THỂ LOẠI KHÁC Biên Khảo LÊ MINH QUỐC: Hoàng Văn Lịch - Võ Duy Trinh: Người đóng tàu chạy bằng máy hơi nước

LÊ MINH QUỐC: Hoàng Văn Lịch - Võ Duy Trinh: Người đóng tàu chạy bằng máy hơi nước

PDF.InEmail


Trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã miêu tả rất kỹ phương tiện vận chuyển của tàu chiến giặc Pháp. Nay đọc lại, chúng ta có thể hình dung ra được: “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan, ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”.

Những từ như bòng bong,lốp tra cứu Đại Nam quấc âm tự vị,  ta hiểu rằng: “Vải hoặc đệm buồm may màu trắng, làm một bức, kéo lên mà che nắng, thường dùng cho ghe thuyền”.

 

rtua-thuyenh-xua


Rồi đọc tiếp bài Văn tế này, ta lại thấy: “Kẻ đâm ngang, người chém dọc làm cho mã tà ma ní kinh hồn, người hè trước kẻ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng pháo nổ”.

Những từ như tàu sắt, tàu đồng cho thấy thuyền của giặc lúc bấy giờ đã hiện đại và tất nhiên là nó chạy bằng hơi nước, do đó mới có “ống khói đen sì”. Trận đánh này diễn ra năm 1861.

Trước đó, năm 1839, đã có hai người Việt Nam chế tạo được tàu chạy bằng hơi nước. Rất tiếc nhiều sách như Đại Nam liệt truyện, Đại Nam nhất thống chí, Tự điển danh nhân lịch sử Việt Nam và nhiều sách khác không thấy ghi công trạng của hai nhân vật lỗi lạc này. Riêng cuốn Lược truyện thần tổ các ngành nghề -  Viện Văn hóa Dân gian của giáo sư Vũ Ngọc Khánh cũng có ghi sơ lược đôi dòng như sau:

“Cầu cứu sự viện trợ của người phương Tây để đối phó với Tây Sơn, Gia Long mua được của Pháp mấy chiếc tàu chạy bằng hơi nước. Những ngày đầu, số lái tàu thợ máy ngoại quốc làm việc chăm chỉ, nhiệt tình, nhưng rồi dần dần giở trò yêu sách trịch thượng. Đến triều Minh Mệnh, vin vào cớ nhà vua này cấm đạo, nhạt nhẽo với “công thần” người Pháp thời Gia Long, họ càng tỏ ra khó chịu hơn. Minh Mệnh bực mình, đã chỉ thị cho Sở Võ Khố bắt chước tàu phương Tây chế lấy tàu nước mình, không ngại tốn kém. Đó là vào khoảng năm 1838” (Sđd, trang 107).

Kiểm chứng lại sử sách thì quả đúng như thế. Trong bộ Quốc triều chánh biên toát yếu có ghi lại sự việc này: “Năm Kỷ Hợi (1839) tháng ba, ngài (Minh Mệnh) ngự chơi cầu Bến Ngự, xem thí nghiệm tàu chạy máy hơi.

Khi trước khiến Sở Võ Khố chế tạo tàu ấy, đem xe chở ra sông, giữa đường vỡ nồi nước, máy không chạy, người đốc công bị xiềng, quan Bộ Công là Nguyễn Trung Mậu, Ngô Kim Lâu, vì cố tâu không thật đều bị bỏ ngục.

Bây giờ chế tạo lại, các máy vận động lanh, thả xuống nước chạy mau, ngài ban thưởng người giám đốc là Hoàng Văn Lịch, Võ Duy Trinh mỗi người một cái nhẫn pha 18 độ vàng,một đồng tiền vàng Phi Long hạng lớn. Đốc ông và binh tượng được thưởng chung một ngàn quan tiền.

Ngài truyền rằng: “Tàu này mua bên Tây cũng được, nhưng muốn khiến cho công tượng nước ta tập quen máy móc cho khéo, vậy nên chẳng kể lao phí gì”.

