LÊ MINH QUỐC: Nhật ký bis 27.5.2103

PDF.InEmail

 

Sau vài cuộc điện thoại từ hôm qua, sáng nay đến nhà nhạc sĩ Phạm Đăng Khương. Đến, trao đổi câu hỏi: Đã có karaoke ca nhạc, sao ta không làm karaoke thơ? Một ý tưởng hay. Đến, mới biết anh đã có hẳn một phòng thu âm, đầy đủ các công cụ kỹ thuật hiện đại dựng phim, sử lý hình ảnh... Riêng về phim đã quay anh cho biết đang lưu trữ đến 1.500 GB và phân loại theo từng chủ đề. Một dung lượng khổng lồ của một cá nhân chứ chẳng đùa.

 

le-giang

 

Hỏi vì sao anh có thể làm được công việc của một đạo diễn, nhà quay phim, xử lý âm thanh v.v… Câu trả lời chỉ là, vì quá say mê nên tự mày mò học. Nghĩ lại thấy đúng. Người ta chỉ có thể thành công khi mê hết mình, tận tâm, tận lực cho một công việc đó. Mấy năm trước, ra Hà Nội gặp nhà thư họa chữ Hán số 1 Việt Nam là cụ Lê Xuân Hòa, cụ bảo: “Từ thời trẻ cho đến nay, tôi học và viết chữ Hán mọi lúc, mọi nơi. Ngay cả khi ngồi quán chè nước đầu ngõ, tôi cũng viết trên mặt bàn. Lấy ngón tay mà viết. Viết theo đường nét mà mình đang nghĩ trong đầu. Khi đi bộ, ngón tay này lại viết trong lòng tay kia. Nhờ vậy mau thuộc mặt chữ mà cũng là cách rèn chữ”. Những chi tiết này, tôi nhớ là có đưa vào trong bài báo in PN. Cụ tặng viết nhà báo Hữu Thân chữ Đức nay vẫn còn; tặng tôi bài thơ Hoàng hạc lâu, đã mất.

Có ai, sáng thứ hai đầu tuần chỉ ngồi nghe thơ, xem những video clip về thơ và bàn chuyện về thơ? Tôi vào phòng thu đọc bài thơ Còn lại những mùa hè.  Lại nghe ca sĩ hát bài thơ này mà anh Khương đã phổ nhạc. Sực nhớ lại thời mới về báo PN. Khi đi lấy tài liệu ở Bình Chánh, tình cờ tạt vào một trường phổ thông tránh nắng, sân trường vắng hoe, chỉ mỗi hoa phượng đỏ rực khiến cảm xúc có thơ.

Đến cơ quan nhận được thư của nhà thơ Lê Giang. Đó là tờ báo TTCN số 9.10.1994 có in trang thơ của Q. Lập tức trong đầu nhớ đến nhà văn Nguyễn Đông Thức. Chuyện như thế này, sau khi tập thơ Tôi vẽ mặt tôi bị phê phán từ Nam chí Bắc, ngày nọ, gặp nhau trong công viên báo TT, anh nói, đại ý: “Q gửi ngay cho anh một chùm thơ. Để người ta có cái nhìn khác về Q. Chứ cứ như tình trạng này là gay...”. Anh vốn kiệm lời, nói ít, chỉ nói thế, chẳng hứa hẹn gì. Cách nói này, có lần anh Nguyễn Thế Truật nhận xét “nói như cóc cắn”. Y hiểu, sự phê phán đang có của dư luận sẽ hoàn toàn bất lợi cho y, sau này. Dù không có văn bản, nhưng lúc đó Fahasa phát hành tập thơ cũng bị thu hồi lặng lẽ. Sau này đến nhận tiền ký gửi sách mới biết. Đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Còn nhớ, trường hợp Đêm mặt trời mọc của Nguyễn Quốc Chánh. Chỉ một cú điện thoại là chẳng  tờ báo nào dám in thơ của Chánh nữa. Chánh học chung lớp, ở chung phòng ký túc xá với y. Sau cú đó, Chánh đã khác. Rất khác. Sự lo lắng và quan tâm của anh Thức, đến giờ tôi vẫn chưa quên. Lúc ấy, chưa thân tình như bây giờ mà anh đã có sự cư xử hết sức đàn anh. Đọc kỹ lời anh giới thiệu: "Ba bài thơ sau đây cho thấy Lê Minh Quốc đang trở lại với cách nói ít nhiều đã mang phong cách của riêng mình: giản dị, giàu tình cảm". Ba chữ "đang trở lại". Chỉ ba chữ thôi. Cảm động. Lật ở trang 2, mới nhớ lúc ấy anh giữ chức Thư ký tòa soạn. Nay, đọc lại chùm thơ trên tờ báo cũ do nhà thơ Lê Giang gửi tặng lại bồi hồi. Thời gian vùn vụt trôi qua như chỉ chớp mắt.

 

le-giang-2

 

Trước khi quen với chồng nhà thơ Lê Giang thì tôi, Trương nam Hương, Cao Xuân Sơn... đã quen với con gái cả cô. Chị Việt Nga. Sau, chị Nga là vợ của Sơn. Đã mất. Quen vì thỉnh thoảng bọn y đến báo Khăn Quàng đỏ gửi thơ thiếu nhi cộng tác, những mong được in dể có ít tiền nhuận bút. Thời sinh viên đói kém quá. Rồi sau nhiều lần gặp gỡ, trò chuyện, y có viết bài thơ tặng nhà thơ Lê Giang, in báo SGGP số chủ nhật 30/11/1986. Cái tựa “Tìm ngọc ở quê mình” là mượn lấy cụm từ của cô.

Con đi tìm ngọc ở quê mình

Thả xuồng trôi trên dòng kênh Tám Cốc

Chiều không sương sao ứa thầm nước mắt

Nghe câu mẹ hò da diết đến nôn nao

 

"Hiu hiu gió thổi vườn đào

Thấy người có nghĩa tui muốn chào làm quen"

Hò ơ… dài như cánh lúa mông mênh

Hò ơ… lạc giữa bóng chiều tàn ngọn gáo

 

Hoa điên điển trôi về đâu nếu trời giông bão

Ngọc quê mình chìm nổi ở nơi đâu?

Mẹ hò lên - rồi bỏm bẻm nhai trầu

Câu hò vỗ mạn xuồng nên xuồng chao sóng nước

 

Con đi tìm ngọc ở quê mình và con tìm được

Gương mặt mẹ già đôn hậu rất quê hương

Là cây trái thơm tho mọc ở miệt vườn

Là câu hò quý người nhân, người nghĩa

 

Cầm chén cơm ăn bấy giờ con thấm thía

Những câu hò như máu chảy trong con

Nuôi con lớn - quý như là ngọc

Dạy con làm người phải biết nghĩa biết ơn


Lúc ấy, vợ chồng nhà thơ Lê Giang - Lư Nhất Vũ bắt đầu tiến hành công việc sưu tầm dân ca, lý, hò, vè…  Nam bộ. Những tập sách này y đều có đủ. Công trình này rất có ý nghĩa về giá trị văn hóa cho hiện tại và đời sau. Đời người chỉ cần làm một việc hữu ích vậy là đủ, huống gì đôi vợ chồng này còn làm biết bao việc khác nữa. Hôm ra mắt sách của nhà văn Trần Thị Ngh, y biết chị là em ruột của nhà thơ Lê Giang.

Nay vợ chồng cô Lê Giang đã chuyển ra sống ở Phan Thiết. Thỉnh thoảng nghe réo điện thoại: “Q ơi! Cô đang đứng trong tiệm sách, thấy sách của em, cô có mua một cuốn nè”. Nghe cảm động quá trời. Đấy! Sách của cô Lê Giang, cuốn nào y cũng được tặng, đến khi mình có sách lại quên lửng tặng lại. Y tệ thật.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 27.5.2013

PDF.InEmail

 

26.5.2012

Trái đất tròn. Không ngờ vé đi xem chương trình À ố show là do Linh tặng Nàng. Linh là người đưa Q đi thăm quan Hà Lan do công ty sữa Campina tổ chức. Đi về và viết Du lịch của người câm. Nhờ chuyến đi này mà quen với Lê Ngọc Thịnh. Nàng nhắn tin, bảo đi xem văn nghệ ở Nhà hát lớn. Nàng bảo đi là đi, nàng giục đến là đến. Phải đi dù trời đang lất phất mưa mà nếu nàm dài trên giường đọc Liêu trai chí dị thì sướng quá.

 

ve-a-o-show

 

Mấy mươi năm viết báo mảng văn hóa văn nghệ, nay nghe đến chuyện xem ca nhạc ca nhiếc, kịch kiếc, xiếc… là tôi chẳng mấy hào hứng. Đi rồi mới biết, đã bỏ một khoảng thời gian hoàn toàn có ích. Chương trình À ố show đang diễn tại Nhà hát lớn TP quá hay. Hay đến độ cứ nghĩ rằng, đã lâu lắm mới được xem những người làm nghệ thuật công phu, yêu nghề đến thế. Ủa? Sao lâu nay mình chẳng biết gì? Bèn tìm trên mạng: “À ố show là sản phẩm thứ hai của nhóm tác giả: Tuấn Lê (đạo diễn), Nhất Lý (đạo diễn âm nhạc), Nguyễn Lân (chỉ đạo nghệ thuật) và Tấn Lộc (biên đạo múa)”.

Chỉ với nia, thúng, cây tre… dân dã và “nhà quê” các nghệ sĩ trẻ đã làm nên một câu chuyện lý thú, sống động của đời sống nông thôn Việt. Sân khấu không thay đổi nhiều. Gần như cố định. Chỉ có ánh sáng, màu vàng hoặc ánh đỏ luân chuyển và thay đổi theo từng tình huống. Diễn viên không nói. Hầu như im lặng. Chỉ đôi lần cất lên giọng ngâm “Trong đầm gì đẹp bằng sen…”, từ phía hậu trường; hoặc vài câu vọng cổ. Choáng ngợp sự thẩm âm của người nghe là các dụng cụ đàn cổ truyền, lúc réo rắt, lúc vui nhộn, lúc thầm kín, lúc khoan thai, lúc rộn rã… Vậy thôi. Không gì nhiều.

