Nhân. Trong đó có đoạn viết:

“Khi Tập đoàn unilever (Hà Lan) đặt chân vào Việt Nam năm 1995, họ đã đưa thương hiệu kem đánh răng P/S của Việt Nam vào tầm ngắm. Những năm 1990, P/S và Dạ Lan là hai tên tuổi nổi tiếng và đáng tự hào nhất do các doanh nhân Việt “mang nặng đẻ đau” sinh ra.

Lúc đầu, Unilever chơi bài thành lập liên doanh với P/S để cùng hợp tác khai thác nhãn hiệu này (chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu). Khi nắm được con mồi, kẻ đi săn không cần nấp trong lùm cây nữa mà công khai ý đồ thôn tính bằng chiêu bài hiểm: Làm cho liên doanh lỗ đến nỗi đối tác nội chịu không nổi và phải tự rút. “Cây gậy” mà họ sử dụng là đề nghị liên doanh thay vỏ kem đánh răng P/S bằng nhôm trước đó sang nguyên liệu nhựa.

Phía Công ty hóa phẩm P/S biết rõ mưu đồ này, song không làm gì được vì không thể “chạy đua vũ trang”. Kết cục, Unilever sở hữu nhãn hiệu P/S của Việt Nam. Tương tự, năm 1995 Công ty Colgate Palmolive (Mỹ) ngỏ ý muốn hợp tác liên doanh với Công ty Sơn Hải - chủ nhãn hiệu kem đánh răng Dạ Lan. Vẫn bài cũ, sau khi các thủ tục chuyển nhượng và thành lập liên doanh hoàn thành, việc sản xuất kinh doanh của Dạ Lan dần chìm sâu vào thua lỗ. Năm 1998, Tổng Giám đốc Sơn Hải là ông Trịnh Thành Nhơn dù đau đớn, nhưng cũng phải ngậm ngùi bán nốt 30% cổ phần trong liên doanh cho đối tác Mỹ do không trụ nổi với tình trạng liên doanh thua lỗ triền miên”.

Về Dạ Lan, thuở công ty này mới hình thành, tôi có nhiều lần đến với tư cách là PV bàoPN. Sau những lần trò chuyện, tôi viết truyện ngắn Luật chợ. Chất liệu là từ cuộc đời của anh Sáu Nhơn. Trịnh Thành Nhơn. Anh thấp người, da đen và dễ mến. Đã lâu lắm không gặp lại.

Nếu chỉ chọn trong vòng 100 năm, đâu là thương hiệu Việt còn tồn tại đến ngày nay? Đó là Xà bông Cô Ba? Nhà may áo dài Thiết Lập? Nhà in Tân Dân? NXB Mai Lĩnh? Nhà sách Khai Trí? Mô hình giáo dục Đông Kinh Nghĩa Thục? Xưởng đóng tàu Bạch Thái Bưởi? v.v…

Hầu như không có. 

Y ngồi ngẫm nghĩ mãi mà không thể tìm ra, dù đã cố gắng nặn óc với những gì đã đọc, đã biết. Do hạn chế của tư duy người Việt đó chăng? Là không có ý thức phát triển một ngành nghề gì đạt đến đỉnh cao và lấy đó làm niềm tự hào? Hay chỉ đến với ngành nghề đó chỉ vì lợi nhuận nhất thời, khi đã “đạt yêu cầu” thì sẵn sàng lao qua lãnh vực khác? Vậy cũng tốt, nếu là một thử thách về khám phá, sáng tạo nhưng tiếc thay cũng là do lợi nhuận trước mắt. Đừng nói đâu xa, cũng khó có thể tìm được ngành nghề nào “cha truyền con nối”, từ đời nọ sang đời kia.

Chương trình Hàng Việt Nam Chát lượng cao, theo y, công đầu thuộc về nhà báo Kim Hạnh, lúc chị làm tờ Sài Gòn tiếp thị. Vấn đề đặt ra là các sản phẩm được chứng nhận hiện nay đã như thế nào?  Chẳng lẽ sau khi có giấy chứng nhận, người ta “dẫm chân tại chỗ”; thậm chí chí lượng còn kém hơn trước? Trước kia, ông Vương Trí Nhàn đọc lại trước tác cổ nhân để làm chuyên luận in từng kỳ trên báo, đại khái, tạm gọi "thói hư tật xấu của người Việt". Nói một cách thời thượng là “Người Việt xấu xí”. Chẳng hiểu vì sao đến nay vẫn chưa ấn hành. Một dân tộc mạnh là dân tộc đó dám thẳng thắn nhìn nhận khiếm khuyết, hạn chế trong tư duy của dân tộc mình để từ đó, có hướng khắc phục, phấn đấu bằng người. Chứ cứ vỗ về nhau, ru ngủ nhau, bằng điệp khúc "rừng vàng biển bạc, nhân dân anh hùng, tài trí, thông minh v.v. và v.v..." ấy nghe mãi cũng chán. Đành rằng những mỹ từ ấy là cần thiết, là đúng nhưng vẫn chưa đủ trở thành động lực để dân tộc có điểm tựa phát triển. Chỉ khi nào nhìn ra khiếm khuyết, thừa nhận nhận khiếm khuyết ấy thì con người ta mới đủ dũng cảm và có định hướng để phấn đấu.