Tháng mười, lại chế thêm một chiếc tàu máy lớn, phí tổn hơn 11.000 quan tiền. Ngài truyền Bộ Hộ rằng: “Ta muốn công tượng nước ta đều biết tập nghề máy móc, vậy nên không kể phí tổn”.

Có thể, Huỳnh Văn Lịch và Võ Duy Trinh giỏi nghề rèn, có nghị lực, có tinh thần trách nhiệm nên mới dám đứng ra cáng đáng công việc, và họ đã hoàn thành một cách xuất sắc. Từ thắng lợi này, qua năm sau (1840) hai ông “giám đốc” này đã cho xuất xưởng thêm ba chiếc tàu máy chạy bằng hơi nước nữa. Vua Minh Mệnh hài lòng lắm, ngài đặt tên cho chiếc lớn là Phi Yến, chiếc vừa là Vân Phi và chiếc nhỏ là Vũ Phi.

Tài liệu chỉ có thế. Chúng ta không biết thêm gì hơn. Quả đáng tiếc vì không thể trả lời được câu hỏi mà trước đây nhà sử học Nguyễn Thiệu Lâu đã nêu ra: “1. Các tàu lớn, vừa, nhỏ dài rộng là bao nhiêu, trọng tải bao nhiêu tấn, chạy bằng nồi xúp-de nhưng có cánh quạt hay có guồng, tốc độ bao nhiêu, có thể mắc súng được không, và có thể chở được bao nhiêu binh sĩ, ra biển có thể lênh đênh được bao nhiêu ngày mới phải cập bến để ăn than? 2. Dù sao, các cụ ta đã có những công binh xưởng như thế nào?”.

Nhưng với ít ỏi tư liệu lịch sử còn để lại, chúng ta vẫn thấy được tiến bộ của khoa học kỹ thuật thời Minh Mệnh. Đừng quên rằng, mãi gần 40 năm sau, thời Tự Đức, những chuyện như chế tạo thuyền chạy bằng hơi nước vẫn là điều không tưởng tượng nổi. Chàng thanh niên 25 tuổi là Nguyễn Lộ Trạch, năm 1878 dâng lên vua Tự Đức bản điều trần Thời vụ sách thượngThời vụ sách hạ. Đọc xong, ngài đã phê “Ngôn hà quá cao!” (Nói sao cao siêu quá vậy!). Qua đó, chúng ta biết được từ những bản điều trần này, một sự thật đau lòng: “Vả lại người ta thường ngại chuyện xa nhà, thế mà đối với việc học kỹ thuật, triều đình lại cho là loại “nghề thợ” mà coi khinh, khiến các bậc cao minh hổ thẹn không ai chịu học, cho nên bọn hưởng ứng yêu cầu đi học nước ngoài không quản xa xôi đều là bọn tầm thường ngu dốt không hiểu biết gì”.

Với một tư tưởng chậm tiến và lạc hậu coi khinh nghề thợ nên Quốc sử triều Nguyễn không ghi rõ về hành trạng của hai kỹ sư tài ba Hoàng Văn Lịch và Võ Duy Trinh cũng là điều dễ hiểu. Đó là điều thiệt thòi cho hậu thế chúng ta. Do đó, sau này trong bộ Lịch sử Việt Nam (NXB Khoa học Xã hội - 1976) cũng chỉ viết vỏn vẹn một câu: “Những người thợ trong xưởng đóng thuyền đời Nguyễn đã nắm được nguyên tắc về máy hơi nước và chế tạo thành công những chiếc tàu chạy bằng hơi nước đầu tiên” (trang 410) và bình luận rất xác đáng: “Qua sự tiếp xúc với chủ nghĩa tư bản phương Tây, một số thợ thủ công thông minh của chúng ta đã tiếp thu được một số thành tựu tiên tiến trên thế giới. Nhưng chính quyền phong kiến bảo thủ không biết khai thác, tận dụng những thành tựu đó để đẩy mạnh sự phát triển kinh tế trong nước” (trang 410).

Lê Minh Quốc

(2000)

Chia sẻ liên kết này...

Add comment


298

Việt Tuấn Trinh | www.viettuantrinh.com

trinhduyson