Xem mới thấy, chỉ với vài đạo cụ ấy, dàn diễn viên trẻ đã thể hiện tài nghệ múa, xiếc với tất cả sự tài hoa và cảm xúc thăng hoa thật sự. Họ không diễn. Trên sàn diễn, họ đã sống.  Sống trong tâm thế của những người nông dân yêu lấy cái đẹp của ánh trăng của “cái cò lặn lội bờ sông”, của làn điệu dân ca như thực như mộng, của những lúc điệu chèo khoan nhặt câu ca tình tứ... Qua những tung hứng tuyệt vời từ đạo cụ đã có, dù ít, nhưng liên tục mở ra những động tác mới, hình ảnh mới để dẫn cảm xúc người xem đi từ trạng thái này qua tâm trạng kia. Quá giỏi.

 

a-o-show3RR

 

Áy là phần 1.

Sau khi rời nông thôn, những người trẻ ấy “hội nhập” vào đời sống đô thị. Bắt đầu cho cảnh ấy là một chuyến xe buýt được cách điệu. Rồi những cảnh nhảy hip hop, nhửng lúc cúp điện, đang tắm lại hết nước… Những tình huống của đời sống thành thị mà ai cũng gặp, cũng thấy. Ấn tượng còn ở chỗ khi từ radio phát lên: “Đây là Đài Tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ thủ đô Hà Nội…” thì tiếng giã chát chúa vẫn vọng lên. Tôi hiểu, do mải mê với đời sống thường nhật, kiếm cơm từng ngày nên đôi lúc con người quên béng luôn cả thông tin thời sự hằng ngày.

Nếu phần 1 là sự sâu lắng về nội tâm thì phần 2 có nhiều tiếng cười hơn. Nhộn hơn. Vui hơn. Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ rằng, đây là chỗ chưa “tới” của vở diễn bởi tất cả những động tác ấy, những hình ảnh ấy chưa phản ánh được sự dằn xé, “va đập” của người nông dân khi tiếp cận với xã hội của đô thị hóa. Phần này còn mờ nhạt. Chưa có những tình huống khắc họa sâu hơn, ấn tượng hơn mà chỉ mới dừng lại miêu tả bên ngoài.

Chỉ trong vòng 60 phút vở À ố show đã đem lại cho người xem cảm giác ấy, dù chưa đầy đủ nhưng đã là một thành công rực rỡ. Cuối vở diễn và trong vở diễn đã nhiều tràng pháo tay vang lên không ngớt. Tại sao vỗ tay? Tự thân khán giả buộc họ phải như thế. Và tôi cũng thế. Đã lâu lắm mới được chìm đắm trong một không gian của nghệ thuật đặc sắc như thế này, lòng y vui mừng và muốn rằng, người khác cũng sẽ có được niềm vui ấy. Vui bởi ở đó đã tái hiện lại lòng biết ơn từ năm tháng gian khó đã nuôi mình khôn lớn.

 

 

27.5.2013

Trưa qua viết đến đó là vắt giò lên cổ chạy ra TN và ăn trưa với nàng. Phải viết dù vừa xong cho TGPN, mệt ngất ngư. Viết bởi nghĩ đến cái vé mời của Linh và chuyến đi Hà Lan. Nếu Linh không mời thì chẳng thể có Du lịch của người câm, chẳng thể có tình thân với Thịnh. Phải viết. Như nhắc lại lời cám ơn với Linh dù chẳng biết cô ấy đóng vai trò gì trong vở này.

Ăn trưa là một chỗ ngồi ở Đồng Khởi. Trong phòng máy lạnh và ngoài trời gió mát. Lại tiếp tục trao đổi về À ố show. Nàng bảo: "Vở này còn có cái lợn cợn một chút là các cô gái mặc yếm, trong khi đó là con người và con người của không gian văn hóa Nam bộ". Mình bảo, không sao cả. Miễn là nó Đẹp". Nàng cãi, sao không Đẹp và Thật? Cuộc trao đổi kéo dài, kéo dài quanh vấn đề này. Cũng lý thú. Mỗi ngày là một câu chuyện trao đổi trên trời dưới biển.

Chiều đi nhậu lai rai. Nhà người anh, người bạn chí cốt. Cũng những gương mặt cũ. Anh B đã tặng cho một chồng tạp chí trước 1975. Một đứa trẻ khi nhận quà, vì quá thích món quà đó quá, nó sẽ không mở ra xem ngay mà đặt cẩn thận ở nơi nào đó và đến lúc cần thiết nhất mới tận hưởng một mình. Cảm giác của Q hôm qua cũng thế. Đã say. Đã ngất ngư. Khuya về vẫn lật từng trang Văn, Văn học, Tin văn… Đọc loáng thoáng. Vuốt ve từng trang sách. Cho đã thèm. Viết những dòng này như lời cám ơn đến anh B.

Sáng thứ hai. Lật tờ PN, cảm nhận về vở À ố show trong nhật ký ngày hôm qua đã in.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 25.5.2012

PDF.InEmail


Sáng qua đến trung tâm bản quyền âm nhạc, chỗ nhạc sĩ Đinh Trung Cẩn nhận tác quyền thơ phổ nhạc. Không nhiều và cũng không thường xuyên. Khi vài trăm ngàn, lúc vài triệu xem như tiền trên trời rơi xuống. Hoay hoay lại đến hạn viết cho TGPN. Tình cờ gặp nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên. Anh người Huế, rất dễ thương. Phải chữ “rất” để cảm nhận về anh.

“Đêm nay, đêm nay có thuyền em đi / Thuyền trôi nhanh đến nơi đầu sông / Đường đêm lấp lánh sao trời / Mà em vui vững lòng đi tới / Mong ước sao được thấy người…”. Ca khúc này của anh viết trong thời đấu tranh của SVHS tại đô thị miền Nam, nhiều người còn nhớ. Q thích nhất là chữ “người”. Thời ở KPC nhiều lúc thèm được nghe tiếng người, nhất là trong đêm khuya thanh vắng, lúc nào cũng sẳn sàng súng trên tay và cái chết luôn lén lút, rập rình. Những lúc ấy, mấy anh em chụm đầu quanh cái radio nghe âm thanh vọng ra. Nghe để mà nghe, dù là chương trình phát tiếng nước ngoài. Thèm nghe tiếng nói. Vậy thôi.Nghe để thấy quanh mình vẫn có người, không đơn độc.

Chiều qua đi ăn với Nàng ở Annam. Uống một chái rượu đỏ. Sau qua Xu lại uống tiếp chai nữa. Q nói, ca khúc Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao lẽ ra phải là: “Từ đây, người biết quên người”, chứ “Từ đây, người biết quê người” thì chẳng có gì để bàn cãi nữa. Quên người? Tại sao không? Ca khúc này viết ngay sau ngày hòa bình, thống nhất thì "biết quên người”. Y nghĩ, cũng là quên thù hận, quên những gương mặt của thù hận để hòa hợp, hòa giải của giang san đã thu về một mối. Quên đi cái cũ, để bắt đầu một cái mới hoàn toàn. Chữ “quên" nó đa nghĩa hơn, đa tầng và cũng sâu hơn trong suy tưởng của người nghe.

Khuya về say quá. T.H.Nhân réo điện thoại đòi tới.  Và đêm qua quên luôn cả đường về.

Lúc làm trưởng ban VHNT của báo PN mình đã từng đặt anh Nguyễn Phú Yên viết nhiều bài về âm nhạc. Anh luôn đúng hẹn, khiêm tốn, hòa nhã. Lúc bấy giờ anh làm biên tập và “tỉnh táo viên” của báo TT. Cái chức danh “tỉnh táo viên” nghe lạ. Đó là người đọc lại toàn bộ tờ báo (hoặc một phần) sau khi tờ báo đã xong, đã hoàn chỉnh, trước lúc đem in. Người đọc phải tỉnh táo để kịp thời phát hiện ra những cái lỗi dù nhỏ nhặt nhất, từ dấu chấm, dấu phảy đến câu cú. Sự cẩn trọng này giúp cho tờ báo tránh lỗi sai sót, dù rất nhỏ. Không rõ làng báo trước 1975 có chức danh này không?

Có những người làm thơ mà trước đây lúc mới chập chững viết, mình ngưỡng mộ, dù lúc ấy chỉ đọc loáng thoáng. Nghe nói rằng, anh A, B, C… trước đây có thơ in Văn, Khởi Hành, Văn Học, Tuổi Ngọc… có tập thơ này, thơ kia đã in. Chỉ biết vậy là quý, là cảm mến và phục tài. Rồi khi làm báo, mình đã gặp hầu hết những tên tuổi này và cũng là chỗ thân tình. Nếu chỉ vậy thì hay quá. Nào ngờ, một ngày đẹp trời họ in tập thơ mới. Đọc mới bẽ bàng làm sao, ủa, thơ thế này ư? Thất vọng quá. Nếu đừng in thì lòng cảm phục của mình vẫn còn. Đọc xong, đã cạn. Chỉ còn lại sự cảm mến. Cái nghề viết nó thế, đã không còn viết hay như xưa thì đừng viết nữa. Cũng giống như gái đẹp. Gái đẹp lúc đã già, đã xấu thì đừng ỏng ẹo xuất hiện trên sàn diễn, trước đám đông nữa.

Trăm năm tình cũ lìa không hận

Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng

Câu thơ Đoàn Phú Tứ, quá hay. Nàng cung nữ kia lúc không còn nhan sắc như xưa quyết không cho vua xem mặt. Vậy mà hay. Vua xem chỉ thất vọng. Hình ảnh đẹp đẽ trong tâm trí sẽ tan tành mây khói. Y đã có cảm giác ấy khi nhận những tập sách của người này, người nọ... Nói thì nói vậy, nhưng cũng đâu dễ. Biết đâu khi về già, dù viết chẳng ra gì nhưng mình vẫn kéo rê lê thê lếch thếch thì sao? Cơm áo gạo tiền nó bó buộc thì sao?

Lại những tên tuổi ấy, trong mắt mình thời bé, họ là cả một sự “sang trọng” bởi xuất hiện trên các tờ báo mà mình ước mơ chỉ được một lần in nơi ấy. Vậy mà, bây giờ lại thấy cái tên họ xuất hiện chình ình trên những tờ báo “lá cải”. Theo Q, “lá cải” là tờ báo mà người ta không dám đem về nhà, vì sợ con em mình không đủ sức đề kháng với mật độ dày đặc của thông tin “cướp, giết, hiếp, tình, tù, tội”. Ngộ độc như chơi. Những tờ báo này họ mời mọc nhưng mình chẳng thể cộng  tác được, dù chỉ kiếm tiền bằng nghề viết. Sống bằng mỗi cái nghề này.