Bài báo này từ chuyện bàn về thương hiệu Việt, có câu hay: “Đó không chỉ là chuyện kinh doanh, phải coi đó là tinh thần dân tộc. Nếu không có tinh thần dân tộc tuyệt vời, người Hàn Quốc không bao giờ có thương hiệu quốc gia Samsung của họ. Người Nhật biết cúi đầu lịch thiệp trong giao tiếp, nhưng khi chạm vào tinh thần dân tộc họ chẳng bao giờ sợ hãi trước bất cứ tập đoàn đa quốc gia nào, mà luôn ngẩng cao đầu. Nhờ tính tự tôn dân tộc ấy mới có Sony, Honda, Toyota ngày nay”.

Chúng ta có thương hiệu gì?

Ngẫm nghĩ một lúc, chia tay bạn thơ Trương Nam Hương. Lại tiếp tục cà phê với nàng. Một buổi sáng cạn dần. Khi viết những dòng chữ này, tiếng kinh Phật từ ngôi chùa đối diện nhà lại vang đầy lên trong không gian. Chiều nào cũng đều như thế. Đều như vắt chanh. Nghe kinh Phật mỗi ngày mà lòng y chẳng thay đổi được chút nào.

Y còn sân si lắm.

Nếu không sân si, hơn hai mươi năm trước đố y có thể viết được những câu này để rồi đưa vào tập Tôi và đàn bà mà sáng nay nhật báo Sài Gòn Giải phóng đã có bài giới thiệu:

Tôi vắt kiệt tuổi thanh xuân ngây dại

Đêm nằm mơ da thịt của đàn bà

Là những diễn viên điện ảnh khỏa thân

Em đốt cháy tôi bằng cái nhìn bí ẩn

Tôi mê man trong cơn mộng du cùng lời cầu khẩn

Những chiếu chăn thơm hương tóc phấn son

Tôi nằm mơ động tình với mắt biếc môi ngon

Khi tỉnh dậy rùng mình như chết đuối

Tiếng kinh Phật vẫn vọng lên. Nhẹ nhàng. Thanh thoát. Ngoài trời đã sẫm tối. Một ngày đang cạn dần. Chưa kịp làm gì thì vòng quay của kim đồng hồ đã nghiến hết thời gian. Chẳng sao, chỉ biết rằng, y vẫn còn sân si lắm.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 7.6.2013

 

 

Có lời mời đi Huế, từ ngày 17.6 nhưng y từ chối.

 

PANOR

 

Thời mới vào nghề báo, y thích đi. Đi là được thoát ra khỏi cái phòng trọ chỉ đủ kê mỗi cái chỏng tre. Mỗi lần mưa là nước từ mái tôn rơi tong tả. Đi là thoát khỏi những bửa cơm trưa bụi bờ, nhai trệu trạo mà luôn mơ đến miếng thịt sườn. Xộc xệch ghế lề đường, mồ hôi túa ướt áo, ngựa xe ầm ầm, cắm cúi xuống dĩa cơm tênh hênh những cọng rau muống ẻo, nhũn. Chẳng khác gì thời sinh viên. Chính vì thế, bút danh Huyền Sương, y ký chừng hơn hai mươi năm nay, chỉ là bộc bạch cái thèm khát của ngày ấy.

Không thèm sao được. Cái ấn tượng đầu tiên của ngày đầu tiên khi bước vào phòng ăn ở ký túc xá, y vẫn còn nhớ như in. Trưa ấy, cả lũ xách bát đũa, muỗng xuống nhà ăn. Miệng y huýt sáo, dù bụng đang đói. Y hớn hở bởi sắp được ăn. Cửa phòng ăn chưa mở, ý đứng nhìn qua những vuông cửa kính trắng, đục và y nuốt nước bọt ngạc nhiên: “Ủa? sao nhà trường lại cho sinh viên ăn xôi đậu đen?” Quả thật, nhìn những thau cơm lớn trên mỗi bàn y thấy lỗ chỗ hạt đậu đen to đùng kia mà. Y cười thầm: "À! Có lẽ do nhân ngày khai trường nên sinh viên mới được bửa ăn đặc biệt này đây".

Thích quá! Sướng quá!