Sáng thức dậy, trước lúc đi ăn sáng vào Facebook đọc linh tinh. Tìm đươc cái ảnh thời mình giao lưu với bút nhóm Vòm Me Xanh của báo MT. Ảnh này minh họa cho bài Hãy là con kiến hiền lương in MT số 757 - 17/11/2006. Chẳng biết trong số này có ai còn tiếp tục viết nữa không?

 

SV-muc-tim

Giao lưu với các cây bút Vòm me xanh (2006)

Sáng, Tô điện thoại: “Trưa có về ăn cơm không để bà nội nấu”. Còn có gì hạnh phúc, sung sướng hơn không? Khi ở với vợ hoặc người tình, bỏ nhà đi qua đêm nếu nàng biết được chỉ còn cách cuốn gói, cút xéo ra khỏi nhà. Với mẹ lại không. Mẹ thao thức chờ đợi cả đêm để sáng mai lại lụi cụi nấu cơm cho thằng con lêu têu. Miếng cơm ấy, người mẹ lo từ lúc nó còn nằm nôi đến khi đã ngoài ngũ thập:

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương

“Cơm búng”? Từ điển Đại Nam quấc âm tự vị (1895) của Huình Tịnh Của giải thích: “Cơm nhai một miếng cho vừa miệng con nít”; Việt Nam tự điển của Hội Khai trí tiến đức (1931): “Cơm nhai nhỏ để mớm cho trẻ con”. Người mẹ nào cũng vậy, luôn lấy sự phục vụ tận tụy cơm nước cho chồng con làm niềm vui của chính cuộc đời mình. Và tôi, mỗi ngày vẫn ăn cơm mẹ nấu. Nàng bảo: "Anh sướng thật, mọi thứ đã có mẹ lo, vì thế anh chẳng thể nào biết phải lo cho người khác như thế nào cả". Nghe nói vậy, chẳng dại gì cãi lại. Chần chừ một lát, Nàng "phán" tiếp một câu xanh rờn: "Do đó, anh rất khó... lấy vợ" (!?).

Trời! Trả lời ra làm sao đây hở trời?

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 23.5.2012

PDF.InEmail

 

Sáng dậy sớm, viết tiếp bài cho báo MT. Sau đó là việc của Tẹo, nhờ vài cú điện thoại “đúng người đúng việc” nên mọi việc như ý. Chiều trời mưa tầm tã. Đi hớt tóc. Nàng cẩn thận đi theo tận nơi dặn phải hớt kiểu này, này này. Thì đã xong. Rủ nhau đi ăn cái gì đó. Chẳng biết ăn gì. Nên thôi. Gương mặt nàng đẹp và buồn.

Về đến nhà chuẩn bị đi ăn đám cưới người bạn. Định dắt xe ra khỏi nhà. Trời giông tố và mưa. Nên thôi. Ăn cơm nguội và đọc Tập sách Thông báo Hán Nôm học năm 2002. Vừa mua lúc sáng. Chỉ in 300 bản! Vậy mà nay vẫn còn, chứng tỏ loại sách này ít người quan tâm.

 

tho-kiet-1

Bìa các tập thơ chưa in của Trần Tuấn Kiệt

 

Đọc và thấy buồn cười về cuộc tranh luận “Vị thế của văn học Hán Việt qua một cuộc tranh luận lớn” diễn ra trên Tạp san Văn Sử Địa từ tháng 3.1955 đến 12.1956. Bài này do PGS Bùi Duy Tân viết. Thật không thể ngờ, thời đó những học giả nước ta tầm cỡ như Đặng Thai Mai, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Lộc, Trương Chính… đã tham gia đề tài: “Có nên liệt kê những bài văn do người Việt viết bằng chữ Hán vào văn học dân tộc hay không?”. Với đề tài này, tôi liên tưởng đến hoàn cảnh của cô X chẳng hạn, cô ta lấy chồng ngoại quốc, sinh con thì liệu những "tiên đồng ngọc nữ" ấy có thuộc dòng tộc của cô X hay không? Bây giờ không ai đặt câu hỏi “trầm trọng” đó nữa. Mọi việc đã giải quyết xong: “Do đặc điểm của lịch sử văn học Việt Nam, do đặc điểm quá trình phát triển văn học Việt Nam, những bài văn do người Việt Nam viết bằng chữ Hán trong thời kỳ nước Việt Nam chưa có văn tự hẳn hoi có thể coi là văn học dân tộc của Việt Nam được” (GS Văn Tân). Xác đáng quá.

Đọc xong cuộc tranh luận này, chợt nghĩ, vậy dòng văn học miền Nam trong vùng tạm chiếm thời 1954-1975 có phải là dòng dân tộc hay không? Đến nay vẫn chưa có câu trả lời chính thống. Năm, mười năm nữa con cháu chúng ta sẽ trả lời câu hỏi đó bằng những việc làm cụ thể, chứ không thể “lửng lơ con cá vàng” mãi. Nếu nhìn rộng thêm, vậy từ sau 1975 đến nay những tác phẩm văn học của các cây bút Việt sáng tác ở hải ngoại có được xếp vào dòng văn học dân tộc hay không? Rồi tác phẩm của các nhà văn Việt Nam viết bằng tiếng nước ngoài thì sao? Theo y, không thể chối bỏ được.

Văn học Việt Nam hiện đại chưa thể sánh với nhiều nước trên thế giới, hà cớ gì vì mục đích gì đó, chẳng hạn quan điểm chính trị, lý lịch nhân thân... lại tự làm nghèo thêm những gì đã có? Mà cái dòng văn học miền Nam trong vùng tạm chiếm của những Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh, Võ Phiến, Nguyễn Đình Toàn... lại có những đặc điểm mà nhiều nhà nghiên cứu chưa chú ý đến. Tôi chỉ đưa ra một thí dụ: Nhiều anh em trong phong trào đấu tranh sinh viên học sinh tại miền Nam bảo rằng, họ xuống đường đấu tranh chống chiến tranh, chống ngoại xâm, đòi thống nhất đất nước cũng có phần do... đọc tác phẩm của các tác giả này! Ô hô! Nói như thế là sai quan điểm dấy nhé! Mà lại rất thật. Thật ở chỗ trong những tác phẩm của các nhà văn di cư 1954 họ viết về miền Bắc, về Hà Nội, về phong tục, văn hóa quá hay quá đẹp nên khiến không ít người ở miền Nam mơ đến ngày Bắc Nam thống nhất để có dịp tận hưởng lấy cái đẹp ấy, được trở về nguồn cội.

Rồi trong cuộc chiến vừa qua, các nhà văn vẫn chưa khai thác hết tính cách rất đặc trưng, rất Việt Nam của người dân  vùng tạm chiếm. Trong Người Quảng Nam, tôi đã kể đến trường hợp, chẳng hạn, em rể làm cảnh sát lại bảo anh vợ là "Việt cộng nằm vùng": "Tối nay, bọn tôi đi bố ráp đó. Chi bộ Đảng của mấy ông kiếm chỗ khác mà họp"!

Hôm trước ăn cơm ở nhà nàng, đọc lại tạp chí Văn số đặc biệt về Bùi Giáng, có dòng chữ này (nguyên văn): “Ta có thể so sánh con người Bùi Giáng ngày nay với Đức Phật thời mới bắt đầu thuyết pháp ở vườn Lộc Uyển. Trong khi đó ma vương, quỷ sứ và môn đệ của Bà la môn giáo đến châm chích đủ điều. Nhưng Đức Phật vẫn là Đức Phật và ma vương gì đó cũng vẫn là ma vương”.

 

kiet-2

Thủ bút nhà thơ Trần Tuấn Kiệt

 

Trần Tuấn Kiệt viết về Bùi Giáng. Trời! Những người cùng thế hệ đã viết cho nhau như thế, quả rất lạ. Thời buổi này, bạn bè với nhau cũng ít ai dành thời gian đọc để xem bạn mình viết gì; hoặc có lời nhận định đúng mức. Hầu như giới thiệu các tác phẩm mới hiện nay là công việc của nhà báo. Chỉ giới thiệu theo kiểu thông tấn. Có thể do những bài viết nhận định phê bình ra tấm ra miếng không phù hợp với báo thời sự hằng ngày. Mà phải là báo chuyên ngành. Loại báo này thì số lượng phát hành chẳng nhiều, ít người đọc. 

Tôi biết đến khái niệm “đồng hương” từ khi sống trong bộ đội. Giềng mối đồng hương chặt chẽ nhất vẫn là anh em ngoài Bắc, cụ thể tại đơn vị tôi là Hà Nội và Hải Phòng. Có thể bao che cho nhau, chia ngọt xẻ bùi cho nhau miễn đó là đồng hương. Đố ai có thể “đụng” vào. “Đụng” một người là chạm đến cả hội đồng hương. Mệt. Ngay cả chính trị trị viên, đại đội trưởng cũng e dè. Anh em Trung và Nam lại khác. Vẫn đồng hương nhưng không chí cốt đến mức đó. Thân thì thân, chơi thì chơi nhưng vẫn không bao che, nếu đồng hương sai. Nhìn qua văn chương hiện nay, những cây bút ngoài Bắc vẫn giữ được cái tính “đồng hương” đó; hoặc “cùng hội cùng thuyền”. Không phải bây giờ mà ngay cả trước đây. Trước 1945 ngoài Bắc có các nhóm như Tự lực văn đoàn, Tiểu thuyết thứ bảy, Tiểu thuyết thứ năm… họ có cơ quan ngôn luận tung hứng cho nhau. Trước 1975 ở miền Nam có các nhóm khác nhau mà nổi bật là nhóm Sáng tạo, họ cũng có tờ báo giúp nhau “đôi bạn cùng tiến”. Người Trung và Nam làm văn nghệ không được như thế.

Nhắc đến nhà thơ Trần Tuấn Kiệt, y nhớ chừng gần mười năm trước đây, ông có tìm y ở tòa soạn báo PN và đưa giữ bản thảo của ông. Thơ viết sau 1975. Đó là các tập Thái hằng, Lữ hành, Nghịch hành, Sử thi, Tình xuân vạn cổ, Vòng cung nguyệt quế. Đã nhập liệu. Chưa in. Mấy trăm trang, khổ lớn. Và tập trường ca Ngôi đền thiêng đã in trước 1975. Y có gửi biếu ông 200 ngàn đồng. Chẳng biết tương đương với hiện nay chừng bao nhiêu. Thời đó ông sống khốn khó. Sống bằng nghề viết sách dạy võ, ký Hồng Lĩnh và loạt truyện võ hiệp ký tên nhăng cuội gì đó, không nhớ nữa. Con gái của ông cũng viết văn, chắc nhỏ hơn tôi vài tuổi. Lúc đó, ông sống trong hẻm sâu hun hút ngoài phía Hàng Xanh, trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh. Y có đưa I đến chơi. Ông Kiệt hiền lành, nói năng rổn rảng, thân tình, bạt mạng. Trong bản thảo này, ông có làm khá nhiều thơ tặng Bùi Giáng, nhà thơ Ý Nhi, nhà văn Nguyễn Đình Toàn, họa sĩ Chóe…

Ngoài trời mưa vẫn râm ran. Tiệc cưới chắc đã tàn. Mẹ chắc đã ngủ. Nàng chắc đã ngủ. Gương mặt nàng đẹp và buồn...

Đã lâu lắm không gặp lại ông Trần Tuấn Kiệt. Cũng một kiếp người.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 22.5.2013

PDF.InEmail

 

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?” Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên tời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xẩy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì. Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn viết nhiều và từng nổi đình đám với Cù lao tràm, Đứng trước biển… và một loạt kịch bản phim truyền hình. Anh viết khoẻ. Sung sức. Chưa hề tỏ ra mỏi mệt.

 

don-nick-R

Đón Nick tại sân bay Tân Sơn Nhất chiều ngày 22.5.2015 (ảnh: First News)

 

Với nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, lại khác. Anh cho biết chuẩn bị đề cương rất kỹ, từng chi tiết và khi đã “chín” mới bắt tay vào viết. Ngày báo Thanh Niên muốn in nhiều kỳ truyện mới của bộ Kính vạn hoa, anh không trả lời vội. Vào một ngày đẹp trời, anh ra Vũng Tàu. Một mình, một phòng mình và suy nghĩ suốt mấy ngày liền về cốt truyện sẽ viết. Khi viết được những dòng đầu tiên. cảm thấy đã có thể viết được, anh mới  điện thoại cho anh Hoàng hải Vân. Nhận lời viết feuilleton. Từng kỳ truyện dài của anh được công chúng đón nhận rầm trời. Báo Thanh Niên cũng tăng số lượng vùn vụt.

Trong tập sách Nguyễn Nhật Ánh - Hoàng tử bé trong thế giới tuổi thơ, y quên kể chuyện anh bị mất trộm tại Hà Nội. Chuyện là đầu năm 2005, anh được NXB Giáo Dục mời ra Thủ đô làm giám khảo cho một cuộc thi sáng tác văn học, và được bố trí ở khách sạn của Công đoàn. Sau khi “hoàn thành nhiệm vụ” một cách vẻ vang, anh được các bạn văn như nhà văn Bảo Ninh, nhà thơ Trần Anh Thái, nhà phê bình Trần Quang Đạo... đãi một chầu nhậu để bù khú chuyện văn chương. Trước lúc rời khách sạn đi đến với bạn bè, anh đã cẩn thận khóa cửa phòng và giao lại chìa khóa cho tiếp tân. Thế nhưng, khi trở về trong cơn say ngất ngưỡng, anh bỗng tỉnh như sáo vì... hành lý, đồ dùng cá nhân của mình đã bị “dọn sạch”! Tiếc nhất là chiếc máy vi tính xách tay, trong đó có chứa toàn bộ tác phẩm đã xuất bản hoặc đang viết dở dang, cũng... “không cánh mà bay”!  Nhà văn của chúng ta cười mếu báo ngay cho cơ quan chức năng. Công an đã nhanh chóng có mặt tại khách sạn. Dù rất hâm mộ một “văn nhân tài tử” từ trong Nam ra Bắc công tác; dù rất nhiệt tình, rất tài năng cỡ như Sherlock Holmes nhưng cuối cùng họ cũng... đành bó tay!

Hàng ngày, Nguyễn Nhật Ánh có thói quen, mỗi sáng ngồi vào viết, bàn phải sạch. Sạch từ bụi trên bàn đến phin cà phê, cái gạt tàn thuốc… Anh viết một lèo đến 10 giờ sáng, ngừng lại nghĩ ngơi rồi lại viết đến 14 giờ. Sau đó mới cơm nước. Ngủ trưa. Chiều lai rai với bạn bè. Nguyễn Nhật Ánh không có ngày chủ nhật. Sức làm việc của anh thật đáng nể.

Có người, dù không thọ giáo ngày nào nhưng đọc tác phẩm của họ, tự ta đã xem họ là Thầy. Với y, là cụ Nguyễn Hiến Lê. Sống trên đời bằng nghề cầm bút mà để lại cả trăm tác phẩm có giá trị phải là người tự đặt cho mình một kỷ luật nghiêm ngặt, mới có thể lao động phi thường như thế. Xin được “công bố” lịch làm việc trong một ngày của nhà văn Nguyễn Hiến Lê. Sở dĩ tôi biết là do đọc nhiều những ghi chép của cụ:

6 giờ sáng thức dậy, tập thở, xoa bóp thân thể rồi đi bộ; 7 giờ ăn sáng, uống trà và đọc sách đến 8g; sau đó ông ngồi vào bàn làm việc đến 11g 30; nghỉ trưa đến 14 giờ; thức dậy lại đọc sách và tiếp tục viết cho đến 17 giờ chiều; 18g ăn tối, xong nghe nhạc; 21 giờ ngủ.

Ròng rã mấy mươi năm cụ vẫn duy trì đều đặn như thế, bất kể thời tiết nóng lạnh ra sao quả đáng khâm phục. Có lần, cụ bảo, cứ đến giờ là ngồi vào bàn viết, chứ không cần phải đợi cảm hứng có đến hay không? Nghe đâu nhà văn Tô Hoài, Nguyễn Khải... cũng có suy nghĩ như thế. Và do lao động miệt mài, nghiêm túc với nghề nên họ đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có chất lượng tốt.

Không rõ cụ Nguyễn Hiến Lê khi trò chuyện với văn hữu ra sao, chớ ở nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Nhật Ánh, y nhận thấy họ có điểm chung là khi trình bày  một vấn đề gì cũng đều mạch lạc, khúc chiết, dễ hiểu và lập luận sắc bén.

Ngày mới vào nghề có lần phỏng vấn nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, y nhận thấy anh cũng có cách trả lời gẫy gọn, dễ ghi. Thậm chí theo ngữ điệu của từng câu nói, ta có thể biết đến đâu là phết, đâu là dấu chấm… Trong khi đó, với ông Sơn Nam lại khác. Hỏi vấn đề A, ông lại lái qua B và cứ dông dài chuyện mình đang thích nói hơn là đi vào trọng tâm câu hỏi của nhà báo. Ai ghi sao thì ghi. Ông cứ khề khà tràng giang đại hải….

Hồi còn ở báo TT, ban biên tập nhờ y đặt bài ông viết về món ăn Nam bộ. Y ghé nhà trọ ông trên đường Lý Thường Kiệt, trong hẻm để lấy bài, chứ lúc đó ông chưa về căn nhà ở đường Đinh Tiên Hoàng. Bài ông đánh máy nhưng không đặt tựa. Sau này, tôi mới rõ nhiều bài báo khác của ông cũng vậy. Tòa báo muốn tựa gì, cứ việc; muốn cắt xén ra sao, cứ việc. Ông không quan tâm. Ông cho rằng, chuyện mình, mình viết; chuyện của tòa báo thì họ cứ làm. Miễn sao nhuận bút trả nhanh, trả nhiều là được. Thái độ này theo tôi là tính cách của một nhà báo chuyên nghiệp. Viết bất kỳ thể loại nào, ông cũng ký tên thật, không xài bút danh. Không núp dưới cái tên khác để che giấu những bài viết mà mình không dám chịu trách nhiệm. Ông nói, nếu hư, đánh đĩ ngoài bút thì có soạn từ điển, viết biên khảo cũng hư.

Khi viết văn mỗi người một kiểu. Thời trụ sở Hội Nhà văn TP.HCM còn ở Nguyễn Văn Đậu (Q. Bình Thạnh), nhà văn Nguyễn Quang Sáng có phòng riêng vì ông là chủ tịch Hội. Thỉnh thoảng anh em vào chơi thấy ông ngồi viết, chỉ khoác ngang vòng bụng cái khăn lông, cởi trần, viết bằng tay trên từng trang giấy trắng. Ông cười hề hề: “Như thế này mới thỏa mái. Không gò bó mới dễ viết’. Có lần ông bảo: “Tao không viết vào ban đêm. Nhất là những lúc đã nhậu "sương sương". Sáng mai đọc lại thấy câu văn  “bốc” quá là xoá sạch". Ông có thói quen là ngẫm nghĩ rất kỹ một truyện ngắn trong đầu và có thể kể lại làu làu từng câu, từng chữ. Kể đến lúc thật “nhuyễn”, không còn thấy lợn cợn gì, ông mới viết ra. Có nhiều nhà phê bình cho rằng Nguyễn Quang Sáng là người kể chuyện độc đáo. Đọc truyện ngắn của ông ta luôn có cảm giác rất thật, rất hay là nhờ vậy chăng?

Đêm qua nhậu với Nàng, Nhân và Ca ở Việt Phố. Tẹo không đến được vì nhậu ở quận 5, lúc lấy xe ra bị công an đo nồng độ và lập biên bản giữ xe. Cứ cái điệu này, đi nhậu leo lên taxi là khoẻ nhất. Sáng viết xong cái bài cho MT. Chiều cúp điện lên cơ quan viết.

Mấy hôm nay thiên hạ cứ rần rần về thông tin đón người đàn ông không tay không chân đến từ nước Úc. Cuộc đời của anh khiến mọi câu chuyện cổ tích cũng phải ganh tỵ. Đó là Nick James Vujicic. Tại sao Nick đã làm được điều phi thường, kỳ diệu đó? Đó là do niềm tin từ Tôn giáo. Ngay từ lúc ý thức được thân phận của mình, anh đã có lúc muốn tự tử nhưng sao đó lại thay đổi hoàn toàn suy nghĩ của mình. Trong tự truyện Sống cho điều ý nghĩa hơn, anh viết: “Qua thời gian, tôi tự nhận thức rằng Đấng Sáng tạo muốn tôi có mặt trên thế gian này trong tình trạng thiếu tứ chi không phải ngài muốn trừng phạt tôi. Thay vì thế, Ngài có một kế hoạch tuyệt vời dành cho tôi, một kế hoạch cho phép tôi trở thành người truyền cảm hứng và khích lệ tinh thần tất cả những người khác trên trái đất này. Nếu Đấng Sáng Sáng Tạo có thể chấp nhận một người không tay không chân như tôi và sử dụng tôi làm cánh tay và đôi chân của Ngài thì Ngài cũng có thể sử dụng bất cứ ai vì những mục đích cao cả tốt đẹp như thế”.