Ngay lúc ấy, nhân viên nhà ăn mở cửa phòng. Tất cả ùa vào! Bỗng y nghe rộn lên một âm thanh xẹt qua tai như tiếng máy bay vừa lướt qua. Trời ơi! Cả hàng ngàn con ruồi bay ào thoát ra ngoài. Ruồi ngã loạng choạng vào mắt, mũi, miệng. Y tối tăm mặt mũi. Lúc ngồi vào bàn, cứ tám người quanh một bàn tròn, bấy giờ mới phát hiện trong tô canh lỏng bỏng vài cọng rau muống đã có những con ruồi dũng cảm đã cảm tử, quyết tử đến hơi thở cuối cùng. Dần dà, y quen đi. Bạn bè y cũng quen đi. Gặp ruồi, cứ vớt ra và hất bẹt xuống đất. Rồi tiếp tục ăn. Rất hiên ngang. Rất phong thái. Rất phong lưu như Hàn nho phong vị phú của cụ Nguyễn Công Trứ:

Ngày ba bữa, vỗ bụng rau bịch bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no;

Đêm năm canh, an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ.

Thời trẻ, y thích đi phỏng vấn. Gặp được nhân vật là có bài. Nay,  y ghét nhất thể loại này. Mất thời gian săn đón, tìm kiếm, hẹn ngày giờ với nhân vật. Mà nhiều khi nhân vật trả lời chẳng ra gì đâm ra phí câu hỏi. Bài trả lời phỏng vấn nhạt như nước ốc. Ngược lại y cũng ghét luôn nhà báo đặt câu hỏi ngớ ngẩn lúc phỏng vấn y, khiến y cáu. Đã thế, họ ghi chép nhiều lúc không đúng ý, bài in lên, đọc lại cũng cáu. Cách tốt nhất, y trả lời qua email cho rõ chữ nghĩa. Mà cái thông lệ tệ hại của nền báo chí ta, người trả lời phỏng vấn chẳng được trả một xu nào.

Cái chuyến đi ra Huế là tham dự ra sách Gửi tình trên sóng của nghệ sĩ Ngọc Lan. Lúc qua Mỹ, y có ở nhà con trai của chị chừng ba ngày. Tập sách này, y biên tập kỹ từ bản thảo. Đọc và thú vị. Chị vừa mail hình ảnh pano quảng bá cho ngày ra mắt ách. Đoạn trích trên pano là từ lời Bạt y đã viết: "Thật ra cuộc đời của mỗi người đã là một tiểu thuyết. Có những tình tiết, những lớp lang khác nhau mà chung quy lại, họ phải diễn, phải sống cho trọn vẹn đoạn trường của một kiếp người. Những buồn vui, hoan lạc, căm thù, đau đớn…, dù từng người có khác nhưng cũng đều là chất liệu để hình thành nên tính cách và số phận con người đó.

Ở nghệ sĩ Võ Ngọc Lan, khi đọc tác phẩm này, ta thấy hiện lên rõ nét nhất vẫn là nhân vật Duyên của những tháng ngày bươn chải vì chồng, vì con - một đức tính ngàn đời thủy chung của người phụ nữ Á đông. Bên cạnh đó, Duyên còn chấp nhận những ngọn roi của tình ái chạm đến vào nỗi đau của thân phận làm vợ, làm mẹ. Vượt lên trên những hỉ, nộ, ái, ố của trần gian muôn mặt vẫn là một phụ nữ tự tin, bản lĩnh và kiêu hãnh bước vào dòng đời xuôi ngược bằng đôi chân và tấm lòng giàu nghị lực".

Lẽ ra đêm nay, đi xem chương trình nhạc Jazz “Five Play Jazz Concert” tại nhà hát Hoà Bình. Vậy mà ở nhà. Đọc quyển Ngàn năm áo mũ của Trần Quang Ðức vậy. Tác giả sinh năm 1985, làm được quyển sách này thật đáng nể. Câu này, đáng lưu ý: "Điểm nổi bật thú vị nhất là người Việt trong hàng nghìn năm đã nhuộm răng đen và đi chân đất. Chính vì vậy, biến cố lớn nhất trong lịch sử trang phục Việt là vào năm 1744, khi chúa Nguyễn xưng vương và biến đàng Trong thành một vùng lãnh thổ độc lập so với đàng Ngoài, đã bắt toàn bộ quan lại và dân chúng phải đi giày dép" (Trần Quang Đức).

Cái nghề nghiên cứu nó thế, để viết được một câu có tính chất khẳng định, đưa ra một phát hiện gì mới hoặc một tổng kết nào đó người ta phải đọc cả hàng trăm quyển sách. Mà đã xong đâu. Còn tranh luận chán.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 45 trong tổng số 48

trinhduyson