Tối đi ăn với Nàng ở quán Hàn Quốc. Thức ăn ngon, nhưng phải chạy mua chai nước mắm cho phù hợp khẩu vị.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 21.5.2013

PDF.InEmail

 

Sáng thức dậy, đi ăn phở với Tẹo, có cả anh Long và Trần Hoàng Nhân. Vừa đi vừa lẫm nhẫm lại mấy câu này. Quá hay. Hay chỗ “tóc nhuộm”. Hiện đại quá chừng. Đang ăn, nhà biên kịch Đoàn Tuấn nhắn tin:

Tóc bạc thì nhuộm cho xanh
Cơ bản giữ được củ hành cho tươi
Hỏi anh, anh chỉ mỉm cười:
Cứ trồng “đất lạ”là tươi củ hành

Nhắc đến “củ hành” ai nấy phì cười. Sực nhớ, cụ Nguyễn Khuyến - thi sĩ đồng quê số một của Việt Nam có câu đối khóc vợ:

"Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, tất tả chân nam chân chiêu vì tớ đỡ đần trong mọi việc;

Bà đi đâu vội bấy, để cho lão vất va vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá toạ, gật gù tay đũa tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm".

Rõ ràng, hai câu đối trên cho thấy cách ăn mặc của đàn ông, đàn bà Việt Nam thời xưa. Tục ngữ có câu: “Búi tóc củ hành, đàn anh thiên hạ”, ý nói giới thượng lưu dù ít tóc, chỉ búi tóc nhỏ như củ hành nhưng vẫn bậc trên của mọi người. Thế nào là “tóc củ hành”? Có thể hiểu, ngày trước đàn ông khôn cắt tóc, tóc dài thường búi trên đỉnh đầu.Nhà thơ Tú Mỡ cũng có câu thơ:

Tóc búi củ hành, trơ bóng trán,

Miệng loe ống nhổ cạp dày môi.

“Củhành” của Đoàn Tuấn là ám chỉ “sâm Cao Ly” đó thôi. Nhân bèn cao hứng đọc bài thơ “Đòi lại chiếc xương sườn” của Hoàng Lộc. Thơ hay mà nay tôi mới biết:

quả nhiên trong kinh thánh có ghi rằng

cái xương sườn của tôi chính là em đấy

khi chứng cớ đã rõ ràng đến vậy

nghĩ mích lòng ? em vốn vẫn làm cao ?


em lắc đầu ? em chẳng của tôi sao ?

giùm tới hỏi Chúa Trời kia khắc biết

dẫu phải lắc lơ xa hằng mấy kiếp

tôi dễ chi quên đã mất cái xương sườn

 

ngày ấy chia tay trước cửa địa đàng

em - rất tiếc - tôi chưa hề đánh dấu

để xuống đời ưa nhìn lầm nhận ẩu

người đàn bà nào tôi cũng tưởng là em

 

mãi đặt điều thẹn, ngượng - hoá nên quen

chớ thiệt tình yêu : người đòi - kẻ trả

em chính của tôi - cứ thẳng thừng : em ạ,

hãy gửi nguyên đây một cái xương sườn !

 

em chớ làm cao và chớ giận hờn

đừng nỡ mập mờ kinh tân kinh cựu

cái xương ấy tôi là người sở hữu

kinh luật nào em chẳng thuộc về tôi ?

 

lầm lũi yêu thương đứt nửa đời rồi

tôi đã trần thân với đớn đau khổ nhọc

cái xương sườn xưa tôi quyết đòi cho được

em chối từ ư ? em có quyền gì ?

Tôi chưa gặp Hoàng Lộc. Thế hệ làm thơ của ông, dân Quảng Nam, tôi chỉ gặp Luân Hoán, Tường Linh, Thái Tú Hạp... Thiên hạ trong quán phở Dậu cứ ngỡ đang ngồi chung bàn với những người nữa tỉnh nửa mê. Quán chật, ngồi chen nhau, nóng nực, ai ai cũng vội vội vàng vàng với công việc buổi sáng, ấy vậy mà có những gã ngồi đọc thơ oang oang. Vậy không say là gì?

Đã thế, Nhân còn nói thêm rằng, chẳng biết câu này của ai, đại khái, với người đàn ông chỉ có hai ngả lên thiên đàng: hoặc qua cái chết; hoặc qua người đàn bà. 

Khuya qua lại đọc Đất tụ long, chẳng biết nhà văn đoạt giải nhất Lê Thanh Kỳ trong cuộc thi truyện ngắn của báo Văn Nghệ viết thật hay bịa về cách ăn chân gà của người Trung Quốc:

“Chiều mát chúng tôi ngồi câu cá vừa nói chuyện. Thằng Khền thích ăn chân gà nướng. Tôi bảo nó ở đây không có chân gà bán sẵn. Nó bảo: “Mày không biết ăn chân gà” Rồi bảo tôi đi mua cho mấy con gà trống nuôi công nghiệp. Vợ tôi mua năm con mang về. Thằng Khền đem rửa sạch chân bằng cồn rồi trói, buộc cánh treo lên. Nó bê chiếc bếp than hoa lại gần rồi thả cho con gà nhảy trên than hồng. Con gà bị nóng ra sức giẫy giụa. Càng giẫy máu càng dồn xuống chân khiến nó phù nề và to ra trông thấy. Con gà cứ co chặt hai chân vào bụng. Thằng Khền lấy cái kẹp kéo từng chân con gà ra, chờ đến lúc vỏ ngoài cháy xém nó mới dùng móng tay bóc bỏ lớp vỏ ngoài của da chân. Tôi nhìn thấy hai chân con gà đỏ máu và sưng đẫn lên. Thằng Khền lấy từ trong túi khoác ra cái chổi trông như cây cọ của hoạ sỹ, chấm gia vị rồi quét lên. Con gà lúc này mới giãy giụa thật lực, mồm kêu oang oác. Vợ tôi thấy thế bỏ vào trong nhà có gọi thế nào cũng không ra nữa. Thằng Khền tiếp tục bóp giập xương chân con gà, cắt lấy rồi quẳng mấy con gà còn sống ra ngoài. Tôi nướng thêm mấy con cá trong khi thằng Khền hoàn thiện nốt món nướng chân gà. Tôi nhìn nó ăn bỗng liên tưởng đến câu chuyện của nhà văn Trung Quốc viết về một gia đình nông dân đói quá không nỡ ăn thịt con, liền đổi cho nhà hàng xóm làm thịt. Tôi hỏi nó ngoài đời chuyện như thế có không? Nó tỉnh bơ trả lời:

- Đói quá cũng có khi ăn để sống! Mà no quá cũng có thể ăn để thấy mùi vị".

Đọc xong, tôi rùng mình. Hôm trước, làm tài lanh kể cho Nàng nghe, ai ngờ Nàng mắng: “Anh toàn kể chuyện ác. Có ngưng lại được không?”. Tất nhiên, được. Sực nhớ thời tôi còn thơ ấu, bà ngoại y không bao giờ cho nói những từ như “giết người”, “đánh đấm” v.v… Bà bảo nói lời ác thì cái ác nó cũng vận vào người. Đã thế, trước khi ngủ, nằm chung với bà ngoại, bao giờ bà cũng dạy lũ nhóc niệm Phật: “Nam mô ai di đà Phật” và dần dần chìm vào giấc ngủ nhẹ nhàng của tuổi thơ.

Trời! Một bà cụ nông dân Quảng Nam thất học, quê mùa mà có suy nghĩ về phương pháp giáo dục trẻ con không thua bất kỳ một nhà sư phạm nào. Điều này về sau ít nhiều ảnh hưởng đến y. Ít ra là trong cách viết, cách dùng từ.

Nghe mẹ y kể lại, lúc bà ngoại y mất, vì thương con, con còn nhỏ quá nên đêm nào bà cũng về trong chập chờn mộng mị. Hồn ma bóng quế. Nhớ mẹ, thấy mẹ loáng thoáng về, như thật như mơ, như không như có - vậy là mẹ y và các dì lại sụt sùi khóc. Bà ngoại về hoài, lúc thấy ngoài sân, lúc thấy dưới bếp... Sau, mẹ y phải khấn: “Mẹ sống khôn thác thiêng, mẹ đừng về nữa…”. Chết rồi còn lo cho con. Chao ôi là đức đức tốt đẹp ngàn đời của các bà mẹ trên trái đất này. Sau này, khi đến nhiều đám ma, tôi nghĩ không nên khóc, sự khóc lóc, thương tiếc lắm ắt khiến người cõi âm khó nhẹ nhàng viễn du tầng xanh mây trắng.

 

ba-ngoai-LMQRR

Bà ngoại tôi

Có phải vậy không hỡi ngày sau trùng trùng cát bụi? Có phải vậy không hỡi ngày sau trùng trùng cát bụi? Còn đang sống đây, hãy cứ vui đi.

Đêm qua, ăn bún chả cua và chả Đà Nẵng. Ngon ơi là ngon. Bàn tay nội trợ của Nàng chế biến ngon. Lén mẹ, đem cho Nàng, hai con cá chuồn đã chiên. Vậy là cầu được ước thấy nhé. Chiều nay có thể lai rai chút đỉnh chăng Nàng ơi? Mai Tẹo về Đà Nẵng rồi.

Công việc vẫn nhì nhằng. Vẫn chưa viết gì cho báo MT được. Ngày mai thôi. Q ơi! Cố lên!

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 20.5.2013

PDF.InEmail

 

Trưa qua, chủ nhật, ăn trưa với Chị Đẹp ở quán góc Đồng Khởi và Ngô Đức Kế. Quán ăn Tây. Ngoài khăn bàn trắng tinh, trên bàn còn có tấm giấy trắng đặt lên trên, vừa khít mặt bàn và những cây bút màu. Cũng hay. Hai người ngồi, nếu giận nhau, không thèm nói chuyện, cứ việc cắm cúi vẽ, đỡ phải nhìn mặt nhau. Không giận nhau nên chẳng việc gì phải vẽ để giết thời gian trong khi chờ món ăn.Vì thế câu chuyện rôm rã. Nói chuyện linh tinh. Chuyện rằng:

phoca_thumb_l_le-minh-quoc-6

Mẹ tôi thời trẻ

Nếu nhà thơ Du Tử Lê, lúc xuất hiện trên văn đàn ông ký tên thật Lê Cự Phách; Nguyễn Tất Nhiên ký Nguyễn Văn Hải chẳng hạn, chắc chẳng có ma nào thèm đọc. Thơ tình mà nghe “phách” với “hải”, hãi thật đấy chứ. Cái tên cũng vận vào người. Nếu nhà văn Nam Cao không đặt tên Chí Phèo, Trạch văn Đoành.. hẳn sức sống nhân vật ấy khó “bền” đến hôm nay chăng? Cái tên Chị Đẹp, ngẫm đi ngẫm lại thấy cũng hay. Vừa sến vừa điệu đà lại vừa “chảnh” nữa chứ. Không “đụng hàng”. Chắc chắn một điều đó là cái tên ấn tượng. 

Ai chịu khó tìm hiểu bút danh của nhà văn cũng là thú vị. Lâu nay, sách báo vẫn ghi tên tự của hai nhà học giả, nhà văn Trương Vĩnh Ký là Sĩ Tải; Trương Minh Ký là Thế Tải. Liệu có đúng không?  Như ta biết, tên tự được đặt theo lối dùng chữ đồng nghĩa với tên chánh, kèm theo một chữ dùng để làm cho tên tự được hoa mỹ. “Tải” có nghĩa là chuyên chở, trong khi “Tái” có nghĩa ghi chép như chữ “Ký”. Vậy Sĩ Tái; Thế Tái mới đúng chăng? Tiếc không tìm ra bút tích của họ để xem lập luận này có vững không? Nghe những bút danh như Bà Tùng Long, Anh Bồ Câu, Nghiêm Lệ Quân… rõ ràng chỉ thoáng một lần, đã nhớ. Ngày trước, khi sinh con, người ta rất chú ý đến cái tên của con. Nếu đặt tên theo chữ Hán, ắt phải theo “bộ”. Suy nghĩ như thế, tôi quả quyết rằng, con trai của quan đại thần triều Nguyễn là cụ Tôn Thất Thuyết, phải là Tôn Thất Đàm. Bảng tên đường ở Sài Gòn hiện nay ghi Tôn Thất Đạm, có lẽ không đúng. "Thuyết" phải đi với "Đàm".

Với con người ta, cái tên của họ là quan trọng nhất. Trong quyển sách Đắc nhân tâm, ông Nguyễn Hiến Lê cho rằng, một trong những cách lấy thiện cảm người khác nhanh nhất, dễ nhất là hãy gọi đúng tên của họ. Tôi có một trí nhớ tồi tệ hay hay quên tên người khác, gặp nhau tay bắt mặt mừng, dù cố nặn óc cũng không thể nhớ ra được cái tên. Tệ thật! Lúc đó, cách khôn ngoan nhất, tôi làm mặt tỉnh như ruồi, bảo: “Ông (anh), chị (em) cho Q cái “cạc-vi-dít” để lưu số điện thoại”. Vậy là xong, nếu người đó không có thì đưa cái điện thoại mình cho họ, “Ông lưu giùm một cái. Dạo này mắt mũi kèm nhèm quá!”. Vậy cũng  xong.

Có lẽ trong tập sách Đắc nhân tâm thì phải, ông Nguyễn Hiến Lê có viết một câu, đại khái, muốn tạo được tình cảm của người khác, cách tốt nhất là phải nhớ tên người đó. Với con người ta, cái tên của họ là quan trọng nhất. Nhớ đến tên họ, khi ta gọi thì lập tức họ dành ngay cho ta sự thiện cảm. Đúng quá. Có lần, thấy ông Bùi Giáng múa may quay cuồng ngoài phố, bất cần đời, đố ai có thể hạ hỏa được cơn điên mộng du trầm phù bi đát của trung niên thi sĩ? Lúc đó, muốn ông “tỉnh” lại, bước ra khỏi cơn “điên” thì hãy gọi đúng tên ông. Lập tức ông trở lại trạng thái hiền khô, nhưng chưa hề xẩy ra chuyện gì? “Chú mày gọi trẫm hả?” Chưa dứt lời, ông đã nhảy vọt lên xe người vừa gọi rất đỗi thân tình, dù người đó lạ hay quen. Nhà văn thường xài bút danh, Ông Đoàn Thạch Biền tên thật Phạm Đức Thịnh, trước 1975 ký Nguyễn Thanh Trịnh và sau nay là Đoàn Thạch Biền. Hầu như ai ai cũng chỉ nhớ đến mỗi tên Biền, thậm chí ông còn tự trào câu thơ "gài" cái tên Biền:

Vẫn biết quán bia là nơi đen bạc

Nhưng đi Biền (biệt) cũng không đành

Trong bàn nhậu  đầy đủ nam thanh nữ tú xinh đẹp ngời ngời, nếu có người phụ nữ nào gọi “anh Thịnh”, tôi cam đoan chỉ có thể là… vợ của anh Biền! Với  nhà văn Nguyễn Đông Thức, họa hoằn lắm mới có người gọi tên thật Đức Thông! Thử liệt kê vài bút danh thuộc loại “hàng độc” trong văn chương Việt Nam hiện đại, chẳng hạn: nhà thơ J.Leiba (Lê Bái), TchyA (nhà thơ Đái Đức Tuấn ký tắt Tôi chỉ yêu Angèle), họa sĩ Ngym (viết tắt Tôi chỉ yêu mợ), Tám Sạc Ne (họa sĩ Cát Hữu), Tout Seul (Tú Xơn, tức Phan Khôi), Phạm Thị Cả Mốc (tức Phạm Cao Củng)… Chỉ riêng T.T.Kh mãi mãi là một bí mật, không thể xác định đó là bút danh của ai. Bạn tôi, anh Dương Thành Truyền khi viết phiếm đàm, tạp bút ký Duyên Trường, tôi nghĩ… khó nổi tiếng bởi cái tên Duyên Trường không xác định được giới tính. Luôn tạo ra cảm giác bài mạnh mẽ mà cái tên yếu xìu; ngược lại bài yểu điệu thì chẳng rõ giới tính nào viết! Thời nhóc con, "thuở mơ làm thi sĩ" chẳng hiểu sao tôi lại ký tên Thiên Bất Hủ. Nghe ra cũng oách đấy chứ! Bây giờ mà ký cái tên này chắc tòa soạn các báo chẳng cần đọc bài, họ liệng luôn vào sọt rác cho nhanh.

Sáng qua cà phê Trung Nguyên. Q nói với một người trẻ là N.T.T. Huy có thú sưu tập sách cũ rằng, bây giờ có nhiều người viết, viết hay lắm, họ viết  từ bloge, yahoo 360 đến faceboook nhưng họ vẫn chưa tạo được “cái tên” - dù sách cũng ra ầm ầm. Khó thật nhỉ? Tạo một cái tên quả là khó. Ai ai cũng có tên, nhưng thật ra chỉ là sự Vô Danh bởi cái tên này lẫn lộn cái tên kia trong thập loại chúng sinh. Khó ai có cái tên mà chỉ cần nghe qua tác phẩm, công trình nghiên cứu, sáng tạo, sự nghiệp của họ là đám đông nhớ ngay. Nhà thơ Nguyễn Duy viết:

Cứ chìm nổi giữa đám đông

Riêng ta xác định ta không là gì

Vậy là hay quá. Thật ra đời sống này, ta hưởng thụ được cái này; hạnh phúc; sung sướng được cái kia chính là từ công sức, hy sinh của những con người Vô Danh. Như Đất. Như Suối. Như Sông dài biển rộng. Như cỏ như cây rất Vô Danh...

Ông “chủ tịch”cà phê Trung Nguyên là cái tên dễ nhớ và cũng nhiều người biết đến. Nhưng nhìn hình ảnh tạo dáng thì oải quá trời. Từ điều xì gà Lahabana cầm tay, đến cái mũ bê-rê có đính sao vàng, cái áo khoác cũng là “diễn” y chang hình ảnh của anh hùng Che Guevara (1928-1967). Nhại y chang làm gì, bởi mỗi một con người là một hình ảnh riêng biệt, chẳng ai giống ai, khi mình là mình thì mới thể hiện sự tự tin. Có mệnh phụ phu nhân hỏi Che Guevara: “Ông sinh nơi nào, quê quán ở đâu”. Che đáp: “Nơi nào còn tiếng khóc của sự bất công, áp bức thì nơi đó là quê hương tôi”. Từ nhỏ đọc câu này và thích quá. Trên báo Văn Nghệ lâu lắm rồi có in bài thơ của Dương Tường (?):

Tôi đứng

       Về phe

            Nước mắt

Trên đời này, người ta có thể quên nhiều thứ nhưng khó có thể quên cái tên của mình. Có lẽ khó quên nhất là cái tên của tình phụ như gai nhọn đã giết mình chết từng ngày trong dĩ vãng? hay cái tên của người đàn bà đã hy sinh bản thân họ chỉ vì đời sống của mình? Tôi nghĩ, người ta luôn nhớ cái tên đã ở vế thứ hai.

Người đó, với tôi, chính là mẹ tôi, người có cái tên giản dị: Lương Thị Ân, sinh năm 1927, quê quán Quảng Huế, Đại Lộc (Quảng Nam).

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 18.5.2103

PDF.InEmail

 

Nhà văn Vũ Trọng Phụng chết vì bệnh ho lao, nằm trên giường bệnh, ông thở dài: “Nếu mỗi ngày có một miếng bít tết thì đâu đến nỗi”; nhân vật của Jack London bước lên võ đài chỉ ước ao được ăn một miếng bít tết; tướng Christian de Castries sau bại trận Điện Biên Phủ, quay về Pháp việc đầu tiên là ngấu nghiến miếng bít tết. Chiều nay muốn đi ăn bít tết nhưng lại ngại đường xa. Ở Sài Gòn, quán Tín Nghĩa trên đường An Dương Vương (Q.5) là ngon nhất. Chỉ tiếc quán nhỏ, ngồi trong quán cứ nghe tiếng dzô dzô như súng thần công xuyên qua lỗ tai. Miếng thịt bò cắt vuông vức, dầy chừng hai lóng tay, cắn ngập răng. Bền ngoài chiên chín, dùng dao cắt thấy miếng thịt đỏ tươi mà mềm. Gia vị chấm là muối tiêu chanh, ăn kèm với ớt ngâm dấm và đầu hành, nếu muốn có thể gọi thêm củ cải, mỗi củ được cắt dọc làm sáu. Thèm thì thèm, nhưng xa quá nên thôi.

 

nhat-ky-18.5

 

Ăn cơm nguội lúc trưa vậy. Trưa, mẹ đã nấu cơm nhưng lại đi ăn mì Ý.

Có trang web cũng vui, thỉnh thoảng đọc những comment vừa quen và vừa lạ.

Sáng nay đã viết xong “Thân này ví đổ làm trai được” cho TGPN.

 Anh Huỳnh Bá Thành, họa sĩ Ớt là người viết thư tay để y nhập hộ khẩu vào TP.HCM lúc mới chân ướt chân ráo ra trường đi làm việc. Quy định thời đó tréo ngoe như sau: Có hộ khẩu mới vào biên chế/ Có biên chế thì mới có hộ khẩu. Cứ như đánh đố nhau. Vì thế, trong tập thơ Ngày mai còn lại một mình tôi mới có bài thơ Tự sự:

tôi tuổi Kỷ Hợi không phải cầm tinh con heo

tôi sinh ra ăn mày để cầm theo bị gậy

đứng giữa ngã tư đường xin cuộc đời nhìn lại

tấm thẻ Nhân Dân trong túi áo của tôi

 

ngày rong chơi và đêm cũng rong chơi

căn phòng trọ từng ngày hãm hiếp tôi

lúc hai mươi lăm giờ (nếu chính xác là 25 giờ 1 phút)

người ta dò xét nhau hộ khẩu ở đâu rồi?

 

mấy năm tôi cư ngụ ở núi đồi

hộ khẩu của tôi là kẻ thù trước mặt

là những địa danh với nỗi buồn hiu hắt

tôi sống: hành quân rồi chết cũng: hành quân

 

tôi hành quân đi hết tuổi thanh xuân

trở về quên mang theo tờ hộ khẩu

ôi hậu khổ buồn tênh như giọt máu

đêm từng đêm lại ám ảnh viễn vông

 

chim có tổ cá có sông

còn tôi thì lạc chợ lông bông

tôi ăn mày cuộc đời một tờ hậu khổ

có hộ khẩu đời như trúng số

 

mấy năm tôi vất vưởng giữa núi đồi

hộ khẩu là cánh võng dài bên khẩu súng

là tấm lòng trước người yêu còn ngượng ngùng lúng túng

tôi sống và yêu trọn vẹn trái tim mình

 

tuổi Kỷ Hợi chính là tuổi cầm tinh

bị gậy ăn mày chờ xin hộ khẩu

tôi chỉ có Chứng Minh Nhân Dân trong túi áo

không hộ khẩu thì có gọi Công Dân?

(1990)

Chiều đọc lại tài liệu cũ, tình cờ gặp bài trả lời phỏng vấn của tờ Thanh Niên Thể thao & giải trí, trực thuộc báo Thanh Niên. Anh Huỳnh Kim Sánh (Hoàng Hải Vân) làm chủ biên tờ này một thời gian. Sau đóng cửa vì lỗ. Thỉnh thoảng Q có cộng tác. Lúc anh Sánh viết về anh hùng tình báo Phạm Ngọc Thạch in nhiều kỳ trên Thanh Niên, Q có cho một tài liệu quý, đó là hồi ký của nhà báo, linh mục Nguyễn Quang Lãm in nhiều kỳ trên báo nhật báo Hòa Bình trước 1975. Tài liệu này được cắt dán từng ngày, và lưu trữ ở Thư viện báo Tin Sáng. Tình cờ Q mua được, nghĩ mình có lẽ chẳng bao giờ sử dụng đến nên cho anh Vân khai thác thì tốt hơn.

Với chủ đề Hài trong mắt nghệ sĩ, trên báo Q Thanh Niên Thể thao & giải trí, Q trả lời như thế này:

“Cười là một đặc tính của con người. Muốn người ta khóc không khó, nhưng để tạo ra tiếng cười là điều không dễ dàng. Cười là biểu hiện của sự tự do. Từ xưa đến nay, tiếng cười trong văn học dân gian đã biểu thị ở nhiều góc độ, nhiều sắc thái, nhiều phong cách rất phong phú và đa dạng. Trong khi đó, các nhà văn trong dòng văn học hiện đại đã không theo kịp. Học tập truyền thống Folklore Việt Nam để nâng cao và tạo ra tiếng cười trong tác phẩm văn học vẫn còn hiếm. Ta từng có kiệt tác hoạt kê Số đỏ của Vũ Trọng Phụng “làm vinh dự cho mọi nền văn học”, nay vẫn chưa có tác phẩm nào vượt qua nổi.

Nhìn lại giai đoạn văn học “thời tiền chiến” ta thấy dường như các nhà văn biết cười và cười nhiều hơn sau này, tiếng cười trong tác phẩm văn học ngày càng ít. Nếu có thì cũng không “đứng” được. Tại sao? Vì nhà văn chưa cười đúng vào bản chất của sự việc, mà chỉ mới loanh quanh “râu ria” bên ngoài, cho dù hiện thực xã hội ngày nay đang có nhiều, rất nhiều hiện tượng đáng để cười. Tôi tin, dòng chảy văn học dân gian vẫn đang tiếp tục phát huy sức mạnh của nó. Trong thời đại @ này, dưỡng chất “u-mua” rất cần thiết để nuôi dưỡng tâm hồn, nếu chúng ta không muốn biến thành người máy” (TN 2.9.2005).

Ngẫm lại vẫn còn thấy đúng.

Nhà văn đang cười cái gì vậy? Đang viết cái gì vậy? Đang đứng trong/ ngoài cuộc sống? Hai chân đang dẫm dưới đất hay đang  tung tăng trên mây?

Còn nhớ trong tác phẩm của nhà văn Võ Phiến trước 1975, đọc lâu quá không nhớ quyển gì, tra tài liệu sẽ tìm ra, nhưng thôi. Ông bảo, các nhà văn XHCN không biết cười. Ông chứng minh qua thơ trào phúng của miền Bắc và miền Nam để rút ra kết luận đó. Đọc Võ Phiến thấy hay. Vừa rồi Nhã Nam có in một tạp bút của ông nhưng chỉ ghi bút danh “Tràng Thiên”, dù ngoài bìa là hình Võ Phiến. Lần nọ ngồi chơi với Sơn Nam, ông kể, khi nhà Lê Vĩnh Hòa (em ruột Võ Phiến, thuộc Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam) qua đời, ông có đến báo cho Võ Phiến biết trước nhất. Võ Phiến không nói gì và lẳng lặng cúi xuống làm việc. Tạp bút Võ Phiến hay ở chi tiết. Của Nguyễn Tuân hay ở chữ.

Hôm kia gặp Đoàn Dũng. Dũng phân trần là chưa thể trả nhuận bút được. Cả năm 2012, viết chuyên mục Yểu điệu cười, mỗi số 1 triệu nhưng chẳng nhận được xu nào. Tờ báo Phụ Nữ Ấp Bắc lỗ quá và đóng cửa trước Tết. Tờ báo này trong những ngày đầu tiên là do anh Biền cố vấn nội dung. Q có in một loạt thơ trào phúng ở đây. Ngày chưa có internet, tờ này cũng có “số má”, nay đã khác. Sự ra đời của internet khiến báo giấy điêu đứng.

Lẽ tất nhiên.

Post lại tấm hình đã in trên Kiến thức ngày nay ngày 20.8.2005, chung  với nhà báo Nguyễn Phan. Lâu quá không gặp Phan.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 16.5.2103

PDF.InEmail

 

Khuya qua, dù say những cũng viết xong bài thơ. Sáng lại lao vào bàn viết, “cày” bài đọc sách cho PNO. Đi dự ra mắt tập sách Đừng bao giờ từ bỏ khát vọng của Nick,  người Úc (tên đầy đủ là Nick James Vujicic), sinh năm 1982, không có cả tay lẫn chân ngay từ lúc chào đời. Nhà báo Hoài Giang (báo CA TP.HCM) cho biết Tôn Hoa Sen tài trợ cho chương trình Nick đến Việt Nam cả mấy tỷ.

 

truong-hansiu

Đền thờ Trương Hán Siêu tại Ninh Bình


Sau đây là những câu nói hay trong sách của Nick:

1.    Dù bạn có vấp ngã hàng trăm lần thì cũng đừng bỏ cuộc. Hãy đứng dậy!

2.    Tìm kiếm sự giúp đỡ ở người khác không phải là một dấu hiệu của yếu kém. Đó là một dấu hiệu của

sức mạnh.

3.    Ngay cả khi bạn phải đối mặt với điều tồi tệ nhất, hãy làm hết khả năng để sẵn sàng đón đợi điều tốt

đẹp nhất!

4.    Tất cả mọi điều bạn làm để khiến cuộc sống của người khác trở nên tốt đẹp hơn đều khiến cho cuộc

sống của bạn trở nên ý nghĩa và đẹp hơn.

5.    Sống không có giới hạn có nghĩa là biết được rằng bạn luôn có thứ gì đó để cho, luôn có thể làm điều

gì đó để giảm nhẹ gánh nặng của người khác.

6.    Khi bạn tìm kiếm hạnh phúc trong những đối tượng vật chất thuần túy, thì vật chất chẳng bao giờ là đủ

cả. Hãy nhìn ra xung quanh. Hãy nhìn vào bên trong.

7.    Tôi là một điều kỳ diệu. Bạn cũng là một điều kỳ diệu của cuộc sống.

8.    Tôi biết chắc chắn rằng chừng nào bạn còn thở thì chừng ấy cuộc sống của bạn vẫn còn hy vọng.

9.    Tôi chưa bao giờ thực sự tàn tật cho đến khi tôi mất hy vọng. Hãy tin tôi đi, mất hy vọng còn tồi tệ hơn cả mất chân tay.

10.    Bạn và tôi không thể sống mà không có niềm tin, không thể sống mà không tin tưởng vào một điều gì đó.

11.    Nếu nỗi đau đớn, khổ sở của bạn là một gánh nặng, thì bạn hãy tìm đến để chia sẻ và xoa dịu nỗi

đau tương tự ở người khác và mang đến cho họ niềm hy vọng.

12.    Bạn không bao giờ có thể thay đổi được quá khứ của bạn, nhưng bạn có thể thay đổi tương lai!

13.    Tìm ra mục đích sống là bước quan trọng đầu tiên để sống một cuộc sống không giới hạn.

14.    Nơi nào có ý chí và có những con sóng, thì nơi đó có cách để lướt sóng!

15.    Bạn hãy luôn giữ ý nghĩ này: Không gì là không thể. Khi bạn cảm thấy mình thất bại và bị lấn át bởi 

một thách thức lớn, hãy tin rằng không gì là không thể.

16.    Đạt được lý tưởng không phải là đạt được sự hoàn hảo trong suốt cuộc đời bạn, mà là tìm kiếm sự hoàn hảo.

17.    Bạn có thể tin vào những giấc mơ của mình, nhưng bạn phải hành động để biến những giấc mơ ấy 

thành hiện thực.

18.    Tất cả những gì xảy ra với bạn sẽ định nghĩa con người bạn, định nghĩa cuộc sống của bạn nếu bạn

không hành động để định nghĩa chính mình.

19.    Những ước mơ không chết chừng nào bạn còn nuôi dưỡng nó bằng niềm đam mê.

20.    Phép màu tuyệt vời nhất là sự biến đổi từ bên trong con người chúng ta.

21.    Cuộc sống là nồi thịt hầm - Bạn là đôi đũa – hãy mạnh dạn khuấy nó lên.

22.    Nếu bạn luôn mong được quan tâm, thương hại chắc chắn sẽ dẫn tới bất hạnh - Nếu bạn mong

muốn được cho đi và giúp đỡ người khác chắc chắn sẽ có niềm vui, hạnh phúc bền lâu.

Thấy có ý kiến đáng chú ý là trong cuộc giao lưu giữa Nick và giới doanh nhân, người phiên dịch đã loại bỏ hẳn những gì Nick nói liên quan đến tôn giáo. Thì ra, thời buổi này có thể kiểm chúng thông tin bằng nhiều cách, kể cả mạng xã hội. Báo chí ta dịp này cũng có đưa nhiều trường hợp như Nick, nhưng liệu ta có một Nick tương tự không? Y nghĩ, sẽ có, nếu con người đó có một điểm tựa. Điểm tựa của Nick chính là tôn giáo. “Tôi là sự sáng tạo của Đấng Sáng Tạo, được sinh ra để thực hiện kế hoạch của Ngài. Nói như thế không có nghĩa là tôi không cần phải tự hoàn thiện mình. Tôi luôn cố gắng trở thành người tốt hơn để tôi có thể phụng sự Chúa và phục vụ thế giới tốt hơn”. Ngay từ lúc ý thức được thân phận của mình, anh đã có lúc muốn tự tử nhưng sao đó lại thay đổi hoàn toàn suy nghĩ của mình. Trong tự truyện Sống cho điều ý nghĩa hơn, anh viết: “Qua thời gian, tôi tự nhận thức rằng Đấng Sáng tạo muốn tôi có mặt trên thế gian này trong tình trạng thiếu tứ chi không phải ngài muốn trừng phạt tôi. Thay vì thế, Ngài có một kế hoạch tuyệt vời dành cho tôi, một kế hoạch cho phép tôi trở thành người truyền cảm hứng và khích lệ tinh thần tất cả những người khác trên trái đất này. Nếu Đấng Sáng Sáng Tạo có thể chấp nhận một người không tay không chân như tôi và sử dụng tôi làm cánh tay và đôi chân của Ngài thì Ngài cũng có thể sử dụng bất cứ ai vì những mục đích cao cả tốt đẹp như thế”.

Sực nghĩ đến những vụ đánh bom khủng bố, khi người ta tự ý thức, tự giác việc làm của mình là phục vụ cho đấng tối cao, đấng vô hình, đấng thiêng liêng nào đó và cái chết của mình là được về với đấng tối cao ấy thì sẽ không một vũ khí nào có thể sánh nổi, kể cả bom nguyên tử. Lương tri loài người không chấp nhận khủng bố, bởi cái chết đó lại kéo theo quá nhiều cái chết khác. Đó là tội ác. Trở lại với Nick, y tin rằng những ai có được ý thức như anh thì sẽ làm nên nhiều điều kỳ diệu khác ngoài sức tưởng tượng của con người.

Rời phòng họp báo, ngoài ngồi sân tán phét với Trần Hoàng Nhân. Rồi về. Trưa, ngủ dậy, đọc lại mấy tài liệu về thiền sư Vạn Hạnh. Có mấy suy nghĩ: Thiền Uyển Tập Anh ghi thiền sư họ Nguyễn, có sách khác ghi họ Lý. Đọc kỹ sử sách, tôi quả quyết, thiền sư họ Lý và là cha đẻ của Lý Công Uẩn. Thiền sư Lý Khánh Văn là em ruột của ngài, vì thế ngày từ nhỏ Lý Công Uẩn đã được ngài Khánh Văn nuôi dạy. Những chuyện này, sử chưa quả quyết nhưng suy luận này là có cơ sở. Không phải ngẫu nhiên khi lên ngôi mà Lý Công Uẩn cho xây quá nhiều chùa chiền.

Sử còn ghi: “Năm 1010, sau khi dời đô ra Thăng Long, vua Lý Thái Tổ xuống chiếu phát tiền kho 2 vạn quan, thuê thợ xây dựng 8 chùa ở phủ Thiên Đức; trong thành làm chùa Ngự Thiên, Ngũ Phượng; ngoại thành phía Nam dựng chùa Nghiêm Thắng; rồi trùng tu chùa quán ở các lộ…”.  Nhà sử học Lê Văn Hưu có lời bình mà nay đọc lại khiến ta vẫn còn phải suy nghĩ: “Thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời mưa xuống, sức không phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư? Vét máu mỡ của dân có thể gọi là việc làm phúc được chăng?”.

Liên hệ với thời cuộc, ta thấy gì?

Chiều trời mưa tầm tã. Giông tố thì ít mà ngao ngán, chán ngán thì nhiều. Chả ra làm sao. Tệ quá. Lại sực nhớ cái thuở, đêm đã khuya gõ cửa phòng trọ của Bùi Thanh Tuấn. Uống bia đến say mềm, rồi ngật ngầy ngật ngà đọc thơ Du Tử Lê đợi sáng…

Ngày nào cũng vậy. Mở mắt ra là đã thấy thời gian vùn vụt trôi qua. Vừa viết xong cái góp ý Dự thảo Nghị định về quy định chế độ nhuận bút trong lãnh vực xuất bản của Thủ tướng Chính phủ cho cơ quan, chẳng hào hứng gì.

Ông anh mình mới đi Ninh Bình về, có chụp một di tích liên quan đến danh nhân văn hóa Trương Hán Siêu. Đời người chỉ cần làm một Bạch Đằng giang phú là đủ, khi chết đi cũng chẳng gì phải tiếc tháng ngày rong ruổi tầm phào ở cõi tạm này:

Tiếng thơm còn mãi,

Bia miệng không mòn.

Đến chơi sông chừ ủ mặt,

Nhớ người xưa chừ lệ chan.

Rồi vừa đi vừa ca rằng:

"Sông Đằng một dải dài ghê,

Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông.

Những người bất nghĩa tiêu vong,

Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh!"

Khách cũng nối tiếp mà ca rằng:

"Anh minh hai vị thánh quân,

Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.

Giặc tan muôn thuở thanh bình,

Bởi đâu thoát hiểm cốt mình đức cao

(Nguyễn Hữu Tiến - Bùi Văn Nguyên dịch)

Nghĩ cho cùng, trong đời người đàn ông chỉ có một người thương y nhất vẫn là mẹ y. Mỗi sáng, y đi làm mẹ y khóa cửa cẩn thận. Trưa y về có cơm và dù chiều tối y có vác xác đi đâu đến tận gà gáy sáng thì mẹ y vẫn không thở than một lời… Vậy mà có mấy nhà thơ dành nhiều thời gian viết về mẹ mình? Bây giờ trong lòng y rỗng không. Nén một tiếng thở dài, y chìm vào giấc ngủ. Lại một ngày tẻ nhạt trôi qua...

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 15 bis.5.2103

PDF.InEmail

 

Say mà chẳng là say

Lòng nhớ về Chị Đẹp

Quốc đúng là "dân chơi"

Nhưng "dân thường chơi đẹp

Lại đè bẹp dân chơi"


nhau-155

Từ trái (đứng): Giản Thanh Sơn. Trần Hoàng Nhân, Lưu Đình Triều. Ngô Kinh Luân, Trần Nhã Thụy, Phạm Thành  Long./ Từ trái (ngồi): Lê Minh Quốc, Lê Văn Nghĩa.

 

Câu thơ viết đùa thôi

Có cả Trần Nhã Thụy

Lại thêm Hồng Thanh Quang

Bất ngờ vừa tạt tới

Đời vui Lưu Đình Triều

Quốc chẳng gì vui mấy

Ngô Kinh Luân làm thơ

Những câu thơ rất mới

Quốc ngồi mong một người

Ấy là Chị Đẹp tới

Lòng cứ lại đìu hiu

Yêu nàng, Quốc  cứ đợi

Vui đi Trần Hoàng Nhân

Việc quái gì phải vội

Còn đây Phạm Thanh Long

Thì bia cứ rót tới

Vui nhé Giản Thanh Sơn

Đời sống không nghỉ ngợi

Chỉ tình bạn anh em

Hãy nhìn Lê Văn Nghĩa

Vẫn còn muốn ngồi thêm

Nhưng lòng lo bốn phía

Ngày sức khỏe đã mòn

Thì vui mà cà khịa

Vui đi Hà Đình Nguyên

Anh em vui là vậy

 

nhau-15.5.-21013

 

Lòng Quốc chỉ nỗi buồn

Chị Đẹp sao chẳng thấy

Đang viết lúc chưa say

Thấy đời vui biết mấy

Thấy đời buồn quá vậy

Vẫn muốn, muốn viết thêm

Say rồi, xin dừng lại

Ngoài sân trăng nhú lên

Yêu  NÀNG là mãi mãi


L.M.Q

(23g ngày 15. 5.2013)

tranhoang-nhabn

Từ trái: Giản Thanh Sơn, Ngô Kinh Luân, Hồng Thanh Quang, Lê Minh Quốc, Hà Đình Nguyên, Lưu Đình Triều, Lê Văn Nghĩa, Trần Hoàng Nhân

 

hongthanh-quang-le--minh-quoc

Nhà thơ Hồng Thanh Quang & Lê Minh Quốc (ảnh: Trần Hoàng Nhân)

quocquangnhantrieu

Từ trái: Hồng Thanh Quang, Lê Minh Quốc, Trần Hoàng Nhân, Lưu Đình Triều

 

 

 

 

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 45 trong tổng số 47

298
trinhduyson